MỤC LỤC 4.1 Thực trạng của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ở địa bàn nghiên cứu: 34 4.2 Kết quả xây dựng mô hình giám sát điểm tại tuyến huyện 37 4.3 Kết quả đánh giá thực hiện mô hì
Trang 1BỘ Y TẾ VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
XÂY DỰNG MÔ HÌNH GIÁM SÁT ĐIỂM MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM GÂY DỊCH
TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU YẾN
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
7752
02/3/2010
HÀ NỘI, THÁNG 1 NĂM 2010
Trang 2BỘ Y TẾ VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
XÂY DỰNG MÔ HÌNH GIÁM SÁT ĐIỂM MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM GÂY DỊCH
TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Yến
Cơ quan chủ trì: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
1 Tên đề tài: XÂY DỰNG MÔ HÌNH GIÁM SÁT ĐIỂM MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM GÂY DỊCH TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
2 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Yến
3 Cơ quan chủ trì: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
4 Cơ quan quản lý: Bộ Y Tế
5 Thư ký đề tài: Ths Phạm Quang Thái
6 Danh sánh cán bộ tham gia chính thực hiện đề tài
1 Nguyễn Thị Thu Yến PGS.TS Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ
2 Phạm Ngọc Đính PGS.TS Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ
3 Trần Như Dương Tiến sỹ Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ
4 Nguyễn Trần Hiển PGS.TS Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ
5 Phạm Quang Thái Thạc sỹ Viện Vệ sinh Dịch tễ TƯ
6 Bùi Huy Nhanh Bác sỹ Trung tâm YTDP Hải Dương
7 Đặng Văn Phách Bác sỹ Trung tâm YTDP Hải Dương
8 Đặng Văn Nhan Bác sỹ Trung tâm YTDP Hải Dương
9 Phạm Quang Toản Bác sỹ Trung tâm YTDP huyện Gia Lộc
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
BV/PKKV Bệnh viện/Phòng khám khu vực
CSR Giám sát phòng chống bệnh truyền nhiễm
(Communicable Disease Surveillance and Response) EWARS Hệ thống cảnh báo sớm đáp ứng nhanh (Early warning
and response system) EWORS Hệ thống cảnh báo dịch sớm (Early warning outbreak
recognition system) GSBTN Giám sát bệnh truyền nhiễm
GIS Hệ thống thông tin địa lý (geographic information
VSDTTW Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
WHO Tổ chức y tế thế giới (Word Health Organization)
YTDP&MT Y tế dự phòng và Môi trường
Trang 5B Phần B: NỘI DUNG CHI TIẾT KẾT QUẢ ĐỀ
TÀI
2.2 Khái quát về hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
ở nước ta hiện nay
12
2.3 Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ứng dụng
công nghệ tin học (giám sát điện tử - electronic surveillance)
18
2.4 Trung tâm YTDP tuyến huyện và vai trò trong hệ
thống giám sát bệnh truyền nhiễm
24
CỨU
Trang 6MỤC LỤC
4.1 Thực trạng của hệ thống giám sát bệnh truyền
nhiễm ở địa bàn nghiên cứu:
34
4.2 Kết quả xây dựng mô hình giám sát điểm tại tuyến
huyện
37
4.3 Kết quả đánh giá thực hiện mô hình giám sát điểm
tại tuyến huyện có sử dụng phần mềm EWARS
52
4.4 Kết quả giám sát một số bệnh truyền nhiễm gây
dịch của tỉnh Hải Dương và 2 huyện nghiên cứu:
5.2 Hiệu quả và một số ưu nhược điểm của mô hình
giám sát điểm sử dụng phần mềm EWARN tại tuyến huyện
Trang 7Phần A
I TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI
Để thực hiện được mục tiêu phòng bệnh chủ động, kiểm soát có hiệu quả, tiến tới loại trừ hay thanh toán được một số bệnh truyền nhiễm thì công tác giám sát dịch tễ học là một trong những nội dung quan trọng nhất Để thực hiện nội dung công tác này, nước ta đã có một hệ thống tổ chức giám sát bệnh truyền nhiễm phân bố rộng khắp và liên hoàn từ xã/phường lên tới tuyến trung ương là Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VSDTTƯ) và Cục Y tế Dự phòng và Môi trường (YTDP &MT), Bộ Y tế và hoạt động khá hiệu quả
Tuy nhiên, thực tế triển khai công tác giám sát trong những năm qua cho thấy hệ thống giám sát đã bộc lộ khá nhiều điểm yếu như số liệu thống kê ca mắc/chết chưa chuẩn xác (báo cáo không đầy đủ), thông tin báo cáo thường chậm (không kịp thời, không đúng hạn), số liệu giám sát chủ yếu chỉ dựa vào lâm sàng, rất ít khi có kết quả xét nghiệm minh chứng Tuyến huyện được coi là một trong những mắt xích quan trọng nhất trong hệ thống các cơ sở giám sát bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên có thể nói tất cả những khiếm khuyết nêu trên đã bộc lộ đầy đủ tại tuyến huyện, ngay cả khi Trung tâm YTDP huyện đã tách ra thành một đơn vị độc lập, được tăng cường về biên chế và hoàn thiện về chức năng nhiệm vụ theo Quyết định số 26/2005/QĐ-BYT kể từ cuối năm 2005, nhưng tình hình giám sát các bệnh truyền nhiễm cũng chưa được cải thiện Xuất phát từ nhu cầu góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ YTDP tuyến
huyện, chúng tôi tiến hành đề tài: “Xây dựng mô hình giám sát điểm một số
bệnh truyền nhiễm gây dịch tại tỉnh Hải Dương”
1 Mục tiêu nghiên cứu:
1.1 Xây dựng mô hình giám sát điểm tại một huyện, phát hiện sớm một số bệnh truyền nhiễm gây dịch, phục vụ cho công tác chủ động phòng chống bệnh dịch hiệu quả
1.2 Đánh giá khả năng thực hiện nhiệm vụ giám của mô hình giám sát điểm
2 Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu:
2.1 Địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Hải Dương, với huyện nghiên cứu áp dụng mô hình giám sát điểm là huyện Gia Lộc, và huyện đối chứng không áp dụng
mô hình là huyện Thanh Hà
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 8- Cán bộ của các trung tâm YTDP tuyến huyện và tuyến tỉnh
- Hệ thống số liệu giám sát bệnh truyền nhiễm của các năm 2006 -2008
- Cỡ mẫu nghiên cứu
o Tuyến tỉnh: 01 tỉnh, chọn có chủ đích
o Tuyến huyện: 2 huyện, chọn có chủ đích
o Cán bộ của trung tâm YTDP tỉnh và huyện nghiên cứu: mỗi cơ sở chọn 8-10 người, là lãnh đạo trung tâm và một số cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ giám sát bệnh truyền nhiễm (bao gồm cả một số cán
bộ xét nghiệm vi sinh-huyết thanh học) của trung tâm
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2006 đến 2008
2.4 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu:
- Mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc số liệu giám sát một số bệnh truyền nhiễm gây dịch theo tuyến từ xã tới tỉnh, trọng tâm là tuyến huyện
- Thử nghiệm áp dụng mô hình giám sát điểm có sử dụng phần mềm cảnh báo và đáp ứng sớm (Early Warning and Response System- EWARS), đánh giá so sánh trên một số chỉ tiêu giám sát (tính đầy đủ, tính đúng hạn, tính khả thi… của báo cáo giám sát theo tuần, theo tháng và báo cáo khẩn cấp) tại 2 huyện nghiên cứu
- Các kỹ thuật nghiên cứu được áp dụng: Điều tra hồi cứu số liệu thứ cấp; điều tra xã hội học sử dụng các phiếu phỏng vấn cá nhân; xử lý số liệu kết quả trên phần mềm EWARS và các phần mềm hỗ trợ thông dụng khác; các kỹ thuật hạn chế sai số trong nghiên cứu
3 Nội dung kết quả chính:
3.1 Mô tả một số thực trạng của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại tỉnh Hải dương và 2 huyện nghiên cứu
Tất cả các huyện của tỉnh Hải Dương hiện đã có các cơ sở có chức năng, nhiệm vụ giám sát bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên, vẫn chưa có bất cứ đơn vị nào hoạt động có tính “chuyên trách” Chỉ có khoảng 22-30% số cán bộ đang làm nhiệm vụ giám sát ở Trung tâm YTDP huyện biết đọc và phân tích kết quả xét nghiệm, khoảng 20%-22% cán bộ biết nhập liệu, phân tích và trích xuất số liệu giám sát bằng máy vi tính, khoảng 10-11% số cán bộ có thể gửi báo cáo bằng thư điện tử Tỷ lệ tuyến huyện có đủ báo cáo giám sát tuần thấp (khoảng 53%-57%), có báo cáo thường xuyên và khẩn cấp đúng hạn
Trang 9thấp (từ 28,8% tới 41,7%) và tỷ lệ có báo cáo phản hồi rất thấp (khoảng 12%) Tính thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động của hệ thống giám sát tại tuyến huyện
3.2 Mô tả nội dung mô hình đề xuất giám sát điểm tại tuyến huyện:
- Xây dựng “Tổ giám sát chuyên trách” tại Trung tâm YTDP huyện, cùng với một số chức danh “cán bộ bán chuyên trách” về hoạt động giám sát tại tuyến
xã, Bệnh viện và Phòng khám khu vực thuộc huyện, các Khoa xét nghiệm tại Trung tâm YTDP và Bệnh viện huyện
- Đề xuất một số tiêu chuẩn chất lượng đào tạo và tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ công tác giám sát, thống kê bệnh tật, cũng như lịch trình cập nhật kiến thức cho cán bộ thuộc hệ thống chuyên trách giám sát có tại mô hình
- Đề xuất tăng cường trang bị thiết yếu cho các cơ sở giám sát bệnh truyền nhiễm tại Khoa Kiểm soát dịch, bệnh, HIV/AIDS cũng như tại các Khoa xét nghiệm thuộc tuyến huyện để góp phần tăng thêm độ chính xác của kết quả giám sát
- Đề xuất áp dụng phần mềm cảnh báo sớm và đáp ứng nhanh (EWARS) hiện
có vào mô hình giám sát tuyến huyện, sử dụng chủ yếu tại Trung tâm YTDP huyện, trong mối liên quan chặt chẽ với số liệu đầu vào (tuyến xã, bệnh viện/phòng khám) và thông tin báo cáo lên tuyến trên bằng thư điện tử (tuyến tỉnh, Viện khu vực, Cục YTDP &MT)
3.3 Kết quả đánh giá thực hiện mô hình giám sát điểm áp dụng phần mềm EWARS tại 1 huyện, có đối chứng
- Tăng khả năng thu thập và báo cáo đầy đủ số liệu giám sát (chỉ số hiệu quả
tăng 7,7% của báo cáo từ tuyến huyện lên trên; tăng 31,3 - 61,6% của báo cáo từ xã, bệnh viện/phòng khám lên Trung tâm YTDP huyện)
- Tăng khả năng thu thập và báo cáo đúng hạn, báo cáo sớm số liệu giám sát
(báo cáo từ tuyến huyện lên tuyến tỉnh tăng 29,4% tới 36,4%, từ tuyến xã lên huyện tăng 31,2% tới 76,8%, và từ bệnh viện/phòng khám tới Trung tâm YTDP huyện tăng từ 33,7% tới 71,5%)
- Tăng tần số báo cáo phản hồi thông tin giám sát từ tuyến huyện xuống các
tuyến có báo cáo giám sát
- Những hiệu quả có được do áp dụng mô hình giám sát điểm nêu trên đã góp
phần làm tăng tính chuyên nghiệp, tính hiện đại (phù hợp với xu hướng phát triển của toàn bộ hệ thống y tế dự phòng) của hoạt động giám sát bệnh tật tại
Trang 10tuyến huyện, tạo tiền đề kỹ thuật cho mục tiêu dự báo xu hướng dịch bệnh và khả năng bùng phát dịch của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
4 Những điểm mới và triển vọng ứng dụng của kết quả đề tài:
• Điểm mới của đề tài này là đã đề xuất xây dựng một mô hình giám sát điểm bệnh truyền nhiễm gây dịch, trong đó áp dụng phần mềm cảnh báo sớm và đáp ứng nhanh EWARS như một cấu phần của mô hình vào hoạt động của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tuyến huyện Thử nghiệm đánh giá ưu nhược điểm và khả năng thực hiện của mô hình đề xuất tại 1 huyện Kết quả cho thấy mô hình giám sát điểm làm tăng tỷ lệ báo cáo đầy đủ, đúng hạn, khả năng phản hồi thông tin giám sát ở tất cả các tuyến
từ xã tới huyện; mô hình có tính hiện đại, khả thi và nhìn chung được cán
Trang 11II BẢN TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN VÀ NHỮNG
ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI KH-CN CẤP BỘ
1 Tên đề tài: XÂY DỰNG MÔ HÌNH GIÁM SÁT ĐIỂM MỘT SỐ BỆNH
TRUYỀN NHIỄM GÂY DỊCH TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
2 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Yến
3 Đơn vị chủ trì: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
4 Thời gian thực hiện: từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 9 năm 2008
5 Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 350 triệu đồng
Trong đó:
5.1 Kinh phí thuê khoán chuyên môn: 149,6 triệu đồng
5.2 Nguyên vật liệu: 91,4 triệu đồng
5.3 Sửa chữa: 18 triệu đồng
5.4 Chi khác: 91 triệu đồng
6 Tình hình thực hiện đề tài so với đề cương:
6.1 Tiến độ thực hiện: Tiến độ thực hiện đề tài đúng với đề cương
6.2 Thực hiện mục tiêu nghiên cứu: Đã thực hiện đầy đủ 2 mục tiêu nghiên cứu
6.3 Sản phẩm tạo ra so với đăng ký: Sản phẩm tạo ra của đề tài đầy đủ so với đăng ký theo đề cương: (i) Các bảng số liệu đánh giá; (ii) các nội dung, sơ đồ của mô hình đề xuất; (iii) các báo cáo phân tích hiệu quả và khả năng thực hiện của mô hình thử nghiệm; (iv) một số kiến nghị qua kết quả đề tài
6.4 Đánh giá việc sử dụng kinh phí:
6.5 Tổng kinh phí được cấp : 350 triệu VNĐ
6.6 Tổng kinh phí đã thực hiện và được quyết toán: 350 triệu VNĐ
6.7 Kinh phí tồn đọng: không có
6.8 Chế độ tài chính: tuân thủ đúng các quy định hiện hành
7 Những đóng góp mới của đề tài:
7.1 Giải pháp khoa học-công nghệ:
Trang 12Thông qua việc đánh giá hệ thống giám sát hiện hành, Nhóm nghiên cứu đưa ra đề xuất về mô hình giám sát điểm với:
- Bộ Y tế (Cục YTDP &MT) có thể đưa nội dung mô hình giám sát
bệnh truyền nhiễm tuyến huyện vào mô hình giám sát bệnh tật nói chung đang được xây dựng cho phạm vị cả nước hiện nay
- Các tuyến tỉnh và nhất là tuyến huyện: có thể nghiên cứu để từng
bước đưa một số nội dung đề xuất của mô hình này vào thực hiện ở tuyến giám sát của mình, nâng cao hiệu quả và chất lượng giám sát 7.2 Hiệu quả kinh tế-xã hội:
Đánh giá được nếu xây dựng mô hình giám sát điểm hoàn thiện, khả thi
sẽ phục vụ một cách có hiệu quả cho công tác phòng chống dịch, lập kế hoạch phòng chống kịp thời một số bệnh truyền nhiễm Cung cấp các số liệu bệnh truyền nhiễm cho việc lập kế hoạch các dự án y tế phục vụ nghiên cứu khoa học
7.3 Hiệu quả khoa học-Đào tạo:
Tổ chức được nhiều lớp tập huấn ngắn hạn, có hiệu quả cao cho các cán
bộ tuyến tỉnh huyện về công tác giám sát bệnh và báo cáo nhanh với bộ công cụ chuẩn và hệ thống giám sát, cảnh báo nhanh dùng phần mềm EWARS Góp phần giúp địa phương nâng cao chất lượng báo cáo giám sát bệnh truyền nhiễm
Tổ chức nhiều buổi tập huấn kỹ thuật cho cán bộ phòng xét nghiệm của tỉnh trong chẩn đoán phát hiện bệnh
Số liệu thu được trong đề tài nghiên cứu sẽ được sử dụng trong công tác đào tạo tại Viện vệ sinh Dịch tễ nói riêng và ngành y tế nói chung
Kết quả của đề tài đã được công bố qua 2 bài báo khoa học trên tạp chí Y học Dự phòng trong năm 2009:
• Xây dựng mô hình giám sát bệnh truyền nhiễm tại tuyến huyện ứng dụng phần mềm EWARN
• Đánh giá thử nghiệm mô hình giám sát bệnh truyền nhiễm tại tuyến huyện ứng dụng phần mềm EWARN
Trang 13BẢN XÁC NHẬN QUYẾT TOÁN TÀI CHÍNH
1 Tên đề tài: XÂY DỰNG MÔ HÌNH GIÁM SÁT ĐIỂM MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM GÂY DỊCH TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
2 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Yến
3 Cơ quan chủ trì: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
4 Cơ quan quản lý: Bộ Y Tế
5 Tổng kinh phí đề tài: 350 triệu đồng
5.1 Dự toán và quyết toán: (đơn vị: triệu đồng)
Trần Thị Nhã
CƠ QUAN CHỦ TRÌ
Đặng Đức Anh
Trang 14Phần B NỘI DUNG CHI TIẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đã có những thành công rất cơ bản trong công cuộc phòng chống và kiểm soát nhiều bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên, trong những thập kỷ vừa qua các bệnh truyền nhiễm gây dịch vẫn đứng hàng đầu trong danh sách các bệnh có số mắc cao, và một số trong đó có tỷ lệ tử vong còn rất cao như SARS, cúm A/H5N1,viêm não vi rút… Một số bệnh có xu hướng quay lại sau một thời gian lắng xuống như tả, sốt dengue, bệnh dại…[1], [9],[14],[15], [27] Để thực hiện được mục tiêu phòng bệnh chủ động, kiểm soát có hiệu quả, tiến tới loại trừ hay thanh toán được một số bệnh truyền nhiễm thì công tác giám sát dịch tễ học là một trong những nội dung quan trọng nhất Để thực hiện nội dung công tác này, nước ta đã có một hệ thống tổ chức giám sát bệnh truyền nhiễm phân
bố rộng khắp và liên hoàn từ xã/phường lên tới tuyến trung ương (Viện VSDTTW, Cục YTDP &MT, Bộ Y tế) và hoạt động khá hiệu quả [9], [17] Yêu cầu cao nhất đối với một hệ thống giám sát dịch tễ là phát hiện sớm, đầy đủ và chính xác các trường hợp bệnh, dịch ngay từ khi dịch chưa bùng nổ trong cộng đồng Tiếp theo là gửi thông tin giám sát sớm tới các cơ quan có chức năng phòng chống bệnh dịch làm cơ sở cho việc ra các quyết định đáp ứng
xử lý dịch kịp thời [11], [23], [33], [36] Nói cách khác, một hệ thống giám sát dịch tễ tốt cần phải có độ nhạy cao (phát hiện đầy đủ ca bệnh), độ đặc hiệu cao (phát hiện chính xác ca bệnh), tính kịp thời (xử lý số liệu nhanh và gửi thông tin sớm), và tính khả thi, phù hợp với năng lực thực hiện của các tuyến y tế [11], [20], [24]
Thực tế triển khai công tác giám sát bệnh truyền nhiễm ở nước ta trong những năm qua cho thấy hệ thống giám sát hiện nay bộc lộ khá nhiều nhược điểm như số liệu thống kê ca mắc/chết chưa chuẩn xác (thiếu hoặc trùng lặp ca
Trang 15bệnh), thông tin báo cáo thường chậm (không kịp thời, không đúng hạn), số liệu giám sát chủ yếu chỉ dựa vào lâm sàng, rất ít khi có kết quả xét nghiệm chẩn đoán xác định [17] Tuyến huyện được coi là một trong những mắt xích quan trọng nhất trong hệ thống các cơ sở giám sát bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên, có thể nói tất cả những khiếm khuyết nêu trên đây đã bộc lộ đầy đủ tại tuyến huyện, ngay cả khi Trung tâm YTDP huyện đã tách ra thành một đơn vị độc lập, được tăng cường về biên chế và hoàn thiện về chức năng nhiệm vụ theo Quyết định số 26/2005/QĐ-BYT kể từ cuối năm 2005 [5], nhưng tình hình giám sát các bệnh truyền nhiễm cũng chưa được cải thiện [17]
Năm 2006, với mục đích tăng cường giám sát phát hiện sớm và thông tin sớm ca bệnh/chùm ca bệnh cúm A/H5N1, góp phần ngăn ngừa khả năng xảy ra đại dịch cúm do chủng vi rút mới, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), Cục YTDP & MT và Viện VSDTTW đã hợp tác phát triển một phần mềm có tên
“Phần mềm hệ thống cảnh báo sớm và đáp ứng nhanh các bệnh truyền nhiễm- EWARS) [4], [8] Phần mềm này đã được thử nghiệm thành công tại một số địa phương ở miền Bắc Ưu điểm chính của EWARS là có thể giúp cho hệ thống y
tế ghi nhận và xác định sớm ca bệnh/chùm ca bệnh đầu tiên, đưa thành dấu hiệu cảnh báo sớm, sau đó gửi thông tin sớm qua mạng (Email cho các địa chỉ cần
dữ liệu giám sát để ra quyết định đáp ứng chống dịch kịp thời [8]
Xét thấy phần mềm EWARS có thể áp dụng cho tuyến huyện, một mắt xích được xác định còn nhiều điểm yếu trong hệ thống mắt xích giám sát bệnh truyền nhiễm, chúng tôi đã triển khai đề tài nghiên cứu ứng dụng này, có tên: “
Xây dựng mô hình giám sát điểm một số bệnh truyền nhiễm gây dịch tại tỉnh Hải Dương” và thực hiện trong 2 năm, 2007-2008 tại 1 huyện thí điểm Đề tài
có các mục tiêu cụ thể sau:
1 Xây dựng mô hình giám sát điểm tại một huyện, phát hiện sớm một số bệnh truyền nhiễm gây dịch, phục vụ cho công tác chủ động phòng chống bệnh dịch hiệu quả
Trang 162 Đánh giá khả năng thực hiện nhiệm vụ giám sát của mô hình giám sát điểm
Mô hình giám sát điểm sử dụng phần mềm EWARS như một công cụ mới, có nhiều tiện ích, có thể giúp hoạt động giám sát bệnh truyền nhiễm ở tuyến huyện đạt được những yêu cầu chính về chất lượng giám sát bệnh dịch, góp phần đưa kết quả giám sát tại tuyến huyện hòa nhập chung vào hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm đang được hoàn thiện thêm của quốc gia hiện nay
Trang 172 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
2.1 Khái lược về hệ thống giám sát bệnh tật
Giám sát bệnh tật, trong đó có giám sát các bệnh truyền nhiễm, là một nội dung rất quan trọng trong các hoạt động của hệ thống y tế ở bất cứ quốc gia, địa phương nào Một hệ thống giám sát bệnh tật đạt tiêu chuẩn phải có cấu trúc, các chức năng chính yếu, chức năng hỗ trợ và yêu cầu về chất lượng giám sát đạt được theo sơ đồ dưới đây:
Những tiêu chuẩn được nêu ở sơ đồ trên sẽ được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu chính cho việc xây dựng mô hình giám sát điểm bệnh truyền nhiễm ở huyện theo EWARS của đề tài này
Cấu trúc hệ thống giám sát:
• Pháp chế (luật và các quy định bao gồm các điều lệ y tế quốc tế IHR 2005)
• Chiến lược giám sát
• Người thực hiện giám sát và bên liên quan
Trang 182.2 Khái quát về hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ở nước ta hiện nay
Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm gây dịch của Việt Nam hiện hoạt động theo quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 4880/2002/QĐ-BYT ngày 6 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ y tế Đây là hệ thống giám sát thường xuyên và thống nhất trên toàn quốc từ xã phường lên đến tuyến trung ương, có nhiệm vụ giám sát phát hiện và báo cáo về 26 bệnh truyền nhiễm Hệ thống
giám sát áp dụng 2 loại hình giám sát chủ yếu là:
- Giám sát thường xuyên: Thực hiện ở mọi thời gian, không gian trên phạm vi
cả nước Việc thu thập số liệu giám sát và báo cáo tiến hành theo hệ thống quản lý hành chính từ thôn / bản tới trung ương
- Giám sát trọng điểm: Thực hiện ở một số trọng điểm dân cư, địa lý nhất định, vào những thời gian nhất định, nhằm bổ sung cho hệ thống giám sát thường xuyên, giúp phát hiện nhanh và sớm dịch bệnh tại cộng đồng
2.2.1 Hình thức thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm:
• Thông tin báo cáo dịch khẩn cấp:
Trong thời gian nhanh nhất có thể được, chậm nhất sau 24 giờ kể từ khi phát hiện các bệnh, hội chứng bệnh thuộc diện kiểm dịch quốc tế, bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A quy định trong Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm (2007) của Việt Nam, các cơ sở y tế phải báo cáo khẩn cấp lên cơ quan y tế cấp trên, đồng thời báo cáo vượt cấp bằng các phương tiện nhanh và chính xác nhất Báo cáo sau đó được duy trì hàng ngày cho tới khi hết dịch
• Báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch tuần:
Hàng tuần, các trung tâm YTDP tỉnh phải báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch tại địa phương, trên cơ sở tổng hợp số liệu giám sát của tuyến dưới, lên Bộ
Y tế (Cục YTDP & MT) qua các Viện VSDT/Pasteur khu vực Các bệnh bắt buộc báo cáo tuần gồm: tả, dịch hạch, thương hàn, sốt xuất huyết, viêm não vi rút, các bệnh khác (bệnh lạ chưa rõ nguyên nhân như nghi SARS, cúm A/H5N1…hoặc các bệnh truyền nhiễm có số mắc/chết bất thường đe dọa thành
Trang 19dịch) Báo cáo tuần ghi nhận số mắc, số chết của các bệnh trên trong từng tuần,
và số cộng dồn trong năm (52 tuần)
• Báo cáo bệnh truyền nhiễm theo tháng:
Hàng tháng, hệ thống giám sát từ các địa phương tổng hợp số liệu giám sát
26 bệnh truyền nhiễm gây dịch của địa phương mình trong tháng (từ ngày 1 tới hết ngày 30/31 của tháng) để báo cáo lên tuyến trên Số liệu báo cáo là số ca mắc bệnh và chết, cùng với số liệu cộng dồn trong năm (12 tháng) Số liệu có trong các báo cáo khẩn cấp và báo cáo tuần đều phải được đưa vào trong báo cáo hàng tháng
2.2.2 Cấu trúc, chức năng nhiệm vụ của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
Giám sát bệnh truyền nhiễm có trong chức năng, nhiệm vụ của cả hệ y tế dự phòng và hệ điều trị, do vậy trong cấu trúc của hệ thống giám sát quốc gia bao gồm các cơ quan YTDP và bệnh viện các tuyến từ huyện tới trung ương và một
số cơ sở y tế khác Hệ thống được đặt dưới sự quản lý nhà nước của Bộ Y tế, qua Cục YTDP & MT, và chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật qua Viện VSDT trung ương (Hình 2)
Trang 20v
Hình 2: Sơ đồ cấu trúc của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam
Nhiệm vụ của từng tuyến trong hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm cụ thể như sau:
* Tuyến xã: Là tuyến cơ sở của hệ thống giám sát Trạm y tế xã là đầu
mối phát hiện, thu thập, phân tích sơ bộ mọi số liệu về bệnh truyền nhiễm trong địa bàn xã và báo cáo lên tuyến huyện theo đúng quy định
* Tuyến huyện: Trung tâm YTDP huyện chịu trách nhiệm thu thập số liệu giám sát bệnh truyền nhiễm của các xã, đồng thời số liệu giám sát từ các cơ sở
Hệ thống giám sát
của y tế ngành
BỘ Y TẾ Cục Y tế Dự phòng và Môi trường
Hệ thống các bệnh viện tuyến trung ương và y tế ngành
Hệ thống các viện VSDT/PASTEUR khu vực (4 viện khu vực)
Hệ thống các viện SR-KST-CT Trung ương và khu vực
Các bệnh viện tuyến huyện
Các trung tâm y tế tuyến huyện (671 huyện)
Hệ thống các trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế -
10 tỉnh thành
Hệ thống các bệnh viện tuyến tỉnh
Các trung tâm y tế
dự phòng tuyến tỉnh (63 tỉnh)
Trạm y tế xã (10.671 xã)
Trang 21điều trị của huyện (bệnh viện huyện, phòng khám khu vực, kể cả cơ sở tư nhân), phân tích, tổng hợp, làm báo cáo lên trung tâm YTDP tỉnh theo đúng quy định
* Tuyến tỉnh: Trung tâm YTDP tỉnh có trách nhiệm thu thập số liệu giám sát bệnh truyền nhiễm của các huyện, các đơn vị kinh tế-sự nghiệp trực thuộc, đồng thời là số liệu giám sát từ các cơ sở điều trị trong tỉnh; phân tích sâu hơn các yếu tố dịch tễ, tổng hợp, làm báo cáo lên Cục YTDP&MT và Viện VSDT/Pasteur khu vực theo đúng quy định
* Tuyến khu vực: Tại 4 khu vực là miền Bắc (28 tỉnh), miền Trung (11 tỉnh), Tây Nguyên (4 tỉnh) và miền Nam (20 tỉnh) có 4 viện VSDT/Pasteur làm nhiệm vụ viện khu vực, có trách nhiệm thu thập số liệu giám sát bệnh truyền nhiễm từ các tỉnh và các bệnh viện khu vực, phân tích đặc điểm dịch tễ, tổng hợp và báo cáo với Bộ Y tế (Cục YTDP&MT), tham mưu cho Bộ Y tế về đáp ứng sau giám sát, phản hồi kết quả giám sát cho tuyến dưới
* Tuyến Quốc gia: Cục YTDP&MT là cơ quan giám sát bệnh truyền nhiễm cấp Quốc gia, có nhiệm vụ tiếp nhận, phân tích, phản hồi số liệu giám sát trong toàn quốc, trao đổi thông tin giám sát với quốc tế, giúp lãnh đạo Bộ Y tế chỉ đạo, quản lý toàn bộ hệ thống giám sát và đáp ứng chống dịch
* Hệ thống giám sát khác: Bên cạnh hệ thống giám sát của Bộ Y tế như trên, lực lượng vũ trang (quân đội, công an nhân dân) có hệ thống giám sát bệnh tật, trong đó giám sát bệnh truyền nhiễm riêng Các hệ thống giám sát này quan tâm tới những bệnh tật và các yếu tố ảnh hưởng đặc thù, phục vụ cho các mục tiêu
an ninh và quốc phòng
2.2.3 Chất lượng của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
Mục đích của công tác giám sát bệnh truyền nhiễm là phát hiện sớm, đầy đủ, chính xác các bệnh truyền nhiễm gây dịch trong cộng đồng, truyền tải thông tin giám sát kịp thời, giúp cho việc ra quyết định phòng chống dịch hiệu quả Xuất phát từ mục đích trên, những mục tiêu hoạt động cụ thể của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm là:
Trang 22- Thu thập đầy đủ, chính xác, sớm và nhanh các số liệu mắc và chết do bệnh truyền nhiễm ở tất cả cộng đồng dân cư
- Phân tích, phiên giải các số liệu giám sát để nắm được các đặc điểm về nguyên nhân cùng sự phân bố dịch tễ của bệnh dịch theo thời gian, địa điểm, nhóm dân cư
- Báo cáo và chuyển tải thông tin giám sát tới những người, những cơ quan có trách nhiệm trong giám sát, kiểm soát, phòng chống bệnh dịch và cho cộng đồng dân cư
- Giúp cho việc xây dựng kế hoạch phòng chống dịch và ra các quyết định đáp ứng chống dịch bệnh truyền nhiễm đúng đắn và có hiệu quả cao
Để thực hiện tốt 4 mục tiêu hoạt động trên đây, hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm cần đảm bảo một số yêu cầu chất lượng sau:
- Tính chính xác cao: phát hiện đúng trường hợp bệnh cần giám sát, ít gây
chẩn đoán sai, nhầm ca bệnh Tính chính xác cao thể hiện độ đặc hiệu của hệ
thống giám sát cao
- Tính đại diện với độ bao phủ đối tượng cao: phát hiện đầy đủ ca bệnh, ít bỏ sót các trường hợp bệnh cần giám sát Tính đại diện và đầy đủ cao thể hiện
độ nhạy của hệ thống giám sát cao
- Tính đầy đủ và đúng hạn của báo cáo và chuyển tải thông tin giám sát: các kết quả giám sát bệnh truyền nhiễm được báo cáo và chia sẻ kịp thời, đúng
kỳ hạn và đầy đủ, bao gồm cả việc phản hồi và tiếp nhận phản hồi thông tin giám sát
- Tính khả thi, đơn giản của hệ thống giám sát: nếu cao và phù hợp với thực tế trình độ của hệ thống y tế sẽ đảm bảo cho hệ thống giám sát dễ được chấp nhận, hoạt động thường xuyên và bền vững hơn
- Tính hiện đại: nếu cao sẽ đáp ứng được các yêu cầu về tính chính xác khi phát hiện bệnh dịch (nhờ các xét nghiệm nhanh, hiện đại), phân tích phiên giải số liệu giám sát (nhờ các phần mềm phân tích), cũng như chuyển tải
Trang 23nhanh kết quả giám sát tới các địa chỉ cần thiết (nhờ hệ thống mạng công nghệ thông tin…)
Một hệ thống giám sát dịch tễ nếu đạt được các yêu cầu nêu trên là một hệ thống có chất lượng hoạt động tốt và có hiệu quả Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm của nước ta hiện nay về cơ bản đạt được các yêu cầu về độ bao phủ đối tượng nghiên cứu (mọi tầng lớp, lứa tuổi, nghề nghiệp cộng đồng dân
cư trên cả nước), về đối tượng bệnh (26 bệnh truyền nhiễm gây dịch phổ biến nhất ở Việt Nam), cũng như về tính đơn giản và khả thi của hệ thống Tuy nhiên, nhiều yêu cầu khác chưa đạt được hoặc đạt chưa hoàn hảo Có thể điểm qua một số nhược điểm và hạn chế nổi bật của hệ thống giám sát hiện nay:
- Độ nhạy của hệ thống giám sát chưa thật cao: biểu hiện bằng việc còn để sót, thiếu các trường hợp bệnh/tử vong đáng ra cần được chẩn đoán, phát hiện và đưa vào thống kê giám sát Nguyên nhân do không có đội ngũ cán bộ chuyên trách về thống kê giám sát bệnh tật, nhất là ở tuyến xã và cả ở tuyến huyện
Số liệu giám sát từ bệnh viện cũng chưa được báo cáo đầy đủ do hầu hết bệnh viện không có nhân viên giám sát dịch tễ và sự phối hợp giữa 2 hệ điều trị và dự phòng chưa chặt chẽ thường xuyên
- Độ đặc hiệu của hệ thống giám sát chưa thật cao: biểu hiện bằng việc chẩn đoán ca bệnh chưa thật chuẩn xác dẫn đến thống kê cao hơn và thiếu chính xác số ca bệnh thực có do có những trường hợp “dương tính giả” Nguyên nhân chính do việc chẩn đoán bệnh, đặc biệt tại tuyến xã và bệnh viện/phòng khám khu vực tuyến huyện, chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng mà thiếu kết quả xét nghiệm căn nguyên Ngoài ra độ đặc hiệu và độ nhạy của hệ thống giám sát cho tới nay còn hạn chế do tiêu chuẩn định nghĩa ca bệnh, định nghĩa ngưỡng dịch ở một số bệnh truyền nhiễm chưa rõ ràng và chưa được chuẩn hóa, do quy trình xử lý số liệu và khả năng phân tích, phiên giải
số liệu giám sát của cán bộ tuyến huyện và cả tuyến tỉnh rất hạn chế và thiếu thống nhất Các phần mềm tin học hầu như chưa có vị trí trong xử lý kết quả giám sát
Trang 24- Tính đầy đủ và kịp thời chưa đạt yêu cầu: thể hiện bằng việc báo cáo chậm, báo cáo thiếu, phản hồi thông tin cho tuyến dưới thiếu hoặc không thường xuyên Nguyên nhân do phương thức báo cáo giám sát còn lạc hậu (qua trao tay hoặc qua bưu điện) hoặc tuy nhanh chóng song có thể thiếu chính xác (qua điện thoại) Vẫn còn khoảng 50% số trung tâm YTDP tuyến tỉnh chưa
có máy Fax trong khi ở tuyến huyện hầu hết chưa có Trên 60% trung tâm YTDP huyện chưa có máy tính kết nối internet và mạng tin học thì hầu như chưa được ứng dụng vào việc chuyển tải thông tin giám sát ở cả tuyến tỉnh
và tuyến huyện
2.3 Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ứng dụng công nghệ tin học (giám sát điện tử - electronic surveillance)
2.3.1 Nhu cầu ứng dụng của hệ thống giám sát điện tử
• Nhu cầu của việc giám sát điện tử
Giám sát dịch tễ bệnh truyền nhiễm là quá trình thu thập số liệu bệnh tật, phân tích và phiên giải số liệu, truyền tải số liệu tới địa chỉ sử dụng Như vậy có thể hình dung toàn bộ quy trình giám sát dịch tễ là một hoạt động rất tổng hợp
và đòi hỏi tính chính xác, đầy đủ, đúng hạn, nhanh chóng rất cao ở từng khâu cũng như trên toàn bộ hệ thống
Hệ thống giám sát dịch tễ bệnh truyền nhiễm ở nước ta cho tới nay cơ bản theo một quy trình truyền thống khá chặt chẽ song dựa trên các kỹ thuật và công nghệ còn lạc hậu, thể hiện rõ nhất những vấn đề sau:
- Chẩn đoán ca bệnh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm lâm sàng mà ít có sự trợ giúp của kết quả xét nghiệm tại phòng thí nghiệm
- Phân tích và phiên giải số liệu gồm các khâu: Nhập lại số liệu giám sát nhận
từ tuyến dưới, thiết lập bảng biểu thống kê, xác định các chỉ số dịch tễ và các giá trị cơ bản của số liệu như số trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn, sai số chuẩn, các chỉ số so sánh thống kê, trích xuất các số liệu đầu ra sau phân tích…đều cơ bản thực hiện thủ công với sự hỗ trợ của máy tính tay hoặc máy
vi tính với các phần mềm phổ thông
Trang 25- Gửi số liệu bằng trao tay, qua bưu điện hay hiện đại hơn là bằng điện thoại hoặc fax dẫn đến thông tin đến địa chỉ nhận thiếu chính xác, chậm trễ và có khi thất lạc
Trong thời kỳ hội nhập và mở rộng việc trao đổi thông tin giám sát dịch bệnh
có tính toàn cầu như hiện nay, việc sử dụng các phương thức, kỹ thuật truyền thống có phần lạc hậu như trên là không còn phù hợp, có nhiều trường hợp có ảnh hưởng sâu sắc tới hiệu quả đáp ứng chống dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm Điều này đòi hỏi đẩy nhanh hơn quá trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao độ chính xác, tính đầy đủ, kịp thời của số liệu giám sát, qua đó nâng cao hiệu quả của công tác giám sát bệnh truyền nhiễm ở nước ta, nhất là đối với các tuyến tỉnh và tuyến huyện
2.3.2 Tình hình ứng dụng trên thế giới
Ứng dụng công nghệ thông tin đã trở nên rất phổ biến ở nhiều quốc gia và khu vực phát triển trên thế giới vào mục đích quản lý và trao đổi thông tin về sức khoẻ con người, trong đó có việc giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm Sau đây là một số mô hình đã được sử dụng để thu thập, quản lý và chia
sẻ thông tin dịch bệnh:
• Hệ thống cảnh báo dịch sớm (EWORS: Early warning outbreak recognition system): là phần mềm có thể chẩn đoán một số bệnh và nguyên nhân dựa trên dữ liệu lâm sàng của các cơ sở điều trị (bệnh viện, phòng khám) kết hợp với dữ liệu phòng thí nghiệm để chẩn đoán phát hiện sớm bùng nổ dịch của một số bệnh truyền nhiễm Hệ thống EWORS được đưa vào ứng dụng từ những năm đầu 90 của thế kỷ trước tại Hoa kỳ, trước hết là cơ quan y tế hải quân Mỹ Nhiều viện nghiên cứu khu vực Châu Á, trong đó có Viện Pasteur thành phố HCM, đã phối hợp để phát triển ứng dụng phần mềm giám sát này tại một số trọng điểm bệnh viện để phát hiện dịch sớm
• Hệ thống thông tin địa lý (GIS: Geographic information system) sử dụng trong giám sát dịch tễ là phần mềm cho phép thể hiện các thông tin và dữ liệu dịch tễ học trên bản đồ địa lý tự nhiên hoặc địa lý xã hội cho từng địa
Trang 26phương (cho phép chi tiết tới thôn xóm hay hộ gia đình), từng quốc gia, khu vực, cho tới toàn cầu, giúp định vị và chẩn đoán nguyên nhân bệnh truyền nhiễm theo không gian và thời gian Đã có trên 100 quốc gia và khu vực công bố kết quả ứng dụng hệ thống phần mềm này, trước hết trong việc giám sát các bệnh có véc tơ truyền, bệnh động vật lây sang người và những bệnh
có ổ thiên nhiên
• Hệ thống thông tin giám sát các bệnh nhiễm trùng (ISIS: Infectiuos diseases surveillance information system) được phát triển tại Hà Lan và ứng dụng rộng rãi trong các nước Bắc Âu kể từ năm 1994 Hệ thống gồm 3 tuyến chính: (i) Tuyến cơ sở gồm các phòng khám có cơ sở xét nghiệm nằm ở các địa phương trong nước, có khả năng phát hiện hàng trăm loại tác nhân gây nhiễm trùng cho người; (ii) tuyến trung tâm xử lý số liệu, với 2-3 trung tâm chính cho cả nước, có nhiệm vụ thu thập, xử lý phân tích tự động số liệu giám sát từ các trạm cơ sở và đưa ra kết quả về ca bệnh, chùm ca bệnh, vụ dịch; (iii) tuyến trung ương là nơi tổng hợp, sử dụng, công bố, lưu trữ số liệu giám sát của cả nước Việc chuyển tải thông tin giữa các tuyến thực hiện bằng mạng internet, kết hợp với trực tuyến
2.3.3 Tình hình ứng dụng tại Việt Nam
Trong vòng 10 năm gần đây Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận với các phần mềm quản lý và giám sát dịch tễ các bệnh truyền nhiễm, trước hết từ các chương trình, dự án có hợp tác quốc tế Từ những phần mềm ứng dụng đơn giản, tới nay chúng ta đã ứng dụng công nghệ thông tin để thiết lập hệ thống giám sát của một số nhóm bệnh như các bệnh trong TCMR, nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục Có thể chia thành 2 mức độ phần mềm và mạng giám sát sau đây:
2.3.3.1 Các phần mềm hỗ trợ thu thập, tổng hợp và chuyển tải báo cáo số liệu:
- Phần mềm chạy trong Pasteur-net: Phát triển từ năm 1997 dựa trên cơ
sở của phần mềm quản lý thống kê các bệnh trong chương trình TCMR, mở rộng cho thu thập và xử lý thống kê, chuyển tải số liệu giám sát 24 bệnh truyền
Trang 27nhiễm Mạng hoạt động theo nguyên tắc offline gửi thông tin dưới dạng tập tin tới địa chỉ nhận là trung tâm YTDP của 20 tỉnh miền Nam
- Phần mềm quản lý số liệu giám sát nhiễm HIV/AIDS: Phát triển từ năm
2000 bởi Dự án phòng chống HIV/AIDS quốc gia, nhằm thu thập và quản lý các trường hợp nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây theo đường tình dục từ tuyến tỉnh tới trung ương Từ chỗ chuyển tải file số liệu theo điện thoại, đến nay số liệu đã
có thể chuyển tải trên mạng diện rộng dạng thư điện tử
- Phần mềm quản lý, báo cáo số liệu TCMR: Được xây dựng và đưa vào ứng dụng trên cả nước từ năm 2005 bởi Dự án TCMR Có khả năng nhập số liệu dưới dạng các biểu mẫu có sẵn của Dự án, gửi báo cáo dạng thư điện tử, kết xuất số liệu dưới dạng số liệu thô, tỷ lệ, bảng số liệu, biểu đồ hay chuyển số liệu sang các dạng sử dụng phổ biến khác
- Phần mềm quản lý số liệu giám sát bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue
do Dự án phòng chống sốt xuất huyết quốc gia phát triển từ năm 2006 Về nguyên lý cấu trúc và tính năng hoạt động cũng cơ bản giống như phần mềm quản lý TCMR Các phần mềm nêu trên ở nước ta hiện nay hầu hết có diện quản lý số liệu giám sát chỉ tới tuyến huyện, chưa có ở các tuyến thấp hơn
2.3.3.2 Các phần mềm có chức năng giúp phát hiện dịch sớm:
Đây là những chương trình phần mềm ngoài chức năng thu thập, quản lý, báo cáo số liệu, còn có thêm chức năng xử lý phân tích và xây dựng các đường cong thể hiện ngưỡng cảnh báo dịch (outbreak alert threshold) và ngưỡng bùng dịch (outbreak threshold) để giúp phát hiện sớm và chính xác dịch ở các tuyến
- Phần mềm MCAD (Mapping and computing for acute diarrhea software):
Là phần mềm do Viện Pasteur thành phố HCM phát triển và đưa vào thử nghiệm ứng dụng tại 3 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2005 Phần mềm
có khả năng thu thập, xử lý phân tích, xây dựng các đường cong ngưỡng dịch tiêu chảy cấp tới tuyến xã/phường, vẽ bản đồ GIS Trên cơ sở các số liệu dịch tễ đầu ra cảnh báo sớm hiện tượng bùng phát dịch tiêu chảy cấp, trong đó có bệnh
tả, và phục vụ cho công tác dự báo dịch từ các số liệu về vi sinh, khí hậu, địa lý
Trang 28- Phần mềm EWARS (Early warning and response system): Là phần mềm
chạy cho hệ thống cảnh báo sớm và đáp ứng nhanh các bệnh truyền nhiễm nổi lên, do Cục YTDP&MT và Viện VSDT trung ương phát triển với sự hỗ trợ của các chuyên gia TCYTTG kể từ năm 2006 Phần mềm chủ yếu phục vụ cho việc phát hiện dịch của một số bệnh mới xuất hiện (SARS, cúm A/H5N1), bệnh dịch nguy hiểm (tả, thương hàn, sốt dengue, viêm não vi rút, dịch hạch) và các sự kiện sức khỏe bất thường khác tại cộng đồng Nguyên lý cấu trúc và tính năng hoạt động được giới thiệu dưới đây
2.3.4 Phần mềm EWARS và khả năng ứng dụng trong giám sát bệnh truyền nhiễm
2.3.4.1 Cấu trúc, tính năng và nguyên lý hoạt động
Phần mềm EWARS còn gọi là “phần mềm cảnh báo sớm đáp ứng nhanh” các bệnh truyền nhiễm được phát triển bởi Cơ quan WHO/CDS/ARO và Bộ Y
tế Việt Nam (Cục YTDP&MT và Viện VSDTTƯ) năm 2006 Phần mềm EWARS hỗ trợ hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm bằng cách tạo ra các phần để cơ quan giám sát nhập và lưu trữ số liệu, trao đổi số liệu, thường xuyên
tự động phân tích các chuỗi số liệu giám sát để có sản phẩm mang tính tập trung
và cảnh báo sớm tình hình bệnh dịch cho các đơn vị giám sát Phần mềm này có những khả năng sau:
- Nhập, phân tích tự động, trích xuất, lưu trữ số liệu giám sát bệnh truyền nhiễm theo mã số bệnh đăng ký trong báo cáo tuần của Bộ Y tế: tả, thương hàn, sốt xuất huyết, viêm não vi rút, dịch hạch, SARS, các bệnh truyền nhiễm nổi lên khác
- Ghi nhận các số liệu đầu vào: dân số địa phương, ca bệnh, ca chết, chùm ca bệnh, ca bệnh trong chùm ca bệnh Các số liệu trên có thể thể hiện trong 3 biến số độc lập (họ tên, tuổi, giới)
- Ghi nhận số liệu giám sát đầu vào và đầu ra theo đơn vị thời gian: ngày, tuần, tháng, 3 tháng, năm
Trang 29- Ghi nhận số liệu giám sát đầu vào và đầu ra theo tuyến: huyện, tỉnh, khu vực (Bắc, Trung, Nam, Tây nguyên), và Quốc gia
- Một số chỉ số dịch tễ có thể trích xuất đầu ra: số lượng ca bệnh, ca chết, chùm ca bệnh/chết, số ca bệnh trong 1 chùm ca bệnh, tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ mắc mới (tuần, tháng…), tỷ lệ chết/mắc (%)
- Khả năng hiển thị số liệu đầu ra: số liệu thô, bảng số liệu, biểu đồ thể hiện các chỉ số bệnh, dịch hiện có so sánh với các loại ngưỡng cảnh báo dịch (alert threshold, outbreak threshold), tuyến được cảnh báo dịch (có số liệu nằm trên ngưỡng cảnh báo dịch), bản đồ phân bố tình trạng bệnh, dịch
- Phương thức chuyển tải thông tin: theo cả phương thức ofline hoặc online trên mạng diện rộng Hiện nay chủ yếu hoạt động theo offline, số liệu được tập hợp dưới dạng các tệp (files) rồi chuyển đi dưới dạng thư điện tử (email) qua mạng internet tới địa chỉ nhận
2.3.4.2 Ưu nhược điểm của phần mềm EWARS
• Ưu điểm:
- Phần mềm khá đơn giản, dễ sử dụng, số lượng các chỉ số đầu vào không nhiều và có thể thu thập được tại tuyến huyện Các chỉ số đầu ra không quá phức tạp và có thể được cung cấp tự động nhờ phần mềm
- Có thể phát hiện, cảnh báo sớm bùng nổ dịch của một số bệnh nổi lên hiện nay ở Việt Nam (có trong báo cáo tuần) chỉ qua số liệu giám sát ca bệnh/chết
và đặc biệt là số liệu chùm ca bệnh
- Ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh có khả năng khai thác như nhau
- Có tính mở để đưa thêm các dữ kiện đầu vào không hạn chế và khai thác thêm các chỉ số đầu ra
- Hoạt động theo nhiều chế độ: offline, online Có thể lồng ghép cùng hoạt động với một số phần mềm và mạng giám sát điện tử khác cũng đang được phát triển ở tuyến huyện và tỉnh hiện nay
• Hạn chế:
Trang 30- Bị hạn chế trong mục đích cảnh báo sớm dịch của một số bệnh truyền
nhiễm, mà chưa có khả năng cung cấp đầy đủ các đặc điểm dịch tễ, xác định nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, tiên lượng dịch
- Đòi hỏi trang bị và nhân lực chuyên trách nhiều hơn so với các phương pháp giám sát truyền thống hiện nay
Tóm lại: Việc ứng dụng công nghệ thông tin bằng việc đưa các phần mềm phù
hợp vào công tác giám sát bệnh truyền nhiễm và thiết lập các mạng giám sát điện tử là một nhu cầu rất cấp bách hiện nay, vì ngoài việc tạo ra một môi trường giao dịch thông tin nhanh chóng và diện bao phủ rộng rãi, thì việc sử dụng các phần mềm giám sát điện tử cũng đòi hỏi hệ thống giám sát nói chung, từng tuyến giám sát nói riêng, những yêu cầu chặt chẽ hơn để bảo đảm độ nhạy,
độ đặc hiệu, tính thống nhất cho số liệu giám sát và tính chuyên nghiệp cao hơn của nhân lực chuyên trách công tác này ở tất cả các tuyến y tế Chính những yêu cầu trên đã góp phần tăng cường chất lượng cho hệ thống giám sát hiện hành
2.4 Trung tâm YTDP tuyến huyện và vai trò trong hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
Kể từ cuối năm 2005, Đội YTDP huyện (là một đơn vị của Trung tâm y tế huyện) đã chính thức được tách khỏi trung tâm y tế huyện và được thành lập trở
thành Trung tâm YTDP huyện theo Quyết định số 26/2005/QĐ-BYT ngày 9 tháng 9 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “ Quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm YTDP huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” Theo quyết định, Trung tâm YTDP huyện
có 5 khoa chuyên môn, trong đó khoa Kiểm soát dịch, bệnh, HIV/AIDS có
nhiệm vụ thực hiện nội dung giám sát các bệnh truyền nhiễm trên địa bàn toàn huyện, trong khi các khoa chuyên môn khác cũng có một phần trách nhiệm thực hiện nội dung giám sát này có liên quan tới lĩnh vực chuyên ngành của mình,
đặc biệt là khoa Xét nghiệm với nhiệm vụ thu thập mẫu bệnh phẩm, tiến hành
các xét nghiệm và phân tích kết quả, góp phần xác định nguyên nhân vi sinh của các bệnh giám sát
Trang 31Số cán bộ định biên của khoa Kiểm soát dịch, bệnh, HIV/AIDS và của khoa Xét nghiệm từ 5-8 người mỗi khoa, tùy theo địa bàn và dân số Nhiệm vụ giám sát bệnh truyền nhiễm thường do lãnh đạo Trung tâm giao cho một số cán bộ thực hiện và bị luân phiên, thay đổi thường xuyên, mà không có hình thức tổ chức (tổ hay nhóm) chuyên trách và hoạt động có tính cố định, vì vậy số liệu giám sát thường thiếu hệ thống, chuẩn xác và dễ thất lạc, nhiều khi không được báo cáo cho các đơn vị có liên quan, hoặc gửi chậm, gửi nhầm địa chỉ Số liệu thường xuyên không được phản hồi cho tuyến dưới
Trang bị cho hoạt động giám sát tại Trung tâm cũng rất nghèo nàn Thường chỉ có 2 cuốn sổ: Sổ nhật ký trực ghi chép hàng ngày báo cáo của tuyến dưới, và
sổ tổng hợp số liệu giám sát tuần và tháng Phương tiện lập báo cáo thường sử dụng máy vi tính chạy với Word và Excel, không được lập trình sẵn phần xử lý phân tích dữ liệu, hoàn toàn dựa theo biểu mẫu quy định của Bộ Y tế cho tuyến huyện, do cán bộ giám sát lấy số liệu từ sổ báo cáo tuần, tháng chuyển sang Phương tiện gửi báo cáo có 1 máy điện thoại bàn phục vụ chuyển báo cáo nhanh, báo cáo hàng ngày Các báo cáo tuần, tháng còn lại chủ yếu chuyển tay hoặc gửi qua đường bưu điện
Tại khoa Xét nghiệm thuộc Trung tâm YTDP huyện do trang bị rất nghèo nàn, nhiều trung tâm còn chưa có cả khoa này hoặc chưa có một phòng cho khoa Xét nghiệm triển khai Mặt khác nếu có cơ sở thì chức năng nhiệm vụ xét nghiệm phục vụ công tác giám sát bệnh truyền nhiễm không có hoặc không được xác định rõ ràng (ví dụ chỉ được ghi là xét nghiệm phát hiện các vi sinh vật…) Chính vì vậy kết quả xét nghiệm vi sinh-huyết thanh tại tuyến huyện, nếu có, hầu như chưa có tác dụng phục vụ cho hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ở tuyến này
Tóm lại: Trung tâm YTDP huyện đã được hình thành theo Quyết định số
26/2005/QĐ-BYT từ năm 2005, với định biên, chức năng, nhiệm vụ có nhiều thuận lợi cho công tác giám sát bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên vẫn còn những
Trang 32tồn tại lớn ảnh hưởng tới hiệu quả và chất lượng công tác giám sát ở tuyến huyện:
- Không có tổ chức mang tính chuyên trách về giám sát (bao gồm cả xét nghiệm vi sinh) và hoạt động có tính chuyên nghiệp tại trung tâm YTDP
- Không có đủ các trang bị cơ bản nhất cho xét nghiệm vi sinh và công việc thu thập, xử lý, phân tích nhanh, gửi báo cáo giám sát nhanh cho các địa chỉ cần thiết
- Không có cán bộ giám sát được đào tạo, tập huấn theo chuyên sâu về kỹ năng giám sát, đặc biệt là sử dụng trạng thiết bị điện tử cho công tác giám sát
- Không thường xuyên được giám sát hỗ trợ từ tuyến trên (tỉnh, viện khu vực)
để kịp thời giải quyết những tồn tại về phương pháp và kỹ thuật giám sát
Có nhiều giải pháp, biện pháp cần được đề xuất để giải quyết những tồn tại trên cho tuyến huyện Và một trong những giải pháp đó là thử nghiệm áp dụng hình thức giám sát điện tử, sử dụng phần mềm EWARS cùng với các phần mềm
hỗ trợ khác, kết hợp tăng cường một phần năng lực thu thập mẫu và xét nghiệm
vi sinh cho tuyến huyện, tăng cường tập huấn cho tuyến huyện và xã, giám sát
hỗ trợ của tuyến trên cho huyện, xây dựng nhóm/tổ chuyên trách về giám sát bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm YTDP huyện
Và đây cũng chính là mục đích đặt ra của đề tài nghiên cứu này
Trang 333 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa bàn và đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Địa bàn nghiên cứu:
- Chọn có chủ đích tỉnh Hải Dương là một tỉnh đồng bằng thuộc miền Bắc, nơi
có hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm theo tiêu chuẩn quy định hiện hành của Bộ Y tế khá tốt trong nhiều năm vừa qua
- Tại tỉnh Hải Dương chọn có chủ đích 2 huyện vào nghiên cứu là huyện Gia Lộc và huyện Thanh Hà là 2 huyện có quy mô, cấu trúc dân số và nhiều yếu
tố tự nhiên, xã hội tương đồng nhau, cũng là 2 huyện có hệ thống y tế tuyến
xã và tuyến huyện hoạt động giám sát tương đối đều đặn thường xuyên trong những năm gần đây
3.1.2 Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu
- Một số cơ sở điều trị của 2 huyện Gia Lộc và Thanh Hà bao gồm: Bệnh viện huyện (BV), phòng khám khu vực (PK) tuyến huyện, là những cơ sở y tế có tham gia trong hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại tuyến huyện Số lượng tham gia nghiên cứu của 2 huyện như nhau: 1 bệnh viện huyện, 2 phòng khám cho mỗi huyện
- Một số cơ sở xét nghiệm vi sinh-huyết thanh của huyện thuộc Trung tâm YTDP huyện và thuộc bệnh viện huyện của 2 huyện Gia Lộc và Thanh Hà, cũng là những cơ sở có tham gia trong hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
Trang 34tại tuyến huyện Số lượng cơ sở tham gia như nhau ở 2 huyện: 2 khoa xét nghiệm/mỗi huyện
- Toàn bộ số cán bộ khoa Kiểm soát dịch bệnh, HIV/AIDS thuộc Trung tâm YTDP của 2 huyện (Gia Lộc: 8 người; Thanh Hà: 6 người)
- Toàn bộ số trạm trưởng trạm y tế của các xã thuộc 2 huyện nghiên cứu (Gia Lộc: 25 người/25 xã/thị trấn, Thanh Hà: 25 người/ 25 xã/thị trấn)
- Trưởng khoa truyền nhiễm và trưởng phòng y vụ của bệnh viện huyện của 2 huyện (Gia Lộc: 2 người; Thanh Hà: 2 người); trưởng phòng y vụ của phòng khám khu vực của 2 huyện (Gia Lộc: 4 người/2 PKKV; Thanh Hà: 4 người/2 PKKV)
3.1.2.2 Tuyến tỉnh:
- Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm và vắc xin thuộc Trung tâm YTDP tỉnh Hải Dương có số cán bộ tham gia nghiên cứu là 10 người Đối tượng tuyến tỉnh có nhiệm vụ theo dõi, đánh giá việc triển khai giám sát bệnh truyền nhiễm của 2 huyện trong suốt thời gian nghiên cứu, trả lời phiếu điều tra đánh giá thực trạng hệ thống giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình giám sát điểm có sử dụng phầm mềm EWARS
3.1.2.3 Tuyến khu vực:
- Tổ Giám sát, Khoa Dịch tễ Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, gồm 10 người Nhiệm vụ là cùng với tuyến tỉnh theo dõi, đánh giá kết quả và chất lượng giám sát của 2 huyện nghiên cứu, thực hiện nội dung trả lời phiếu phỏng vấn đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình giám sát theo EWARS
3.2 Phương pháp và các kỹ thuật nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp dịch tễ học mô tả, với 2 thiết kế:
- Điều tra cắt ngang các nhóm nghiên cứu tại những thời điểm khác nhau: Tháng 11/2006 (thời điểm bắt đầu nghiên cứu, để có số liệu thực trạng chất lượng hệ thống giám sát 2 huyện) và tháng 11/2008 (thời điểm kết thúc nghiên cứu, lấy số liệu kết quả) Ngoài ra sử dụng số liệu thu được
Trang 35qua giám sát thường xuyên hàng tuần, hàng tháng và cuối mỗi năm 2007,
2008 để mô tả và phân tích hiệu quả hoạt động của mô hình
- Mô tả có kết hợp phân tích định lượng và định tính, trên cơ sở đó xây dựng nội dung mô hình nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu can thiệp:
Sử dụng thiết kế can thiệp có nhóm đối chứng, chọn mẫu có chủ đích, đánh giá hiệu quả bằng so sánh kết quả giám sát giữa 2 nhóm (2 huyện can thiệp
và đối chứng) vào thời điểm kết thúc nghiên cứu và kết quả đánh giá theo phiếu điều tra của cán bộ tham gia thực hiện cũng như cán bộ theo dõi, đánh giá quy trình giám sát ở các tuyến trên (Trung tâm YTDP tỉnh Hải Dương và khoa Dịch
tễ Viện VSDT trung ương)
Nội dung biện pháp can thiệp gồm:
- Thực hiện quy trình giám sát bệnh truyền nhiễm ở tuyến xã và tuyến BV/PK theo đúng phương thức truyền thống hiện hành
- Tập huấn cho cán bộ của huyện Gia Lộc:
+ Thành phần tham gia: Tuyến xã (trưởng trạm Y tế xã); tuyến BV/PK (các trưởng khoa/phòng các đơn vị có tham gia hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm); Trung tâm YTDP huyện (lãnh đạo và cán bộ của khoa Kiểm soát bệnh, dịch và HIV/AIDS, khoa Xét nghiệm); cán bộ phòng Y tế huyện + Nội dung tập huấn: Cấu trúc hệ thống giám sát; nội dung, tầm quan trọng
và vai trò của phương thức giám sát mới; cách sử dụng phần mềm EWARS
và phương thức vận hành giám sát theo EWARS; sử dụng các số liệu kết quả xét nghiệm trong giám sát; cách theo dõi và đánh giá kết quả giám sát
Đã thực hiện được 2 lớp tập huấn và chuyển giao kỹ thuật giám sát cho huyện Gia Lộc
- Nội dung tập huấn cho cán bộ huyện Thanh Hà: hoàn toàn theo quy trình giám sát truyền thống hiện hành
- Đề xuất bổ sung tăng cường một số trang bị xét nghiệm cơ bản, thiết yếu cho khoa Xét nghiệm thuộc Trung tâm YTDP huyện Gia Lộc nhằm phục vụ chủ
Trang 36yếu cho giám sát căn nguyên một số bệnh truyền nhiễm có thể gây dịch nguy hiểm (bệnh SARS, cúm A/H5N1, bệnh tả, bệnh sốt xuất huyết, bệnh viêm não nhật bản, bệnh viêm gan vi rút B)
- Trang bị thêm máy vi tính cá nhân (có kèm trang bị kết nối internet; phần mềm giám sát cảnh báo sớm và đáp ứng nhanh – EWARS; các phần mềm hỗ trợ khác Các trang bị phục vụ cho giám sát như máy Fax, điện thoại 24/24, các loại mẫu biểu sổ sách giám sát…đã có tại Trung tâm cũng được rà soát, củng cố lại để hoạt động tốt hơn
3.2.2 Các kỹ thuật nghiên cứu:
* Kỹ thuật chẩn đoán, phát hiện ca bệnh truyền nhiễm tại cơ sở điều trị và tại cộng đồng: Theo đúng thường quy kỹ thuật giám sát và định nghĩa ca bệnh của Bộ Y tế [2], [7], [16], [26] Xác định chùm ca bệnh của một số bệnh truyền nhiễm thực hiện theo quy định của Bộ y tế và TCYTTG [2], [3], [26], [35]
* Các kỹ thuật thu thập, bảo quản, vận chuyển mẫu bệnh phẩm của một
số bệnh truyền nhiễm gây dịch từ tuyến BV/PK hay cộng đồng thực hiện theo thường quy của Viện VSDT trung ương, Bộ Y tế và TCYTTG [6], [18], [28], [29], [30]
* Các kỹ thuật xét nghiệm, xác định dấu ấn vi sinh bằng phân lập, huyết thanh học (ELISA, các tét nhanh) đối với một số bệnh truyền nhiễm được thực hiện theo thường quy kỹ thuật của Viện VSDT trung ương [18]
* Kỹ thuật nhập liệu, xử lý số liệu, trích xuất, tổng hợp và gửi báo cáo điện tử sử dụng phần mềm EWARS và các phần mềm hỗ trợ khác do cán bộ Trung tâm YTDP huyện Gia Lộc tiến hành theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Y tế
và nhóm giám sát cảnh báo sớm, TCYTTG (WHO/HSE/EPR/ARO) phát triển,
2006 [8]
* Kỹ thuật thu thập thông tin dựa vào điều tra, phỏng vấn theo phiếu, thực hiện trên các cán bộ trực tiếp thực hiện giám sát (tuyến huyện) và theo dõi, đánh giá kết quả giám sát (tuyến tỉnh, tuyến viện khu vực) được thực hiện theo phiếu điều tra do nhóm nghiên cứu xây dựng
Trang 373.3 Các chỉ số nghiên cứu
3.3.1 Các chỉ số giám sát dịch tễ bệnh truyền nhiễm thường xuyên [7]:
- Số lượng và tỷ lệ mắc mới (và cộng dồn) theo tuần, theo tháng, theo năm của một số bệnh truyền nhiễm nổi lên tại Hải Dương, trong 2 năm 2007-2008
- Số lượng, tỷ lệ tử vong (và số cộng dồn) theo tuần, theo tháng, theo năm của một số bệnh truyền nhiễm nổi lên tại Hải Dương, trong 2 năm 2007-2008
- Số lượng và tỷ lệ chùm ca bệnh mới xuất hiện, tỷ lệ được phát hiện và báo cáo sớm đối với một số bệnh truyền nhiễm, so sánh giữa 2 huyện nghiên cứu
3.3.2 Các chỉ số giám sát dịch tễ bệnh truyền nhiễm trong trường hợp khẩn cấp [7]:
- Số lượng và tỷ lệ mới mắc/chết
- Một số thông tin có liên quan (tuổi, giới, địa chỉ hiện trú, đã từng đi qua, tình trạng lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả điều trị, dự phòng…) Tùy theo loại bệnh có các loại thông tin phù hợp đi cùng ca bệnh/chùm ca bệnh giám sát 3.3.3 Các chỉ số về chất lượng hoạt động của hệ thống giám sát tại tuyến huyện:
- Số lớp, số cán bộ, tỷ lệ cán bộ được tập huấn về mô hình giám sát EWARS
- Số lượng và tỷ lệ cán bộ có hiểu biết đúng chất lượng của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm
- Hoạt động giám sát hỗ trợ: số lần, số xã, BV/PKKV được giám sát hỗ trợ
- Số lượng, tỷ lệ báo cáo giám sát thực hiện đầy đủ (theo tuần, tháng)
- Số lượng, tỷ lệ báo cáo giám sát thực hiện đúng hạn (báo cáo tuần, tháng, khẩn cấp)
- Hoạt động phản hồi thông tin giám sát: tỷ lệ có phản hồi báo cáo (tuần, tháng)
- Số lượng và tỷ lệ ca bệnh truyền nhiễm được xét nghiệm xác định nguyên nhân vi sinh (áp dụng đối với một số loại bệnh nổi lên ở tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây)
Trang 38- Tỷ lệ số phiếu đánh giá về chất lượng xử lý, phân tích, chuyển tải, lưu trữ kết quả giám sát bệnh truyền nhiễm, so sánh 2 huyện nghiên cứu
- Mức độ đạt yêu cầu với 3 mức đánh giá: Đạt yêu cầu: +; Đạt mức khá: ++;
Đạt mức tốt: +++ đối với một hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm (mô
hình nghiên cứu) ở tuyến huyện, so sánh giữa 2 huyện nghiên cứu Các chỉ
số đánh giá gồm: (i) Tính đầy đủ và chính xác về ca bệnh; (ii) Tính đầy đủ, đúng hạn, chính xác của các báo cáo giám sát; (iii) Tính toàn diện, hiện đại, khả thi, dễ chấp nhận triển khai, bền vững, ít đòi hỏi nhân lực qua đào tạo, ít đòi hỏi trang bị của mô hình giám sát bệnh truyền nhiễm
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
3.4.1 Xử lý số liệu giám sát theo các phương pháp xử lý truyền thống hiện
hành [7], [19]: áp dụng đối với tuyến xã, và đối với Trung tâm YTDP
huyện Thanh Hà (huyện đối chứng)
3.4.2 Xử lý, phân tích số liệu giám sát theo phần mềm EWARS và các phần
mềm hỗ trợ [ 8]: thực hiện theo đúng hướng dẫn của tài liệu “Hướng dẫn
sử dụng phần mềm Cảnh báo sớm và đáp ứng nhanh các bệnh truyền nhiễm” của WHO/CDR/ARO và Bộ Y tế phát triển, gồm các bước:
• Nhập số liệu: ca bệnh (lâm sàng, xác định) theo bệnh (24 bệnh truyền nhiễm); thời gian bệnh (ngày, tuần, tháng) và thời gian nhập liệu; địa bàn hành chính (xã, BV/PKKV, huyện, tỉnh); dân số địa phương
• Xử lý phân tích, xây dựng các báo cáo: Báo cáo về mắc/chết của bệnh,
dưới dạng báo cáo tùy chọn bằng ACCESS; báo cáo dạng HTML và WORD
• Tìm kiếm dữ liệu giám sát và bổ sung, điều chỉnh số liệu, nếu cần
• Xem và kết xuất dữ liệu kết quả
• Lưu và chạy lại bảng yêu cầu
• Xuất và gửi bảng báo cáo tới các địa chỉ có yêu cầu
Trang 39• Quy trình nhập liệu, xử lý phân tích, trích xuất và gửi kết quả đối với
“các sự kiện sức khỏe bất thường”
3.4.3 Xử lý thống kê:
• Sử dụng các phần mềm Excel; EPI-INFO 6.04 nhập phiếu điều tra, các số liệu nghiên cứu Xử lý phân tích so sánh theo test Chi bình phương, lấy ngưỡng xác định có giá trị khác biệt có ý nghĩa thống kê p<=0,05 Để xác định mức độ tăng hay giảm khả năng thực hiện giám sát của mô hình, thông qua so sánh kết quả thực hiện của 2 huyện, đề tài sử dụng hệ số hiệu quả (HSHQ), được tính theo công thức:
Kết quả đạt ở huyện can thiệp – Kết quả thực hiện ở huyện chứng HSHQ(%) = -x100 Kết quả thực hiện ở huyện can thiệp
3.5 Khía cạnh đạo đức và pháp lý trong nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu được Hội đồng khoa học do Bộ Y tế ra quyết định xét duyệt (15/9/2006) trước khi thực hiện
- Được sự đồng ý của Sở Y tế Hải Dương cho phép thực hiện tại một số cơ sở
y tế thuộc tỉnh Hải Dương (tháng 10/2006)
- Nhóm nghiên cứu cam kết mọi số liệu kết quả của đề tài chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và phục vụ cho chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, thông qua việc nâng cao hiệu quả của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại tuyến huyện
Trang 404 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thực trạng của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm ở địa bàn nghiên cứu:
Theo kết quả điều tra cuối năm 2006, thời điểm trước khi bước vào nghiên cứu can thiệp thử nghiệm xây dựng mô hình giám sát điểm và triển khai áp dụng phần mềm EWARS tại huyện điểm, một số thực trạng về hoạt động của hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm của tuyến tỉnh (trung tâm YTDP tỉnh Hải Dương) và
2 huyện nghiên cứu (huyện Gia Lộc và Thanh Hà) được phản ánh ở các bảng sau
4.1.1 Kết quả điều tra về tổ chức, trang thiết bị phục vụ cho giám sát của các
cơ sở nghiên cứu:
Kết quả điều tra bằng bảng kiểm và qua phiếu điều tra đối với lãnh đạo của
3 trung tâm YTDP (tuyến tỉnh và tuyến huyện) về thực trạng tổ chức và trang thiết bị của từng trung tâm được trình ở bảng sau:
Bảng 4.1: Thực trạng tổ chức, trang thiết bị các cơ sở nghiên cứu
Nội dung chỉ số Tỉnh
Hải Dương
Huyện Gia Lộc
Huyện Thanh
Hà
So sánh giữa
2 huyện nghiên cứu -Số Khoa có nhiệm vụ giám sát
-Số khoa có nhiệm vụ xét
nghiệm vi sinh-huyết thanh
đương -Số cán bộ có làm nhiệm vụ
-Số cán bộ làm nhiệm vụ xét
nghiệm chung, trong đó:
-Chuyên môn cao cấp
-Trang bị thiết yếu cho xử lý
và báo cáo số liệu giám sát
Có đủ Thiếu Thiếu Tương
đương