Yêu cầu khoa học cần đạt Số TT Tên sản phẩm Theo kế hoạch Thực tế đạt được Số lượng, nơi công bố 1 Báo cáo đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt 2 Báo cáo mô hình tổ chức hệ thống truy
Trang 1BỘ Y TẾ
-
BÁO CÁO KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI TRUYỀN MÁU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020
Cơ quan chủ trì: VIỆN HUYẾT HỌC - TRUYỀN MÁU TRUNG ƯƠNG
Chủ nhiệm đề tài: 1 GS.TS Nguyễn Anh Trí
Viện trưởng, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương
Phó Cục trưởng, Cục Quản lý khám, chữa bệnh - Bộ Y tế
9183
HÀ NỘI - 2011
Trang 22
Phụ lục 3 biểu C 1 BCTK ĐT, DA
BÁO CÁO THỐNG KÊ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên đề tài: Nghiên cứu xây dựng quy hoạch mạng lưới truyền máu ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
- Thuộc: Chương trình (tên, mã số chương trình):
2 Chủ nhiệm đề tài:
2.1 GS.TS Nguyễn Anh Trí
- Họ và tên: Nguyễn Anh Trí
- Ngày, tháng, năm sinh: 14/09/1957 Nam/ Nữ: Nam
- Học hàm, học vị: Giáo sư, Tiến sĩ
- Chức danh khoa học: Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kỹ thuật Viện Huyết học - Truyền máu TW
- Chức vụ: Viện trưởng
- Điện thoại: Tổ chức: (04) 3 7821891/ 3 7821892 Số lẻ: 789
Nhà riêng: (04) 3 7227503 Mobile: 0903 217.517
- Fax: (04) 3868 5582 E-mail: trihnvn@yahoo.com
- Tên tổ chức đang công tác: Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương
- Địa chỉ tổ chức: Phố Trần Thái Tông (kéo dài), Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
- Địa chỉ nhà riêng: Số 57, Ngõ 55, Hoàng Hoa Thám - Ba Đình - Hà Nội
2.2 TS Trần Quý Tường
- Họ và tên: Trần Quý Tường
Ngày, tháng, năm sinh: 23/07/1961 Nam/ Nữ: Nam
- Học hàm, học vị: Tiến sĩ
- Chức danh khoa học:
- Chức vụ: Phó Cục trưởng, Cục Quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế
Phó Chủ tịch Hội Phục hồi chức năng Việt Nam
Ủy viên ban biên tập tạp chí Y học thực hành
Trang 33
- Điện thoại: Tổ chức: (04) 6 2 732 286
Nhà riêng: (04) 3 8 528 579 Mobile: 0903 534.131
- Fax: (04) 6 2 732 289 E-mail: quytuong2001@yahoo.com
- Tên tổ chức đang công tác: Bộ Y tế
- Địa chỉ tổ chức: 138A Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội
- Địa chỉ nhà riêng: Số 6, hẻm 195/1, Ngõ Xã Đàn 2, Đống Đa, Hà Nội
3 Tổ chức chủ trì đề tài:
- Tên tổ chức chủ trì đề tài: Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương
- Điện thoại: (04) 3868 5582 Fax: (04) 3868 5582
- Ngân hàng: Kho bạc Nhà nước Hoàn Kiếm
- Tên cơ quan chủ quản đề tài: Bộ Y tế
II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
1 Thời gian thực hiện đề tài:
- Theo Hợp đồng đã ký kết: từ tháng 08 năm 2009 đến tháng 12 năm 2009
- Thực tế thực hiện: từ tháng 08 năm 2009 đến tháng 01 năm 2012
- Được gia hạn (nếu có):
Trang 4Thời gian (Tháng, năm)
Kinh phí (Tr.đ)
3 Các văn bản hành chính trong quá trình thực hiện đề tài:
(Liệt kê các quyết định, văn bản của cơ quan quản lý từ công đoạn xác định nhiệm
vụ, xét chọn, phê duyệt kinh phí, hợp đồng, điều chỉnh (thời gian, nội dung, kinh
phí thực hiện nếu có); văn bản của tổ chức chủ trì đề tài, dự án (đơn, kiến nghị
Trang 54 Tổ chức phối hợp thực hiện đề tài: Không
5 Cá nhân tham gia thực hiện đề tài:
(Người tham gia thực hiện đề tài thuộc tổ chức chủ trì và cơ quan phối hợp, không quá 10 người kể cả chủ nhiệm)
Số
TT
Tên cá nhân đăng ký
theo Thuyết minh
Tên cá nhân
đã tham gia thực hiện
Nội dung tham gia chính
Sản phẩm chủ yếu đạt được
1 GS.TS Nguyễn Anh Trí GS.TS Nguyễn Anh Trí CN ĐT Hoàn thành đề tài
2 TS Trần Quý Tường TS Trần Quý Tường CN ĐT Hoàn thành đề tài
3
ThS Phạm Tuấn Dương ThS Phạm Tuấn Dương
Thư ký Xây dựng đề cương, Lập
mẫu phiếu điều tra, Thử nghiệm và hoàn chỉnh bộ câu hỏi, xử lý, phân tích
số liệu điều tra
4 BS Nguyễn Khắc Tiến BS Nguyễn Khắc Tiến Thư ký Góp ý form nhập liệu
5 TS Nguyễn Triệu Vân TS Nguyễn Triệu Vân Thành viên Phân tích số liệu điều tra,
viết báo cáo tổng kết
6 ThS Nguyễn Thị Phương
Lan
Thành viên Xây dựng phiếu khảo sát
7
CN Đoàn Văn Chính CN Đoàn Văn Chính
Thành viên Lập mẫu phiếu điều tra, Thử
nghiệm và hoàn chỉnh bộ câu hỏi, nhập liệu kết quả điều tra, xử lý, phân tích số liệu điều tra
8
ThS Ngô Huy Minh ThS Ngô Huy Minh
Thành viên Xây dựng đề cương, Lập
mẫu phiếu điều tra, Thử nghiệm và hoàn chỉnh bộ câu hỏi, nhập liệu kết quả điều tra, xử lý, phân tích số liệu điều tra
9 Ông Paul Rogers Ông Paul Rogers Thành viên Tư vấn viết đề tài
Trang 66
11
PGS.TS Bùi Thị Mai An PGS.TS Bùi Thị Mai
An
Thành viên Tham gia điều tra
12 ThS Trần Ngọc Quế ThS Trần Ngọc Quế Thành viên Tham gia điều tra
13 ThS Ngô Mạnh Quân ThS Ngô Mạnh Quân Thành viên Tham gia điều tra
14 BS Đào Nguyên Minh Thành viên Tham gia điều tra
6 Tình hình hợp tác quốc tế: Không
7 Tình hình tổ chức hội thảo, hội nghị: Không
8 Tóm tắt các nội dung, công việc chủ yếu:
(Nêu tại mục 15 của thuyết minh, không bao gồm: Hội thảo khoa học, điều tra khảo sát trong nước và nước ngoài)
Thời gian
(Bắt đầu, kết thúc - tháng …
Thực
tế đạt được
Người, cơ quan thực
tổ chức (T&C Consulting)
tổ chức ( T&C Consulting)
Trang 77
3 §Ò xuÊt quy ho¹ch m¹ng l−íi
truyÒn m¸u ViÖt Nam vµ dù
kiÕn c¸c giai ®o¹n ph¸t triÓn
Trang 88
III SẢN PHẨM KH&CN CỦA ĐỀ TÀI, DỰ ÁN SXTN
1 Sản phẩm KH&CN đã tạo ra:
a) Sản phẩm Dạng I: Hiện trạng Truyền máu Việt Nam giai đoạn 2001-2010; b) Sản phẩm Dạng II: Tiếp tục hoàn thiện mạng lưới tổ chức hệ thống Truyền máu Việt Nam
c) Sản phẩm Dạng III: Báo cáo tổng kết, Bài báo khoa học
Yêu cầu khoa học cần đạt
Số
TT Tên sản phẩm Theo kế
hoạch
Thực tế đạt được
Số lượng, nơi công
bố
1 Báo cáo đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt
2 Báo cáo mô hình tổ chức hệ thống truyền
3 Báo cáo quy hoạch mạng lưới truyền máu
Việt Nam và dự kiến các giai đoạn phát triển
hệ thống truyền máu trên phạm vi toàn quốc
giai đoạn 2011-2020
- Lý do thay đổi (nếu có):
d) Kết quả đào tạo: Không
đ) Tình hình đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp: Không
e) Thống kê danh mục sản phẩm KHCN đã được ứng dụng vào thực tế: Bài báo khoa học về: Thực trạng việc cung cấp máu và chế phẩm máu ở Việt Nam hiện nay (2010)
2 Đánh giá về hiệu quả do đề tài, dự án mang lại:
a) Hiệu quả về khoa học và công nghệ:
(Nêu rõ danh mục công nghệ và mức độ nắm vững, làm chủ, so sánh với trình độ công nghệ so với khu vực và thế giới…)
Trang 99
2.1 Mô tả được hiện trạng dịch vụ truyền máu và thực trạng về nhu cầu máu của Việt Nam (2010):
2.1.1 Về hệ thống tổ chức: Phân tán, cả nước có đến 74 cơ sở tiếp nhận máu cấp
Trung ương và tỉnh (không kể các cơ sở tiếp nhận nhỏ, lẻ ở cấp huyện)
- Về nguồn máu: Chủ yếu từ học sinh – sinh viên, người hiến máu chuyên nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ khoảng 16% trong cả nước
- Về nhu cầu sử dụng máu và chế phẩm máu: Vẫn đang rất lớn, mới đáp ứng 40% với máu toàn phần và 55% khi sản xuất được chế phẩm máu
- Về cơ sở vật chất: Phần lớn các cơ sở truyền máu vẫn trực thuộc bệnh viện, cơ
sở vật chất chật hẹp, lạc hậu
- Về cán bộ và trình độ cán bộ về chuyên môn kỹ thuật: Cán bộ thiếu và trình độ cán bộ chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của chuyên khoa, đặc biệt là cán bộ sàng lọc, sản xuất và quản lý chất lượng
2.1.2 Hoạt động của mạng lưới truyền máu Việt Nam:
- Có 4 trung tâm đã được đầu tư trong dự án Trung tâm truyền máu khu vực, đang hoạt động tốt và phát huy cơ bản hiệu quả đầu tư Tuy nhiên vẫn còn một số mục tiêu chưa đạt yêu cầu:
+ Trung tâm Hà Nội: Vẫn còn có đơn vị tiếp nhận máu trong phạm vi bao phủ; + Trung tâm Huế: Chưa cung cấp máu đủ cho Đà Nẵng và Quảng Nam;
+ Trung tâm Chợ Rẫy: Chưa hoàn thành cơ sở hạ tầng;
+ Trung tâm Cần Thơ: Chưa cung cấp máu đủ cho An Giang, Bạc Liêu
- Có 7 trung tâm đã có quyết định thành lập nhưng chưa có dự án đầu tư
- Hệ thống truyền máu miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo chưa được quan tâm đúng mức
2.1.3 Tồn tại cơ bản của Truyền máu giai đoạn 2001-2010:
- Chưa tạo được cơ chế quản lý và hoạt động của hệ thống dịch vụ truyền máu Việc tiếp nhận máu còn rất phân tán, khó kiểm soát
Trang 1010
- Thiếu nguồn người hiến máu
- Đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo đủ, chưa đáp ứng yêu cầu về quản lý và chuyên môn, đặc biệt là ở Trung tâm Huế và Cần Thơ
- Chất lượng máu và chế phẩm máu còn chưa thống nhất và chưa đồng đều trên toàn quốc
2.2 Đề xuất được mô hình tổ chức hệ thống truyền máu Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Cần phải tiếp tục tổ chức và củng cố hệ thống Truyền máu Việt Nam theo hướng tập trung, thống nhất, hiện đại và hiệu quả Tách dần các trung tâm truyền máu ra khỏi các bệnh viện
2.3 Đề xuất được quy hoạch mạng lưới truyền máu Việt Nam giai đoạn
2011-2020
Mạng lưới truyền máu Việt Nam dự kiến sẽ được xây dựng dựa trên các cơ sở hiện có với hai hình thức: Truyền máu tập trung và Truyền máu miền núi, vùng
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo với các hoạt động:
1 Tăng cường năng lực cho 4 Trung tâm truyền máu đã được đầu tư
2 Xây dựng 7 trung tâm truyền máu đã được thành lập
3 Chuẩn bị điều kiện để thành lập và xây dựng mới 2 trung tâm truyền máu còn lại
4 Tổ chức hệ thống truyền máu ở Miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo theo hướng tại chỗ: nhận máu của các Trung tâm truyền máu hoặc của Tỉnh hoặc tổ chức đội ngũ hiến máu tại chỗ với cách thức đặc biệt
2.4 Các giải pháp lớn để thực hiện:
2.4.1 Đề xuất xây dựng chương trình An toàn truyền máu quốc giai giai đoạn 2011-2020, có ban chỉ đạo Chương trình và có văn phòng đại diện, đặt tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương
Trang 11về cung cấp máu và an toàn truyền máu, nhất là ở các trung tâm mới
b) Hiệu quả về kinh tế xã hội:
(Nêu rõ hiệu quả làm lợi tính bằng tiền dự kiến do đề tài, dự án tạo ra so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường…)
Trang 1313
BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI
TRUYỀN MÁU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020
Trang 14
14
1 ĐẶT VẤN ĐỀ - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Việc bố trí sắp xếp hệ thống tổ chức của chuyên khoa nào đó một cách trình
tự, hợp lý theo từng giai đoạn phát triển của ngành, của xã hội để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đầu tư ngắn hạn và dài hạn là rất cần thiết
- Chuyên khoa Truyền máu là một chuyên khoa trong hệ thống các chuyên khoa của ngành Y tế Việt Nam Quy hoạch mạng lưới truyền máu Việt Nam đã được hình thành từ quyết định số 198/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ
- Trên thế giới, tùy vào điều kiện kinh tế và trình độ phát triển Y học, mỗi quốc gia xây dựng hệ thống dịch vụ truyền máu theo những mô hình khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau
Tổ chức hệ thống truyền máu của một số nước trên thế giới như sau:
- Đầu mối quản lý:
+ Nhà nước quản lý thông qua Bộ Y tế: Pháp, Hàn Quốc, Canada, Malaysia,
Ấn Độ, Anh, Trung Quốc
+ Ủy quyền cho các tổ chức xã hội: Chữ Thập đỏ hoặc các tổ chức xã hội chuyên ngành như: Úc, Thái Lan, Phần Lan, Nhật,
+ Có một số nước, vẫn tồn tại hình thức một phần hoạt động của nhà nước, một phần hoạt động của tư nhân như: Mỹ, Ấn độ, Philippine
- Xu hướng tập trung hóa – mô hình phát triển hiện nay:
Sự xuất hiện của HIV, viêm gan B, C đã buộc Chính phủ các nước phải nhìn nhận và tổ chức lại hệ thống truyền máu cho an toàn và hiệu quả
Xu hướng tập trung hóa hệ thống các Trung tâm truyền máu để có điều kiện trang
bị hiện đại, có điều kiện để sàng lọc bệnh nhiễm trùng và sản xuất các chế phẩm máu, việc này sẽ mang lại hiệu quả và đảm bảo an toàn cho người bệnh
Ví dụ : - Singapore (4 triệu dân) chỉ có một ngân hàng máu;
Trang 1515
- Thỏi Lan (65 triệu dõn) cú 12 ngõn hàng mỏu;
- Nhật Bản hiện nay cú 65 trung tõm truyền mỏu nhưng chỉ cú 10 trung tõm làm xột nghiệm và 30 trung tõm sản xuất chế phẩm mỏu Theo kế hoạch, đến năm 2013, chỉ cũn 8 trung tõm xột nghiệm và 11 trung tõm sản xuất chế phẩm mỏu
- Hàn Quốc: Năm 2010, với 50 triệu dõn chỉ cú 15 trung tõm tiếp nhận mỏu, trong đú chỉ cú 3 trung tõm được phộp sàng lọc mỏu
- Nước Mỹ tiếp nhận 20 triệu đơn vị mỏu/năm (2008), cú 6 trung tõm được phộp sàng lọc cỏc bệnh nhiễm trựng và bằng kỹ thuật rất hiện đại - kỹ thuật NAT
- Khuyến cỏo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về dịch vụ Truyền mỏu
Truyền mỏu luụn được coi là một trong những chiến lược ưu tiờn hàng đầu do dịch HIV/AIDS ngày càng lan rộng trong cộng đồng và tỷ lệ nhiễm HIV từ 5-10% trờn toàn thế giới thụng qua truyền mỏu và cỏc chế phẩm mỏu Việc lõy nhiễm này
cú thể được loại trừ nếu biết phối hợp và thực hiện tốt chương trỡnh Truyền mỏu quốc gia, bao gồm cỏc điểm sau:
- Thiết lập dịch vụ truyền mỏu tập trung;
- Chỉ tiếp nhận mỏu từ những người hiến mỏu tỡnh nguyện khụng lấy tiền;
- Sàng lọc tất cả cỏc đơn vị mỏu;
- Giảm thiểu cỏc trường hợp khụng cần truyền mỏu, sử dụng mỏu hợp lý, hiệu quả và sử dụng cỏc chất thay thế khi cú thể
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu chung:
Đánh giá hiện trạng hệ thống truyền máu quốc gia, trên cơ sở đó đề xuất và xây dựng Quy hoạch mạng lưới truyền máu ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
Mục tiêu cụ thể
- Mô tả hiện trạng tổ chức và hoạt động truyền máu ở Việt Nam
- Đề xuất mô hình tổ chức hệ thống truyền máu Việt Nam
- Đề xuất quy hoạch mạng lưới truyền máu Việt Nam và dự kiến các giai
đoạn phát triển hệ thống truyền máu trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2011-2020
Trang 1616
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến hành từ 7/2009 đến 12/2010 tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, các Trung tâm truyền máu khu vực và các bệnh viện tỉnh có tiếp nhận máu trên toàn quốc
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
2.2.1 Đối tượng phát vấn
- Là các bệnh viện trong toàn quốc có tiếp nhận máu, bao gồm 74 bệnh viện và
63 Sở Y tế các tỉnh trong toàn quốc (thu thập thông tin bổ sung), bao gồm cả các Trung tâm truyền máu đã được đầu tư tập trung trong giai đoạn 2001-2010
2.2.2 Đối tượng phỏng vấn
- Cán bộ Bộ Y tế và các cơ quan chức năng; Một số chuyên gia của Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO); Cán bộ làm chuyên môn ở các Sở y tế, các bệnh viện, khoa Huyết học – Truyền máu
Đối tượng phỏng vấn thuộc các bệnh viện theo phân tầng, vùng, miền, tuyến trung ương, tỉnh, huyện trong toàn quốc
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Các thông tin chung về khoảng cách địa lý, diện tích;
- Mô tả hiện trạng hệ thống mạng lưới truyền máu tại các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương;
- Mô tả hiện trạng chất lượng cơ sở truyền máu về các mặt hoạt động: Tuyên truyền vận động hiến máu, tuyển chọn và tiếp nhận máu;
- Mô tả hiện trạng khả năng cung cấp máu cho các cơ sở y tế trong vùng;
- Đánh giá nhu cầu phát triển hoạt động truyền máu trên toàn quốc
Trang 1717
2.4 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.1 Xây dựng bộ câu hỏi khảo sát và đánh giá thực trạng truyền máu trên toàn quốc: Thực trạng nhu cầu sử dụng máu, nguồn nhân lực y tế và truyền máu
của các chuyên khoa ở các cơ sở y tế trên toàn quốc
2.4.2 Tiến hành điều tra khảo sát nhu cầu phát triển để đề xuất xây dựng mô hình truyền máu và mạng lưới truyền máu toàn quốc tại:
Thái Nguyên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Bình Định, Điện Biên, Kiên Giang
2.4.3 Điều tra thí điểm:
Chọn 3 bệnh viện có tiếp nhận và sử dụng máu điều tra thí điểm Rút kinh nghiệm, bổ sung, hoàn thiện mẫu điều tra
2.4.4 Chọn mẫu điều tra:
- Chọn mẫu phân tầng theo: 8 vùng địa lý – kinh tế
- Theo cá thể: Lãnh đạo bệnh viện, trưởng khoa, cán bộ kỹ thuật
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kết quả khảo sát hiện trạng tổ chức và hoạt động truyền máu Việt Nam
Theo số liệu điều tra của Niên giám thống kê Y tế năm 2008, dân số cả nước là trên 86 triệu người Số huyện trong các vùng cả nước là 690 huyện Tổng số giường bệnh kế hoạch ở các bệnh viện đa khoa là 80.044 giường Trong khi đó, số bệnh nhân điều trị nội trú năm 2008 là 11.228.174 người bệnh Xét theo từng vùng, số bệnh nhân điều trị nội trú tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng
và Vùng Đông Nam Bộ Số liệu điều tra tại 14 tỉnh/thành có các Trung tâm truyền máu khu vực cho thấy, tại 14 tỉnh/thành phố lớn có 128 bệnh viện nhưng lượng máu tiếp nhận lên đến 542.557 đơn vị máu, chiếm 80,9% lượng máu tiếp nhận trong cả nước Như vậy, việc tiếp nhận và sử dụng máu chỉ tập trung ở các tỉnh và
Trang 18bộ trình độ này phụ trách)
Trong số các bệnh viện điều tra, chỉ có 8 bệnh viện thông báo đủ máu, còn có tới 66 bệnh viện có thếu máu (89,2%) Trong số 66 bệnh viện thiếu máu thì có đến 24 bệnh viện thiếu máu cả năm, có 30 bệnh viện thiếu máu vào dịp hè và 12 bệnh viện thiếu máu vào dịp tết Lượng máu tiếp nhận toàn quốc năm 2010 đạt 670.846 đơn vị, nếu tính nhu cầu máu theo tiêu chuẩn của WHO (tối thiểu 2% dân
số hiến máu) thì đạt khoảng 40% Lượng chế phẩm là 955.018 đơn vị, nếu tính theo nhu cầu của WHO thì đạt khoảng 55% Theo đề xuất của các cơ sở điều tra, lượng máu dự kiến tiếp nhận năm 2015 sẽ tăng 50% so với năm 2010 (trung bình 10% năm) và năm 2020 sẽ tăng 42% so với năm 2015 (trung bình 8,4% năm)
Hiện nay, đã có 12 Trung tâm truyền máu được thành lập ở 7 vùng, riêng vùng Tây Bắc chưa có trung tâm truyền máu Các trung tâm đó là: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Bình Định, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Thành phố Hồ Chí Minh, Chợ Rẫy, Cần Thơ
3.2 Đề xuất mô hình tổ chức hệ thống truyền máu Việt Nam
Hệ thống truyền máu ở mỗi nước trên thế giới đều bao gồm 3 bộ phận:
1 Nguồn máu;
2 Hoạt động của các Trung tâm truyền máu; và
Trang 1919
3 Việc sử dụng máu trên lâm sàng
- Về nguồn máu, tất cả các nước đã có các chương trình vận động hiến máu tình nguyện không lấy tiền nhiều năm và đã hoàn thành việc vận động toàn dân tham gia với 100% hiến máu không lấy tiền Công việc này tùy thuộc lịch sử và
cơ cấu tổ chức của mỗi nước mà trực thuộc Hội Chữ Thập đỏ hoặc trực thuộc Ngành Y tế hoặc phối hợp cả hai bên
- Phần hoạt động của các Trung tâm truyền máu phần lớn có sự kiểm soát kỹ thuật chuyên môn của ngành Y tế Các hoạt động bao gồm: Tiếp nhận máu, sàng lọc máu, sản xuất máu, phân phối và lưu trữ máu; đảm bảo chất lượng của máu và chế phẩm máu Các hoạt động này cần được tập trung hóa để từng bước hiện đại việc tiếp nhận, sàng lọc và sản xuất máu Đây cũng là xu thế chung của thế giới trước tình hình gia tăng của các bệnh lây truyền qua đường truyền máu và nhu cầu được sử dụng máu và chế phẩm máu an toàn của người dân Chỉ có xây dựng hệ thống truyền máu tập trung, độc lập với hệ thống bệnh viện thì mới giải quyết được bài toán đầu tư và hiệu quả, an toàn
Phần sử dụng máu và chế phẩm máu thuộc hệ thống các bệnh viện Tuy nhiên, việc sử dụng cũng liên quan nhiều đến mạng lưới các trung tâm truyền máu về việc lập kế hoạch sử dụng máu, đánh giá chất lượng máu và chế phẩm máu, điều tiết máu giữa các trung tâm truyền máu
Theo xu hướng hiện nay, chỉ có tập trung các cơ sở truyền máu nhỏ thành thành các cơ sở truyền máu tập trung lớn thì việc thực hiện công tác truyền máu mới thực sự hiệu quả và an toàn Chỉ khi ba bộ phận này phối hợp với nhau một cách chặt chẽ thì hoạt động của hệ thống truyền máu mới thực sự hoàn chỉnh và hiệu quả
Trên cơ sở các hoạt động đã tiến hành ở giai đoạn 2001-2010, giai đoạn tới từ năm 2011 đến 2020 và định hướng đến năm 2030, cần tiếp tục các hoạt động tập trung hóa hệ thống các Trung tâm truyền máu bằng việc:
Trang 2020
- Củng cố 4 trung tõm truyền mỏu đó cú;
- Xõy dựng cỏc Trung tõm truyền mỏu mới cơ bản dựa trờn quyết định 198/QĐ-TTg của Thủ tướng Chớnh phủ, cú điều chỉnh cho phự hợp với thực tế;
- Củng cố và hoàn thiện hệ thống truyền mỏu miền nỳi, vựng sõu, vựng xa, biờn giới và hải đảo
3.3 Đề xuất Quy hoạch mạng lưới truyền mỏu Việt Nam và dự kiến cỏc giai đoạn phỏt triển trờn phạm vi toàn quốc giai đoạn 2011-2020
Trờn cơ sở kết quả nghiờn cứu về hiện trạng truyền mỏu Việt Nam, trờn cơ sở tham khảo đề xuất hệ thống truyền mỏu Việt Nam, việc đề xuất quy hoạch mạng lưới truyền mỏu Việt Nam dự kiến sẽ được xõy dựng dựa trờn cỏc cơ sở hiện cú với hai hỡnh thức: Truyền mỏu tập trung và Truyền mỏu vựng sõu, vựng xa Việc
đề xuất quy hoạch mạng lưới truyền mỏu Việt Nam thành hai hỡnh thức như trờn
là hoàn toàn phự hợp với điều kiện Việt Nam và theo xu thế chung hiệu quả của Thế giới
3.3.1 Quy hoạch truyền mỏu tập trung
a Hỡnh thành hệ thống cỏc Trung tõm truyền mỏu toàn quốc Đây là nền tảng
của hệ thống truyền máu Việt Nam; Đảm bảo thực hiện đ−ợc vai trò chỉ đạo chuyên môn truyền máu trong toàn quốc
Sẽ cú ba hoạt động chớnh để hỡnh thành mạng lưới truyền mỏu Việt Nam:
1 Tăng cường năng lực cho cỏc Trung tõm truyền mỏu đó được đầu tư
2 Xõy dựng 7 trung tõm truyền mỏu đó được thành lập
3 Thành lập và xõy dựng mới 2 trung tõm truyền mỏu cũn lại
b Biện phỏp thực hiện:
- Đối với cỏc Trung tõm đó được đầu tư: (1) Tiếp tục phối hợp với cỏc tổ chức trong cụng tỏc vận động người hiến mỏu, (2) tớch cực đào tạo cỏn bộ quản lý và chuyờn mụn, (3) đề xuất cơ cấu tổ chức mạng lưới truyền mỏu, (4) xõy dựng cỏc
Trang 21tổ chức trong việc vận động hiến máu tình nguyện, (4) đề xuất cơ cấu tổ chức của các trung tâm
- Đối với 2 trung tâm dự kiến sẽ thành lập: Xác định lại nhu cầu, xin dự án đầu tư và tiến hành thực hiện dự án
3.3.2 Quy hoạch mạng lưới truyền máu Miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo:
Việc tổ chức dịch vụ truyền máu ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo diễn ra qua các bước như sau:
- Bước 1: Điều tra khảo sát về đặc điểm, tình hình, điều kiện, nhu cầu và các
cách thức đã và đang làm tại các vùng này
- Bước 2: Xây dựng các chương trình, dự án trong đó phải bao gồm các nội
dung trên và phải có nguồn kinh phí, quỹ thời gian và các biện pháp thực hiện một cách cụ thể, chi tiết
- Bước 3: Tổ chức thực hiện, trong đó trọng tâm là những vấn đề sau:
+ Xây dựng lực lượng Hiến máu dự bị: Thực chất, hiệu quả và bền vững;
+ Đào tạo, huấn luyện đội ngũ cán bộ làm truyền máu;
+ Xây dựng cơ sở, trang bị máy móc, dụng cụ
- Bước 4: Định kỳ (hàng năm, hoặc 2-3 năm/lần):
+ Tổ chức lại, bổ sung thêm đội ngũ Hiến máu dự bị;
+ Đào tạo, huấn luyện lại đội ngũ cán bộ;
+ Duy tu, bổ sung trang thiết bị, dụng cụ,
- Lưu ý: Một số nơi như ở các hải đảo, biên giới thì có thể kết hợp dân y và quân
y trong hoạt động truyền máu
Trang 221 Hiện trạng tổ chức và hoạt động truyền máu ở Việt Nam:
1.1 Về hệ thống tổ chức: Phân tán, cả nước có đến 74 cơ sở tiếp nhận máu cấp
Trung ương và tỉnh (không kể các cơ sở tiếp nhận nhỏ, lẻ ở cấp huyện)
- Về nguồn máu: Chủ yếu từ học sinh – sinh viên, người hiến máu chuyên nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ khoảng 16% trong cả nước
- Về nhu cầu sử dụng máu và chế phẩm máu: Vẫn đang rất lớn, mới đáp ứng 40% với máu toàn phần và 55% khi sản xuất được chế phẩm máu
- Về cơ sở vật chất: Phần lớn các cơ sở truyền máu vẫn trực thuộc bệnh viện,
cơ sở vật chất chật hẹp, lạc hậu
- Về cán bộ và trình độ cán bộ về chuyên môn kỹ thuật: Cán bộ thiếu và trình
độ cán bộ chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của chuyên khoa, đặc biệt là cán bộ sàng lọc, sản xuất và quản lý chất lượng
1.2 Hoạt động của mạng lưới cung cấp máu, chế phẩm máu của dịch vụ truyền máu Việt Nam:
- Có 4 trung tâm đã được đầu tư trong dự án Trung tâm truyền máu khu vực, đang hoạt động tốt và phát huy cơ bản hiệu quả đầu tư Tuy nhiên vẫn còn một số mục tiêu chưa đạt yêu cầu:
+ Trung tâm Hà Nội: Vẫn còn có đơn vị tiếp nhận máu trong phạm vi bao phủ; + Trung tâm Huế: Chưa sử dụng hết công xuất, chưa phát huy hết năng lực, chưa cung cấp máu đủ cho Đà Nẵng và Quảng Nam;
+ Trung tâm Chợ Rẫy: Chưa hoàn thành cơ sở hạ tầng;
+ Trung tâm Cần Thơ: Chưa cung cấp máu đủ cho An Giang, Bạc Liêu
+ Các trung tâm chưa quan tâm cụ thể đến truyền máu tuyến huyện, cơ chế quản lý chưa rõ
- Có 7 trung tâm đã có quyết định thành lập nhưng chưa có dự án đầu tư
Trang 2323
- Hệ thống truyền máu miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo chưa được quan tâm đúng mức
1.3 Tồn tại cơ bản của Truyền máu giai đoạn 2001-2010:
- Chưa tạo được cơ chế quản lý và hoạt động của hệ thống dịch vụ truyền máu Việc tiếp nhận máu còn rất phân tán, khó kiểm soát
- Thiếu nguồn người hiến máu;
- Đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo cơ bản, chưa đào tạo cán bộ nguồn, độingũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu về quản lý và chuyên môn, đặc biệt là ở Trung tâm Huế và Cần Thơ
- Chất lượng máu và chế phẩm máu còn chưa thống nhất và chưa đồng đều trên toàn quốc
2 Đề xuất mô hình tổ chức quản lý hệ thống dịch vụ truyền máu quốc gia:
Cần phải tiếp tục tổ chức và củng cố hệ thống Truyền máu Việt Nam theo hướng tập trung, thống nhất, hiện đại và hiệu quả Tách dần các trung tâm truyền máu ra khỏi các bệnh viện đa khoa
3 Đề xuất mạng lưới cung cấp và quản lý máu, các chế phẩm máu của Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Mạng lưới truyền máu Việt Nam dự kiến sẽ được xây dựng dựa trên các cơ sở hiện có với hai hình thức: Truyền máu tập trung và Truyền máu miền núi, vùng
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo với các hoạt động:
1 Tăng cường năng lực cho 4 Trung tâm truyền máu đã được đầu tư
2 Xây dựng 7 trung tâm truyền máu đã được thành lập
3 Chuẩn bị điều kiện để thành lập và xây dựng mới 2 trung tâm truyền máu còn lại
4 Tổ chức hệ thống truyền máu ở Miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo theo hướng: Nhận máu của các Trung tâm truyền máu hoặc của Tỉnh hoặc
tổ chức đội ngũ hiến máu tại chỗ với cách thức đặc biệt, phối hợp với chính quyền địa phương, quân đội và bộ đội biên phòng
Trang 2424
4 Các giải pháp lớn để thực hiện:
4.1 Đề xuất xây dựng chương trình An toàn truyền máu quốc giai giai đoạn
2011-2020, có ban chỉ đạo Chương trình và có văn phòng đại diện, đặt tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương
4.2 Cần tiến hành ngay các biện pháp đồng bộ để giải quyết vấn đề thiếu nguồn người hiến máu;
4.3 Tiếp tục đào tạo cán bộ có chất lượng cao về quản lý, chuyên môn cho các Trung tâm truyền máu
4.4 Tăng cường hệ thống kiểm tra giám sát chất lượng các hoạt độngc ủa hệ thống truyền máu toàn quốc
4.5 Đề xuất cơ chế quản lý của Trung tâm Truyền máu, lập kế hoạch từng bước tách hoạt động truyền máu ra khỏi hoạt động của hệ thống bệnh viện
4.6 Tìm kiếm nguồn kinh phí từ các nhà tài trợ hoặc từ ngân sách nhà nước để tiến hành các việc trên
4.7 Tăng cường mở rộng hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế 4.8 Kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, địa phương chịu trách nhiệm
về cung cấp máu và an toàn truyền máu, nhất là ở các trung tâm mới
Trang 2525
KIẾN NGHỊ
1 Cần sớm tiếp tục củng cố và hoàn thiện tổ chức mạng lưới Truyền máu Việt Nam theo hướng tập trung, hiện đại và hiệu quả trên cơ sở quyết định 198/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và thực tế giai đoạn 2001-2010
2 Nhà nước cần tiếp tục đầu tư kinh phí để xây dựng các Trung tâm truyền máu tiếp theo thông qua các chương trình, dự án phù hợp
3 Nhà nước cần có nguồn ngân sách thường xuyên cho hoạt động truyền máu
để đảm bảo có máu và chế phẩm máu an toàn cho điều trị, dự phòng thảm họa và
dự trữ cho an ninh quốc phòng
4 Tăng cường công tác tuyên truyền vận động hiến máu tình nguyện trong cả nước để tăng nguồn người hiến máu tình nguyện không lấy tiền
5 Nhanh chóng hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến công tác truyền máu bao gồm: Luật Hiến máu, Quy hoạch mạng lưới truyền máu giai đoạn 2011-2020, Quy chế truyền máu, Chính sách truyền máu quốc gia
Trang 26
26
BỘ Y TẾ
BÁO CÁO
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI TRUYỀN MÁU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020
Cơ quan chủ trì: Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương
Chủ nhiệm đề tài: 1 GS.TS Nguyễn Anh Trí
Viện trưởng, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương
2 TS Trần Quý Tường Phó Cục trưởng, Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế
Hà Nội, 2012
Trang 2727
MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG 29
ĐẶT VẤN ĐỀ 30
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 32
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 33
1.1 Tình hình truyền máu trên thế giới 33
1.2 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Truyền máu Việt Nam 35 1.3 Giai đoạn đổi mới toàn bộ Hệ thống truyền máu theo hướng tập trung và hiện đại 36
1.4 Giai đoạn thực hiện Chương trình An toàn truyền máu (2001-2010) 37
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 39
2.2 Đối tượng nghiên cứu 39 2.3 Nội dung nghiên cứu 39
2.4 Phương pháp nghiên cứu 40 2.5 Tiến hành điều tra 41 2.6 Xử lý số liệu và viết báo cáo tổng kết 42
2.7 Tiến độ thực hiện 42 2.8 Tóm tắt sơ đồ nghiên cứu 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Thực trạng hệ thống truyền máu toàn quốc 44 3.2 Tình hình thực hiện Chương trình An toàn truyền máu giai đoạn 2001-2010 .52
3.3 Tồn tại chung của truyền máu Việt Nam giai đoạn 2001-2010 55 3.4 Đề xuất hoàn thiện Quy hoạch mạng lưới truyền máu Việt Nam 57 3.5 Các giải pháp lớn để thực hiện 65
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 66
4.1 Hiện trạng tổ chức và hoạt động của dịch vụ truyền máu Việt Nam 66
4.2 Về mô hình tổ chức hệ thống truyền máu Việt Nam 71
Trang 2828
4.3 Về đề xuất Quy hoạch phát triển mạng lưới truyền máu Việt Nam giai đoạn 2011-2020 72
KẾT LUẬN 74
1 Hiện trạng tổ chức và hoạt động truyền máu ở Việt Nam: 74
2 Đề xuất mô hình tổ chức quản lý hệ thống dịch vụ truyền máu quốc gia: 75
3 Đề xuất mạng lưới cung cấp và quản lý máu, các chế phẩm máu của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 75
KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 29
29
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Khảo sát các bệnh viện theo vùng, miền và tuyến……… 44
Bảng 2: Khảo sát các cơ sở tiếp nhận máu (bệnh viện) theo vùng địa lý – kinh tế… 44
Bảng 3: Khảo sát các bệnh viện theo loại và xếp hạng của Bộ Y tế……… 45
Bảng 4: Thông tin chung về dân số và các huyện trong các vùng địa lý – kinh tế… 45
Bảng 5: Một số chỉ tiêu và hoạt động chuyên môn liên quan đến truyền máu…… 46
Bảng 7: So sánh tỷ lệ sử dụng máu giữa các Tỉnh/thành phố lớn và các tỉnh còn lại 47
Bảng 8: Mô hình tổ chức các khoa Huyết học- Truyền máu/xét nghiệm………… 47
Bảng 9: Trình độ của Cán bộ phụ trách Truyền máu ở các cơ sở điều tra………… 48
Bảng 10: Nhu cầu máu của các Bệnh viện……… 48
Bảng 11: Thời điểm thiếu máu……… 49
Bảng 12: Lượng máu và chế phẩm máu tiếp nhận và sử dụng năm 2010………… 49
Bảng 13: Đề xuất về nhu cầu máu trong tương lai của các bệnh viện……… 50
Bảng 14: Số lượng trung tâm truyền máu đã thành lập tại các vùng … 50
Bảng 15: Số trường học và số lượng học sinh, sinh viên trên địa bàn……… 51
Bảng 16: Số buổi tuyên truyền vận động hiến máu tổ chức năm 2009 ……… 51
Bảng 17: Số lượng máu thu gom qua các năm thực hiện dự án (đơn vị máu) 53
Bảng 18: Số tỉnh cung cấp máu trong phạm vi các Trung tâm truyền máu 53
Bảng 19: Các trung tâm truyền máu đã được thành lập:……… 55
Bảng 20: Chỉ tiêu tiếp nhận máu năm 2015 và năm 2020 của 4 trung tâm……… 57
Bảng 21: Dự kiến phạm vi cung cấp máu của các Trung tâm……… 58
Bảng 22: Chỉ tiêu tiếp nhận máu năm 2015 và năm 2020 của 7 trung tâm……… 59
Bảng 23: Dự kiến phạm vi cung cấp máu của các trung tâm……… 59
Bảng 24: Chỉ tiêu tiếp nhận máu năm 2015 và năm 2020 của 2 trung tâm……… 60
Bảng 25: Dự kiến phạm vi cung cấp máu của các trung tâm……… 60
Bảng 26: Phạm vi cung cấp máu của các trung tâm……… 60
Trang 3030
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc bố trí sắp xếp hệ thống tổ chức của chuyên khoa nào đó một cách trình
tự, hợp lý theo từng giai đoạn phát triển của ngành, của xã hội để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đầu tư ngắn hạn và dài hạn là rất cần thiết
Chuyên khoa Huyết học - Truyền máu (HH-TM) là một chuyên khoa lẻ trong hệ thống các chuyên khoa của ngành Y tế Việt Nam Tuy ra đời muộn nhưng chuyên khoa Huyết học – Truyền máu đã nhanh chóng khẳng định vị thế
và vai trò của mình trong công cuộc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Là một phần không thể thiếu trong hệ thống các xét nghiệm cận lâm sàng; Như tên gọi của mình, chuyên khoa Huyết học – Truyền máu bao gồm hai phần: Huyết học và Truyền máu Do các yếu tố của lịch sử, việc ghép chung Huyết học và Truyền máu trong quá khứ là cần thiết Hiện nay, vấn đề tách riêng Huyết học và Truyền máu đã và đang được nhắc đến như một tất yếu của sự phát triển
Trên thế giới, tùy vào điều kiện kinh tế và trình độ phát triển Y học, mỗi quốc gia xây dựng hệ thống dịch vụ truyền máu theo những mô hình khác nhau, theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau Có thể tóm tắt hình thức tổ chức hệ thống truyền máu của một số nước trên thế giới như sau [15; 16]:
− Đầu mối quản lý:
+ Nhà nước quản lý thông qua Bộ Y tế: Pháp, Hàn Quốc, Canada, Malaysia, Ấn Độ, Anh, Trung Quốc
+ Ủy quyền cho các tổ chức xã hội: Chữ Thập đỏ hoặc các tổ chức xã hội chuyên ngành như: Úc, Thái Lan, Phần Lan, Nhật,
+ Có một số nước, vẫn tồn tại hình thức một phần hoạt động của nhà nước, một phần hoạt động của tư nhân như: Mỹ, Ấn độ, Philippine
− Xu hướng tập trung hóa – mô hình phát triển hiện nay:
Sự xuất hiện của HIV và các vi rut truyền qua đường máu khác như viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) đã buộc Chính phủ các nước phải nhìn nhận và
tổ chức lại hệ thống truyền máu cho an toàn và hiệu quả Hiện nay, xu hướng chung là tập trung hóa hệ thống các Trung tâm truyền máu để hoạt động truyền máu mang lại hiệu quả và đảm bảo an toàn cho người bệnh, xây dựng các Trung tâm truyền máu tập trung, cung cấp máu và các sản phẩm máu cho nhiều bệnh viện:
Ví dụ : - Singapore (5 triệu dân) có một Trung tâm truyền máu
- Thái Lan (65 triệu dân) có 12 Trung tâm truyền máu
Trang 3131
- Nhật Bản hiện nay có 65 Trung tâm truyền máu nhưng chỉ có 10 trung tâm được làm xét nghiệm và 30 trung tâm sản xuất chế phẩm máu Theo kế hoạch, đến năm 2013, chỉ còn 8 trung tâm xét nghiệm và 11 trung tâm sản xuất chế phẩm máu
- Hàn Quốc: Năm 2010, với 50 triệu dân chỉ có 15 trung tâm tiếp nhận máu, trong đó chỉ có 3 trung tâm được phép sàng lọc máu
- Nước Úc với 22 triệu dân, diện tích gấp khoảng 23 lần Việt Nam, chỉ có 8 Trung tâm truyền máu, cung cấp máu cho các bệnh viện toàn quốc; Riêng thành phố Melboun với gần 4 triệu dân chỉ có 1 Trung tâm truyền máu
- Berlin (Đức) với 4 triệu dân, có 1 Trung tâm truyền máu cung cấp máu cho 130 bệnh viện
- Toàn nước Mỹ tiếp nhận 20 triệu đơn vị máu/năm (2008) nhưng chỉ có 6 trung tâm được phép sàng lọc các bệnh nhiễm trùng và bằng kỹ thuật rất hiện đại -
kỹ thuật NAT
− Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về dịch vụ Truyền máu:
Quan điểm của WHO: Vấn đề Truyền máu luôn được coi là một trong những chiến lược ưu tiên hàng đầu do dịch HIV/AIDS ngày càng lan rộng trong cộng đồng và tỷ lệ nhiễm HIV từ 5-10% trên toàn thế giới thông qua truyền máu
và các chế phẩm máu Việc lây nhiễm này có thể được loại trừ nếu biết phối hợp
và thực hiện tốt chương trình Truyền máu quốc gia, bao gồm các điểm sau:
- Thiết lập dịch vụ truyền máu tập trung;
- Chỉ tiếp nhận máu từ những người hiến máu tình nguyện không lấy tiền ở các nhóm dân cư nguy cơ thấp;
- Sàng lọc tất cả các đơn vị máu các bệnh lây truyền qua đường truyền máu như: HIV, HBV, HCV, Giang mai, sốt rét và các bệnh nhiễm trùng khác;
- Giảm thiểu các trường hợp không cần truyền máu, sử dụng máu hợp lý, hiệu quả và sử dụng các chất thay thế khi có thể
Để có kế hoạch đầu tư và phát triển hệ thống truyền máu Việt Nam trong giai đoạn tới (2011 - 2020) việc tiến hành điều tra nghiên cứu xây dựng quy hoạch mạng lưới truyền máu Việt Nam giai đoạn 2011-2020 là rất cần thiết, vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này với các mục tiêu sau
Trang 32Mục tiêu cụ thể:
1 Mô tả hiện trạng tổ chức và hoạt động truyền máu ở Việt Nam
2 Đề xuất mô hình tổ chức hệ thống truyền máu Việt Nam (giai đoạn 2020)
2011-3 Đề xuất quy hoạch mạng lưới truyền máu Việt Nam và dự kiến các giai đoạn phát triển hệ thống truyền máu trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2011-
2020
Trang 3333
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình truyền máu trên thế giới
1.1.1 Thực trạng
Máu và chế phẩm máu là một loại thuốc đặc biệt, rất cần thiết cho việc cấp cứu và điều trị bệnh nhân Đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm chất thay thế máu nhưng chưa có kết quả Theo các nhà khoa học thế giới thì trong nửa đầu thế
kỷ 21 cũng chưa thể tìm được chất thay thế máu Việc sử dụng máu và chế phẩm máu nếu không được chuẩn bị chu đáo và đúng chỉ định thì có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh Người bệnh có thể tử vong hoặc bị nhiễm các bệnh nguy hiểm lây qua đường máu, để lại hậu quả lâu dài cho bệnh nhân, gia đình và xã hội Do vậy, hầu hết các nước phát triển trên thế giới đã và đang hoàn thiện hệ thống dịch vụ truyền máu quốc gia theo hướng tập trung Ban hành
“Chính sách truyền máu quốc gia”, đầu tư "Chương trình truyền máu quốc gia"
nhằm giải quyết các vấn đề sau đây [10; 26; 27]:
Vấn đề nguồn máu: Hầu hết các nước trên đã vận động thành công toàn dân hiến máu tình nguyện không lấy tiền, do đó máu có chất lượng tốt, ít nguy cơ lây nhiễm bệnh Có lượng máu dự trữ lớn, đáp ứng được nhu cầu cấp cứu và điều trị,
có máu dự trữ khi có thảm hoạ và chiến tranh Tỷ lệ người hiến máu tình nguyện đạt 2-5% dân số/năm tùy theo trình độ phát triển y tế của mỗi nước (theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới – WHO [26] )
Vấn đề hoạt động của Trung tâm truyền máu: Các Trung tâm truyền máu được đầu tư hệ thống máy móc hiện đại, đồng bộ để đảm bảo các việc: Tiếp nhận máu, sàng lọc máu, sản xuất và lưu trữ các chế phẩm máu an toàn Sử dụng các kỹ thuật hiện đại để sàng lọc máu (Kỹ thuật ELISA, NAT, …) Thiết lập hệ thống quản lý chất lượng trong toàn bộ các công đoạn của một Trung tâm truyền máu để đảm bảo máu truyền cho người bệnh phải an toàn, không gây các phản ứng về miễn dịch do bất đồng nhóm máu và không để lây các bệnh nhiễm trùng, nhất là HIV/AIDS Để bảo đảm 2 yêu cầu này, họ đã có các quy định cụ thể về an toàn truyền máu, sử dụng các thiết bị hiện đại, các kỹ thuật có độ nhậy, độ đặc hiệu cao Về nhân lực: Tuyển chọn cán bộ có trình độ cao và có chế độ ưu đãi đối với
Trang 3434
các cán bộ làm việc trong các Trung tâm truyền máu Về tổ chức, họ tập trung hóa các cơ sở tiếp nhận máu và xét nghiệm sàng lọc tại các trung tâm do Chính phủ quy định
Vấn đề sử dụng máu trong lâm sàng: Thiết lập Hội đồng truyền máu tại các bệnh viện Thực hiện việc truyền máu từng phần, bảo đảm độ an toàn cao và tiết kiệm Do tách được các thành phần máu và được bảo quản trong các điều kiện thích hợp, chất lượng máu tốt hơn, thời gian bảo quản dài hơn và độ an toàn cao hơn Phối hợp chặt chẽ giữa Hội đồng truyền máu bệnh viện và Trung tâm truyền máu để lập kế hoạch sử dụng máu và chỉ định sử dụng máu hợp lý Hình thành hệ thống cảnh báo các nguy cơ truyền máu để phòng ngừa và giải quyết các hậu quả không mong muốn của Truyền máu [13; 14; 17; 19; 21; 24]
1.1.2 Mô hình truyền máu của các nước phát triển
Sự xuất hiện của HIV và các vi rut truyền qua đường máu khác như viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) đã buộc Chính phủ các nước phải nhìn nhận và
tổ chức lại hệ thống truyền máu cho an toàn và hiệu quả Hiện nay, xu hướng chung là tập trung hóa hệ thống các Trung tâm truyền máu để hoạt động truyền máu mang lại hiệu quả và đảm bảo an toàn cho người bệnh, xây dựng các trung tâm truyền máu tập trung, cung cấp máu và các sản phẩm máu cho nhiều bệnh viện:
Ví dụ : - Singapore (5 triệu dân) chỉ có một Trung tâm truyền máu;
- Thái Lan (65 triệu dân) có 12 Trung tâm truyền máu;
- Nhật bản hiện nay có 65 trung tâm truyền máu nhưng chỉ có 10 trung tâm làm xét nghiệm và 30 trung tâm sản xuất chế phẩm máu Theo kế hoạch, đến năm
2013, chỉ còn 8 trung tâm xét nghiệm và 11 trung tâm sản xuất chế phẩm máu
- Hàn Quốc: Năm 2010, Hàn Quốc với 50 triệu dân chỉ có 15 trung tâm tiếp nhận máu, trong đó chỉ có 3 trung tâm được phép sàng lọc máu
- Melboum (úc) 5 triệu dân chỉ có 1 Trung tâm truyền máu cung cấp máu cho > 200 bệnh viện; toàn nước úc có 8 Trung tâm truyền máu chính
- Berlin (Đức) với 4 triệu dân, có 1 Trung tâm truyền máu cung cấp máu cho 130 bệnh viện;
Trang 3535
- Mỹ tiếp nhận 20 triệu đơn vị máu/năm (2008) nhưng chỉ có 6 trung tâm được phép sàng lọc các bệnh nhiễm trùng và bằng kỹ thuật rất hiện đại - kỹ thuật NAT [7; 9; 12; 20; 22; 28; 29]
1.2 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Truyền máu Việt Nam (từ năm 1954 đến năm 1992)
Năm 1954, sau khi giải phóng Thủ đô, quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, kỹ thuật truyền máu bắt đầu xuất hiện ở các bệnh viện lớn và phát triển trong điều kiện hết sức khó khăn về nguồn người cho máu và trang thiết bị Hai cơ sở truyền máu quan trọng đầu tiên được thành lập tại Bệnh viện Bạch Mai (1964) và Bệnh viện Việt Đức Ngoài ra, còn có khoa Truyền máu của Bệnh viện Trung ương quân đội 108 (Đóng tại Nhà thương Đồn Thủy trước năm 1955)
Năm 1964, Khoa Huyết học – Truyền máu, bệnh viện Bạch Mai được thành lập trên cơ sở tách bộ phận Huyết học của khoa xét nghiệm gồm các đơn nguyên:
Vi sinh – Sinh hoá - Huyết học
Sau giải phóng miền Nam năm 1975, Trung tâm tiếp huyết Sài gòn được chuyển thành Trung tâm Truyền máu – Huyết học TP Hồ Chí Minh, sau này đổi tên thành Bệnh viện Truyền máu – Huyết học, TP Hồ Chí Minh
Bộ phận Truyền máu được thành lập với những kỹ thuật truyền máu rất thô
sơ Nguồn máu chủ yếu là người cho máu chuyên nghiệp Máu lấy bằng chai thuỷ tinh và chống đông bằng Natri Citrat Máu truyền chủ yếu là máu toàn phần Khoa Huyết học – Truyền máu ở các Bệnh viện lớn của các tỉnh lần lượt được thành lập Tuy nhiên hệ thống Huyết học – Truyền máu vẫn chưa được hình thành hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương
Năm 1984, Viện Huyết học và Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai được thành lập trên cơ sở khoa Huyết học và Truyền máu theo quyết định số 1531/QĐ-BYT ngày 31/12/1984 của Bộ trưởng Bộ Y tế Viện trưởng đầu tiên là cố Giáo sư Bạch Quốc Tuyên Việc ra đời viện Huyết học và Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai là một mốc đáng nhớ đánh dấu cho sự xuất hiện một chuyên khoa mới: Chuyên khoa Huyết học – Truyền máu
Trang 36- Đã khởi động và phát triển phong trào hiến máu tình nguyện trong thanh niên, sinh viên, do đó đã làm thay đổi căn bản nguồn người hiến máu Năm 1993,
tỷ lệ người hiến máu tình nguyện trong cả nước ước tính chỉ là 1-2% Ngày 24/1/1994 tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo của GS Đỗ Trung Phấn, đã tổ chức ngày hiến máu nhân đạo đầu tiên ”vì sức khỏe người bệnh” với sự tham gia của nhiều trường đại học, nhiều cơ quan trung ương và các sứ quán nước ngoài Ngay trong năm đó, phong trào Hiến máu tình nguyện đã lan ra toàn quốc Ngày 24/1/1994 được coi là ngày khởi đầu của phong trào hiến máu tình nguyện trên cả nước Chính nhờ có phong trào này mà ngay trong năm 1994, tỷ lệ người hiến máu tình nguyện trong cả nước đã tăng lên 14, 8% Năm 2000, tỷ lệ này là 39, 9% Kết quả này là bước chạy đà vững chắc cho sự phát triển của phong trào hiến máu tình nguyện trong những năm tiếp theo [13; 14]
- Nhờ có phong trào vận động hiến máu tình nguyện, lượng máu tiếp nhận năm 2000 đã tăng được gấp hai lần so với năm 1993 (năm 1993 cả nước chỉ tiếp nhận được 120.000 đơn vị máu, đến năm 2000, đã tiếp nhận tới 240.000 đơn vị máu)
- Đổi mới hệ thống thu gom máu: Từ chu trình hở thành chu trình kín
- Đã tổ chức được hệ thống sàng lọc HIV và các bệnh nhiễm trùng khác như viêm gan B, viêm gan C, giang mai và sốt rét từ tuyến Trung ương tới quận/huyện Đảm bảo 100% các chai máu (túi máu) được sàng lọc HIV (tính tới tháng 12/1999)
- Đổi mới hình thức tài chính trong truyền máu: Từ bao cấp sang trả tiền, xây dựng giá thành đơn vị máu (từ năm 1995)
Trang 37- Ngoài Viện Huyết học và Truyền máu ở Hà Nội, đã hình thành 2 trung tâm Huyết học- Truyền máu tại Huế và Thành phố Hồ Chí Minh Ba đơn vị này
đã chỉ đạo công tác truyền máu và hiến máu nhân đạo trong cả nước, Viện Huyết học- Truyền máu là cơ quan tham mưu cho Bộ Y tế về chuyên môn - kỹ thuật An toàn truyền máu
- Hợp tác quốc tế trong An toàn truyền máu đã được mở rộng với một số nước trong khu vực và trên thế giới Chiến lược phát triển dịch vụ truyền máu của nước ta đang được nhiều nước trong khu vực và thế giới đồng tình và ủng hộ Chính phủ Luxembourg đã Viện trợ cho chuyên khoa Truyền máu dự án Dây truyền lạnh giai đoạn 1995-2000 (cung cấp trang thiết bị để bảo quản và vận chuyển máu) Đặc biệt là việc xây dựng Chương trình An toàn truyền máu giai
đoạn 2001-2010, để báo cáo Bộ Y tế trình Chính phủ phê duyệt Đây được coi là
chiến lược phát triển Hệ thống Truyền máu Việt Nam theo hướng tập trung và hiện đại [1; 18; 20; 23 ; 25]
1.4 Giai đoạn thực hiện Chương trình An toàn truyền máu 2010)
(2001-1.4.1 Tiếp tục duy trì và phát triển chương trình đổi mới dịch vụ truyền máu của giai đoạn trước (1993-2000);
1.4.2 Thực hiện Chương trình An toàn truyền máu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 198/QĐ-TTg, ngày 28/12/2001, giai đoạn 2001-
2010 với các nội dung chính như sau:
- Nâng cấp các cơ sở truyền máu tuyến tỉnh, tiến tới ngừng việc tiếp nhận máu ở tuyến huyện trên cơ sở kinh phí đầu tư của nhà nước từ 3-4 tỷ đồng/năm
- Thực hiện dự án “Trung tâm truyền máu khu vực” với nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới, để xây dựng 4 Trung tâm truyền máu khu vực tại Hà Nội, Huế, Chợ Rẫy và Cần Thơ với tổng số kinh phí là 47, 5 triệu USD
Trang 3838
- Thực hiện dự án Hỗ trợ kỹ thuật với nguồn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Luxembourg thông qua Tổ chức Y tế Thế giới với kinh phí khoảng 4 triệu USD
- Thực hiện dự án “Tăng cường quản lý Dây chuyền lạnh bảo quản máu quốc gia của Việt Nam giai đoạn 2007-2009” do Chính phủ Luxembourg viện trợ
- Thực hiện một số dự án khác do Liên đoàn Hemophilia thế giới viện trợ
về đào tạo cán bộ và thuốc điều trị cho bệnh nhân Hemophilia [29]
Tổng kinh phí thực hiện để phát triển chuyên ngành Truyền máu giai đoạn
2001-2010 khoảng 950 tỷ đồng Với số lượng kinh phí đầu tư như trên, mạng lưới Truyền máu cả nước đã phát triển lên một bước theo hướng tập trung và hiện đại Nhìn lại Chương trình An toàn truyền máu giai đoạn 2001-2010, các kết quả đã được được như sau:
- Xây dựng được 4 Trung tâm truyền máu khu vực đạt tiêu chuẩn quốc tế,
để từ đó làm mẫu cho sự phát triển trong tương lai
- Đào tạo được trên 300 cán bộ, kỹ thuật viên theo hình thức tham quan, học tập về Truyền máu tại nước ngoài
- Lượng máu tiếp nhận của 4 trung tâm đã tăng gấp 2,5 lần trước khi được đầu tư dự án
- Công tác An toàn truyền máu được bảo đảm trên phạm vi toàn quốc
- Truyền máu từng phần đã được tiến hành ở hầu hết các bệnh viện, đây có thể coi là một cuộc cách mạng, một bước tiến mạnh mẽ của truyền máu lâm sàng [2; 4; 5; 6; 7; 11; 12; 13; 14]
Tuy giai đoạn vừa qua (2001-2010), chuyên ngành Truyền máu đã có những bước tiến vượt bậc về công tác vận động hiến máu và tăng số lượng máu tiếp nhận hàng năm, nhưng so với nhu cầu thực tiễn thì vẫn còn rất nhiều việc phải làm Một trong những việc đó là cần phải tiếp tục củng cố và hoàn thiện Quy hoạch phát triển mạng lưới truyền máu Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 đến 2030; trình các văn bản pháp quy về truyền máu và được cấp có thẩm quyền phê duyệt Để có cơ sở xây dựng Quy hoạch, việc điều tra khảo sát hiện trạng hệ thống dịch vụ Truyền máu trong cả nước là rất cần thiết và cấp bách
Trang 3939
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ 7/2009 đến 12/2010 tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương, các Trung tâm truyền máu khu vực và các bệnh viện tỉnh có tiếp nhận máu trên toàn quốc
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu gồm có:
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu hiện trạng truyền máu ở các bệnh viện theo phần tầng (tuyến: Trung ương, tỉnh; Hạng: I, II, II; Chuyên khoa, đa khoa…):
- Là các bệnh viện trong toàn quốc có tiếp nhận máu, bao gồm 74 bệnh viện
và 63 Sở Y tế các tỉnh trong toàn quốc (thu thập thông tin bổ sung)
- Cán bộ Bộ Y tế và các cơ quan chức năng;
- Một số chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO);
- Cán bộ làm chuyên môn ở các Sở y tế, các bệnh viện, khoa Huyết học – Truyền máu
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu đề xuất Quy hoạch mạng lưới:
Các trung tâm truyền máu sử dụng kinh phí của Dự án Trung tâm truyền máu khu vực: Hà Nội, Huế, Chợ Rẫy, Cần Thơ
2.3 Nội dung nghiên cứu:
- Các thông tin chung về khoảng cách địa lý, diện tích, điều kiện giao thông, dân số và phân bố dân cư, khả năng phát triển các kỹ thuật Y tế cần sử dụng máu
- Mô tả hiện trạng hệ thống mạng lưới truyền máu tại các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; tổ chức mạng lưới theo tuyến, tình trạng nhân lực, trình độ chuyên môn, tình trạng trang thiết bị, cơ sở vật chất, …
- Mô tả hiện trạng chất lượng cơ sở truyền máu về các mặt hoạt động: Tuyên truyền vận động hiến máu, tuyển chọn và tiếp nhận máu; xét nghiệm sàng lọc máu, khả năng sản xuất các chế phẩm máu, mức độ an toàn truyền máu, tỷ lệ
sử dụng máu toàn phần và các chế phẩm máu tại địa phương
Trang 4040
- Mô tả hiện trạng khả năng cung cấp máu cho các cơ sở y tế trong vùng bao phủ: tình trạng sẵn sàng cung cấp máu, khả năng đáp ứng khi có thảm họa, thiên tai, khả năng kết hợp và điều phối giữa các cơ sở, khả năng cung cấp máu cho các vùng đảo xa, sự phù hợp với số lượng dân số và các dịch vụ y tế trên toàn quốc
- Đánh giá nhu cầu phát triển hoạt động truyền máu trên toàn quốc: Chỉ số đánh giá nhu cầu máu theo sự phát triển dân số, lộ trình sử dụng máu toàn phần và các chế phẩm mẫu dự kiến cho cấc năm, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị, các nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động truyền máu
và nhu cầu cải thiện chất lượng các hoạt động chuyên môn
- Đánh giá quá trình thực hiện Chương trình An toàn truyền máu giai đoạn 2001-2010, kết quả thực hiện từng dự án riêng lẻ và toàn bộ chương trình, bài học rút
ra từ việc thực hiện Chương trình giai đoạn 2001-2010, từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Quy hoạch mạng lưới truyền máu Việt Nam giai đoạn 2011-2020
2.4 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.1 Xây dựng bộ câu hỏi khảo sát và đánh giá thực trạng truyền máu trong toàn quốc:
Điều tra về thực trạng nhu cầu sử dụng máu, nguồn nhân lực y tế và truyền máu của các chuyên khoa ở các cơ sở y tế trên toàn quốc
2.4.2 Tiến hành điều tra khảo sát nhu cầu phát triển để đề xuất xây dựng
mô hình truyền máu và mạng lưới truyền máu toàn quốc
Xây dựng bộ câu hỏi để điều tra, đánh giá về số lượng máu, chế phẩm máu
sử dụng và thực trạng trang thiết bị tại các bệnh viện thuộc các tỉnh tiếp nhận máu lớn: Thái Nguyên, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Bình Định, Điện Biên, Kiên Giang
2.4.3 Điều tra thí điểm:
Chọn 3 bệnh viện có tiếp nhận và sử dụng máu điều tra thí điểm Rút kinh nghiệm, bổ sung, hoàn thiện mẫu điều tra
2.4.4 Chọn mẫu điều tra:
Chọn mẫu phân tầng theo: