1/27 I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Lý do chọn đề tài Không biết mọi người có cảm giác thế nào, riêng tôi mỗi khi được thấy ai đó là người ngoại quốc nói hoặc hát được những bài hát tiếng Việt, một cảm xúc thán phục[.]
Trang 11/27
I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Không biết mọi người có cảm giác thế nào, riêng tôi mỗi khi được thấy ai
đó là người ngoại quốc nói hoặc hát được những bài hát tiếng Việt, một cảm xúc thán phục xen lẫn xúc động và niềm tự hào về tiếng Việt lại trào dâng trong lòng Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay, Việt Nam chúng ta đang mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam, biết nói, hát và giao tiếp bằng tiếng Việt cũng là điều bình thường Nhưng sự thán phục của tôi đối với họ là bởi một lẽ
đi sâu vào ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, đôi khi chính chúng ta cũng còn có sự nhầm lẫn Một trong những nội dung khó của tiếng Việt là phần nghĩa của từ
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5, mảng nội dung nghĩa của từ được tập trung và được biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu Nhiều năm liền trong quá trình dạy học, tôi thấy các em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ cùng nghĩa, gần nghĩa cũng không mấy vất vả Tuy nhiên, khi học xong từ nhiều nghĩa và từ đồng âm thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt các từ đồng âm với từ nhiều nghĩa của học sinh không được như mong đợi của cô giáo Kể cả một số học sinh hoàn thành tốt môn
Tiếng Việt cũng làm thiếu chính xác Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Năm giải pháp giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng
âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa” để nghiên
cứu
2 Lịch sử của đề tài:
Đề tài được hình thành dựa trên những biện pháp nhằm giúp cho học sinh
học tốt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Sau
đó, qua quá trình giảng dạy, bản thân tôi tích góp và học hỏi thêm nhiều biện pháp khác nhau để nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5
3 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Với đề tài sáng kiến này, mục đích nghiên cứu của bản thân tôi là:
- Giới thiệu một số giải pháp của bản thân đã làm nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1
- Giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng âm,
từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa, từ đó làm nâng cao chất lượng học tập
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 22/27
- Nghiên cứu vấn đề lí luận
- Nguyên cứu thực trạng và đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học về từ nhiều nghĩa - từ đồng âm cho học sinh
- Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc dạy - học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: đọc tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt
5, tài liệu tham khảo, các chuyên đề có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát: điều tra thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu, dự giờ thực tế giáo viên và học sinh lớp 5
- Phương pháp thực nghiệm, thống kê, phân loại: kiểm tra chất lượng học sinh về kỹ năng thực hành làm bài tập phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để kiểm chứng lý luận của đề tài và đánh giá kết quả học tập của học sinh khi áp dụng nội dung đã nghiên cứu
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp phân tích tổng hợp
5 Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu:
- Nội dung: việc dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa ở lớp 5
- Thời gian: từ tháng …….đến tháng ……
- Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
Sáng kiến “Năm giải pháp giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa” là một trong những sáng kiến nói riêng về nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt được tích góp những kinh nghiệm có sẵn từ rất lâu Nội dung sáng kiến chưa được công khai dưới nhiều hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hay bất cứ hình thức nào khác; không trùng với nội dung và giải pháp trước
đó
Kết quả nghiên cứu mang lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất
lượng dạy học môn Tiếng Việt của bản thân tôi trong những năm vừa qua
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
Trong chương trình Tiểu học, mỗi môn học đều có tính ưu việt riêng, có những nội dung giáo dục riêng; về tâm hồn, tình cảm, trí thức, kĩ năng… Nhưng
Trang 33/27
đối với nhu cầu thực tiễn của lớp 5 thì yêu cầu về kiến thức, kĩ năng phân môn Luyện từ và câu đóng một vai trò hết sức quan trọng Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 có nhiều kiến thức cơ bản, những kiến thức ấy học sinh cần phải đạt để làm bàn đạp cho việc học tốt các môn học ở lớp trên Phân môn Luyện từ và câu trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản như kĩ năng dùng từ, đặt câu;
mở rộng và làm phong phú vốn từ ngữ cho các em; giúp các em nói và viết đúng
ngữ pháp
Từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho các em biết khái niệm, cách tìm và lựa chọn sử dụng đúng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; tạo điều kiện để các em có năng lực nhận biết các sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ, nhanh chóng và chính xác
Học sinh tiểu học vốn từ còn ít, từ ngữ mà các em được cung cấp ở trường học chưa thể đủ so với nhu cầu giao tiếp hàng ngày Khả năng sử dụng, phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cũng như vận dụng vào từng hoàn cảnh còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, giúp học sinh tăng vốn từ, hiểu nghĩa từ, sử dụng hiệu quả vốn từ là công việc, nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của học sinh Nhờ đó mà vốn từ của học sinh đã được bổ sung cả về số lượng, chất lượng, làm cho tiếng Việt thêm phong phú và mang đậm nét đặc sắc riêng mà không thể lẫn với một thứ ngôn ngữ nào khác
2 Thực trạng của vấn đề:
2.1 Thực trạng chung:
a Thuận lợi:
- Luôn được sự quan tâm của Ban lãnh đạo cũng như sự đồng thuận của tập thể giáo viên trong trường; thường xuyên tổ chức các hoạt động như chuyên
đề, thao giảng, hội giảng, qua đó trao đổi và rút ra được nhiều kinh nghiệm
- Thực hiện mô hình trường học mới tạo điều kiện cho học sinh mạnh dạn,
tự tin, sôi nổi
- Thư viện nhà trường đã có đầy đủ Tài liệu Hướng dẫn học và các tài liệu
tham khảo phục vụ công tác giảng dạy và học tập
- Học sinh nhiệt tình tham gia các hoạt động học tập, mạnh dạn, tự tin trình bày những ý kiến của bản thân
b Khó khăn:
- Có nhiều gia đình học sinh thuộc diện gia đình nghèo, khó khăn, trình độ dân trí nói chung còn thấp nên chưa nhận thức đúng về việc học tập của con em mình
- Vốn từ đồng âm, từ đồng nghĩa của học sinh nói riêng cũng như vốn từ tiếng Việt nói chung còn hạn chế
2.2 Thực trạng lớp 5A, trường Tiểu học Vạn Thọ 1:
Trang 44/27
Trong thực tế quá trình giảng dạy lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1, tôi nhận thấy: học sinh làm các bài tập về từ đồng âm nhanh và ít sai hơn khi học các bài tập về từ nhiều nghĩa Đặc biệt, khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng âm, các nghĩa của từ nhiều nghĩa trong một số văn cảnh thì đa số học sinh lúng túng và làm bài chưa đạt yêu cầu
Để kiểm tra khả năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa sau phần học
từ đồng âm, từ nhiều nghĩa tôi đã ra đề kiểm tra (học sinh lớp 5A năm học
…….như sau:
* Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ nào
là từ nhiều nghĩa?
a) chín
Lúa ngoài đồng đã chín vàng
Tổ em có chín học sinh
Nghĩ cho chín rồi hãy nói
b) đường
Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt
Các chú công nhân đang chữa đường dây điện thoại
Ngoài đường, mọi người đang đi lại nhộn nhịp
c) vạt
Những vạt nương màu mật
Lúa chín ngập lòng thung
(Nguyễn Đình Ảnh)
Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre
Những người Giáy, người Dao
Đi tìm măng, hái nấm
ĐỀ KIỂM TRA LẦN 1
Môn: Tiếng Việt lớp 5 – Ngày kiểm tra: ……
Thời gian làm bài: 40 phút (Không kể thời gian giao đề)
Câu 1: Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm,
những từ nào là từ nhiều nghĩa? (3 điểm)
a) chín
Lúa ngoài đồng đã chín vàng
Tổ em có chín học sinh
Nghĩ cho chín rồi hãy nói
b) đường
Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt
Các chú công nhân đang sửa chữa đường dây điện thoại
Ngoài đường, mọi người đang đi lại nhộn nhịp
c) vạt
Những vạt nương màu mật
Lúa chín ngập lòng thung
(Nguyễn Đình Ảnh) Những người Giáy, người Dao
Đi tìm măng, hái nấm
Vạt áo chàm thấp thoáng
Nhuộm xanh cả nắng chiều
(Nguyễn Đình Ảnh)
Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre
Câu 2: Phân biệt nghĩa của những từ đồng âm trong các cụm từ sau?
(3 điểm)
a) đậu tương, đất lành chim đậu, thi đậu
b) sợi chỉ, chỉ đường, chỉ vàng
Câu 3: Dùng các từ dưới đây để đặt câu (một câu theo nghĩa gốc và một
câu theo nghĩa chuyển): nhà, đi, ngọt, xuân? (4 điểm)
Trang 55/27
Vạt áo chàm thấp thoáng
Nhuộm xanh cả nắng chiều
(Nguyễn Đình Ảnh)
* Bảng thống kê kết quả điểm bài kiểm tra từng học sinh:
Trang 66/27
* Bảng thống kê kết quả điểm kiểm tra theo tỉ lệ %:
Với kết quả như trên thực sự là một vấn đề đáng lo ngại, vì thế tôi đã trăn trở tìm ra nguyên nhân của thực trạng trên Sau đây là một số nguyên nhân:
- Về phía giáo viên:
+ Chưa vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
+ Hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú và chưa hiệu quả
- Về phía học sinh:
+ Chưa nắm vững kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
+ Chưa biết cách nhận diện từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
+ Chưa biết cách phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
+ Hiểu sai nghĩa của từ
Chính vì thế để giúp học sinh có khả năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa tôi đã quyết định chọn đề tài: “Năm giải pháp giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ
đồng âm với từ nhiều nghĩa” nhằm giúp cô và trò hứng thú hơn khi học nội dung
9 - 10
Điểm
7 - 8
Điểm
5 - 6
Điểm dưới 5
25
Trang 77/27
này, góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 5
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
3.1 Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và phương pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:
3.1.1 Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:
Phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa có nhiều từ học sinh dễ nhầm lẫn và khó xác định là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa, giáo viên cần giúp các em nhấn
mạnh ở khái niệm
*Từ đồng âm : Là những từ giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa
(Hướng dẫn học Tiếng Việt 5 - tập 1A - Trang 89)
Đây là kiến thức cô đọng, xúc tích nhất dành cho học sinh tiểu học ghi nhớ, vận dụng khi làm bài tập, thực hành
Cần chú ý thêm từ đồng âm còn bao gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay hơn 2 từ có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữa chúng không có mối quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn
toàn khác nhau) như trường hợp “câu” trong “câu cá” và “câu” trong “đoạn văn
có 5 câu” là từ đồng âm ngẫu nhiên và cả từ đồng âm chuyển loại (nghĩa là các
từ giống nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa, đây là kết quả của hoạt động chuyển hoá từ loại của từ)
- Ví dụ:
a) + cuốc (danh từ), đá (danh từ): cái cuốc, hòn đá
+ cuốc (động từ), đá (động từ): cuốc đất, đá bóng
b) + thịt (danh từ): miếng thịt
+ thịt (động từ): thịt con gà
Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của
từ hoặc dùng từ với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm
- Ví dụ: Đem cá về kho
Câu trên có thể hiểu là hai cách:
Cách 1: Đem cá về kho cất để dự trữ
Cách 2: Đem cá về để kho lên ăn
* Từ nhiều nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa
chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau
(Hướng dẫn học Tiếng Việt 5 - Tập 1A - Trang 107)
- Ví dụ: Từ “mắt” trong câu “Quả na mở mắt” là nghĩa chuyển
Trang 88/27
Chúng ta có thể hiểu, một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tế khách quan thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa có mối liên
hệ mật thiết với nhau
Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều nghĩa với từ một nghĩa
- Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt một khái niệm thì
từ ấy chỉ có một nghĩa
Ví dụ: Từ “xe đạp” chỉ loại xe người đi có hai bánh hoặc ba bánh, dùng
sức người đạp cho quay bánh
Đó là nghĩa duy nhất thông dụng của từ “xe đạp” Vậy có thể nói từ “xe
đạp” là từ chỉ có một nghĩa
- Từ nào là tên gọi của nhiều sự vât, hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa
Ví dụ: Từ “ăn” có các nghĩa sau đây:
+ ăn cơm: tự cho vào cơ thể thức ăn để nuôi sống cơ thể
+ ăn cưới: ăn uống nhân dịp cưới
+ tàu ăn hàng: tiếp nhận hàng để chuyên chở
+ ăn hoa hồng: nhận lấy để hưởng
+ ăn con xe: giành về mình phần hơn, phần thắng
+ da ăn nắng: hấp thụ cho thấm vào, nhiễm vào
+ ăn ảnh: vẻ đẹp được tôn lên (trong ảnh)
+ sông ăn ra biển: lan ra hoặc hướng đến nơi nào đó
Như vậy từ “ăn” là một từ nhiều nghĩa
Trong Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt 5, phân môn Luyện từ và câu không đề cập tới nghĩa đen và nghĩa bóng của từ nhiều nghĩa mà đề cập tới nghĩa chuyển và nghĩa gốc Nghĩa đen chính là nghĩa gốc của từ còn được gọi là nghĩa trực tiếp, là nghĩa đầu tiên của từ, là cơ sở để tạo ra các nghĩa khác Trong
từ điển, nghĩa đen được nói tới đầu tiên Nghĩa bóng cũng chính là nghĩa chuyển, là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa đen (hoặc nghĩa chuyển này được hình thành từ nghĩa chuyển khác), có mối liên hệ mật thiết với nghĩa đen Nghĩa bóng (nghĩa chuyển) là sản phẩm của hoạt động chuyển nghĩa của từ theo các phương thức như ẩn dụ, hoán dụ,… Trong từ điển, nghĩa bóng được nói đến sau nghĩa đen Nghĩa bóng (nghĩa chuyển) cũng mang tính cố định, ổn định, bền vững, tính xã hội và tính dân tộc như nghĩa đen
3.1.2 Nắm vững phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa:
Trang 99/27
Bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là loại bài khái niệm Tôi tổ chức các hình thức dạy học để giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, giúp học sinh phát hiện các hiện tượng về từ ở các bài tập từ đó rút ra được những kiến thức về
từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Bước tiếp theo, tôi tổng hợp kiến thức như nội dung phần ghi nhớ Đến đây, nếu là học sinh hoàn thành tốt, tôi có thể cho các
em lấy ví dụ về hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa giúp các em nắm sâu và chắc phần ghi nhớ Chuyển sang phần luyện tập, tôi tiếp tục tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh giải quyết các bài tập phần luyện tập Sau mỗi bài tập tôi lại củng cố, khắc sâu kiến thức liên quan đến nội dung bài học, liên hệ thực tế và liên hệ tới các kiến thức đã học của phân môn Luyện từ và câu nói riêng và tất
cả các môn học nói chung
Trong quá trình dạy học các bài về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; tôi sử dụng
đồ dùng dạy học, tranh ảnh vật thật để minh hoạ nhằm giúp học sinh dễ dàng phân biệt nghĩa của từ
Ví dụ: Để phân biệt nghĩa từ “đồng” trong “cánh đồng - tượng đồng - một nghìn đồng”, tôi đưa bức ảnh chụp cánh đồng, một pho tượng làm bằng đồng và
tờ tiền một nghìn đồng cho học sinh xem để học sinh nắm nghĩa của các từ đồng
âm này
* Hình ảnh minh họa: Minh chứng 1: Phục lục 1
Vận dụng cách liên tưởng, liên hệ trong từng bài tập cụ thể
Ví dụ: Yêu cầu học sinh tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của các từ: lưỡi, miệng, cổ, tay, lưng
(Nhiệm vụ 2/115 - Hướng dẫn học Tiếng việt 5)
Tôi gợi ý bằng cách đưa ra một số câu hỏi gợi ý có nội dung liên tưởng
như: lưỡi của những đồ vật gì có tính sắc, sáng (học sinh dễ tìm được lưỡi dao,
lưỡi kiếm, lưỡi gươm, lưỡi lê, lưỡi lam, lưỡi hái ) Các từ còn lại tôi tổ chức
cho học sinh thảo luận nhóm, trình bày bằng trò chơi “Ai nhanh hơn” Ngoài ra,
để nhận diện chính xác từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, tôi đã hướng dẫn học sinh đặt từ vào văn cảnh để hiểu đúng nghĩa của từ Đồng thời, bản thân dùng sổ tay
tự tích lũy ghi chép các khái niệm và một số từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ
3.2 Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện, phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa:
Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản nhất là nhận diện, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Trong quá trình giảng dạy, tổ chức cho học sinh nắm được kiến thức, bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và lựa chọn sao cho học sinh nắm kiến thức mới và vận dụng trong
học tập cũng như trong cuộc sống một cách hiệu quả Tôi đã thử nghiệm một số biện pháp phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa như sau:
Trang 1010/27
3.2.1 Yêu cầu học sinh thuộc ghi nhớ:
Tâm lí học sinh thích làm những bài tập đơn giản, để lộ kiến thức, ngại học thuộc lòng, ngại viết các đoạn, bài cần yếu tố tư duy Biết vậy, tôi thường cho học sinh ngắt ý của phần ghi nhớ cho đọc nối tiếp, rồi ghép lại cho đọc toàn phần, đọc theo cặp đôi, đọc theo nhóm, có lúc thi đua xem ai nhanh nhất, ai đọc tốt Cách làm này tôi đã cho các em thực hiện ở các tiết học trước đó (về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa) Do đó, dạy đến từ đồng âm, từ nhiều nghĩa các em cứ sẵn cách tổ chức như trước mà thực hiện Và kết quả có tới 18/25 học sinh thuộc ghi nhớ một cách trôi chảy tại lớp chỉ còn một vài có thuộc song còn ấp úng, ngắc
ngứ
3.2.2 Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau:
Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau
(nói đọc giống nhau viết cũng giống nhau) Ta thấy rõ ràng là “đường” (1) trong
“đường rất ngọt”, “đường” (2) trong “đường dây điện thoại” và “đường” (3) trong “ngoài đường xe cộ đi lại nhộn nhịp” đều phát âm, viết giống nhau Vậy
mà “đường” (1) với “đường” (2) và “đường” (1) với “đường” (3) lại có quan hệ đồng âm, còn “đường” (2) với “đường” (3) lại có quan hệ nhiều nghĩa
Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của
các từ “đường” (1), “đường” (2), “đường” (3) là gì?
- Đường (1) (đường rất ngọt): chỉ một chất có vị ngọt
- Đường (2) (đường dây điện thoại): chỉ dây dẫn, truyền điện thoại phục
vụ cho việc thông tin liên lạc
- Đường (3) (ngoài đường, xe cộ đi lại nhộn nhịp): chỉ lối đi cho các
phương tiện, người, động vật
Để có thể giải nghĩa chính xác các từ “đường” như trên, các em phải có
vốn từ phong phú, có vốn sống Vì vậy, trong dạy học tất cả các môn, tôi luôn chú trọng trau dồi, tích lũy vốn từ cho học sinh, nhắc học sinh có ý thức tích lũy cho mình vốn sống và yêu cầu mỗi học sinh phải có được một cuốn từ điển tiếng Việt, biết cách tra từ điển tiếng Việt đồng thời nắm được một số biện pháp giải nghĩa từ
Tiếp đó, học sinh căn cứ vào định nghĩa, khái niệm về từ đồng âm, từ
nhiều nghĩa để xác định mối quan hệ giữa các từ “đường”
Xét nghĩa của 3 từ “đường” trên ta thấy:
- Từ “đường” (1) và từ “đường” (2) có nghĩa hoàn toàn khác nhau không liên quan đến nhau Như vậy, hai từ “đường” này có quan hệ đồng âm Tương
tự, từ “đường” (1) và từ “đường” (3) cũng có mối quan hệ đồng âm
- Từ “đường” (2) và từ “đường” (3) thì có mối quan hệ mật thiết về nghĩa
Từ “đường” (3) có nghĩa là “chỉ lối đi”, từ “đường” (2) có nghĩa là “truyền đi” theo vệt dài (dây dẫn) Do đó, từ “đường” (3) là nghĩa gốc, còn từ “đường” (2) là