1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng chương trình giảng dạy môn thể dục theo hướng tăng thời lượng môn thể thao tự chọn cho học sinh lớp 11 trường trung học phổ thông chuyên bến tre

98 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng chương trình giảng dạy môn thể dục theo hướng tăng thời lượng môn thể thao tự chọn cho học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông chuyên bến tre
Tác giả Võ Trường Thạnh
Người hướng dẫn TS. Trần Quang Đại
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục thể chất
Thể loại Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2015
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên Trường THPT Chuyên Bến Tre 42 3.2 Thực trạng CSVC phục vụ công tác GDTC của Trường THPT Chuyên Bến Tre 43 3.3 Thực trạng thể chất của na

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO

Ngành: Giáo dục thể chất

Mã số: 60140103

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Trần Quang Đại

An Giang, 11/2015

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Với lời biết ơn chân thành nhất, tôi xin cám ơn Ban Giám Hiệu, quý thầy cô cùng toànthể cán bộ, giáo viên, nhân viên Trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố HồChí Minh, Trường Đại học An Giang, Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre đã tạođiều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như đã giành nhiều tâm huyết

để truyền thụ cho chúng tôi những kiến thức vô cùng quý báu về công tác giáo dục thể chất,làm tiền đề cho việc nghiên cứu luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn Tiến sĩ Trần QuangĐại, đã tận tình động viên, giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiêncứu

Tôi cũng xin chân thành cám ơn quý đồng nghiệp, các em học sinh Trường trung họcphổ thông Chuyên Bến Tre cùng bạn bè, gia đình đã luôn bên tôi trong suốt thời gian qua và

đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá học

Học viên cao học

Võ Trường Thạnh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêutrong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa họcnào

Học viên cao học

Võ Trường Thạnh

Trang 4

DANH MỤC NHỮNG TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên Trường THPT Chuyên Bến Tre 42 3.2 Thực trạng CSVC phục vụ công tác GDTC của Trường THPT Chuyên Bến Tre 43 3.3 Thực trạng thể chất của nam học sinh Trường THPT Chuyên Bến Tre 44 3.4 Thực trạng thể chất của nữ học sinh Trường THPT Chuyên Bến Tre 47

3.5 So sánh thể chất của Nam học sinh Trường THPT Chuyên Bến Tre với tiêu chuẩn người Việt Nam 51

3.6 So sánh thực trạng thể chất của nữ học sinh Trường THPT Chuyên Bến Tre với thể chất người Việt Nam 54

3.7 Chương trình giảng dạy môn thể dục trong các Trường THPT của Bộ GD – ĐT 57

3.8 Chương trình giảng dạy môn thể dục cho học sinh Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre 58

3.9 Cấu trúc giờ học TDTT của Trường THPT Chuyên Bến Tre 59

3.11

Chương trình giảng dạy môn thể dục cho học sinh lớp 11 Trường

trung học phổ thông Chuyên Bến Tre theo hướng tăng thời lượng

môn thể thao tự chọn

66

3.12

Cấu trúc giờ học TDTT của nhóm thực nghiệm được giảng dạy và

học tập theo chương trình theo hướng tăng thời lượng môn thể thao tự

chọn

68

3.13 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất của nam học sinh nhóm thực nghiệm Trường THPT Chuyên Bến Tre (n = 50) 69

3.14 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất của nữ học sinh nhóm thực 73

Trang 6

nghiệm Trường THPT Chuyên Bến Tre (n = 50)

3.15 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất của nam học sinh nhóm đối chứng Trường THPT Chuyên Bến Tre (n = 48) 76

3.16 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất của nữ học sinh nhóm đối chứng Trường THPT Chuyên Bến Tre (n = 58) 80

3.17 So sánh nhịp tăng trưởng của nam học sinh nhóm đối chứng với nhóm thực nghiệm sau một năm học tập 83

3.18 So sánh nhịp tăng trưởng của nữ học sinh nhóm đối chứng với nhóm thực nghiệm sau một năm học tập 87

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.1 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất của nam học sinh nhóm thực nghiệm Trường THPT Chuyên Bến Tre (n = 50) 72

3.2 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất của nữ học sinh nhóm thực

3.3 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất của nam học sinh nhóm đối

3.4 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể chất của nữ học sinh nhóm đối chứng

3.5 So sánh nhịp tăng trưởng của nam học sinh nhóm đối chứng với nhóm thực nghiệm sau một năm học tập 86

3.6 So sánh nhịp tăng trưởng của nữ học sinh nhóm đối chứng với

Trang 9

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác giáo

1.4.2.3 Cơ sở lý luận về giáo dục tố chất sức bền 17

1.4.2.4 Cơ sở lý luận về giáo dục tố chất mềm dẻo 18 1.4.2.5 Cơ sở lý luận về năng lực phối hợp vận động 19 1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 20 1.6 Đặc điểm tâm sinh lý và phát triển các tố chất thể lực của học

sinh trung học phổ thông

Trang 10

1.7.5 Môi trường và vị trí địa lý 28

3.1 Thực trạng công tác giảng dạy giáo dục thể chất của Trường

3.1.1 Thực trạng hoạt động giảng dạy của Trường trung

3.1.2 Thực trạng hình thái, thể lực của học sinh Trường trung

3.1.2.1 Lựa chọn các test đánh giá thể chất chung cho

3.1.2.2 Thực trạng thể chất của nam học sinh Trường THPT Chuyên Bến Tre

44

3.1.2.3 Thực trạng thể chất của nữ học sinh Trường THPT Chuyên Bến Tre

47

3.1.3 So sánh thực trạng thể chất của học sinh Trường

THPT Chuyên Bến Tre với thể chất người Việt Nam

3.2 Xây dựng chương trình dạy học theo hướng tăng thời lượng môn

3.2.1 Chương trình giảng dạy giáo dục thể chất hiện tại của

Trang 11

3.2.2 Xây dựng chương trình dạy học đảm bảo đủ nội dung

theo quy định nhưng điều chỉnh theo hướng tăng thời lượng môn

thể thao tự chọn

62

3.2.3 Triển khai thực hiện chương trình theo hướng tăng thời

3.3 Đánh giá hiệu quả của việc xây dựng chương trình dạy học môn

thể dục theo hướng tăng thời lượng môn thể thao tự chọn qua một

năm học tập.

69

3.3.1 Đánh giá sự phát triển của nam, nữ học sinh nhóm

thực nghiệm của học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông

Chuyên Bến Tre sau một năm học tập.

69

3.3.2 Đánh giá sự phát triển của nam, nữ học sinh nhóm đối

chứng của học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Chuyên Bến

Tre sau một năm học tập

76

3.3.3 So sánh nhịp tăng trưởng giữa hai nhóm thực nghiệm

và đối chứng của học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông

Chuyên Bến Tre sau một năm học tập.

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

* Lý do chọn đề tài

Trong khối di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho thế hệ mai sau về xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc có câu nói nổi tiếng: “Các Vua Hùng đã công dựng nước, Bác cháu ta phải

cùng nhau giữ lấy nước” Lời dạy của Bác không chỉ nhắc nhở chúng ta về đạo lý uống nước

nhớ nguồn mà còn chỉ rõ rằng “giữ nước” là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người dânchúng ta

Giữ nước – dù trong thời chiến hay thời bình, thì cũng không hẳn phải cầm gươm cầmsúng ra chiến trường chiến đấu, mà giáo dục cũng là một trong những mặt trận quan trọng củacông cuộc này Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (Khóa IX) cũng đã ban hành nghị quyết về đổimới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóatrong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Bước vàothời kỳ đổi mới và hội nhập, nền giáo dục nước nhà cũng đứng trước nhiệm vụ cùng nhữngthời cơ và thách thức mới

Đảng và Nhà nước ta xác định nội dung cơ bản của giáo dục là “Thể dục, trí dục, mĩ

dục và đức dục” Rõ ràng, thể dục giữ vai trò quan trọng và tiên quyết cho sự phát triển giáo

dục của đất nước “Dưới chế độ dân chủ thể dục thể thao phải trở thành hoạt động chung của

quần chúng Nhân dân có sức khỏe thì mọi công việc đều làm được tốt” - Tư tưởng của Bác

Hồ về Văn hóa và Thể dục thể thao Trong những năm gần đây, giáo dục thể chất đã nhận

được nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp lãnh đạo Cụ thể, môn thể dục đãđược đưa vào chương trình chính khóa trong hệ thống giáo dục, là “điều kiện đủ” cho việcđánh giá một người học sinh Bên cạnh đó, nhà nước còn tăng cường đầu tư cơ sở vật chất,đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên, nhằm góp phần phát triển giáo dục toàn diện cho học sinh

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục thể chất, các trường THPT đãthực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nội dung chương trình nhằmđẩy mạnh việc nâng cao thể chất cho học sinh Tuy nhiên, thực tế hiện nay, trình độ thể chấtcủa các em học sinh phần lớn chưa đáp ứng được kỳ vọng chúng ta, đặc biệt là các em họcsinh ở các trường THPT Chuyên

Ngoài việc phải phấn đấu học tốt tất cả các bộ môn, học sinh học trong trường THPTChuyên còn phải nỗ lực cao trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp ở các bộ môn văn hóa cũngnhư kì thi tuyển sinh vào Đại học Do vậy thời gian rèn luyện thể dục thể thao là rất hạn chế

Hơn nữa, do sự phân lượng thời gian không được đều đặn cho tất cả các nội dung, chủyếu chú trọng nhiều về kỹ thuật nên phần nào giảm đi sự hứng thú ở học sinh, không kíchthích nhiều ở các em tính tự giác, tích cực Từ đó, hiệu quả của việc giáo dục thể chất chưa

Trang 13

được như mong muốn, trình độ thể chất của học sinh trường THPT Chuyên còn nhiều hạnchế

Là giáo viên bộ môn giáo dục thể chất của trường THPT Chuyên Bến Tre, trước thựctrạng trên, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất cho họcsinh Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre nói riêng và học sinh trung học phổ thông,học sinh các cấp nói chung Tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng chương trình giảng dạythể dục khi tăng thời lượng môn thể thao tự chọn cho học sinh lớp 11 Trường trung học phổthông Chuyên Bến Tre ”

* Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này với mục đích đánh giá sự phát triển hình thái, thể lực của họcsinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre khi tăng thời lượng môn thể thao tựchọn trong giờ học thể dục chính khóa Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tham khảo đểgóp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất của Trường trung học phổ thông Chuyên BếnTre nói riêng và các Trường trung học phổ thông khác có điều kiện tượng tự nói chung

* Mục tiêu nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu của đề tài, cần giải quyết các mục tiêu sau:

 Thực trạng công tác giảng dạy giáo dục thể chất của Trường trung học phổthông Chuyên Bến Tre

- Thực trạng hoạt động giảng dạy của Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre

- Thực trạng hình thái, thể lực của học sinh Trường trung học phổ thông Chuyên BếnTre

 Xây dựng chương trình dạy học theo hướng tăng thời lượng môn thể thao tựchọn trong một năm học tập

- Chương trình giảng dạy giáo dục thể chất hiện tại của Trường trung học phổ thôngChuyên Bến Tre

- Xây dựng chương trình dạy học đảm bảo đủ nội dung theo quy định nhưng điềuchỉnh theo hướng tăng thời lượng môn thể thao tự chọn

- Triển khai thực hiện chương trình theo hướng tăng thời lượng môn thể thao tự chọn

 Đánh giá hiệu quả của việc xây dựng chương trình dạy học môn thể dục theohướng tăng thời lượng môn thể thao tự chọn qua một năm học tập

- Đánh giá sự phát triển hình thái, thể lực của nam, nữ học sinh nhóm thực nghiệm củahọc sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre sau một năm học tập

- Đánh giá sự phát triển hình thái, thể lực của nam, nữ học sinh nhóm đối chứng củahọc sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre sau một năm học tập

Trang 14

- So sánh nhịp tăng trưởng hình thái, thể lực giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứngcủa học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre sau một năm học tập.

Trang 15

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CÚU1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác giáo dục thể chất trong trường học

- Văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ : “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học vàcông nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu … chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệtrẻ đi vào thế kỷ XXI Đồng thời đã khẳng định rõ: sự cường tráng về thể chất là nhu cầucủa bản thân con người

Ngày 02/10/1958, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đề ra chỉ thị số 106/CT-TW khẳngđịnh: “Dưới chế độ chúng ta việc chăm sóc sức khỏe của nhân dân, tăng cường thể chất củanhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Công tác thể dục thểthao là một phương pháp rất có hiệu quả để tăng cường lực lượng lao động sản xuất và lựclượng quốc phòng của cán bộ và nhân dân ta, tăng cường sức đề kháng của nhân dân ta,chống bệnh tật, chống vi trùng Hơn nửa, vận động TDTT còn là một trong những phươngpháp tốt để giáo dục nhân dân về tính tổ chức, tính kỷ luật và đoàn kết quần chúng đông đảochung quanh Đảng và Chính phủ”

- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tháng 9/1960 có ghi

“Tiếp tục phát triển phong trào vệ sinh phòng bệnh và phong trào TDTT yêu nước,… nhằmnâng cao không ngừng sức khỏe của nhân dân.” Chỉ thị số 05/TTg ngày 07/01/1966: “Trong

sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, công tác TDTT đóngvai trò rất cần thiết trong việc tăng cường sức khỏe để đẩy mạnh sản xuất và sức chiến đấucủa toàn dân.”

- Nghị quyết số 1035/NQ-TVQH ngày 09/01/1971 chuyển Ủy ban TDTT Trung ươngthành Tổng cục TDTT, ngày 19/1/1971 Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 13/CP về việcsửa đổi tổ chức TDTT bao gồm hệ thống tổ chức bộ máy từ trung ương đến địa phương

- Chỉ thị số 227/CT-TW ngày 18/11/1975 của Ban Bí thư Trung ương: “Phấn đấuvươn lên, đưa phong trào quần chúng rèn luyện thân thể vào nề nếp, phát trển công tác TDTT

có chất lượng, có tác dụng thiết thực nhằm mục tiêu: khôi phục và tăng cường sức khỏe củanhân dân, góp phần xây dựng con người mới phát triển toàn diện, ”

- Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng: “Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con

Trang 16

người, công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang Xây dựng nền TDTT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân Giữ gìn phát huy bản sắc và truyền thống dân tộc, đồng thời nhanh chóng tiếp thu có chọn lọc những thành tựu hiện đại Phát triển rộng rãi phong trào TDTT quần chúng với khẩu hiệu: “Khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Từng bước xây dựng lực lượng thể thao chuyên nghiệp đỉnh cao.”

- Báo cáo của ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về các văn kiện đại hội VIII

do đồng chí Đỗ Mười trình bày ngày 28/6/1996: “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu củabản thân con người, đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội Chăm

lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung, của ngành TDTT nóiriêng Đó cũng chính là mục đích cơ bản, quan trọng thứ nhất của giáo dục TDTT ở nước ta.”

- Quyết định số 641/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 28 tháng 4 năm 2011:

“Phát triền thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới để nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước nâng cao chấtlượng giống nòi và tăng tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam.”

1.2 Vai trò của giáo dục thể chất trong trường học hiện nay

Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta

và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục thể chất được hiểu là: “Quá trình sư

phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”

Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy

đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạmphù hợp với học sinh theo nguyên tắc sư phạm Giáo dục thể chất chia thành hai mặt tươngđối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệthống giáo dục nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dục, trí dục,đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động

Giáo dục thể chất là một lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT) xã hội với nhiệm vụ là:

“Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảođảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiệnđến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống” Đồng thời chương trình

Trang 17

giáo dục thể chất trong nhà trường nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: Trang bịkiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh

Nội dung chương trình giáo dục thể chất được tiến hành trong cả quá trình học tập củahọc sinh trong nhà trường bằng các hình thức:

* Giờ học thể dục thể thao chính khoá:

Là hình thức cơ bản nhất của giáo dục thể chất được tiến hành trong kế hoạch học tậpcủa nhà trường Vì việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho học sinh là nhiệm vụ cầnthiết, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợpvận động cho học sinh Đồng thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹthuật động tác TDTT

Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong trường học là:

“Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thể thao của học sinhsinh viên, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTTthường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòng nhân đạo cho học sinh”

Bản thân giờ học TDTT có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáodục con người trong xã hội Việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật động tác là điềukiện cần thiết để con người phát triển cơ thể một cách hài hoà, bảo vệ và củng cố sức khoẻ,hình thành năng lực chung và chuyên môn

* Giờ học ngoại khoá - tự tập:

Là nhu cầu và ham thích trong khi nhàn rỗi của 1 bộ phận học sinh với mục đích vànhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàn diện, đồng thời góp phầnnâng cao thành tích thể thao của học sinh Giờ học ngoại khoá nhằm củng cố và hoàn thiệncác bài học chính khoá và được tiến hành vào ngoài giờ học của học sinh, hay dưới sự hướngdẫn của giáo viên TDTT, hướng dẫn viên Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúngngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các giải thi đấu trong và ngoài trườngđược tổ chức hàng năm, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ

tự luyện tập của học sinh, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể Hoạt động ngoại khoávới chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thể thao yêuthích, góp phần nâng cao sức khoẻ phục vụ học tập và sinh hoạt

Tác dụng của giáo dục thể chất và các hình thức sử dụng TDTT có chủ đích áp dụngtrong các trường học là toàn diện, là phương tiện để hợp lý hoá chế độ hoạt động, nghỉ ngơi

Trang 18

tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động, học tập của học sinh trong suốt thời kỳ họctập trong nhà trường, cũng như đảm bảo chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyênmôn phù hợp với những điều kiện của nghề nghiệp trong tương lai.

1.3 Chương trình giáo dục thể chất ở nước ta hiện nay

Ở nước ta hiện nay môn thể dục đã được đưa vào giờ chính khóa, tuy nhiên thời lượngcòn rất hạn chế, từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông chỉ có 2 tiết/tuần Đội ngũ giáo viêndạy thể dục rất thiếu, đặc biệt ở bậc tiểu học Hiện chúng ta có khoảng 20.000 trường tiểu học.Nếu mỗi trường chỉ cần 1 giáo viên chuyên trách thì đã thiếu tới 15.000-17.000 giáo viên Đó

là chưa nói tới việc giáo viên chủ nhiệm thường kiêm luôn việc dạy thể dục Nếu không cóchuyên môn, dạy không đúng, học sinh tập sai thì còn phản tác dụng Cơ sở vật chất phục vụviệc dạy TDTT rất khó khăn Nhiều trường không có chỗ tập cho HS, thậm chí còn không có

cả nơi cho HS tập trung Dụng cụ tập luyện cũng thiếu thốn, chương trình yêu cầu cao vềhoàn thiện kỹ thuật, nội dung nhiều nhưng chưa thật sự phù hợp với sự yêu thích của họcsinh, mỗi một tiết học 45 phút nhưng phải giảng dạy đảm bảo có ít nhất 2 nội dung,

Tại Nhật Bản, ngay ở bậc tiểu học, môn thể dục được coi là 1 trong 3 môn có thờilượng cao nhất Hằng ngày, học sinh đều được tập luyện trong giờ chính khóa và hoạt độngngoại khóa

Mặc dù còn nhiều khó khăn tuy nhiên với mong muốn "Nâng cao tầm vóc và thể trạngcủa người Việt Nam góp phần phát triển giống nòi và phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước", chúng ta có các nghị định như nghị định số: 11/2015/NĐ-CP, ngày 31 tháng

01 năm 2015, Quy định về giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường “Giáodục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trìnhgiáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viêncác kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao đểnâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàndiện” Nghị định số: 112/2007/NĐ-CP, ngày 26 tháng 06 năm 2007, quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành một số điều của luật thể dục thể thao; Công văn số 5842/BGDĐT-VP

ngày 01 tháng 9  năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học môn thể dục cấp THPT Trên cơ sở giáo dục toàn diện và hài hoà đức, trí,thể, mỹ, mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông xác định những yêu cầu cần đạt về phẩmchất, năng lực của học sinh ở từng cấp học; mục tiêu chương trình môn học xác định nhữngyêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hướng đến hình thành những phẩm chất, năng lực đặcthù môn học và các phẩm chất, năng lực khác ở từng lớp, từng cấp học, coi đó là cam kết bảođảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục, là căn cứ để chỉ đạo, giám sát và đánh

Trang 19

giá chất lượng giáo dục phổ thông Chương trình giáo dục phổ thông nhằm giúp học sinh pháttriển khả năng vốn có của bản thân, hình thành tính cách và thói quen; phát triển hài hoà vềthể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp vàhọc tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cần thiết để trở thành ngườicông dân có trách nhiệm, người lao động cần cù, có tri thức và sáng tạo.

1.4 Cơ sở lý luận về phát triển thể chất của học sinh

Giáo dục thể chất là một bộ phận của nền văn hoá xã hội, một di sản quí giá của loàingười và là sự tổng hoà những thành tựu xã hội trong sự nghiệp sáng tạo và sử dụng nhữngbiện pháp chuyên môn để hoàn thiện thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc vàkéo dài tuổi thọ cho con người Qua quá trình giáo dục thể chất, hình thái và chức năng, các

cơ quan trong cơ thể được từng bước hoàn thiện, các tố chất thể lực được phát triển hơn, các

kỹ năng, kỹ xảo vận động được hình thành và phát triển Giáo dục thể chất có vai trò quantrọng trong việc hoàn thiện năng lực vận động của con người

1.4.1 Những khái niệm về thế chất

Thể chất: Theo PGS.TS Nguyễn Toán: chỉ chất lượng con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục và rèn luyện).

Thể hình: Hay còn gọi là hình thái, cấu trúc cơ thể, bao gồm trình độ phát triển, những chỉ tiêu tuyệt đối về hính thái và tỷ lệ giữa chúng cùng tư thế.

Năng lực thể chất: Chủ yếu liên quan với những khả năng chức năng của các hệ thống, các cơ quan trong cơ thể, thể hiện chính qua hoạt động cơ bắp,

Nó bao gồm các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo,…)

và những năng lực vận động cơ bản của con người (đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo, bò, mang vác,…).

Giáo dục thể chất: Thuật ngữ giáo dục thể chất có từ lâu trong ngôn ngữ của nhiềunước Ở nước ta, do bắt nguồn từ gốc Hán – Việt nên cũng có người gọi tắt giáo dục thể chất

là thể dục theo nghĩa tương đối hẹp Vì theo nghĩa rộng của từ Hán – Việt cũ, thể dục có nghĩa

là thể dục thể thao

Thông thường, người ta coi GDTC là một bộ phận của TDTT Nhưng chính xác hơn,

đó còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã

Trang 20

hội, một quá trình tổ chức truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáodục – giáo dưỡng chung.

Theo Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn : “ Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục

mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chấtvận động của con người” Từ quan niệm trên, ta có thể coi phát triển thể chất là một phần hệquả của GDTC Quá trình phát triển thể chất có thể là bẩm sinh tự nhiên (sự phát triển tựnhiên của trẻ khi đang lớn) hoặc còn có thêm tác động có chủ đích, hợp lý của GDTC manglại

Với mục đích góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ, khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế vàvăn hóa xã hội, phát triển hài hòa về mọi mặt, có sức lực cường tráng, có năng hoạt độngchuyên môn độc lập, sáng tạo, có tư tưởng đạo đức tác phong lành mạnh, trong sáng, đáp ứngnhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, GDTC đã trở thành nội dung không thể thiếutrong chương trình giáo dục ở các cấp học

Sức khỏe: Theo tổ chức y tế thế giới WHO, sức khỏe được hiểu là trạng thái hài hòa

về thề chất, tinh thần và xã hội, mà không có nghĩa chỉ là không có bệnh hay thương tật chophép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khảnăng lao động và lao động có kết quả

Thể lực: Là sức lực của cơ thể, biểu hiện qua các tố chất thể lực, tố chất thể lực lànhững mặt riêng biệt về khả năng vận động của con người, bao gồm: nhanh, mạnh, bền, khéoléo và mềm dẻo Tố chất thể lực thường được biểu hiện trong khi thực hiện các động tác vàphụ thuộc vào cấu trúc của động tác Ngoài ra, việc thể hiện các tố chất còn phụ thuộc vàotrạng thái người tập và điều kiện thực hiện

Các tố chất như sức mạnh, sức nhanh, sức bền và mềm dẻo là những yếu

tố mang tính năng lượng (vì phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp năng lượng), còn khả năng phối hợp vận động (khéo léo) là một yếu tố mang tính thần kinh –

cơ (vì chủ yếu liên quan đến sự điều khiển của hệ thần kinh – cơ) Hai thuật ngữ

tố chất thể lực và tố chất vận động tương đồng về nghĩa vì cùng phản ánh những nhân tố, những mặt tương đối khác nhau của thể lực con người Tuy nhiên, khi nói tố chất vận động là muốn nhấn mạnh việc điều khiển động tác của hệ thần kinh trung ương Còn khi nói tố chất thể lực là muốn nhấn mạnh đến đặc trưng sinh học của cơ thể

Trang 21

Theo PGS.TS Trịnh Trung Hiếu: “phát triển thể chất là một quá trình hình thành và thay đổi hình thái và chức năng sinh vật học của cơ thể con người; quá trình đó xảy ra dưới ảnh hưởng của điều kiện sống, mà đặc biệt là giáo dục”.

Như vậy qua các phân tích của các nhà chuyên môn ta có thể nhận thấy rằng: phát triển thể chất là quá trình phát triển về hình thái và chức năng của cơ thể dưới ảnh hưởng của di truyền và điều kiện sống, mà đặc biệt là giáo dục.

Do vậy khi đánh giá sự phát triển thể chất của học sinh ta cần căn cứ vào các chỉ tiêu hình thể kết hợp với các chỉ tiêu về tố chất thể lực cơ bản (nhanh, mạnh, bền, dẻo, khéo léo).

1.4.2 Giáo dục các tố chất thể lực

Hoạt động thể lực, nhất là hoạt động thể lực trong TDTT rất đa dạng và phức tạp, phụthuộc vào công suất hoạt động, cơ cấu động tác và thời gian gắng sức Mỗi loại hoạt động đòihỏi cơ thể phải thể hiện khả năng hoạt động thể lực của mình về một mặt nào đó Ví dụ: khinâng vác một vật nặng, khi cử tạ hoặc ném đẩy, cơ thể cần phải tạo ra được một lực cản rấtlớn để thắng lực cản, hoặc tạo cho dụng cụ một vận tốc rất lớn, khi đạp xe đường dài hệ timmạch và hô hấp lại phải làm việc bền bỉ để cung cấp năng lượng và oxy cho cơ thể, khi thựchiện một bài tập thể dục dụng cụ các động tác lại cần được kết hợp rất khéo léo với nhau, Như vậy khả năng hoạt động thể lực có thể biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau

Mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào trạng thái cấu tạo và chức năngcủa nhiều cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể Quá trình tập luyện để phát triển các tố chấtcũng chính là phát triển và hoàn thiện các hệ chức năng có vai trò chủ yếu trong mỗi một loạihoạt động cơ bắp cụ thể

1.4.2.1 Cơ sở lý luận về giáo dục tố chất sức mạnh Sức mạnh của con người được đo bằng lực kế hoặc bằng các máy đo lực trong cơ học.Điều đó cho thấy, sức mạnh là khả năng con người sinh ra lực cơ học bằng nổ lực cơ bắp Nóicách khác, sức mạnh của con người là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đềkháng lại nó bằng sự nổ lực của cơ bắp

Cơ bắp có thể sinh ra lực trong những trường hợp sau: không thay đổi độ dài cơ (chế

độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ)

Chế độ nhượng bộ và chế độ khắc phục hợp thành chế độ động lực Trong các chế độhoạt động như vậy, cơ bắp sản sinh các lực cơ học có trị số khác nhau cho nên có thể coi chế

độ hoạt động của cơ là cơ sở phân biệt các loại sức mạnh cơ bản

Trang 22

Để rèn luyện sức mạnh người ta sử dụng các bài tập sức mạnh, tức là các động tác vớilực đối kháng Một trong những vấn đề quan trọng nhất của phương pháp rèn luyện là lựachọn lực đối kháng Căn cứ vào tính chất lực đối kháng, các bài tập sức mạnh chia làm hainhóm Nhóm một: các bài tập với lực đối kháng bên ngoài đó là các bài tập với dụng cụ nặng,các bài tập với lực đối kháng cùng người tập, các bài tập với lực đàn hồi, các bài tập với lựcđối kháng của môi trường bên ngoài (chạy trên cát, trên mùn cưa, ) Nhóm hai: các bài tậpkhắc phục trọng lượng cơ thể.

Ngoài ra, trong rèn luyện sức mạnh người ta còn sử dụng rộng rãi các bài tập khắcphục trọng lượng cơ thể cộng thêm với trọng lượng của vật thể bên ngoài Trong các hoạtđộng TDTT để có sức mạnh tốt nhất thì sức mạnh phải có mối liên hệ chặt chẽ với các tố chấtkhác: sức nhanh, sức bền, Trên thực tế có ba loại hình thức sức mạnh:

1.4.2.2 Cơ sở lý luận về giáo dục tố chất sức nhanhSức nhanh (tốc độ) là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắnnhất Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh là một tổ hợp thuộc tính chức năngcủa con người, nó quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gianphản ứng vận động

Người ta phân biệt ba hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh là thời gian tiềm tàngcủa phản ứng vận động, tốc độ động tác đơn (với lượng đối kháng bên ngoài), tần số động tác

Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặc biệt, những chỉ

số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Nhữnghình thức kể trên là thể hiện năng lực tốc độ khác nhau Trong thực tiễn thường thấy sứcnhanh được thể hiện tổng hợp Ví dụ: thành tích chạy ngắn phụ thuộc vào thời gian phản ứngvận động, tốc độ phản ứng đơn và tần số bước Trong động tác có phối hợp phức tạp thì tốc

độ không chỉ phụ thuộc vào sức nhanh mà còn chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác Ví dụ:trong chạy tốc độ phụ thuộc vào độ dài bước, còn độ dài bước phụ thuộc vào độ dài chi dưới

và lực đạp sau Vì vậy, tốc độ động tác hoàn chỉnh chỉ thể hiện gián tiếp sức nhanh của con

Trang 23

người Cho nên trong phân tích, đánh giá sức nhanh phải căn cứ vào mức độ phát triển củatừng hình thức đơn giản của nó

Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các dạng sức nhanh là độ linh hoạt của các quátrình thần kinh và tốc độ co cơ Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biếnđổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh Tốc độ co cơ phụthuộc trước tiên vào tỉ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ Tốc độ co cơ chịu ảnhhưởng của hàm lượng các chất cao năng ATP và CP

Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh là tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyềnhưng phấn ở trung tâm thần kinh và bộ máy vận động, tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ

và các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng cơ Để đạt được bằng cách sử dụng các bài tập tần số cao,trọng tải nhỏ, có thời gian nghỉ dài

Trong hoạt động TDTT, trong huấn luyện cũng như trong giảng dạy để phát triển sứcnhanh chúng ta cần phải đặc biệt quan tâm tới yếu tố sức mạnh vì tốc độ và sức mạnh có liênquan mật thiết với nhau Mức độ phát triển mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến sức nhanh Trongnhiều môn thể thao, kết quả hoạt động phụ thuộc không chỉ vào sức nhanh hay sức mạnhriêng lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp hợp lý giữa hai tố chất

1.4.2.3 Cơ sở lý luận về giáo dục tố chất sức bềnSức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được.

Do thời gian dài hoạt động cuối cùng bị giới hạn bởi sự xuất hiện của mệt mỏi, nên cũng có thể định nghĩa sức bền là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi thể lực trong một hoạt động nào đó.

Trong hoạt động TDTT, sự biểu hiện mệt mỏi cũng đa dạng, song mệt mỏi thể lực do hoạt động cơ bắp gây nên là chính.

Vận động của con người rất đa dạng và trong mỗi dạng vận động khác nhau thì tính chất và cơ chế của sự mệt mỏi cũng khác nhau Căn cứ vào số lượng các nhóm cơ tham gia hoạt động, người ta phân biệt mệt mỏi chung và mệt mỏi tương đối cục bộ Nguyên nhân chính gây nên mệt mỏi trong hoạt động

Trang 24

cục bộ nằm trong các khâu của hệ thần kinh – cơ trực tiếp bảo đảm thực hiện động tác Trong những hoạt động có hơn 2/3 số lượng cơ tham gia thì nguyên nhân của sự mệt mỏi lại chủ yếu ở các cơ quan bảo đảm năng lượng cho hoạt động, nhất là hệ tuần hoàn và hô hấp Vì vậy, người có sức bền tốt trong hoạt động cục bộ nào đó chưa chắc đã phải là có sức bền tốt trong các bài tập có tác động chung.

Trong sinh lý TDTT, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt độngthể lực kéo dài liên tục từ hai đến ba phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơ bắplớn (từ ½ toàn bộ lượng cơ bắp của cơ thể), nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp năng lượng cho

cơ thể chủ yếu hoặc hoàn toàn bằng con đường ưa khí

Sức bền phụ thuộc vào khả năng hấp thụ oxy tối đa (VO2max) của cơ thể và khả năngduy trì lâu dài mức hấp thụ oxy cao Mức hấp thụ oxy tối đa của một người quyết định khảnăng làm việc của họ trong điều kiện ưa khí VO2max càng cao thì công suất hoạt động ưa khítối đa càng lớn và cơ thể thực hiện hoạt động ưa khí càng dễ dàng, vì vậy càng được lâu hơn.Điều đó giải thích tại sao các vận động viên có thành tích cao trong các môn sức bền có

VO2max rất cao (5 – 6 lít/ phút)

Sức bền rất cần thiết cho con người trong cuộc sống lao động và học tập hằng ngày.Đối với lĩnh vực TDTT nó là cơ sở thiết yếu để giúp cho vận động viên hoạt động chuyênmôn của mình để gặt hái thành tích thể thao cao, đồng thời đó cũng là cơ sở để giúp học sinhbền bỉ, dẻo dai trong việc học tập, rèn luyện

1.4.2.4 Cơ sở lý luận về giáo dục tố chất mềm dẻoNăng lực mềm dẻo là một trong những tiền đề để vận động viên có thể giành đượcthành tích cao trong chuyên môn Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn.Biên độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo

Năng lực mềm dẻo được phân thành hai loại: mềm dẻo tích cực và mềm dẻo thụ động Mềm dẻo tích cực là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ sự nổ lực của cơ bắp Mềm dẻo thụ động là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp nhờ sự tác động của ngoại lực như: trọng lượng cơ thể, lực ấn, ép của huấn luyện viên hoặc bạn tập, ….

Trang 25

Năng lực mềm dẻo phụ thuộc vào đàn tính của cơ bắp và dây chằng Tính chất đàn hồi cao của bộ máy vận động và sự phát triển chưa ổn định của hệ thống xương, khớp trong lứa tuổi thiếu niên là điều kiện rất thuận lợi để phát triển năng lực mềm dẻo Do vậy ở lứa tuổi thiếu niên phải chú trọng phát triển năng lực mềm dẻo.

Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được những yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy

đủ sẽ dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao như: thời gian học và hoàn thiện kỹ xảo vận động bị kéo dài thậm chí không thể hoàn thiện được kỹ thuật động tác, hạn chế sự phát triển của sức nhanh, sức bền và năng lực phối hợp vận động.

Phương pháp chính để phát triển năng lực mềm dẻo là kéo giản cơ bắp và dây chằng Nguyên tắc phát triển tố chất mềm dẻo là cần rèn luyện mềm dẻo một cách liên tục và hệ thống, tốt nhất là tập luyện hằng ngày Bởi vì sau khi đạt được trình độ cao nếu ngưng tập hoặc để giản cách nhiều buổi tập thì năng lực mềm dẻo sẽ giảm sút nhanh chóng Cần kết hợp các bài tập phát triển năng lực mềm dẻo thụ động với các bài tập phát triển năng lực mềm dẻo tích cực

1.4.2.5 Cơ sở lý luận về năng lực phối hợp vận động

Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động viên (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển (các quá trình thông tin) và được vận động viên hình thành phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như sức mạnh, sức nhanh và sức bền.

Trang 26

Năng lực phối hợp của vận động viên được thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện, củng cố và vận dụng các kỹ xảo vể kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và

kỹ xảo về kỹ thuật thể thao có điểm khác nhau cơ bản Trong khi kỹ xảo về kỹ thuật thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ vận động cụ thể, thì năng lực phối hợp vận động là tiền đề cho rất nhiều hành động vận động khác nhau.

Phát triển tốt các năng lực phối hợp vận động sẽ giúp cho con người có thể thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, hợp lý và đẹp các hoạt động vận động trong đời sống hằng ngày, trong lao động sản xuất, trong lĩnh vực quốc phòng và đặc biệt có ý nghĩa to lớn trong hoạt động thể thao nâng cao.

Năng lực phối hợp vận động chỉ phát triển thông qua hoạt động, có nghĩa là thông qua sự tập luyện một cách tích cực, thông qua việc học hành và hoàn thiện các bài tập được chọn lựa làm phương tiện để phát triển năng lực này.

Nếu như các năng lực sức mạnh, sức nhanh, sức bền dựa trên cơ sở của hệ thống thích ứng về năng lượng thì năng lực phối hợp vận động lại phụ thuộc chủ yếu vào các quá trình điều khiển hành động vận động Vì vậy, phương pháp chính để phát triển năng lực phối hợp vận động là tập luyện, còn phương tiện chính là các bài tập thể lực.

1.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Qua tổng hợp cho thấy từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thểchất con người, nhất là học sinh – sinh viên Sức khỏe là vàng, việc chăm lo cho con người vềthể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung, của ngành TDTT nói riêng Đó chính làmục tiêu cơ bản quan trọng nhất của giáo dục thể thao nước ta Những năm qua, Đảng vàChính phủ rất chú trọng đến việc phát triển thể chất của học sinh, sinh viên Các nghị quyếtcủa Đảng và Nhà nước đã ghi rõ công tác GDTC cho thế hệ trẻ là một mặt quan trọng khôngthể thiếu được trong quá trình giáo dục và đào tạo con người toàn diện

Các công trình nghiên cứu về GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng đã và đangđược sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà giáo

Trang 27

dục Các chỉ tiêu, đặc điểm thường được các nhà nghiên cứu sử dụng có thể kể ra như hìnhthái, chức năng, tố chất thể lực.

Có rất nhiều nghiên cứu về thể chất, hình thái, tố chất thể lực trước đây, có thể kể đếnnhững công trình nghiên cứu về điều tra tình trạng thể chất của học sinh, sinh viên của một sốtác giả Nguyễn Kim Minh (1989), Tạ Hồng Hải (1989), Trịnh Trung Hiếu (1995), dựa trêncác chỉ số về hình thể và thể lực PGS.TS Trịnh Trung Hiếu, GS.TS Dương Nghiệp Chí,PGS.TS Huỳnh Trọng Khải (1995) “Tìm hiểu động thái phát triển thể hình và thể lực của họcsinh nữ tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh”

Từ năm 2000 trở lại đây thì có thể kể đến công trình nghiên cứu, các đề tài có liênquan như sau: tiêu biểu có công trình nghiên cứu của GS.TS Lê Văn Lẫm năm 2000 “Nghiêncứu thể chất sinh viên toàn quốc”, PGS.TS Huỳnh Trọng Khải năm 2001 và các tác giả khácnhư Hoàng Công Dân (2004), Trần Đức Dũng (2005) Năm 2001 Viện khoa học thể dục thểthao với “Thực trạng thể chất của người Việt Nam”

Các đề tài nghiên cứu về hình thái, thể lực cho học sinh – sinh viên gần đây:

Nghiên cứu đánh giá thể lực cho sinh viên trường ĐH Cần Thơ (Ths Lê Quang Anh,2005) Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển thể lực cho sinh viên trường ĐH Khoa Học

Xã Hội và Nhân Văn TP HCM (Ths Hoàng Hà) Một số đề tài nghiên cứu có liên quan củacác tác giả khác như Trương Hoàng Long (2005), Nguyễn Văn Thái (2006), Hà Trọng Thảo(2007), Nguyễn Văn Quận (2008), Lê Bá Tường (2008), Đoàn Thị Ánh Điểm (2009)

Có thể kể thêm các đề tài luận văn Thạc sĩ gần đây có liên quan đến vấn đề nghiêncứu:

Đề tài “Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chung cho sinh viênđại học Đà Nẵng” của tác giả Hoàng Trọng Lợi, Luận văn cao học năm 2010

Đề tài “Nghiên cứu thực trạng thể chất của sinh viên trường đại học sư phạm TP.HCM trong độ tuổi 18 - 21” của tác giả Nguyễn Văn Hồng, Luận văn cao học năm 2005

Đề tài “Nghiên cứu đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên Đại học Đà Lạt” của

Phan Bửu Tú năm 2010

Đề tài “Nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực của sinh viên khoa Kinh tế - Luật Đại

học Quốc Gia TP HCM” của Nguyễn Văn Thái năm 2011.

Đề tài “Nghiên cứu đánh giá thể chất của sinh viên trường Đại học Ngân Hàng TP

HCM” của Trần Thị Cảng năm 2011.

Từ những công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học đã công bố, cộng với việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra quyết định số 53 ngày 18/09/2008 về việc

Trang 28

ban hành tiêu chuẩn đánh giá xếp loại thể lực học sinh – sinh viên cụ thể với 6 chỉ tiêu đánh giá như sau: lực bóp tay thuận (kg), nằm ngữa gập bụng 30 giây (lần/giây), bật xa tại chỗ (cm), chạy 30m XPC (giây), chạy con thoi 4 x 10m (giây), chạy 5 phút tùy sức (m) Bên cạnh đó, chương trình GDTC được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trước đó theo quyết định số 203/QĐ-TDTT ngày 23/01/1989 đã mở ra cho các trường có thể tự lựa chọn, xây dựng chương trình

và đưa vào giảng dạy môn học tự chọn phù hợp với điều kiện, cơ sở vật chất, sân bãi, phòng tập, khả năng giảng dạy, huấn luyện của đội ngũ giáo viên TDTT

1.6 Đặc điểm tâm sinh lý và phát triển các tố chất thể lực của học sinh trung học phổ thông

1.6.1 Đặc điểm sinh lý

Cơ thể con người từ lúc sinh ra đến khoảng 25 tuổi phát triển theo hướng đi lên, sau

đó chậm dần và suy giảm theo quy luật sinh học Từ đó sự thích nghi của các hệ thống cơquan quan trọng trong cơ thể con người đối với những điều kiện sống mới và thay đổi của môitrường cũng trở nên khó khăn Ở lứa tuổi này, về cơ bản các cơ quan và hệ thống trọng nhấtcủa cơ thể ngừng phát triển theo chiều cao vì bộ xương đã được xương hóa, nhưng lại pháttriển mạnh theo chiều ngang và tăng trọng lượng cơ thể Nếu được tập luyện thể dục thể thaothường xuyên thì mức độ linh hoạt của các khớp xương có thể thay đổi Song khả năng giảiphẩu sinh lý của khớp phải là yếu tố quyết định khi lựa chọn động tác trong tập luyện TDTT

Ở lứa tuổi THPT, cơ bắp bắt đầu phát triển tạo điều kiện thuận lợi để tập luyện pháttriển sức mạnh và sức bền Cơ thể con người có năng lực hoạt động cao Tập luyện TDTT có

hệ thống, khoa học sẽ làm tăng lực co cơ chính là nhờ tăng số lượng và tiết diện ngang cũngnhư tăng dần độ đàn hồi của cơ

 Hệ thần kinhCác tổ chức thần kinh tiếp tục phát triển chậm để đi đến hoàn thiện, khả năng tư duyphân tích tổng hợp, trừu tượng hóa phát triển thuận lợi cho sự hình thành phản xạ có điềukiện Tuy nhiên, tổng khối lượng của vỏ nảo không tăng mấy, chủ yếu cấu tạo bên trong vỏnảo phức tạp hơn Chức năng của hệ thống hệ thần kinh trung ương thể hiện ở 3 đặc trưng chủyếu của quá trình thần kinh mà Pap – Lốp đã chỉ ra: cường độ hưng phấn và ức chế, tính cânbằng của quá trình hưng phấn và ức chế, tính linh hoạt chuyển đổi giữa hai quá trình trên.Thời gian phản xạ là chỉ tiêu thăm dò đặc tính kết cấu và chức năng phản xạ vận động Nó

Trang 29

gián tiếp phản ánh loại hình thần kinh, trực tiếp phản ánh trạng thái tức thời và khả năng điềukhiển của vỏ não đối với cơ quan vận động của con người.

 Hệ vận độngXương: Bắt đầu giảm tốc độ phát triển, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay đãkết thành xương nên có thể tập luyện các bài tập nặng Xương chậu của nữ to và yếu hơnnam, bị chấn động mạnh dể ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong khung chậu như dạ con,buồng trứng Vì thế không để cho các em nữ tập luyện có khối lượng và cường độ lớn nhưnam Phần sụn ở đầu xương dần được xương hóa, cột sống ổn định hình dáng Nhưng xươngthường xuyên chịu những tác động cơ học lớn thì giàu chất vô cơ, vì thế xương đùi dài, nhất

là xương chày cứng rắn hơn xương cánh tay Chiều cao cơ thể con người phụ thuộc vào yếu

tố di truyền, vì thế trong công tác tuyển chọn tài năng thể thao, chúng ta không bỏ qua yếu tốquan trọng này

Cơ: Đặc điểm cơ bắp ở lứa tuổi này là cơ co vẫn còn tương đối yếu, các bắp cơ lớnphát triển tương đối nhanh (như cơ đùi, cơ cánh tay), còn các cơ nhỏ như cơ bàn tay, ngón tay,các cơ xoay ngoài, xoay trong phát triển chậm hơn Đặc biệt các tổ chức mỡ dưới da các emgái phát triển mạnh, do đó phần nào ảnh hưởng đến sức mạnh cơ thể

 Hệ tuần hoànMạch đập: Hệ tuần hoàn đang phát triển và hoàn thiện Tim nam đập mỗi phút 70- 80lần, của nữ 75 – 80 lần, cung cấp số lượng máu gần tương đương với lứa tuổi trưởng thành.Mạch đập được tạo nên hoạt động của tim Chỉ số mạch lúc yên tĩnh sẽ thay đổi nhiều dướitác động của tập luyện TDTT Bắt mạch là phương pháp đơn giản, dễ làm và cho ra thông tinđáng tin cậy về tình trạng chức năng của hệ tuần hoàn, để đánh giá chức năng của cơ thể conngười trong cuộc sống cũng như trong hoạt động TDTT

Huyết áp: Là áp lực máu đè lên thành mạch được tạo nên do hoạt động của tim Vì cótrở lực của các mao mạch cho nên trong động mạch huyết áp tăng lên trong thời gian tâm thu

và đạt mức cao nhất ở cuối thời gian tâm thu Đó là huyết áp tối đa tương ứng với thời giantâm thu Nó phụ thuộc vào các yếu tố: sự co bóp của tim, trở lực mạch máu ngoại biên lớnnên huyết áp trong thời gian tâm trương vẫn còn ở mức nhất định Đó là huyết áp tối thiểu và

nó phụ thuộc vào huyết áp tối đa, trợ lực của mạch ngoại biên và tính đàn hồi của thành độngmạch Bình thường huyết áp tối đa từ 100 – 130 mmHg; dưới 100mmHg là huyết áp thấp, trên130mmHg là huyết áp cao Huyết áp bình thường phụ thuộc vào lứa tuổi và giới tính Chỉ sốhuyết áp là chỉ số tương đối ổn định, trong tập luyện TDTT huyết áp ít thay đổi

 Hệ hô hấp

Trang 30

Tần số thở giống như người lớn khoảng 10 – 20 lần/phút Tuy nhiên, các cơ thể vẫncòn yếu, sức co giãn của lòng ngực ít Chú ý rèn luyện để cho các cơ ngực, cơ lườn phát triển,nên tập hít thở sâu Xác định khả năng tối đa của độ sâu hô hấp, nó là các chỉ số quan trọng vềkhả năng hoạt động của bộ máy hô hấp Dung tích sống phụ thuộc vào dung tích chung củaphổi và sức mạnh của các cơ hô hấp, vào lực cản của lồng ngực và phổi khi chúng co giãn.Dung tích sống của phổi bao gồm: thể tích hô hấp, thể tích khí hít vào bổ sung và thể tích dựtrữ thở ra Dung tích sống của mỗi người rất khác nhau và phụ thuộc vào kích thước cơ thể,giới tính và lứa tuổi Ở Việt Nam dung tích sống trung bình của lứa tuổi 20 – 25 nam là3500ml và nữ là 2600ml Để xác định dung tích sống, người ta sử dụng phế dung kế Trongthực tiễn hoạt động TDTT để xác định dung tích sống của phổi, người ta sử dụng testRozeufall Trong hoạt động TDTT lượng thông khí phổi tăng dần lên phụ thuộc và công suấthoạt động Hoạt động với công suất thấp, thông khí phổi tăng lên chủ yếu là do tăng khí lưuthông Hoạt động với công suất tăng dần thì tần số hô hấp tăng song song với thông khí phổi,khí lưu thông tăng lên gần tới giới hạn của dung tích sống Như vậy để có lượng khí lưu thôngtăng cao, sự tham gia của các cơ hô hấp là yếu tố quan trọng.

 Chỉ số công năng timChỉ số công năng tim thể hiện sự phản ứng của hệ tim mạch và đặc biệt là tim đối vớilượng vận động nhất định Lượng vận động này được thực hiện quy trình như nhau với mọingười Thử nghiệm đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi các phương tiện kỹ thuật hiện đại vàphương pháp đánh giá rất cụ thể, cho ta lượng thông tin chính xác đáng tin cậy, phù hợp vớiđiều kiện nước ta hiện nay

1.6.2 Đặc điểm tâm lý

Về mặt tâm lý, các em muốn tỏ ra mình là người lớn, muốn được mọi người tôn trọngmình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp hơn, muốn hiểunhiều, biết rộng, ưa hoạt động, có nhiều hoài bảo nhưng cũng còn nhiều nhược điểm, thiếukinh nghiệm trong cuộc sống Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn pháttriển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính

từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:

+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên     + Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát

Trang 31

triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi Chính vì vậy mà các nhà tâm lý học Macxit cho rằng: Khi nghiên cứu tuổi thanh niên thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi Do sự phát triển của xã hội nên sự phát triển của trẻ em ngày càng có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn so với các thế hệ trước, nên tuổi dậy thì bắt đầu và kết thúc sớm hơn khoảng

2 năm Vì vậy, tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn Nhưng việc phát triển tâm

lý của tuổi thanh niên không chỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là

do điều kiện xã hội (vị trí của thanh niên trong xã hội; khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt nhân tố khác) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi Trong thời đại ngày nay, hoạt động lao động và xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em kéo dài làm cho sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm Do đó có sự kéo dài của thời kì tuổi thanh niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này các em được coi

là người lớn, nhưng mặt khác thì lại không) Điều đó cho ta thấy rằng thanh niên

là một hiện tượng tâm lý xã hội.

1.7 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển các tố chất thể lực

1.7.1 Nhân tố di truyền

Có những chỉ tiêu tố chất thể lực ảnh hưởng bởi di truyền có tỷ lệ rất cao Ví dụ: sứcmạnh bột phát có tỷ lệ di truyền 75- 80%, sức bền ưa khí 76- 78%, sức bền yếm khí 78 –81%

1.7.2 Nhân tố huấn luyện

Theo các nhà khoa học thì tất cả các tố chất thể lực đều có thể phát triển thông quahuấn luyện một cách khoa học và hợp lý, nhưng ngược lại có thể hạn chế phát triển hoặc pháttriển theo chiều hướng sai lệch nếu là sự huấn luyện thiếu tính khoa học, hợp lý

1.7.3 Lứa tuổi và giới tính

Trang 32

Thực tiễn thể thao cho thấy, tố chất thể lực phát triển tăng dần từ lứa tuổi sơ sinh đếnkhoảng 40 tuổi, sau đó giảm dần Song các tố chất lại phát triển theo quy luật riêng của nó, đó

là quy luật phát triển không đồng đều giữa các tố chất, quy luật phát triển có tính thời kỳ cùacác tố chất Ví dụ: tố chất tốc độ (tốc độ phản xạ, tốc độ động tác đơn) phát triển nhanh nhất ởlứa tuổi 9 – 11 Sức mạnh phát triển nhanh nhất ở thời kỳ 16 – 18 tuổi, Ngoài ra sự pháttriển các tố chất thể lực giữa nam và nữ cũng khác nhau, nam phát triển các tố chất thể lựcmuộn hơn nữ, tố chất sức mạnh của nam phát triển hơn nữ,…

1.7.4 Chế độ dinh dưỡng

Khi vận động có tính chất khác nhau sẽ tiêu hao năng lượng và dinh dưỡng khác nhau,làm cho cơ thể mất cân bằng nội môi Nếu không được bổ sung đầy đủ và kịp thời có thể ảnhhưởng lớn tới sự phát triển của các tố chất thể lực Ví dụ: khi vận động sức bền ưa khí nhưchạy dài nếu không được bổ sung đường và vitamin sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi, làm giảmnăng lực sức bền của người tập

1.7.5 Môi trường và vị trí địa lý

Nhiệt độ, áp suất, từ trường trái đất, độ loãng của không khí, Là những yếu tố ảnhhưởng đến sự phát triển và phát huy của các tố chất thể lực Các nhà khoa học đã chứng minh:khi nhiệt độ tăng ở mức độ nhất định (khoảng 300C - 350C) thì tố chất sức mạnh phát huy tốtnhất Song nhiệt độ quá cao (trên 400C) thì tố chất sức bền sẽ giảm thấp, nhiệt độ quá lạnh(dưới 100C) tố chất mềm dẻo cũng giảm nhiều, Mặt khác, nếu vị trí có độ cao từ 2.000m trởlên, do không khí loãng, phân áp oxy giảm sẽ làm cho sức bền giảm thấp,

Trang 33

CHƯƠNG 2PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU2.1 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài trong quá nghiên cứu đề tài sẽ sửdụng các phương pháp sau:

2.1.1 Phương pháp tham khảo tài liệu

Đọc và tham khảo các sách, tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ khi chọn đềtài, xây dựng đề cương, tiến hành nghiên cứu, chuẩn bị dự thảo đến báo cáo kết quả Phươngpháp này giúp tôi hệ thống hóa các kiến thức có liên quan đến nội dung nghiên cứu, hìnhthành cơ sở lý luận, xác định mục đích, mục tiêu nghiên cứu, xây dựng tổng quan, xử lý vàphân tích kết quả nghiên cứu của đề tài

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn

Dùng phiếu để phỏng vấn các chuyên gia trong và ngoài nhà trường về các vấn đề cóliên quan đến nội dung nghiên cứu, về chương trình chính khóa, về việc tăng thời lượng mônthể thao tự chọn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất và phát triển thểchất cho học sinh

2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm

Để tiến hành lấy số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, tôi sử dụng các test đánh giátrình độ thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành gồm:

- Chạy 30 m xuất phát cao (giây)

1 Yêu cầu dụng cụ: Thảm cao su giảm chấn, kích thước 1 x 3 m

(nếu không có thảm có thể thực hiện trên nền đất, cát mềm) Đặt một thước đo dài làm bằng thanh hợp kim hoặc bằng gỗ kích thước 3 x 0,3m trên mặt phẳng nằm ngang và ghim chặt xuống thảm (nền đất, cát mềm), tránh xê dịch trong quá trình kiểm tra.

Trang 34

2 Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng hai chân

mở rộng tự nhiên, ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn; khi bật nhảy và khi tiếp đất, hai chân tiến hành cùng lúc Thực hiện hai lần nhảy.

3 Cách tính thành tích: Kết quả đo được tính bằng độ dài từ vạch

xuất phát đến vệt cuối cùng của gót bàn chân (vạch dấu chân trên thảm) Lấy kết quả lần cao nhất Đơn vị tính là cm Nếu động tác tiếp đất sai yêu cầu học sinh thực hiện lại.

- Bóp lực kế tay thuận (kg)

1 Yêu cầu dụng cụ: Lực kế

2 Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng hai chân

bằng vai, tay thuận cầm lực kế hướng vào lòng bàn tay Không được bóp giật cục và có các động tác trợ giúp khác Thực hiện hai lần, nghỉ 15 giây giữa hai lần thực hiện.

3 Cách tính thành tích: Lấy kết quả lần cao nhất, chính xác đến

0,1kg

- Chạy 30m xuất phát cao (s)

1 Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đồng hồ bấm giây; đường chạy thẳng

có chiều dài ít nhất 40m, chiều rộng ít nhất 2m Kẻ vạch xuất phát và vạch đích, đặt cọc tiêu bằng nhựa hoặc bằng cờ hiệu ở hai đầu đường chạy Sau đích có khoảng trống ít nhất 10m để giảm tốc độ sau khi về đích.

2 Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao.

Trang 35

1 Yêu cầu dụng cụ: Thiết bị đo gồm bục kiểm tra, thước đo hình chữ T có chia thang

độ (cm) Từ điểm 0 chia về hai đầu thước, một đầu từ điểm 0 xuống 30 cm là chiều dương,một đầu từ điểm 0 lên trên 30 cm là chiều âm

2 Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra đứng trên bục, hai chân ép sát,

ngón tay duỗi thẳng, lòng bàn tay úp, cúi người từ từ, gối không được co Khi đã cố gắng cúingười hết mức đầu ngón tay giữa dừng ở đâu thì đó là kết quả kiểm tra của độ dẻo Thực hiện

2 lần lấy lần cao nhất

3.Cách tính thành tích: Lấy chính xác đến cm, kết quả dương là độ dẻo tốt.

- Chạy con thoi 4x10m (s)

1 Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đồng hồ bấm giờ, đường chạy có kích thước

10 x 1.2m, bốn góc có vật chuẩn để quay đầu Đường chạy bằng phẳng bảo đảm

an toàn Hai đầu đường chạy có khoảng trống 2m Dụng cụ gồm đồng hồ bấm giây, thước dây dài 20m, bốn vật chuẩn đánh dấu bốn góc.

2 Yêu cầu kỹ thuật động tác: Đối tượng kiểm tra thực hiện theo khẩu lệnh

“vào chỗ – sẵn sàng – chạy” giống như thao tác đã trình bày trong chạy 30m xuất phát cao Khi chạy đến vạch 10m, chỉ cần một chân chạm vạch, nhanh chóng quay thân vòng về vạch xuất phát đến khi một chân chạm vạch thì lại quay, thực hiện lặp lại đến hết quãng đường, tổng số 2 vòng với 3 lần quay.

3.Cách tính thành tích: Thời gian tính bằng giây (s) và số lẻ từng

1/100giây.

- Nằm ngửa gập bụng 30 giây tính số lần (lần)

1 Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đồng hồ bấm giờ.

2 Yêu cầu kỹ thuật động tác: Đối tượng kiểm tra nằm ngửa, hai tay sau

gáy nâng đầu và thân người lên khi có hiệu lệnh thực hiện trong 30 giây, một học sinh giữ chân và đếm số lần thực hiện.

3.Cách tính thành tích: Mỗi lần nâng đầu và thân lên 900 so với chân tính

01 lần.

- Chạy 5 phút tùy sức (m)

1 Yêu cầu sân bãi, dụng cụ: Đường chạy dài ít nhất 52m, rộng ít nhất 2m, hai đầu kẻ

hai đường giới hạn, phía ngoài hai đầu giới hạn có khoảng trống ít nhất 1m để chạy quayvòng Giữa hai đầu đường chạy (tim đường) đặt vật chuẩn để quay vòng Trên đoạn 50m đánh

Trang 36

dấu từng đoạn 5m để xác định phần lẻ quãng đường (± 5m) sau khi hết thời gian chạy Thiết

bị đo gồm có đồng hồ bấm dây, số đeo và tích - kê ghi số ứng với mỗi số đeo

2 Yêu cầu kỹ thuật động tác: Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao (tay

cầm một tích – kê tương ứng với số đeo ở ngực) Khi chạy hết đoạn đường 50m, vòng (bêntrái) qua vật chuẩn và chạy lặp lại trong thời gian 5 phút Khi hết giờ, người được kiểm tra lậptức thả tích - kê của mình xuống ngay nơi chân tiếp đất Thực hiện một lần

3 Cách tính thành tích: Đơn vị đo quãng đường chạy được là mét.

2.1.4 Phương pháp nhân trắc

Phương pháp nhân trắc hay còn gọi là phương pháp đo kích thước

cơ thể trên người sống (nomatomotric), sử dụng phương pháp này để đánh giá

sự phát triển cơ thể con người Mục đích của phương pháp này nhằm đánh giá mối liên quan và sự phụ thuộc của thành tích thể thao với cấu trúc giải phẫu của

cơ thể Dựa trên cơ sở các chỉ tiêu về hình thái và chức năng sẽ cho phép đánh giá được mức độ phát triển thể lực và khả năng thích ứng của cơ thể người tập trong tập luyện

- Chiều cao đứng (cm)

Là chiều cao cơ thể đo từ mặt đất đến đỉnh đầu của đối tuợng kiểm tra Chiều cao đứng là một trong những kích thước thông thường hay sử dụng trong các công trình điều tra cơ bản về hình thái, thể lực.

Mục đích: Đánh giá tầm vóc, trạng thái thể lực của người được đo Dụng cụ: Thước đo chiều cao y tế chính xác cm.

Cách thực hiện: Đối tượng được kiểm tra ở tư thế đứng nghiêm

(chân đất) làm sao cho 4 điểm phía sau chạm vào thước đó là : chẩm, lưng, mông và gót chân Đuôi mắt và ống tai ngoài nằm trên một đường ngang Người

đo dứng bên phải đối tượng được đo, đặt ê-ke chạm đỉnh đầu, sau khi đối tượng được đo bước ra ngoài thước, đọc kết quả, ghi giá trị đo được với đơn vị tính là

cm

Trang 37

- Cân nặng (kg)

Test này dùng để xác định trọng lượng cơ thể Là trọng lượng của mỗi người được cân chính xác đến 0,1kg Trọng lượng có độ di truyền thấp 68% đối với nam và 42% đối với nữ Trong độ tuổi trưởng thành (từ 1 đến 20 tuổi) trọng lượng có thể phản ánh trình độ phát triển thể lực của mỗi người.

Mục đích: Đánh giá mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thụ và tiêu hao

năng lượng.

Dụng cụ: Cân bàn.

Cách thực hiện: Dùng cân bàn chính xác 0,1kg, đối tượng kiểm tra

mặc quần áo mỏng, chân đất, ngồi trên ghế, đặt hai bàn chân lên mặt cân, rồi đứng thẳng lên Người kiểm tra đọc kết quả, đơn vị tính kg.

- Chỉ số BMI

Để giữ cho cân nặng tương ứng với chiều cao, tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa racông thức tính chỉ số khối cơ thể Nếu gọi W là cân nặng, tính bằng kilôgam (kg) và H làchiều cao đứng tính bằng mét (m) thì trung bình cân nặng sẽ theo công thức sau :

H

W BMI 

Đánh giá:

Bình thường: 19 – 24.9 ( nữ)

Bình thường: 18.5 – 23.8 ( nam)

Đối với các bạn trẻ chỉ số BMI lý tưởng nhất là 18.5 – 20

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu của đề tài sẽ giúp tôi đánh giáhiệu quả của việc tăng thời lượng môn thể thao tự chọn đối với việc phát triển thể chất củahọc sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre Quá trình nghiên cứu, đề tài dựkiến sẽ tiến hành sử dụng thực nghiệm theo hình thức so sánh song song

Tiến hành thực nghiệm trên hai nhóm:

Trang 38

- Nhóm thực nghiệm (A): 100 học sinh (50 nam, 50 nữ), sẽ cho học tập chương trìnhgiáo dục thể chất theo hướng tăng thời lượng môn thể thao tự chọn nhưng vẫn đảm bảo đủ nộidung chương trình theo quy định nhằm nâng cao thể lực.

- Nhóm đối chứng (B): 106 học sinh (48 nam, 58 nữ), sẽ cho học tập chương trình giáodục thể chất hiện hành Nội dung, thời lượng đúng theo quy định và kế hoạch dạy học do tổThể dục của nhà trường xây dựng

2.1.6 Phương pháp thống kê toán

Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu sẽ được xử lý thông qua phươngpháp toán thống kê cùng với sự hỗ trợ của phầm mềm Excel đề tài sẽ dùng một số công thức

Trang 39

t05 : giá trị giới hạn chỉ số t – student ứng với xác suất P = 0.05

- Chỉ số t – student (Dùng cho 2 mẫu độc lập):

Trang 40

Trong đó:

: giá trị trung bình mẫu.

: giá trị trung bình lý thuyết.

V1 : mức ban đầu của chỉ tiêu

V2 : mức cuối cùng của chỉ tiêu

2.2 Tổ chức nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình giảng dạy thể dục khi tăng thời lượng môn thểthao tự chọn cho học sinh lớp 11 Trường trung học phổ thông Chuyên Bến Tre

Ngày đăng: 25/03/2023, 15:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w