THI KẾT THÚC MÔN Niên Khóa 2018 2019 TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG THẦN HỌC PHAO LÔ NGUYỄN VĂN BÌNH Đc 43 Nguyễn Thông, phường 7, Quận 3, Tp HCM Môn LUÂN LÝ ĐIỀU RĂN Giáo sư Lm Anphong PHẠM GIA THỤY, C Ss R Họ[.]
Trang 1Đề tài:
SO SÁNH NIỀM HY VỌNG CỦA NGƯỜI KI-TÔ HỮU VÀ NIỀM
HY VỌNG CỦA PHẬT GIÁO.
THI KẾT THÚC MÔN Niên Khóa: 2018 - 2019
TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG THẦN HỌC
PHAO LÔ NGUYỄN VĂN BÌNH
Đc: 43 Nguyễn Thông, phường 7, Quận 3, Tp HCM
Môn : LUÂN LÝ ĐIỀU RĂN Giáo sư: Lm Anphong PHẠM GIA THỤY, C.Ss.R
Họ và tên: Louis Lê Tuấn Phước Tâm
Lớp: Thần 2
Số báo danh: 52
Hội Dòng: Vinh Sơn
Trang 2I HY VỌNG CỦA KI-TÔ HỮU
Sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng Nguyên Tổ của nhân loại được dựng nên tốt lành, theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26-27) Tuy nhiên, Nguyên Tổ đã bất tuân phục, lạm dụng tự do, và hậu quả là con người đã trở nên tội lỗi Sách Sáng Thế cũng cho biết rằng sau khi Nguyên Tổ phạm tội, Thiên Chúa đã ban lời hứa cứu độ là hy vọng cho toàn thể nhân loại (St 3,15) Lời hứa cứu độ của Thiên Chúa không chỉ phục hồi con người theo hình ảnh Thiên Chúa mà còn cho họ trở nên con cái Thiên Chúa (Ga 1,12)
Hy vọng của toàn thể nhân loại trở nên hiện thực nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta Chính Người là điểm đến cho hy vọng của toàn thể nhân loại, cách cụ thể hơn, hy vọng của Cựu Ước và khởi đầu cho hy vọng mới, hy vọng Tân Ước Cuộc đời của Đức Giêsu, từ nhập thể cho đến sống lại là minh chứng cho hy vọng mà Thiên Chúa đã hứa trong Sách Sáng Thế cũng như được quảng diễn trong lịch sử Cựu Ước của Dân Do Thái
Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, cao điểm của hành trình trần thế, Đức Giêsu cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha rằng “lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở
đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa" (Ga 17,24-26) Đức Giêsu cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa các môn đệ với Người, như Người hằng hiệp nhất với Đức Chúa Cha Lời cầu nguyện của Đức Giêsu cũng là hy vọng của Người đối với các môn đệ mình và tất cả mọi người trong gia đình nhân loại Hy vọng của Đức Giêsu tiếp tục được chuyển tải nhờ Giáo Hội, bí tích của Người giữa lòng thế giới
1/ Đặc Điểm và Tính Phổ Quát của Hy Vọng của Ki-tô Hữu
Để có một định nghĩa chính xác, ngắn gọn, và súc tích về hy vọng dường như nằm ngoài tầm khái quát của bất cứ người nào1 Xem ra chúng ta nhận thức về tình yêu cũng như niềm tin cách dễ dàng hơn là hy vọng bởi vì tình yêu đúng nghĩa luôn ở thì hiện tại và con người có thể cảm nghiệm được Chúng ta cũng có thể nói như vậy đối với niềm tin, có nghĩa rằng niềm tin có thể cảm nhận, có thể phân định dễ dàng hơn nhờ lý trí lành mạnh Đối với hy vọng thì không nhất thiết phải như vậy, hy vọng luôn kèm theo ‘những gì đó’ mạo hiểm và đòi hỏi nhiều hy vọng, nhiều kiên nhẫn hơn Tình yêu, niềm tin, và hy vọng đi cùng nhau và định nghĩa nhau, trong đó, hy vọng có thể xem là trung gian giữa tình yêu và niềm tin Trong một số hoàn cảnh, niềm tin và hy vọng có thể ‘đổi chỗ cho nhau’, chẳng hạn, nói rằng ‘tôi tin tưởng vào Thiên Chúa’ cũng không khác lắm với nói rằng ‘tôi hi vọng vào Thiên Chúa’2
Sự khó khăn của việc định nghĩa hy vọng phần vì tính phổ quát của hy vọng trong xã hội loài người, phần vì sự đa dạng về hình thức của hy vọng nơi mỗi người trong những hoàn cảnh cụ thể Do đó, thay vì định nghĩa hy vọng, người ta thường mô tả hy vọng dựa trên kinh nghiệm sống của mình3
Chúng ta biết rằng đã là người ai cũng hy vọng, cho dù đó là hy vọng hão huyền, chẳng hạn, người giàu hy vọng được giàu thêm, người nghèo hy vọng sẽ đến lúc giàu có Người khỏe mạnh hy vọng sức khỏe của mình được kéo dài, người đau ốm hy vọng được khỏe mạnh trở lại Kẻ sắp chết
hy vọng được nhiều người tưởng nhớ Không có hy vọng, cuộc sống con người trở nên nhàm chán,
vô nghĩa, không lối thoát Hơn nữa, không có hy vọng, con người có thể suy nghĩ và hành động theo những cách thức tiêu cực nhất, có thể phương hại nghiêm trọng cho bản thân cũng như anh em đồng loại Hy vọng không còn là một chọn lựa giữa các chọn lựa khác trong cuộc sống con người mà là
Trang 3yếu tố có tính quyết định vận mệnh con người Hy vọng chi phối con người từ cách suy nghĩ, cách hành xử, cách thiết lập các tương quan, đến cách định vị đời sống mình trong môi trường trần thế
Hy vọng thuộc bản tính con người Dù ý thức hay vô thức, từ khi hình thành trong lòng mẹ tới lúc lìa đời, hy vọng luôn hiện diện trong mọi biến cố của mỗi người Chẳng hạn, bản tính hy vọng nằm sâu trong tiềm thức của đứa trẻ và chi phối các hoạt động đứa trẻ, cho dù đứa trẻ chưa ý thức đủ về mình cũng như những tương quan khác trong môi trường xung quanh Hy vọng làm trung gian giữa thế giới hiện tại và thế giới mai ngày Tương lai của con người được bắt đầu ở hiện tại và hy vọng chính là động lực căn bản giúp con người làm được điều đó Nói cách khác, ai hy vọng, người đó có tương lai và ai mang hy vọng gieo rắc, người đó sẽ thu lượm hoa thơm trái ngọt Không có hy vọng cũng đồng nghĩa với không có tương lai Hy vọng cho phép con người được ngẩng đầu lên khi bị ngã gục bởi sức nặng tâm hồn, thể xác, bởi bấp bênh của thế sự Hy vọng làm cho con người luôn cảm thấy nhu cầu phải đi ra, phải gặp gỡ, phải thiết lập các mối tương quan mới để có thể thay thế hoặc siêu thăng các mối tương quan hiện tại Ai hy vọng thì không cô đơn, ai hy vọng thì không phải sống cô độc!
Hy vọng không chỉ tồn tại trong đời sống cá nhân mà còn trong đời sống tập thể nữa với nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn, kinh nghiệm về hy vọng của gia đình, của dòng tộc, của cộng đoàn, của quốc gia, của toàn thể nhân loại Hy vọng hiện diện trong các môi trường tôn giáo, văn hóa, xã hội, chính trị Hy vọng vừa chi phối, vừa định dạng các hình thức tập thể này Chẳng hạn, hy vọng đóng vai trò quyết định trong việc hình thành, phát triển, và hoạt động của một thể chế Hy vọng đúng đắn, sẽ cho phép thể chế này được hình thành đúng tầm mức, tồn tại lâu dài, và hoạt động hiệu quả nhằm đem lại lợi ích cho những người trong đó, bằng không, thể chế này trở thành rào cản cho
sự phát triển con người toàn diện
Hy vọng vừa là căn bệnh kinh niên của tất cả mọi người, đồng thời cũng là liều thuốc bổ cho chính họ Hy vọng là căn bệnh kinh niên theo nghĩa rằng không có hy vọng nào lại miễn nhiễm tất cả các hình thức đau khổ và hao tổn về thể chất lẫn tinh thần Hy vọng càng nhiều, càng lâu thì đau khổ
và hao tổn càng lớn, càng kéo dài Hy vọng là liều thuốc bổ theo nghĩa rằng hy vọng là điều còn lại sau khi con người đã lao nhọc, đã vật lộn, đã cố gắng hết sức để giải quyết vấn đề mà không thể nào giải quyết được Hy vọng là điều còn lại sau khi con người đã mất tất cả những gì mình mơ tưởng, mình sở hữu hay muốn sở hữu mà không thể đạt được4
Người ta có thể giam hãm ai đó, chứ không giam hãm được hy vọng của họ Người ta có thể giết chết người, chứ không thể giết chết hy vọng của người đó Hy vọng của con người là hy vọng sống Bao lâu con người còn hy vọng, bấy lâu con người còn sống, hay ngược lại, bao lâu con người còn sống, bấy lâu con người còn hi vọng Chúng ta có thể nói rằng người đang sống mà không hy vọng thì như người đang chết và người đang chết mà hy vọng thì như người đang sống vậy Hy vọng
là vốn quí nhất của con người trong cuộc sống Tác giả Sách Giảng Viên nói rằng “những ai còn sống trong cõi dương gian mới có hy vọng mà thôi, vì con chó sống thì hơn con sư tử chết” (Gv 9,4)
Hy vọng là chỗ dựa an toàn cho những gì bất cập hay vượt tầm kiểm soát của con người Chẳng hạn, một chiếc thuyền tắt máy giữa phong ba bão táp Hy vọng của những người trên thuyền là có ai đó cứu hộ hoặc tìm được một hoang đảo nào đó để có thể trú ngụ, để có thể kéo dài cuộc sống mong manh giữa biển khơi dậy sóng Nhờ đó, họ có thể tiếp tục cuộc hành trình với nhiều hứa hẹn khác
Hy vọng luôn được thể hiện như một lộ trình vươn xa, như một dự án dang dở, như một viễn cảnh
đa màu trong đời sống mỗi người Hy vọng là con đường còn lại sau khi các con đường khác đã bế tắc Quả vậy, con người bị giới hạn bởi không gian, thời gian, sức khỏe, môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa, môi trường xã hội, và các yếu tố khác Tâm hồn con người luôn khao khát và khắc khoải những gì tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn, bình an hơn, hòa hợp hơn Tuy nhiên, thực tế lắm lúc phũ phàng, không chỉ ngăn cản con người đạt được điều mình hy vọng mà còn làm cho những gì
Trang 4mình đang có bị biến dạng, thậm chí vượt khỏi tầm tay của mình Trong những hoàn cảnh như vậy, con đường cuối cùng chính là con đường hy vọng, con đường mở ra những khả thể thay đổi tình thế hiện tại5
Hy vọng luôn luôn đi đôi với những thách đố trong cuộc sống Không có những thách đố thì hy vọng kém phần giá trị Chính những thách đố làm cho hy vọng được mạnh mẽ hơn và gột rửa hi vọng nên tinh tuyền hơn Hy vọng luôn ẩn chứa tình yêu, trung tín, hi sinh, tin tưởng, khao khát những gì tốt đẹp ló rạng Hơn thế nữa, chính hy vọng là nguồn cảm hứng cho những phát minh, sáng tạo, đổi mới không ngừng nghỉ của con người qua mọi thời và khắp mọi nơi6 Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy rằng những phát minh sáng tạo đột biến trong lịch sử đều phát xuất từ những con người có hy vọng, hoài bão lớn lao cho gia đình nhân loại
Chúng ta có thể nói rằng hy vọng với trương độ chỉ vươn tới sự chết và kết thúc tại đó quả thật là
‘hy vọng khốn khổ nhất’, nói đúng hơn, đó là thất vọng lớn nhất mà con người ai cũng muốn trì hoãn hay tránh càng xa càng tốt Hy vọng vượt qua vực thẳm sự chết được xem là hy vọng lớn lao nhất của con người Các hình thức hy vọng khác có thể được xem là dẫn xuất của hy vọng này Chẳng hạn, hy vọng được khỏi bệnh tật hay được sống lâu là dẫn xuất điển hình của hy vọng trường sinh bất tử hay hy vọng vượt qua vực thẳm sự chết Khi con người đặt những câu hỏi, chẳng hạn, ‘vũ trụ
từ đâu mà có?’, ‘vũ trụ sẽ ra sao trong tương lai?’, ‘con người từ đâu đến?’, ‘con người đi đâu?’ cũng
là khi trong lòng con người trào dâng hy vọng về hừng đông tươi mới của chính mình, của anh em đồng loại, và của thế giới thụ tạo
Trong cuộc sống, không phải tất cả hy vọng đều giống nhau, mà có trật tự ưu tiên của nó Những
gì càng khó đạt được thì hy vọng càng cao hơn Những gì thuộc thế giới siêu nhiên thì hy vọng càng mãnh liệt hơn Điều này đã được Platon mô tả cách tổng quát là con người luôn mơ về thế giới linh tượng, thế giới thực, thế giới hoàn hảo, thế giới không còn chết chóc hay biến đổi thất thường Như thế, hy vọng vào đời sống vĩnh cửu luôn mãnh liệt hơn hy vọng vào đời sống lâu dài trong thời gian, cho dù thời gian đó kéo dài vô tận, bởi vì, vô tận của thời gian (nếu có) cũng thuộc về môi trường thụ tạo, còn vĩnh cửu thuộc về môi trường của Thiên Chúa, vĩnh cửu siêu việt và bao trùm thời gian
Hy vọng luôn được hiểu theo nghĩa năng động, hy vọng phát xuất từ quá khứ, chi phối hiện tại, và định hướng tương lai Hy vọng đích thực luôn là một tiến trình có hướng và không bao giờ dừng lại
ở một thời điểm nào đó, bao lâu tại thời điểm đó con người chưa được sự thỏa mãn toàn diện Nói cách khác, hy vọng luôn hướng tới cánh chung, nơi sự thánh thiện, sự sống, sự thật, tình yêu trọn vẹn, nơi mà tất cả những gì con người khao khát trên trần gian được no thỏa Rõ ràng nơi đó không thuộc môi trường thụ tạo này Nơi đó thuộc về Thiên Chúa Chính thánh Augustinô đã bày tỏ kinh nghiệm hy vọng của bản thân ngài khi nói “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con luôn xao xuyến cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.”7
Hy vọng của con người không bao giờ dừng lại với những ai nhỏ hơn Thiên Chúa Những gì chưa phải là sản phẩm cuối cùng của Thiên Chúa đều chưa đáp ứng được hy vọng thẳm sâu của con người Hy vọng cho phép con người vươn cao, vươn xa tới môi trường Thiên Chúa Hy vọng cho phép con người tiếp cận mầu nhiệm sự sống, sự sống hiện tại cũng như sự sống vĩnh hằng Con người chỉ đạt được hy vọng trọn vẹn khi họ được hưởng kiến Thiên Chúa và được sống trong Người Thánh Irênê nói rằng “vinh quang Thiên Chúa là con người được sống và sự sống con người hệ tại ở việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa"8
Theo thánh Irênê, khi đó con người hoàn toàn thuộc về Chúa và ở trong Người, bởi vì khi đó, chính họ đã ở trong Nguồn và Đích của hy vọng
Ngôn ngữ hy vọng vang lên trong hầu hết các sách Kinh Thánh, từ Cựu Ước tới Tân Ước Chúng
ta có thể nói rằng ngôn ngữ Kinh Thánh là ngôn ngữ hy vọng và các ngôn ngữ khác được xem là bổ trợ cho ngôn ngữ hy vọng Nói cách khác, chủ đề quán xuyến của Bộ Kinh Thánh Cựu Ước từ Ngũ Thư, đến các Sách Lịch Sử, các Sách Thi Ca và Minh Triết, các Sách Ngôn Sứ là hy vọng Chúng ta
Trang 5dễ dàng nhận thấy ngôn ngữ hy vọng vang lên từ các ngôn sứ, từ những người cầm quyền đến những người bình dân Do Thái thời Cựu Ước
2/ Hy Vọng trong Cựu Ước
Tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại được thể hiện qua các giao ước Giao ước giữa Thiên Chúa với A-đam, với Nô-ê, với Áp-ra-ham, với Mô-sê, và với Đa-vít luôn được diễn tả trong bối cảnh hi vọng, bởi vì chúng luôn mở ra chân trời mới mẻ, tương lai xán lạn, viễn cảnh huy hoàng cho toàn thể nhân loại, đặc biệt cho Dân Do Thái Nhờ những giao ước này, trong cơn bĩ cực nhất, Dân
Do Thái biết hướng lòng về Thiên Chúa, Đấng Trung Tín, luôn thực hiện những gì Người đã hứa Sự trung tín của Thiên Chúa là hi vọng cho dân Do Thái, giúp họ có thể chịu đựng những thử thách lớn nhất trên bình diện cá nhân cũng như tập thể Chẳng hạn, trong cảnh bất an, lưu đày, hay bị quân thù
hà hiếp, Dân Do Thái không vơi lòng hy vọng vào sự vinh thắng cuối cùng của dân tộc họ
Hy vọng của Dân Do Thái vào Thiên Chúa được thể hiện cách cụ thể với Tổ Phụ của họ, Áp-ra-ham, ‘cha của những kẻ tin’, đồng thời, cũng là ‘cha của những kẻ hy vọng’ Lịch sử của Dân Do Thái là lịch sử của hy vọng vào quyền năng, lời hứa, và vào sự công minh của Thiên Chúa Chính vì
hi vọng đó, Áp-ra-ham sẵn sàng sát tế đứa con trai duy nhất của mình được sinh ra trong lúc tuổi già
Sự thử thách của Thiên Chúa chạm đến ngưỡng thất vọng nhất của con người, tuy nhiên, Áp-ra-ham
đã vượt qua được ngưỡng đó để thực thi ý định Thiên Chúa9
Dĩ nhiên, Thiên Chúa đã không để cho điều đó xảy ra, nhát dao đã không bổ xuống thân hình bé nhỏ I-xa-ác, thay vào đó là con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây (St 22,13) Sự vâng phục, niềm tin, và hy vọng của Áp-ra-ham trở thành mẫu gương cho toàn thể Dân Do Thái cùng tất cả mọi người trong lịch sử nhân loại
Sau Áp-ra-ham, một con người khác cũng được Thiên Chúa kêu gọi và gieo hi vọng cách đặc biệt
để ông dẫn dắt Dân Do Thái thoát khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, đó là Mô-sê Thiên Chúa kêu gọi Mô-sê, cho ông biết Người là Đấng Hiện Hữu, Đấng là Thiên Chúa của tổ phụ Dân Do Thái ‘Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp’, Đấng mà Dân Do Thái kêu cầu
từ đời nọ đến đời kia (Xh 3,13-15) Kinh nghiệm Xuất Hành từ Ai Cập trở về Đất Hứa là kinh nghiệm hy vọng sâu đậm đối với Dân Do Thái Dưới sự dẫn dắt của Mô-sê, Dân Do Thái đã trải qua
40 năm trong sa mạc với nhiều thử thách trong tương quan với Thiên Chúa, trong chính nội bộ dân này, và trong tương quan với các dân khác ở Palestine Cuối cùng thì hy vọng Đất Hứa đã được Thiên Chúa thực hiện, trong khi giấc mơ Ai Cập ‘ăn cá mà không phải trả tiền’ hay xứ sở có đầy
‘dưa gang, dưa bở, hẹ, hành, tỏi’ trôi vào dĩ vãng (Ds 11,4-6)
Chính Gia-vê là Đấng đã luôn tiếp sức và cho phép các chiến binh Do Thái trở thành những ‘tay
võ nghệ cao cường’ để có thể đương đầu với các chiến binh của các dân tộc khác khi họ từ Ai Cập
về Palestine Chiến thắng của Dân Do Thái, từ chiến thắng Biển Đỏ chống lại quân của Pha-ra-ô đến các chiến thắng khác trong vùng Palestine là nhờ vào ‘cánh tay của Đấng mà họ luôn đặt hi vọng’ Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ của Dân Do Thái, vị Thiên Chúa mà họ luôn hy vọng, trước hết là vị Thiên Chúa cứu họ khỏi tay địch thù, đồng thời, cũng là vị Thiên Chúa cho họ Man-na để họ có thể sống sót trong sa mạc hoang vu hiu quạnh, không sự sống (Xh 16,1-35) Não trạng này còn kéo dài tới thời Tân Ước, chẳng hạn, khi Đức Giêsu làm cho bánh hóa ra nhiều từ năm chiếc bánh lúa mạch
và hai con cá của một em bé cho hơn năm ngàn người ăn, thì dân chúng muốn tôn Người làm Vua của họ (Ga 6,1-15) Hy vọng được cứu độ, được hồi hương, được tái tạo, được cuộc sống sung túc luôn nẵm trong tâm khảm của những người Do Thái qua muôn thế hệ
Dân Do Thái hi vọng thoát khỏi tay địch thù là một trong những chủ đề quan trọng của các sách Cựu Ước ‘Cứu độ’ đối với Dân Do Thái thời Cựu Ước mang tính gia đình, bộ tộc, dân tộc, vương quốc hơn là cá nhân (Tv 130,7) Não trạng này còn vang vọng tới thời Tân Ước Chẳng hạn, liên quan đến quyết định bắt và giết Đức Giêsu, các thượng tế và Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng
Trang 6và Cai-pha đã nói rằng “các ông không hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,49-50) Chúng ta dễ dàng nhận ra tính tập thể trong hi vọng của Dân Do Thái trổi vượt so với các dân tộc khác sau khi Giê-ru-sa-lem bị phá hủy năm 70 AD và kéo dài mãi tới hôm nay
Hy vọng của Dân Do Thái trong Cựu Ước mang nhiều sắc thái khác nhau tùy theo từng thời kỳ lịch sử: Trước thời Lưu Đày, trong thời Lưu Đày, biến cố Xuất Hành, về lại Đất Hứa, thiết lập vương quốc cùng những chuyển biến không ngừng thời sau đó Ngay trong mỗi cuốn sách, chúng ta nhận thấy chủ đề hy vọng rất đa dạng, chẳng hạn, Is 1-39 so với Is 40-66 Từ thời Cựu Ước tới thời Tân Ước, hy vọng của Dân Do Thái cũng không nhất quán Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt
về hy vọng của các ngôn sứ so với hy vọng của những tầng lớp khác trong xã hội Do Thái trong những thế kỷ cuối thời Cựu Ước và những thập niên đầu của Tân Ước như: Nhóm Xa-đốc, nhóm Pha-ri-sêu, nhóm Ét-xê-nô, nhóm Sa-ma-ri, nhóm Hê-rô-đê Não trạng khác biệt giữa nhóm Xa-đốc
và nhóm Pha-ri-sêu liên quan đến sự sống lại là ví dụ điển hình (Lc 20,27-40; Mt 22,23-33; Mc 12,18-27)10
Hy vọng của truyền thống ngôn sứ Cựu Ước luôn mở ra chân trời mới, không chỉ dừng lại ở chiều kích chính trị, xã hội, sự hưng thịnh quốc gia, điều kiện vật chất hằng ngày, cơ sở thờ tự, hay sự trổi vượt các dân tộc xung quanh về mọi mặt (Gr 29,11) Sự cứu độ của Dân Do Thái không chỉ dừng lại
ở việc ‘quân thù bị đánh bại’ mà còn hướng tới sự toàn thiện và công chính của Thiên Chúa được thể hiện trong mọi chiều kích của cuộc sống (Is 51,15) Nói cách khác, hy vọng của truyền thống ngôn
sứ hướng tới thời cánh chung (dĩ nhiên, không thể hiểu theo nghĩa của Tân Ước), thời mà quyền năng của Thiên Chúa ngự trị và ơn cứu độ của Thiên Chúa được tỏ bày Chúng ta có thể tìm được nhiều trích đoạn điển hình theo nghĩa này ở sách I-sai-a và Giê-rê-mi-a (Is 4,2-3; Gr 3,23)
Trong một số hoàn cảnh, đối với Dân Do Thái, tình thương, sự cứu độ, và sự công chính của Thiên Chúa chưa được tỏ bày là vì tội lỗi của chính họ (St 4,1-16; St 18,16-33; Is 1,10-20) Sự chậm trễ của Thiên Chúa trong việc làm cho hi vọng của họ trở nên hiện thực có nguyên do từ sự bất trung, bất tín của chính họ, đặc biệt, sự xao lãng bổn phận của họ trong việc thờ phượng hay quay lưng với Thiên Chúa để hướng về phía tà thần, hay xem thường giới răn Thiên Chúa khi đối xử với người khác Do đó, việc thường xuyên thanh tẩy và chọn đời sống thánh thiện trên bình diện cá nhân cũng như các hình thức tập thể hay toàn bộ dân tộc Do Thái là điều tiên quyết để hy vọng được thực hiện theo đúng lộ trình (Xh 20,1-21; Tv 50)
Khi tìm hiểu và suy tư về chủ đề hy vọng trong Cựu Ước, chúng ta thấy rằng các Thánh Vịnh là nơi mà chủ đề hi vọng được tìm thấy nhiều nhất Những lời cầu nguyện tha thiết của Dân Do Thái,
cá nhân cũng như tập thể, biểu lộ lòng khát khao của họ đối với Thiên Chúa Đối với các tác giả Thánh Vịnh, Thiên Chúa là nền tảng, là núi đá, là Đấng bênh vực kẻ bị áp bức Người là chỗ dựa cuối cùng trong cơn tuyệt vọng, quẫn bách và là tương lai của những kẻ khốn cùng (Tv 22,1-51) Họ xác tín rằng ơn cứu độ và sự công chính của Thiên Chúa sẽ được thực hiện Sự mong muốn được giải thoát khỏi tội và bước đi trên đường thánh thiện chỉ có thể được thực hiện khi họ có Thiên Chúa
ở cùng Được Thiên Chúa bênh đỡ họ sẽ chống lại mọi địch thù, địch thù bên trong là tội lỗi của họ
và địch thù bên ngoài là những kẻ áp bức họ cách vô cớ (Tv 33,22; Tv 39,8; Tv 42,12; Tv 70,3-5; Tv 113,4-6; Tv 119,114; Tv 130,5; Tv 130,7; Tv 147,10-11)
Khi đề cập đến sự sống lại và sự sống vĩnh cửu, chúng ta nhận thấy rằng đối với Dân Do Thái thời Cựu Ước, điều quan trọng hơn là cuộc sống hiện tại Sự thưởng phạt chủ yếu xảy ra cách nhãn tiền trên bình diện cá nhân cũng như tập thể hay quốc gia, và có thể xảy ra cho các thế hệ con cháu kế tiếp (Cn 10,27-28) Não trạng này còn tồn tại đến thời Tân Ước (Ga 9,1-41) Tuy nhiên, chúng ta tìm thấy đây đó những ý niệm về sự sống sau khi chết hay sự sống lại của những người đã qua đời trong văn chương khôn ngoan và ngôn sứ Một số cá nhân được xem là được đem đi sau cuộc sống trần
Trang 7thế, chẳng hạn, Kha-nốc (St 5,21-24), Ê-li-a (2 V 10,1-17) Sa-mu-en là trường hợp khá điển hình về
sự tỏ bày của người chết đối với người sống (1 Sm 28,3-25) Nhìn chung, niềm hy vọng vào sự sống lại được diễn tả cách tiệm tiến theo dòng lịch sử, những sách cuối cùng của bộ Cựu Ước diễn tả cách
tỏ tường hơn (1 Mcb 2,61; 2 Mcb 2,18; 2 Mcb 7,11; 2 Mcb 7,13-14; 2 Mcb 12,43-45) Hy vọng vào
sự sống lại và sự sống vĩnh cửu đạt tới đỉnh điểm trong biến cố Đức Kitô (the Christ Event) của Tân Ước11
3/ Hy Vọng trong Tân Ước
Sứ mệnh của Đức Giêsu trên trần gian có thể được gọi là sứ mệnh hi vọng, sứ mệnh được Sách Sáng Thế trình bày sau khi Nguyên Tổ phạm tội cũng như các sách khác của bộ Kinh Thánh Cựu Ước đào sâu và diễn tả (St 3,15; Is 7,14; Is 61,1-2) Như đã được đề cập ở trên, hy vọng là chủ đề quán xuyến lịch sử Dân Do Thái Chủ đề này được khơi dậy bởi các tiên tri, tư tế, và các nhà lãnh đạo Dân Do Thái qua các thế hệ Hy vọng của Dân Do Thái Cựu Ước liên quan đến việc giải phóng
‘khỏi tay địch thù’ chủ yếu theo nghĩa chính trị, xã hội, và là hình bóng cho sự giải phóng đích thực,
đó là sự giải phóng khỏi tội lỗi và sự chết về mặt tâm linh Trong nhãn quan Kinh Thánh Tân Ước,
sự chết về mặt thể lý theo lẽ tự nhiên không nghiêm trọng bằng sự chết về mặt luân lý, đặc biệt sự chết vĩnh cửu, sự chết mà con người không còn mảy may chút hi vọng về sự biến đổi nào khác cho tình trạng khốn cùng của mình (Mt 25,31-46; Lc 16,19-31)12
Kinh Thánh Tân Ước cho chúng ta biết rằng Đức Giêsu không chỉ là Đấng đem hy vọng cho nhân loại, mà còn là Người Tôi Tớ Đau Khổ cho hy vọng Hơn thế nữa chính Người là Hy Vọng cho toàn thể mọi người (1 Tm 1,1) Như vậy, theo mặc khải Tân Ước, hy vọng mà toàn thể nhân loại hướng tới không phải là một ý tưởng cao siêu nào đó, một lý thuyết nào đó hay là một cái gì đó, mà chính là Đức Giêsu Hy Vọng mà nhân loại mong đợi là một Đấng, một Nhân Vị, một Con Người, Ngôi Hai Thiên Chúa từ môi trường Thiên Chúa đến với môi trường nhân loại Người giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4,15) Thánh Phêrô cũng có kinh nghiệm này khi khuyên dạy các tín hữu rằng “Đức Kitô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hi vọng của anh em” (1 Pr 3,15)13
Để duy trì và củng cố hy vọng của Dân Do Thái, bằng nhiều hình thức và đường lối khác nhau, Thiên Chúa đã thông truyền ý định của Người qua các tiên tri và các bậc lãnh đạo Do Thái (Dt 1,1-4) Khi thời gian tới thời viên mãn, Thiên Chúa đã thông truyền với Dân Do Thái và toàn thể nhân loại bằng chính Con của Người Hy vọng Đức Giêsu mang đến không loại trừ bất cứ hy vọng chân thành nào của con người trong dòng lịch sử cho dù họ là ai, thuộc chủng tộc, tôn giáo hay văn hóa nào Hy vọng Đức Giêsu mang đến là hy vọng cho phép gắn kết các hình thức hy vọng chân thành trong dòng lịch sử nhân loại Mặt khác, hy vọng Đức Giêsu mang đến cũng có tác dụng thanh luyện
và dẫn đưa những hình thức hy vọng khác về hướng sung mãn nhất Như thế, hy vọng đúng nghĩa bất kỳ dưới hình thức nào cũng tìm được chỗ đứng của mình trong hy vọng Đức Giêsu mang đến, bởi vì, xét cho cùng, những gì tốt lành, những gì thánh thiện, những gì cho phép con người sống xứng đáng hơn với nhân phẩm của mình đều phát xuất từ Thiên Chúa Do đó, không có hình thức hy vọng đúng nghĩa nào lại vắng bóng Thiên Chúa14
Hy vọng Đức Giêsu mang đến không chỉ dừng lại ở chỗ thần hóa hy vọng của con người trong tương quan với Thiên Chúa mà còn các tương quan khác nữa Chẳng hạn, hy vọng vào sự biến đổi của tất cả các thụ tạo được đặt trong bối cảnh chung với hy vọng vào sự sống lại và giải thoát của con người Thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu thêm điều này khi nói rằng“cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên
Trang 8Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa” (Rm 8,22-23) Như vậy, chúng ta không chỉ hy vọng cho sự biến đổi bản thân mình cũng như toàn thể nhân loại, mà còn
hy vọng cho sự biến đổi của những gì thuộc về Thiên Chúa trong thế giới thụ tạo hướng về sự biến đổi chung cuộc của trời mới đất mới (Kh 21,1)
Đức Giêsu cho chúng ta thấy rằng hy vọng của con người đúng nghĩa phải là hy vọng đặt nền tảng trên tình yêu15 Bao lâu hy vọng chưa đặt trên nền tảng tình yêu, bấy lâu hy vọng đó còn mù quáng, còn giả tạo, và nhiễm tính hão huyền Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là ‘tình yêu nào đây?’ Trên trần gian này ai cũng có kinh nghiệm về tình yêu, tôn giáo nào cũng nói về tình yêu, vậy, đâu là tiêu chuẩn? Chính Đức Giêsu đã đưa ra câu trả lời, đó là tình yêu hy sinh, tình yêu quên mình, tình yêu phục vụ theo cách của Đức Giêsu, cách mà Người gọi đó là ‘điều răn mới’: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34) Người còn giải thích thêm rằng “đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,12-13) Như thế, tình yêu mà Đức Giêsu nói tới là tình yêu ngang qua thập giá, tình yêu thể hiện nơi thung lũng của sự chết, nơi sa mạc khô cằn của đau khổ, nơi hy vọng con người lịm tắt, nơi mà đối với con người mọi sự trở nên vô nghĩa
Với Đức Giêsu, thập giá, dấu chỉ sự thất vọng tột cùng của con người lại trở thành hy vọng tột cùng của họ Suy tư về thập giá, chúng ta càng hiểu rõ hơn lời Thiên Chúa nói trong sách tiên tri I-sai-a rằng tư tưởng của Người không phải là tư tưởng của nhân loại và đường lối của Người siêu vượt đường lối của nhân loại (Is 55,8-9) Khi đề cập đến thập giá Đức Giêsu, thánh Phaolô đã nói rằng người Do Thái tìm điềm thiêng dấu lạ, người Hi Lạp tìm sự khôn ngoan, còn thánh nhân và các môn đệ của Đức Giêsu lại rao giảng thập giá, đối với người Do Thái là ô nhục, đối với dân ngoại là điên rồ, nhưng lại là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1 Cr 1,22-25) Với thập giá, Đức Giêsu biến thất vọng thành hy vọng, biến chết thành sống, biến hận thù thành yêu thương, biến sự dữ thành sự lành, biến ghen ghét thành tha thứ, biến đau thương thành hạnh phúc Như thế, hy vọng
mà Đức Giêsu tỏ bày là hy vọng ngang qua thập giá, ngang qua hận thù, ngang qua nỗi đau khổ nhất
mà con người có thể cảm nghiệm trong cõi nhân sinh Chính Người đã mang lấy thập giá, chịu đóng đinh vào thập giá và biến thập giá thành Thánh Giá Như thế, hy vọng của con người đúng nghĩa khi
hy vọng đó được kết hợp với thập giá Đức Giêsu để được Người nâng đỡ, thanh luyện, và biến đổi16
Với biến cố thập giá, Đức Giêsu không chỉ thấy hay chạm đến ngưỡng sự chết, mà chính Người
đã chết Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá chỉ ra rằng nơi sự đau khổ tột cùng của con người cũng chính là nơi tình yêu Thiên Chúa được bày tỏ cách mãnh liệt nhất Tận cùng của thập giá, tận cùng đau khổ, tận cùng của thất vọng, cũng chính là tận cùng của liên đới, tận cùng của tình yêu, tận cùng của hy vọng, tắt một lời, tận cùng sự thông hiệp giữa Thiên Chúa và thụ tạo mình Qua biến cố thập giá, Thiên Chúa minh chứng điều đã được sứ thần Gáp-ri-en nói cùng Đức Ma-ri-a trong biến cố truyền tin “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37) hay nói cách khác, đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể Như thế, khi con người cậy dựa vào Thiên Chúa thì mọi sự đều
có thể17
Thánh Phaolô nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca rằng “thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hi vọng Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1Tx 4,13-14) Đối với thánh Phao-lô, Thiên Chúa của Đức Giêsu, Thiên Chúa mà những ai hi vọng, những ai phải vất vả, phải chiến đấu vì Người là Thiên Chúa hằng sống (1 Tm 4,10)18 Chính vì hi vọng này mà thánh nhân đã thốt lên “đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21)
Trang 9Hình hài của hy vọng theo Tân Ước chính là sự sống lại của Đức Giêsu, khuôn mẫu cho hy vọng vào sự sống lại của muôn người19 Đây chính là Tin Mừng cho toàn thể nhân loại20 Hy vọng Đức Giêsu tỏ bày cho toàn thể nhân loại là hi vọng rằng tiếng nói cuối cùng của lịch sử mỗi người, tiếng nói cuối cùng của lịch sử nhân loại, tiếng nói cuối cùng của thế giới thụ tạo này không phải là tiếng nói của đau khổ, của chết chóc, của sự dữ lên ngôi, nhưng là tiếng nói của Đấng Hy Vọng, của Thần Khí Hiệp Thông, của Chúa Cha Nhân Từ Tiếng nói đó được thánh Phaolô diễn tả cách rõ hơn, đó là tiếng nói của công chính, bình an, và hoan lạc trong Thánh Thần (Rm 14,17) Dĩ nhiên, công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần vượt qua những gì mà chúng ta có thể cảm nghiệm (Mt 5,12)
Đó là lý do giải thích tại sao thánh Phaolô nói rằng “mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2,9) Đó cũng là lý do giải thích tại sao thánh nhân lại nói rằng “nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15,19)
Về mặt thực hành trên Đường Hi Vọng, Đức Giêsu cho chúng ta biết rằng con người phải từ bỏ những gì cản trở hành trình của mình Họ không thể đồng thời, một mặt, hy vọng vào điều tốt đẹp nhất, mặt khác, lại tự mình dựng rào cản điều tốt đẹp nhất đó xảy đến (Mt 5,29-30; Mt 10,28) Chính điều mình hy vọng là động lực dẫn tới những thay đổi và mở ra những khả thể mới trong việc hoán cải Người hy vọng chân thành đồng thời cũng là người thực hành đời sống chân thành Sẽ là bất cập nếu không có sự hòa hợp giữa hi vọng và thực hành Chẳng hạn, người ta không thể hy vọng vào điều tốt trong khi lại làm điều xấu Người ta không thể một mặt hy vọng vào sự thánh thiện, mặt khác luôn đắm chìm trong thế giới của sự dữ, thế giới mà trong đó những gì xảy ra đều ngược với ý định của Thiên Chúa, ý định đem tất cả vạn vật tới viên mãn21 Do đó, sự đòi hỏi của Tin Mừng Hi Vọng thật lớn lao, đến nỗi tự sức mình (là những con người tội lỗi), chúng ta không thể nào đạt tới thực tại mà chúng ta hi vọng Tuy nhiên, Thần Khí của Đấng Hy Vọng hoạt động trong môi trường nhân loại, đặc biệt trong Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô, luôn đồng hành cùng chúng ta trong mọi biến cố của cuộc đời (Tt 3,6-7)
4/ Hy vọng của Ki-tô hữu22
Đức ái là hy vọng của Ki-tô hữu Như đã trình bày ở trên, chính Chúa Ki-tô là mối hy vọng của Ki-tô hữu, còn có nghĩa là tín hữu phó thác cho Ngìa trọn tất cả định mệnh đời đời của mình Con tim tín hữu như thế là được giải phóng khỏi mọi lời hứa cũng như sự dựa dẫm bất kỳ từ đâu tới Và cũng như thế mà đọc ra được ý nghĩa của cuộc đời của mọi anh em mình Do đó, đời sống người tin
dẽ là làm sao cùng với anh em mình ứng đáp được lời mời gọi cứu độ của Chúa, hầu làm thành một dân hành trình về nhà Cha
Hy vọng là một trong nhân đức đối thần Chính Thiên Chúa thiết thân là đối tượng của mối hy vọng hành phúc của Ki-tô hữu Lý do chắc chắn cái phúc này không đặt ở nơi phía Ki-tô hữu, dù là những giá trị như công lệnh chẳng hạn, nhưng hòa toàn do lời hứa của Chúa Như thế thì lòng cậy trông là tương đồng với lòng tin của Ki-tô hữu đối với Thiên Chúa và với Mặc khải của Ngài Bên cạnh đó, bảo đảm cụ thể cho mối cậy trông được đặt nơi Đức Ki-tô Ở nơi Thiên Chúa, vừa là lời Hứa, vừa là bảo đảm Chiều kích cậy t rông của Ki-tô hữu không phải mamg chiều kích cá nhân nhưng mà là bản vị vì thế tự nó là cộng đoàn Như thế, cộng đoàn Hội thánh là bảo chứng thấy được
về mối hy vọng của Ki-tô hữu, và hơn thế nữa, còn là chính sự tự diễ tả thiết thân về mối hy vọng có trong nội tại, mối hy vọng làm thành Hội Thánh
Thêm vào đó, tương quan của lòng cậy trông là thành phần cấu thành tư cách của người con đang
đi đường, nên tương quan này vừa khuyến khích lòng mến, vừa giữ gìn lòng mến đó còn nhiều lúc mong manh và dễ mất Đi theo Chúa Ki-tô, đối với thân phận còn đang đi đường, có nghĩa là sống mối hy vọng đang đi đến đích: vì thế lòng trông cậy là một yếu tố cấu thành việc bắt chước Chúa
Trang 10Ki-tô Tương quan lòng mến càng khắng khít, thì mối hy vọng cũng càng lớn hơn Mối hy vọng càng mãnh liệt, thì càng thúc đẩy lòng mến sâu xa hơn
Hai chiều kích của lòng cậy trông là: a) chiều kích tôn giáo: tất cả mặc khải dẫn đến đòi hỏi tuyệt đối: yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sinh mạng của mình và đi theo Ngài, sống thánh ý của Ngài Mối hy vọng dồn tất cả con người lữ hành về Thiên Chúa, và như thế mà xảy đến sự thờ phượng; b) chiều kích luân lý: hy vọng và hiệp thông với Chúa chỉ có thể có được chân thật nơi chỗ nào người
ta trung thành bền vững sống theo ý Thiên Chúa Mối hy vọng động viên tất cả con người của toàn thể chúng ta ở trong sự tuân phục Thiên Chúa trong đau khổ và thử thách, cũng như trước những dụ
dỗ phá rối đối với các giới răn của Thiên Chúa Do đó mà tương quan này chi phối mọi ý định xây dựng đời mình
Tội phạm đến đức trông cậy có thể kể ra đây là: a) Thất vọng: tội thất vọng có thể xuất hiện dưới hai dạng, nhưng cùng một nguồn gốc: đánh mất lòng khát khao hạnh phúc đời đời và ngã lòng; b) Lòng tự phụ: phải hiểu đây là tâm trạng phức tạp thiêng liêng Lòng tự phụ không đề kháng trực tiếp đối với việc hướng về Thiên Chúa, hay lòng trông cậy phó thác, nhưng tự nó là đánh mất sự lo lắng cho sự yếu hèn của mình và từ đó đánh mất cái lo lắng cho sự cứu rỗi
5/ Người Ki-tô hữu, thừa sai của niềm Hy Vọng
Ki-tô hữu không phải là một tiên tri của điều bất hạnh Chúng ta không phải là tiên tri của sự rủi
ro Căn tính của lời loan báo là đối lập lại, sự đối lập đó là Chúa Giêsu, đã chết vì tình yêu và Thiên Chúa Chà đã làm cho Người sống lại vào sáng Phục Sinh Đây là trọng tâm của niềm tin Kitô hữu Các Tin Mừng dừng lại ở ngôi mộ của Chúa Giêsu, câu chuyện của vị tiên tri này đi đến chổ chỉ thêm vào trong muôn vàn tiểu sử của những anh hùng những người đã mất sự sống vì một lý tưởng Tin Mừng có lẽ sẽ là một cuốn sách, một sự khuyên giải nhưng không là một loan báo của niềm hy vọng Nhưng các Tin Mừng không đóng lại ở ngày thứ 6 Tuần Thánh, đi xa hơn nữa, và chính đoạn cuối đã biến đổi cuộc sống chúng ta Các môn đệ của Đức Giêsu đã bị ngã lòng trong ngày thứ 7 ấy sau khi Ngài bị đóng đinh, tảng đá tròn chắn trước cửa mộ cũng đóng luôn 3 năm đầy hăng say và nhiệt huyết được cùng sống với Người Thầy Nazareth Bởi vì Chúa Giêsu không chỉ sống lại cho riêng mình, như thể sự tái sinh của Ngài là một đặc quyền của sự ganh tị: Ngài lên cùng Chúa Cha là bởi vì muốn rằng mỗi người trong chúng ta sẽ được dự phần vào sự phục sinh ấy và lôi kéo mỗi thụ tạo lên cao Và trong ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống các Tông Đồ được biến đổi từ hơi thở của Chúa Thánh Thần Không chỉ là một tin tốt lành để mang đến cho mọi người, nhưng các Tông Đồ cũng được tái sinh một cuộc sống mới Sự Phục Sinh của Đức Kitô biến đổi chúng ta với sức mạnh của Chúa Thánh Thần Chúa Giêsu sống, sống giữa chúng ta, đang sống và có sức mạnh biến đổi Thật đẹp khi nghĩ rằng họ là những người loan báo tin về sự Phục Sinh của Đức Kitô không chỉ bằng lời nói, nhưng với những việc làm và là chứng nhân của sự sống! Chúa Giêsu không muốn các môn đệ có khả năng lặp lại hình thức học thuộc lòng Ngài muốn những chứng nhân: những con người rao truyền niềm hy vọng với cách thức họ đón nhận, cười, yêu thương Trên hết là yêu thương: bởi vì sức mạnh của sự phục sinh làm cho các Ki-tô hữu có khả năng yêu mến ngay cả khi tình yêu dường như đánh mất lý do của nó Có “điều hơn nữa” cư ngụ nơi sự hiện hữu của Ki-tô hữu
và người ta không giải thích một cách đơn giản với sức mạnh của một tâm hồn hoặc với một sự lạc quan lớn lao Niềm tin, niềm hy vọng của chúng ta không chỉ là sự lạc quan, là một cái khác hơn nữa! Là như thể các Ki-tô hữu là những người có thêm một “khoảng trời” trên đầu Điều này thật đẹp: chúng ta là những người với thêm một khoảng trời trên đầu, được đồng hành bởi một sự hiện diện không một ai có khả năng hiểu thấu được