ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin ( Phần Kinh tế chính trị) Câu hỏi Trả lời Câu 1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa, liên hệ nền sản xuất hàng hóa tại[.]
Trang 1Môn: Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê-nin
( Phần Kinh tế chính trị)
Câu 1 : Điều kiện ra
đời và tồn tại của
sản xuất hàng hóa,
liên hệ nền sản xuất
hàng hóa tại Việt
Nam
1.1 Khái niệm sản xuất hàng hóa
Trong lịch sử phát triển xã hội có hai kiểu tổ chức kinh tế là sản xuất tựcung tự cấp và sản xuất hàng hóa
- Sản xuất tự cung tự cấp: là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội trong đó sảnphẩm sản xuất ra để phục vụ nhu cầu cho chính người sản xuất tiêu dùng
- Sản xuất hàng hóa: là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội trong đó sản phẩmsản xuất ra dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường
1.2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
* Điều kiện 1: Có sự phân công lao động xã hội
- Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vitoàn xã hội, theo đó nền sản xuất xã hội được phân chia thành nhữngngành nghề khác nhau Do vậy, người này muốn sử dụng sản phẩm củangười kia để tiêu dùng phải thông qua trao đổi và mua bán
- Sở dĩ phân công lao động xã hội dẫn đến sự ra đời sản xuất hàng hoá vì:Thứ nhất, phân công lao động xã hội khiến năng suất lao động tăng, theo
đó khối lượng sản phẩm làm ra cũng tăng theo không những đáp ứng đủnhu cầu của họ mà còn có sản phẩm dư thừa, từ đó dẫn đến nhu cầu traođổi hàng hoá
Thứ hai, do chuyên môn hoá nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặcmột vài sản phẩm nhất định Để thoả mãn nhu cầu cuộc sống đòi hỏi họbuộc phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau
- Vai trò của PCLĐXH chính là cơ sở, tiền đề ra đời sản xuất hàng hóa.Phân công lao động xã hội mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ Muốnsản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại cần phải có điều kiện thứ hai
Do sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế nên giữa các chủ thể sản xuất có
sự độc lập với nhau, dẫn đến xuất hiện chế độ tư hữu, tức là tư hữu về tưliệu sản xuất, tư liệu sản xuất không phải của chung nữa mà là của riêng dochủ thể sản xuất quyết định, họ có quyền quyết định sản phẩm do mìnhlàm ra
=> Trao đổi này dần dần có sự tính toán thiệt hơn về kinh tế
- Vai trò của sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sảnxuất là điều kiện quyết định cho sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa.Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên Nếuthiếu một trong hai điều kiện này thì không có sản xuất hàng hóa và sản
Trang 2phẩm làm ra không mang hình thái hàng hóa.
Lấy ví dụ
Liên hệ nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam.
Thực trạng nền sản xuất hàng hóa ở Việt NamTrong giai đoạn quá độ lên CNXH, ở nước ta những điều kiện chung củasảm xuất hàng hóa vẫn còn bởi vậy nền sản xuất hàng hóa tồn tại là một tấtyếu khách quan
Phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở của trao đổi chẳng nhữngkhông mất đi, trái lại ngày một phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, sựchuyên môn hóa hợp tác hóa lao động đã vượt khỏi biên giới quốc gia vàngày càng mang tính quốc tế
Phân công lao động xã hội đã phá vỡ các mối quan hệ truyền thống củanền kinh tế tự nhiên khép kín, tạo cơ sở thống nhất, phụ thuộc lẫn nhaugiữa những người sản xuất vào hệ thống của hợp tác lao động Sự phâncông lao động của ta đã ngày càng chi tiết hơn đến từng ngành, từng cơ sở
và phạm vi rộng hơn nữa là toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hiện nay nước ta
đã có hàng loạt thị trường được hình thành từ sự phân công lao động đó là:Thị trường công nghệ, thị trường các yếu tố sản xuất,…Tạo đà cho nênkinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển giúp ta nhanh chóng hòa nhậpđược với kinh tế trog khu vực và thế giới
Trong nền kinh tế đã và đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về
tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể củanhững người sản xuất hàng hóa nhỏ, sở hữu tư nhân TBCN, sở hữu hỗnhợp, đồng sở hữu,…Chế độ xã hội hóa sản xuất giữa các ngành, các xínghiệp trong cùng một hình thức sở hữu vẫn chưa đều nhau Sở dĩ như vậy
là do cơ cấu kinh tế của nước ta giờ là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, sựtồn tại của các thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan
Sản xuất hàng hóa là để trao đổi đáp ứng nhu cầu của xã hội nên ngườisản xuất có điều kiện để chuyên môn hóa cao Trình độ tay nghề đượcnâng lên do tích lũy kinh nghiệm, tiếp thu được tri thức mới Công cụchuyên dùng được cải tiến, kỹ thuật mới được áp dụng do đó cạnh tranhngày càng gay gắt khiến cho năng suất lao được được nâng lên, chất lượngsản phẩm ngày càng được cải thiện và tốt hơn Hiệu quả kinh tế được chútrọng làm mục tiêu đánh giá sự hoạt động của các thành phần kinh tế Việctrao đổi hàng hóa dựa trên nguyên tắc tăng giá khiến cho người sản xuấtluôn tìm cách tiết kiệm giảm đến mức tối đa những chi phí cá biệt, giảmgiá trị hàng hóa cá biệt để có lợi nhuận khi trao đổi Trên cơ sở phân cônglao động, sản xuất hàng hóa phát triển/ Khi sản xuất hàng hóa phát triển sẽlàm phân công lao động ngày càng cao hơn, sâu hơn Quan hệ hàng hóa,tiền tệ, quan hệ thị trường ngày càng được chủ thể sản xuất hàng hóa vậndụng có hiệu quả hơn và từ đó ngoài các quan hệ kinh tế phát triển mà cácquan hệ pháp lý xã hội, tập quán, tác phong cũng thay đổi
Chính từ tính ưu việt rất riêng, rất có lợi (tuy bên cạnh đó vẫn còn cónhững khuyết điểm) của sản xuất hàng hóa mà tại đại hội VII Đảng ta đãxác định phương hướng: Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theođịnh hướng XHCN vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhànước
Trang 3Câu 2 : Hai thuộc
tính của hàng hoá,
liên hệ hàng hoá sản
xuất ở Việt Nam?
A Chủ đề:
- Khái niệm hàng hóa;
- Hai thuộc tính của hàng hóa;
- Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa;
- Liên hệ với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam
B Trọng tâm trình bày:
1 Khái niệm hàng hóa:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đócủa con người thông qua trao đổi mua bán
Xét về mặt vật chất và tự nhiên thì sản phẩm và hàng hóa giống nhau
vì đêu là sản phẩm của lao động và đáp ứng nhu cầu của con người Nhưngkhi xét về mặt KT-XH thì sản phẩm và hàng hóa khác nhau
Các dạng biểu hiện của hàng hóa:
- Dạng hữu hình tồn tại dưới dạng vật thể như: sắt, thép, lương thực,thực phẩm…
- Dạng vô hình tồn tại dưới dạng phi vật thể như những dịch vụthương mại, vận tải hay dịch vụ của giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ…
- Dạng hàng hóa đặc biệt: Ở Việt Nam Đất là hàng hóa đặc biệt vì Đấtkhông phải là sản phẩm do con người tạo ra Đất thuộc quyền sở hữu củatoàn dân do nhà nước là làm đại diện chủ đầu tư Dân không được bán, nhànước không được bán nhưng giá thị trường rất cao khi nhượng quyền sửdụng đất
Như vậy, Hàng hoá là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi cónền sản xuất hàng hoá, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hànghoá khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường
2 Hai thuộc tính của hàng hóa
* Giá trị sử dụng của hàng hoá
- Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần trong quá trình phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và của lực lượng sản xuất xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngàycàng tăng, chất lượng ngày càng cao và chủng loại ngày càng phong phú
- Giá trị sử dụng là nội dung vật chất của của cải Giá trị sử dụng củahàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn do tính chất lý hóa vì nó tồn tại trongmọi phương thức hay kiểu tổ chức sản xuất
- Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giátrị trao đổi Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâmđến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầucủa xã hội
* Giá trị của hàng hóa:
Để hiểu được giá trị của hàng hóa phải bắt đầu nghiên cứu từ giá trị traođổi
Giá trị trao đổi là tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giátrị sử dụng khác Lượng tiêu tốn để sản xuất ra sản phẩm để trao đổi với
Trang 4nhau là bằng nhau.
Ví dụ: 1 cái rìu đổi lấy 20kg gạo Gạo và rìu là 2 hàng hóa khác nhau có
giá trị sử dụng khác nhau nhưng có thể trao đổi với nhau được vì giữachúng có một cơ sở chung: đều là sản phẩm của lao động Trong quá trìnhsản xuất hàng hoá người lao động phải tiêu phí sức lao động của mình như:người thợ rèn mất 5 giờ lao động để sản xuất ra rìu và người nông dân mất
5 giờ lao động để sản xuất ra gạo Vì vậy, thực chất của sự trao đổi là traođổi lao động đã hao phí
Hàng hóa khác nhau trao đổi được với nhau vì chúng có chung ẩn chứabên trong là hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa Vậy giá trịhàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh tronghàng hoá
Giá trị là nội dung bên trong của hàng hoá, còn giá trị trao đổi là hìnhthức bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi.Đồng thời, giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hànghoá Cũng chính vì vậy, giá trị là phạm trù lịch sử chỉ tồn tại trong kinh tếhàng hoá
* Mối quan hệ giữa hai thuộc tính: Là mối quan hệ biện chứng, vừa
thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau thể hiện ở các mặt sau:
- Mặt thống nhất:
+ Cả 2 thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị đều tồn tại trong một sản phẩm hàng hóa
+ Hai thuộc tính này tạo điều kiện, tiền đề tương hỗ cho nhau
+ Đều là kết quả của lao động, phản ánh các quan hệ kinh tế - xã hội.+ Về mặt giá trị là hoàn toàn đồng nhất với nhau
- Mặt mâu thuẫn:
+ Xét về mặt giá trị sử dụng thì các hàng hóa hoàn toàn không đồng nhất về chất (Ví dụ: Quần áo để mặc, thuốc để chữa bệnh, lương thực để ăn), nhưng xét về mặt giá trị thì chúng lại đồng nhất về chất (đều là kết tinh của lao động)
+ Việc thực hiện hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị thường không đồng thời về không gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước qua quá trình lưu thông, giá trị sử dụng được thực hiện sau thông qua quá trình tiêu dùng
Ví dụ: Khi sử dụng điện chúng ta phải ký hợp đồng mua bán điện với
nhà cung cấp, như vậy khi ký hợp đồng giá trị đã được xác định, việc chúng ta trả tiền sau khi đã tiêu thụ điện thì chỉ là hình thức thanh toán.+ Mỗi một thuộc tính là sự quan tâm của 1 bên bán hay mua: ngườibán hàng quan tâm đến giá trị, còn người mua hàng quan tâm giá trị sửdụng Ví dụ: bên bán sẽ nâng cao thuộc tính, giá trị sử dụng của hàng hóa,còn bên mua sẽ tìm cách hạ giá sản phẩm hàng hóa xuống
4 Liên hệ với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam
Nước ta là nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,nhiều thành phần kinh tế, sản xuất đa dạng các loại hàng hóa nhằm đáp ứngnhu cầu trong nước và trao đổi, mua bán trên thế giới Do đó, sản xuất hànghóa ở nước ta đặc biệt là nền kinh tế hàng hóa hiện nay phải luôn đảm bảo hai
Trang 5thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị.
a Đặc điểm kinh tế hàng hóa ở Việt Nam:
- Nền kinh tế hàng hóa nước ta mang nặng tính tự cấp tự túc ,ảnhhưởng của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
- Công cụ lao động lạc hậu, nhiều lao động thủ công trinh độ cơ sở vậtchất lạc hậu➔ chất lượng sản phẩm kém ➔không có khả năng cạnh tranh
- Hầu như không có đội ngũ nhà doanh nghiệp có tầm cỡ
- Nền kinh tế hàng hóa nước ta chịu tác động của sự thay đổi cơ cấungành theo hướng nền kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng
- Nền kinh tế hàng hoá phát triển với chiến lược thị trường "hướngngoại"
b Thực trạng kinh tế hàng hóa ở Việt Nam hiện nay:
*Ưu điểm
- Sản lượng hàng xuất khẩu tăng đáng kể
- Xuất hiện nhiều loại mặt hàng hơn
- Nhiều phương pháp sản xuất với khoa học kỹ thuật mới đã được sửdụng
- Nền sản xuất hàng hóa hiện nay đã mang lại đời sống ổn định chongười dân
- Khâu tổ chức và quản lý đã được chú trọng
* Nhược điểm
- Thiếu vốn
- Khoa học kỹ thuật chưa phát triển đồng bộ
- Chưa đánh giá đúng được giá trị sử dụng, giá trị hàng hóa nên chưachú trọng những mặt hàng có lợi
- Hầu hết giá cả hàng hàng hóa đều do Nhà nước quy định
- Sản xuất theo kiểu lạc hậu, bao cấp
- Được hưởng những ưu đãi từ thuế
- Hàng nội địa thường có chất lượng kém hơn hàng xuất khẩu
- Nền kinh tế nước ta hiện nay đang chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn
- Quy mô thị trường hàng hóa bị hạn chế( các tư liệu sản xuất khôngđược coi là hàng hóa)
- Lạm dụng tài nguyên do muốn sản xuất nhiều sản phẩm nên gây ônhiễm môi trường
- Chủ yếu tồn tại các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, riêng lẻ không có sự liênkết
- Một số nhà sản xuất chạy theo lợi nhuận gây hậu quả xấu
c Giải pháp
- Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Đưa ra chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
- Xác định rõ mặt hàng trọng yếu có sức cạnh tranh để đầu tư
- Điều chỉnh cơ cấu ngành hợp lý
Trang 6- Phân công lao động phù hợp
- Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
- Kích thích cạnh tranh để cải tiến đổi mới mẫu mã chất lượng
▪ Phát triển, khai thác tốt giá trị sử dụng của hàng hóa
▪ Tận dụng hiểu quả các yếu tố về tư liệu sản xuất, điều kiện tự nhiên
▪ Ứng dụng khoa học kĩ thuật, đầu tư đổi mới công nghệ
▪ Xây dựng quảng bá cho các sản phẩm mang thương hiệu Việt
▪ Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Ban hành chính sách định lượng về quản lý giá cả
- Đầu tư cải tiến hàng xuất khẩu cũng như hàng trong nước
- Xây dựng chiến lược sản xuất kỹ càng, đầy đủ
d Xét về giá trị sử dụng của hàng hoá
Đối với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam, sản xuất phải quan tâmđến giá trị sử dụng tốt, sản xuất hàng hóa phải đáp ứng nhu cầu của ngườitiêu dùng Tăng giá trị sử dụng là phải làm cho hàng hóa tốt, bền, đẹp, cónhiều tính năng, tác dụng Hiện nay sản xuất hàng hóa của chúng ta về cơbản đã đáp ứng nhu cầu, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn chưa đáp ứng đầy
đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Do đó để sản xuất hànghóa ngày càng tốt hơn chúng ta cần quan tâm tới các vấn đề:
- Nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước
- Nâng cao tay nghề, chủ động, sáng tạo nhạy bén trong tổ chức quản
lý đào tạo nguồn nhân lực cho người lao động
- Đổi mới trao đổi công nghệ
e Xét về giá trị hàng hoá
Đối với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam, muốn thực hiện được giátrị tức là muốn bán được hàng hóa thì phải làm sao cho giá trị cá biệt của
nó thấp hơn giá trị xã hội thì mới có lãi; do vậy:
- Phải đổi mới kỷ thuật và công nghệ
- Hợp lý hóa sản xuất, tiết kiệm các nguồn lực trong sản xuất kinhdoanh
- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nhằm sử dụng nguồnnguyên liệu sẵn có, hạn chế việc bán nguyên liệu thô, nâng cao giá trị củahàng hoá
- Tăng năng suất lao động Nói tóm lại: Hàng hóa hiện hữu ở khắp mọi nơi trên thế giới Chúng cóthể ở dạng hữu hình hoặc vô hình Cùng với khoa học kỹ thuật và côngnghệ hiện đại hàng hóa đã biến tướng vô cùng đa dạng Vì vậy việc nghiêncứu trên đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho hànghóa Mục đích chính của bất kể nền kinh tế nào cuối cùng cũng là sản xuất
ra hàng hóa đáp ứng nhu cầu của con người Quốc gia nào muốn trở thànhcường quốc thì không chỉ chính trị, xã hội vững mạnh mà còn cần một nềnkinh tế phát triển mạnh mẽ Việt Nam cũng vậy muốn kinh tế phát triểnnhanh thì phải thấy được vai trò quan trọng của hàng hóa và quan tâm đếnviẹc nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh cho hàng hóa Nền kinh tế Việt
Trang 7Nam đang được các nhà đầu tư coi như là ngôi sao đang lên của Châu Á.Song song với việc phát triển kinh tế chúng ta cần đảm bảo sự hài hòa giữacác yếu tố phát triển và bền vững đặt biệt là giải quyết các vần đề xã hội,khắc phục khoảng cách chênh lệnh giàu nghèo, giải quyết tình trạng lãnhphí và ô nhiễm môi trường … như thế một tương lai không xa chúng ta cóthể chứng kiến một sự chuyển mình ngoại mục của đất nước Việt Nam.
1 Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị
a Nội dung, yêu cầu của qui luật
Theo qui luật giá trị, sản xuất và trao đổi phải căn cứ vào hao phí laođộng xã hội cần thiết
+ Trong sản xuất: Người sản xuất phải làm sao cho chi phí cá biệt nhỏhơn hoặc bằng chi phí xã hội Trong kinh tế hàng hóa mỗi người sản xuất
có điều kiện sản xuất khác nhau do vậy mà hao phí lao động cá biệt cũngkhác nhau nhưng khi trao đổi hàng hóa phải căn cứ vào hao phí lao động
xã hội Muốn bán được hàng, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuấtphải hạ được chi phí cá biệt nhỏ hơn hoặc bằng chi phí xã hội
+ Trong trao đổi: Phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá (đúng giá trị).Nếu bán cao hơn giá trị thì hàng hóa không bán được, không thu hồi vốn,bán thấp hơn giá trị sẽ thua lỗ, phá sản (Lưu thông không tạo ra giá trị)
Cụ thể:
- Đối với một hàng hoá: Giá cả có thể lên xuống nhưng phải xoay quanhtrục giá trị của hàng hoá
Giá cả Giá trị (Thời gian LĐXH cần thiết)
- Đối với tổng hàng hoá trên phạm vi toàn xã hội :
∑Giá cả hàng hoá (sau khi bán) = ∑Giá trị hàng hoá (trong sản xuất)
c Phương thức vận động của qui luật giá trị:
Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hànghóa Giá trị là cơ sở của giá cả, nếu hàng hóa có nhiều giá trị thì giá cả cao
và ngược lại Tuy nhiên giá cả hàng hóa trên thị trường còn chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố như cạnh tranh, cung cầu, chính sách của Nhà
Trang 8nước, sức mua của đồng tiền Vì vậy giá cả lên xuống xoay xung quanhgiá trị, đó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Thông qua sự vậnđộng của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng
Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thế hiện cả trong trường hợpgiá cả bằng giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giátrị
2 Tác động của quy luật giá trị
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị có 3 tác động sau:
a Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:
Điều tiết sản xuất: Tức là nó điều hòa, phân bố các yếu tố sản xuất giữa
các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Làm thay đổi quy môsản xuất (mở rộng hay thu hẹp)
+ Tại sao quy luật giá trị điều tiết được sản xuất?
Nội dung yêu cầu của quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi phải căn cứvào hao phí lao động xã hội cần thiết, trong sản xuất chi phí cá biệt phảibằng hoặc nhỏ hơn chi phí xã hội, trong trao đổi phải trao đổi ngang giá cónhư vậy mới tồn tại và phát triển Nhưng trong thực tế vẫn xẩy ra tìnhtrạng giá phải bán thấp hơn hoặc bán cao hơn giá trị Yếu tố đó tác độngmột cách tự phát đến các nhà sản suất làm cho họ thu hẹp hoặc mở rộngsản xuất Đó là qui luật giá trị đã điều tiết sản xuất
+ Qui luật giá trị điều tiết sản xuất như thế nào ?
- Nếu một ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu giá cả cao hơn giá trị,hàng hoá bán chạy và lãi cao, những người sản xuất ngành đó sẽ mở rộngquy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động Mặc khác,những người sản xuất ngành khác cũng có thể chuyển sang ngành này, do
đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuấtcàng được mở rộng
- Ngược lại nếu như ngành nào đó có giá cả thấp hơn giá trị (cung lớnhơn cầu) sẽ bị lỗ vốn Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việcsản xuất ngành này hoặc chuyển ngành khác, làm cho tư liệu sản xuất vàsức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác tăng lên
- Nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thểtiếp tục sản xuất mặt hàng này
Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sảnxuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầucủa xã hội
Điều tiết lưu thông hàng hoá: Tại sao qui luật giá trị điều tiết lưu thông?
Yêu cầu của qui luật là phải trao đổi ngang giá, nhưng thực tế do tácđộng của qui luật cung cầu nên có thể nơi này bán cao hơn giá trị nhưngnơi khác lại phải bán thấp hơn giá trị Nội dung của qui luật của quy luậtgiá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi cógiá cả cao, và do đó, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cânbằng nhất định
b Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm
Trang 9- Trong nền sản xuất hàng hóa mỗi nhà sản xuất có chi phí cá biệt riêng(do điều kiện sản xuất khác nhau), nhưng trên thị trường thì các hàng hoáđều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vậyngười sản xuất hàng hoá nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mứchao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi chi phí càngthấp lãi càng lớn Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hoá cảitiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiếtkiệm nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất
- Sự cạnh tranh quyết liệt, người sản xuất nào cũng làm như vậy nên cuốicùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên,chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống
c Phân hoá những người sản xuất hàng hoá thành giàu, nghèo
- Những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệtthấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, sẽ thu được nhiều lãi, giàulên mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ôngchủ Ngược lại, những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí laođộng cá biệt lớn mức hoa phí lao động xã hội cần thiết, sẽ rơi vào tìnhtrạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làmthuê
- Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản
- Quy luật giá trị làm phân hóa những người sản xuất hàng hóa, đây là sựlựa chọn tự nhiên, nó đào thải những yếu kém, kích thích những nhân tốtích cực Nếu xét ở góc độ là động lực để thúc đẩy phát triển sẩn xuất thì
nó làm phân hóa những người sản xuất hàng hóa, tập trung vốn, nhanhchóng chuyển nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hiện đại
- Xét dưới góc độ xã hội, sự phân hóa giầu nghèo của sản xuất hàng hóa
có tác động tiêu cực Do đó, nhà nước cần có những biện pháp để phát huymặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện pháttriển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta hiện nay
3 Ý nghĩa của quy luật giá trị trong quá trình phát triển kinh tế thị trường Việt Nam
- Qui luật giá trị là qui luật kinh tế khách quan nên đòi hỏi chúng ta phảinắm bắt qui luật khách quan, tạo điều kiện cho qui luật khách quan hoạtđộng Bởi nó chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kíchthích các nhân tố tích cực phát triển Nó có tác dụng điều tiết sản xuất vàlưu thông hàng hóa, đồng thời kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sảnxuất, tăng năng suất lao động, lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh.Những biểu hiện của nó như giá cả, tiền tệ, giá trị hàng hóa là lĩnh vực tácđộng rất lớn tới đời sống kinh tế xã hội
- Những tác động của qui luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa ở nước tahiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tế hết sức to lớn:
+ Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa hình thức vận dụng tập trung nhấtcủa qui luật giá trị là hình thành giá cả hàng hóa, giá cả lấy giá trị làm cơ
Trang 10sở phản ánh đầy đủ những tiêu hao về vật tư và sức lao động để sản xuấthàng hóa, đó là nguyên tắc hình thành mối liên hệ giữa doanh nghiệp vớithị trường, giữa người sản xuất với nền kinh tế Ngoài ra còn định hướnggiá cả hàng hóa xoay quanh giá trị để kích thích cải tiến kỹ thuật, tăngcường quản lý, lợi dụng sự chênh lệch giữa giá cả và giá trị để điều tiết sảnxuất và lưu thông, điều chỉnh cung cầu và phân phối
+ Điều này đã được nhà nước ta vận dụng dựa trên cơ sở là qui luật giátrị để tác động vào những mục đích nhất định nhằm điều chỉnh và thúc đẩynền kinh tế phát triển, cụ thể như việc điều chỉnh giá cả xăng dầu, lươngthực, đất đai,… để giữ vững định hướng XHCN
- Sự tác động của qui luật giá trị bên cạnh những mặt tích cực còn dẫn đến
sự phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong
XH Để hạn chế tác động tiêu cực của qui luật giá trị:
+ Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, để pháthuy vai trò tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế mặc tiêu cực của nó
để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo sự công bằng xã hội
+ Vấn đề quan trọng là phải nhận thức và vận dụng qui luật giá trị bằng cácchính sách kinh tế phù hợp, trên cơ sở khoa học nhằm thực hiện có hiệu quả nhữngmục tiêu kinh tế, xã hội thông qua các chính sách xã hội như xóa đói giảm nghèo,gia đình có công cách mạng, xây nhà tình thương, trợ cấp những cán bộ công chức
có bậc lương thấp (2.34), … + Thời gian qua, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức đúng vấn đề, tầmquan trọng trong việc đổi mới kinh tế, xã hội cũng như hiểu rõ vai trò vàtác dụng của qui luật giá trị mà từ đó thực hiện nhiều cuộc cải cách kinh tếtuân theo những nội dung của qui luật giá trị, nhằm hình thành và pháttriển nền kinh tế hàng hóa XHCN đa dạng và đã đạt được những thành tựuđáng kể
Câu 4 : Mâu thuẫn
- Mâu thuẩn trong công thức chung của tư bản:
+ Công thức chung của tư bản;
+ Mâu thuẩn trong công thức chung của tư bản;
- Lý luận về hàng hoá sức lao động :+ Sức lao động, sự chuyển hoá sức lao động thành hàng hoá
+ Hai thuộc tính hàng hoá sức lao động
B Trọng tâm trình bày:
1 Mâu thuẩn trong công thức chung của tư bản:
Tiền là hình thái giá trị cuối cùng của sản xuất và lưu thông hàng hoágiản đơn đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản
a Công thức chung của tư bản
Cả lưu thông hàng hoá giản đơn và kinh tế tư bản chủ nghĩa đều sửdụng tiền tệ Tuy nhiên trong mỗi hình thái này, tiền có vai trò và vị tríkhác nhau:
- Tiền trong lưu thông hàng hoá giản đơn vận động theo công thức: T’-H’
Trang 11H Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức:T-H-T’
So sánh hai công thức trên có thể thấy những điểm sau:
Giống nhau:
+ Đều phản ánh quá trình lưu thông hàng hóa+ Có 2 nhân tố: tiền và hàng
+ Có 2 hành vi: mua và bán+ Có 2 chủ thể kinh tế: người mua và người bán
- Khác nhau:
Tiền làm trung gian Hàng làm trung gianBán trước, mua sau Mua trước, bán sauMục đích là hướng đến giá trị
sử dụng Mục đích là giá trị vàgiá trị thặng dư
Sự vận động có giới hạn Sự vận động không có
giới hạnĐiểm giống nhau của hai công thức lưu thông nói trên là đều cấuthành bởi hai yếu tố hàng và tiền: đều chứa đựng hai hành vi đối lập nhau
là mua và bán; đều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và ngườibán
Điểm khác nhau giữa hai công thức đó là:
Lưu thông hàng hoá giản đơn bắt đầu bằng hành vi bán (H-T) và kếtthúc bằng hành vi mua (T-H’), điểm xuất phát và điểm kết thúc đều làhàng hoá, tiền chỉ đóng vai trò trung gian, mục đích là giá trị sử dụng.Ngược lại, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng hành vi mua (T-H) vàkết thúc bằng hành vi bán (H-T’), tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểmkết thúc, còn hàng hoá đóng vai trò trung gian , mục đích của lưu thông tưbản là giá trị, và giá trị lớn hơn
Tư bản vận động theo công thức T-H-T’, trong đó T’= T + t; t là sốtiền trội hơn được gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu bằng m Còn số tiềnứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản Như vậy, tiền chỉ biến thành tư bản khi được dùng để mạng lại giá trịthặng dư cho nhà tư bản
Vậy, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư Mục đích lưu thông tưbản là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản
là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn C.Mácgọi công thức T - H – T’ là công thức chung của tư bản, vì sự vận động củamọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, dù đó là
tư bản thương nghiệp, tư bản công nghiệp hay tư bản cho vay Điều này rất
dễ dàng nhận thấy trong thực tiễn, bởi vì hình thức vận động của tư bảnthương nghiệp là mua vào để bán ra đắt hơn, rất thích hợp với công thứctrên Tư bản công nghiệp vận động phức tạp hơn, nhưng dù sao cũngkhông thể tránh khỏi những giai đoạn T - H và H – T’ Còn sự vận độngcủa tư bản cho vay để lấy lãi chẳng qua chỉ là công thức trên được rút ngắnlại T – T’
Trang 12T-H-T’ được gọi là công thức chung của tư bản; vì mọi tư bản đều vậnđộng như vậy nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư
b Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
Trong công thức T - H – T’, trong đó T’ = T + T (m) Vậy, giá trịthặng dư (m) do đâu mà có?
Các nhà kinh tế học tư sản đã cố tình chứng minh rằng quá trình lưuthông đẻ ra giá trị thặng dư, nhằm mục đích che giấu nguồn gốc làm giàucủa các nhà tư bản Thực ra trong lưu thông, dù người ta trao đổi ngang giáhay không ngang giá thì cũng không tạo ra giá trị mới, do đó cũng khôngtạo ra giá trị thặng dư Cụ thể là:
- Trường hợp trao đổi ngang giá: Nếu hàng hóa được trao đổi ngang
giá, thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ tiền thành hàng và từhàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗibên tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi Tuy nhiên, về mặt giátrị sử dụng thì cả hai bên trao đổi đều có lợi vì có được những hàng hóathích hợp với nhu cầu của mình
- Trường hợp trao đổi không ngang giá thì có thể có ba trường hợp
xảy ra, đó là:
+ Trường hợp thứ nhất, giả định rằng có một nhà tư bản nào đó có hành
vi bán hàng hóa cao hơn giá trị 10% chẳng hạn Giá trị hàng hóa của anh ta
là 100 đồng sẽ được bán cao lên 110 đồng và do đó thu được 10 đồng giátrị thặng dư Nhưng trong thực tế không có nhà tư bản nào lại chỉ đóng vaitrò là người bán hàng hóa, mà lại không là người đi mua các yếu tố sảnxuất để sản xuất ra các hàng hóa đó Vì vậy, đến lượt anh ta là người mua,anh ta sẽ phải mua hàng hóa cao hơn giá trị 10%, vì các nhà tư bản khácbán các yếu tố sản xuất cũng muốn bán cao hơn giá trị 10% để có lời Thế
là 10% nhà tư bản thu được khi là người bán sẽ mất đi khi anh ta là ngườimua Hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị đã không hề mang lại một chútgiá trị thặng dư nào
+ Trường hợp thứ hai, giả định rằng lại có một nhà tư bản nào đó, cóhành vi mua hàng hóa thấp hơn giá trị 10%, để đến khi bán hàng hóa theogiá trị anh ta thu được 10% là giá trị thặng dư Trong trường hợp này cũngvậy, cái mà anh ta thu được do mua rẻ sẽ bị mất đi khi anh ta là người bán
vì cùng phải bán thấp hơn giá trị thì các nhà tư bản khác mới mua Rút cụcgiá trị thặng dư vẫn không được đẻ ra từ hành vi mua rẻ
+ Còn có thể trường hợp thứ ba sau đây: Giả định trong xã hội tư bảnlại có một kẻ giỏi bịp bợm, lừa lọc, bao giờ hắn cũng mua được rẻ và bánđược đắt Nếu khi mua, hắn ta đã mua rẻ được 5 đồng, và khi bán hắn cũngbán đắt được 5 đồng Rõ ràng 10 đồng giá trị thặng dư mà hắn thu được là
do trao đổi không ngang giá Sự thực thì 5 đồng thu được do mua rẻ và 5đồng hắn kiếm được do bán đắt cũng chỉ là số tiền hắn lường gạt được củangười khác Nhưng nếu xét chung cả xã hội, thì cái giá trị thặng dư mà hắnthu được lại chính là cái mà nguời khác mất đi, do đó tổng số giá trị hànghóa trong xã hội không vì hành vi cướp đoạt, lường gạt của hắn mà tănglên Giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng bản thân mình
Trong thực tiễn, dù có lật đi lật lại vấn đề này đến mấy đi nữa thì kết quả cũng
Trang 13vẫn như thế C.Mác đã chỉ rõ: "Lưu thông hay trao đổi hàng hóa, không sáng tạo
ra một giá trị nào cả" Như vậy, lưu thông đã không đẻ ra giá trị thặng dư Vậyphải chăng giá trị thặng dư có thể đẻ ra ở ngoài lưu thông? Trở lại ngoài lưuthông, chúng ta xem xét hai trường hợp:
- Ở ngoài lưu thông, nếu người trao đổi vẫn đứng một mình với hànghóa của anh ta, thì giá trị của những hàng hóa ấy không hề tăng lên mộtchút nào
- Ở ngoài lưu thông, nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm giá trị mớicho hàng hóa, thì phải bằng lao động của mình Chẳng hạn, người thợ giày
đã tạo ra một giá trị mới bằng cách lấy da thuộc để làm ra giày Trong thực
tế, đôi giày có giá trị lớn hơn da thuộc vì nó đã thu hút nhiều lao động hơn,còn giá trị của bản thân da thuộc vẫn y như trước, không tự tăng lên
Đến đây, C.Mác đã khẳng định: "Vậy là tư bản không thể xuất hiện từlưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuấthiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông" Đó chính
là mâu thuẫn chứa đựng trong công thức chung của tư bản Để giải quyếtmâu thuẫn này, ta phải tìm hiểu một loại hàng hóa đặc biệt – đó là sức laođộng
2 Hàng hoá sức lao động
a Sức lao động, sự chuyển hoá sức lao động thành hàng hoá
- Để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản, cần tìmtrên thị trường một loại hàng hoá mà việc sử dụng nó có thế tạo ra đượcgiá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó Hàng hoá đó là hàng hoá sức laođộng
Trước hết ,sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực)tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất Sứclao động là cái có trước, còn lao động chính là quá trình vận dụng sức laođộng
Sức lao động là yếu tố quan trọng của sản xuất, nhưng sức lao độngchỉ trở thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau đây:
- Thứ nhất, người lao động phải là người được tự do về thân thể củamình, phải có khả năng chi phối sức lao động ấy và chỉ bán lao động đótrong một thời gian nhất định
- Thứ hai, người lao động không còn có tư liệu sản xuất cần thiết để tựmình thực hiện lao động và cũng không có của cải gì khác, muốn sống chỉcòn cách bán sức lao động cho người khác sử dụng
Sức lao động trở thành hàng hoá đánh dấu một bước ngoặt cách mạngtrong phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là mộtbước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ và phong kiến Sự bình đẳng về hìnhthức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư bản che đậy bảnchất của chủ nghĩa tư bản- chế độ được xây dựng trên sự đối kháng lợi íchkinh tế giữa tư bản và lao động
b Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động:
Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính, giống như hàng hoá
Trang 14khác, đó là: giá trị và giá trị sử dụng
- Giá trị của hàng hoá sức lao động cũng do số lượng lao động xã hộicần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định Giá trị sức lao độngđược quy về giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất
và tái sản xuất sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê vàgia đình họ
Tuy nhiên,giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thôngthường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộcvào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độvăn minh đã đạt được, vào điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân
và cả điều kiện địa lý, khí hậu
- Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ở quá trình tiêudùng sức lao động, tức là quá trình lao động để sản xuất ra một hàng hoá,một dịch vụ nào đó Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra mộtlượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so vớigiá trị sức lao động là giá trị thặng dư Đó chính là điểm đặc biệt trong giátrị sử dụng của hàng hoá sức lao động Đặc điểm này là chìa khoá để giảiquyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản đã trình bày ở trên
Từ hai thuộc tính trên đây, ngưòi ta nói rằng: Sức lao động là mộthàng hoá đặc biệt khác với các hàng hoá thông thường
* Kết luận: Điểm đặc biệt trong giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
là chìa khóa để giải đáp mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản là vì :Nhà tư bản đưa tiền vào sản xuất, nhờ có lưu thông mà nhà tư bản tìmđược trên thị trường một hàng hóa đặc biệt là hàng hóa sức lao động,nhưng chỉ khi nào sử dụng sức lao động kết hợp với tư liệu sản xuất vàotrong lĩnh vực sản xuất nó mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Câu 5 : Hai phương
+ Quá trình sản xuất giá trị giá trị thặng dư
- Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư :+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối;
+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối;
+ Giá trị thặng dư siêu ngạch
- So sánh hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư+ Giống nhau;
+ Khác nhau
- Ý nghĩa nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
B Trọng tâm trình bày :
1 Sản xuất giá trị thặng dư
a Ngày lao động của công nhân làm thuê.
Ngày lao động: là thời gian lao động trong ngày, bao gồm: thời gian
Trang 15lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư.
- Thời gian lao động cần thiết (t): là khoảng thời gian mà người laođộng tạo ra được 1 lượng giá trị ngang bằng với giá trị hàng hóa sức laođộng
- Thời gian lao động thặng dư (t’): là khoảng thời gian mà người laođộng tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
b Quá trình sản xuất giá trị giá trị thặng dư.
Do lao động sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt, nên quá trình sảnxuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa cũng có tính chất hai mặt: quá trình laođộng và quá trình tạo ra và làm tăng giá trị Trong cùng một thời gian,bằng lao động cụ thể, người công nhân sử dụng những tư liệu sản xuất đểtạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa mới và chuyển giá trị của những tư liệusản xuất đã được tiêu dùng sang hàng hóa mới Đồng thời, bằng lao độngtrừu tượng, người công nhân đã kết tinh thêm vào sản phẩm mới mộtlượng giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động Phần lớn ấy là giá trị thặngdư
Lấy ví dụ về việc sản xuất sợi của nhà tư bản, để làm rõ quá trình tạo
ra giá trị và giá trị thặng dưGiả sử, để chế tạo ra 1 kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền 20.000đơn vị tiền tệ mua 1 kg bông, 3.000 đơn vị tiền tệ cho hao phí máy móc và5.000 đơn vị tiền tệ mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móctrong 1 ngày (10 giờ) Giả định việc mua này đúng giá trị Mỗi giờ laođộng sống của công nhân tạo ra giá trị mới kết tinh vào sản phẩm là 1.000đơn vị tiền tệ
Trong quá trình sản xuất, bằng lao động cụ thể, công nhân sử dụngmáy móc để chuyển 1kg bông thành 1 kg sợi, theo đó giá trị của bông vàhao mòn máy móc cũng được chuyển vào sợi; bằng lao động trừu tượng,mỗi giờ công nhân tạo thêm một lượng giá trị mới 1.000 đơn vị tiền tệ.Giả định chỉ trong 5 giờ công nhân đã kéo xong 1kg bông thành 1 kgsợi, thì giá trị 1 kg sợi được tính theo các khoản như sau:
+ Giá trị 1kg bông chuyển vào = 20.000 đơn vị tiền tệ+ Hao mòn máy móc = 3.000 đơn vị tiền tệ
+ Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động, phần này vừa đủ bù đắp giátrị sức lao động) = 5.000 đơn vị tiền tệ
Tổng cộng = 28.000 đơn vị tiền tệNếu quá trình lao động ngừng ở đây thì nhà tư bản chưa có được giátrị thặng dư
Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong 1 ngày với 10 giờ, chứkhông phải là 5 giờ Trong 5 giờ lao động tiếp, nhà tư bản chi thêm 20.000đơn vị tiền tệ để mua 1 kg bông và 3000 đơn vị tiền tệ hao mòn máy móc
và với 5giờ lao động sau, người công nhân vẫn tạo ra 5.000 đơn vị giá trịmới và có thêm 1kg sợi với giá trị 28.000 đơn vị tiền tệ Tổng số tiền nhà
tư bản chi ra có được 2kg sợi sẽ là:
+ Tiền mua bông: 20.000 x 2 = 40.000 đơn vị tiền tệ
Trang 16+ Hao mòn máy móc (máy chạy 10 tiếng): 3000 x 2 = 6.000 đơn vịtiền tệ
+ Tiền lương công nhân sản xuất cả ngày (trong 10 giờ, tính theo đúnggiá trị sức lao động) = 5.000 đơn vị tiền tệ
Tổng cộng = 51.000 đơn vị tiền tệ
- Tổng giá trị của 2 kg sợi là: 2 kg x 28.000 = 56.000 đơn vị tiền tệ vànhư vậy, lượng giá trị thặng dư thu được là: 56.000 – 51.000= 5.000 (đơn
vị tiền tệ) Lượng giá trị này chính bằng lượng giá trị mới do công nhân tạo
ra trong 5 giờ lao động sau
Nhận xét:
- Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượtkhỏi điểm mà tại đó đã tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng giá trị sứclao động
- Từ thí dụ trên đây ta kết luận: giá trị thặng dư là giá trị mới do laođộng của người công nhân tạo ra ngoài giá trị sức lao động, là kết quả laođộng không công của công nhân cho nhà tư bản Cho nên, C.Mác viết: “Bíquyết của sự tự tăng thêm giá trị của tư bản quy lại là ở chỗ tư bản chi phốiđược một số lượng lao động không công nhất định của người khác”
- Sở dĩ nhà tư bản chi phối được số lao động không công ấy vì nhà tưbản là người sở hữu tư liệu sản xuất Còn người công nhân phải bán sứclao động vì họ không có tư liệu sản xuất
- Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa trước hết là quá trình lao động,
là chung cho mọi xã hội, đồng thời là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư,
là cái riêng (đặc thù) trong đó người công nhân bị nhà tư bản thống trị, sảnphẩm làm ra không thuộc về anh ta mà thuộc nhà tư bản
- Bản chất của tư bản: Tư bản biểu hiện ở tiền, tư liệu sản xuất, sức laođộng nhưng bản chất của tư bản là một quan hệ xã hội, quan hệ bóc lột laođông làm thuê
Kết luận:
- Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức laođộng do lao động của công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt Đó làlao động không công của người công nhân cho nhà tư bản
- Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao độnglàm thuê
2 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
a Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong giai đoạn đầu của chủnghĩa tư bản
Giá trị thặng dư tuyệt đối được sản xuất bằng cách kéo dài ngày laođộng vượt quá thời gian lao động tất yếu trong khi mọi điều kiện kháckhông thay đổi thời gian lao động thặng dư tăng lên tương ứng
Ví dụ : Ngày lao động là 8 giờ, gồm thời gian lao động tất yếu là 4giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ Bây giờ kéo dài ngày lao động
Trang 17thành 10 giờ, thời gian lao động tất yếu không đổi, thì thời gian lao độngthặng dư tăng từ 4 giờ lên 6 giờ.
Trong ví dụ trên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên :m’ = 44 x100%
= 100% lên m’ = 46 x100%
= 150%
Tăng cường sản xuất m tuyệt đối còn bằng cách tăng cường độ laođộng, vì tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài ngày lao động.Biện pháp tăng cường độ lao động hoặc kéo dài ngày lao động gặpphải sự phản kháng gây gắt của giai cấp công nhân
b Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
Giá trị tương đối được sản xuất bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động,nhờ đó rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong khi độ dài ngày lao độngkhông thay đổi, thời gian lao động thặng dư tăng lên tương ứng
Ví dụ : Ngày lao động 8 giờ trong đó 4 giờ lao động tất yếu, 4 giờ laođộng thặng dư Nếu giảm giá trị sức lao động xuống còn 2 giờ, thời gianlao động thặng dư tăng lên 6 giờ Do đó tỷ suất giá trị thặng dư từ 100%tăng lên 300%
Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải làm giảm giá trị các tư liệu sinhhoạt bằng cách tăng năng suất lao động xã hội ở các ngành sản xuất ra tưliệu sinh hoạt hoặc ở ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra tưliệu sinh hoạt
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dưtuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuậtphát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu
c Giá trị thặng dư siêu ngạch:
Phần giá trị thặng dư thu trội hơn giá trị thặng dư bình thường nhờ giátrị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội
Xét từng trường hợp, thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạmthời, xuất hiện và mất đi Nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dưsiêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên
Sản xuất giá trị thặng dư Tuyệt đối Sản xuất giá trị thặng dư Tương đối Thời điểm
sử dụng của chủ nghĩa tư bảnTrong giai đoạn đầu
khi còn lạc hậu
Giai đoạn s
u của chủ nghĩa tư bản, khi
có sự phát triển của khoa học
công nghệ
Nội dung Kéo dài thời gian lao
động → tăng thời gianthặng dư
Giảm thời gian lao động cần thiết→ tăng thời gian thặng dư
Biện pháp thực hiện Kéo dài thời gian laođộng
Tăng cường độ l
o động
Tăng năng suất lao động
Giới hạn Thể chất và tinh thần Trình độ của người lao
Trang 18của phương pháp
của người lao động
Độ dài của một ngày
tự nhiên
Đấu tranh của giai cấp công nhân tăng lên
của giai cấp công nhân và giai cấp tư sản ngày càng gay gắt
Mâu thuẫn đối kháng của giai cấp công nhân và giai cấp tư sản được xoa dịu, giảm bớt
Giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng
dư tương đối
2 So sánh hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
-Thời điểm áp dụng phổ biến: Giaiđoạn đầu của CNTB khi khoa học công nghệ còn kém phát triển
-Giới hạn áp dụng: Giới hạn độ dài ngày tự nhiên (24 giờ/ngày) vàgiới hạn khả năng thể chất, tinh thần của người lao động (do tăng cường độ lao động)
-Mẫu thuẫn giữa 2 giai cấp: Ngày càng gay gắt và thường gây ra phản kháng của công nhân làm thuê
-Biện pháp: Tăng NSLĐ bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư
-Thời điểm áp dụng phổ biến: Giai đoạn phát triển của CNTB, khi khoa học công nghệ đang phát triển
-Giới hạn áp dụng: giới hạn bởi trình độ của người lao động; trình độ KHKT và khả năng tài chính cuảnhà tư bản.-Mẫu thuẫn giữa 2 giai cấp: Trình độ bóc lột tinh vi hơn,
do đó che đậy được mức độ bóc lột của nhà tu bản vì vậy xoa dịu và giảm bớt mâu
Trang 19thuẫn giai cấp.
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu hai phương pháp này.
Phương pháp sản xuất GTTD là cơ sở để tồn tại, phát triển của CNTB, không những phản ánh phương pháp mà cả mục đích, thủ đoạn và phương tiện để đạt mục đích của nền sản xuất TBCN Nghiên cứu GTTD cho ta thấy ý nghĩa:
a Về lý luận:
- GTTD là cơ sở tồn tại, phát triển của CNTB Nó không những phảnánh mục đích mà cả phương pháp, thủ đoạn và phương tiện để đạt mụcđích của nền sản xuất TBCN Qua đó, chúng ta khẳng định lại bản chấtbóc lột của CNTB – tìm mọi cách để mang lại GTTD càng nhiều càng tốtcho nhà TBản
- Sản xuất GTTD là quy luật tuyệt đối của CNTB Nó quyết định toàn
bộ quá trình phát sinh, phát triển của CNTB và sự thay thế CNTB bằngmột xã hội mới, cao hơn
- Do quy luật GTTD nên sự phát triển của nền sản xuất TBCN diễn radưới hình thức mâu thuẫn đối kháng giữa tính chất xã hội hóa của sảnxuất với hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN – toàn bộ mâu thuẫn củaCNTB ngày càng sâu sắc dẫn đến tình tất yếu sẽ được thay thế bằng mộtphương thức sản xuất cao hơn
b Về thực tiễn:
- Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất bóc lột của 2 phương pháp tạo raGTTD bởi sự bất công trong phân phối thu nhập của CNTB, thì vận dụngcác phương pháp sản xuất GTTD, nhất là phương pháp sản xuất GTTDtương đối và GTTD siêu ngạch trong các doanh nghiệp sẽ kích thích sảnxuất, tăng NSLĐ xã hội, sử dụng kỹ thuật – công nghệ mới, cải tiến tổchức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất… tạo ra giá trị mới ngày càng lớncho nền kinh tế, tăng cường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
- Gợi mở cách thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Đối với nước ta, cần tận dụng triệt để các nguồn lực; nhất là nguồn laođộng trong sản xuất kinh doanh
Về cơ bản và lâu dài, giải pháp quan trọng cần phải coi trọng tăng năng suất lao động xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
5 Vận dụng hai phương pháp sản xuất GTTD tại Việt Nam:
- PP1: cho phép làm thêm giờ nhưng luật lao động không khuyến
khích người lao động làm thêm ngoài giờ; quy định khống chế giờ làmthêm, tăng ca, chế độ thanh toán tiền công làm ngoài giờ, chế độ nghỉbù… để đảm bảo thời gian và khả năng tái tạo sức lao động của ngườilao động nhằm giúp người lao động và sử dụng lao động có thỏa thuậnđúng luật, tránh hoặc giảm bớt mâu thuẫn giữa hai bên, đồng thời nângcao hiệu quả công việc
- PP2: thông qua quá trình CNH- HĐH nền kinh tế quốc dân
Nước ta cần vận dụng có hiệu quả 2 phương pháp trên bằng cách:
Trang 20Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh giữa
các tổ chức độc quyền với nhà nước tư bản thành một thiết chế và thể chếthống nhất; Nhằm bảo vệ lợi ích cho các tổ chức độc quyền và để cứu nguycho chủ nghĩa tư bản
1 Nguyên nhân hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Đầu thế kỷ XX, V.I Lênin đã chỉ rõ: Chủ nghĩa tư bản độc quyềnchuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là khuynh hướng tấtyếu Nhưng chỉ đến những năm 50 của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản độcquyền nhà nước mới trở thành một thực thể rõ ràng và là một đặc trưng cơbản của chủ nghĩa tư bản hiện đại
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ra đời do những nguyên nhânchủ yếu sau đây:
Một là: tích tụ và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung sản
xuất càng cao, do đó đẻ ra những cơ cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điềutiết xã hội đối với sản xuất và phân phối, một sự kế hoạch hoá tập trung từmột trung tâm Hình thức mới đó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Hai là, sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện
một số ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặckhông muốn kinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận,nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng như năng lượng, giao thông vậntải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản Nhà nước tư sản trong khi đảmnhiệm kinh doanh các ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền
tư nhân kinh doanh các ngành khác có lợi hơn
Ba là, sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giữagiai cấp tư sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Nhà nước phải cónhững chính sách để xoa dịu những mâu thuẫn đó như trợ cấp thất nghiệp, điềutiết thu nhập quốc dân, phát triển phúc lợi xã hội
Bốn là, cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự bành trướngcủa các liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dântộc và xung đột lợi ích với các đối thủ trên thị trường thế giới Tình hình đóđòi hỏi phải có sự điều tiết các quan hệ chính trị và kinh tế quốc tế, trong đókhông thể thiếu vai trò của nhà nước
Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh vớichủ nghĩa xã hội hiện thực và tác động của cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại cũng đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vàođời sống kinh tế
2 Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các
tổ chức độc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư sản thành mộtthiết chế và thể chế thống nhất nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độc