2 Lớp Họ tên học viên ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn học Những vấn đề cơ bản của CN Mác Lênin BÀI 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CNDVLS PHẦN GV SỬA PHẦN SOẠN Câu 6 Phân tích nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn học: Những vấn đề cơ bản của CN Mác-Lênin BÀI 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CNDVLS
Câu 6: Phân tích nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất?Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta?
Trả lời:
A Chủ đề : 0
- Phân tích nội dung của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sảnxuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta
B Trọng tâm giải quyết vấn đề:
1 Khái niệm phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là cách thức mà con người dùng để làm racủa cải vật chất cho xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Theocách đó, con người có những quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhautrong sản xuất Hay nói cách khác, phương thức sản xuất là sự thốngnhất giữa hai mặt, là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Theo Mac, phương thức sản xuất là yếu tố quyết định sự tồn tại
và phát triển của xã hội Được thể hiện :
- Phương thức sản xuất là cơ sở cho sự tồn tại của xã hội:
+ Thông qua việc sản xuất của cải vật chất là cơ sở cho sự tồntại của xã hội loài người
+ Thông qua phương thức sản xuất, con người sản xuất ra củacải vật chất phục vụ cho nhu cầu của con người
- Phương thức sản xuất là cơ sở hình thành nên mọi mặt của xãhội (Kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội)
1.1 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữa con người với tựnhiên trong quá trình sản xuất, nó phản ánh trình độ chinh phục tựnhiên của con người Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất
và người lao động với trình độ tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm sảnxuất và thói quen lao động
Các yếu tố của lực lượng sản xuất có quan hệ biện chứng vớinhau, trong đó người lao động đóng vai trò quyết định,"lực lượngsản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người laođộng" Trong tư liệu sản xuất gồm công cụ lao động; phương tiện
Trang 2lao động và đối tượng lao dộng thì công cụ lao động là yếu tố cơbản và đóng vai trò quyết định Công cụ lao động do con ngườisáng tạo ra, là "sức mạnh của tri thức đã được vật thể hoá", nó cótác dụng "nối dài bàn tay" và nhân lên sức mạnh trí tuệ của conngười trong quá trình lao động sản xuất.
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vaitrò ngày càng to lớn Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp Những thành tựu của khoa học được ứng dụng nhanhchóng, rộng rãi vào sản xuất, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ sảnxuất phát triển Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sảnxuất, đã làm cho lực lượng sản xuất có bước phát triển nhảy vọt.Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đạikhông còn là kinh nghiệm và thói quen, mà là tri thức khoa học Cóthể nói: Khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượngsản xuất hiện đại
Lực lượng sản xuất do con người tạo ra nhưng nó luôn là yếu tốkhách quan Hay nói cụ thể hơn, lực lượng sản xuất là kết quả củanăng lực hoạt động thực tiễn của con người, nhưng bản thân nănglực hoạt động thực tiễn này lại bị quyết định bởi những điều kiệnkhách quan trong đó con người sinh sống; bởi những lực lượng sảnxuất đã đạt được do các thế hệ trước tạo ra
Trình độ của lực lượng sản xuất dùng để chỉ năng lực, mức độ,hiệu quả chinh phục tự nhiên thông qua việc sử dụng công cụ laođộng tác động để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của con người
1.2 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quátrình sản xuất Quan hệ sản xuất xét về kết cấu bao gồm ba quan hệ:quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức,quản lý sản xuất và quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động Baquan hệ trong quan hệ sản xuất này thống nhất với nhau Quan hệsản xuất được hình thành một cách khách quan trên cơ sở một trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất Nó được hình thành trong quátrình phát triển lịch sử không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan củacon người Quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản quyết định tất cả cácquan hệ xã hội khác của con người
Các mặt hợp thành quan hệ sản xuất, gắn bó hữu cơ với nhau,trong đó quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyếtđịnh Bởi lẽ, ai nắm được tư liệu sản xuất trong tay người đó sẽquyết định việc tổ chức, quản lý sản xuất cũng như phân phối sảnphẩm lao động Chính quan hệ sở hữu cũng quy định tính đặc trưngcho từng quan hệ sản xuất của từng xã hội Do vậy, quan hệ sảnxuất là tiêu chí quan trọng để phân biệt hình thái kinh tê – xã hộinày với hình thái kinh tế - xã hội khác Ngược lại, quan hệ tổ chức,quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm lao động cũng tácđộng trở lại đến quan hệ sở hữu Chúng góp phần củng cố hoặc pháhoại quan hệ sở hữu
Trang 32 Nội dung quy luật
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phươngthức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, mà tác động qua lạilẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp củaquan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
2.1 Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sảnxuất và sức lao động Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phâncông lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất cánhân Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí, hiện đại, phân công laođộng xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá.Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công
cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của conngười, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứngdụng của khoa học vào sản xuất
2.2 Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, biến đổi và phát triển của quan hệ sản xuất
Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là nội dung kinh
tế của quá trình sản xuất còn quan hệ sản xuất là hình thức biểu hiệncủa quá trình sản xuất nó Tức là trình độ sản xuất quyết định năngsuất lao động, chất lượng sản phẩm và đương nhiên lực lượng sản xuấtquyết định hiệu quả sản xuất Sự biến đổi trong lực lượng sản xuất (nộidung) sớm muộn cũng kéo theo sự biến đổi của quan hệ sản xuất (hìnhthức) Như vậy, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành của quan hệ sảnxuất Tức là, trình độ sản xuất như thế nào sẽ quy định quan hệ sảnxuất như thế đó, phù hợp với quan hệ sản xuất trên ba mặt sở hữuđối với tư liệu sản xuất; tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối sảnphẩm lao động Quan hệ sản xuất không phải là sự lựa chọn chủquan của con người trong quá trình sản xuất mà quan hệ sản xuấtđược hình thành trên trình độ lực lượng sản xuất quy định VD:trong sản xuất, trình độ của người lao động chưa được chuyên mônhóa, công cụ lao động là thủ công thì quan hệ sản xuất hình thànhphù hợp với lực lượng sản xuất, sở hữu tư nhân, quy mô nhỏ
Trong phương thức sản xuất lực lượng sản xuất quyết định biếnđổi và phát triển của quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất là yếu tốđộng nhất, cách mạng nhất, nó luôn vận động và biến đổi trong quátrình lịch sử Bởi vì trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặngnhọc và đạt được năng suất, hiệu quả hơn, con người luôn tìm cáchkhông ngừng nâng cao trình độ của mình; cải tiến, hoàn thiện công
cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động mới ngày càngtinh xảo hơn Vì thế làm cho lực lượng sản xuất không ngừng biếnđổi và phát triển
Cùng với sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất hình thành, biến đổi và phát triển theo
Trang 4- Nếu quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi và phát triển theokịp, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển.
- Nếu quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi không theo kịp,không phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất thì nó trở thành "xiềng xích" của lực lượng sản xuất, kìm hãmlực lượng sản xuất phát triển Và lúc này, sẽ nảy sinh mâu thuẫngiữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Mâu thuẫn này ngàycàng gay gắt và sớm hay muộn mâu thuẫn đó sẽ được giải quyếtnhằm xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mớicho phù hợp với tính chất và trình độ mới của lực lượng sản xuất.Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuấtmới cũng có nghĩa là sự diệt vong của cả một phương thức sản xuấtlỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới Trong xãhội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mớivới quan hệ sản xuất lỗi thời được biểu hiện về mặt xã hội là mâuthuẫn giữa giai cấp phản động với giai cấp cách mạng Bởi vậy,mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua cuộc đấu tranh giaicấp mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội nhằm thay thế quan hệsản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới
Như vậy, lực lượng sản xuất là nguyên nhân, là nội dung sinhđộng đòi hỏi quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi và phát triển chophù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
2.3 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực lượng sản xuất dựavào đó để phát triển; do đó, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối vớilực lượng sản xuất Tác động đó diễn ra theo hai xu hướng:
- Khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất sẽ tạo địa bàn cho sự phát triển của lực lượng sảnxuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Lúc này cả ba mặt củaquan hệ sản xuất tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợpgiữa lao động và tư liệu sản xuất
- Khi quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sảnxuất Song tác dụng kìm hãm đó chỉ tạm thời Theo tính kháchquan, quan hệ sản xuất đó sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuấtmới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Sở dĩ quan hệ sản xuất đóng vai trò mạnh mẽ trở lại lực lượngsản xuất là vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống
tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thứcphân phối sản phẩm Từ đó nó hình thành nên một hệ thống nhữngyếu tố hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sảnxuất Chẳng hạn như thông qua những quy định trên nó có ảnhhưởng đến thái độ của người lao động; tạo ra những điều kiện hoặc
Trang 5kích thích, hoặc hạn chế việc nâng cao trình độ, việc cải tiến công
cụ lao động, việc áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, hợptác, phân công lao động Trên cơ sở đó thúc đẩy, hoặc kìm hãm sựphát triển của lực lượng sản xuất
Như vậy, lực lượng sản xuất phát triển chẳng những do yếu tốnội tại của nó mà còn do sự tác động của quan hệ sản xuất
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động toàn bộ tiếntrình lịch sử nhân loại Sự tác động của quy luật này đã đưa xã hội loàingười trải qua các phương thức sản xuất khác nhau từ thấp đến cao
3 Ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Cung cấp cơ sở lý luận khoa học, xây dựng quan điểm duy vật
về lịch sử để giải thích nguồn gốc động lực của sự vận động pháttriển của xã hội của các phương thức sản xuất trong lịch sử, bác bỏquan điểm duy tâm và các quan điểm sai lầm khác
- Cung cấp cơ sở lý luận khoa học để Đảng ta hoạch định đườnglối phát triển kinh tế trên đất nước ta :
+ Muốn thúc đẩy nền sản xuất của xã hội phải ưu tiên phát triểnlực lượng sản xuất, đồng thời phải xây dựng các quan hệ sản xuấtphù hợp với trình độ lực lượng sản xuất
+ Phát hiện và giải quyết kịp thời mâu thuẫn giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất
C Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta:
Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thểphát triển khi nó có một quan hệ sản xuất phù hợp với nó Quan hệsản xuất lạc hậu hơn, hoặc "tiên tiến" hơn một cách giả tạo so vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất đều kìm hãm sự phát triểncủa lực lượng sản xuất
Trước thời kỳ đổi mới, việc nhận thức và vận dụng quy luật này
ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và những nước mà xuất phátđiểm đi lên chủ nghĩa xã hội thấp như ở nước ta nói riêng đã mắcphải những lệch lạc, sai lầm, chủ quan
Chủ trương xây dựng sớm một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thuầnnhất với hai hình thức sở hữu là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể trongkhi trình độ lực lượng sản xuất còn thấp kém và phát triển không đồngđều là một chủ trương nóng vội, chủ quan, duy ý chí Đó không phải là
sự vận dụng một cách sáng tạo quy luật – như có thời kỳ chúng ta vẫnlầm tưởng – mà là vi phạm quy luật, làm trái quy luật khách quan
Từ những sai lầm trong nhận thức đã dẫn đến những chỉ đạo sailầm trong thực tiễn Cụ thể:
+ Một là, xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất mộtcách ồ ạt, trong khi chế độ đó đang tạo địa bàn cho sự phát triển lựclượng sản xuất
Trang 6+ Hai là, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cáchtràn lan, trong khi trình độ lực lượng sản xuất còn thấp kém và pháttriển không đồng đều, khả năng quản lý còn yếu kém…
Trên thực tế cho đến nay, tất cả các nước đi theo con đường xãhội chủ nghĩa dường như không phải từ nước tư bản phát triển cao,
mà từ những nước tư bản ở trình độ phát triển trung bình và thấphoặc chưa trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa của sự phát triển lịch
sử Trong tình trạng đó mà vội vàng xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất, thiết lập một cách tràn lan chế độ công hữu tức
là áp đặt một quan hệ sản xuất cao hơn so với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất Cảnh báo về sai lầm này, Mac đã viết: “khôngmột hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượngsản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho sự phát triển,vẫn chưa phát triển và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũngkhông bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chấtcủa những quan hệ đó chưa chín mùi trong lòng bản thân xã hội cũ”Trong xây dựng quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa, về thực chất chúng ta mới xác lập được chế độ sở hữu,còn hình thức tổ chức quản lý và cách thức phân phối chưa đượcgiải quyết một cách đúng đắn Sự tồn tại trong một thời gian khá dàiquan hệ sản xuất thiếu đồng bộ đó cũng là một hạn chế cần phảikhắc phục
Chính những sai lầm chủ quan đã đẩy nền kinh tế nước ta rơivào tình trạng khủng hoảng, trì trệ Ý thức được điều đó, thời kỳ đổimới, từ năm 1986 Đảng ta chủ trương chuyển từ nền kinh tế thuầnnhất xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là
sự vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo quy luật quan hệ sảnxuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chủtrương đó trước hết bắt nguồn từ thực trạng trình độ phát triển lựclượng sản xuất còn thấp kém và phát triển không đồng đều Để khaithác, phát huy được mọi năng lực, lực lượng sản xuất phải tạo lậpnhiều loại hình quan hệ sản xuất thì mới phù hợp
Hiện nay nền kinh tế ở nước ta, như Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI và XII của ĐCSVN đã chỉ ra các thành phần kinh tế:kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế hoạt động theo phápluật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế nhiều thịtrường theo định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùngphát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhànước định hướng và điều tiết kinh tế,tạo nên môi trường và điềukiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Đại hội XIIcủa Đảng đã chỉ rõ: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ
Trang 7phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, cónhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế;các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác vàcạnh tranh theo pháp luật;…”.
Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật về sự phù hợp giữaquan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trongthời kỳ đổi mới đã làm cho nền kinh tế nước ta có những bước pháttriển vượt bậc Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo đàcho sự phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta chủ trương: "Đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưanước ta thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượngsản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa"
- Phát triển lực lượng sản xuất: công nghiệp hoá, hiện đại hoáxây dựng lực lượng sản xuất tiên tiến Coi trọng yếu tố con ngườitrong lực lượng sản xuất
- Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đảm bảo sự phù hợpcủa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,nhằm phát huy mọi tiềm năng vốn có của lực lượng sản xuất ởnước ta
- Từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Pháthuy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước Nâng cao sựquản lý của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế; đảm bảo cácthành phần kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lựclượng sản xuất là quy luật cơ bản của mọi nề kinh tế Việc nhậnthức đúng và vận dụng một cách sáng tạo quy luật này có ý nghĩađặc biệt quan trọng đối với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa
Liên hệ thực tế: Trong thời kỳ trước năm 1986, Đảng ta nóng
vội cải tạo các thành phần kinh tế, xây dựng thành phần kinh tế NN
và tập thể, không thừa nhận các thành phần kinh tế khác Đảng và
NN định hướng XD nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp, làm trái quy luật phát triển tự nhiên dẫn đến nền kinh tế bị kìm hãm nặng nề, đời sống nhân dân khó khăn, tư tưởng con người trì trệ Sau đại hội 6, tư tưởng đổi mới của Đảng và NN ta thể hiện
ở việc thừa nhận còn tồn tại 5 thành phần kinh tế, định hướng XHCN, thì tình hình có nhiều thay đổi, đời sống khá dần lên
là do đã đi đúng hướng, đúng quy luật QHSX phải phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX.
Trang 8Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiêncứu vấn đề này? Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
A Chủ đề :
- Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiếntrúc thượng tầng
- Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này
- Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
B Trọng tâm giải quyết vấn đề :
1 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng 1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơcấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Cơ sở hạ tầnghình thành một cách khách quan trong quá trình vật chất của xã hội.Khái niệm cơ sở hạ tầng phản ánh chức năng xã hội của các quan
hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng xã hội Cơ
sở hạ tầng của một xã hội cụ thể bao gồm những quan hệ sản xuấtthống trị, những quan hệ sản xuất là tàn dư của xã hội trước và nhữngquan hệ sản xuất là mầm mống của xã hội sau Nhưng đặc trưng chobản chất của một cơ sở hạ tầng là quan hệ sản xuất thống trị quy định.Trong một cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế, nhiều kiểu quan
hệ sản xuất thì kiểu quan hệ sản xuất thống trị và thành phần kinh tếtương ứng với nó bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thànhphần kinh tế và các kiểu quan hệ sản xuất khác; quy định và tác độngtrực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Tuynhiên, những quan hệ sản xuất khác cũng có vai trò nhất định
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, thì trong cơ sở hạ tầng tồntại các quan hệ đối kháng Sự đối kháng giai cấp và xung đột giaicấp bắt nguồn ngay từ trong cơ sở hạ tầng
1.2 Khái niệm kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, phápquyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v cùng với nhữngthiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoànthể xã hội, v.v hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quyluật phát triển riêng, nhưng không tồn tại tách rời nhau mà tác độngqua lại lẫn nhau và đều nảy sinh trên cơ sở hạ tầng, phản ánh cơ sở hạtầng Song không phải tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đềuliên hệ như nhau đối với cơ sở hạ tầng của nó Các tổ chức chính trị,pháp luật có liên hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng; còn các yếu tố khácnhư triết học, nghệ thuật, tôn giáo chỉ liên hệ gián tiếp với nó
Trang 9Kiến trúc thượng tầng của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm
hệ tư tưởng và các thể chế của giai cấp thống trị, tàn dư của cácquan điểm xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chức của giai cấp bịtrị mới ra đời; quan điểm tư tưởng và tổ chức của các tầng lớp trunggian Tính chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tínhchất cơ bản của kiến trúc thượng tầng trong một hình thái xã hộinhất định
Bộ phận có quyền lực mạnh nhất trong kiến trúc thượng tầngcủa xã hội có đối kháng giai cấp là nhà nước - công cụ của giai cấpthống trị xã hội về chính trị, pháp lý Chính nhờ có nhà nước mà tưtưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống xãhội Giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế và nắm giữ chính quyềnnhà nước thì hệ tư tưởng cùng với những thiết chế xã hội của giaicấp ấy cũng giữ địa vị thống trị Nó quy định và tác động trực tiếpđến xu hướng phát triển của toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội vàquyết định cả tính chất, đặc trưng cơ bản của toàn bộ kiến trúcthượng tầng xã hội đó
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
2.1 Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượngtầng thể hiện trước hết ở chỗ cơ sở hạ tầng nào thì sinh ra kiến trúcthượng tầng ấy Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm địa vịthống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sốngchính trị và tinh thần Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế, xét đếncùng, quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị tư tưởng Tất cảcác yếu tố kiến trúc thượng tầng đều trực tiếp hay gián tiếp phụthuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượngtầng còn thể hiện ở chỗ cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộnkiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo Sự thay đổi đó diễn rakhông chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh tế - xã hội nàysang hình thái kinh tế-xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong bảnthân mỗi hình thái kinh tế - xã hội
Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi kiến trúc thượngtầng diễn ra rất phức tạp Trong đó, có những yếu tố của kiến trúcthượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ sở hạtầng như chính trị, pháp luật, v.v Nhưng cũng có yếu tố thay đổichậm như tôn giáo, nghệ thuật, hoặc có những yếu tố tiếp tục tồn tạidai dẵng ngay cả sau khi cơ sở kinh tế sinh ra nó không còn tồn tại
và có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng được kế thừa trong xãhội mới Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi đó thông qua đấutranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội
Trang 102.2 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ
sở hạ tầng
Toàn bộ kiến trúc thượng tầng cũng như các yếu tố cấu thành
nó đều có tính độc lập tương đối trong quá trình vận động phát triển
và tác động một cách mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng
Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạtầng thể hiện chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ,duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, chống lại mọinguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó Một giai cấpchỉ có thể đứng vững được sự thống trị về kinh tế chừng nào xác lập
và củng cố được sự thống trị về chính trị, tư tưởng
Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tácđộng đến cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai tròkhác nhau, có cách thức tác động khác nhau Trong xã hội có giaicấp, nhà nước là yếu tố có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ tầng,
vì đó là bộ máy bạo lực tập trung của giai cấp thống trị về kinh tế.Các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức,tôn giáo, nghệ thuật, v.v cũng đều tác động đến cơ sở hạ tầng bằngnhững cách thức khác nhau Thường những tác động đó phải thôngqua nhà nước, pháp luật thì mới phát huy được hiệu lực đối với cơ
sở hạ tầng, cũng như đối với toàn xã hội
Sự tác động kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ratheo hai chiều hướng Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợpvới các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúcđẩy kinh tế phát triển; còn nếu tác động ngược lại nó sẽ kìm hãm sựphát triển kinh tế, kìm hãm sự phát triển xã hội Nhưng sự kìm hãm
đó chỉ là tạm thời, sớm hay muộn bằng cách này hay cách khác kiếntrúc thượng tầng cũ sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mớicho phù hợp với yêu cầu của cơ sở hạ tầng
Trong bản thân kiến trúc thượng tầng cũng diễn ra quá trìnhbiến đổi, phát triển có tính chất tương đối Quá trình đó càng phùhợp với cơ sở hạ tầng thì sự tác động của nó đối với cơ sở hạ tầngcàng có hiệu quả
Như vậy, sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với
cơ sở kinh tế rất to lớn, nhưng nếu tuyệt đối hóa vai trò của kiến trúcthượng tầng một cách chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến những sai lầmgây hậu quả đối với sự phát triển kinh tế, sự tiến bộ xã hội
2.3 Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở nước ta hiện nay.
- Cơ sở hạ tầng ở nước ta hiện nay nằm trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phát triển còn thấp kém Đó làmột cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều thành phần
Liên hệ: Nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chứckinh doanh đa dạng, đan xen hỗn hợp: Thành phần kinh tế nhànước; Thành phần kinh tế tập thể; thành phần Kinh tế tư bản nhà
Trang 11nước; thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế hỗn hợp.
+ Các thành phần kinh tế được tổ chức thành một cơ cấu kinh
tế thống nhất vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa do kinh tếnhà nước quyết định Thành phần kinh tế nhà nước , tức là thànhphần kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng giữ vai trò chủđạo trong đời sống xã hội
+ Tính đa dạng, phức tạp và đan xen của cơ sở hạ tầng quy địnhtính phức tạp nhiều mặt của kiến trúc thượng tầng ở nước ta, đượcbiểu hiện cụ thể trên lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội
+ Kết cấu của kiến trúc thượng tầng được quy định bởi hệ tưtưởng Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là nền tảng tưtưởng duy nhất chỉ đạo toàn bộ đời sống xã hội đặt dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của giai cấp công nhân
3 Ý nghĩa phương pháp luận từ việc nghiên cứu vấn đề này
Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiếntrúc thượng tầng là cơ sở khoa học để xây dựng quan điểm duy vậtbiện chứng về lịch sử, thấy được sự tác động lẫn nhau giữa cơ sở hạtầng và kiến trúc thượng tầng
Đây là cơ sở lý luận khoa học để xây dựng quan điểm duy vậtbiện chứng về lịch sử trong việc xem xét mối quan hệ giữa kinh tế
và chính trị, bác bỏ quan điểm duy vật, duy tâm tầm thườngNghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiếntrúc thượng tầng là cơ sở lý luận khoa học để Đảng ta xây dựngđường lối kết hợp giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Đồng thời nghiên cứu vấn đề này cũng là cơ sở lý luận khoahọc để chúng ta nhận thức và vận dụng đúng đường lối đổi mới kinh
tế và chính trị của Đảng:
- Khẳng định việc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa là một yêu cầu quan trọng, cấp bách có ý nghĩa quyết định
- Việc thường xuyên kiện toàn đổi mới kiến trúc thượng tầng xãhội chủ nghĩa, mà trước hết là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩatrên đất nước ta hiện nay cũng là một yêu cầu không thể xem nhẹ
Vì quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thực chất làquan hệ giữa kinh tế và chính trị Phép biện chứng giữa kinh tế vàchính trị khẳng định kinh tế quyết định chínhh trị, chính trị là biểuhiện tập trung của kinh tế
Hiện nay nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đóphải thường xuyên kiện toàn đổi mới hệ thống chính trị xã hội chủnghĩa trên đất nước ta cho phù hợp và thích ứng với nền kinh tếnhiều thành phần này Đổi mới một cách đồng bộ với những bước đithích hợp giữa kinh tế và chính trị, Đảng ta đã giành được nhiềuthành tựu to lớn: chủ nghĩa xã hội được giữ vững, kinh tế phát triển,
Trang 12tiến bộ xã hội được biểu hiện một cách rõ rệt.
C Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thànhphần kinh tế, tức là các kiểu tổ chức kinh tế, các kiểu quan hệ sảnxuất với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau,cũng tồn tại trong một nền kinh tế quốc dân thống nhất Đó là nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa Có nghĩa là có sự thống nhất ở mức độ nhất định về mặt lợiích, nhưng nó cũng tồn tại những mâu thuẫn nhất định
Tương ứng với những mâu thuẫn là sự không đồng nhất về bảnchất kinh tế do sự tác động của nhiều hệ thống qui luật kinh tế Đó
là hệ thống các qui luật kinh tế xã hội chủ nghĩa phát sinh trên cơ sở
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, hệ thống các qui luật kinh tếsản xuất hàng hóa nhỏ và các qui luật kinh tề tư bản chủ nghĩa Địnhhướng xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiềuthành phần thì sự quản lý của nhà nước không chỉ bó hẹp trongtrong kinh tế quốc doanh mà phải bao quát tất cả các thành phầnkinh tế khác, nhằm từng bước xã hội hóa xã hội chủ nghĩa với tất cảcác thành phần kinh tế khác phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa
và hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân Trong đó, kinh tế quốc doanhbao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, quyết định đối với quá trình xâydựng và phát triển cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tập thểphải thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ, kinh tế tư nhân vàgia đình có khả năng phát huy được mọi tiềm năng kinh tế góp phầnvào quá trình phát triển kinh tế của xã hội
Xây dựng kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa ở nước ta,Đảng ta khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam chohành động và nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh Nội dung cốt lõi củachủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏichế độ bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng văn minh Tưtưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lêninvới chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta trong sự nghiệp cách mạngViệt Nam Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang bảnchất giai cấp công nhân, đội tiền phong của nó là sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản, bảo đảm cho nhân dân ta là người chủ thật sự của
xã hội Toàn bộ quyền lực xã hội thuộc về xã hội thuộc về nhân dân,thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi khả năng sángtạo, tính tích cực chủ động của mọi cá nhân, mọi tầng lớp xã hộitrong cuộc phát triển kinh tế và văn hóa phục vụ ngày càng cao củađời sống nhân dân Các tổ chức, thiết chế xã hội, các lực lượng xãhội tham gia vào hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đều hướng vềmục tiêu chung làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dânchủ và văn minh
Trang 13Câu 8: Đấu tranh giai cấp là gì? Nguyên nhân của đấu tranh giai
cấp? Vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triến của xã hội
có giai cấp ? Liên hệ cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay ?
Trả lời:
A Chủ đề :
- Đấu tranh giai cấp: Phân tích giai cấp, nguồn gốc giai cấp
- Phân tích vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triểncủa xã hội có giai cấp
- Liên hệ cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay
B Trọng tâm giải quyết vấn đề :
1 Giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triển của xã hội có giai cấp
a Khái niệm giai cấp, tầng lớp xã hội
Giai cấp dùng để chỉ “những tập đoàn to lớn gồm những ngườikhác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất địnhtrong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì nhữngquan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sảnxuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khácnhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà
họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì
có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn cóđịa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”
Từ khái niệm trên cho thấy:
- Giai cấp là kết quả của sự phân hóa xã hội do có sự đối lậpgiữa họ về địa vị trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định
- Trong xã hội, giai cấp nào nắm được tư liệu sản xuất chủyếu của xã hội thì đồng thời có khả năng chiếm được địa vị làm chủquyền lực chính trị và quyền lực nhà nước và trở thành giai cấpthống trị xã hội
- Giai cấp không chỉ là khái niệm của khoa học chính trị mà còn
là khái niệm phản ánh mối quan hệ khách quan giữa lĩnh vực kinh tế
và lĩnh vực chính trị của xã hội; phản ánh mối quan hệ kinh tế, chínhtrị giữa các tập đoàn người trong một điều kiện lịch sử nhất định Đó làmối quan hệ không chỉ có sự khác biệt mà còn có tính chất đối lập của
họ trên phương diện kinh tế và chính trị Từ đó cho thấy, việc phân tíchcác vấn đề về kết cấu chính trị cần phải gắn liền với việc phân tích kếtcấu kinh tế của xã hội theo quan điểm lịch sử cụ thể
Triết học Mác – Lênin nói về sự phân chia giai cấp cũng lànói về quan hệ hiện thực giữa người với người mà trong đó, do bấtbình đẳng trong chiếm hữu tư liệu sản xuất mà tập đoàn này có thểchiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, … là sản phẩm tất yếu củavận động sản xuất Thực chất của quan hệ giai cấp là quan hệ bóclột, là tập đoàn này chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ