1 Họ tên Trần Văn Đẹp Lớp H858 ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin ( Phần Kinh tế chính trị) Trả lời Câu 1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa, liên hệ nề[.]
Trang 1đời và tồn tại của
sản xuất hàng hóa,
liên hệ nền sản xuất
hàng hóa tại Việt
Nam?
1 Khái niệm sản xuất hàng hóa Trong lịch sử phát triển xã hội
có hai kiểu tổ chức kinh tế là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hànghóa - Sản xuất tự cung tự cấp: là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội trong
đó sản phẩm sản xuất ra để phục vụ nhu cầu cho chính người sản xuấttiêu dùng - Sản xuất hàng hóa: là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội trong
đó sản phẩm sản xuất ra dùng để mua bán, trao đổi trên thị trường
2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
* Điều kiện 1: Có sự phân công lao động xã hội
- Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất trênphạm vi toàn xã hội, theo đó nền sản xuất xã hội được phân chiathành những ngành nghề khác nhau Do vậy, người này muốn sử dụngsản phẩm của người kia để tiêu dùng phải thông qua trao đổi và muabán
- Sở dĩ phân công lao động xã hội dẫn đến sự ra đời sản xuất hàng hoávì:
Thứ nhất, phân công lao động xã hội khiến năng suất lao động tăng,theo đó khối lượng sản phẩm làm ra cũng tăng theo không những đápứng đủ nhu cầu của họ mà còn có sản phẩm dư thừa, từ đó dẫn đếnnhu cầu trao đổi hàng hoá
Thứ hai, do chuyên môn hoá nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra mộthoặc một vài sản phẩm nhất định Để thoả mãn nhu cầu cuộc sống đòihỏi họ buộc phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sảnphẩm cho nhau
- Vai trò của PCLĐXH chính là cơ sở, tiền đề ra đời sản xuất hànghóa Phân công lao động xã hội mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa
đủ Muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại cần phải có điều kiệnthứ hai
* Điều kiện 2: Sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những chủ thểsản xuất
- Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế nói lên giữa các chủ thể sảnxuất độc lập với nhau về quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý,quan hệ phân phối Do vậy, người này muốn sử dụng sản phẩm củangười kia để tiêu dùng phải thông qua trao đổi và mua bán, trao đổiphải có sự tính toán thiệt hơn về kinh tế, đó chính là trao đổi hàng
Trang 2hóa
Do sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế nên giữa các chủ thể sản xuất
có sự độc lập với nhau, dẫn đến xuất hiện chế độ tư hữu, tức là tư hữu
về tư liệu sản xuất, tư liệu sản xuất không phải của chung nữa mà làcủa riêng do chủ thể sản xuất quyết định, họ có quyền quyết định sảnphẩm do mình làm ra
=> Trao đổi này dần dần có sự tính toán thiệt hơn về kinh tế
- Vai trò của sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những ngườisản xuất là điều kiện quyết định cho sự ra đời của nền sản xuất hànghóa
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên.Nếu thiếu một trong hai điều kiện này thì không có sản xuất hàng hóa
và sản phẩm làm ra không mang hình thái hàng hóa
3 Ưu thế của sản xuất hàng hóa
- Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế Sản xuất hàng hóa
là sản xuất cho người khác dùng, cho xã hội dùng, nên người sản xuấthàng hóa đòi hỏi phải chú ý đến năng suất, chất lượng, hiệu quả sảnphẩm
- Khai thác lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng
cơ sở, từng vùng, từng địa phương… trong sản xuất hàng hóa, cùngmột loại hàng hóa nhưng có rất nhiều nhà sản xuất khác nhau nên có
sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, vì vậy người sản xuất phải biếtcách khai thác và tận dụng được lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuậtcủa từng người, từng vùng, từng địa phương, lợi thế của các quốc giavới nhau,
- Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: làm cho nền sản xuất xã hộingày càng tiến bộ hơn - Quy mô sản xuất được mở rộng dựa trên nhucầu và nguồn lực xã hội, từ đó thúc đẩy sự giao lưu kinh tế giữa cácvùng, các địa phương và các quốc gia trên thế giới, từ sự giao lưukinh tế dẫn đến sự giao lưu về văn hóa, xã hội dẫn đến đời sống vậtchất tinh thần con người ngày càng được nâng cao, phong phú, đadạng Và còn nhiều những ưu thế khác của sản xuất hàng hóa như :cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, khoa học kỹ thật ngày càngphát triển…
Liên hệ nền sản xuất hàng hóa tại Việt Nam:(Hết giờ, Anh em cứu tôi với)
Câu 2:Hai thuộc
tính của hang hóa,
liên hệ hàng hóa
được sản xuất ở
Việt Nam?
1 Định nghĩa hàng hóa:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào
đó của con người bằng cách thông qua trao đổi, mua bán trên thịtrường
Hàng hóa có 2 lọai:
Trang 3+ Hàng hóa hữu hình: là hàng hóa có hình dạng cụ thể bằng mắtthường người ta cũng cảm nhận được.
+ Hàng hóa vô hình: là hàng hóa không có hình dạng cụ thể saukhi tiêu dùng người ta mới cảm nhận được (như hàng hóa dịch vụ,vận tải…)
2 Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị:
- Giá trị sử dụng của hàng hóa: Là công dụng của hàng hoá nhằmthỏa mãn nhu cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để maymặc, xe đạp để đi…)
* Công dụng của hàng hoá là thuộc tính tự nhiên của hàng hoá
ấy do tính chất lý hoá cấu tạo nên
* Một hàng hóa không chỉ có một công dụng mà có rất nhiềucông dụng, việc phát hiện ra nhiều công dụng của hàng hóa là dokhoa học kỹ thuật phát triển
* Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của hànghóa quy định, là nội dung vật chất của cải Giá trị sử dụng của hànghóa không phải cho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác,cho xã hội Giá trị sử dụng đến tay người khác (người tiêu dùng)thông qua mua – bán
Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị traođổi
- Giá trị của hàng hóa: Muốn hiểu giá trị của hàng hóa phải đi từgiá trị trao đổi
+ Giá trị trao đổi biểu hiện quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổigiữa các giá trị sử dụng khác nhau
Ví Dụ: 1m vải = 5kg thóc Sở dĩ vải và thóc là hai hàng hóa cógiá trị sử dụng khác nhau nhưng có thể trao đổi cho nhau theo một tỉ
lệ là vì vải và thóc đều là sản phẩm của lao động
Hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi đượcvới nhau theo một tỷ lệ nhất định, vì chúng đều lả sản phẩm của laođộng, có cơ sở chung là sự hao phí lao động của con người, tức là có
lượng giá trị hàng hóa bằng nhau Giá trị của hàng hóa là lao động
xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong sản xuất hàng hóa.
Chất của giá trị là lao động Lượng của giá trị là số lượng lao độngcủa người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Giá trị là cơ sở của giá trịtrao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị
Vì giá trị là lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa,nên nếu không kể đến tính chất có ích của sản phẩm, thì mọi hàng hóa
Trang 4đều giống nhau, đều không có sự phân biệt Điều này làm cho giá trịcủa hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sảnxuất hàng hóa.
Hai thuộc tính của hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn nhau:
+ Thống nhất: hai thuộc tính cùng tồn tại đồng thời trong mộthàng hóa, tức là một vật phải có đầy đủ hai thuộc tính này mới trởthành hàng hóa Nếu thiếu một trong hai thuộc tính trên thì vật phẩmkhông là hàng hóa
+ Mâu thuẫn: nếu là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồngnhất về chất, nhưng với tư cách là giá trị thì các hàng hóa lại đồngnhất về chất (đều là kết tinh của lao động) Việc thực hiện hai thuộctính giá trị sử dụng và giá trị thường không đồng thời về không gian
và thời gian Đứng về phía người sản xuất thì cái mà anh ta cần là giátrị, nhưng họ phải tạo ra giá trị sử dụng; ngược lại, người tiêu dùng lạicần giá trị sử dụng, nhưng anh ta phải có giá trị, tức là phải có tiền
Nó được thể hiện thành mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng, giữacung và cầu
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính trên vì lao động sản xuất rahàng hóa có tính chất hai mặt là lao động cụ thể và lao động trìutượng Trong đó, lao động cụ thể của người sản xuất tạo ra thuộc tínhgiá trị sử dụng của hàng hóa; còn lao động trìu tượng của người sảnxuất tạo ra thuộc tính giá trị của hàng hóa
3 Liên hệ hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam
Ngày nay, nền sản xuất hàng hóa ở nước ta mới chỉ xuất hiện, chưaphát triển Trong thời kì bao cấp trước đổi mới, nền kinh tế hàng hóađồng thời là nền kinh tế kế hoạch Cơ chế kế hoạch hóa tập trungquan liêu, bao cấp kìm hãm sự phá triển của nền sản xuất hàng hóa.Biến hình thức tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực sảnxuất, thủ tiêu cạnh tranh và lưu thông thị trường Sự nhận thức sai lầmcủa nước ta thời kì này đã khiến nền kinh tế suy sụp, sức sản xuấthàng hóa xuống dốc không phanh Từ năm 1976 đến 1980, thu nhậpquốc dân tăng rất chậm, có năm còn giảm: Năm 1977 tăng 2,8%, năm
1978 tăng 2,3%, năm 1979 giảm 2%, năm 1980 giảm 1,4%, bình quân1977-1980 chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng trưởng dân
số, làm cho thu nhập quốc dân bình quân đầu người bị sụt giảm 14%
7 Từ năm 1986, sau khi Đảng và Nhà nước đã kịp thời chuyển đổinền kinh tế sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Trang 5nền kinh tế sản xuất hàng hóa nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ.Nhìn chung, hàng hóa ngày nay được sản xuất đa dạng và phong phú
về số lượng và chủng lọai trên thị trường một mặt phản ánh nhữngtrình độ cao của năng suất lao động xã hội, mặt khác cũng nói lênmức độ phát trển của quan hệ trao đổi, trình độ của của phân công laođộng xã hội và sự phát triển của thị trường, nâng cao đời sống vậtchất, tăng khả năng lựa chọn cho người tiêu dung, kích tjích đổi mới
kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất Tuy nhiên, trên thị trường chứa đựngtính tự phát và nhiều yếu tố bất ổn, mất cân đối Vì chạy theo lợinhuận các nhà sản xuất, kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu:môi trường bị hủy họai, phá sản, thất nghiệp, phân hóa xã hội cao,trốn lậu thuế, làm hang giả…Hầu hết giá cả hàng hóa đều do Nhànước qui định nên đồng tiền thực tế chỉ còn làm chức năng thanhtóan Vai trò của quan hệ cung cầu trở nên không còn ý nghĩa với việchình thành giá cả Tình hình đó dẫn đến tình trạng là tất cả các quan
hệ cân bằng của thị trường như giá cả cung cầu, sự khan hiếm tươngđối của các nguồn lực…đều bị méo mó, biến dạng, thậm chí lọai khỏiđời sống kinh tế Vì sự tác động của cơ chế thị trường sẽ dẫn đến sựphân hóa giàu nghèo, phân phối thu nhập sẽ không cân bằng, ngườinghèo ít được sự lựa chọn trong việc mua hàng hóa
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiệnnay, để tăng khả năng cạnh tranh bình đẳng trong môi trường tự dohóa thương mại thế giới thì đòi hỏi các nhà sản xuất phải:
- Đẩy mạnh phân công lao động để phát triển kinh tế hàng hóa, đápứng nhu cầu đa dạng và phong phú của xã hội
- Phải coi trọng hai thuộc tính của hàng hóa để không ngừng cải tiếnmẫu mã, tạo ra hàng hóa phong phú đa dạng cả về số lượng, chấtlượng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu
- Để tạo động lực cho sự phát triển sản xuất kinh doanh, buộc các nhàsản xuất phải chủ động, sáng tạo nhạy bén trong tổ chức quản lý, ápdụng khoa học kỹ thuật, đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất laođộng, tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, đẹp hơn, giá cả ổn định, cóthể hạ giá thành để giành ưu thế trên thị trường
- Phải vận dụng hai thuộc tính hàng hóa bằng các qui định về kinh tế,qui định nhà sản xuất sao cho phù hợp trên cơ sở khoa học nhằm thựchiện có hiệu quả những mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra ở Đại hội XIcủa Đảng: phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước
Trang 6công nghiệp theo hướng hiện đại.
Câu 3: Quy luật
có qui luật giá trị hoạt động
* Nội dung của qui luật: Qui luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và traođổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết,tức là trên cơ sở giá trị
* Yêu cầu của qui luật:
- Đối với sản xuất: Phải tính toán để làm sao cho hao phí lao động cábiệt nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết
- Đối với lưu thông: Trao đổi trên nguyên tắc ngang giá
VD: Giá 1kg đường là 25000đ (trên thị trường) Các nhà sản xuấtphải sản xuất 1kg đường nhỏ hơn giá trị thị trường thì mới có lời(bằng thì huề vốn)
* Biểu hiện của qui luật giá trị: Là giá cả lên xuống xoay xung quanhgiá trị do cung cầu trên thị trường thay đổi
* Phân tích tác dụng của qui luật:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
+ Điều tiết sản xuất là qui mô sản xuất của ngành này được mở rộng,qui mô sản xuất của ngành kia bị thu hẹp vốn Tư liệu sản xuất, sứclao động di chuyển từ ngành này sang ngành kia do cung cầu trên thịtrường thay đổi
+ Lưu thông hàng hóa: Hàng hóa di chuyển từ nơi có giá cả thấp đếnnơi giá cả cao Như vậy, qui luật giá trị cũng tham gia vào phân phốicác nguồn hàng hóa cho hợp lý hơn giữa các vùng
- Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất laođộng, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
+ Trong nền kinh tế hàng hóa, các hàng hóa được sản xuất ra trongnhững điều kiện khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, ai
có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hànghóa thì sẽ có lợi, có nhiều lãi Ngược lại thì sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Đểgiành lợi thế trong cạnh tranh và tranh nguy cơ vỡ nợ, phá sản họ phải
hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình hoặc bằng hao phí lao động
xã hội cần thiết Muốn vậy họ phải tìm cách cải tiến kỹ thuật, hợp lýhóa sản xuất để tăng năng suất lao động
- Phân hóa những người sản xuất nhỏ, làm nảy sinh quan hệ kinh tế tưbản chủ nghĩa
+ Trong nền kinh tế hàng hóa, người sản xuất nào có giá trị cá biệt
Trang 7của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa thì người đó sẽ thunhiều lãi, nhanh chóng trở nên giàu có, ngược lại thì ở thế bất lợi, trởnên nghèo khó, phá sản
=> Chính các tác động của qui luật giá trị đã làm cho sản xuất hànghóa thực sự là khởi điểm ra đời của chủ nghĩa tư bản Như vậy, quyluật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó,đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, cần cónhững biện pháp để phát huy mặc tích cực, hạn chế mặc tiêu cực của
nó
* Liên hệ với tình hình hiện nay ở nước ta
- Qui luật giá trị là qui luật kinh tế khách quan nên đòi hỏi chúng taphải nắm bắt qui luật khách quan, tạo điều kiện cho qui luật kháchquan hoạt động Bởi nó chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải cácyếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển Nó có tác dụngđiều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, đồng thời kích thích cải tiến
kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, lực lượng sảnxuất xã hội phát triển nhanh Những biểu hiện của nó như giá cả, tiền
tệ, giá trị hàng hóa là lĩnh vực tác động rất lớn tới đời sống kinh tế xãhội
- Những tác động của qui luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa ởnước ta hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tế hết sức to lớn:
+ Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa hình thức vận dụng tập trungnhất của qui luật giá trị là hình thành giá cả hàng hóa, giá cả lấy giátrị làm cơ sở phản ánh đầy đủ những tiêu hao về vật tư và sức laođộng để sản xuất hàng hóa, đó là nguyên tắc hình thành mối liên hệgiữa doanh nghiệp với thị trường, giữa người sản xuất với nền kinh tế.Ngoài ra còn định hướng giá cả hàng hóa xoay quanh giá trị để kíchthích cải tiến kỹ thuật, tăng cường quản lý, lợi dụng sự chênh lệchgiữa giá cả và giá trị để điều tiết sản xuất và lưu thông, điều chìnhcung cầu và phân phối
+ Điều này đã được nhà nước ta vận dụng dựa trên cơ sở là quy luậtgiá trị để tác động vào những mục đích nhất định nhằm điều chỉnh vàthúc đẩy nền kinh tế phát triển, cụ thể như việc điều chỉnh giá cả xăngdầu, lương thực, đất đai… để giữ vững định hướng XHCN
Sự tác động của quy luật giá trị bên cạnh những mặt tích cực còn dẫnđến sự phân hóa xã hội thành kẻ giàu, người nghèo, tạo ra sự bất bìnhđẳng trong xã hội Để hạn chế tác động tiêu cực của quy luật giá trị:+ Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, để
Trang 8phát huy vai trò tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế mặt tiêucực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo sự công bằng xãhội.
+ Vấn đề quan trọng là phải nhận thức và vận dụng quy luật giá trịbằng các chính sách kinh tế phù hợp, trên cơ sở khoa học nhằm thựchiện có hiệu quả các mục tiêu kinh tế, xã hội thông qua các chínhsách xã hội như xóa đói giảm nghèo, gia đình có công cách mạng, xâynhà tình thương, trợ cấp những cán bộ,công chức có bậc lương thấp
Câu 4:
Mâu thuẫn công
thức chung của tư
bản và lý luận
hàng hóa sức lao
động?
A MÂU THUẪN CỦA CÔNG THỨC CHUNG:
1 Công thức chung của tư bản:
Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hoá, đồng thời là hìnhthức biểu hiện đầu tiên của tư bản Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiệndưới hình thái một số tiền nhất định Nhưng bản thân tiền không phải
là tư bản, tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định,khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác
Tiền với tư cách là tiền, tiền thông thường vận động theo công thức:
H T – H Tiền với tư cách là tư bản thì vận động theo công thức: T
-H – T Bất cứ tiền nào vận động theo công thức T - -H – T đều chuyểnhoá thành tư bản
So sánh công thức H - T - H và công thức T - H – T
Điểm giống nhau:
Cả hai sự vận động trên đều do hai giai đoạn đối lập nhau là mua vàbán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tố vật chất đốidiện nhau là tiền và hàng, và hai người có quan hệ kinh tế với nhau làngười mua và người bán Nhưng đó chỉ là những điểm giống nhau vềhình thức
Điểm khác nhau:
Giữa hai công thức trên có sự khác nhau về chất
Lưu thông hàng hoá giản đơn bắt đầu bằng việc bán (H - T) và kếtthúc bằng việc mua (T - H) Điểm xuất phát và điểm kết thúc của quátrình đều là hàng hoá, còn tiền chỉ đóng vai trò trung gian
Lưu thông của tư bản bắt đầu bằng việc mua (T - H) và kết thúc bằngviệc bán (H – T) Tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc củaquá trình, còn hàng hoá chỉ đóng vai trò trung gian; tiền ở đây không
Trang 9phải là chi ra dứt khoát mà chỉ là ứng ra rồi thu về.
Mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng để thoảmãn nhu cầu, nên các hàng hoá trao đổi phải có giá trị sử dụng khácnhau
Mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng, mà làgiá trị, hơn nữa giá trị tăng thêm Vì vậy, nếu số tiền thu về bằng sốtiền ứng ra, thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa Do đó, số tiền thu
về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ của tưbản phải là T - H - T', trong đó T' = T + Δt Số tiền trội hơn so với sốtiền ứng ra (Δt), C.Mác gọi là giá trị thặng dư, ký hiệu là m Số tiềnứng ra ban đầu chuyển hoá thành tư bản
Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư Mục đích lưu thông tưbản là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của
tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giớihạn
C.Mác gọi công thức T - H - T' là công thức chung của tư bản, vì sựvận động của mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông dưới dạngkhái quát đó, dù là tư bản thương nghiệp, tư bản công nghiệp hay tưbản cho vay
2 Mâu thuẫn chung của công thức chung của tư bản:
Tiền ứng trước, tức là tiền bỏ vào lưu thông, khi quay trở về tay ngườichủ của nó, thì tăng thêm một lượng nhất định Tư bản vận động theocông thức T-H-T’ trong đó T’ = T+Δt Vậy t được sinh ra như thếnào?
Có phải lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm và do đó hình thành giátrị thặng dư hay không?
a Trong lưu thông (Trao đổi, mua bán): dù trao đổi ngang giá hay
không ngang giá cũng không tạo ra giá trị mới, do đó cũng không tạo
ra giá trị thặng dư
Trường hợp trao đổi ngang giá: nếu hàng hoá được trao đổi ngang
giá, thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ tiền thành hàng và từhàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như phần giá trị thuộc về mỗibên tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi Tuy nhiên, vềmặt giá trị sử dụng, thì cả hai bên trao đổi đều có lợi
Trường hợp trao đổi không ngang giá: nếu hàng hoá được bán caohơn giá trị, thì số lời anh ta nhận được khi là người bán cũng chính sốtiền anh ta sẽ mất đi khi là người mua, rốt cuộc anh ta sẽ không đượclợi thêm gì cả Còn nếu mua hàng hoá thấp hơn giá trị, thì tình hìnhcũng tương tự như trên Số lời anh ta nhận được khi là người mua sẽmất đi khi là người bán Giả sử có một số người chuyên mua được rẻbán đắt thì điều đó cũng chỉ giải thích được sự làm giàu của những
Trang 10thương nhân cá biệt chứ không thể giải thích được sự giàu có của toàn
bộ giai cấp tư bản vì tổng số giá trị trước và sau khi trao đổi khôngthay đổi, mà chỉ có phần giá trị của mỗi bên trao đổi là thay đổi, tức là
có sự chuyển dịch giá trị từ người này sang người khác chứ không có
sự tăng thêm tổng số giá trị trao đổi
b Ngoài lưu thông (xét hai nhân tố) không có sự tiếp xúc hàng tiền: Nhân tố (T) tiền: “tiền” tự nó không lớn lên Xét nhân tố (H)
hàng: Hàng ngoài lưu thông tức là vào tiêu dùng: + Tiêu dùng vào sảnxuất, tức là tư liệu sản xuất Vậy giá trị của nó chuyển dịch dần vàosản phẩm - không tăng lên + Tư liệu tiêu dùng, tiêu dùng cho cá nhân
- cả giá trị và giá trị sử dụng đều mất đi Như vậy cả trong lẫn ngoàilưu thông xét tất cả các nhân tố thì T không tăng thêm Nhưng nhà tưbản không thể vận động ngoài lưu thông, có nghĩa là nhà tư bản phảitìm thấy trên thị trường mua được một thứ hàng hoá (trong lưu thông)nhưng nhà tư bản không bán hàng hoá đó, vì nếu bán cũng
không thu được gì Nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá đó (ngoài lưuthông) tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó - hàng hoá đó
là sức lao động
Lưu thông không làm tăng giá trị nhưng nếu tiền không vận độngtrong lưu thông, tức là đứng ngoài lưu thông, thì cũng không thể lớnlên được.Như vậy công thức đầy đủ có thể viết:
B LÝ LUẬN HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG:
Xem xét công thức chung của tư bản ta thấy sự chuyển hoá của tiềnthành tư bản không thể phát sinh từ bản thân số tiền đó vì trong việcmua bán tiền chỉ là phương tiện lưu thông để thực hiện giá cả hànghoá, nên trước sau giá trị của nó vẫn không thay đổi Sự chuyển hoá
đó phải xảy ra ở hàng hoá nhưng không phải ở giá trị trao đổi củahàng hoá mà chỉ có thể ở giá trị sử dụng của hàng hoá Do đó, hànghoá đó không thể là hàng hoá thông thường mà phải là một thứ hànghoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh
ra giá trị, hơn nữa sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó.Thứ hàng hoá đặc biệt đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấytrên thị trường Sức lao động biến thành hàng hoá là điều kiện quyếtđịnh để tiền biến thành tư bản Theo C.Mác: "sức lao động hay nănglực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tạitrong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đóđem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”.Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của
Trang 11sản xuất nhưng sức lao động không phải bao giờ cũng là hàng hoá, nóchỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện nhất định:
+Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể Sức lao độngchỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá khi người laođộng phải được tự do về thân thể, có quyền sở hữu sức lao động củamình và có quyền đem bán sức lao động Muốn bán hàng hóa, người
ta phải có quyền sở hữu hàng hóa Người lao động muốn bán sức laođộng của mình thì trước hết họ phải sở hữu sức lao động của mình, cóquyền chi phối khả năng làm việc của mình, họ muốn làm việc cho ai
là quyền của họ Trong các xã hội nô lệ và phong kiến, người nô lệ vànông nô không thể bán sức lao động vì bản thân họ thuộc sở hữu củachủ nô hay chúa phong kiến Do đó việc biến sức lao động thành hànghoá đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ nô lệ và nông nô
+Thứ hai, người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất vì nếungười lao động được tự do về thân thể nhưng có tư liệu sản xuất thì
họ sẽ sản xuất ra hàng hoá và bán hàng hoá do mình sản xuất ra chứkhông bán sức lao động Muốn biến sức lao động thành hàng hoá,người lao động phải là người không có tư liệu sản xuất, chỉ trong điềukiện ấy người lao động mới bán sức lao động của mình, vì họ khôngcòn cách nào khác để sinh sống
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao độngthành hàng hoá Sức lao động biến thành hàng hoá báo hiệu một giaiđọan mới trong sự phát triển xã hội – giai đọan sản xuất hàng hóa trởthành phổ biến, đó là sản xuất hang hóa tư bản chủ nghĩa Hàng hóasức lao động là nhân tố tách chủ nghĩa tư bản ra khỏi sản xuất hanghóa giản đơn Như vậy, sức lao động biến thành hang hóa là điều kiệnquyết định để chuyển hóa tiền tệ thành tư bản Tuy nhiên, để tiền tệbiến thành tư bản thì lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ phảiphát triển tới một mức độ nhất định
Sức lao động là hàng hóa đặc biệt: Sức lao động phải là hàng hóa vàgiống hàng hóa thông thường khác nhưng tính đặc biệt được thể hiệntrong quan hệ mua bán như sau:
*Chỉ bán quyền sử dụng chứ không bán quyền sở hữu và có thời giannhất định
*Mua bán chịu – Giá trị sử dụng thực hiện trước – giá trị thực hiệnsau
*Chỉ có phía người bán là công nhân làm thuê – Người mua là tư bản
*Giá cả (tiền lương) luôn thấp hơn so với giá trị Vì sức lao động phảibán trong mọi điều kiện – mua bán trong mọi điều kiện để sinh sống
Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị sử dụng
và giá trị.
Giá trị hàng hoá sức lao động
Giá trị sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản
Trang 12xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định Nhưng sức lao động chỉtồn tại trong cơ thể sống của con người, muốn tái sản xuất ra sức laođộng, người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạtnhất định.
Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động
sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ranhững tư liệu sinh hoạt ấy; hay nói cách khác, giá trị hàng hoá sức laođộng được đo lường gián tiếp bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt đểtái sản xuất sức lao động
Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hóathông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Điều
đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn
có những nhu cầu về tinh thần, văn hoá Những nhu cầu đó phụthuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, phụ thuộc
cả vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó và mức độ thoả mãnnhững nhu cầu đó phần lớn phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạtđược của mỗi nước
Giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cầnthiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống công nhân;
Hai là, phí tổn đào tạo công nhân;
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiếtcho con cái công nhân
Sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định chịuảnh hưởng của hai loại nhân tố tác động đối lập nhau đến Một mặt,
sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về họctập và trình độ lành nghề dẫn đến làm tăng giá trị sức lao động; mặtkhác, sự tăng năng suất lao động xã hội lại làm giảm giá trị sức laođộng
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động được biểu hiện trongquátrình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của ngườicông nhân
Quá trình đó là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hoá nào đó; đồngthời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hànghoá sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tưbản chiếm đoạt
Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có tính chất đặcbiệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là tạo ra giá trị thặng dư Đó làchìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
Trang 13dư, so sánh và rút
ra ý nghĩa của
việc nghiên cứu?
công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt Là kết quả laođộng của công nhân cho nhà tư bản
Giá trị thặng dư phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động làm thuê
Để thu được giá trị thặng dư, có hai phương pháp chủ yếu: phươngpháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giátrị thặng dư tương đối
- Giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất giá trị thặng dưbằng cách kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếutrong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian laođộng tất yếu không thay đổi
Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủnghĩa tư bản, khi lao động còn ở trình độ thủ công và năng suất laođộng còn thấp
Với lòng tham vô hạn, nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngàylao động, nâng cao trình độ bóc lột sức lao động làm thuê Nhưng mộtmặt, do giới hạn tự nhiên của sức lực con người; mặt khác, do đấutranh quyết liệt của công nhân đòi rút ngắn ngày lao động, cho nênngày lao động không thể kéo dài vô hạn Tuy nhiên, ngày lao độngcũng không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời gian lao động tất yếu.Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăngcường độ lao động Vì tăng cường độ lao động cũng giống như kéodài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động cầnthiết không thay đổi
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tấtyếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó trình độ bóc lộtcủa nhà tư bản là 100% Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao độngthêm 2 giờ, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vì thế giá trịthặng dư cũng tăng lên,trình độ bóc lột tăng lên đạt 150% (m’ =150%)
- Giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất giá trị thặng dưthu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu trên cơ sở tăngnăng suất lao động xã hội nhờ đó mà kéo dài tương ứng thời gian laođộng thặng dư trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi
Việc tăng năng suất lao động xã hội, trước hết ở các ngành sản xuất
ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm cho giá trị sức lao động giảm xuống do
đó, làm giảm thời gian lao động cần thiết Khi độ dài ngày lao độngkhông thay đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thờigian lao động thặng dư - thời gian để sản xuất ra giá trị thặng dưtương đối cho nhà tư bản
Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu thì giảm giá trị sức laođộng và làm giảm giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho
Trang 14công nhân bằng cách tăng năng suất lao động trong 2 ngành là sảnxuất tư liệu sinh hoạt và sản xuất tư liệu sản xuất để tạo ra tư liệu sinhhoạt.
Phương pháp này được áp dụng trong đại công nghiệp cơ khí củachủ nghĩa tư bản, kỹ thuật phát triển là cho năng suất lao động tănglên
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ là thời gian laođộng tất yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó tỷ suất giátrị thặng dư là 100% Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày laođộng không thay đổi, thời gian lao động tất yếu của người công nhânchỉ còn lại là 3 giờ, thời gian lao động thặng dư đã tăng lên là 5 giờ,
vì vậy tỷ suất thặng dư đã tăng lên là 166% (Đồng nghĩa với trình độbóc lột tăng lên)
B SO SÁNH
+ Giống nhau:
• Đều là cách mà nhà tư bản sử dụng để bóc lột công nhân đểtạo giá trị thặng dư
• Đều dựa trên cơ sở thời gian lao động thặng dư được kéo dài
• Đòi hỏi độ dài ngày lao động nhất định, cường độ lao động vànăng suất lao động nhất định
+ Khác nhau:
• Với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối thì:
* Phương pháp sản xuất thực hiện bằng cách kéo dài ngày lao độnghoặc tăng cường độ lao động
* Ngày lao động dịch chuyển về phía phải đồng nghĩa kéo dài ngàylao động
*Áp dụng trong giai đoạn đầu của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa khi kỹ thuật còn thấp
• Với phương thức sản xuất giá trị thặng dư tương đối thì:
* Phương pháp thực hiện tăng năng suất lao động
*Ngày lao động dịch chuyển về phía trái tức rút ngắn thời gian laođộng tất yếu
*Áp dụng trong giai đoạn đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tưbản khi kỹ thuật phát triển hơn
B Ý NGHĨA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA:
Trong Học thuyết về giá trị thặng dư, C Mác đã có một nhận định
có tính chất dự báo khoa học trong xã hội hiện nay, đó là: "Mục đíchthường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm thế nào để vớimột tư bản ứng trước tối thiểu, sản xuất ra một giá trị thặng dư haysản phẩm thặng dư tối đa; và trong chừng mực mà kết quả ấy khôngphải đạt được bằng lao động quá sức của những người công nhân, thì
đó là một khuynh hướng của tư bản, thể hiện ra trong cái nguyện
Trang 15vọng muốn sản xuất ra một sản phẩm nhất định với những chi phí ítnhất về sức lực và tư liệu, tức là một khuynh hướng kinh tế của tư bảndạy cho loài người biết chi phí sức lực của mình một cách tiết kiệm
và đạt tới mục đích sản xuất với một chi phí ít nhất về tư liệu”
Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C Mác, chúng tathấy rõ ít nhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay củađất nước
Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng
mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theocách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ Càng phát triển nền kinh tếnhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lộtcòn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diệncủa nó
Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rànhmạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch địnhcác chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử vớitầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiệnđược Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phốiphải được thể chế hóa bằng luật Đường lối chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóa thành luật và các bộ luậtthì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hộinói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng Ai chấp hành đúngpháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm:dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trongnhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lộtđược xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp Trong quản lý xãhội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanhnghiệp để, một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự côngbằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các "kênh" phânphối lại và điều tiết thu nhập xã hội Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếpcận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáođiều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nótrong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản xuất,tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công vớinền kinh tế quốc tế
Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả
Trang 16người lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng cácchế tài thật cụ thể mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững.Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là mộtthực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh nhữngxung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay,thể hiện trong bản chất của chế độ mới Bảo vệ được những quyền lợichính đáng, những quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bêntrong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cáchhợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng lànhững đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng
mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở VN
A. Chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước:
1 Nguyên nhân ra đời và bản chất của CNTB độc quyền nhànước
a Nguyên nhân ra đời CNTB độc quyền nhà nước
CNTB độc quyền nhà nước là một nấc thang phát triển mới củaCNTB độc quyền, nó ra đời và phát triển do những nguyên nhân sau:Một là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến quy mô của nềnkinh tế ngày càng lớn, tính chất xã hội hoá ngày càng cao đòi hỏi phải
có sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối, một sự kế hoạchhoá từ một trung tâm Nhà nước phải sử dụng các công cụ khác nhau
để can thiệp, điều tiết nền kinh tế
Hai là: Sự phát triển của phân công lao động xã hội làm xuất hiện một
số ngành mà các tổ chức độc quyền tư nhân không muốn hoặc khôngthể kinh doanh vì vốn đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và lợi nhuận thấp,nhất là những ngành thuộc kết cấu hạ tầng như: Năng lượng, giaothông, giáo dục, nghiên cứu khoa học Nhà nước tư sản phải đầu tưkinh doanh những ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền
tư nhân kinh doanh ở những ngành khác có lợi hơn
Ba là: Sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn đốikháng giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tưsản Nhà nước tư sản phải có những chính sách để làm dịu những mâuthuẫn đó như: Trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, pháttriển phúc lợi xã hội
Trang 17Bốn là: Sự tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến mâu thuẫn giữacác tổ chức độc quyền với nhau, giữa các tổ chức độc quyền với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ trở nên gay gắt Do đó cần phải có sự canthiệp của nhà nước tư sản để hạn chế sự lũng đoạn kinh tế của các tổchức độc quyền.
Năm là: Cùng với xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự bành trướngcủa các liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những rào cản quốc gia,dân tộc và sự xung đột lợi ích giữa các đối thủ trên thị trường thếgiới.Tình hình đó đòi hỏi phải có sự điều tiết các quan hệ chính trị vàkinh tế quốc tế của nhà nước tư sản
Ngoài ra, việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh vớiCNXH hiện thực và tác động của cuộc cách mạng khoa học - côngnghệ cũng đòi hỏi sự can thiệp trực tiếp của nhà nước tư sản vào kinhtế
b Bản chất của CNTB độc quyền nhà nước
CNTB độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chứcđộc quyền tư nhân với sức mạnh của nhà nước tư sản thành một thiếtchế và thể chế thống nhất nhằm phục vụ lợi ích của các tổ chức độcquyền và cứu nguy cho CNTB
Từ khái niệm trên cho thấy về bản chất, CNTB độc quyền nhà nướcvẫn là CNTB, nền kinh tế vẫn chịu sự chi phối của quy luật giá trị vàquy luật giá trị thặng dư mặc dù nó đã có nhiều thay đổi so với CNTBthời kỳ tự do cạnh tranh
Đặc điểm nổi bật của CNTB độc quyền nhà nước là sự can thiệp, điềutiết của nhà nước tư sản vào kinh tế Nhà nước trở thành một công cụtrước hết phục vụ lợi ích của các tổ chức độc quyền
CNTB độc quyền nhà nước chỉ là nấc thang phát triển mới của CNTBđộc quyền, là một quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội chứ không chỉ làmột chính sách trong giai đoạn độc quyền của CNTB
1 Những hình thức biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyềnnhà nước
a Sự kết hợp về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tưsản
Trang 18- Sự kết hợp về nhân sự được thực hiện thông qua các đảngphái tư sản và các hội chủ xí nghiệp trong đó:
Các đảng phái tư sản tạo ra cho tư bản độc quyền một cơ sở xã hội đểthực hiện sự thống trị và trực tiếp xây dựng đội ngũ công chức cho bộmáy nhà nước
Các hội chủ xí nghiệp ở các nướn tư bản mang những tên gọi khácnhau như:
Hội công nghiệp toàn quốc Mỹ; Hội đồng quốc gia giới chủ Pháp;Tổng liên đoàn công thương Anh; Liên đoàn các nhà kinh tế Nhật Chúng trở thành lực lượng kinh tế, chính trị to lớn cung cấp kinh phícho các đảng và tham gia vào việc thành lập bộ máy nhà nước cáccấp
- Kết quả của sự kết hợp nhân sự là các đại biểu của các tổchức độc quyền tham gia vào bộ máy nhà nước tư sản và giữ nhữngchức vụ khác nhau Đồng thời, các quan chức và nhân viên chính phủđược cài vào các ban quản trị của các tổ chức độc quyền, giữ nhữngchức vụ trọng yếu chính thức hoặc danh dự hoặc trở thành nhữngngười đỡ đầu cho các tổ chức độc quyền
Sự kết hợp nhân sự đó đã tạo ra những biểu hiện mới trong mối quan
hệ giữa các tổ chức độc quyền với cơ quan nhà nước từ trung ươngđến địa phương
a Sự hình thành và phát triển của sở hữu nhà nước tư sản
CNTB độc quyền nhà nước thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sốngnhưng nét nổi bật nhất là sự kết hợp của độc quyền với nhà nướctrong lĩnh vực kinh tế mà cơ sở của nó là sự thay đổi các quan hệ sởhữu biểu hiện ở chỗ: Sở hữu nhà nước tăng lên và sự tăng cường cácmối quan hệ giữa sở hữu nhà nước với sở hữu độc quyền tư nhân Hailoại sở hữu đó đan kết với nhau trong quá trình vận động của tư bản
xã hội
- Sở hữu nhà nước hình thành bằng những hình thức sau:
Xây dựng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn ngân sách
Quốc hữu hoá các doanh nghiệp tư nhân bằng cách mua lại
Mở rộng doanh nghiệp nhà nước bằng vốn tích luỹ của các doanh
Trang 19nghiệp tư nhân.
Nhà nước mua cổ phiếu của các doanh nghiệp tư nhân
- Sở hữu nhà nước bao gồm:
Những động sản và bất động sản cần cho hoạt động của bộ máy nhànước
Những doanh nghiệp nhà nước trong công nghiệp và các lĩnh vực kếtcấu hạ tầng kinh tế xã hội
Ngân sách nhà nước
Trong đó ngân sách nhà nước là bộ phận quan trọng nhất
b Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản
- Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản là nhà nước tư sảntrực tiếp vào các quá trình kinh tế của nền kinh tế TBCN
Điều đó là tất yếu khi trình độ xã hội hoá sản xuất đã vượt khỏi giớihạn điều tiết của cơ chế thị trường và sự điều tiết của độc quyền tưnhân, đòi hỏi phải được bổ sung bằng sự điều tiết của nhà nước
- Để điều tiết kinh tế, hệ thống điều tiết kinh tế của nhà nước tưsản bao gồm một tổng thể những thiết chế và thể chế kinh tế của nhànước Đó là bộ máy quản lý gắn với hệ thống chính sách và công cụ
có khả năng điều tiết sự vận động của toàn bộ nền kinh tế, toàn bộquá trình tái sản xuất xã hội
Tuy nhiên, sự điều tiết kinh tế của nhà nước cũng có mặt tiêucực do những sai lầm và trì trệ gây ra Do đó, hệ thống điều tiết kinh
tế của nhà nước tư sản đã dung hợp cả ba cơ chế là: Thị trường, độcquyền tư nhân và sự điều tiết của nnhà nước nhằm phát huy mặt tíchcực và hạn chế mặt tiêu cực của mỗi cơ chế Xét về bản chất, hệthống điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản nhằm phục vụ cho CNTBđộc quyền
B. Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản hiện nay:
Trong quá trình phát triển, một mặt CNTB đã thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển mạnh mẽ, tạo ra cơ sở vật chất -kỹ thuật cho nền sảnxuất lớn hiện đại Mặt khác, lại làm cho mâu thuẫn cơ bản của CNTB:mâu thuẫn giữa trình độ cao của lực lượng sản xuất với quan hệ sởhữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất
CNTB ngày càng phát triển, trình độ sản xuất xã hội hóa của lực