ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN HỌ VÀ TÊN CHÂU ĐOÀN QUANG VINH LỚP H718 1PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ 1Câu 1 Hai thuộc tính của hàng h[.]
Trang 1ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN
MÔN: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
HỌ VÀ TÊN: CHÂU ĐOÀN QUANG VINH
LỚP: H718
PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ 1 Câu 1 Hai thuộc tính của hàng hóa Liên hệ với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam 1 Câu 2 Quy luật giá trị và ý nghĩa của quy luật giá trị trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam 5 Câu 3 Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản và lý luận về hàng hóa sức lao động 12 Câu 4 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, so sánh và rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu 21 Câu 5 Thực chất của tích lũy tư bản, mối quan hệ giữa tích lũy, tích tụ và tập trung tư bản 23 Câu 6 Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản ngày nay 24 Câu 7 Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN ở Việt Nam 26 Câu 8 Những vấn đề liên quan đến thành phần kinh tế, liên hệ với thực tiễn Việt Nam 28
PHẦN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Câu 1 Hai thuộc tính của hàng hóa Liên hệ với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam
1 Khái niệm hàng hóa: Hàng hóa là sản phẩm của lao động thỏa mãn
nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua bán Hàng hóa có thểphân loại thành hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình (dịch vụ) hay hàng hóavật thể và hàng hóa phi vật thể
Ví dụ: + Hàng hóa hữu hình: Có thể sờ, nắm … được: Cái bàn, cái ghế …
+ Hàng hóa vô hình: Chỉ cảm nhận được: Dịch vụ giao thông vận tải, khám bác sĩ, chất lượng điện năng …
Để trở thành hàng hóa, các sản phẩm phải có đủ ba tiêu chí sau:
– Phải là sản phẩm của lao động, nếu sản phẩm tự nhiên không do lao độngtạo ra, mặc dù nó rất cần thiết cho con người như: năng lượng ánh sáng MặtTrời, nước trong tự nhiên, không khí …cũng không phải là hàng hóa Sản phẩmcủa lao động như: điện từ, năng lượng ánh sáng mặt trời, nước thông qua Nhàmáy
– Phải thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, một vật dù là sản phẩm của lao động nhưng nếu không được tiêu dùng thì không phải là hàng hóa
– Phải thông qua trao đổi, mua bán, nếu sản phẩm sản xuất ra để tự tiêudùng như người nông dân sản xuất thóc để ăn thì đó không phải là hàng hóa
Trang 22 Phân tích hai thuộc tính:
Thuộc tính là những tính chất thuộc về bản thân sự vật Hàng hóa có haithuộc tính: Giá trị sử dụng và giá trị
a Giá trị sử dụng của hàng hóa:
- Khái niệm: giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng hay tính có ích của
hàng hóa có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
Đặc điểm:
+ Bất cứ hàng hóa nào do con người tạo ra cũng có một hoặc một số côngdụng nhất định Chính công dụng đó (tính có ích đó) làm cho hàng hóa có giá trị
sử dụng
Ví dụ: gạo để ăn, áo để mặc, máy móc để sản xuất, điện thắp sáng,…
+ Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của vật (tính chất lý, hoá, sinh…)quy định Do đó, giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn
+ KH-KT càng phát triển, từ đó công dụng của vật phẩm ngày càng đượcphát hiện nhiều hơn
Ví dụ:
.Than đá dùng để đốt Sau đó, KH-KT tìm ra thêm công dụng mới củathan đá: nhiệt điện, trang sức …
.Trái dừa để uống Sau đó dùng làm chất đốt, kẹo, xà phòng,…
.Trước đây, con người chỉ biết nước dùng để uống, hoặc tưới tiêu Naynhờ có KH-KT, nước còn được dùng để làm thủy điện, làm môi trường điệnphân trong hóa học,…
+ Trong nền sản xuất hàng hoá, giá trị sử dụng không phải cho bản thânngười sản xuất mà giá trị sử dụng nhằm phục vụ cho người khác, cho xã hộithông qua trao đổi, mua bán … (sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất nhưthế nào… do thị trường quyết định)
b Giá trị của hàng hóa:
Để nhận thức được giá trị của hàng hoá chúng ta phải thông qua giá trịtrao đổi của hàng hoá
- Giá trị trao đổi của hàng hoá: là quan hệ về lượng, là tỷ lệ trao đổi lẫn
nhau giữa những hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau
Ví dụ: 1 mét vải đổi 5 kg thóc
Hai hàng hoá khác nhau (vải và thóc) muốn trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có cơ sở chung giống nhau Cái chung đó không thể là thuộc tính tự nhiên, không thể là giá trị sử dụng, mà cái chung đó là do chúng đều là sản phẩm của lao động Nhờ cái chung đó mà tất cả các hàng hoá trao đổi được với nhau Thực chất của trao đổi hàng hoá cho nhau là trao đổi lao động ẩn giấu trong các hàng hoá đó Thời gian hao phí lao động quyết định tỷ lệ trao đổi
Trang 3sản phẩm Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.
- Giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết
tinh trong hàng hoá đó
Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị, giá trị là nộidung bên trong của giá trị trao đổi
Giá trị của hàng hoá là một phạm trù lịch sử (chỉ tồn tại trong 1 giai đoạnnhất định), thể hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá
Ví dụ: 1m vải có thể đổi được 5 kg thóc Về sau: 1m vải chỉ có thể đổiđược 3 kg thóc
Chất giống nhau, lượng bằng nhau Vải do sản phẩm lao động do ngườilao động làm ra Lúa cũng tương tự Chất: Đó chính là sự trao đổi lao động củacông nhân và nông dân
Để làm ra 1 mét vải người công nhân tốn 5 giờ lao động; Tương tự, để tạo
ra 5 kg thóc người nông dân cũng tốn 5 giờ lao động Lượng: Lao động kết tinhtrong hàng hoá
3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hoá:
Giá trị sử dụng và giá trị vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau
- Mặt thống nhất giữa hai thuộc tính của hàng hoá : Giá trị sử dụng và giá trị
là hai mặt đối lập tồn tại thống nhất trong một hàng hoá, nếu thiếu một trong haithuộc tính thì sản phẩm không thể trở thành hàng hoá
- Mặt mâu thuẫn giữa hai thuộc tính của hàng hoá :
+ Xét về mặt giá trị sử dụng, hàng hoá không đồng nhất về chất; xét về mặtgiá trị hàng hoá đồng nhất về chất
+ Mâu thuẫn trong quá trình thực hiện: quá trình thực hiện giá trị sử dụng
và giá trị khác nhau cả về không gian và thời gian Giá trị được thực hiện trướctrong lĩnh vực lưu thông, giá trị sử dụng được thực hiện sau trong lĩnh vực tiêudùng
+ Mục đích của người sản xuất là giá trị hàng hoá, mục đích của người mua
là giá trị sử dụng của hàng hoá
Người mua hàng không quan tâm tới giá trị của hàng hoá, nhưng để có được giá trị sử dụng của hàng hoá, trước hết phải trả giá trị cho người sản xuất
ra nó Người sản xuất không quan tâm tới giá trị sử dụng của hàng hoá, nhưng
để thu được giá trị của hàng hoá, trước hết họ phải tạo ra giá trị sử dụng cho hàng hoá.
Ví dụ:
.Chai nước suối Giá trị: Hao phí sức lao động tạo ra chai nước suối, phảiđược người tiêu dùng bỏ một khoản tiền ra mua (tức thực hiện phần giá trịtrước) Giá trị sử dụng: Dùng để giải khát
Trang 4Xe gắn máy Honda Vision Giá trị: Hao phí lao động làm ra, thông quagiá cả là 30 triệu đồng, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị Giá trị sử dụng làphương tiện để di chuyển, đi lại.
4 Liên hệ với hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam:
a Khái quát: Nước ta là 1 nước có nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN nhiều thành phần, sản xuất đa dạng các loại hàng hóa nhằm đáp ứng nhucầu trong nước và trao đổi, mua bán trên thế giới Đối với nền kinh tế hàng hóa
ở nước ta hiện nay sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm đến cả 02 thuộc tínhgiá trị và giá trị sử dụng, cả về chất lượng và giá thành Muốn có hàng hóa chấtlượng tốt, giá cả hợp lý buộc phải đổi mới kỹ thuật, tạo nhiều sản phẩm phongphú đa dạng, cạnh tranh trên thị trường đáp ứng được yêu cầu trong và ngoàinước
b Thực trạng (ưu-nhược điểm):
Xét về mặt giá trị : Hàng hóa sản xuất ở nước ta hao phí sản xuất còn cao hơn các
nước khác trong khu vực do trình độ của người sản xuất ở nước ta còn thấp Trang bị lạc hậu làm cho sức cạnh tranh của hàng Việt Nam còn chưa cao ở thị trường trong nước và quốc tế.
Xét về mặt giá trị sử dụng : Hàng hóa sản xuất ở nước ta hiện nay đáp ứng nhu
cầu của người tiêu dùng ở một số lĩnh vực như hàng tiêu dùng, sản phẩm nông nghiệp Hiên nay hàng hóa nước ta có tính đa dạng và phong phú về mẫu mã, một số mặt hàng
đã chiếm lĩnh được thị trường trong nước và trong khu vực Nhưng một số mặt hàng hiện nay ta không thể cạnh tranh với hàng của nước ngoài Vì vậy cần phải có một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường trong nước và thế giới:
- Phát triển kinh tế thị trường làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động.
Vì dưới tác động của quy luật giá trị, cung cầu – cạnh tranh buộc người sản xuất phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất
- Đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào
sản suất Đào tạo nâng cao trình độ của người lao động.
- Mở rộng quy mô sản xuất và tăng hiệu suất của tư liệu sản xuất.
- Thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa
ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng mở rộng và sâu sắc.
Từ đó, nó phá vỡ tính tự túc, tự cấp, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội đáp ứng đầy đủ hơn.
- Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Đưa ra chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
- Xác định rõ mặt hàng trọng yếu có sức cạnh tranh để đầu tư
- Điều chỉnh cơ cấu ngành hợp lý
- Phân công lao động phù hợp
- Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Trang 5- Kích thích cạnh tranh để cải tiến đổi mới mẫu mã chất lượng.
- Phát triển, khai thác tốt giá trị sử dụng của hàng hóa
- Tận dụng hiểu quả các yếu tố về tư liệu sản xuất, điều kiện tự nhiên.
- Xây dựng quảng bá cho các sản phẩm mang thương hiệu Việt.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Ban hành chính sách định lượng về quản lý giá cả.
- Đầu tư cải tiến hàng xuất khẩu cũng như hàng trong nước
- Xây dựng chiến lược sản xuất kỹ càng, đầy đủ.
d Kết luận: Để vực dậy nền sản xuất hàng hóa vốn yếu kém của Việt
Nam ta phải luôn coi trọng cả 2 thuộc tính của hàng hóa để từ đó không ngừngcải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ giá thành Có thể nói nghiên cứu 02thuộc tính này cũng như mối quan hệ giữa chúng sẽ có đóng góp quan trọngtrong phát triển kinh tế hàng hóa nói riêng và trong nền kinh tế thị trường nóichung
_
Liên hệ về hàng hóa được sản xuất tại nước ta hiện nay:
Trước đây, nền SX HH của nước ta còn manh mún, qui mô nhỏ lẻ, kémhiệu quả, trình độ của lực lượng lao động còn thấp, kỹ năng tổ chức quản lý SX,quản trị doanh nghiệp còn yếu kém Do đó, hàng hóa SX rất khó cạnh tranh vớihàng hóa ngoại nhập, không có nhiều mặt hàng có thể xuất khẩu ra nước ngoài
Kể từ khi Đảng ta thực hiện đổi mới, thực hiện CNH, HĐH, xác lập nền kinh tế
có nhiều thành phần thì nền SX hàng hóa nước ta đã có nhiều tiến bộ, đã cónhiều sản phẩm xuất khẩu qua nhiều thị trường trên thế giới, chẳng hạn như:
- Về gạo: từ thiếu ăn, nay trở thành nước XK gạo thứ 2 TG
Tuy nhiên, để hàng hóa Việt Nam có thể đứng vững trên thị trường trongnước cũng như thị trường nước ngoài thì việc SX hàng hóa vẫn cần và phải luônluôn quan tâm vấn đề giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa, phải thực sự sảnxuất ra hàng hóa, sản phẩm tốt, có giá trị cao Muốn vậy thì:
- Đối với các nhà sản xuất, các DN: phải không ngừng cải tiến, đổi mới kỹthuật, hợp lý hóa sản xuất, ải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm, nhằmtăng năng suất lao động, hạ chi phí phí sản xuất, nâng cao lợi nhuận Luôn luôn
Trang 6tìm hiểu nhu cầu thị trường, không ngừng cải tiến mẫu mã, chất lượng SP đểvừa tạo ra nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu trong nướcvừa đáp cho nhu cầu xuất khẩu Mỗi nhà sản xuất hãy thể hiện lòng yêu nướcbằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm, sản xuất ra những mặt hàng mangtrong nó tinh thần văn hoá dân tộc Thay vì đặt những cái tên nước ngoài đủkiểu khó hiểu, đặt tên cho sản phẩm bằng tiếng mẹ đẻ cũng là cách thể hiệnlòng tự hào dân tộc Cách đây 100 năm, doanh nhân Bạch Thái Bưởi đã thể hiệntinh thần dân tộc bằng cách đặt tên các con tàu mua lại từ đối thủ nước ngoàibằng những tên Việt như Lạc Long, Hồng Bàng, Trưng Trắc, Đinh Tiên Hoàng, LêLợi, Hàm Nghi Sao các nhà sản xuất trong nước ngày nay không làm như thế?Các nhà làm quản lý doanh nghiệp rất cần phải xem xét lại vấn đề về hệ thốngphân phối bán lẻ của mình nhằm đưa hàng Việt vào các khu chợ truyền thốngnhiều hơn, đẩy lùi hàng nhập ngoại giá rẻ
- Nhà nước cần có những chính sách kích thích, tạo điều kiện cho các DN,các nhà sx đổi mới kỹ thuật, đổi mới công nghệ trong sản xuất như:
+ Chính sách tín dụng: tạo mọi điều kiện thuận lợi để các DN vay vốn mởrộng quy mô sản xuất, đổi mới, cải tiến kỹ thuật, công nghệ hiện đại
+ Chính sách thuế: miễn thuế hay giảm thuế suất đối với các hàng hóa làthế mạnh của VN trong việc xuất khẩu Hay đánh thuế cao đối với các mặt hàng
xa xí phẩm nhập khẩu để kích thích sử dụng hàng trong nước
+ Khuyến khích người VN dùng hàng VN để bảo hộ HH nước nhà, haydùng chính sách bình ổn giá Phát động cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên
dùng hàng Việt Nam" Trong văn kiện của Bộ Chính trị cũng đã minh định: “Mục đích của cuộc vận động nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam” Ý
thức về lòng yêu nước, về tự lực, tự cường đều là tố chất văn hóa mang tínhnền tảng đưa đến hành vi văn hóa tiêu dùng và văn hóa sản xuất Vì vậy cuộcvận động này không phải là để bảo vệ người sản xuất cũng không phải chủtrương bảo hộ hàng hóa trong nước mà chính là vận động toàn xã hội hướngđến tinh thần yêu nước và khích lệ tinh thần vươn lên, cạnh tranh lành mạnhcủa doanh nghiệp Việt Nam
+ Hoặc Nhà nước phải bắt buộc các DN, các nhà SX phải thay đổi chínhsách công nghệ sản xuất hàng hóa của mình
- Ý thức của người tiêu dùng: tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc Người tiêudùng cần hiểu rõ về hàng Việt, tầm quan trọng của tiêu dùng hàng Việt NgườiViệt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam là phát huy tinh thần yêu nước, niềm tựhào, tự tôn dân tộc, và góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Tình hình thực tiễn hiện nay? Cho ví dụ về tình hình sản xuất hàng hóa ở
nước ta hiện nay có đủ thỏa mãn nhu cầu người dân chưa, tình trạng người
Trang 7dân thích dùng hàng ngoại, một số hàng hóa bị mất thương hiệu -> lý giải vấn
đề và gợi ý giải pháp
Nước ta là 1 nước có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhiều thànhphần, sản xuất đa dạng các loại hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước vàtrao đổi, mua bán trên thế giới Đối với nền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiệnnay, trong sản xuất phải quan tâm đến cả giá trị và giá trị sử dụng, cả về chấtlượng và giá thành Muốn có hàng hóa chất lượng tốt, giá cả hợp lý buộc phảiđổi mới kỹ thuật, tạo nhiều sản phẩm phong phú đa dạng, cạnh tranh trên thịtrường đáp ứng được yêu cầu trong và ngoài nước
Xét về mặt giá trị: Hàng hóa sản xuất ở nước ta hao phí sản xuất còn caohơn các nước khác trong khu vực do trình độ của người sản xuất ở nước ta cònthấp Trang bị lạc hậu làm cho sức cạnh tranh của hàng Việt Nam còn chưa cao
ở thị trường trong nước và quốc tế
Xét về mặt giá trị sử dụng: Hàng hóa sản xuất ở nước ta hiện nay đáp ứngnhu cầu của người tiêu dùng ở một số lĩnh vực như hàng tiêu dùng, sản phẩmnông nghiệp Hiên nay hàng hóa nước ta có tính đa dạng và phong phú về mẫu
mã, một số mặt hàng đã chiếm lĩnh được thị trường trong nước và trong khuvực Nhưng một số mặt hàng hiện nay ta không thể cạnh tranh với hàng củanước ngoài Vì vậy cần phải có một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường trong nước và thế giới:
- Phát triển kinh tế thị trường làm cho nền kinh tế nước ta phát triểnnăng động Vì dưới tác động của quy luật giá trị , cung cầu – cạnh tranh buộcngười sản xuất phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất
- Đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng những thành tựu khoa học côngnghệ vào sản suất Đào tạo nâng cao trình độ của người lao động
- Mở rộng quy mô sản xuất và tăng hiệu suất của tư liệu sản xuất
- Thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyênmôn hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng mởrộng và sâu sắc Từ đó, nó phá vỡ tính tự túc, tự cấp, bảo thủ, trì trệ, lạc hậucủa mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lênnhanh chóng, nhu cầu của xã hội đáp ứng đầy đủ hơn
- Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Đưa ra chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
- Xác định rõ mặt hàng trọng yếu có sức cạnh tranh để đầu tư
- Điều chỉnh cơ cấu ngành hợp lý
- Phân công lao động phù hợp
- Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Trang 8- Kích thích cạnh tranh để cải tiến đổi mới mẫu mã chất lượng.
- Phát triển, khai thác tốt giá trị sử dụng của hàng hóa
- Tận dụng hiểu quả các yếu tố về tư liệu sản xuất, điều kiện tự nhiên.
- Xây dựng quảng bá cho các sản phẩm mang thương hiệu Việt.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
- Ban hành chính sách định lượng về quản lý giá cả.
- Đầu tư cải tiến hàng xuất khẩu cũng như hàng trong nước
- Xây dựng chiến lược sản xuất kỹ càng, đầy đủ.
* Kết luận: Để vực dậy nền sản xuất hàng hóa vốn yếu kém của Việt Nam taphải luôn coi trọng cả 2 thuộc tính của hàng hóa để từ đó không ngừng cải tiếnmẫu mã, nâng cao chất lượng, hạ giá thành Có thể nói nghiên cứu 02 thuộctính này cũng như mối quan hệ giữa chúng sẽ có đóng góp quan trọng trongphát triển kinh tế hàng hóa nói riêng và trong nền kinh tế thị trường nói chung
Trang 9Câu 2 Quy luật giá trị và ý nghĩa của quy luật giá trị trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam
a Khái niệm: Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và
trao đổi hàng hóa Ở đâu trao đổi, sản xuất hàng hóa thì ở đấy có sự hoạt độngcủa quy luật giá trị
b Nội dung của quy luật: Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải trên cơ sở
hao phí lao động xã hội cần thiết (giá trị của hàng hóa)
c Yêu cầu của quy luật:
- Đối với sản xuất: Hao phí lao động cá biệt phải thấp hơn hoặc bằng haophí lao động xã hội cần thiết, thì mới đạt được lợi thế trong cạnh tranh
- Đối với lưu thông: Trao đổi trên nguyên tắc ngang giá
Ví dụ: Giá 1kg đường là 25000 đồng (trên thị trường) Các nhà sản xuấtphải sản xuất 1kg đường nhỏ hơn giá trị thị trường thì mới có lời (bằng thì huềvốn)
d Cơ chế biểu hiện của quy luật giá trị:
Quy luật giá trị hoạt động được thể hiện ở sự biến đổi lên, xuống của giá cảxoay quanh giá trị dưới tác động của quan hệ cung - cầu về hàng hóa trên thịtrường Sự biến đổi giá cả một cách tự phát tự do là sự phản ánh hoạt động củaquy luật giá trị
Nếu không tính tới sự tác động của các yếu tố như sức mua của đồng tiền,cạnh tranh, độc quyền, sự điều tiết của nhà nước, thì giá cả hàng hoá trên thịtrường chịu tác động cơ bản bởi quan hệ cung - cầu
Khi cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hoá có xu hướng giảm
Khi cầu lớn hơn cung, giá cả hàng hoá có xu hướng tăng
Khi cung bằng cầu giá cả bằng giá trị (hàng bán đúng giá)
Tuy nhiên, nếu xét trong một chu kỳ dài thì dường như tổng giá cả luônbằng tổng giá trị
e Phân tích tác dụng của quy luật giá trị:
- Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
+ Điều tiết sản xuất: Chính sự lên xuống của giá cả hàng hoá trên thịtrường có thể tác động đến người sản xuất, nó có thể khiến họ mở rộng sản xuất(khi giá cả tăng, lời nhiều) hoặc thu hẹp sản xuất (khi giá cả giảm, lời giảm hoặckhông còn) Điều tiết sản xuất là quy mô sản xuất của ngành này được mở rộng,quy mô sản xuất của ngành kia bị thu hẹp vốn Tư liệu sản xuất, sức lao động dichuyển từ ngành này sang ngành kia do cung cầu trên thị trường thay đổi
Ví dụ: Tại Long An và Bình Thuận, nông dân đã chuyển từ trồng cây lúanước và các cây ăn trái khác sang trồng cây thanh long (khoảng năm 2013, 2014)
Trang 10+ Lưu thông hàng hóa: Sự chênh lệch về giá cả hàng hoá giữa các vùngmiền có thể khiến hàng hoá di chuyển, theo hướng từ nơi có giá cả thấp tới nơi
có giá cả cao Như vậy, quy luật giá trị cũng tham gia vào phân phối các nguồnhàng hóa cho hợp lý hơn giữa các vùng
Ví dụ :
.Rau củ từ Đà Lạt (giá cả thấp) chuyển về TP.HCM để có giá cả cao Ở Bến Tre, khi nhiều người dân cùng trồng bưởi da xanh thì sảnlượng bưởi da xanh tăng dẫn đến giá cả hạ xuống do đó bưởi da xanh đượcchuyển đi bán ở các vùng miền khác
- Kích thích nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại,cải tiến quy trình tổ chức sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, tăng
năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Trong nền kinh tế hàng hóa, các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, ai có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa thì sẽ có lợi, có nhiều lãi Ngược lại thì sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Để giành lợi thế trong cạnh tranh và tranh nguy cơ vỡ nợ, phá sản họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết Muốn vậy họ phải tìm cách cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để tăng năng suất lao động
Ví dụ :
.Trong sản xuất lúa, nông dân cải tiến kỹ thuật, mua máy móc, thiết
bị, tìm các giống lúa mới cho năng suất cao
Trong chăn nuôi gà công nghiệp, người chăn nuôi sử dụng máy ấptrứng Nuôi cút, sử dụng máy ấp trứng
- Phân hoá người sản xuất thành người giàu, người nghèo, thúc đẩy quan
hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa ra đời Trong nền kinh tế hàng hóa, người sản xuất nào có giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa thì người đó sẽ thu nhiều lãi, nhanh chóng trở nên giàu có, ngược lại thì ở thế bất lợi, trở nên nghèo khó, phá sản
Ví dụ :
.Thương hiệu kem đánh răng Dạ Lan của Việt Nam rất quen thuộc,với thị phần lên tới 70% vào những năm 1993 - 1994, nhưng sau đó đã bán choColgate Palmolive (một công ty đa quốc gia của Mỹ chuyên về sản xuất, phânphối và cung cấp các sản phẩm như xà phòng, chất tẩy rửa và các sản phẩm vệsinh răng miệng) với giá 3 triệu USD
=> Chính các tác động của quy luật giá trị đã làm cho sản xuất hàng hóathực sự là khởi điểm ra đời của chủ nghĩa tư bản Như vậy, quy luật giá trị vừa
có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Do đó, đồng thời với việc thúcđẩy sản xuất hàng hóa phát triển, cần có những biện pháp để phát huy mặc tíchcực, hạn chế mặc tiêu cực của nó
Trang 11* Ý nghĩa thực tiễn: (liên hệ với tình hình hiện nay ở nước ta):
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế khách quan nên đòi hỏi chúng ta phảinắm bắt quy luật khách quan, tạo điều kiện cho quy luật khách quan hoạt động.Bởi nó chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân
tố tích cực phát triển Nó có tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa,đồng thời kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất laođộng, lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh Những biểu hiện của nó nhưgiá cả, tiền tệ, giá trị hàng hóa là lĩnh vực tác động rất lớn tới đời sống kinh tế xãhội
- Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hóa quy luật giá trị pháthuy tích cực và tiêu cực ở cả 3 mặt cụ thể:
* Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
Cách đây hai ba năm trái cây như cam, nhãn vùng đồng bằng song Cửulong rớt giá thảm hại làm cho giá bán cam và nhãn thấp hơn giá sản xuất ngườitrồng cam và nhãn bị lỗ Trong khi đó giá lúa xuất khẩu đang được giá nênngười nông dân chặt cam và nhãn để trồng lúa Như vây quy luật giá trị có tácdụng điều tiết sản xuất
Nông sản sản xuất ở nông thôn hiện nay được chuyển từ nông thôn ra thànhthị và các khu công nghiệp tập trung đông người để bán hay hàng hóa được sảnxuất ở thành phố, các khu công nghiệp về nông thôn bán có lãi cao hơn Nhưvây quy luật giá trị có tác dụng điều lưu thông
* Cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất:
Ngành dệt may ở Việt Nam do tận dụng được mặt bằng, giá nhân công rẻ,nên giá gia công của Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực vì vậycác doanh nghiệp dệt may ở nước ta đang có xu hướng đầu tư máy móc, mởrộng nhà xưởng để chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu Trong Phần lớn các doanhnghiệp dệt may để hạn chế chi phí, giảm giá thành sản phẩm phải tiết kiệm điệntrong sản xuất các doanh nghiệp dệt may đề ra phương án:
+ Thay đổi nhưng máy móc sản xuất có mức hao phí điện năng cao
+ Cải tạo hệ thống xây từ đốt dầu sang đất bằng than
+ Tránh sản xuất vào giờ cao điểm hi phí năng lượng khác
* Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu, nghèo:
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh
tế các doanh nghiệp do nguồn vốn phải đi vay với lãi xuất cao Theo thống kê 9tháng đầu năm 2011 có 48.000 doanh nghiệp phá sản Như vậy mặt trái của kinh
tế thị trường tạo ra hố sâu của sự phân hóa giàu nghèo
Kết luận: từ những phân tích trên Quy luật giá trị vừa có tác động tích cực,vừa có tác động tiêu cực Do đó cần phải có biện pháp quản lý của nhà nước
- Đảng chỉ ra phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướngXHCN ở nước ta không ngoài mực tiêu tăng trường, phát triển kinh tế thực hiện
Trang 12công bằng XH Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàunước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh thực hiện xây dựng thành côngCNXH ở nước ta
- Sắp xếp lại dân cư vùng, điều chỉnh tỷ lệ phát triển dân số
- Nhưng mặt trái của quy luật thị trường đó là phân hóa giàu nghèo, nhànước ta phải có chính sách đối với những gia đình có công với cách mạng, cóchính sách đối với vùng sâu vùng xa để làm giảm phân hóa giàu nghèo
Câu 3 Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản và lý luận về hàng hóa sức lao động:
1 Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản
1 1 Điều kiện ra đời quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa
- Tập trung được một số tiền lớn vào tay một số ít người để trở thành nhà tưbản
- Người lao động được tự do về thân thể và mất hết tư liệu sản xuất chủyếu
1.2 Công thức chung của tư bản: T – H – T’
Công thức trên được gọi là công thức chung của tư bản vì mọi tư bản đềubiểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, dù là tư bản thương nghiệp, tưbản công nghiệp hay tư bản cho vay, đều vận động theo công thức đó
Điều này rất dễ dàng nhận thấy trong thực tiễn, bởi vì hình thức vận độngcủa tư bản thương nghiệp là mua vào để bán ra đắt hơn, rất thích hợp với côngthức trên Tư bản công nghiệp vận động phức tạp hơn, nhưng dù sao cũng khôngthể tránh khỏi những giai đoạn T – H và H – T’ Còn sự vận động của tư bản chovay để lấy lãi chẳng qua chỉ là công thức trên được rút ngắn lại T – T’ C.Mácchỉ rõ: “ Vậy T – H – T’ thực sự là công thức chung của tư bản, đúng như nótrực tiếp thể hiện ra trong lĩnh vực lưu thông”
+Công thức chung của tư bản:
Tiền chỉ trở thành tư bản khi tiền vận động theo công thức trên Trong đó,T’ = T + Δt, Δt là số tăng têm so với giá trị (T) ứng ra ban đầu, Mác gọi đó là giátrị thặng dư, ký hiệu là (m)
So sánh công thức lưu thông hàng hoá giản đơn (H - T - H) với công thứcchung của tư bản:
Giống nhau Đều phản ánh sự vận động của kinh tế hàng hoá;
Đều gồm các yếu tố tiền (T) và hàng (H);
Đều có hành vi mua và bán;
Đều ẩn chứa quan hệ giữa người mua và người bán.
Trang 13Khác nhau - Điểm mở đầu và kết thúc là H, T làm nhiệm vụ trung gian; - Điểm mở đầu và kết thúc là T, H làm nhiệm vụ trung gian;
- Hành động bán diễn ra trước, sau đến hành động mua; - Hành động mua diễn ra trước, sau đến hành động bán;
- Mục đích của lưu thông là giá trị
sử dụng; - Mục đích của lưu thông là giá trị và giá trị thặng dư;
- Sự vận động có giới hạn, mục đích cuối cùng là sự tiêu dùng sản phẩm. - Sự vận động liên tục, tư bản không ngừng lớn lên.
-Tóm lại: công thức (2) phản ánh mục đích vận động là tiền với tư cách là
tư bản, nên lượng giá trị sau quay về phải lớn hơn giá trị ban đầu, vậy công thứcvận động đầy đủ của tư bản là T-H-T’, trong đó T’=T+t, (t là giá trị thặng
dư, kí hiệu là m) Như vậy công thức T-H-T’ là công thức chung của tư bản, vìmọi tư bản đều vận động theo công thức này
1.3 Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản:
Thoạt nhìn vào công thức chung của tư bản ta thấy, dường như giá trị thặng
dư do lưu thông hàng hoá sinh ra Điều này trái với học thuyết giá trị - lao độngcủa Mác, giá trị được tạo ra trong quá trình lao động
Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản: “Vậy là tư bản không thể xuấthiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phảixuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”
Xét các trường hợp:
*/ Trong lưu thông:
- Trao đổi ngang giá: hàng hoá bán đúng giá trị, cả người mua và người bán
không thể nhận hơn một phần tử giá trị nào
- Trao đổi không ngang giá:
Mọi người đều bán hàng hoá cao hơn giá trị Trong xã hội hàng hoá, ai cũng vừa là người bán vừa là người mua, do vậy, lượng giá trị tăng thêm khi bán hàng thu được cũng đúng bằng lượng giá trị mất đi khi mua hàng.
Mọi người đều bán hàng hoá thấp hơn giá trị Lượng giá trị bị mất khi bán cũng đúng bằng lượng giá trị được lợi khi mua.
Có người chuyên mua rẻ bán mắc Khi đó, tổng giá trị mà những người chuyên mua rẻ, bán mắc thu được sẽ bằng tổng giá trị mà những người phải bán rẻ, mua mắc mất đi Xét trong toàn xã hội, thông qua lưu thông giá trị hàng hoá vẫn không tăng thêm phần tử nào.
*/ Ngoài lưu thông:
- Tiền để ngoài lưu thông (trong két) cũng không thể sinh ra giá trị thặng
dư
Trang 14-Tiền phải đưa vào lưu thông, mua các yếu tố sản xuất, kết hợp chúng với nhau (tiêu dùng) để tạo ra hàng hoá mới rồi bán mới thu được giá trị thặng dư Tuy nhiên, với hàng hoá thông thường trong quá trình tiêu dùng giá trị của nó sẽ giảm dần và không thể bán để thu giá trị thặng dư Chỉ có một loại hàng hoá đặc biệt mà các nhà tư bản đã phát hiện ra, khi sử dụng nó, giá trị của nó không mất đi mà còn tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn nó Đó là hàng hoá sức lao động Đến đây mâu thuẫn của công thức chung mới được giải quyết.
2 Sự chuyển hoá của sức lao động thành hàng hoá
- Sức lao động là tổng hợp toàn bộ thể lực và trí lực của con người được sử dụng
trong quá trình lao động.
Theo Mác: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”.
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ những nhu cầu của chính đời sống con người.
2.1 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá
- Người lao động phải được tự do về thân thể;
Thời kỳ chiếm hữu nô lê, người nô lệ không được tự do về thân thể Trong thời đại ngày nay, những người đang bị mất quyền công dân cũng không có tự do về thân thể.
- Người lao động buộc phải bán hoặc mong muốn bán sức lao động của mình:
Người lao động mất hết tư liệu sản xuất chủ yếu buộc phải bán sức laođộng
để tồn tại;
Người lao động có tư liệu sản xuất nhưng không có khả năng tổ chức sản xuất hoặc có khả năng nhưng kém hiệu quả.
2.2 Hai thuộc tính của hàng hoá sức lao động
Với tư cách là một loại hàng hoá, hàng hoá sức lao động cũng có giá trị sử dụng
và giá trị.
2.2.1 Giá trị của hàng hoá sức lao động
- Giá trị của hàng hoá sức lao động là giá trị những tư liệu tiêu dùng để tạo ra và
tái tạo ra sức lao động.
Giá trị tư liệu tiêu dùng để nuôi sống người lao động
Giá trị tư liệu tiêu dùng cho gia đình người lao động
Chi phí để đào tạo người lao động
- Giá trị hàng hoá sức lao động mang yếu tố tinh thần và lịch sử xã hội.
2.2.2 Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động cũng giống như những hàng hoá khác, chỉ được thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng nó.
Trang 15Quá trình tiêu dùng sức lao động chính là quá trình người công nhân tiến hành lao động, sản xuất ra những hàng hoá chứa đựng những giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư.
2.3 Tiền công
- Giá trị hàng hoá sức lao động biểu hiện thành tiền công gọi là giá cả hàng
hoá sức lao động Tiền công là giá cả hàng hoá sức lao động chứ không phải giá
cả của lao động
- Tiền công có hai hình thức cơ bản: tiền công tính theo thời gian và tiền
công tính theo sản phẩm
- Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế:
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người lao động được trả cho công việc của mình.
Tiền công thực tế là số hàng hoá, dịch vụ mà người lao động có được nhờ việc sử dụng tiền công danh nghĩa.
3 Lý luận hàng hóa sức lao động
Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá – sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
- Giá trị hàng hoá sức lao động Giá trị hàng hoá sức lao động cũng giống
như các hàng hoá khác được quy định bởi số lượng thời gian lao động xã hội cầnthiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng, sức lao động chỉ tồn tạitrong cơ thể sống của con người Để sản xuất và tái sản xuất ra năng lực đó,người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định
Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng số lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của người có sức lao động ở trạng thái bình thường.
Khác với hàng hoá thông thường, giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả yếu
tố tinh thần và lịch sử Điều đó thể hiện ở chỗ: nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học hành,…) Nhu cầu đó, cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau.
Nó tùy thuộc hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào tập quán, vào điều kiện địa lý và khí hậu, vào điều kiện hình thành giai cấp công nhân.
Nhưng, đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định Do
đó, có thể xác định do những bộ phận sau đây hợp thành: một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sức lao động của bản thân người công nhân; hai là, phí tổn học việc của công nhân; ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người công nhân.
Trang 16Như vậy, giá trị sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động cho người công nhân và nuôi sống gia đình của anh ta.
Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định, cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối lập nhau.
Một mặt là sự tăng nhu cầu trung bình xã hội về hàng hoá và dịch vụ, về học tập và trình độ lành nghề, do đó làm tăng giá trị sức lao động Mặt khác là sự tăng năng suất lao động xã hội, do đó làm giảm giá trị sức lao động Trong điều kiện tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và những điều kiện khác , sự khác biệt của công nhân về trình độ lành nghề, về sự phức tạp của lao động
và mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên.
Tất cả những điều kiện đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao động Không thể không dẫn đến sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh
tế bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động.
- Giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động Giá trị sử dụng của hàng hoá sức
lao động cũng giống như các hàng hoá khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêudùng sức lao động, tức là quá trình người công nhân tiến hành lao động sản xuất
Nhưng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động được thể hiện đó là:
Thứ nhất, sự khác biệt của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với giá trị sử dụng của các hàng hoá khác là ở chỗ, khi tiêu dùng hàng hoá sức lao động,
nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư Như vậy, hàng hoá sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động so với các hàng hoá khác Nó là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hoá.
Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hoá sức lao động vì vậy, việc cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế, xã hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung.
4 Ý nghĩa của lý luận hàng hóa sức lao động đối với lý luận giá trị thặng dư:
- Vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư, đó là lao động không công của người
công nhân làm thuê tạo ra trong quá trình sản xuất và bị nhà tư bản chiếm không.
- Vạch rõ bản chất cơ bản nhất của XH tư bản đó là quan hệ bóc lột của tư bản
đối với lao động làm thuê.
- Vạch rõ được hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư: Lợi nhuận, lợi nhuận
bình quân, lợi tức, địa tô,…
- Vạch rõ được nguồn gốc, bản chất của tích lũy tư bản…
Do đó, vạch rõ quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của CNTB.
_
Tham khảo: Lý luận hàng hóa sức lao động và tiền công của C Mác - cơ sở quan trọng để cải cách chính sách tiền lương
Trang 17TCCSĐT - Tiền lương là lợi ích kinh tế thiết thân của người lao động, là phương tiện tái sản xuất sức lao động, năng lực của lao động trong quá trình sản sinh ra các giá trị gia tăng Để
có một chính sách tiền lương hợp lý, kích thích năng lực sáng tạo của người lao động, rất cần hiểu rõ căn cứ hay cơ sở của tiền lương.
Khi lợi ích của người lao động được bảo đảm bằng các mức lương thỏa đáng, lợi ích của người sử dụng lao động sẽ tăng, tạo cơ sở kinh tế để tăng thu nhập và lợi ích kinh tế cho người cung ứng sức lao động, tạo ra sự gắn kết cộng đồng giữa người lao động với người sử dụng lao động Đó chính là tác động tích cực của tiền lương Ngược lại, nếu chính sách tiền lương không hợp lý, không chú ý đúng mức đến lợi ích của người lao động, sẽ làm suy giảm động lực của sản suất, tác động xấu đến thái độ, động cơ của người lao động, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Nguồn nhân công có thể bị kiệt quệ về thể lực, giảm sút về chất lượng Biểu hiện rõ nhất là tình trạng cắt xén thời gian làm việc, lãng phí nguyên, nhiên, vật liệu; làm rối, làm ẩu, gây nên mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa người sử dụng lao động và người cung ứng sức lao động Một biểu hiện nữa của chính sách tiền lương không hợp lý là tạo ra tình trạng phân bố lao động bất hợp lý giữa các ngành, các vùng, các khu vực kinh tế, dẫn đến tình trạng thất nghiệp cục bộ trong khi có nơi lại thiếu lao động, hoặc gây ra nạn chảy máu chất xám
Tiền lương - sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động
Xét trên góc độ cá nhân người lao động, sức lao động là tổng hợp toàn bộ thể lực và trí tuệ tồn tại trong cơ thể sống của con người mà con người có thể vận dụng trong quá trình sản xuất Sức lao động là khả năng lao động, là yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất Hiệu quả lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố vật chất khác, song yếu tố có ý nghĩa quyết định là sức lao động Thể lực và trí tuệ của người lao động lại phụ thuộc vào mức sống, vào chất lượng cuộc sống và những yếu tố đó, suy cho cùng, lại phụ thuộc vào chính thu nhập của người lao động mà phần cơ bản trong thu nhập đó là tiền lương.
Xét trên góc độ xã hội, sức lao động trong nền sản xuất xã hội là lực lượng lao động xã hội
-một nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế Chất lượng của lực lượng lao động phụ
thuộc vào nhiều chính sách của nhà nước, như chính sách phân phối, chính sách giáo dục đào tạo và các chính sách kinh tế - xã hội khác, trong đó chính sách tiền lương giữ vai trò quan trọng.
C.Mác cho rằng, để sức lao động trở thành hàng hóa cần có hai điều kiện Một là, người có sức lao động hoàn toàn tự do về thân thể, có nghĩa là người đó phải có quyền sở hữu sức lao động của mình và có quyền đem bán nó như một hàng hóa Hai là, người có sức lao động nhưng không có tư liệu sản xuất hoặc của cải, do đó buộc phải bán sức lao động của mình Người lao động ở vào các điều kiện trên sẽ đem bán sức lao động của mình để duy trì cuộc sống Khi kinh tế hàng hóa phát triển hơn thì điều kiện thứ hai có những thay đổi nhất định.
Đó là không phải chỉ những người hoàn toàn không có tư liệu sản xuất hoặc của cải mới đem bán sức lao động của mình, mà cả những người có tư liệu sản xuất hoặc có vốn, nhưng không đủ khả năng để sản xuất có hiệu quả cũng vẫn đi làm thuê.
Giá trị hàng hóa sức lao động được biểu hiện trên thị trường thông qua tiền lương Vì vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của sức lao động mà người
sử dụng lao động (nhà nước, chủ doanh nghiệp) phải trả cho người cung ứng sức lao động, tuân theo các quy luật của thị trường sức lao động và pháp luật của nhà nước Do đó, cơ sở của tiền lương là giá trị sức lao động Giá trị hàng hóa sức lao động được quyết định bởi lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng sức lao động là khả năng lao động gắn liền với cơ thể sống của con người, vì vậy tái sản xuất