1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề cương thảo luận những vấn đề cơ bản của cn mác lênin cao thị hằng

25 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Thảo Luận Những Vấn Đề Cơ Bản Của CN Mác-Lênin
Tác giả Cao Thị Hằng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Chủ Nghĩa Mác-Lênin
Thể loại Đề cương thảo luận
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 263 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Lớp TC 190 (Thành Ủy) Họ tên học viên Cao Thị Hằng ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn Những vấn đề cơ bản của CN Mác Lênin Phần CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC PHẦN SOẠN Câu hỏi 1 Hãy phân tích quan điểm của chủ nghĩ[.]

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN Môn: Những vấn đề cơ bản của CN Mác-Lênin Phần: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

PHẦN SOẠN

Câu hỏi 1: Hãy phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh

lịch sử của giai cấp công nhân? Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay?

A Chủ đề :

- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân

+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân

+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

- Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

* Khái niệm, đặc điểm và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

* Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH, phát triển kinh tế thịtrường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế

B Trọng tâm trình bày :

1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân

Khi sử dụng khái niệm giai cấp công nhân, Mác và Ăngghen đã dùng một số thuật ngữ khác nhau

để biểu hiện khái niệm đó như: giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại,giai cấp công nhân đại công nghiệp,… các thuật ngữ này về cơ bản là những từ đồng nghĩa và phản ánhđịa vị, những đặc điểm chung cơ bản về kinh tế, chính trị xã hội của giai cấp công nhân

Do làm việc và sống trong xã hội cộng nghiệp ngày càng hiện đại , giai cấp công nhân ở các nướcđều có những đặc điểm chung như sau:

- Thứ nhất, về phương thức lao động của giai cấp công nhân: Là sản phẩm của quá trình sản xuất côngnghiệp hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến Giai cấp công nhân là chủ thể của hàng hóasức lao động, cái mà nhờ nó, quá trình sản xuất tư bản mới có được giá trị thặng dư “ giai cấp vô sản là giaicấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức laođộng của mình để sống” Mặt khác vì mục tiêu tăng them lợi nhuận, giai cấp tư sản có nhu cầu ngày càngtăng về sức lao động của giai cấp công nhân “Tư bản tức là cái sở hữu bóc lột lao động làm thuê, cái sởhữu chỉ có thể tăng them với điều kiện là phải sản xuất ra lao động làm thuê mới để lại bóc lột lao động làmthuê đó…” Vì vậy người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành những công cụ sản xuất có tính chấtcông nghiệp ngày càng hiện đại, ngày càng có trình độ xã hội hóa, quốc tế hóa cao Đây là một đặc trưng cơbản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ, với những người thợ trongcông trường thủ công Giai cấp công nhân có một quá trình phát triển từ những người thợ thủ công thời kỳtrung cổ đến những người thợ trong công trường thủ công và cuối cùng đến những người công nhân trongcông nghiệp hiện đại Trong công trường thủ công và trong nghề nghiệp thủ công, người công nhân sử dụngcông cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phụ thuộc máy móc, phải có tính kỷ luật

và sự đoàn kết

- Đặc điểm thứ hai là đặc điểm về lợi ích cơ bản: GCCN có lợi ích đối lập với lợi ích cơ bản củagiai cấp tư sản : Trong xã hội tư bản chủ nghĩa người công nhân không có tư liệu sản xuất buộc phải

Trang 2

bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống Mác và Ăngghen đặc biệt chú ý phân tích đặc trưng này,

vì nó chính là đặc trưng khiến cho giai cấp công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tưsản.Mâu thuẫn cơ bản này là không thể điều hòa và chỉ có thể được giải quyết bằng việc xóa bỏ chế độbóc lột giá trị thặng dư của lao động làm thuê, trên cơ sở xác lập một mối quan hệ sản xuất mới mangtính chất sở hữu xã hội những tư liệu sản xuất chủ yếu Chính lực lượng sản xuất mang tính chất xã hộihóa ngày càng cao đã đặt ra yêu cầu khách quan cần phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ dựa trên chế độ

sở hữu tư nhân đã lỗi thời để thiết lập một quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, tạo động lực thúc đẩy lựclượng sản xuất tiếp tục phát triển

- Đặc điểm tiếp theo: Về bản chất quốc tế và bản chất dân tộc: Họ có tinh thần triệt để cách mạng,

có tinh than quốc tế, đoàn kết giai cấp và có tính tổ chức kỷ luật cao.Trong chủ nghĩa tư bản, do là đốitượng bị bóc lột trực tiếp và nặng nề nhất nên giai cấp công nhân muốn giải phóng chính mình phải cótinh thần cách mạng triệt để đồng thời liên kết giai cấp chặt chẽ và tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ củaquốc tế đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột giá trị thặng dư, trên cơ sở xác lập chế độ sở hữu xã hộimới về tư liệu sản xuất chủ yếu và một quan hệ sản xuất mới tiến bộ phù hợp

Mặt khác, do lao động trong môi trường công nghiệp và dịch vụ công nghiệp hiện đại giai cấp côngnhân đã được tôi luyện và hình thành ý thức tổ chức rất cao trong quá trình sản xuất cũng như trongcuộc đấu tranh chống lại sự bóc lột của giới chủ tư bản Những phẩm chất đó là tiền đề cần thiết chomột giai cấp cách mạng và lãnh đạo cách mạng thành công

Đặc điểm cơ bản tiếp theo của giai cấp công nhân: có hệ tư tưởng riêng của giai cấp- đó là chủnghĩa mác Lê nin và có chính đảng là Đảng cộng sản Hệ tư tưởng này phản ánh địa vị kinh tế, chính trị

- xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đồng thời dẫn dắt quá trình gccn thực hiện sứ mệnhlịch sử của mình nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi mọi sự áp bứcbóc lột và xây dựng một xã hội mới hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội.Đặcbiệt giai cấp công nhân ở mỗi nước có những đặc điểm riêng do những điều kiện lịch sử cụ thể ở từngquốc gia chi phối tác động

Hiện nay, Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nền công nghệ tự động hóa ngày càngcao, kinh tế tri thức phát triển, xã hội thông tin văn minh trí tuệ thì giai cấp công nhân cũng tăng cả về

số lượng cũng như chất lượng

Về chất lượng các nghành công nghiệp mới tăng, các ngành công nghiệp truyền thống giảm (Ví dụ:Pháp không cho khai thác dầu lửa để dành cho thế hệ sau Pháp phát triển các ngành công nghiệp mớisản xuất ra các nguyên liệu khác thay thế dầu lửa) Đồng thời công nhân tri thức tăng, công nhân truyềnthống giảm (ví dụ: Singaphore chỉ có nghành dịch vụ là chủ yếu) Tiếp đến Công nhân các ngành dịch

vụ tăng, công nhân trực tiếp giảm (Ví dụ Mỹ chỉ còn 10% công nhân sản xuất trực tiếp) Trong điềukiện mới một bộ phận công nhân có cổ phần trong các công ty của TBCN, một bộ phận công nhân thì

có cuộc sống trung lưu trong xã hội và ý thức giác ngộ giai cấp của gccn tăng lên Vì vậy gccn là giaicấp lao động sản xuất vật chất trong nền công nghiệp hiện đại ngày càng phát triển, là lực lượng sảnxuất hàng đầu, đại diện phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày này, giai cấp bị áp bức bóclột trong chủ nghĩa tư bản người làm chủ, lãnh đạo xã hội mới xã hội chủ nghĩa

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triểncủa lực lượng sản xuất tiến bộ, cho xu hướng phát triển của phương thức sản xuất tương lai; do vậy, sứmệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ TBCN xóa bó chế độ người áp bức,, bóc lộtngười, giải phóng gccn, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức bóc lột, nghèo nànlạc hậu, xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản

Điều kiện Khách quan để một giai cấp công nhân đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử:

- Thứ nhất : gccn là gc đại diện lực lượng sản xuất, tính xã hội hóa ngày càng cao

- Thứ 2: do mâu thuẫn về lợi ích giữa gccn với TBCN

Trang 3

- Thứ 3: do mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư của giai cấp làmthuê.

Sứ mệnh lịch sử của một giai cấp là toàn bộ những nhiệm vụ lịch sử giao phó để nó thực hiện bướcchuyển cách mạng từ một hình thái kinh tế xã hội đã lỗi thời sang một hình thái kinh tế xã hội mới ởtrình độ cao hơn, tiên bộ hơn Sứ mệnh này được thể hiện ở ba nội dung cơ bản sau:

-Về kinh tế: Ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay, từ vị thế của mình giai cấp công nhân đang thựchiện nội dung kinh tế này thông qua cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, thúc đẩy lực lượng sảnxuất xã hội hóa mạnh mẽ Ở các nước xhcn thông qua quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gccnthực hiện “một kiểu tổ chức xã hội mới về lao động” để tăng năng suất lao động và thực hiện tiến bộ,công bắng xã hội

-Về chính trị - xã hội: gccn cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của ĐCS, tiến hành cáchmạng chính trị lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa với tư cách là một chế độ chính trị còn áp bức, bất công,

để xác lập, bảo vệ và phát triển chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa với mục tiêu tối thượng là giải phóngcon người khỏi mọi sự áp bức bóc lột và được tạo đk phát triển toàn diện.Nhà nước pháp quyền củagccn và nhân dân lao động được xác lập và trở thành công cụ có hiệu lực để lãnh đạo chính trị, quản lýkinh tế và xã hội trong quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới Chủ nghĩa xã hội hiện thựcchỉ có thể ra đời thông qua thắng lợi của cuộc cách mạng chính trị của gccn

-Về văn hóa, tư tưởng: Nhiệm vụ lịch sử trao cho gccn trong tiến trình cách mạng của mình là xác lập

hệ giá trị, tư tưởng của giai cấp công nhân để thay thế cho hệ giá trị, tư tưởng tư sản và “những hệ tưtưởng cổ truyền” lạc hậu khác Thực chất đó là một cuộc cách mạng về văn hóa, tư tưởng bao gồm cảitạo cái cũ, xây dựng cái mới trong sự kế thừa những tinh hoa của thời đại và giá trị truyền thống củavăn hóa dân tộc

Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và con người được phát triển tự do và toàn diện trong xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh là những mục tiêu hàng đầu của cuộc cách mạng này

Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là do những điều kiện khách quan quy định.Tuy nhiên, để giai cấp công nhân có thể thực hiện được sứ mệnh vẻ vang đó lại phải đòi hỏi hàng loạtnhân tố chủ quan, trong đó; quan trọng quyết định nhất là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản

Ngay trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải rất thuyết phục vềquan hệ giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân, trước hết từ quan hệ lợi ích: “Những người cộngsản không phải là một Đảng riêng biệt, đối lập với các Đảng công nhân khác Họ tuyệt nhiên không cólợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản Họ không đặt ra nguyên tắc riêng biệt nhằmkhuôn phong trào vô sản theo những nguyên tắc ấy” Mục đích trước mắt của những người cộng sảncũng là mục đích trước mắt của tất cả các Đảng vô sản khác; tổ chức những người vô sản thành giaicấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền

Với tư cách là đội tiên phong, những người dẫn dắt phong trào công nhân, trước hết về tư tưởng, lýluận, những người cộng sản, tập hợp trong Đảng Cộng sản sẽ là tổ chức mà thông qua đó giai cấp côngnhân thể hiện vai trò lãnh đạo của một giai cấp, vươn lên thành giai cấp thống trị

Sự đổ vỡ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh vai trò to lớn, quyết định củaĐảng Cộng sản với tư cách là nhân tố chủ quan quyết định việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân

Thế giới đã minh chứng sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân có thành công hay không phải thôngqua đội tiền phong là Đảng Cộng Sản ĐCS phải vững mạnh về tư tưởng, chính trị, đạo đức và tổ chức cáchmạng

Điều kiện chủ quan cơ bản nữa đó chính là sự giác ngộ của ggcn về sứ mệnh lịch sử của giai cấp (Họphải vươn lên nhận thức về chính trị với điều kiện Đảng cộng sản phải vững mạnh, toàn diện) đổng thời bảnthân gccn phải trưởng thành về mọi mặt để đáp ứng với tình hình mới

Trang 4

2 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

Để đánh giá đúng về việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, trước hếtcần thấy rõ những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam, từ lịch sử ra đời đến quá trình phát triển

Thứ nhất: Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, dù số lượng

ít, cơ cấu chưa hợp lý nhưng giai cấp công nhân Việt Nam đã kế thừa và phát huy truyền thống yêunước nồng nàn của dân tộc Việt Nam

Là sản phẩm trực tiếp của hai cuộc khai thác thuộc địa (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), giai cấpcông nhân Việt Nam chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp thực dân, một nền công nghiệp dunhập vào Việt Nam vì mục đích duy nhất là khai thác tài nguyên khoáng sản từ thuộc địa của tư bảnPháp

Theo số liệu thống kê, đến trước cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai cấp công nhân ViệtNam mới chỉ gần 10 vạn Sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai vào năm 1929, giai cấp công nhânViệt Nam đã lên tới 22 vạn Từ khi mới ra đời giai cấp công nhân Việt Nam đã tiếp thu truyền thốngyêu nước, ý chí tự cường, tự tôn dân tộc, vì vậy giai cấp công nhân đã sớm đảm đương sứ mệnh lịch sửcủa mình khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất vớilợi ích của dân tộc

Thứ hai: công nhân Việt Nam xuất thân chủ yếu từ nông dân lao động, có mối quan hệ mật thiết với

nông dân, khối liên minh công – nông sớm được tạo lập Đây là đặc điểm nổi bật trong lịch sử trưởngthành của giai cấp công nhân Việt Nam Một mặt xuất thân từ nông dân, chịu cả hai tầng áp bức củathực dân Pháp và phong kiến giai cấp công nhân Việt Nam gắn bó lợi ích với giai cấp nông dân trong

sự nghiệp chung là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp khỏi ách áp bức, bất công Mặt khác, do xuấtthân từ nông dân, chưa được tôi luyện trong nền đại công nghiệp, công nhân Việt Nam, vì chịu ảnhhưởng khá nặng tư tưởng tiểu nông, chậm hình thành tác phong công nghiệp

Thứ ba: Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác

– Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập vào ngày 3/2/1930 làmốc chấm dứt tình trạng tự phát của phong trào công nhân Việt Nam Giai cấp công nhân Việt Nam rađời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên sớm đảm nhận sứ mệnh lịch sử mà dân tộc giao phó là lãnh đạocách mạng Việt Nam thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Vì thế, không có sự cạnh tranh, giànhgiật vị thế, vai trò lãnh đạo cách mạng với giai cấp tư sản dân tộc, sứ mệnh lịch sử của giai cấp côngnhân Việt Nam gắn liền với sứ mệnh lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ tư: Quá trình trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam chủ yếu gắn liền với cuộc kháng

chiến chống Pháp, chống Mỹ nên sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân gắn liền với sự nghiệp giải phóngdân tộc do Đảng lãnh đạo Việc chuyển giai đoạn, từ chiến tranh sang hòa bình, từ chiến đấu sang xây dựng

và bảo vệ tổ quốc đã và đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với giai cấp công nhân Việt Nam hiệnnay trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh

Chính vậy mà Đảng và nhà nước đã đưa ra phương hướng và giải pháp xây dựng gccn VN Nghiej

Trang 5

quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành trung ương khóa X “ chỉ rõ: “ Xây dựng gccn nước ta lớnmạnh trong thời đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ cấp bách của Đảng, nhànước, của cả hệ thống chính trị , của mỗi công nhân và của toàn xã hội”

Để phát huy vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH,Đảng ta chủ trương: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về mọi mặt, phát triển về số lượng, giác ngộ

về giai cấp, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, có năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, cótác phong công nghiệp và ý thức tổ chức, kỷ luật, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngàycàng cao, làm nòng cốt trong việc xây dựng khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức và tăng cườngkhối đại đoàn kết dân tộc”

Tăng tỷ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo, quản lý xuất thân từ công nhân Tăng số lượng và chấtlượng cơ sở đảng trong các loại hình doanh nghiệp

Đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên Cộng sản HCM và Hội Liênhiệp thanh niên VN trong các loại hình doanh nghiệp

Giải pháp cơ bản để xây dựng phát triển giai cấp công nhân Việt Nam:

+ Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiến, phát triển lý luận về gccn trong điều kiện kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế

+Đẩy mạnh nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hóa giai cấp coong nhân

+Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị , ý thức gc, tinh thần dân tộc cho gccn

+ Bổ sung , sửa đổi xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền,lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân

+Tăng cường lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị, xãhội khác trong xây dựng gccn

Để giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử to lớn, vẻ vang lãnh đạo cách mạng trongthời kỳ mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên những định hướng xây dựng, phát triển về số lượng vàchất lượng:

“Đối với giai cấp công nhân, coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ vàbản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp thực hiện trí thức hóa công nhân, nâng cao năng lựcứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao,xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò lãnhđạo cách mạng trong thời kỳ mới Bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của giaicấp công nhân trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường Tăng cường đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý

và kết nạp Đảng viên từ công nhân ưu tú, tăng thành phần công nhân trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo cáccấp, các ngành”

Để giai cấp công nhân có thể thực hiện, hoàn thành sứ mệnh của mình trong giai đoạn mới, đại hội

X của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Đối với giai cấp công nhân, phát triển về số lượng, chất lượng và tổ chức;nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầutrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Đại hội XI, XII nêu: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về sốlượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp,tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

và hội nhập quốc tế Phát huy vai trò của giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, thông quađội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương,bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cải thiện điều kiện nhà ở, làm việc để bảo vệquyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân”

Đại hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu nhiệm vụ tổng quát phát triển đến năm 2020: “Xâydựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, tăng cường bản chất giai cấp công nhân

Trang 6

và tính tiên phong, sức chiến đấu, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng; ngăn chặn, đẩylùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tựchuyển hóa" trong nội bộ Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệchính trị nội bộ; tăng cường và nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, lý luận, công tác kiểm tra, giámsát và công tác dân vận của Đảng; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”.

Những quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN về đẩy mạnh CNH-HĐH, mở rộng và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế với vị trí, vai trò,nhiệm vụ to lớn của giai cấp công nhân chính là cơ sở lý luận để làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân Việt Nam hiện nay

Việt Nam có khoảng 10% công nhân trí thức – Muốn đại diện tương lại rất cần công nhân trí thức

Trang 7

Câu hỏi 2: Trình bày tính tất yếu ra đời và các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng

sản chủ nghĩa? Nêu sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về đặc trưng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay?

A Chủ đề :

- Tính tất yếu ra đời và các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

* Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

* Các điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

* Xu hướng tất yếu của sự xuất hiện hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

* Các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

- Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về đặc trưng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta hiện nay

B Trọng tâm trình bày :

1 Tính tất yếu ra đời và các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.

1.1 Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa:

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là một chế độ xã hội phát triển cao nhất hiện nay, làchế độ có quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, thích ứng với lực lượng sảnxuất ngày càng phát triển, tạo thành cơ sở hạ tầng có trình độ cao hơn so với cơ sở hạ tầng của chủnghĩa tư bản; trên cơ sở hạ tầng đó có kiến trúc thượng tầng tương ứng thực sự là của nhân dân

Cũng như mọi hình thái kinh tế - xã hội khác, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa có quátrình phát triển từ thấp đến cao do sự trưởng thành về kinh tế và các quan hệ xã hội phù hợp, thể hiện ởtừng thời kỳ, giai đoạn khác nhau, kế tiếp và thống nhất với nhau

1.2 Các điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa:

Những điều kiện cơ bản của sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa:

- Thứ nhất, khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa càng phát triển, dựa trên sự phát triển của khoa học –

kỹ thuật và công nghệ hiện đại làm cho lực lượng sản xuất phát triển không ngừng với trình độ xã hộihóa ngày càng cao, vượt khỏi giới hạn chật hẹp của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn giữalực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn kinh tế cơ bản của phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn này dẫn đến mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giai cấp không thể điềuhòa được giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản

- Thứ hai, trong xã hội tư bản chủ nghĩa có hai giai cấp cơ bản, tiêu biểu nhất, đối lập nhau về lợiích cơ bản, đó là giai cấp công nhân đại biểu cho lực lượng sản xuất hiện đại, xã hội hóa ngày càng cao

và giai cấp tư sản thống trị xã hội đại biểu cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Hai giai cấp này mâuthuẫn với nhau ngày càng rõ rệt, sâu sắc và gay gắt Các cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhânchống giai cấp tư sản áp bức, bóc lột phát triển từ thấp đến cao

- Thứ ba, trong xã hội tư bản chủ nghĩa xuất hiện những tai họa cho cả giai cấp công nhân, nhândân lao động và cho cả nhân loại cũng như môi trường thiên nhiên (áp bức, bóc lột, bất công, phân hóagiàu nghèo, phân biệt chủng tộc, chiến tranh xâm lược, lối sống văn hóa, đạo đức suy đồi, tệ nạn xã hộiphức tạp, ô nhiễm môi trường…)

Đến khi xuất hiện những tình thế, thời cơ, tạo ra những điều kiện cần và đủ thì cách mạng xã hộichủ nghĩa nổ ra Cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra và thắng lợi sẽ mở đầu cho sự ra đời hình thái kinh

tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, có những nước tư bản chủ nghĩa mới

ở trình độ trung bình và những nước chưa qua chủ nghĩa tư bản cũng có thể nổ ra cuộc cách mạng xãhội chủ nghĩa để bước sang hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Trang 8

Vậy, những điều kiện để những nước tư bản chủ nghĩa trung bình và những nước chưa qua chủnghĩa tư bản lên hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa là:

+ Một là, chủ nghĩa tư bản chuyển thành chủ nghĩa đế quốc gây chiến tranh xâm lược các thuộcđịa, gây tai họa cho hàng trăm quốc gia dân tộc, làm xuất hiện những mâu thuẫn cơ bản và gay gắt củathời đại mới:

Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc xâm lược với các quốc gia dân tộc thuộc địa, phụ thuộc

Mâu thuẫn giữa các nước tư bản – đế quốc với nhau

Ở hàng trăm nước nông nghiệp, vẫn còn mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, tư sản với nôngdân, trong đó nổi lên mâu thuẫn giữa tư bản – đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai phong kiến với cả dântộc bị áp bức, bóc lột, mất độc lập tự do

+ Hai là có những tác động toàn cầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của học thuyếtMác – Lênin … thức tỉnh các dân tộc vùng lên giành độc lập dân tộc Nhiều nước sau khi giành đượcđộc lập dân tộc đã chọn con đường phát triển đi lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

1.3 Xu hướng tất yếu cùa sự xuất hiện hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản càng phát triển đến trình độ xã hội hóa cao thì càng làmcho mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với sự kìm hãm của quan hệ sản xuấtmang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa thêm sâu sắc Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận định: "Từ hàng chục năm nay lịch sử công nghiệp và thương nghiệpkhông phải là cái gì khác hơn là lịch sử cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại quan hệsản xuất hiện đại"

Tính mâu thuẫn gay gắt trong lĩnh vực kinh tế của CNTB biểu hiện trên lĩnh vực chính trị - xã hội là mâuthuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động với giai cấp tư sản ngày càng trở nên quyết liệt

Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản xuất hiện ngay từ khi chủ nghĩa tư bảnhình thành ngày càng trở nên sâu sắc Qua thực tiễn cuộc đấu tranh, giai cấp công nhân đã nhận thứcđược rằng, muôn giành thắng lợi phải tiếp thu chủ nghĩa xã hội khoa học, hình thành chính đảng của giaicấp mình Khi đảng cộng sản ra đời, toàn bộ hoạt động của nghĩa đều hướng vào lật đổ nhà nước của giaicấp tư sản, xác lập nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việc thiết lập nhà nước củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động là sự mở đầu của hình thái KT-XH cộng sản chũ nghĩa

Như vậy, sự xuất hiện của hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa phải có những điều kiện nhất định,

đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản đạt đến một mức độ nhất định, lựclượng giai cấp công nhân trở nên đông đảo, mâu thuẫn gay gắt với giai cấp tư sản Mặt khác, từ thựctiễn cách mạng, giai cấp công nhân phải giác ngộ cách mạng, phải xây dựng được chính đảng cáchmạng, phải kiên quyết đấu tranh giành lấy chính quyền từ tay giai cấp tư sản khi có thời cơ cách mạng.Cách mạng không tự diễn ra, chủ nghĩa tư bản không tự sụp đổ

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lực lựơng sảnxuất của chủ nghĩa tư bản có tính xã hội hóa cao đã mang tính chất toàn cầu ngày càng mâu thuẫn vớiquan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa Ý thức được mâu thuẫn đó giai cấp tư sản dùng rất nhiềubiện pháp như tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, thành lập các tập đoàn tư bản, vớimong muốn làm giảm những mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản Song, sở hữu nhà nước trong chủ nghĩa

tư bản, thực chất chỉ là giai cấp tư sản lợi dụng nhà nước, nhân danh nhà nước để nắm tư liệu sản xuất

Do vậy, mâu thuẫn đối kháng trong kinh tế và trong lĩnh vực chính trị - xã hội không hề suy giảm Mâuthuẫn đó chỉ có thể giải quyết bằng một cuộc cách mạng XHCN, thiết lập hình thái kinh tế - xã hội cộngsản chủ nghĩa với quan hệ sản xuất XHCN nhằm mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển

1.4 Các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển

Trang 9

từ thấp lên cao, từ giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa (chủ nghĩa xã hội) lên xã hội cộng sản chủ nghĩa.

C Mác còn khẳng định, giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa có một thời kỳquá độ từ xã hội nọ sang xã hội kia, là thời kỳ cải biến cách mạng một cách toàn diện trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội

Sau này, trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước, trên cơ sơ diễn đạt tư tưởng củaC.Mác, V.I.Lênin đã phân tích quá trình hình thành, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sảnchủ nghĩa qua các giai đoạn: 1) "Những cơn đau đẻ kéo dài" (thời kỳ quá độ); 2) Giai đoạn đầu của xãhội cộng sản chủ nghĩa: 3) Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa

a Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

- Tính tất yếu của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH:

Để chuyển từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội xã hội chủ nghĩa - xã hội mà chủ nghĩa xã hội pháttriển trên chính cơ sở vật chất - kỹ thuật của nó, cần phải trải qua một thời kỳ quá độ nhất định

Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được lý giải từ các căn cứ sau đây:

Một là, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội khác nhau về bản chất Chủ nghĩa tư bản được xâydựng trên cơ sở chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất; dựa trên chế độ áp bức bóc lột Chủnghĩa xã hội được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, tồn tại dưới haihình thức là nhà nước và tập thể: không còn các giai cấp đối kháng, không còn tình trạng, áp bức, bóclột Muốn có xã hội như vậy cần phầi có một thời kỳ lịch sử nhất định

Hai là, chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên nền sản xuất đại công nghiệp có trình độ cao Quátrình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra tiền đề vật chất - kỹ thuật nhất định cho chủ nghĩa xã hội,nhưng muốn cho tiền đề vật chất - kỹ thuật đó phục vụ cho chủ nghĩa xã hội cần có thời gian tổ chức,sắp xếp lại

Đối với những nước chưa từng trải qua quá trình công nghiệp hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳquá độ cho việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội có thể phải kéo dài với nhiệm

vụ trọng tâm của nó là tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

Ba là, các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội không tự phát nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư bản,chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản,

dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành các quan hệ xãhội mới xã hội chủ nghĩa, do vậy cũng cần phải có thời gian nhất định để xây dựng và phát triển nhữngquan hệ đó

Bốn là, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công cuộc mới mẻ, khó khăn và phức tạp, phải cần cóthời gian để giai cấp công nhân từng bước làm quen với những công việc đó

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước có trình độ phát triển kinh tể - xã hội khác nhau cóthể diễn ra với khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau Đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bảnphát triển ở trình độ cao thì khi tiến lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ có thể tương đối ngắn Nhữngnước đã trải qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản ở trình độ trung bình, đặc biệt là những nước ởtrình độ phát triển tiền tư bản, có nền kinh tế lạc hậu thì thời kỳ quá độ thường kéo dài với rất nhiều khókhăn, phức tạp

- Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là sự tồn tại nhữngyếu tố của xã hội cũ bên cạnh những nhân tố mới của chủ nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa thốngnhất vừa đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội

Trên lĩnh vực kinh tế: Thời kỳ quá độ là thời kỳ tất yếu còn tồn tại một nền kinh tế nhiều thành

phần trong một hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất Đây là bước quá độ trung gian tất yếu trong quátrình xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể dùng ý chí để xóa bỏ ngay kết cấu nhiều thành phần của nềnkinh tế, nhất là đối với những nước còn ở trình độ chưa trải qua sự phát triển của phương thức sản xuất

Trang 10

Trên lĩnh vực chính trị: Do kết cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đa dạng, phức

tạp, nên kết cấu giai cấp xã hội trong thời kỳ này cũng đa dạng, phức lạp Thời kỳ này có giai cấp côngnhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, những người sản xuất nhỏ, tầng lớp tư sản Các giai cấp, tầnglớp này vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau Trong một giai cấp, tầng lớp cùng có nhiều bộ phận cótrình độ, có ý thức khác nhau

Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa: Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều yếu

tố tư tưởng và văn hóa khác nhau Bên cạnh tư tưởng xã hội chủ nghĩa còn tồn tại tư tưởng tư sản, tiểu

tư sản, tâm lý tiểu nông, V.V V.I.Lênin cho rằng, tính tự phát tiểu tư sản là "kẻ thù giấu mặt hết sứcnguy hiểm, nguy hiểm hơn so với nhiều bọn phản cách mạng công khai” Trên lĩnh vực văn hóa cũngtồn tại các yếu tố văn hóa cũ và mới, chúng thường xuyên đấu tranh với nhau

Thực chất của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ diễn ra cuộc đấutranh giai cấp giữa giai cấp tư sản đã bị đánh bại, không còn là giai cấp thống trị vả những thế lựcchống phá chủ nghĩa xã hội với giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động Cuộc đấu tranhgiai cấp diễn ra trong điều kiện mới là giai cấp công nhân đã nắm được chính quyền nhà nước, quản lýtất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Cuộc đấu tranh giai cấp với những nội dung, hình thức mới, diễn ratrong mọi lĩnh vực chính trị kinh tế và tư tưởng - văn hóa

- Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:

Trong lĩnh vực kinh tế: Nội dung cơ bản trên lĩnh vực kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội là thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất hiện có của xã hội; cải tạo quan hệ sảnxuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảođảm phục vụ ngày càng tốt đời sống của nhân dân lao động

Việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng sản xuất của xã hội nhất định không thể theo ý muốn chủquan nóng vội mà phải tuân theo tính tất yếu khách quan của các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luậtquan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Đối với những nước chưa trải qua quá trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa, tất yếu phải tiếnhành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nhằm tạo ra được cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.Đối với những nước này, nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ phải là tiến hành công nghiệp hóa,hiện đại hóa nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong lĩnh vực chính trị: Nội dung cơ bản trong lĩnh vực chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội là tiến hành cuộc đấu tranh chống lại những thế lực thù địch, chống phá sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội; tiến hành xây dựng, củng cố nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngàycàng vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ trong hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhândân lao động; xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội thực sự là nơi thực hiện quyền làm chủ của nhândân lao động; xây dựng đảng cộng sản ngày càng trong sạch, vũng mạnh ngang tầm với các nhiệm vụcủa mỗi thời kỳ lịch sử

Trong lĩnh vực tư tưởng - văn hóa: Nội dung cơ bán trong lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thực hiện tuyên truyền, phổ biến những tư tưởng khoa học và cách mạngcủa giai cấp công nhân trong toàn xã hội: khắc phục những tư tưởng và tâm lý có ảnh hưởng tiêu cựcđối với tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, tiếp thu giátrị tinh hoa của các nền văn hóa trên thế giới

Trong lĩnh vực xã hội: Nội dung cơ bản trong lĩnh vực xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

Trang 11

hội là phải thực hiện việc khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để lại; từng bước khắc phục sựchênh lệch phát triển giữa các vùng miền, các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêubình đẳng xã hội; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người theo mục tiêu lý tưởng lá tự docủa người này và điều kiện, tiền đề cho sự tự do của người khác.

Tóm lại, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử tất yếu trên con đường phát triểncủa hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Đó là thời kỳ lịch sử có đặc điểm riêng với những nộidung kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội đặc thù mà giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa trên con đườngphát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa chỉ có thể có được trên cơ sở hoàn thành cácnội dung đó

b Xã hội xã hội chủ nghĩa

Xã hội xã hội chủ nghĩa (chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản) là một xã hội cónhững đặc trưng cơ bản sau đây

Thứ nhất, cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội xã hội chủ nghĩa là nền đại công nghiệp được pháttriển lên từ những tiền đề vật chất - kỹ thuật của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa

Thứ hai, chủ nghĩa xã hội xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ sở hữu

xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất

Thứ ba, xã hội xã hội chủ nghĩa là một chế độ xã hội tạo ra được cách tổ chức lao động và kỷ luậtlao động mới

Thứ tư, xã hội xã hội chủ nghĩa là một chế độ xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, coi

đó là nguyên tắc cơ bản nhất

Thứ năm, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội mà ở đó nhà nước mang bản chất giai cấp côngnhân, có tính nhân dân rộng rãi, tính dân tộc sâu sắc

Thứ sáu, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội đã thực hiện được sự giải phóng con người khỏi ách

áp bức, bóc lột; thực hiện bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện

c Giai đoạn cao của hình thái KT-XH cộng sản chủ nghĩa

Trên cơ sở nghiên cứu quá trình phát triển lực lượng sản xuất của xã hội loài người, C.Mác đã cónhững dự báo về sự xuất hiện giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa (giai đoạncao của chủ nghĩa cộng sản)

Về mặt kinh tế: Lực lượng sản xuất phát triển vô cùng mạnh mẽ của cải xã hội đã trở nên dồi dào,

ý thức con người được nâng lên, khoa học phát triển, lao động của con người được giảm nhẹ, lúc đónhân loại mới có thể thực hiện được nguyên tắc "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu"

Về mặt xã hội: Tới giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, con người sẽ

được giải phóng hoàn toàn và được phát triển một cách thực sự toàn diện Khi đó, nhân loại có thểchuyển từ "vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do", có điều kiện phát triển toàn diện nănglực, mang hết tài năng và trí tuệ cống hiến cho xã hội

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đưa ra các dự báo và luận giải về sự ra đời, phát triểncủa hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa trên cơ sở phân tích quy luật kinh tế của sự vận độngtrong xã hội, đặc biệt là quy luật kinh tế của sự vận động trong xã hội tư bản chủ nghĩa Thế nhưng lịch

sử phát triển của xã hội luôn luôn chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan trongnhững điều kiện xác định, từ đó tạo nên tính phong phú, đa dạng trong tiến trình lịch sử phát triển củamỗi cộng đồng người cũag như của toàn bộ lịch sử nhân loại Do vậy, tiến trình phát triển của lịch sửkhông bao giờ là con đường thẳng, trái lại nó có thể phải trải qua những bước thăng trầm với những conđường vòng, thậm chí phải trải qua những bước khủng hoảng và thụt lùi tạm thời trên con đường pháttriển của nó Đó là biện chứng của quá trình phát triển xã hội

Trang 12

2 Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về đặc trưng và con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta hiện nay

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, nước ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước

và giải phóng dân tộc Chính trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đườngcứu nước Sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, Người tìm thấy cơ sở lý luận chắc chắn cho conđường cứu nước, giải phóng dân tộc Đó là con đường cách mạng vô sản Bác Hồ khẳng định: Chỉ cóchủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức: “Cách mạng giảiphóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàntoàn” “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vôsản” Tư tưởng đó đã được Đảng ta khẳng định, được cả dân tộc hưởng ứng và đi theo Đó là sự lựachọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam

Sự lựa chọn này dựa trên cơ sở:

Chỉ có chủ nghĩa xã hội – chủ nghĩa cộng sản mới triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc,giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnhphúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho người lao động Chủ nghĩa xã hội xóa bỏ triệt để chế độchiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, là nguồn gốc sinh ra tình trạng người bóc lộtngười, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, cơ sở kinh tế đảm bảo cho nhân dân laođộng thoát khỏi đói nghèo, hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng xã hội công bằng, dânchủ, văn minh, tạo điều kiện giải phóng và phát triển con người toàn diện Độc lập dân tộc là điều kiệntiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lậpdân tộc

Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi mở ra một thời đại mới, thời đạiquá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Tính tất yếu của thời đạimới đã tạo khả năng và điều kiện để các dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, đem lại những nhận thức mớitrong quan niệm và giải pháp giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc một cách triệt để

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định tính đúng đắn của sựlựa chọn đó

Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ do nhiều nguyên nhân Sự đổ vỡ

đó không có nghĩa là sự sụp đổ của học thuyết về chủ nghĩa xã hội, không phải là sự sụp đổ của phongtrào xã hội chủ nghĩa thế giới, bởi vì hiện nay một số nước xã hội chủ nghĩa vẫn đang tiếp tục đứngvững và phát triển Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Lịch sử thếgiới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xãhội vì đó là qui luật tiến hóa của lịch sử”

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, bên cạnh những thành tựu, chúng ta cũng còn

có khuyết điểm, yếu kém, những vấp váp sai lầm

Đảng ta đã sớm nhận thức ra những thiếu sót, khuyết điểm và tự nhận khuyết điểm trước nhân dân, đãsửa chữa và sửa chữa có kết quả, đem lại lòng tin của nhân dân với Đảng Đảng đã khởi xướng và lãnh đạocông cuộc đổi mới toàn diện vì chủ nghĩa xã hội, với quyết tâm và trí tuệ của toàn Đảng, sự tham gia tíchcực của nhân dân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng,khẳng định đường lối đổi mới là đúng đắn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định:

“Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thứctỉnh của các dân tộc có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hóa của lịch sử,loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”

Từ những tư tưởng lớn của Bác Hồ, trải qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi với trí tuệ của toànĐảng, toàn dân, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung pháttriển năm 2011) Đảng ta đã bổ sung 8 đặc trưng cơ bản, tốt đẹp của xã hội xã hội chủ nghĩa VN:

Ngày đăng: 25/03/2023, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w