21 MỞ ĐẦU Trải qua nhiều thập kỷ, bệnh sâu răng vẫn chiếm nguy cơ hàng đầu trong các bệnh lý răng miệng Sự phát hiện ra Fluor (năm 1813) đã tạo ra một bước tiến quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
Trải qua nhiều thập kỷ, bệnh sâu răng vẫn chiếm nguy cơ hàng đầu trong cácbệnh lý răng miệng Sự phát hiện ra Fluor (năm 1813) đã tạo ra một bước tiến quantrọng trong việc chăm sóc sức khỏe răng miệng cho cộng đồng Tuy nhiên các biệnpháp Fluor chỉ đạt hiệu quả chủ yếu trên mặt láng của răng, trong khi đó ở mặt nhai,
do cấu trúc giải phẫu gồm nhiều hố, rãnh dễ gây lắng đọng thức ăn và phát sinh sâurăng, tác dụng của Fluor lại rất thấp.(26)Mặt nhai mặc dù chỉ chiếm 12.5% trong tổngdiện tích các mặt răng nhưng tỉ lệ sâu răng mặt nhai chiếm trên 50% xoang sâu theomặt răng ở cả hệ răng sữa và răng vĩnh viễn, ở cả trẻ em và người lớn
Mặt khác, một số răng có hình dạng giải phẫu với mặt hố rãnh có rất nhiềutrũng rãnh phụ hoặc chiều sâu của các hố và rãnh lớn làm cho việc làm sạch vùng
hố rãnh này là vô cùng khó khăn, thậm chí những lông bàn chải cũng là quá to
để có thể len vào và làm sạch được.(2) các mảnh vụn thức ăn vì thế vẫn còn đọnglại, và đó chính là một trong những yếu tố gây ra bệnh sâu răng
Sealant trám bít hố rãnh là vật liệu đặt lên trên hố và rãnh của răng nhằm tạo
ra một lớp bảo vệ cơ học để ngăn ngừa sự phát triển của sâu răng Sealant đã đượcchứng minh sẽ ngăn cản sự tiếp xúc của vi khuẩn gây sâu răng với nguồn dinhdưỡng bên ngoài, từ đó tiết giảm được các hoạt động sinh acid có hại, đồng thờitránh gây lắng đọng thức ăn.(6) Ngày nay, sealant đã được xem như một biện phápphòng ngừa sâu răng lý tưởng, quan trọng, không xâm lấn và thường được sử dụngkết hợp với các biện pháp giáo dục nha khoa, hướng dẫn vệ sinh răng miệng, Fluorhóa và khám răng định kỳ trong chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng chocộng đồng nói chung và Nha học đường nói riêng
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, đã có rất nhiều báo cáo khoa học vềhiệu quả phòng ngừa cũng như lợi ích kinh tế về phương diện lâm sàng cũng nhưtrong phòng thí nghiệm của việc sử dụng sealant phòng ngừa sâu răng ở mặt hốrãnh Sealant trám bít hố rãnh cũng là một trong bốn nội dung chính của chươngtrình Nha học đường Việt Nam (9)Trong số các loại vật liệu trám bít hố rãnh hiện
Trang 2nay, hai loại vật liệu thường được sử dụng nhất là Nhựa composite và Glassinonomer cement.
Bộ môn Nha khoa công cộng Khoa Răng Hàm Mặt – Đại học Y dược Thànhphố Hồ Chí Minh từ trước đến nay đã được cung cấp và sử dụng hai loại vật liệutrám bít hố rãnh là Fuji VII (Glass ionomer cement) và Helioseal F (Fluoridereleasing resin based sealant) Việc so sánh hiệu quả sử dụng của hai loại vật liệutrên đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam Tuy nhiên riêng tại
Bộ môn lại chưa có dịp để so sánh hiệu quả thực sự về mặt lâm sàng và kinh tế củahai loại vật liệu này
Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để đánh giá sự lưu giữ, hiệu quảphòng ngừa sâu răng cũng như sự phù hợp tối ưu của Fuji VII và Helioseal F đốivới ba nhóm đối tượng có mức độ bệnh răng miệng khác nhau nhằm mục đích bướcđầu đưa ra một số ý niệm về việc chọn lựa loại sealant phù hợp trong từng trườnghợp để có thể tiết kiệm chi phí điều trị nhưng vẫn đạt được hiệu quả trong công tácNha học đường
CÁC MỤC TIÊU CHÍNH CỦA NGHIÊN CỨU:
MỤC TIÊU TỔNG QUÁT:
Đánh giá hiệu quả lâm sàng và kinh tế của miếng trám bít hố rãnh bằng FujiVII và Helioseal F ở các nhóm đối tượng có môi trường miệng khác nhau
MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT:
1 Xác định tỉ lệ sống còn của miếng trám bít hố rãnh bằng Fuji VII vàHelioseal-F sau 3; 6; 9; 12 tháng
2 Đánh giá tỉ lệ sâu răng mới (bao gồm sang thương sâu răng chưa tạo lỗ) ởcác răng có trám bít hố rãnh bằng Fuji VII và Helioseal F sau 3; 6; 9; 12tháng
3 Đánh giá thời gian làm việc của Fuji VII và Helioseal F
4 Đánh giá chi phí sử dụng của hai loại vật liệu
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ CỦA SEALANT NHA KHOA
Một trong những nghiên cứu đầu tiên khởi nguồn cho việc phát hiện ra sealantnha khoa được tiến hành vào năm 1905 bởi Willoughby D.Miller, ông đã đặt Bạcnitrate lên bề mặt của răng, để tạo ra sự tác động hóa học lên màng sinh học nhằmchống lại hoạt động của hai loại vi khuẩn Streptococcus mutans và Actinomycesnaeslundii – tác nhân gây ra bệnh sâu răng
Năm 1920, T.P Hyatt đã tiến hành trám bít hố rãnh bằng cách sửa soạn xoangloại I một cách tối thiểu trên những răng được đánh giá là có nguy cơ sâu răng cao,sau đó trám chúng lại bằng Amalgam.(12)
Năm 1929, C.F Bödecker đã nỗ lực phòng ngừa sâu răng mặt hố, rãnh bằngcách dùng thám trâm làm sạch các hố, rãnh, sau đó trám bít chúng lại với cementnha khoa (oxyphosphate cement).(13)
Tuy nhiên bất chấp những nỗ lực miệt mài của các nhà khoa học, các nghiêncứu trên vẫn chưa đạt được kết quả như mong đợi Mãi đến năm 1955, khi M.G.Buonocore phát minh ra kỹ thuật acid-etch, sealant mới bắt đầu đạt được nhữngthành tựu rực rỡ.(14)
Năm 1962, Bowen tìm ra Bis-GMA , một loại nhựa resin mà ngày nay làthành phần cơ bản của Nhựa composite sealant (resin-based sealant) (15) Bis-GMA
có khả năng kháng khuẩn tốt, đồng thời bám dính tốt với men răng qua vi ngàm nhờ
kỹ thuật acid-etch
Năm 1974, Glass ionomer cement được giới thiệu bởi J.W McLean and A.D.Wilson GIC bám dính hóa học vào bề mặt men, ngà sau khi bề mặt được rửa sạchbằng polyacrylic acid.(19)
Ngày nay, những loại vật liệu và kỹ thuật trám bít hố rãnh mới vẫn đang đượccác nhà khoa học tìm tòi và thử nghiệm nhằm đạt được sự tối ưu về hiệu quả phòngchống sâu răng cũng như sự tối thiểu về mặt giá thành trong cuộc chiến “ phòngngừa và kiểm soát sâu răng ở mặt hố rãnh” của cộng đồng
Trang 41.2 CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH KHI ĐẶT SEALANT
1.2.1 Chỉ định của trám bít hố rãnh bằng sealant
a Đối với răng không bị sâu:
Xét về hình dạng hố và rãnh: Nếu hố rãnh nông, dễ chải rửa sạch thì không
cần đặt sealant Ngược lại, nếu răng có hố rãnh sâu, nhiều trũng rãnh phụ thì nên đặtsealant
Xét về loại răng: đánh giá dựa vào sự nhạy cảm của răng đối với sâu răng
theo nguy cơ từ cao đến thấp như sau: Răng cối lớn 1 và 2 vĩnh viễn có nguy cơ sâurăng ở mặt hố rãnh cao nhất, kế đến là răng cối sữa, răng cối nhỏ vĩnh viễn và răngcửa hàm trên vĩnh viễn.Vì vậy khi chỉ định thực hiện trám bít hố rãnh bằng sealant,
ta cũng lần lượt thực hiện theo thứ tự ưu tiên theo từng loại răng như trên
Xét về tình trạng mọc răng: việc đặt sealant hiệu quả và dễ dàng hơn nếu
răng đã mọc hoàn tất, không bị mô nướu che phủ, cô lập dễ dàng
Xét về hoạt động sâu răng trong miệng – kiểu sâu răng: khi có sự xuất hiện
của một hoặc nhiều xoang sâu mỗi năm thì bề mặt hố rãnh ở các răng lành mạnhnên được đặt sealant dự phòng
b Đối với răng sâu:
Trong những trường hợp sâu men hoặc nghi ngờ sâu men, nên đặt sealant vì
có thể ngăn được diễn tiên của sâu răng.Trường hợp sâu răng ở mặt tiếp cận, nhưng
hố rãnh còn nguyên vẹn: Nếu miếng trám không ảnh hưởng mặt nhai nên đặtsealant ở mặt hố rãnh và trám bảo tồn mặt tiếp cận Ngược lại nếu miếng trám sẽliên quan đến mặt nhai thì nên tiến hành trám tái tạo
1.2.2 Chống chỉ định đặt sealant(4)(5)
Hố rãnh nông tự làm sạch được
Sâu ở các mặt khác của răng cần trám mà miếng trám sẽ liên quan đến mặt
hố rãnh
Răng mọc chưa hoàn chỉnh (<2/3 thân răng) và không thể cô lập được
Xuất hiện xoang sâu rõ ở mặt hố rãnh
Đã có miếng trám lớn ở mặt hố rãnh
Trang 51.3 PHÂN LOẠI SEALANT:
1.3.1 Theo phương pháp trùng hợp:
a Hóa trùng hợp :
Sealant thường gồm 2 phần: chất nền và chất đông cứng (catalyst) Khi trộnhai thành phần này với nhau, chúng sẽ trùng hợp bằng phản ứng hóa học Ví dụ:Fuji III, Fuji VII
b Quang trùng hợp :
Sealant không cần phải trộn Khi đặt sealant lên hố rãnh cần trám bít, sealant
sẽ đông cứng lại khi được chiếu đèn.Ví dụ: Delton, Helioseal
1.3.2 Theo thành phần của sealant:
1.3.2.1 Glass ionomer cement (GIC): (24)(25)
b Phản ứng đông cứng và sự liên kết hóa học với mô răng:
Phản ứng đông cứng của GIC là phản ứng hóa học giữa acid (poly acrylicacid) và bazơ (alumino-silicate glass), xảy ra khi trộn bột với chất lỏng, làm hòa tanphần ngoại vi của các hạt bột Silicate Glass, giải phóng Ca2+, Al3+, F-, hình thànhmột lớp mất ion kim loại trên hạt bột, các ion thủy tinh được phóng thích và dichuyển Ion Ca2+ trên mặt răng cũng bị phóng thích và chelate hóa với các ion củacement hình thành liên kết hóa học giữa cement và mô răng Nước đóng vai tròquan trọng trong phản ứng do tác động qua lại với polyacid để chặt đứt mối nốihydrogen bên trong của các nhóm carboxylic có tính acid và làm chúng sẵn sànghơn để tham gia phản ứng với glass, giải phóng nhiều ion Phản ứng acid-base giữaacid và hạt bột thành lập chuỗi calcium polyacrylate và kế đó là chuỗi aluminumpolyacrylate làm cho cement cứng lại
Trang 6c Tính chất lâm sàng :
Ưu điểm:
- GIC dính vào men ngà theo cơ chế hóa học, không cần tạo lưu: trao đổi iongiữa cement và mô răng GIC dán dính vào ngà không tạo vi kẽ và dính hiệuquả vào vùng mất khoáng
- Tương hợp sinh học tốt với mô tủy
- Không gây kích thích và viêm nướu
- Không bị hòa tan trong môi trường miệng
- Hệ số truyền nhiệt giống ngà
- Giải phóng Fluor giúp tăng sự tạo thành Fluoroapatite, tái khoáng bề mặtmen mất khoáng Nồng độ Fluor cao còn có thể ức chế tốt sự hình thànhmảng bám, sự tăng trưởng của S.Mutans và giúp men răng đề kháng tốt trongmôi trường acid
Nhược điểm:
- Độ cứng thấp, dễ mài mòn
- Lực bám dính thấp hơn dính cơ học, độ bền dán không cao
- Dễ bị mất nước sau khi đông cứng
- Dễ bị nứt gãy vùng gần đáy hố rãnh
1.3.2.2 Nhựa composite sealant: (15)
a Thành phần cấu tạo:
Khung nhựa: là thành phần nhựa cơ bản, hầu hết composite hiện dùng có
khung nhựa dựa trên nghiên cứu của R.Bowen (1962): tổng hợp Oligomet GMA
Bis-Oligomet Bis-GMA kết hợp 2 phân tử MMA (Methymethacrylate) và epoxy
Bis-GMA là một phân tử lai, có khả năng trùng hợp thông qua các nhómmethacrylate Nó là monomer của Bis-phenol A, Glycidyl Methacrylate (Bis-GMA)
Hạt độn: có vai trò thay thế bớt lượng nhựa khung để làm giảm các nhược
điểm của khung nhựa (tăng độ cứng, sức chịu nén, chống sự mài mòn, thẩm mỹ )
Trang 7Hạt độn quyết định những đặc trưng của composite: độ cứng, độ mịn, tính chịumài mòn, độ co trùng hợp, đặc tính quang học
Chất nối: thường là dẫn xuất của Silicium, là những phân tử lưỡng cực, một
cực liên kết với nhựa khung, một cực liên kết với nhóm hydroxyl trên bề mặt cáchạt silica của chất độn, tạo nên sự liên kết bề mặt giữa các phase và hạn chế nhượcđiểm trên Chất nối giúp dán hạt độn vào khung nhựa
b Tính chất lâm sàng:
Đây là loại vật liệu được dán dính vào men răng bằng cách sử dụng etching tạo ra các vi ngàm Do đó ở giai đoạn xoi mòn men răng, sau khi đã thổikhô bề mặt men phải đảm bảo không cho nước bọt thâm nhiễm lên vùng răng đã xoimòn, nếu có phải tiến hành xoi mòn lại Vì vậy loại vật liệu này được chỉ định dùngtrên răng đã mọc lên hết và có khả năng cách ly được
acid- Ưu điểm:
- Độ nhớt thấp giúp sealant chảy dễ dàng vào đáy những hố rãnh nhỏ và sâu,làm giảm vi kẽ
- Có đặc điểm lý học tốt (độ bền nén, bền kéo, bền mài mòn )
- Bền vững hóa học trong môi trường miệng
- Dễ sử dụng
- Không mùi vị
Nhược điểm:
- Nhạy cảm với hơi ẩm
- Co khi trùng hợp nên dễ bị hở bờ miếng trám và gây sâu răng tái phát
- Dễ bị mài mòn: composite trên bề mặt có độ kháng mòn rất thấp
- Tính xốp và hấp thu nước sau khi cứng
- Composite bị tróc vảy do các nứt rạn
- Nhạy cảm sau trám
Trang 81.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ GLASS IONOMER CEMENT VÀ RESIN-BASED SEALANT:
1.4.1 Một số nghiên cứu trên Thế giới:
Trong nghiên cứu tiến hành vào năm 2007, W.Dukic và D.Glavina đã ghinhận được tỉ lệ miếng trám bít hố rãnh bằng Helioseal còn nguyên vẹn sau 24 thángtheo dõi chiếm 66.7% và tỉ lệ sâu răng là 6.1% trên tổng số răng được đặt sealant.Vào năm 2009, S Bargale đã tiến hành nghiên cứu đánh giá độ lưu giữ củaGlass ionomer cement và Nhựa composite sealant Nghiên cứu được thực hiện trên
80 RCLVV 1 hàm dưới, theo dõi trong 1 năm Ông chia làm 2 nhóm đều nhau, mỗinhóm 40 răng Nhóm 1 sẽ được đặt sealant Fuji III và nhóm 2 sẽ được đặt Helioseal
F sealant Sau 1 năm kết quả nghiên cứu cho thấy độ lưu giữ của miếng trám bítbằng Helioseal F tốt hơn Fuji III
Nupur Ninawe (2012) đã so sánh độ lưu giữ, hình dạng và bề mặt miếng trámbít ở RCLVV 1 được trám bít bằng Helioseal F và Fuji VII Nghiên cứu được thựchiện trên 30 em (6-10 tuổi) và theo dõi trong 1 năm Kết quả cho thấy miếng trámbít bằng Helioseal F có độ lưu giữ và hình dạng, bề mặt miếng trám bít tốt hơnmiếng trám bít bằng Fuji VII
Cũng trong năm 2012, T.Ulusu đã thực hiện nghiên cứu trên 173 trẻ đa sâu
răng trong độ tuổi từ 7-15 tuổi nhằm so sánh độ lưu giữ và tác dụng phòng chốngsâu răng của miếng trám bít bằng Fuji VII và Helioseal F Sau 2 năm kết quả nhưsau: Miếng trám bít bằng Helioseal F có độ lưu giữ tốt hơn Fuji VII rõ rệt Tỉ lệ %miếng sealant bong toàn bộ ở các răng được TBHR bằng Fuji VII và Helioseal F lầnlượt là 31.9%, 16.6% Tỉ lệ răng sâu ở các răng được đặt sealant Fuji VII là 3.4%<4.8% ở các răng được đặt sealant Helioseal F Kết luận được đưa ra là Helioseal Fsealant có độ lưu giữ tốt hơn Fuji VII rõ rệt và khả năng phòng ngừa sâu răng củahai loại vật liệu trên không khác nhau có ý nghĩa trên lâm sàng
Karlzen-Reuterving tiến hành nghiên cứu ở 47 trẻ em trong độ tuổi từ 6-7 tuổiđược trám bít hố rãnh với resin- based sealant và glass ionomer cement sealant trêncác RCLVV1 và theo dõi trong 3 năm, kết quả ghi nhận mức độ lưu giữ của resin
Trang 9sealant chiếm 79.2% cao hơn rõ rệt so với glass ionomer cement chỉ chiếm 27.8%.
Tỉ lệ răng sâu được ghi nhận ở nhóm trám bít hố rãnh bằng resin sealant la 4.2%,trong khi đó tỉ lệ này ở nhóm GIC sealant chỉ chiếm 1.4%
Trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng kéo dài 2 năm trên 166 học sinh từ
5-14 tuổi của Fross H nhằm so sánh độ lưu giữ và hiệu quả phòng ngừa sâu răng củaglass ionomer và resin-based sealant đã ghi nhận tỉ lệ lưu giữ sealant ở glassionomer là 26% và resin-based sealant là 82% Tuy nhiên, chưa quan sát thấy sựkhác biệt về khả năng dự phòng sâu răng giữa hai nhóm
Trong nghiên cứu tiến hành bởi Mejare và Mjör, nhận thấy 61% glass ionomersealant bị bong trong khoảng 6-12 tháng và tỉ lệ này là 84% sau 30-36 tháng Nhómresin-based sealant cho thấy độ lưu giữ tốt, chiếm 90% sau 4.5-5 năm Tuy nhiên, tỉ
lệ sâu răng chiếm 5% ở nhóm resin-based, trong khi đó không có răng nào ở nhómglass ionomer bị sâu
1.4.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam:
Võ Trương Như Ngọc và cộng sự của Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt đã tiếnhành nghiên cứu hiệu quả của việc trám bít hố rãnh bằng Nhựa composite sealant ởrăng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất Nghiên cứu được thực hiện trên 126 RCLVV 1 ở 36trẻ em trong độ tuổi 6-8 tuổi và theo dõi trong 6 tháng Kết quả cho thấy tỉ lệ lưugiữ miếng trám bít cao, sau 3 tháng là 96,5%, sau 6 tháng tỉ lệ miếng trám bít cònnguyên là 94,4% Tỉ lệ sâu răng của nhóm được trám bít bằng nhựa compositesealant sau 3 tháng, 6 tháng theo dõi đều bằng 0% dù miếng trám bít còn nguyên,bong một phần hay bong toàn bộ
Nguyễn Văn Ngọc đã tiến hành đặt sealant Fuji VII trên RCLVV 1 hàm dướicho 577 học sinh lớp 1 và theo dõi trong 9 tháng nhằm đánh giá hiệu quả trám bít
hố rãnh dự phòng sâu răng của Fuji VII Tỉ lệ tồn tại của miếng trám bít hố rãnh sau
3 tháng là 95,55%; sau 6 tháng là 94,33% và sau 9 tháng là 91,09% Sau 3 tháng, tỉ
lệ răng sâu ở nhóm được trám bít là 0,8% và nhóm không được trám bít là 5,96%.Sau 6 tháng, tỉ lệ răng sâu ở nhóm được đặt sealant và không được đặt sealant lần
Trang 10lượt là 1,62% và 8,77% Sau 9 tháng, nhóm được trám bít có tỉ lệ răng sâu là 2,83%
và ở nhóm không được trám bít là 11,23%
Lê Đình Giáp và cộng sự (2000) đánh giá tỉ lệ lưu giữ của miếng trám bít hốrãnh sau 1, 2, 3, 4 năm thì thấy tỉ lệ thành công lần lượt là: 63.5%; 53.3%; 47.7% và39.3% Về tình trạng sâu răng sau 4 năm trên các răng được trám bít hố rãnh là 6% răng
bị sâu (33)
Phùng Thị Thanh Lý và cộng sự tiến hành trám bít hố, rãnh bằng Fuji III chohọc sinh 6 tuổi và theo dõi trong 12 tháng cho biết ti lệ sâu răng của nhóm được đặtselant là 0% , trong khi đó tỉ lệ sâu răng của nhóm đối chứng là 3%
Vũ Thị Kiều Diễm sử dụng hai vật liệu là resin base sealant (Delton) và glassionomer sealant (Fuji IX) để trám bít hố rãnh và so sánh kết quả giữa hai vật liệunày, cho thấy tỉ lệ bám dính của resin base sealant là 93.2% cao hơn GIC là 81.8%nhưng tỉ lệ răng không sâu của sealant Delton la 92.3% thấp hơn GIC la 95.19%.Trần Ngọc Thành (2007) [48] tiến hành trám bít hố rãnh bằng GIC sealant(Fuji IX) trên 1369 học sinh trong độ tuổi từ 6-12 tuổi và theo dõi sau 24 tháng, ghinhận được tỉ lệ răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất và thứ hai còn nguyên miếng trámbít hố rãnh và bong một phần không cần trám lại chiếm 90% Sau 24 tháng có 6.1%
số răng sâu ở nhóm được đặt sealant và ở nhóm đối chứng tỉ lệ này lên đến 22.8%
Trang 11CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng
2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: Trường tiểu học Huỳnh Kiến Hoa, Quận 5, TP HCM 2.2.2 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh trong độ tuổi từ 6-9 tuổi (khối 1 – khối 3)
đang theo học tại trường
Gia đình không đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu
Trẻ không hợp tác, có bệnh toàn thân
Có tiền sử dị ứng nặng với các vật liệu trám
Thiểu sản răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất
Răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất bị sâu, đã trám hoặc đã được đặt sealant, cácrăng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và hàm dưới chưa mọc đầy đủ hoàntoàn và bị mô nướu che phủ
Trang 122.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.3.1 Người thực hiện:
Cán bộ giảng bộ môn Nha khoa công cộng và sinh viên RHM2010 đã đượctập huấn trước về phương pháp thực hiện việc trám bít hố rãnh với cả hai loại vậtliệu này
2.3.2 Các bước tiến hành:
- Khám và lập hồ sơ nha bạ cho học sinh
- Chọn 90 học sinh trong độ tuổi từ 6-9 tuổi thỏa mãn các tiêu chí trên vàchia làm 3 nhóm, mỗi nhóm 30 học sinh:
o Nhóm 1: Học sinh có răng tốt hoàn toàn SMT=0 (không có răng sâu,mất, trám ở cả hệ răng sữa và hệ răng vĩnh viễn)
o Nhóm 2: Học sinh có SMT-R từ 1-3 ở cả hệ răng sữa và răng vĩnhviễn
o Nhóm 3: Học sinh có SMT-R >3 ở cả hệ răng sữa và răng vĩnh viễn
- Mỗi học sinh sẽ được tiến hành đặt sealant trên hai răng cối lớn vĩnh viễnthứ nhất đối xứng nhau:
o Một răng được sealant với vật liệu Fuji VII
o Răng đối diện được sealant với vật liệu Helioseal F
Fuji VII và Helioseal F là hai vật liệu trám bít hố rãnh đang được sử dụngtại bộ môn Nha khoa công cộng
Trang 13Hình 2.1 Bộ sản phẩm GIC Fuji VII (GC Corporation, Tokyo, Japan).
Đặc tính của Fuji VII:
Bám dính hóa học với men và ngà
Bám dính tốt với mô răng, ngay cả trường hợp không kiểm soát tốt nước bọtnên có thể sử dụng tốt cho trẻ em, răng đang mọc
Tương hợp sinh học tốt với mô răng nên ít gây kích thích tủy
Độ chảy cao nên thích hợp để trám bít hố rãnh
Phóng thích Fluor liều cao gấp 6 lần so với các loại Glass ionomer cement khác
Kỹ thuật sử dụng đơn giản
Tính chất vật lý:
Thời gian đông cứng toàn bộ 4 phút
Lực dính sau một ngày với men răng là 7 Mpa, với ngà răng là 6 Mpa
Giải phóng lượng Fluor sau một ngày là 197 µg/cm²
Helioseal F (Dạng con nhộng Vivoclar Vivadent): bộ vật liệu gồm:
Trang 14 Tính chất khít sát giữa miếng trám bít Helioseal F và bề mặt răng giúp giảm vi
kẽ và tăng độ lưu giữ của miếng trám bít
Tính chất vật lý:
Độ bền uốn: 88Mpa
Module đàn hồi: 3200Mpa
Khả năng phóng thích Fluor là: 7ng/cm2 trong 1 ngày Nồng độ Fluor đượcphóng thích cao nhất trong 24h đầu tiên, sau đó giảm dần và diễn ra trong suốtmột khoảng thời gian dài
2.3.4 Quy trình thực hiện việc trám bít hố rãnh: (4) (5)
Trang 15- Cho bệnh nhân lên ghế, dùng chổi đánh bóng răng cần trám bít để loại bỏ tất cảcác mảng bám lắng đọng trên bề mặt hố rãnh
- Rửa sạch bề mặt răng với tia nước để loại bỏ hoàn toàn mảng bám
- Cho bệnh nhân súc miệng thật kỹ
- Cô lập răng cần trám bít (răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất)
- Sau đó, tiến hành trám bít hố rãnh theo kĩ thuật riêng của từng loại vật liệu:
2.3.4.1 Kỹ thuật trám bít hố rãnh bằng Fuji VII (GC Corporation, Tokyo, Japan):
- Thổi hơi làm khô bề mặt răng.
- Bôi GC Dentin Conditioner lên vị trí cần trám bít hố rãnh trong vòng 20s.
- Rửa sạch lại bằng nước, lau sạch bề mặt răng bằng viên gòn nhỏ hay thổi hơinhẹ
Chú ý không được thổi hơi quá khô, miếng trám bít chỉ được lưu giữ tốt khi bềmặt răng hơi ẩm
- Trộn vật liệu : Cho 1 muỗng bột và 1 giọt nước (theo chỉ dẫn của nhà sản xuất)lên giấy trộn Chia muỗng bột làm 2 phần bằng nhau trên giấy trộn Trộn nướcvới một phần bột đã chia, dùng bay trộn xoay tròn nhẹ, không miết quá mạnhtrong 10s Khi đã trộn đều, đưa phần bột còn lại vào trộn tiếp trong khoảng 10-15s
- Đặt vật liệu lên mặt nhai của răng và dùng thám trâm trải đều Fuji Vvào các hốrãnh
- Chờ sealant đông cứng Xác định mức độ đông cứng dựa trên vật liệu còn lại ởbay trộn
- Bôi varnish lên bề mặt miếng sealant để ngăn cản sự mất nước của miếng trám
- Cho bệnh nhân súc miệng
- Kiểm tra khớp cắn và mài chỉnh
2.3.4.2 Kỹ thuật trám bít hố rãnh bằng Helioseal F (Ivoclar Vivadent):
Trang 16- Xoi mòn bề mặt men răng bằng acid phosphoric 37% trong 30s.
- Rửa sạch thật kỹ bề mặt men bằng nước sạch trong 15s-30s Trong khi rửa cốgắng giữ cho răng không bị dính nước bọt
- Cô lập răng cẩn thận, thổi khô răng lại cho đến khi thấy răng trắng ra do kết quảcủa việc etching
- Dùng súng bơm Helioseal-F lên hố và rãnh của răng đã được xoi mòn
- Chờ 15s, sau đó chiếu đèn 20s cho vật liệu trùng hợp hoàn toàn
- Kiểm tra lại khớp cắn và mài chỉnh
Chú ý: Nên để sealant đi từ sườn múi này qua múi kia nhưng không đi qua đỉnh múi Bề rộng quanh rãnh của sealant khoảng 1-2 mm và thông thường sealant len
vào rãnh khoảng 1-1.5 mm là đủ
Tái khám định kỳ: Theo dõi sự lưu giữ của sealant và tình trạng sâu răng ở răng
cối lớn vĩnh viễn thứ nhất đã được đặt sealants sau 3; 6; 9; 12 tháng ở ba nhóm đốitượng
2.4 THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ
2.4.1 Người đánh giá:
Là người không thực hiện việc trám bít hố rãnh (Cán bộ giảng khác của bộmôn Nha khoa công cộng)
2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá:
Đánh giá theo hệ thống ICDAS II - 2008 (International Caries Detection and
Assessment System)
2.4.2.1 Ghi nhận tình trạng miếng sealant/miếng trám:
0: Không có miếng trám hay sealant
Trang 177: Miếng trám bị sút hay bị mẻ
8: Miếng trám tạm
9: Bề mặt răng không khám được, răng mất do sâu, răng mất vì lý do khác.
2.4.2.2 Ghi nhận tình trạng sâu răng liên quan với sealant:
0: Bề mặt men răng có miếng sealant lành mạnh.
1: Sang thương màu nâu/trắng đục xuất hiện trên bề mặt răng sau thổi khô
5s
2: Bờ miếng sealant nằm trên men răng và men răng có màu trắng đục do
mất khoáng/đổi màu (ngay cả khi bề mặt răng ướt) nhưng bề mặt răng cònnguyên vẹn, hoặc bờ miếng selant nằm trên ngà răng và ngà răng haycement còn nguyên vẹn
3: Mã số 2 + mất chất ở bờ miếng sealant do sâu không quá 0.5mm.
4: Bóng mờ trong ngà răng thấy được từ men răng/ngà răng/cement
lân cận miếng sealant
5: Có lỗ sâu lân cận miếng sealant trên 0.5mm hoặc mất liên tục ở bờ miếng
sealant + lộ ngà (phát hiện bằng sone thăm dò đầu tròn 0.5mm)
6: Lỗ sâu lớn, phá vỡ cấu trúc răng, lộ ngà nhìn thấy rõ trên lâm sàng.
2.4.3 Thời gian theo dõi và đánh giá:
Các miếng trám bít hố rãnh được theo dõi, đánh giá theo các tiêu chuẩn trên:
- Sau 3 tháng
- Sau 6 tháng
- Sau 9 tháng
- Sau 12 tháng
2.5 KIỂM SOÁT SAI LỆCH THÔNG TIN:
Để đảm bảo tính khách quan, người đánh giá là người không thực hiện việctrám bít hố rãnh (một Cán bộ giảng khác của bộ môn Nha khoa công cộng.)