Trên thực tế dạy học Tiếng Việt và đánh giá học sinh theo thông tư 22/2016/TT- BGDĐT, giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức hoạt động luyện nói trong giờ học Tiếng Việt cho
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO … TRƯỜNG TIỂU HỌC ………
- ² -
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2
TRONG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
(Bộ sách Cánh diều)
Lĩnh vực: …
Họ và tên tác giả: ….
Đơn vị: ….
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 20….- 20…
Trang 2MỤC LỤC
1 PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1.Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
2 NỘI DUNG 3
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2 Thực trạng 4
2.2.1 Về giáo viên 4
2.2.2 Về học sinh 4
2.3 Các biện pháp thực hiện 6
Biện pháp 1: Phân nhóm học sinh 6
Biện pháp 2: Giúp học sinh luyện nói thông qua hệ thống bài tập 7
Biện pháp 3: Đảm bảo về điều kiện, cơ sở vật chất và sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội 18
2.4 Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 19
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 20
3.1 Kết luận 20
3.2 Kiến nghị 21
Trang 31 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
Giáo dục tiểu học là nền tảng của giáo dục phổ thông Thành quả giáo dục tiểu học có tác dụng cơ bản lâu dài, có tính quyết định đối với cuộc đời mỗi người Những đức tính trung thực, công bằng, cẩn thận, lễ phép, hiếu thảo và những kĩ năng cơ bản nghe, nói, đọc viết, tính toán nếu không được hình thành vững chắc
ở tiểu học thì sẽ khó có cơ hội hình thành và phát triển ở những cấp học cao hơn
Để đạt được những mục tiêu trên, môn Tiếng Việt đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phẩm chất của con người Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh tri thức về ngôn ngữ học, trang bị cho học sinh công cụ để học tập tất cả các môn học khác trong nhà trường Trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học các phân môn được thiết kế có một mối quan hệ mật thiết, bổ trợ nhau nhằm từng bước giúp các em làm chủ được công cụ ngôn ngữ để học tập, để giao tiếp một cách đúng đắn, mạch lạc, tự nhiên trong các môi trường xã hội thuộc phạm
vi hoạt động lứa tuổi
Không biết từ bao giờ, trải qua hàng ngàn năm tiến hóa của loài người, ngôn ngữ - tiếng nói từ tác dụng sơ khai là trao đổi thông tin đã đóng vai trò biểu hiện tình cảm, trạng thái tâm lí và là một yếu tố quan trọng biểu lộ văn hóa, tính cách con người Việc giáo dục lời nói trong giao tiếp từ xưa đã được ông cha ta rất coi trọng:
“ Học ăn, học nói, học gói, học mở”
“ Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Để đánh giá một con người, chúng ta cần phải có sự thử thách qua giao tiếp hàng ngày với họ: “ Chim khôn thử tiếng, người ngoan thử lời” Mặt khác việc giao tiếp, ứng xử khéo léo cũng giúp chúng ta thành công về nhiều lĩnh vực Với trẻ em, lứa tuổi đang hình thành nhân cách, ngay từ khi các em còn rất nhỏ, chúng
ta đã rất chú trọng Ngành giáo dục đào tạo nói chung và ngành giáo dục tiểu học nói riêng đã được xã hội trao cho trọng trách đáng tự hào là giáo dục trẻ em ngay
Trang 4từ những ngày đầu bước chân tới trường Từ bao đời nay, việc giáo dục ở nhà
trường đã áp dụng phương châm: “Tiên học lễ, hậu học văn” Dạy Tiếng Việt
không có nghĩa là chỉ dạy các em kĩ năng đọc, viết, nghe mà dạy các em biết sử dụng những lời nói biểu cảm trong giao tiếp là một mảng vô cùng quan trọng Chính vì vậy ngay từ đầu năm học ………tôi được phân công giảng dạy lớp 2B Sau khi nhận lớp và tổ chức dạy học cho học sinh tôi nhận thấy: Việc tổ chức luyện nói cho học sinh trong học Tiếng Việt còn gặp nhiều khó khăn và kết quả học tập chưa cao Giáo viên thường đưa ra, giáo viên gợi ý, đa phần học sinh nhắc lại các câu mẫu của giáo viên chỉ có một số rất ít nói được theo cách riêng của mình
Trên thực tế dạy học Tiếng Việt và đánh giá học sinh theo thông tư 22/2016/TT- BGDĐT, giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức hoạt động luyện nói trong giờ học Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Các em chưa mạnh dạn, tự tin khi nói hoặc chưa thể diễn đạt được nội dung cần nói (do vốn kĩ năng ngôn ngữ còn ít) Vì vậy, để nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt, phát huy quan điểm dạy học Tiếng Việt hướng vào hoạt động giao tiếp cần phải có những biện pháp cụ thể để tổ chức hoạt động luyện nói cho học sinh ngay trong giờ học Tiếng Việt Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Nâng cao kỹ năng nói cho học sinh lớp
2 trong phân môn tập đọc (Bộ sách Cánh diều)” để trao đổi với các bạn đồng nghiệp giúp cho công tác giảng dạy trong nhà trường ngày một tốt hơn
1.2 Mục đích nghiên cứu
Trước hết, bản thân tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp trẻ mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tiếp đó là rèn cho học sinh những kĩ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảm trong giao tiếp, cũng như sự bày tỏ quan điểm nhận thức của bản thân Trước những vấn đề mà các em phải tự bộc lộ qua những lời nói, lời phát biểu, trả lời các câu hỏi theo nội dung bài học, khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh ở trường, ở lớp
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 2 trong môn Tiếng Việt
Trang 51.4 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết:
Sử dụng phương pháp này khi nghiên cứu các tài liệu nói về vấn đề dạy học Tiếng Việt, nghiên cứu các bài viết, công trình nghiên cứu trên tập san, tạp chí, có liên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc điều tra thực trạng
2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin bằng các câu
hỏi phỏng vấn:
- Giáo viên trực tiếp giảng dạy khối 2
- Học sinh khối 2
3 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu:
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam Bởi thế, dạy Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và trong đời sống của mỗi con người Mục tiêu của chương trình Tiếng Việt tiểu học ngoài việc cung cấp kiến thức Tiếng Việt và thái độ, tình yêu Tiếng Việt còn phải giúp học sinh giao tiếp tốt trong môi trường hoạt động lứa tuổi Vì thế việc sử dụng từ ngữ đúng, nắm rõ vào hoạt động giao tiếp qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt
Ngày xưa, ông bà ta rất coi trọng việc giao tiếp, ngôn ngữ, lời nói là trao đổi thông tin, đóng vai trò biểu hiện tình cảm, qua lời nói thể hiện văn hoá, tính nết của con người Do vậy cần phải giáo dục, rèn luyện lời nói của các em ngay
từ nhỏ, từ các lớp đầu cấp Tiểu học để sau này các em có thói quen cư xử đúng mực, lịch sự trong khi giao tiếp Ông cha ta thường răn dạy con cháu qua các câu
ca dao, tục ngữ như: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”; “ Lời nói không mất
tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Hay câu: “ Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe” Ngoài ra, việc giao tiếp ứng
xử khéo léo cũng giúp ta thành công trong nhiều lĩnh vực và trong công việc
Trang 62.3 Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1: Phân nhóm học sinh
Ở biện pháp này tôi sử dụng phương pháp quan sát, thu thập thông tin, tôi
đã xử lí những thông tin ấy bằng cách phân tích, tổng hợp với những biện pháp thực hiện sau:
Tôi tiến hành phân chia học sinh theo các nhóm:
Nhóm 1: Nhóm học sinh có lời nói lưu loát, mạch lạc, khi giao tiếp biết thể hiện
lời nói biểu cảm, lịch sự Những học sinh này tôi phân làm nhóm trưởng của các nhóm trong lớp, những nhân vật nòng cốt trong các tiểu phẩm của các tiết Tiếng Việt mà học sinh rèn luyện kĩ năng nói trên lớp Những em này là người dẫn chương trình trong các giờ luyện nói
Nhóm 2: Nhóm học sinh có lời nói tương đối rõ ràng, trôi chảy, lịch sự nhưng
chưa thể hiện được lời nói tình cảm trong giao tiếp
Nhóm 3: Nhóm học sinh nhút nhát, ngại giao tiếp, khả năng giao tiếp còn lúng
túng, ít khi sử dụng lời nói lịch sự, tình cảm trong giao tiếp, nói năng cộc lốc, chưa diễn đạt trọn ý, trọn câu
Ví dụ: Trong tiết kể chuyện: Một ngày hoài phí (Tiếng Việt, tập 1 - Trang 17,
18)
Trang 7Bài tập đọc Một ngày hoài phí, tiếng việt lớp 2, tập 1, trang 17, 18
- Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh:
+ Phân vai theo từng nhân vật
- Người dẫn chuyện: Chọn học sinh nhóm 1
- Các nhân vật: mẹ và con trai chọn học sinh ở nhóm 2 hoặc nhóm 3
- Giáo viên gọi từng nhóm lên thực hiện nhiệm vụ của mình
Biện pháp 2: Giúp học sinh luyện nói thông qua hệ thống bài tập
Với biện pháp này, học sinh thường xuyên được thực hành luyện tập “nói”
trong tất cả các tiết học Tiếng Việt Chính vì vậy khả năng giao tiếp của các em
ngày càng được hoàn thiện Việc “nói” sao cho trôi chảy, mạch lạc, lời văn thể
hiện biểu cảm rõ ràng, từ đó giáo viên đánh giá một cách chính xác khả năng học
tập của học sinh Chính vì vậy tôi đã xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng nói
cho học sinh dựa trên hệ thống nguyên tắc
Khi xây dựng hệ thống bài tập cần phải đảm bảo tính hệ thống Bài tập được xây dựng theo hướng chú ý khai thác phát huy vốn ngôn ngữ và kinh nghiệm giao tiếp đã có của học sinh Nội dung bài tập được xây dựng thể hiện yêu cầu đổi mới
về phương pháp dạy học, tức là hệ thống bài tập được xây dựng và sử dụng dựa trên lí luận dạy học hiện đại - dạy học hướng vào hoạt động của người học
Để tham gia vào hoạt động giao tiếp tốt thì học sinh cần phải nghe, nói tốt Trong giao tiếp cần rèn luyện kĩ năng nói phát âm chuẩn, nói trong các tình huống giao tiếp cụ thể, nói dựa theo câu hỏi định hướng hoặc trả lời câu hỏi, nói theo nội dung bài học
Trang 8Trường hợp 1: Loại bài tập luyện phát âm theo chuẩn
Ở phần này, giáo viên chú ý đối tượng học sinh phát âm chưa chuẩn các từ tiếng khó cần rèn đọc trong phần luyện đọc ở tiết 1 Lập danh sách những học sinh phát âm chưa chuẩn để rèn cho các em trước hết phải phát âm đúng, chính xác, từ đó các em mới bình tĩnh, tự tin phát biểu hay đưa ra những ý kiến riêng của bản thân, lời nói trong giờ luyện nói mới có thể tự nhiên, trong sáng
Cụ thể tôi lựa chọn các loại âm, vần địa phương thường phát âm sai chuẩn trong từng bài tập đọc để học sinh luyện phát âm thật đúng và chính xác Điều quan trọng ở đây chính là bản thân giáo viên phải là người phát âm chuẩn và chính xác Đa số học sinh trong lớp 2B do tôi làm chủ nhiệm các em thường phát
âm sai ch/ tr, x/s, r/d, các nguyên âm đôi, phát âm sai thanh hỏi, thanh ngã Do đó trong phần yêu cầu luyện đọc từ khó ở tất cả các bài tập đọc tôi luôn quan tâm lựa chọn những từ ngữ có âm đầu ch/tr, x/s, r/ d, các nguyên âm đôi và từ ngữ có chứa thanh hỏi, thanh ngã để học sinh luyện đọc nhiều Bên cạnh đó, tùy theo nội dung của bài học giáo viên đưa ra những trò chơi giúp hoạt động vừa học vừa vui chơi thoải mái
Ví dụ: Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi Thi đọc nhanh và đúng câu có
âm đầu, vần, thanh dễ lẫn Giáo viên tự nghĩ ra hoặc sưu tầm một số câu thơ, câu văn có những âm đầu, vần, thanh dễ đọc, viết lẫn lộn (do cách phát âm của địa phương) rồi ghi vào mảnh giấy “ làm đề bài” thi đọc trong nhóm Lần lượt từng học sinh lên bốc thăm và đứng lên đọc to bài trước lớp, cả lớp nghe và đại diện một số học sinh đánh giá kết quả đọc của bạn theo tiêu chuẩn: đọc nhanh, phát
âm đúng Giáo viên nhận xét, tuyên dương bạn đọc tốt
Ví dụ minh họa:
1 Đọc phân biệt các âm đầu dễ lẫn:
a Phân biệt ch/ tr
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Trang 9b Em hứa mang cho bạn mượn quyển sách Khi gặp bạn, em sẽ chào và nói gì với bạn:
- Nếu em có mang quyển sách đó cho bạn mượn?
- Nếu em quên mang quyển sách đó cho bạn mượn?
Trường hợp 3: Loại bài tập rèn kĩ năng hội thoại
Đối với dạng bài tập này tôi lựa chọn các đề bài phù hợp, xây dựng các
tình huống giao tiếp để kích thích hứng thú tham gia hoạt động của học sinh Khi
sử dụng loại bài tập này tôi thường tổ chức lớp học theo nhiều hình thức: cả lớp, nhóm, cá nhân
Ví dụ: Thảo luận ý nghĩa của câu chuyện: “Chiếc rễ đa tròn” (Tiếng việt
lớp 2, tập 2, trang 33,34,35)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ câu chuyện sau đó thảo luận nhóm đôi theo nội dung câu hỏi mà giáo viên đưa ra
- HS1:Khi thấy chiếc rễ đa nằm trên mặt đất, Bác Hồ đã nói gì với chú cần vụ?
Trang 10- HS2: Bác đã nói với chú cần vụ: “Chú cuốn rễ này lại, rồi trồng cho nó mọc tiếp nhé!” khi thấy chiếc rễ đa
- HS1: Vì sao Bác Hồ phải hướng dẫn chú cần vụ trồng lại chiếc rễ đa?
- HS2: Vì chú cần vụ chỉ định vùi chiếc rễ đa xuống đất Bác hướng dẫn chú trồng lại để có một cây đa mọc vòng tròn, sau này làm chỗ chơi cho thiếu nhi
- HS1: Về sau, chiếc rễ đa ấy trở thành một cây đa như thế nào?
- HS2: Về sau chiếc rễ đa trở thành một cây đa có vòng lá tròn
Ví dụ: Bài tập 2, Luyện từ và câu
Đối với bài tập này tôi hướng dẫn học sinh thảo luận theo nhóm đôi theo hình thức một học sinh hỏi, một học sinh trả lời câu hỏi
- HS1: Bạn của bé ở nhà là ai?
- HS2: Bạn của Bé ở nhà là Cún Bông
- HS1:Vì sao bác sĩ nghĩ rằng Bé mau lành là nhờ Cún Bông?
-HS2:Vì Cún đã bên cạnh đồng hành và giúp Bé vui vẻ hơn
-HS1: Em làm thẻ mượn sách ở đâu?
-HS2: Em làm thẻ mượn sách ở thư viện
Sau khi học sinh thảo luận, đại diện các nhóm lên trình bày trước lớp theo hình thức hội thoại như trên
Trường hợp 4: Loại bài tập kể chuyện kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc, kể về bản thân và những người xung quanh
Kể chuyện là một biện pháp được sử dụng nhiều để rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ Đặc biệt là ở lớp 2, nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Thông qua kể chuyện, các em được luyện tập cả về ngữ điệu nói, thể hiện thái độ giao tiếp cụ thể Vì vậy, bài tập kể chuyện là một biện pháp tổ chức hoạt động giao tiếp cho học sinh lớp 2 trong giờ học Tiếng Việt
Đối với loại bài tập này tôi thường gọi 1 học sinh học tốt kể chuyện cho cả lớp nghe, hướng dẫn và tập cho học sinh kể từng đoạn, kể theo vai nhân vật, kể toàn bộ câu chuyện Học sinh tập kể các chi tiết chính, kể thay lời nhân vật… kết
Trang 11hợp thể hiện thái độ tư thế, có giọng kể thích hợp, biết sử dụng yếu tố phi ngôn
ngữ hỗ trợ, đặc biệt nắm vững câu chuyện định kể
Ở phân môn Tập đọc-kể chuyện, ngoài việc rèn cho học sinh có kĩ năng
đọc, kể tốt, còn rèn cho học sinh kĩ năng nói
Qua các bài Tập đọc - kể chuyện chúng ta thấy ở tiết 1 giáo viên rèn kĩ
năng đọc cho học sinh Đến tiết 2 giáo viên cho học sinh kể chuyện theo một số
câu hỏi gợi ý Học sinh kể theo cách hiểu của mình đó chính là biện pháp luyện
nói cho học sinh
Ví dụ 1: Ở bài đọc đến trường (Tiếng Việt 2, Tập 1, Trang 83)
Bài đọc Đến trường, tiếng việt lớp 2, tập 1, trang
Tôi phân lớp thành các nhóm hướng dẫn các em phân vai theo các nhân vật
trong chuyện để dựng lại toàn bộ câu chuyện Học sinh nhận vai, học thuộc lời
thoại, nắm vững yêu cầu thể hiện tình cảm, thái độ (qua ánh mắt, cử chỉ, động
tác, giọng nói ) của nhân vật trong chuyện Tôi tiếp tục hướng dẫn các nhân vật
tập đối thoại sao cho thuộc lời, phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng, tự nhiên
(chưa cần diễn xuất cụ thể) Sau đấy hướng dẫn cho các nhân vật cách diễn xuất
Gọi các nhóm lên trình diễn trước lớp, học sinh khác nhận xét, bình chọn những
học sinh diễn tốt để biểu dương, khen thưởng
Ví dụ 2: Truyện: “Những cây sen đá” (Tiếng Việt 2, tập 1, trang 69 )
Đối với câu chuyện này tôi cho học sinh quan sát tranh, sau đó gọi 2 học
sinh dựa theo tranh và kể nối tiếp đoạn 1 và 2 của câu chuyện Đối với đoạn 3
học sinh tự kể lại, giáo viên có thể gợi ý: