Microsoft Word SKKN 7205 1 MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU 2 1 1 Lý do chọn đề tài 2 1 2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3 1 3 Đối tượng nghiên cứu 3 1 4 Phương pháp nghiên cứu 3 2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3 2[.]
Trang 1MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.2 Thực trạng của học sinh trong việc giải bài toán có lời văn ở lớp 1 4
2.2.1 Thực trạng 4
2.2.2 Những nguyên nhân 6
2.3 Các giải pháp thực hiện 6
2.3.1 Lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp 6
2.3.2 Xây dựng quy trình “Giải toán có lời văn” 10
2.3.3 Tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học 21
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 22
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 23
3.1 Kết luận 23
3.2 Kiến nghị 24
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 1 HỌC TỐT DẠNG
TOÁN GIẢI CÓ LỜI VĂN THEO BỘ SÁCH CÁNH DIỀU
1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Học sinh lớp một lần đầu tiên đến trường tiểu học, các em được tiếp xúc với môi trường bên ngoài với nhiều thầy cô giáo mới bạn mới Trong quá trình học tập và tham gia các hoạt động khác đã giúp các em hình thành nhân cách Bên cạnh đó chúng ta biết rằng kiến thức mà các em cần phải tiếp thu nằm trong sách
vở với nhiều môn học khác nhau trong đó có môn toán
Môn toán là một trong những môn học cơ sở cung cấp những kiến thức, kỹ năng cơ bản cho học sinh Thông qua học môn toán đã giúp cho học sinh phương pháp suy luận, tư duy, lập luận một cách lôgic, phương pháp giải quyết vấn đề, từ
đó rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo của học sinh
Ở cấp Tiểu học nói chung dạy học sinh giải toán là giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, rèn luyện kỹ năng thực hành một cách đa dạng phong phú nhằm phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận tạo điều kiện cho việc học tập sau này của các em
Với học sinh lớp 1 việc giải toán tập trung vào các phép tính cộng, trừ thêm bớt một số đơn vị ở phần đầu là các bài toán đơn và về cuối chương trình có các bài toán giải có lời văn So với các dạng bài trước thì giải các bài toán có lời văn tuy không hẳn là khó hơn song có nhiều điểm khác và phức tạp hơn bởi vậy khi giải những bài toán này các em dễ mắc những lỗi, những sai sót
Để giải toán có lời văn tốt đòi hỏi các em có đầu óc tư duy trừu tượng hơn, khái quát hơn và đưa về dạng bài cụ thể hơn Việc này không phải học sinh nào cũng làm được Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn trăn trở và suy nghĩ làm thế nào để giúp học sinh biết giải toán có lời văn dễ dàng hơn Vì vậy tôi đã đi sâu
về nghiên cứu: “Sáng kiến kinh nghiệm Giúp học sinh lớp Một học tốt dạng toán giải có lời văn theo bộ sách Cánh Diều” nhằm hướng dẫn các em làm bài, khắc phục những thiếu sót tạo điều kiện cho các em học tập tốt hơn về sau này là vấn đề cần được quan tâm giải quyết
Trang 3Trong thời kỳ đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán bằng cách đàm thoại ” Bài toán cho gì? Hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách rất tốt để giúp trẻ ngầm phân tích đề toán Nếu học sinh gặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi
Ví dụ: Bài 41 trang 71 sách toán 1 Cánh Diều, giáo viên có thể hỏi:
- Em thấy trên bờ có mấy bạn? (… có 3 bạn)
- Dưới nước có mấy bạn? ( … có 5 bạn)
- Em có bài toán thế nào? (…)
Sau đó giáo viên cho học sinh đọc (hoặc nêu) đề toán ở sách giáo khoa
Trong trường hợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có thể gắn mẫu vật (gà, vịt, …) lên bảng từ (bảng cài, bảng nỉ, …) để thay cho tranh; hoặc dùng tóm tắt bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng để hỗ trợ học sinh đọc đề toán
* Thông thường có 3 cách tóm tắt đề toán:
Cách 1: Tóm tắt bằng lời:
Hằng : 3 quyển Hà có : 52 que tính
Trang 4Cả hai bạn có : … quyển? (A) Cả hai bạn có : … que tính?
Cách 2: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng( thường chỉ dùng cho giải toán có liên quan tới độ dài hoặc biểu thị giá trị số )
Ví dụ:
Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ mẫu vật, hình vẽ :
Ví dụ:
Có con thỏ :
Thêm con thỏ:
Với các cách tóm tắt trên sẽ làm cho học sinh dễ hiểu và dễ sử dụng
Với cách viết thẳng theo cột như: 34 que tính và 52 que tính; 5 quyển và 3 quyển
Kiểu tóm tắt như vậy khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có tác dụng gợi ý cho học sinh lựa chọn phép tính giải
Có thể lồng “các câu” lời giải vào trong tóm tắt, để dựa vào đó học sinh dễ viết câu lời giải hơn Chẳng hạn, dựa vào dòng cuối của tóm tắt (A) học sinh có thể viết ngay câu lời giải là : “Cả hai bạn có:” hoặc “Số vở cả hai bạn có:” hoặc:
“Cả hai bạn có số vở là:” Cần lưu ý trước đây người ta thường đặt dấu ? lên trước
Trang 5các từ như quyển, quả, … Song làm như vậy thì hơi thiếu chuẩn mực về mặt Tiếng Việt vì tất cả học sinh đều biết là dấu ? phải đặt cuối câu hỏi Nếu tóm tắt bằng sơ
đồ đoạn thẳng hoặc sơ đồ mẫu vật thì đặt dấu ? ở đằng trước các từ như quyển, quả ,… cũng được vì các tóm tắt ấy không phải là những câu Tuy nhiên học sinh thường có thói quen cứ thấy dấu … là điền số (dấu) vào đó nên giáo viên cần lưu
ý các em là: “Riêng trong trường hợp này (trong tóm tắt ) thì dấu … thay cho từ
“mấy” hoặc “bao nhiêu” ; các em sẽ phải tìm cho ra số đó để ghi vào đáp số của bài giải chứ không phải để ghi vào chỗ … trong tóm tắt Nếu không thể giải thích cho học sinh hiểu được ý trên thì chúng ta cứ quay lại lối cũ, tức là đặt dấu hỏi (?)
ra đằng trước theo kiểu “Còn ? quả” cũng được, không nên quá cứng nhắc
Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học sinh dựa vào tóm tắt nêu đề toán Cần lưu ý dạy giải toán là một quá trình Không nên vội vàng yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết được các câu lời giải, phép tính và đáp số để có một bài chuẩn mực ngay từ tuần 23, 24 Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng bước, miễn sao đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) trẻ đọc
và giải được bài toán là đạt yêu cầu
Bước 2: Xác định cách giải bài toán
Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bài toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen
(Bài 5- trang 137 sách toán 1 Cánh Diều)
* Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và cái phải tìm, chẳng hạn:
Trang 6- Bài toán cho biết gì? (Mẹ làm 25 bánh rán ngọt)
- Còn cho biết gì nữa? (Mẹ làm thêm 20 bánh rán mặn)
- Bài toán hỏi gì? (Mẹ làm được tất cả bao nhiêu chiếc bánh?)
Giáo viên nêu tiếp:
“Muốn biết Mẹ làm được bao nhiêu chiếc bánh em làm phép tính gì? (Lấy số bánh rán ngọt đã có cộng với số bánh rán ngọt làm thêm)
Mấy cộng mấy? (25 + 20) ;
25 + 20 bằng mấy? (25 + 20 = 45);
hoặc: “Muốn biết Mẹ làm được bao nhiêu chiếc bánh em làm thế nào? (25 + 20
= 45); hoặc: “Mẹ làm có tất cả mấy chiếc bánh ?”(45) Em tính thế nào để được 45? (25 + 20 = 45) Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp “45 này là 45 chiếc bánh”, nên ta viết “chiếc bánh” vào trong dấu ngoặc đơn:25 + 20 = 45 (chiếc bánh)
Tuy nhiên cũng có những học sinh nhìn tranh ở sách giáo khoa để đếm ra kết quả mà không phải là do tính toán Trong trường hợp này giáo viên vẫn xác nhận kết quả là đúng, song cần hỏi thêm: “Em tính thế nào?” (25 + 20 = 45) Sau đó nhấn mạnh: “Khi giải toán em phải nêu được phép tính để tìm ra đáp số (ở đây là 45) Nếu chỉ nêu đáp số thì chưa phải là giải toán
* Sau khi học sinh đã xác định được phép tính, nhiều khi việc hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn (thậm chí khó hơn nhiều) việc chọn phép tính và tính
ra đáp số Với học sinh lớp 1, lần đầu tiên được làm quen với cách giải loại toán này nên các em rất lúng túng Thế nào là câu lời giải, vì sao phải viết câu lời giải? Không thể giải thích cho học sinh lớp 1 hiểu một cách thấu đáo nên có thể giúp học sinh bước đầu hiểu và nắm được cách làm Có thể dùng một trong các cách sau:
Cách 1:
Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối (mấy con gà ?) để
có câu lời giải : “Mẹ có tất cả:” hoặc thêm từ “là” để có câu lời giải :
“Mẹ có tất cả là:"
Cách 2: