1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các tập đoàn kinh tế ở việt nam những vấn đề lý luận và thực tiễn

277 652 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển Các Tập Đoàn Kinh Tế Ở Việt Nam: Những Vấn Đề Lý Luận và Thực Tiễn
Tác giả ThS Hồ Thị Hương Mai, ThS Đinh Thị Nga
Trường học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 277
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo phân tích dựa trên kết quả khảo sát cũng cho thấy, các DN lớn, các TĐKT thiếu một chiến lược phát triển rõ ràng và dài hạn, thay vào đó là xu hướng đầu tư ngắn hạn vào các lĩnh v

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010

MÃ SỐ: B.10 - 05

Tên đề tài:

PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế

Chủ nhiệm đề tài: ThS Hồ Thị Hương Mai Thư ký đề tài: ThS Đinh Thị Nga

8552

Hà Nội, 2010

Trang 2

LỰC LƯỢNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI

TS Nguyễn Thị Hường Viện Kinh tế

ThS Nguyễn Thị Miền Viện Kinh tế

ThS Trương Thị Mỹ Nhân Vụ Kế hoạch – Tài chính

Nguyễn Quang Thử Sở Công thương tỉnh Quảng Nam

Trang 3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

Các công ty xuyên quốc gia: TNCs Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: CNH, HĐH

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong thời gian gần đây, dư luận trong cả nước đang hết sức bức xúc về tình hình điện ở nước ta, về tình trạng than bị khai thác theo cách tàn phá môi trường và xuất khẩu lậu hàng chục triệu tấn mỗi năm, và đặc biệt về cung cách cấp, sử dụng vốn và quản lý của Nhà nước dẫn tới thua lỗ nặng nề của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy (Vinashin)1, về hoạt động của các Tổng công

ty (TCT) trên lĩnh vực thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán , về

nhiều yếu kém lớn khác: "Trong nhiều trường hợp là sự lũng đoạn của các tập đoàn và Tổng công ty (TCT) 91 & 90 và sự dính líu sâu của các cơ quan chức năng, về nguy cơ bên ngoài lợi dụng những yếu kém này can thiệp vào nước ta"2

Với tác động tới toàn bộ hoạt động của nền kinh tế nên mô hình và hoạt động của các Tập đoàn kinh tế (TĐKT) ở Việt Nam ngày càng thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, của các nhà hoạch định chính sách, điều hành thực tiễn và của mỗi người dân trong xã hội Do đó, sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng các quyết định kinh doanh của TĐKT như việc tăng giá điện, giảm giá xăng thường thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận, của các phương tiện truyền thông, là chủ đề của rất nhiều các cuộc hội thảo hoặc tranh luận với quy mô khác nhau, từ những cuộc tọa đàm nhỏ đến tranh luận ở Quốc hội Tương tự như vậy, tần suất xuất hiện của các diễn biến kinh tế có liên quan đến TĐKT chiếm tỷ trọng rất lớn trên các phương tiện truyền thông3

Nhìn nhận từ góc độ mô hình tổ chức sản xuất trong nền kinh tế, TĐKT thực chất cũng giống như các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh khác (doanh nghiệp (DN) tư nhân, công ty cổ phần (CTCP), công ty có vốn đầu tư

1 Vinashin được Chính phủ cho vay lại 750 triệu USD từ việc phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường chứng khoán Singapore Tập đoàn này tiếp tục được Chính phủ bảo lãnh vay 2 tỷ USD Hiện nay tổng sô nợ của Vinashin là khoảng 86.000 tỷ đồng

2 Nguyễn Trung (2008), Cải cách tập đoàn nhà nước và một chữ DÁM, http://www.tuanvietnam.net

3 Tập đoàn Điện lực Việt Nam yêu cầu Tập đoàn Bưu chính Viễn thông trả tiền thuê cột điện một lần nữa cho thấy những xung đột về quyền lợi làm phương hại đến lợi ích của cả người tiêu dùng và Nhà nước

Trang 5

tố chứa đựng những nguy cơ khủng hoảng hiện nay? Do chúng có quan hệ mật thiết với Chính phủ? Do chúng nắm giữ tài nguyên quốc gia và những ngành độc quyền? Về mặt lý thuyết, các yếu tố nêu trên là những lý do thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và giới lãnh đạo của mọi quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam, tính cấp thiết của chủ đề này còn là việc các TĐKT lớn chủ yếu thuộc sở hữu nhà nước (SHNN),chúng nắm giữ "hợp pháp" nhiều nguồn tài nguyên quốc gia và nguồn lực tài chính thuộc SHNN

Mặc dù có những mặt trái, những tác động tiêu cực đến nền kinh tế nhưng với mô hình kinh doanh lớn, các TĐKT vừa là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường (KTTT), vừa cần thiết phải phát triển chúng nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của DN và của cả nền kinh tế Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để khai thác những mặt tích cực, hạn chế và kiểm soát hữu hiệu những tác động không mong đợi của mô hình này đến nền kinh tế Đây là câu hỏi không dễ trả lời trong các giai đoạn phát triển khác nhau của các nền kinh tế với những đặc thù riêng Sự cấp thiết về mặt lý luận đòi hỏi cần nghiên cứu sự phát triển tất yếu của mô hình này

Dù muốn hay không, về mặt lý luận thì sự phát triển TĐKT là tất yếu, do

đó cần nghiên cứu thấu đáo mô hình kinh doanh này trong điều kiện nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam nhằm bổ sung về mặt lý luận, tạo lập căn cứ vững chắc để phát triển chúng trên thực tiễn

Nếu như lý luận chỉ ra sự tồn tại và phát triển tất yếu của các TĐKT thì

sự kiểm nghiệm của thực tiễn là hết sức sống động Sự tồn tại, phát triển mạnh

của các TĐKT thời gian qua cùng với hiệu quả kinh tế nhờ quy mô là căn cứ vững chắc cho mô hình này ở các nền kinh tế phát triển Trong giai đoạn hiện

Trang 6

3

nay, mức độ ảnh hưởng của các TĐKT đến nền kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc, là nhân tố đảm bảo sự phát triển bền vững, đồng thời cũng là nguy cơ gây bất ổn, thậm chí dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu Có thể nói, sức mạnh của các TĐKT không chỉ là một trong những tiêu chí quan trọng nói lên sức cạnh tranh quốc gia và sức mạnh của quốc gia đó mà còn bao hàm những nguy cơ bất ổn nếu chúng vượt tầm kiểm soát Việc sụp đổ hàng loạt tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới ở Hoa Kỳ và Châu Âu, việc 3 tập đoàn ô tô lớn nhất Hoa kỳ là General Motors; Ford Motors và Chrysler bên bờ vực phá sản; ngay

cả tập đoàn truyền thông lừng danh Tribune Co với 161 năm tồn tại, hiện quản lý 8 tờ nhật báo lớn trong đó có Los Angeles Times, Chicago Tribune, Baltimore Sun… và 23 đài truyền hình đã đệ đơn phá sản là minh chứng sống động

Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, việc Chính phủ quyết định thành lập

một số tập đoàn trong thời gian qua không phải là là biện pháp mang tính cá biệt của Việt Nam Chính phủ các quốc gia Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Braxin, Venezuela và đặc biệt là Trung Quốc đã từng đầu tư xây dựng các mô hình kinh doanh qui mô lớn thuộc SHNN với những tên gọi khác nhau và kết quả rất khả quan Tuy nhiên, ngay cả khi 8 tập đoàn đã đi vào hoạt động4, khi

mà Thủ tướng nhấn mạnh trọng trách của tập đoàn trong bối cảnh suy thoái kinh tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo an sinh thì giới nghiên cứu và những người làm thực tiễn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí còn có thể thấy được

sự khác nhau giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của tập đoàn

Như vậy, nghiên cứu về các TĐKT không chỉ là vấn đề bức xúc của lý

luận mà còn là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn vận hành nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua và những yêu cầu mời trong thời gian tới

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.1 Các công trình nghiên cứu TĐKT nước ngoài

Các công trình nghiên cứu về TĐKT của các tác giả ngoài nước tập

4 Bao gồm: Dầu khí, Điện lực, Bưu chính viễn thông, Than – Khoáng sản, Dệt may, Công nghiệp cao su, Công nghiệp tàu thủy, Tài chính – Bảo hiểm

Trang 7

4

trung lý giải những nội dung về xây dựng và phát triển các tập đoàn kinh doanh theo dạng đưa ra các mô hình lý thuyết Những tài liệu thực tiễn thường là những bản Báo cáo thường niên của các tập đoàn riêng lẻ Hơn nữa, các tác giả thường căn cứ vào thực tiễn các tập đoàn của nước họ để tổng kết, luận giải

Điển hình là các công trình sau: cuốn sách của Trung Quốc “Bàn về cải cách toàn diện DNNN” của tác giả Trương Văn Bân (1999), NXB Chính trị Quốc

gia, Hà Nội Trong tác phẩm này, tác giả tập trung phân tích quá trình cải cách

hệ thống DNNN (DN quốc hữu) ở Trung Quốc trên nhiều khía cạnh khác nhau như sở hữu, chủ thể quản lý … Trong đó, định hướng hình thành tập đoàn từ các DNNN được đề cập như một giải pháp cải cách; Hai cuốn sách của tác giả

Kornai Janos: Hệ thống XHCN (2002), NXB Văn hoá thông tin và cuốn Con đường dẫn đến nền KTTT (2001), NXB Hội tin học Việt Nam, Hà Nội đã

“phẫu thuật” rất chi tiết, có hệ thống về kinh tế các nước chuyển đổi, trong đó lấy kinh tế Hungari làm nội dung trọng tâm trong phân tích Kornai tập trung công sức của mình cho vấn đề sở hữu, thể chế quản lý … Định hướng phát triển các tổ chức kinh doanh qui mô lớn được tác giả nhìn nhận như một giải pháp qua lăng kính cải cách sở hữu; các bài viết, thông tin trên trang thông tin điện tử của các TĐKT cụ thể và trên trang chính thức của hai tạp chí nổi tiếng Fortune (http://www.fortune.com) và Businessweek (http://www.businessweek.com) cung cấp khá đầy đủ, cập nhật các thông tin liên quan đến những TĐKT hàng đầu thế giới trên các mặt như doanh thu, lợi nhuận, lao động, lĩnh vực kinh doanh cùng với những bài phân tích của các chuyên gia trên từng lĩnh vực cụ thể

Công trình nghiên cứu của tập thể tác giả Rapld Nander, Mark Green và

Joel Seligman (1976) với tiêu đề Thuần phục các tập đoàn lớn, New York w

Norton đã khảo sát các tập đoàn lớn tại Mỹ và chỉ rõ những tác động bất lợi của mô hình này đối với hoạt động của toàn bộ nền kinh tế, đối với cổ đông, với chính phủ, với công nhân và mỗi người dân trong xã hội Một nghiên

cứu của Milton Friedman (1962) với tiêu đề Độc quyền và trách nhiệm xã hội của các DN và người lao động được in trong cuốn Chủ nghĩa tư bản và tự do,

Đại học Chicago, đã phân tích sâu sắc về cấu trúc độc quyền và cách thức chiếm lĩnh độc quyền của các tập đoàn lớn ở Mỹ Công trình này cũng nhấn

Trang 8

5

mạnh nguồn gốc độc quyền của các tập đoàn sinh ra từ quyền lực kinh tế và mối quan hệ với chính trị

Nghiên cứu của Ansel M.Sharp, Chales A.Register, Paul W.Grimes

(2005), Kinh tế học trong kinh doanh tập đoàn – Ai làm gì cho ai?, NXB Lao

động, Hà Nội đã tập trung phân tích quan điểm chung về kinh doanh tập đoàn

và cách thức hoạt động của mô hình này Nghiên cứu chỉ rõ sự chi phối của một số tập đoàn khổng lồ đối với hoạt động kinh tế quốc gia; sự thiếu hụt sản lượng được xem là cách thức hạn chế đầu ra nhằm tăng giá và mức giá của mỗi sản phẩm trong tập đoàn được ấn định dựa trên quyền lực độc quyền

Ngoài các tác giả là người nước ngoài, một số công trình tiêu biểu của các tác giả Việt Nam nghiên cứu về TĐKT nước ngoài có thể kể đến bao gồm:

Lê Văn Sang - Trần Quang Lâm (1996), Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Nội

dung cuốn sách tập trung phân tích nguồn gốc hình thành, các hình thức tồn tại và mô hình chiếm lĩnh, khai thác thị trường của các công ty xuyên quốc gia Những nội dung nêu trên vừa được phân tích chuyên sâu, tìm kiếm bản chất, vừa đặt chúng trong bối cảnh mới – ngưỡng cửa của thế kỷ XXI

Đề tài KHXH 06-05 Bản chất, đặc điểm và vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia trên thế giới Chính sách của ta, Chương trình KHCN

cấp nhà nước 06 (Giai đoạn 1996-2000) do tác giả Nguyễn Thiết Sơn làm chủ nhiệm được xuất bản thành sách5 cung cấp cho người đọc những kiến thức sâu

về đặc điểm, bản chất, vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia trên thế giới, phân tích hoạt động của các công ty xuyên quốc gia Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, hoạt động của chúng ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, đối sách phù hợp nhằm thu hút và phát huy tác động tích cực của chúng đối với nền kinh tế Việt Nam

Cuốn sách Tập đoàn kinh tế - Lý luận và kinh nghiệm quốc tế ứng dụng

5 Cuốn sách có tiêu đề: Nguyễn Thiết Sơn (Chủ biên), Các công ty xuyên quốc gia – Khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003

Trang 9

6

vào Việt Nam (2005) của tác giả Trần Tiến Cường (chủ biên) Nội dung cuốn

sách đề cập khá bao quát những nội dung xung quanh TĐKT, từ quan niệm, phương thức hình thành, nguyên tắc và điều kiện hình thành đến các mô hình tập đoàn trên thế giới Cuốn sách cũng đề cập những vấn đề từ vĩ mô đến vi

mô, từ tổng thể đến các biện pháp cụ thể nhằm vận dụng vào hình thành, phát triển TĐKT ở Việt Nam

Luận án của tác giả Hoàng Thị Bích Loan, Các công ty xuyên quốc gia của một số nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) châu Á, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001 Tác giả luận án phân tích đặc thù của quá trình hình thành, phát triển các công ty xuyên quốc gia của NIEs châu Á

và vai trò của nó trong phát triển kinh tế với điển hình lựa chọn là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, trên cơ sở đó đề xuất một số gợi ý với Việt Nam về phát triển các công ty xuyên quốc gia của mình và thu hút các công ty xuyên quốc gia châu Á trong quá trình CNH, HĐH đất nước, tạo tiền đề để định hướng XHCN nền kinh tế

Như vậy, các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam về mô hình và hoạt động của TĐKT nước ngoài đều có định hướng rõ ràng là trên cơ

sở phân tích mô hình, cơ chế hoạt động, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ giữa tập đoàn với chính phủ nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quá trình xây dựng và phát triển TĐKT ở Việt Nam

2.2 Các công trình nghiên cứu TĐKT ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu trong nước cũng đã đề cập nhiều khía cạnh xung quanh TĐKT Tuy nhiên, số lượng các công trình quy mô lớn với những nghiên cứu chuyên sâu còn hạn chế Một số công trình tiêu biểu gồm:

- Cuốn sách Thành lập và quản lý các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

(1996) của tác giả Nguyễn Đình Phan, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội được xuất bản trên cơ sở đề tài khoa học có thể nói là cuốn sách đầu tiên kể từ khi các TCT được thành lập theo Quyết định 90 và 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ Tại thời điểm 1996, tác giả đã có nhiều ý tưởng mới và hiện

đã, đang được thực hiện Giá trị của cuốn sách cho đến nay là cung cấp cho

Trang 10

7

người đọc ý tưởng nghiên cứu cũng như cách tiếp cận và giải quyết một vấn đề thực tiễn đặt ra

- Cuốn sách Mô hình Tập đoàn kinh tế trong CNH, HĐH (2002) của tác

giả Vũ Huy Từ (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Với nội dung gần

300 trang được chia làm 2 phần, 6 chương, cuốn sách đã giải quyết khá nhiều nội dung về TĐKT: Từ cơ sở lý luận, kinh nghiệm, nhân tố tác động đến sự phát triển các tập đoàn trên thế giới đến hình thành và tổ chức quản lý tập đoàn

ở Việt Nam Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của tác giả theo lô gíc từ lý luận đến thực tiễn hình thành mô hình này ở Việt Nam và phân tích các TCT như một “nhân tố nền tảng”, trên cơ sở đó tìm kiếm các giải pháp quản lý nhà nước (QLNN) đối với mô hình này

- Cuốn sách Tập đoàn kinh tế và một số vấn đề về xây dựng tập đoàn kinh tế ở Việt Nam của tác giả Minh Châu (2005), Nxb Bưu Điện, Hà Nội Nội

dung cuốn sách trên cơ sở trình bày những vấn đề chung về TĐKT, kinh nghiệm phát triển TĐKT ngành bưu chính viễn thông ở một số quốc gia; những nội dung liên quan đến tập đoàn hóa DN; kinh nghiệm và bài học phát triển tập đoàn DN của Trung Quốc , qua đó, tác giả đề xuất định hướng về xây dựng TĐKT ở Việt Nam Riêng phần giải pháp, tác giả chỉ đề xuất đối với xây dựng tập đoàn Bưu chính Viễn thông, các tập đoàn khác không được đề cập cụ thể

- Cuốn sách Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, của tác

giả Bùi Văn Huyền (2008), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách không chỉ trình bày tổng quát những vấn đề lý luận, thực tiễn của sự hình thành và phát triển tập đoàn mà một dung lượng không nhỏ của cuốn sách đã được dành để phân tích thực trạng hoạt động của một số tổ hợp kinh doanh - cơ

sở để hình thành các TĐKT ở Việt Nam Trên cơ sở những đánh giá một cách khoa học về hoạt động của các tổ hợp kinh doanh đó, tác giả cuốn sách đã đề

ra các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển các TĐKT ở Việt Nam

Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu ở các quy mô khác nhau bàn về TĐKT Chủ đề này còn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các tác giả, các tổ chức nước ngoài Mặc dù số lượng các công trình nhóm này

Trang 11

8

không nhiều và chưa có những công trình độc lập cho riêng mô hình TĐKT ở Việt Nam nhưng trong các báo cáo phân tích, khuyến nghị chính sách, các tác giả luôn đề cập tới các tập đoàn như một nội dung cần quan tâm đặc biệt trong hoạch định và thực thi chính sách Tiêu biểu trong các nghiên cứu này có thể kể đến:

- Báo cáo Chiến lược cải cách ngành điện (2005), Chiến lược cải cách ngành viễn thông (2005), nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) tập

trung phân tích cấu trúc ngành và cơ chế xác định giá thành sản phẩm, qua đó khuyến nghị chính phủ cần nỗ lực tái cấu trúc ngành bằng việc xây dựng cơ chế cạnh tranh Mặc dù mô hình tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) và Tập đoàn Bưu chính viễn thông (VNPT) không được nghiên cứu trực tiếp nhưng các khuyến nghị chính sách hướng vào cải cách 2 tập đoàn này theo hướng thúc đẩy cổ phần hóa, giảm độc quyền trong kinh doanh

- Trong các Báo cáo của Đại học Harvard, TĐKT luôn được đề cập như một phần tất yếu của cải cách cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và được ưu tiên trong khuyến nghị chính sách

- Khảo sát của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đối với

200 DN lớn nhất Việt Nam, theo đó, các DN này mới chỉ bằng DN vừa và nhỏ của thế giới xét theo các tiêu chí chủ yếu như vốn, doanh thu, lao động, lợi nhuận Báo cáo phân tích dựa trên kết quả khảo sát cũng cho thấy, các DN lớn, các TĐKT thiếu một chiến lược phát triển rõ ràng và dài hạn, thay vào đó

là xu hướng đầu tư ngắn hạn vào các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, bất động sản Mặc dù số lượng các công trình của các tổ chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu về TĐKT Việt Nam không nhiều, song đây là những ý kiến đánh giá thẳng thắn, độc lập, tập trung phân tích những mặt trái của mô hình tập đoàn và những nguy cơ có thể xảy ra nếu Chính phủ không có những biện pháp quản lý kịp thời Đây là những công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo tốt trong nghiên cứu cũng như hoạch định và thực thi chính sách

Như vậy, các công trình nghiên cứu ngoài nước có đề cập đến những

vấn đề lý luận và thực tiễn của TĐKT nhưng không thể áp dụng như một công

Trang 12

9

thức trong điều kiện Việt Nam Các công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến nhiều khía cạnh với các cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, thực tiễn vận động của nền kinh tế cũng như các TĐKT đòi hỏi cần tiếp tục có những nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này

3 MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Mục tiêu chung: Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về TĐKT; qua

kinh nghiệm thành công và thất bại của một số TĐKT trên thế giới; từ những phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các TĐKT ở Việt Nam, đề tài tìm kiếm nguyên nhân của những hạn chế, trên cơ sở đó xác định phương hướng và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển các TĐKT trong thời gian tới

- Mục tiêu cụ thể:

a/ Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TĐKT trên các nội dung cụ thể như: Tính tất yếu khách quan hình thành và phát triển mô hình kinh doanh quy mô lớn (gọi chung là TĐKT), đặc điểm, vai trò

b/ Đánh giá thực trạng phát triển các TĐKT ở Việt Nam, rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân

c/ Xác định phương hướng và giải pháp phát triển các TĐKT ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo

- Phạm vi nghiên cứu: TĐKT có nhiều chế độ sở hữu khác nhau, trong đó có

TĐKTNN, TĐKT tư nhân, TĐKT hỗn hợp…Trong phần lý luận, đề tài sẽ nghiên cứu TĐKT nói chung, còn trong phần thực trạng và giải pháp sẽ tập trung chủ yếu nghiên cứu TĐKTNN

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp luận: Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –

Lê nin, bám sát chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về đổi mới, phát triển khu vực DNNN, TCTNN, TĐKT

- Phương pháp cụ thể: Do việc tiếp cận trực tiếp hệ thống tư liệu, số liệu của

Trang 13

10

các TĐKT hết sức khó khăn và trong nhiều trường hợp là không chính xác

Do đó, để đạt mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp, mô hình hoá, lấy ý kiến chuyên gia Trong đó, đề tài chú ý sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính (dựa trên tài liệu thu thập được) và nghiên cứu định lượng (dựa trên các nguồn số liệu), kết hợp các kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin khác nhau

5 KẾT CẦU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu gồm 03 chương

Trang 14

11

1 CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1.1 Khái niệm tập đoàn kinh tế

TĐKT là sản phẩm khách quan của nền KTTT, vì vậy, có thể nói, sự ra

đời TĐKT chính là biểu hiện cụ thể của sự phát triển kinh tế Ngay từ đầu thế

kỷ 20, ở các nước tư bản đã hình thành những TĐKT xuyên quốc gia, các

TĐKT này phát triển lớn mạnh và trở thành một trong những nhân tố quan

trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

Hiện có rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm “TĐKT”

và chưa có một khái niệm nào được xem là chuẩn mực Vì thế trong phạm vi

nghiên cứu này, chúng tôi chỉ giới thiệu một số khái niệm để từ đó có cái nhìn

khái quát và toàn diện nhất về “TĐKT”

Theo bách khoa toàn thư Wikipedia tiếng Anh thì TĐKT được hiểu “là

một thực thể pháp lí, mà trong khi được sở hữu chung bởi một số người tự

nhiên hoặc những thực thể pháp lí khác có thể tồn tại hoàn toàn độc lập khỏi

chúng, sự tồn tại độc lập này mang lại cho TĐKT những quyền riêng mà

những thực thể pháp lí khác không có Qui mô và phạm vi về khả năng và tình

trạng của TĐKT có thể được chỉ rõ bởi luật pháp nơi sáp nhập” Theo từ điển

Business English of Longman thì “TĐKT (Group of company) là một tổ hợp

các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một tập đoàn gồm một

Công ty mẹ và một hay nhiều Công ty con hoặc chi nhánh góp vốn cổ phần,

chịu sự kiểm soát của Công ty mẹ vì Công ty mẹ chiếm 1/2 vốn cổ phần”

Nhiều nhà kinh tế cũng đã đưa ra nhiều khái niệm TĐKT; ví dụ:

“TĐKT là một tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các thị trường

khác nhau dưới sự kiểm soát về tài chính hoặc quản trị chung, trong đó các

thành viên của chúng ràng buộc với nhau bằng các mối quan hệ tin cậy lẫn

nhau trên cơ sở sắc tộc hoặc bối cảnh thương mại” (Leff, 1978); “TĐKT là

một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với nhau trong một thời gian dài”

Trang 15

12

(Powell & Smith- Doesrr, 1934); “TĐKT dựa trên hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ thông qua mối ràng buộc trung gian, một mặt ngăn ngừa sự liên minh ngắn hạn ràng buộc đơn thuần giữa các công ty, mặt khác ngăn ngừa một nhóm công ty sáp nhập với nhau thành một tổ chức duy nhất”

(Granovette, 1994)6

Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến “TĐKT” người ta thường

sử dụng các từ như: “Conglomerate”, “Cartel”, hay “Group”

“Conglomerate” là sự kết hợp của hai hay nhiều DN trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau thành một cấu trúc thống nhất, thường bao gồm một Công ty

mẹ và nhiều Công ty con “Conglomerate” thường lớn và là tập đoàn xuyên quốc gia (hoạt động, cung cấp dịch vụ tại nhiều quốc gia) “Cartel” là một nhóm các nhà sản xuất độc lập có cùng mục đích là tăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chế cung ứng hàng hoá, hoặc các biện pháp hạn chế khác Đặc trưng tiêu biểu trong hoạt động của Cartel là việc kiểm soát giá bán hàng hoá, dịch vụ nhưng cũng có một số Cartel được tổ chức nhằm kiểm soát giá mua nguyên vật, liệu đầu vào Ở châu Á, người Nhật gọi TĐKT

là “Keiretsu” hoặc “Zaibatsu” ; Zaibatsu để chỉ những tập đoàn công nghiệp

và tài chính trong thời kỳ đế quốc Nhật mà quy mô và tầm ảnh hưởng của chúng có thể kiểm soát nền kinh tế Nhật Bản từ thời kỳ Minh Trị cho đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai Còn người Hàn Quốc lại gọi TĐKT là

“Cheabol” Các Chaebol được hình thành bao gồm nhiều công ty có mối quan

hệ liên kết về tài chính, chiến lược kinh doanh và sự điều phối chung trong hoạt động Nhiều Cheabol nhận được sự ủng hộ và sự giúp đỡ về tài chính từ Chính phủ đã trở thành các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới như: Samsung, Hyundai và LG7 Chaebol và Keiretsu khác nhau ở một số điểm cơ bản như sau:

- Chaebol thường được kiểm soát bởi một gia đình hoặc một nhóm ít gia đình, trong khi Keiretsu được điều hành bởi các nhà quản lý chuyên

1 6 http://www.massogroup.com/cms/content/view/4936/289/lang,en/

7 http://en.wikipedia.org/wiki/Chaebol

Trang 16

Ở Việt Nam, lần đầu tiên cụm từ "TĐKT” được đề cập tới trong Nghị

quyết Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII: "Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích và thực hiện từng bước vững chắc, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc đổi mới các liên hiệp xí nghiệp, các TCT theo hướng tổ chức các TĐKT, khắc phục tính chất hành chính trung gian"9 Nhìn nhận khái niệm TĐKT dưới góc độ mối quan hệ giữa các thành viên trong TĐKT, Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương (CIEM) đã đưa ra khái

niệm TĐKT “là một tổ hợp lớn các DN có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của công ty con về tài chính và chiến lược phát triển”

Trong Đề tài Khoa học cấp bộ của nhóm tác giả Bộ môn kế toán Học viện tài

chính thì TĐKT được hiểu là “loại hình liên công ty xuất hiện từ lâu ở các

8 http://en.wikipedia.org/wiki/Chaebol

9 http://www.tuanvietnam.net/2009-10-20-mot-cach-nhin-khac-ve-tap-doan-kinh-te

Trang 17

14

nước có nền kinh tế phát triển, được hiểu là tổ hợp các công ty có tư cách pháp nhân, có mối liên kết với nhau về tài chính, công nghệ, thị trường và các mối liên kết khác xuất phát từ lợi ích của chính các công ty thành viên đó”

Phải đến Luật DN năm 2005 thì khái niệm “TĐKT” mới lần đầu tiên được đưa vào một văn bản pháp luật, đánh dấu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam với mô hình kinh tế này Theo đó, tập TĐKT được xếp vào một loại trong Nhóm công ty, và khái niệm này đã được làm rõ hơn ở Nghị định 139/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN:

“TĐKT bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp DN trở lên dưới hình thức Công ty mẹ

- Công ty con” (khoản 1 điều 26)

Có thể thấy, thực tế còn nhiều khái niệm khác nhau như trên là bởi mỗi khái niệm được đưa ra lại nhìn nhận TĐKT ở một khía cạnh khác nhau Mặc

dù vậy nhưng ta có thể khái quát thành một khái niệm chung về TĐKT như

sau: “TĐKT là một tập hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay đa ngành, ở phạm vi một nước hay nhiều nước, các thành viên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và quản trị chung Tập đoàn là mô hình liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung vốn, tăng

khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận.”

1.1.2 Quá trình hình thành Tập đoàn kinh tế trên thế giới

1.1.2.1 Tính tất yếu khách quan của sự hình thành và phát triển các tập

đoàn kinh tế trên thế giới

TĐKT là một khái niệm chưa thật thống nhất nhưng sự hiện diện của

nó trong nền kinh tế là tất yếu, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của đời sống xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng Nói như vậy cũng có nghĩa là sự ra đời ấy là sớm muộn cũng phải có bởi quy luật khách quan chi

Trang 18

15

phối sự hình thành phát triển của cấu trúc kinh tế hiện đại này Sự ra đời của

mô hình kinh tế này là phù hợp với rất nhiều quy luật khách quan, trong đó phải kể đến một số quy luật nền tảng của nền kinh tế: quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, quy luật tích tụ và tập trung vốn mở rộng quy mô sản xuất, quy luật cạnh tranh, quy luật KHCN phát triển không ngừng, quy luật tối đa hóa lợi nhuận và phân tán rủi ro Mặc dù rất khó để phân rõ từng quy luật tác động đến sự ra đời tất yếu của TĐKT nhưng việc phân tích các nội dung này sẽ làm sáng tỏ cả quá trình lẫn nguyên nhân ra đời của TĐKT

Thứ nhất, Tập đoàn kinh tế ra đời phù hợp với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt không thể tách rời nhau trong hoạt động sản xuất mà học thuyết Mác – Lênin đã phân tích, chứng minh Quy luật này không chỉ có ý nghĩa đối với lĩnh vực kinh tế mà đã được kiểm chứng qua thời gian ở nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội Lực lượng sản xuất ở đây là tổng hợp các yếu tố về quy mô sản xuất, công nghệ, kỹ thuật, năng xuất lao động,….Giai đoạn từ cuối thế kỷ 18 cho đến nay chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của nền KHCN trên thế giới, sức lao động con người dần được giải phóng, thay vào đó là máy móc công nghệ cao với năng xuất sản xuất vượt trội Đó chính là yếu tố tiên quyết cho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất Cùng với đó, nhu cầu tái sản xuất mở rộng, dưới tác động của sự cạnh tranh trong nền KTTT, các DN luôn muốn

mở rộng kinh doanh về cả chiều rộng và chiều sâu, càng đẩy mạnh sự gia tăng lực lượng sản xuất Như vậy, theo quy luật khách quan, khi lực lượng sản xuất

đã phát triển mạnh mẽ đến một mức độ nhất định, nền kinh tế đòi hỏi sự ra đời của một quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện tại Các hình thức tổ chức theo kiểu xí nghiệp, hiệp hội hay liên hiệp trở nên không còn phù hợp với quy mô và nhu cầu phát triển của các DN nữa Và theo từng bước phát triển các liên kết, lịch sử đã cho ra đời

mô hình TĐKT phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đang phát triển

Trang 19

16

rất mạnh dưới sự hỗ trợ của nền công nghiệp kỹ thuật phát triển ở trình độ cao TĐKT đã được ra đời và hiện nay vẫn đang là mô hình liên kết kinh tế hiện đại và mạnh mẽ nhất trên thế giới, đáp ứng các nhu cầu về phát triển kinh doanh trên diện rộng và chú trọng chuyên môn hóa, thúc đẩy tái sản xuất hiệu quả

Thứ hai, Tập đoàn kinh tế ra đời phù hợp với quy luật tích tụ và tập trung vốn mở rộng quy mô sản xuất

Tích tụ vốn (tư bản) là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hoá một phần giá trị thặng dư Tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách kết hợp nhiều tư bản nhỏ thành một tư bản lớn hơn Tập trung tư bản thực chất là sự tăng thêm quy mô tư bản riêng lẻ bằng cách kết hợp nhiều tư bản nhỏ thành một tư bản lớn hơn Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ mật thiết với nhau và tác động, thúc đẩy nhau Lịch

sử và khoa học đã chứng minh nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đi từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, sự phát triển về quy mô chính là biểu hiện đầu tiên của

sự tích tụ vốn Bên cạnh đó, một trong những quy luật quan trọng của nền kinh tế là quy mô càng lớn thì chi phí sản xuất càng nhỏ, và chi phí nhỏ luôn

là mong muốn của các nhà kinh doanh, do đó việc tích tụ vốn mở rộng quy

mô sản xuất càng được đặt ra khi lực lượng sản xuất đã có bước phát triển mới

Dựa trên lịch sử hình thành và phát triển của TĐKT có thể dễ dàng nhận thấy rằng sự tăng quy mô của các DN gắn với từng bước phát triển và đổi mới về các liên kết kinh tế để sau cùng cho ra đời mô hình kinh tế có quy

mô lớn, liên kết trên diện rộng và chặt chẽ

Thứ ba, Tập đoàn kinh tế ra đời do ảnh hưởng của quy luật cạnh tranh trong nền KTTT

Từ xưa đến nay, kinh doanh dù trong bối cảnh nào cũng luôn có sự cạnh tranh, có thể là cạnh tranh cùng ngành hoặc cạnh tranh khác ngành Tuy nhiên, phải đến khi nền KTTT chính thức vận hành và việc tự do hóa thương mại ngày càng được đẩy mạnh, vấn đề cạnh tranh mới thực sự được mô tả là

Trang 20

17

“thương trường như chiến trường” Cạnh tranh là nhân tố thúc đẩy các DN

không ngừng đổi mới, phát triển, hoàn thiện bản thân và từ đó gây dựng nên những DN có quy mô lớn Cạnh tranh, bản thân nó là một sức ép để các DN không đứng yên mà luôn vận động không ngừng và quả thực nếu không có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì sức ép này của nền KTTT chính là động lực đáng kể để kinh tế phát triển

Nói đến cạnh tranh thì người ta hay đặt ra câu hỏi “khi nào cạnh tranh kết thúc?” Sức ép của cạnh tranh là rất lớn và các chủ thể kinh doanh chỉ có

thể thoát khỏi nó khi DN bứt phá dẫn đầu, có ưu thế và sức mạnh vượt trội để

chi phối hoặc độc quyền trên một lĩnh vực nào đó Kinh doanh giống như một

cuộc chạy đua giữa các DN và khi một hoặc một vài DN bứt phá lên, sự cạnh tranh sẽ không còn đè nặng lên các DN đó nữa Khi mà đã có một vị trí nhất định trong thị trường, DN đó không ngủ quên trên chiến thắng, mục đích của kinh doanh luôn là tối đa hóa lợi nhuận, không bao giờ có một quy mô hay một con số có thể thỏa mãn người làm kinh tế, cũng có nghĩa là DN đó sẽ tiếp tục mở rộng kinh doanh, mở rộng quy mô Sự mở rộng về quy mô sẽ bao gồm

cả việc mua lại, sáp nhập hoặc mở thêm các công ty, từ đó, khi phát triển đến một quy mô nhất định, các liên kết trong kết cấu kinh doanh đã ổn định, TĐKT ra đời

Còn một xu hướng nữa có thể xảy ra đối với các DN hoạt động trong môi trường cạnh tranh của nền KTTT là các DN cạnh tranh không phân thắng bại, không có DN nào bứt phá vượt lên chi phối ngành kinh doanh đó Với khả năng đó, các DN khi muốn cùng nhau phát triển hòa bình và đạt được lợi nhuận cao nhất hoặc muốn có một vị trí tốt hơn trong thị trường thì sẽ liên kết với nhau (hoặc tất cả các DN hoặc một vài DN) Quá trình liên kết giữa các chủ thể kinh tế có thể là liên kết dọc, liên kết ngang hoặc liên kết hỗn hợp, cụ thể như sau10:

+ Liên kết ngang: Diễn ra giữa các công ty cùng hoạt động trong một

10 Đào Xuân Thủy §iÒu kiÖn vµ gi¶i ph¸p h×nh thµnh c¸c TËp ®oµn kinh tÕ ë n−íc ta – qua s¾p xÕp l¹i c¸c

Tæng c«ng ty 91 ,tr23

Trang 21

18

ngành có quan hệ chặt chẽ về kinh tế kỹ thuật, dịch vụ, kinh doanh

+ Liên kết dọc: Đó là sự liên kết giữa các công ty trong cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất mà trong đó mỗi công ty đảm nhận một bộ phận hoặc một công đoạn nào đó

+ Liên kết hỗn hợp: Các công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, ít hoặc thậm chí không có mối liên hệ kinh tế trực tiếp với nhau, đó là

sự liên kết đa ngành, đa lĩnh vực

Nếu giải thích một cách đơn giản thì TĐKT chính là mô hình kinh tế có các liên kết và có quy mô lớn, do vậy, nếu theo xu hướng thứ hai này, các TĐKT cũng ra đời Tóm lại, quy luật cạnh tranh của nền KTTT thực sự có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển các TĐKT

Thứ tư, Tập đoàn kinh tế ra đời phù hợp với quy luật khoa học công nghệ phát triển không ngừng

Như đã nói ở trên, việc tách bạch sự tác động của các quy luật khách quan đến sự hình thành các TĐKT là rất khó và quy luật khoa học công nghệ (KHCN) phát triển không ngừng chính là một quy luật có sự ảnh hưởng tới cả các quy luật còn lại trong việc giải thích tính khách quan của sự ra đời và phát triển TĐKT Bởi lẽ quy luật KHCN phát triển không ngừng là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, tích tụ vốn và ảnh hưởng đến sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường

Dưới tác động của các cuộc cách mạng KHCN từ những thập niên 60 của thế kỷ XX, khoa học kỹ thuật đã có bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng cho ra đời các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, phục vụ cho sản xuất kinh doanh Việc TĐKT ra đời không chỉ do sự phát triển KHCN mà còn tác động trở lại sự phát triển này, làm cho nền KHCN ngày càng tiến bộ Không khó để hiểu điều này, việc phát triển KHCN ngày càng cần nhiều sự đầu tư tiền của

và chỉ có những chủ thể kinh doanh lớn mạnh mới có khả năng đầu tư để cho

ra đời những công nghệ mới có tính ứng dụng cao Bên cạnh đó, các DN kinh doanh về lĩnh vực công nghệ khoa học cũng ra đời nhưng cũng đòi hỏi nguồn

Trang 22

19

vốn lớn để đầu tư nghiên cứu, từ đó, các liên kết xuất hiện giải quyết vấn đề

về nguồn vốn và quy mô kinh doanh lĩnh vực này Có thể nói, tiến bộ khoa học, công nghệ vừa là tiền đề, vừa là nhu cầu, vừa là hệ quả hình thành các TĐKT, đồng thời cũng là nhân tố quan trọng để mỗi DN, mỗi tập đoàn giành thắng lợi trong cạnh tranh bằng việc ứng dụng tiến bộ công nghệ vào sản

xuất

1.1.2.2 Các con đường hình thành các Tập đoàn kinh tế trên thế giới

Nói đến quá trình hình thành TĐKT trên thế giới cũng có nghĩa là nói đến việc khái niệm này đã ra đời như thế nào, điều đó cũng đồng nghĩa với quá trình các TĐKT trên thế giới đã hình thành bằng cách nào và ra sao Việc luận giải về quá trình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu đặc điểm, vai trò và cũng ảnh hưởng cả đến cả các quan điểm về khái niệm TĐKT được đưa ra Sự ra đời của TĐKT luôn được khẳng định là mang tính tất yếu khách quan, phù hợp với các quy luật kinh tế - xã hội và thực sự phải quay lại lịch sử mới có thể chứng minh được khẳng định này

Trước hết, quá trình hình thành TĐKT gắn liền với quá trình hình

thành các mối liên kết kinh tế, bắt đầu từ đơn lẻ đến liên kết phức tạp, từ quy

mô nhỏ đến quy mô lớn, từ đơn sở hữu đến đa sở hữu dưới tác động của các quy luật kinh tế cơ bản Trong cuộc sống nói chung, nhu cầu liên kết với những người xung quanh để thực hiện các nhiệm vụ chung hay nhu cầu chia

sẻ sự khó khăn là rất tự nhiên, tuy nhiên, trong kinh tế, nơi mà lợi ích cá nhân mới là quan trọng nhất thì sự liên kết lại có các lý do rất khác nhau Sự liên kết kinh doanh đầu tiên trên thế giới là ở các công trường thủ công với sự hợp tác giữa các thợ thủ công cùng ngành dưới sự chỉ đạo chung Các người thợ cùng ngành khi hợp tác với nhau đã thực hiện được việc chuyên môn hóa lao động, phân công lao động, đây là bước tiến mới về sản xuất, tăng cường tình hiệu quả trong lao động, qua đó sự tích tụ tư bản cũng được trao dồi mạnh mẽ hơn

Tiếp đó, khi lịch sử mang đến các điều kiện thuận lợi cho nền sản xuất

phát triển, làm thay đổi về lượng và chất của lực lượng sản xuất thì vấn đề

Trang 23

20

thay đổi quan hệ sản xuất lại được đặt ra Cụ thể là các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (diễn ra từ cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19) và lần thứ hai (nửa sau thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20) đã thực sự làm thay đổi phương thức sản xuất của các DN trên thế giới Bên cạnh sự hỗ trợ đắc lực của các cải tiến,

phát minh về KHCN thì môi trường cạnh tranh cũng là một trong các yêu tố

thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh của các DN trên thế giới, tạo cho các DN nhu cầu phối hợp giữa các chủ thể nhằm đạt đến độ tối ưu hóa về sản xuất cũng như tăng sức cạnh tranh trên thị trường Từ liên kết công trường thủ công chuyển sang liên kết chặt chẽ hơn ở hình thức xí nghiệp, nhà máy với tổ chức hoàn thiện hơn, là bước đệm cho các liên kết mạnh mẽ hơn trong giai đoạn

sau này TĐKT với tư cách là một loại hình tổ chức kinh tế, tổ chức kinh doanh, tổ chức liên kết kinh tế, có nghĩa nó là hình thức biểu hiện của quan

hệ sản xuất cần phải ra đời, phát triển để đáp ứng nhu cầu thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất 11 Các liên kết từng bước phát triển nhằm phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất đúng như quy luật lượng chất mà chủ nghĩa Mác – Lê nin đã phân tích Sự hợp nhất, liên kết, phá sản hay sáp nhập của các DN chính là biểu hiện rõ nét nhất về mối liên kết kinh doanh giữa các thể nhân không phải cá nhân Sự kết hợp giữa các DN trên thế giới là bước thay đổi lớn so với sự kết hợp đơn lẻ giữa các thợ thủ công thời kỳ trước

đó Mặc dù sự hợp nhất, liên kết, sáp nhập trong thời kỳ đầu chưa tạo lập được các TĐKT nhưng đó thực sự là sự khởi đầu manh nha cho cấu trúc liên kết vững mạnh này

Trải qua giai đoạn của các liên kết đầu tiên giữa các DN, khi các DN ngày càng lớn mạnh, nhu cầu mở rộng sản xuất, thu hút vốn kinh doanh được đặt ra và hình thức CTCP ra đời được coi là một bước tiến lớn trong lịch sử hình thành các loại hình kinh doanh Lần đầu tiên trong lịch sử, việc một công

ty có thể dễ dàng được sở hữu bởi rất nhiều chủ thể chỉ đơn giản bằng việc mua cổ phần của công ty Chính từ sự góp vốn nhanh gọn, dễ dàng của hình thức CTCP đã tạo điều kiện để các DN tăng quy mô một cách nhanh chóng

11 Đào Xuân Thủy §iÒu kiÖn vµ gi¶i ph¸p h×nh thµnh c¸c TËp ®oµn kinh tÕ ë n−íc ta – qua s¾p xÕp l¹i c¸c Tæng

c«ng ty 91

Trang 24

21

thông qua vốn góp của các nhà đầu tư Cùng với sự phát triển này, yêu cầu phải có một cách thức quản lý phần vốn góp một cách hợp lý được đặt ra, từng bước tách chức năng kinh doanh của DN với chức năng chủ sở hữu

Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hình thức tư bản độc quyền xuất hiện, là biểu hiện cụ thể cho những liên kết của các DN độc lập với nhau tạo nên những DN có quy mô lớn hơn, hoạt động đa ngành trên phạm vi rộng Các tổ chức này không ngừng hoàn thiện và mở rộng các hình thức liên kết Đến những năm 50, trên thế giới đã có nhiều công ty lớn, có mối liên kết đa dạng và xuất khẩu sản phẩm đi nhiều nước, nhưng đó mới chỉ là những hãng lớn trong một quốc gia nhất định Phải đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ TĐKT mới được nhắc đến khi nền KTTT phát triển mạnh, xuất hiện các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia với số vốn lớn, đa ngành, hoạt động trên phạm vi rộng

Như vậy, có thể thấy rằng TĐKT xuất hiện trên thế giới là kết quả của quá trình tích tụ vốn, tái đầu tư, mở rộng sản xuất, những hoạt động như sát nhập, mua bán, thôn tính các công ty cỡ vừa và nhỏ… Hầu hết các TĐKT lớn trên thế giới đều hình thành bằng con đường này Tuy nhiên, nếu đi theo con đường tích tụ vốn lâu dài này, các DN của các nước đang phát triển khó lòng đạt đến trình độ TĐKT có năng lực cạnh tranh cao, quy mô vốn lớn, phạm vi hoạt động rộng Do đó, việc Chính phủ tổ chức những DN quy mô lớn, nắm giữ những lĩnh vực trọng yếu nhằm rút ngắn thời gian hình thành các TĐKT đang là giải pháp phù hợp được nhiều nước đang phát triển lựa chọn Tóm lại, dựa trên thực tế lịch sử và đồng tình với quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế khác, đề tài nhận diện hai con đường chủ yếu hình thành các TĐKT là:

Thứ nhất, TĐKT được hình thành bằng con đường truyền thống: Thông

qua tích tụ, tập trung vốn, các DN mở rộng sản xuất, tái đầu tư, mở rộng quy

mô, lĩnh vực hoạt động, tăng vốn, mở rộng phạm vi, sự liên kết giữa các DN được xây dựng và phát triển thành các tổ hợp…dần dần chiếm lĩnh thị trường Các thành viên đơn lẻ được liên kết với nhau trên nguyên tắc tự nguyện, đảm bảo lợi ích của mỗi DN Các TĐKT hình thành theo con đường truyền thống

Trang 25

22

thường lựa chọn các cách thức sau:

- Các DN đang hoạt động kết hợp lại với nhau bằng cách bán cổ phần cho một công ty mới lập (công ty nắm vốn, tham gia điều hành đối với mỗi

DN khác nhau)

- Một DN có quy mô lớn, tiềm lực mạnh về vốn,… thực hiện đầu tư vốn để lập các công ty con nhằm chiếm lĩnh thị trường (chia nhỏ công ty)

Thứ hai, TĐKT hình thành trên cơ sở đầu tư của Chính phủ: Đầu tiên

Chính phủ đầu tư vốn và thành lập các DN thuộc SHNN, hoạt động trong một

số lĩnh vực trọng yếu hoặc độc quyền nhà nước, sau một quá trình hoạt động, Chính phủ cơ cấu lại khu vực này và mô hình TĐKT là một trong những lựa chọn Cách thức này cần có giai đoạn chuyển tiếp cần thiết và phù hợp, không thể nóng vội, bắt đầu từ việc đa dạng hóa sở hữu, tạo mối liên kết, đầu tư, tổ chức lại theo mô hình mới đến cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy các TĐKT hình thành và phát triển Nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu, đầu tư vốn, can thiệp sâu vào việc thành lập các TĐKT nhưng không thể thay thế chức năng của thị trường trong việc điều tiết các quan hệ kinh tế mà chỉ tạo lập những điều kiện ban đầu nhằm đạt mục tiêu phát triển kinh tế với thời gian ngắn hơn

so với sự phát triển tuần tự theo con đường truyền thống

Mặc dù con đường truyền thống được đánh giá và chứng minh là có nhiều ưu điểm hơn, nhưng thực tế cũng đã khẳng định việc hình thành bằng con đường nào không quyết định sự thành công của TĐKT, nhiều TĐKT trên thế giới ở Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng được hình thành bằng nguồn đầu tư của Chính Phủ và đạt được những thành công lớn Các TĐKT vẫn có thể phát triển nếu có một cơ chế quản lý, một khung pháp lý phù hợp

và thuận lợi Việc các TĐKT hình thành theo con đường nào chủ yếu dựa vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế nhưng sự phát triển của các TĐKT này phải dựa vào nỗ lực bản thân cùng với cơ chế chính sách thích hợp

1.1.3 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế

Để xem xét các đặc trưng cơ bản của TĐKT, đề tài nhìn nhận từ hai

Trang 26

23

phía: nhìn từ hình thức bên ngoài và nhìn vào bản chất bên trong của TĐKT

Nếu nhìn vào hình thức tồn tại của TĐKT, có thể thấy TĐKT có một số đặc điểm như sau:

1.1.3.1 TĐKT thường hoạt động trên phạm vi rộng lớn trong cả nước hoặc

trên nhiều quốc gia

Phần lớn các TĐKT mạnh trên thế giới hiện nay là tập đoàn đa quốc gia hoặc xuyên quốc gia, không chỉ là những tập đoàn lớn mạnh trong nước mà còn mở rộng ra thị trường thế giới với nhiều chi nhánh, công ty con ở nhiều nước khác nhau như: tập đoàn Siemens (Đức) hiện diện tại hơn 190 nước với hơn 600 nhà máy, tổ chức nghiên cứu và văn phòng đại diện; tập đoàn Unilever (Anh) có hơn 500 công ty tại 90 quốc gia trên thế giới, hiện nay, tập đoàn này đang mở rộng thị trường tới châu Phi, châu Á, Bắc Mỹ, Đông Âu và các nước SNG12; hay tập đoàn Microsoft có mặt tại hầu hết các quốc gia và

đặt chi nhánh ở hơn 102 quốc gia (năm 2007) Việc mở rộng phạm vi hoạt

động ra toàn cầu sẽ giúp các tập đoàn có thể khai thác nguyên, nhiên liệu, tận dụng nguồn nhân công rẻ từ các nước đang phát triển và kém phát triển… từ

đó “tối đa hóa lợi nhuận” cho các tập đoàn Có thể ban đầu khi mới hình thành, các tập đoàn chỉ hoạt động trong phạm vi quốc gia, nhưng khi đã lớn mạnh thì hầu hết các tập đoàn đều muốn “vươn ra thế giới”, mở rộng thị trường, mang thương hiệu của tập đoàn đến với người tiêu dùng ở khắp nơi trên thế giới Và đứng ở góc độ của người tiêu dùng thì có thể thấy điều này cũng mang lại lợi ích cho họ khi người tiêu dùng ở một quốc gia nhưng có thể được sử dụng những sản phẩm tốt từ nhiều quốc gia khác nhau với giá cả rất cạnh tranh Đây chính là một bước trong tiến trình mở rộng thương mại quốc

tế, hội nhập kinh tế thế giới

1.1.3.2 TĐKT hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnh vực nhưng thường có một

ngành nghề chủ đạo

Các TĐKT thường sản xuất và đầu tư vào nhiều thị trường sản phẩm

12 s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-h%C3%A0ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-tr%C3%AAn-

http://www.diendanhanghieu.com/showthread.php?446-Unilever-t%E1%BA%ADp-%C4%91%C3%B2an-to%C3%A0n-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi

Trang 27

24

hơn là đầu tư vào một dòng sản phẩm đơn lẻ nhưng chú trọng lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của tập đoàn Các tập đoàn có thể kinh doanh trên các lĩnh vực có liên quan với nhau như tập đoàn Commonwealth Bank cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đầu tư, bảo hiểm, môi giới, và các dịch vụ tài chính khác13; có thể đầu tư đa ngành sang các lĩnh vực khác, như tập đoàn Siemens ngày nay đã trở thành “người khổng lồ” trong lĩnh vực công nghiệp, năng lượng, lĩnh vực y tế 14 ; thậm chí kinh doanh ở những lĩnh vực hoàn toàn mới, không liên quan như kinh doanh bất động sản hay những lĩnh vực mạo hiểm khác nhưng đem lại lợi nhuận cao, điều này tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh của từng tập đoàn nhằm tận dụng tối đa lợi thế và tiềm năng của tập đoàn Vì thế một tập đoàn sẽ có rất nhiều sản phẩm và một cơ cấu đa sản phẩm hợp lý sẽ giúp tập đoàn bao phủ thị trường Mỗi sản phẩm của tập đoàn sẽ có thương hiệu riêng bên cạnh thương hiệu của tập đoàn, tức là đối với một tập đoàn không chỉ có một thương hiệu mà là rất nhiều thương hiệu cùng tồn tại Một ví dụ điển hình phải kể đến câu chuyện của tập đoàn sản xuất hàng tiêu dùng Unilever với hơn 1600 sản phẩm độc lập Khởi nghiệp với sản phẩm đầu tiên là xà phòng, cho đến nay Unilever đã mở rộng ra nhiều loại sản phẩm khác nhau như trà, kem, dầu gội đầu, kem đánh răng, mỹ phẩm, nước giải khát, phụ gia thực phẩm…với các nhãn hiệu được “cả thế giới tin dùng” như Lipton, Magnum, Bertolli, Knorr, Dove, Pond, Signal, Close-up, Surf và Omo15 , trong đó có những sản phẩm mang thương hiệu còn nổi tiếng hơn cả thương hiệu của tập đoàn Bên cạnh những ngành sản xuất kinh doanh, các tập đoàn thường có các

tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các trung tâm nghiên cứu, đào tạo… nhằm phục vụ sự phát triển của chính tập đoàn 16

Tuy nhiên cũng có những tập đoàn chỉ tập trung hoạt động trên một ngành, lĩnh vực nhất định như như Microsoft chuyên cung cấp các sản phẩm

Trang 28

25

thuộc lĩnh vực phần mềm Đây cũng là TĐKT có vốn rất lớn, năng lực giỏi nhưng chỉ hoạt động trong một lĩnh vực hẹp nhằm khai thác lợi thế về chuyên môn và bí quyết công nghệ của tập đoàn

1.1.3.3 TĐKT có quy mô rất lớn về nguồn vốn, nhân lực lao động và doanh

thu

Theo con đường hình thành tự nhiên, các TĐKT trên thế giới phải trải qua hàng trăm năm tích lũy tài chính, tích luỹ kinh nghiệm, tích lũy nhân lực thì mới trở thành “tập đoàn” được, bởi vậy nguồn vốn của các tập đoàn này là rất lớn Bên cạnh đó, nói đến nguồn vốn của tập đoàn không thể không nhắc đến 1 tài sản rất có giá trị, đó là thương hiệu của tập đoàn Không giống như tiền hay các tài sản vật chất khác, thương hiệu tập đoàn là một tài sản vô hình được hình thành qua cả một quá trình lâu dài nhưng trong bối cảnh nền kinh tế và khoa học kỹ thuật thế giới đang phát triển với tốc độ chóng mặt như ngày nay thì đây là loại giá trị vô hình cốt lõi nhất của tập đoàn, bởi thương hiệu giúp cho tập đoàn chuyển đổi các giá trị vô hình thành hữu hình vì thế nó mang lại một giá trị rất lớn cho tập đoàn Theo Danh sách 100 thương hiệu hàng đầu thế giới năm 2008 do tạp chí Business Week và hãng Interbrand công bố, Coca-Cola đứng thứ nhất với giá trị thương hiệu là 66,667 tỷ USD; đứng thứ

2 là IBM với giá trị thương hiệu đạt 59,031 tỷ USD; thứ 3 là Microsoft (59,007 tỷ USD) và thứ 10 là Google (25,590 tỷ USD) Năm 2010, trong bảng xếp hạng thường niên các thương hiệu tốt nhất thế giới do Interbrand công bố, Coca Cola vẫn giữ vững ngôi đầu với giá trị thương hiệu lên tới 70,5

tỷ USD, đứng vị trí thứ 2 và thứ 3 vẫn là IBM (64,7 tỷ USD) và Microsoft (60,9 tỷ USD), nhưng Google đã vươn lên vị trí thứ 4 với giá trị thương hiệu lên tới: 43,6 tỷ USD Có thể nói, với những giá trị khổng lồ này, thương hiệu tập đoàn thực sự là tài sản vô giá và đã đóng góp một phần lớn vào sự thành công của các TĐKT trên thế giới

Về nguồn nhân lực, các tập đoàn với cơ cấu tổ chức gồm nhiều chi nhánh, công ty con ở trong và ngoài nước đã thu hút một số lượng rất lớn người lao động trên khắp thế giới, vì thế có thể gọi đây là “quốc tế hóa lao

Trang 29

26

động” Tập đoàn hoạt động ở đâu đều phải thuê lao động ở đó và có những chính sách ưu đãi để thu hút người tài Fortune cho biết, Wal-Mart có tới 2.100.000 nhân viên làm việc tại hệ thống bán lẻ khổng lồ trải rộng khắp thế giới; hay tập đoàn Unilever có hơn 265 000 nhân viên làm việc trong hơn 500 công ty, tập đoàn Siemens có hơn 300 công ty, chi nhánh ở nước ngoài với hơn 400.000 nhân viên có trình độ chuyên môn cao Doanh thu của TĐKT lớn

là nhờ vào quy mô hoạt động kinh doanh của tập đoàn Như ở trên đã phân tích, các TĐKT lớn trên thế giới thường kinh doanh trên đa ngành, đa lĩnh vực và thường chiếm phần lớn thị phần trong những mặt hàng chủ đạo của tập đoàn đó Ví dụ ngành sản xuất thực phẩm của Unilever đứng thứ hai thế giới

chỉ sau Nestlé và tập doàn này có mức lợi nhuận hàng năm trên toàn cầu vào

khoảng 40 tỷ euro17 Nếu tập đoàn chỉ kinh doanh trong một ngành nghề, lĩnh vực thì đó cũng là lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế với phần lớn thị phần thuộc về tập đoàn, cùng với đó là gía trị to lớn mà thương hiệu của tập đoàn mang lại, thì cũng tạo ra doanh thu rất lớn cho tập đoàn Hơn nữa các TĐKT còn mở rộng phạm vi hoạt động ra toàn cầu, vì thế doanh thu của tập đoàn không chỉ từ nguồn thu trong nước mà còn thu được bằng ngoại tệ ở thị trường nước ngoài Đặc biệt, các nước đang phát triển luôn là một trong những lựa chọn hàng đầu khi các tập đoàn muốn mở rộng phạm vi hoạt động bởi đây là một thị trường đầy tiềm năng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhân công rẻ, và đây cũng là một thị trường tiêu thụ rất lớn, mang lại doanh thu không nhỏ cho các tập đoàn Theo Danh sách 500 công ty có doanh thu lớn nhất thế giới năm 2010 do Tạp chí Fortune công bố, dẫn đầu là tập đoàn Wal-Mart của Mỹ được coi là “đế chế” bán lẻ với doanh thu vượt trội: 408,214 tỷ USD , tiếp theo đó là các tập đoàn dầu lửa như: Royal Dutch Shell của Hà Lan (285,129 tỷ USD), tập đoàn dầu lửa Exxon Mobil của Mỹ (284,650 tỷ USD) 18

Nếu đi sâu vào bản chất bên trong của TĐKT thì có thể xem xét các

17 s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-h%C3%A0ng-ti%C3%AAu-d%C3%B9ng-tr%C3%AAn-

http://www.diendanhanghieu.com/showthread.php?446-Unilever-t%E1%BA%ADp-%C4%91%C3%B2an-to%C3%A0n-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi

18 http://vneconomy.vn/20100709055945563P0C5/walmart-co-doanh-thu-lon-nhat-the-gioi.htm

Trang 30

27

đặc trưng cơ bản của TĐKT trên một số khía cạnh như: hình thức sở hữu; các mối liên kết bên trong; tư cách, địa vị pháp lý của TĐKT

1.1.3.4 TĐKT đa dạng về hình thức sở hữu, thường là sở hữu hỗn hợp

Hiện nay trong các mô hình TĐKT trên thế giới tồn tại nhiều hình thức

sở hữu khác nhau, như: sở hữu tư nhân (phổ biến), các Chaebol của Hàn Quốc thuộc sở hữu gia đình, trong khi ở Việt Nam vẫn tồn tại nhiều tập đoàn thuộc SHNN Bản thân trong một tập đoàn cũng đa dạng về hình thức sở hữu, có thể tồn tại cùng một lúc cả hình thức SHNN, sở hữu tập thể hay sở hữu tư nhân Đặc biệt với hình thức CTCP thì đa dạng hóa hình thức sở hữu càng trở nên

dễ dàng Nắm cổ phần của một công ty trong tập đoàn có thể là Nhà nước, một công ty khác, hay có thể là chính những người lao động trong công ty đó

1.1.3.5 Trong TĐKT tồn tại nhiều mối liên kết giữa các thành viên, trong

đó liên kết về vốn là chủ đạo

TĐKT là một tập hợp gồm nhiều công ty nhưng đó không đơn thuần chỉ là sự kết hợp về hình thức mà bên trong tập hợp đó tồn tại những mối quan hệ liên kết rất chặt chẽ tạo nên một thể thống nhất Nói đến TĐKT đầu tiên ta nghĩ đến đó là một sự liên kết về vốn, trong đó công ty mẹ đầu tư vốn vào công ty con và có sự đầu tư qua lại giữa các thành viên khác trong tập

đoàn Mối liên kết về vốn cũng có hai cấp độ: liên kết chặt chẽ khi công ty mẹ

nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối của công

ty thành viên, khi đó công ty mẹ sẽ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động

của công ty thành viên thông qua tỷ lệ vốn góp chiếm đa số; liên kết lỏng lẻo

khi công ty mẹ chỉ nắm giữ vốn điều lệ của công ty thành viên với tỷ lệ chưa

đủ mức chi phối, với tỷ lệ vốn góp thấp, công ty mẹ chỉ có vai trò như một cổ đông thông thường Bên cạnh liên kết về vốn là liên kết cơ bản, giữa các thành viên trong TĐKT còn có nhiều mối quan hệ khác, như: liên kết về

thương hiệu, công nghệ, thị trường, lao động… Một số công ty không có vốn

góp của công ty mẹ nhưng vẫn được coi là thành viên của TĐKT bởi công ty này tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết; hoặc không

có hợp đồng liên kết nhưng có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế,

Trang 31

28

công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác với công ty mẹ hay với các công ty thành viên trong tập đoàn

1.1.3.6 TĐKT không có tư cách pháp nhân

Như đã khẳng định ở khái niệm, TĐKT chỉ là một tổ hợp các công ty, các công ty thành viên trong tập đoàn đều là pháp nhân, hoàn toàn độc lập, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhưng bản thân TĐKT thì không có tư cách pháp nhân vì một số lý do sau:

- Con đường hình thành TĐKT không giống như các tổ chức có tư cách pháp nhân khác là phải đăng ký thành lập, đăng ký kinh doanh mà đó là sự tập hợp, hợp nhất…các công ty khác nhau thành một tổ hợp thống nhất

- TĐKT không có tài sản độc lập mà tài sản của tập đoàn cũng chính là tài sản của các công ty thành viên, vốn của tập đoàn chủ yếu là nguồn vốn của công ty mẹ

- TĐKT không thể nhân danh mình tham gia bất kỳ quan hệ pháp luật nào mà chỉ thông qua hoạt động của các công ty thành viên và đặc biệt là công ty mẹ

Không có tư cách pháp nhân nên TĐKT không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật mà chính các công ty thành viên phải tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Trách nhiệm này cũng không liên đới mặc dù các thành viên trong TĐKT có quan hệ kinh tế với nhau nhưng hoàn toàn độc lập trước pháp luật

Ngoài những đặc điểm chung của các TĐKT trên thế giới, TĐKT được hình thành ở mỗi nước lại có những điểm đặc thù riêng bị chi phối bởi yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội TĐKT ở Việt Nam cũng có những nét rất đặc trưng:

- Việt Nam chuyển sang KTTT có nhiều thành phần tham gia nên các TĐKT cũng thuộc nhiều chế độ sở hữu khác nhau, trong đó ngoài các TĐKTNN còn có các TĐKT tư nhân ngày càng được khuyến khích phát triển Các TĐKTNN của Việt Nam đang hoạt động trong những ngành kinh tế mũi

Trang 32

29

nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như: điện lực, dầu khí, bưu chính viễn thông, than và khoáng sản Bởi đây là các ngành, lĩnh vực cần nguồn vốn đầu tư lớn mà thời gian thu hồi vốn chậm, do đó chỉ có TĐKTNN với sự đầu tư vốn của Nhà nước mới có thể đủ sức đầu tư vào những lĩnh vực này Còn khối tư nhân thường chỉ muốn đầu tư vào lĩnh vực nào cần nguồn vốn vừa phải nhưng thu hồi vốn nhanh và cho lợi nhuận cao Hoặc có thể họ muốn đầu tư vào các lĩnh vực này nhưng khó thực hiện được do hạn chế về tài chính, kinh nghiệm quản lý, và cũng một phần do cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo điều kiện cho các DN nhà nước được độc quyền trong một số lĩnh vực mà khối tư nhân bị hạn chế đầu tư Một ví dụ điển hình là sự độc quyền của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trong ngành điện: do nguồn vốn đầu

tư ban đầu rất lớn, không phải DN nào cũng có thể dễ dàng tham gia kinh doanh vào lĩnh vực này, vì thế ngay từ đầu, ngành điện nước ta đã được Nhà nước đầu tư vốn, giao cho một DN duy nhất quản lý Do đó, tập đoàn EVN chiếm vị thế độc quyền trong lĩnh vực này

- Quy mô và khả năng tích tụ vốn của các TĐKT Việt Nam còn hạn chế TĐKTNN ở Việt Nam được hình thành từ một Quyết định thành lập mang tính hành chính của Thủ tướng Chính phủ Nhiều khi quy mô vốn còn nhỏ, khả năng tích tụ vốn của các TCT vẫn chậm và yếu, chưa tương xứng với yêu cầu hình thành các TĐKT nhưng đã được Thủ tướng phê chuẩn cho hình thành Có thể thấy, quy mô vốn của các TĐKT ở Việt Nam là khá lớn nếu so sánh với các

DN trong nước, nhưng nếu so với quy mô vốn của một số tập đoàn của một số nước trong khu vực và trên thế giới thì các TĐKT nước ta có số vốn còn quá khiêm tốn Tốc độ tăng quy mô vốn khá cao nhưng không phải thông qua khả năng tích tụ, tập trung vốn hoặc huy động qua thị trường chứng khoán như các tập đoàn trên thế giới mà do được sự đầu tư mạnh từ Nhà nước

- TĐKT của nước ta có phạm vi hoạt động chưa rộng, chỉ giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam mặc dù có một số tập đoàn đã thực hiện đầu tư ra nước ngoài nhưng còn rất hạn chế, như Viettel Group cũng đã đầu tư sang Lào, Campuchia

và hiện đang tiếp tục đầu tư sang các thị trường châu Á, châu Phi và Mỹ

Trang 33

30

Latinh Sở dĩ như vậy là bởi: nguồn vốn phải bỏ ra là rất lớn để có thể nắm được một tỷ lệ phần trăm nhất định trong các dự án ở nước ngoài Với số vốn cần khá lớn này thì cũng rất khó để thuyết phục những cơ quan như tài chính, ngân hàng chấp nhận tài trợ vốn, do đó mức độ rủi ro là không nhỏ Chưa kể, trên thực tế, bản thân các TĐKT cũng chưa làm chủ được nhiều về mặt công nghệ và kỹ thuật, vẫn cần thuê các nhà thầu nước ngoài19 Vì thế, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam dù đã có 30 năm hoạt động trong lĩnh vực tìm kiếm, khai thác và thăm dò dầu khí ở Việt Nam nhưng vẫn rất thận trọng khi đầu tư ra nước ngoài cũng bởi nguồn vốn bỏ ra là rất lớn (ví dụ: phải bỏ ra khoảng gần

1 tỷ USD góp vốn ban đầu để nắm tỷ lệ là 30% trong một dự án khai thác than ở Úc hoặc Indonesia) Một số dự án thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài có được do quan hệ tốt giữa Việt Nam với các quốc gia có mỏ cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình triển khai như thu xếp vốn, tỷ giá hối đoái,

kỹ thuật…20 Hay như tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai nổi tiếng với nhiều lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam trong đó có đầu tư vào bất động sản, nhưng cũng không mạnh tay khi tiến công vào thị trường bất động sản tại Thái Lan Lý do

là bởi thị trường bất động sản ở Thái Lan đã phát triển nhiều năm với các chế tài và quy định khá rõ ràng nên không có nhiều cơ hội thu lợi cho nhà đầu tư Việt Nam

- Sự liên kết giữa các thành viên trong TĐKT chưa cao, chưa thể hiện được bản chất kinh tế của TĐKT Ở Việt Nam, như đã trình bày ở trên, TĐKTNN được hình thành từ các TCTNN, mà trong các TCTNN thì sự chi phối của TCT đối với đơn vị thành viên mang tính hành chính, mệnh lệnh Do đó, quan hệ giữa các thành viên trong TĐKT ở Việt Nam vẫn còn mang bóng dáng của quan hệ hành chính, khác hẳn các TĐKT trên thế giới với quan hệ được xác lập trên cơ sở đầu tư vốn và lợi ích kinh tế của cả tập đoàn

Ngoài ra, các quan hệ liên kết khác như: thị trường, công nghệ giữa các thành viên trong TĐKT cũng chưa thực sự chặt chẽ và rõ nét Ở một số tập đoàn

19 http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=384

20 http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=384

Trang 34

31

vẫn còn tình trạng cạnh tranh nội bộ, bằng nhiều biện pháp khác nhau đã làm mất

uy tín sản phẩm của DN và ảnh hưởng đến thương hiệu của toàn tập đoàn, ví dụ như đoàn dệt may Việt Nam gồm các công ty trong cùng lĩnh vực với hệ thống sản phẩm khá giống nhau, cùng khai thác trên thị trường tiêu thụ, cùng hướng tới một nhóm đối tượng khách hàng đã dẫn đến những cạnh tranh thiếu lành mạnh không chỉ ở trong nước, ảnh hưởng đến thương hiệu và uy tín của cả tập đoàn21

1.1.4 Vai trò của các Tập đoàn kinh tế

Khi nói một sự vật hiện tượng nào ra đời là tất yếu hay khách quan cũng có nghĩa là nó ra đời mang theo sứ mệnh của mình, có những vai trò đặc biệt đối với xã hội Sự ra đời của TĐKT là phù hợp với quy luật khách quan

và nó ra đời với những vai trò to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế thế giới Vai trò của TĐKT được thể hiện trên nhiều phương diện:

Thứ nhất, mô hình TĐKT làm gia tăng sức mạnh cạnh tranh của cả Tập đoàn và các công ty thành viên Mô hình TĐKT hiện nay đang là mô

hình liên kết kinh tế tiên tiến và có sức mạnh nhất Với đặc điểm là mô hình

có quy mô lớn, nguồn lao động dồi dào, thị trường và công nghệ vượt trội, các TĐKT có một vị thế khác biệt so với các DN kinh doanh cùng loại Khi các công ty quyết định liên kết với nhau cùng hợp tác trong mô hình TĐKT hoặc khi các công ty lớn sáp nhập, mở mới các công ty con, điều đầu tiên các công

ty hướng đến là lợi ích, đối với mô hình TĐKT, lợi ích đến với cả Tập đoàn

và cả từng công ty thành viên Các công ty thành viên trong Tập đoàn được

hỗ trợ phát triển thông qua thương hiệu của Tập đoàn, hỗ trợ về vốn, lao động

và các hoạt động đào tạo quản lý….Những hỗ trợ này là tạo ra điều kiện và động lực, môi trường thuận lợi giúp các DN thành viên của TĐKT phát triển nhanh và bền vững

Thứ hai, mô hình TĐKT tạo nên sức mạnh kinh tế quốc gia Không

chỉ mang lại điều kiện thuận lợi để cả Tập đoàn và các DN thành viên phát triển mạnh mẽ, TĐKT còn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế quốc

21 Xây dựng và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam, TS Bùi Văn Huyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2008

Trang 35

32

dân Ở tất cả các quốc gia, các TĐKT lớn mạnh luôn có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của đất nước Các Tập đoàn lớn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước ở các khía cạnh như: thuế thu nhập, góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế mà các Tập đoàn này còn là trụ cột của nền kinh tế, thúc đẩy

sự cạnh tranh và góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức sống của người dân Đây là những vai trò không thể phủ nhận mà các TĐKT đã và đang mang lại cho các quốc gia Đối với các nước đang phát triển mà nền công nghiệp còn non yếu, manh mún nhỏ lẻ thì các TĐKT càng có những vai trò đặc biệt quan trọng, nó là biện pháp hữu hiệu chống lại sự thâm nhập ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới Đó cũng là lý do vì sao nhiều quốc gia lựa chọn con đường tắt để hình thành các TĐKT bằng cách dùng ngân sách nhà nước đầu tư các T ĐKT nhà nước nắm giữ những lĩnh vực trọng yếu Thực tế cũng chứng minh rằng, nhều quốc qua có định hướng chiến lược đúng đắn đã thành lập nhiều TĐKT giúp cho sản xuất trong nước đứng vững và từng bước vươn ra các thị trường khu vực và thế giới

Thứ ba, mô hình TĐKT thúc đẩy quá trình nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh Bên cạnh

việc khoa học - công nghệ là một lý do thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền sản xuất nói chung và mô hình TĐKT nói riêng thì cũng phải thừa nhận rằng, việc ra đời các TĐKT với nội lực kinh tế rất lớn là một điều kiện thuận lợi cho các thành tựu khoa học - công nghệ mới tiếp tục được ra đời và ứng dụng hiệu quả Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ mới ngày càng đòi hỏi một khối lượng vốn lớn trong khi các công ty riêng lẻ không có khả năng chi trả cho hoạt động này thì TĐKT lại sẵn sàng đầu tư Bên cạnh đó, việc áp dụng các công nghệ mới ở TĐKT nhanh chóng thu hồi vốn khi nó được áp dụng trong phạm vi mạng lưới lớn các công ty con Một

lý do nữa là môi trường liên kết của các TĐKT tạo điều kiện thuận lợi để các

đề tài nghiên cứu và sự hợp tác nghiên cứu được diễn ra có hiệu quả Có thể nói, mối quan hệ giữa KHCN và TĐKT có tính biện chứng rất rõ nét, sự phát triển của cái này thúc đẩy sự phát triển của cái kia và ngược lại

Trang 36

33

Thứ tư, mô hình TĐKT thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thế giới

Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, việc các DN các nước đầu tư và hoạt động ở các quốc gia khác không còn là một câu chuyện lạ lẫm nữa, nhưng cần nhận thấy rằng chỉ có các tổ chức kinh tế thực sự mạnh mới có thể hoạt động trên phạm vi vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ một nước như vậy, và các TĐKT đã là chủ thể tiên phong cho các hoạt động đầu tư, tìm kiếm thị trường

để cho ra đời các TĐKT đa quốc gia, xuyên quốc gia Những hoạt động đầu

tư nước ngoài không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân tập đoàn và các thành viên mà còn là yếu tố thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại nói riêng và các quan hệ ngoại giao khác, bao gồm cả chính trị, để từ đó tác động đến các chính sách thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Chính việc tăng cường đầu

tư ra nước ngoài đã thúc đẩy các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn này, nhất là với các quốc gia đang phát triển có điều kiện nâng cao năng lực sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu nhập quốc dân, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TRONG TẬP ĐOÀN KINH

TẾ

1.2.1 Địa vị pháp lý của các thành viên

TĐKT bao gồm một công ty mẹ, các công ty con và công ty liên kết Trong đó:

- Công ty mẹ (parent company): được coi là công ty “hạt nhân” trong tập đoàn, quyết định thành lập và đầu tư vốn vào các công ty con Công ty mẹ

là công ty sở hữu một lượng “cổ phần có quyền biểu quyết” (voting share) trong công ty khác đủ để nắm quyền quản lý và điều hành công ty đó bằng cách bầu ra hoặc chi phối, tác động đến Ban giám đốc22

- Công ty con (subsidiary): Theo khái niệm chung, Công ty con là một thực thể pháp lý chịu sự kiểm soát của một thực thể pháp lý độc lập khác (gọi

là Công ty mẹ), sự kiểm soát đó là do công ty mẹ nắm trên 50% “cổ phần có quyền biểu quyết” ở Công ty con, nói cách khác, Công ty mẹ nắm trên 50%

22 http://en.wikipedia.org/wiki/Parent_company

Trang 37

34

vốn điều lệ của Công ty con Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu sự hình

thành và các quan hệ trong TĐKT, có thể đưa ra khái niệm đầy đủ hơn: Công

ty con là những DN trong tập đoàn được thành lập và đăng ký theo pháp luật,

có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng, có một Công ty mẹ kiểm soát, chi phối

và tự nguyện chấp nhận sự kiểm soát, chi phối của Công ty mẹ theo những nguyên tắc và phương thức được thống nhất 23

- Công ty liên kết (associate company) là công ty bị công ty khác nắm giữ một lượng lớn “cổ phần có quyền biểu quyết”, thường từ 20-50%, tức là Công ty mẹ nắm dưới 50% vốn điều lệ của Công ty liên kết Công ty liên kết

có các Ban quản trị phối hợp (thành viên ban quản trị này có thể nằm trong thành viên Ban quản trị của công ty khác) để đảm bảo có một chính sách chung và một mục tiêu hài hòa24 Các công ty liên kết này có thể liên kết với Công ty mẹ hoặc với các Công ty con của tập đoàn và dưới các hình thức như:

có số vốn góp dưới mức chi phối của Công ty mẹ hoặc Công ty con; không có vốn góp của Công ty mẹ hoặc Công ty con nhưng tự nguyện tham gia liên kết dưới hình thức hợp đồng liên kết; hoặc không có hợp đồng liên kết nhưng có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác với công ty mẹ hoặc DN thành viên trong tập đoàn Công ty liên kết có cổ phần, vốn góp không ở mức chi phối của Công ty mẹ (dưới 50%) thì Công ty mẹ chỉ được coi là một nhà đầu tư của Công ty liên kết, có quyền tham gia vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính cũng như các hoạt động của Công ty liên kết nhưng không kiểm soát (không

có quyền chi phối) các chính sách và hoạt động của công ty đó Như vậy, với các công ty liên kết thì quyền của Công ty mẹ hạn chế hơn hẳn so với các Công ty con Trong nhiều trường hợp, Công ty mẹ chỉ tham gia vào việc hoạch định chiến lược và hỗ trợ Công ty liên kết ở một số lĩnh vực như thị trường, công nghệ, thương hiệu hoặc quản lý tùy theo thỏa thuận giữa Công

ty mẹ với Công ty liên kết

23 Hình thành tập đoàn kinh tế theo mô hình Cty mẹ - Cty con: Những vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi,

http://www.baoxaydung.vn/Main.aspx?MNU=1115&Style=1&ChiTiet=16371

24 http://www.businessdictionary.com/definition/associate-company.html

Trang 38

35

Trong các TĐKT lớn thường có cả các Công ty con và Công ty liên kết

Tỷ lệ vốn góp của Công ty mẹ vào các công ty trong tập đoàn là tiêu chí cơ bản để phân biệt giữa Công ty con và Công ty liên kết Vì vậy, do sự biến động về vốn đầu tư của Công ty mẹ, một Công ty con có thể trở thành Công

ty liên kết nếu số vốn góp của Công ty mẹ vào Công ty con đó bị chuyển nhượng mà giảm đến dưới 50% vốn điều lệ Ngược lại, một Công ty liên kết cũng có thể trở thành Công ty con nếu Công ty mẹ tăng thêm nguồn vốn đầu

tư vào công ty đó

1.2.2 Cơ chế điều hành trong Tập đoàn kinh tế

TĐKT là một tập hợp nhiều công ty thành viên nhưng đây không phải chỉ là sự tập hợp đơn thuần về mặt số lượng mà tất cả các thành viên này tạo thành một thể thống nhất, cùng có chung một tầm nhìn, một hướng đi, một chính sách chung nhằm hướng tới sự phát triển chung của cả tập đoàn Vì thế tập đoàn cũng có một cơ cấu điều hành riêng, lãnh đạo hoạt động của cả tập đoàn nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập đoàn

Ban lãnh đạo điều hành tập đoàn bao gồm:

- Chủ tịch tập đoàn (Chairman) và các Phó Chủ tịch (Vice Chairman);

- Ban Giám đốc (Board of director) gồm: Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer) và các Phó giám đốc (Executive Vice President)

- Dưới Ban giám đốc là các Ban chuyên môn giúp việc như: tài chính

và ngân quỹ, phát triển kinh doanh và chiến lược, quản trị nhân sự…

Đặc biệt, đa số các tập đoàn lớn trên thế giới là các tập đoàn xuyên quốc gia, vì thế tập đoàn có chi nhánh ở nhiều quốc gia và đứng đầu mỗi chi nhánh này là Chủ tịch (President), ví dụ như Chủ tịch Unilver Viet Nam; hay chia thành từng khu vực như tập đoàn General Motors (GM) với “President,

GM South America”, “President, GM Europe”, “President, GM North America”25 Trách nhiệm của Ban lãnh đạo là điều hành công việc nội bộ cũng như công việc bên ngoài của tập đoàn, bên cạnh tiến hành tốt công việc

25 http://www.gm.com/corporate/about/officers.jsp

Trang 39

36

kinh doanh bên ngoài, Ban lãnh đạo còn có trách nhiệm lãnh đạo các nhân viên của tập đoàn đi theo một mục tiêu chung Đặc biệt, tập đoàn là một tập hợp các công ty thành viên có các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bởi vậy, Ban lãnh đạo có vai trò quan trọng trong việc đề ra định hướng, chính sách phát triển chung cho cả tập đoàn nhằm đạt tới mục tiêu chung

Trong việc điều hành của cả tập đoàn thì Công ty mẹ có vai trò rất quan trọng Công ty mẹ bỏ vốn vào các Công ty con, cử đại diện của mình vào Ban lãnh đạo của các Công ty con; người này có quyền quyết định theo

số vốn mà Công ty mẹ nắm giữ Công ty mẹ phải nắm đa số quyền biểu quyết, nếu không phải nắm cổ phần ưu đãi biểu quyết để làm cho chính sách của công ty mẹ được thực hiện tại từng Công ty con Công ty con là một thực thể pháp lý độc lập, có quyền ra các quyết định, tuy nhiên các quyết định này phải ăn khớp với các công ty khác trong tập đoàn dựa trên quyết định chung của Công ty mẹ để tránh sự mâu thuẫn trong nội bộ tập đoàn Ngoài ra các Công ty con có thể sử dụng tài sản, dịch vụ và hàng hóa của nhau và của Công ty mẹ thông qua các hợp đồng ký giữa các thành viên này với nhau

1.3 LIÊN KẾT TRONG TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.3.1 Liên kết về tài chính

Liên kết tài chính là liên kết chủ yếu, cơ bản nhất trong TĐKT Có thể xem xét liên kết tài chính giữa các thành viên trên hai phương diện : đầu tư vốn, tín dụng và phân phối lợi nhuận

™ Quan hệ đầu tư vốn: đây là quan hệ đặc trưng nhất trong TĐKT, với nghĩa đầu tư là góp vốn trực tiếp vào vốn điều lệ chứ không phải quan hệ cho vay

Theo cơ chế đầu tư vốn, trên thế giới có các mô hình tập đoàn như: TĐKT đơn cấp, TĐKT đồng cấp, TĐKT đa cấp, hoặc TĐKT hỗn hợp Trong mỗi mô hình này thì quan hệ đầu tư vốn giữa các thành viên là khác nhau Ở

mô hình TĐKT đơn cấp, Công ty mẹ và Công ty con chỉ đầu tư xuống một

cấp trực tiếp, không đầu tư xuống cấp xa hơn, tức là Công ty mẹ chỉ đầu tư

Trang 40

37

xuống Công ty con cấp I, công ty con cấp I chỉ đầu tư vào công ty con cấp

II… Trong mô hình TĐKT đồng cấp, các công ty trong cùng một cấp ( cấp I, cấp II, III…) đầu tư qua lại lẫn nhau Với mô hình TĐKT đa cấp, Công ty mẹ

vừa đầu tư trực tiếp vào các công ty con cấp I vừa đầu tư trực tiếp vào các công ty con cấp II, cấp III…; công ty con cấp I đầu tư vào công ty con cấp II,

cấp III… Còn mô hình TĐKT hỗn hợp là phối hợp nhiều hình thức đầu tư

trên

Vậy, tổng hợp lại, giữa Công ty mẹ và các công ty thành viên trong

TĐKT có thể có các quan hệ đầu tư như: đầu tư xuôi từ công ty ‘cấp trên”

xuống các công ty cấp dưới ( bao gồm cả hình thức đầu tư chéo từ công ty cấp

trên vào công ty con của một công ty cùng cấp khác với công ty đầu tư); đầu

tư ngược từ công ty “cấp dưới” vào công ty ‘cấp trên”; và đầu tư ngang giữa

các công ty cùng cấp với nhau Với sự phát triển mạnh của thị trường tài chính thì các TĐKT hiện nay thường áp dụng kết hợp nhiều hình thức đầu tư trên, tạo nên mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong tập đoàn Ta có

sơ đồ mô hình đầu tư vốn giữa các thành viên trong tập đoàn như sau:

Chú giải: đầu tư xuôi

đầu tư ngang

Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy: Công ty “cấp trên” có thể đầu tư vào các

Công ty con cấp II-b Công ty con cấp

II-a

Ngày đăng: 17/04/2014, 01:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ mô hình đầu tư vốn giữa các thành viên trong tập đoàn như sau: - Phát triển các tập đoàn kinh tế ở việt nam   những vấn đề lý luận và thực tiễn
Sơ đồ m ô hình đầu tư vốn giữa các thành viên trong tập đoàn như sau: (Trang 40)
Hình 2.1: So sánh mô hình của TĐKT Việt Nam với TĐKT nước ngoài - Phát triển các tập đoàn kinh tế ở việt nam   những vấn đề lý luận và thực tiễn
Hình 2.1 So sánh mô hình của TĐKT Việt Nam với TĐKT nước ngoài (Trang 76)
Sơ đồ mô hình đầu tư vốn giữa các thành viên trong tập đoàn như sau: - Phát triển các tập đoàn kinh tế ở việt nam   những vấn đề lý luận và thực tiễn
Sơ đồ m ô hình đầu tư vốn giữa các thành viên trong tập đoàn như sau: (Trang 187)
Bảng 1: Vốn điều lệ của các TĐKTNN (tính đến 1/7/2010) - Phát triển các tập đoàn kinh tế ở việt nam   những vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 1 Vốn điều lệ của các TĐKTNN (tính đến 1/7/2010) (Trang 209)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w