Chăn nuôi trang trại, công nghiệp bước đầu hình thành và phát triển, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ những tồn tại như chăn nuôi ở quy mô nhỏ, phân tán và mang tính tận dụng; giá thành sản phẩm
Trang 1Vụ Thị trường trong nước
Báo cáo tổng kết đề tài:
Nghiên cứu xây dựng giải pháp phát triển
thị trường thức ăn chăn nuôi
Cnđt: Nguyễn Xuân Chiến
8521
Hà nội – 2010
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu Đề tài
Chăn nuôi là một ngành quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, một trong những ngành chính tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân nông thôn Trong những năm vừa qua ngành chăn nuôi đạt được một số kết quả về mức độ tăng trưởng, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp tăng dần Chăn nuôi trang trại, công nghiệp bước đầu hình thành
và phát triển, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ những tồn tại như chăn nuôi ở quy mô nhỏ, phân tán và mang tính tận dụng; giá thành sản phẩm chăn nuôi cao (do giá thức ăn chăn nuôi cao hơn từ 10 đến 15% so với các nước trong khu vực,
hệ số sử dụng thức ăn chăn nuôi thấp, chi phí thú y còn ở mức cao ); dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường vẫn chưa được kiểm soát tốt, hệ thống thông tin dự báo và khả năng kiểm soát sản xuất, thị trường đối với nguyên liệu và sản phẩm chăn nuôi còn nhiều bất cập; chất lượng và
vệ sinh an toàn thực phẩm thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu
Theo định hướng Chiến lược phát triển của ngành chăn nuôi đến năm 2020
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 10/2008/QĐ – TTg ngày 16 tháng 1 năm 2008, năm 2010 tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp dự kiến sẽ chiếm khoảng 32%, đến 2015 là 38%, năm 2020 là 42%,với tốc độ tăng trưởng đạt 6 - 7%/năm
Ngoài ra, theo mục tiêu phát triển đàn gia súc, gia cầm đến năm 2015: đàn
bò sữa đạt 200.000 con, cung cấp 350.000 tấn sữa, đáp ứng 30% nhu cầu trong nước; sẽ có 9,0 triệu con bò thịt, đạt 310.000 tấn thịt; đàn trâu sẽ là 3,1 triệu con với 72.800 tấn thịt; đàn lợn lớn nhất với 36,9 triệu con, 4,2 triệu tấn thịt, đàn gia cầm lên đến 397,3 triệu con, đạt 2,256 triệu tấn thịt
Bên cạnh đó, với sự tăng trưởng đều của nền kinh tế Việt Nam, thu nhập bình quân đầu người cũng liên tục gia tăng hàng năm, dẫn tới cơ cấu tiêu dùng thực phẩm của dân cư cũng thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ lệ tiêu thụ gia súc, gia cầm Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi theo phân tích ở trên dẫn tới nhu cầu thức ăn chăn nuôi (TĂCN) cũng tăng trưởng theo Thực tế những năm vừa qua cho thấy nhu cầu TĂCN tăng khoảng 7%-8% một năm, cụ thể là năm 2008 nhu cầu TĂCN là 14,6 triệu tấn, ước tính năm 2010 nhu cầu khoảng 18,6 triệu tấn và đến năm 2015 là 24,2 triệu tấn
Trang 3Đối với TĂCN thành phẩm, do nguồn cung TĂCN sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 50% nên khối lượng còn lại phải nhập khẩu Bên cạnh đó, ngành TĂCN cũng phải nhập khẩu lượng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất là khá lớn Hiện nay, nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 70%
so với nhu cầu, số còn lại khoảng 30% phải nhập khẩu (trong đó khoảng 20% nguyên liệu giàu năng lượng, 80% các loại thức ăn bổ sung, 60%-70% thức ăn giàu đạm và hơn 90% chất phụ gia là phải nhập khẩu) Theo số liệu thống kê, kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu về Việt Nam liên tục tăng trong những năm gần đây, cụ thể năm 2009 đạt trên 1,8 tỷ USD, tăng 3% so với năm
2008, tăng 52% so với năm 2007 và tăng tới 144% so với năm 2006
Việt Nam là một nước nông nghiệp nhưng ngành sản xuất TĂCN đang gặp phải nghịch lý khi không chủ động được nguồn nguyên liệu chủ chốt có nguồn gốc từ nông nghiệp như ngô, khô dầu đậu tương, bột cá, thức ăn thô xanh hầu hết các loại thức ăn bổ sung, vitamin, bột xương đều phải nhập khẩu với giá cao Hiện cả nước có khoảng trên 200 doanh nghiệp sản xuất TĂCN với công suất khoảng 13,5 triệu tấn/năm, trong đó trên 97% doanh nghiệp tư nhân
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 3%
Do không chủ động được nguồn nguyên liệu sản xuất TĂCN và phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, dẫn đến giá TĂCN của Việt Nam liên tục tăng cao trong những năm gần đây vì phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của giá nguyên liệu thế giới, đây cũng là nguyên nhân làm cho giá cả thị trường thực phẩm tăng cao
Theo Thông tư số 104/2008/TT-BTC ngày 13 tháng 11 năm 2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 75/2008/NĐ-CP ngày 9 tháng 6 năm 2008 và Thông
tư số 122/2010/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 104/2008/TT-BTC về việc thực hiện bình ổn giá hàng hoá, dịch vụ; Theo Quyết định số 116/2009/QĐ-TTg ngày 29 tháng 9 năm 2009 về việc bổ sung danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá, mặt hàng TĂCN nằm trong danh mục mặt hàng, dịch vụ thực hiện bình ổn giá Tuy nhiên xét về mặt dài hạn, để bình ổn thị trường, ổn định giá cả ở mức hợp lý thì phải có các biện pháp nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế, giảm chi phí sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển
Việc đề xuất và nghiên cứu Đề tài “Nghiên cứu xây dựng giải pháp phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi” là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với việc bình ổn thị trường thức ăn chăn nuôi Kết quả nghiên cứu của Đề tài là cơ sở giúp Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương xây dựng cơ
Trang 4chế, chính sách, giải pháp nhằm thực hiện tốt chiến lược phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020, điều này cũng là căn cứ cho các doanh nghiệp trong ngành TĂCN xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh trang, giảm giá thành sản phẩm nhằm phục vụ tốt nhu cầu thị trường, hỗ trợ ngành chăn nuôi trong nước phát triển, đồng thời góp phần bình ổn thị trường một số mặt hàng thiết yếu như nông sản thực phẩm
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến mặt hàng TĂCN như:
- Chương trình hợp tác với Bỉ về nghiên cứu thức ăn gia súc invitro và insacco, 2001
- Viện Chăn Nuôi, Dự án Nghiên cứu sử dụng các nguồn nguyên liệu tại chỗ làm thức ăn gia súc và phân tích hệ thống chăn nuôi bền vững (SAREC/SIDA), 2002
- Viện Chăn nuôi, Dự án "Tăng cường sử dụng tốt hơn nguồn phụ phẩm
nông nghiệp làm thức ăn gia súc Việt Nam” (NUFU Nauy), 2004
- Th s Lê Thị Thanh Lan, “Phân tích cầu về thức ăn chăn nuôi (TĂCN) ở
Các nghiên cứu đã cho chúng ta thấy được một bức tranh toàn cảnh khá
rõ nét về thực trạng phát triển của ngành chăn nuôi và sản xuất TĂCN của Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào về định hướng phát triển thị trường TĂCN Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo Do đó, việc đề
xuất nghiên cứu Đề tài “Nghiên cứu xây dựng giải pháp phát triển thị
Trang 5trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam” mang tính thời sự và có ý nghĩa cả về
mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài
- Đánh giá thực trạng ngành chăn nuôi Việt Nam (chủ yếu đánh giá chăn nuôi lợn, chăn nuôi bò và chăn nuôi gia cầm) trong giai đoạn vừa qua và định hướng trong thời gian tới để qua đó thấy được tiềm năng và nhu cầu phát triển thị trường TĂCN
- Phân tích, đánh giá thực trạng về sản xuất, xuất nhập khẩu, thị trường tiêu thụ, tổ chức quản lý hệ thống phân phân phối, đồng thời đánh giá những yếu
tố ảnh hưởng đến thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh TĂCN ở Việt Nam
- Làm rõ xu hướng phát triển và đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường TĂCN ở Việt Nam
4 Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu sự phát triển của ngành chăn nuôi
dẫn tới nhu cầu về TĂCN, tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu, thị trường, tiêu thụ, hệ thống phân phối và xu hướng phát triển của ngành giữa sản xuất TĂCN trong mối tương quan với sự phát triển của ngành chăn nuôi, từ đó xác định rõ đối tượng nghiên cứu của Đề tài là thị trường và hệ thống phân phối TĂCN tại Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận chung
là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, từ cụ thể đến khái quát,
Đề tài đã sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, so sánh, tổng hợp, mô hình hóa, khảo sát thực tế, hội thảo lấy ý kiến chuyên gia vào việc nghiên cứu và triển khai thực hiện Đề tài
Ngoài ra, Đề tài đã sử dụng phương pháp thống kê toán học thông qua
kỹ thuật lọc dữ liệu trong Excel để xử lý số liệu báo cáo thu thập được làm
cơ sở cho việc tổng hợp, đánh giá về mặt định lượng và định tính
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Thị trường TĂCN của Việt Nam và một số nước được
lựa chọn để nghiên cứu kinh nghiệm
+ Về thời gian: Nghiên cứu thị trường TĂCN giai đoạn 2000 - 2010 đưa
ra giải pháp phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
Trang 65 Kết cấu của Đề tài
Đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Thực trạng ngành chăn nuôi ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng về thị trường thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi ở
Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020
Trang 7Chương 1 THỰC TRẠNG NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM 1.1 THỰC TRẠNG CƠ CẤU TỔ CHỨC CHĂN NUÔI VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH CHĂN NUÔI Ở VIỆT NAM
1.1.1 Đặc điểm, vai trò của ngành chăn nuôi đối với nền kinh tế
Chăn nuôi là một ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng
phát triển nhanh về số lượng và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thịt, cá, trứng, sữa… Sản phẩm của ngành chăn nuôi còn là nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (tơ tằm, lông cừu, da), công nghiệp thực phẩm, xuất khẩu Sự phát triển và phân bố của ngành chăn nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiện tự nhiên, dịch bệnh trên vật nuôi, chính sách phát triển ngành, nguồn thức ăn cho vật nuôi Thức ăn cho vật nuôi ngoài nguồn thức ăn tự nhiên thì phần lớn thức ăn do ngành trồng trọt cung cấp, nhờ những thành tựu về khoa học và công nghệ, nguồn thức ăn cho vật nuôi được cải thiện về năng suất và chất lượng Thức
ăn cho gia súc, gia cầm sản xuất theo phương pháp công nghệp hiện đại, đa dạng về chủng loại tạo điều kiện cho phát triển ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp
Vai trò của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp: Việt Nam là một nước
nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, từ chỗ thiếu lương thực đến nay trở thành quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới - trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới với sản lượng trên 5 triệu tấn/năm Nông nghiệp Việt Nam có vai trò quan trọng và góp phần hỗ trợ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng nhanh Thành tựu của nông nghiệp Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua là do kết quả của chính sách mở cửa và đổi mới nền kinh tế Chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo của nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, ngành chăn nuôi cũng dần khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu phát triển nông nghiệp Việt Nam Trong những năm gần đây, đời sống được cải thiện, tốc độ tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi tăng nhanh, việc sử dụng thực phẩm ngày càng tăng cao, bình quân sản lượng thịt hơi/người/năm tăng 2 lần trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2008 Nếu nhu cầu sản phẩm chăn nuôi vẫn duy trì với tốc độ như hiện nay
Trang 8sẽ tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi Việt Nam phát triển, thu hút nhiều dự án trong và ngoài nước tiến tới hòa nhập với sự phát triển ngành chăn nuôi của các nước trong khu vực và trên thế giới Ngành chăn nuôi Việt Nam đang từng bước chuyển dần sang mô hình phát triển chăn nuôi quy mô trang trại, công nghiệp
và sự phát triển của ngành chăn nuôi sẽ thúc đẩy một số ngành khác như: ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, thuốc thú y, chế biến sản phẩm chăn nuôi cùng phát triển Hiện nay, do hạn chế về quỹ đất dành cho chăn nuôi và nguyên liệu chế biến thức ăn trong nước thiếu đã ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển chăn nuôi của Việt Nam Mặc dù là một nước nông nghiệp nhưng ngành chăn nuôi nước ta vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu thức ăn nhập khẩu, điều này
đã ảnh hưởng đến năng suất, giá thành chăn nuôi Đồng thời việc phát triển chăn nuôi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường nhằm phát huy thế mạnh của từng vùng, từng địa phương kết hợp với xúc tiến thương mại vượt qua các khó khăn, thách thức để ngành chăn nuôi Việt Nam ngày càng phát triển
Cùng với sự phát triển không ngừng của nông nghiệp Việt Nam giai đoạn
2005 - 2008, ngành chăn nuôi nuôi Việt Nam cũng phát triển rất mạnh mẽ, giá trị sản phẩm chăn nuôi không ngừng tăng, năm 2005 là 42,5 nghìn tỷ đồng, đến năm 2008 là 97,9 nghìn tỷ đồng - tăng 116% so với năm 2005
1.1.2 Thực trạng của ngành chăn nuôi Việt Nam
1.1.2.1 Chăn nuôi gia súc, gia cầm
- Về chăn nuôi Bò: Chăn nuôi bò được Nhà nước, đặc biệt Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (BNN & PTNT) chú trọng phát triển Gần 70% tổng đàn bò cả nước là Bò Vàng địa phương được phân bố trên mọi miền của đất nước Bò Vàng có tầm vóc nhỏ, màu vàng, sinh trưởng phát triển chậm, khối lượng khi trưởng thành từ 150-190 kg, tỷ lệ thịt xẻ và thịt tinh thấp Tuy nhiên,
Bò Vàng có khả năng thích nghi với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam, nếu lai tạo với bò Zebu, bò lai sinh ra có ưu thế lai tốt, sinh trưởng và phát triển tốt với điều kiện kinh tế và xã hội của nước ta Từ đàn bò cái lai đã được cải tiến tiếp tục lai tạo với các giống chuyên dụng sẽ tạo ra các giống bò thịt và bò sữa nhằm đáp ứng nhu cầu thịt, sữa cho nhân dân Số lượng đàn bò trong giai đoạn
2005 – 2010 tăng bình quân 5,78% trong khi đó sản lượng thịt tăng 13,47% Năm 2009, tổng đàn bò là 6,103 triệu con, giảm 3,7% so với năm 2008, sản lượng thịt bò đạt 257,8 nghìn tấn tăng 13,7% so với năm 2008 Ước năm 2010 tổng đàn bò là 7,178 triệu con, sản lượng thịt bò là 265 nghìn tấn
Trang 9Bảng 1.1 Tỷ lệ tăng giảm số lượng đàn Bò qua các năm Năm Số lượng bò
(nghìn con)
Tỷ lệ tăng/giảm bình quân (%)
Sản lượng thịt
(nghìn tấn)
Tỷ lệ tăng bình quấn (%)
Giai đoạn 2001-2005, chăn nuôi bò thịt được nhiều địa phương quan
tâm, chỉ đạo phát triển, bước đầu đạt kết quả, tăng nhanh hơn về đầu con, năng suất, sản lượng thịt Từ đó đưa ra kế hoạch chăn nuôi bò thịt từ năm
2006 – 2015, theo đó số lượng đàn bò năm 2010 theo kế hoạch là 7,17 triệu con
đến năm 2015 số lượng bò thịt lên đến khoảng 9 triệu con Tuy nhiên, chăn nuôi
bò thịt vẫn chăn nuôi một số khó khăn như: thiếu giống tốt; chăn nuôi nhỏ lẻ,
phân tán, quảng canh tận dụng, dựa vào chăn thả tự nhiên vẫn là chủ yếu; cơ sở
vật chất, kỹ thuật và trình độ chăn nuôi bò thịt thấp, ; năng suất sinh sản, tăng
trọng, chất lượng thịt thấp; thiếu đồng cỏ và thức ăn thô xanh; quy trình kỹ thuật
chưa được áp dụng rộng dãi trong sản xuất
Chăn nuôi bò phát triển ở tất cả các địa phương trong cả nước nhưng tập
trung nhiều ở các vùng DHNTB và Bắc Trung Bộ như Gia Lai, Nghệ An, Thanh
Hóa, Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi Số lượng đàn bò tại hai vùng này
đạt 2,6 triệu con chiếm trên 45% tổng đàn bò trong cả nước
Bảng 1.2 Số lượng đàn Bò theo khu vực sinh thái
Đông Nam Bộ ĐBSCL Cả nước
Trang 10Bò sữa: Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam có lịch sử phát triển trên 50 năm,
nhưng thực sự phát triển nhanh từ năm 2001 sau khi Quyết định số 167/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp và chính sách phát triển bò sữa Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Đàn bò sữa
đã tăng trên 3 lần, từ 41 nghìn con/năm lên 130 nghìn con, tương ứng với tổng
sản lượng sữa tăng trên 4 lần từ 64 ngàn tấn/năm lên 290 ngàn tấn/năm
Trong gần 10 năm thực hiện Quyết định số 167/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển bò sữa (giai đoạn 2001- 2010) thì năm 2009 là năm mà chăn nuôi bò sữa Việt Nam có nhiều thuận lợi, gặt hái nhiều thành quả Cơ hội rất tốt để phát triển đàn bò sữa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa ngày càng cao về sữa tươi Các công ty, như Công ty Vinamilk, Công ty sữa quốc tế - IDP, Công ty sữa tương lai, Công ty Cổ phần Sữa Lâm Đồng… đang triển khai chương trình phát triển vùng nguyên liệu và mở rộng cơ sở chế biến sữa đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới
Số lượng đàn bò sữa trong giai đoạn 2005 – 2010 tăng bình quân 5,46%, sản lượng thịt tăng 10,41% Năm 2009, tổng đàn bò sữa là 130.000 nghìn con, đạt tốc độ tăng đàn trên 6,98% năm, sản lượng sữa đạt 301 nghìn tấn tăng 6,11% so với năm
2008 Ước kế hoạch năm 2010 tổng đàn bò sữa đạt 149,5 nghìn con, tăng 15% so với năm 2009 và sản lượng sữa tươi đạt 350 nghìn tấn, tăng 16,3% so với năm 2009
Bảng 1.3 Số lượng bò sữa qua các năm Năm Số bò
(nghìn con)
Tỷ lệ tăng/giảm bình quân (%)
SL sữa (1000 tấn)
Tỷ lệ tăng/giảm bình quân (%)
Trang 11HCM 73.328 con, Hà Nội 6.800, Long An 6.104, Sơn La 5.136, Sóc Trăng 5.071, Tiền Giang 3.371, Lâm Đồng 2.833, Bình Dương 2.351
Bảng 1.4 Số lượng Bò sữa theo các vùng sinh thái
(Nguồn: Báo cáo của BNN & PTNT về chăn nuôi Việt Nam giai đoạn 1999 -2009)
Về chăn nuôi Lợn: Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống và là nguồn thu
nhập chính của nhiều hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Hơn nữa, thịt lợn cũng
là nguồn thực phẩm chủ yếu sử dụng trong các bữa ăn của người Việt Nam Ngày nay, các giống lợn của Việt Nam đều có nguồn gốc từ nước ngoài, các giống lợn địa phương nổi tiếng chỉ dùng làm nền lai tạo Đàn lợn Việt Nam luôn tăng trưởng dương và có tốc độ phát triển nhanh hơn các vật nuôi khác, với số lượng trên 27,6 triệu con lợn năm 2009, Việt Nam nằm trong danh sách top 10 nước trên thế giới về số lượng đàn lợn và đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng thịt
Số lượng đàn lợn trong giai đoạn 2005 – 2010 tăng bình quân 1,24% trong khi đó sản lượng thịt tăng 6,87% Tổng đàn lợn năm 2009 đạt 27,6 triệu con, tăng 3,5% so với năm 2008 và tổng sản lượng thịt hơi đạt 2,93 triệu tấn tăng 4,5% so với năm
2008 Theo kế hoạch năm 2010, ước đạt tổng đàn lợn cả nước ước tăng 5,4% và sản lượng thịt hơi tăng 10% so với năm 2009
Bảng 1.5 Số lượng lợn qua các năm Năm Số Lợn
Trang 12Đàn lợn của Việt Nam phân bố rộng khắp tất cả các địa phương trong cả nước Trồng lúa, nuôi lợn là truyền thống ngàn đời của người nông dân Việt Nam Nơi nào có lúa, nơi đó có lợn đã minh chứng sự phân bố của đàn lợn nước
ta, tuy nhiên khoảng 90% đàn lợn của cả nước được tập trung nhiều tại ba vùng: Vùng Miền núi phía Bắc, ĐBSH và Vùng BTB & DHMT, điều này cũng phản ánh phương pháp canh tác và tập quán làm ruộng có sự khác nhau của các vùng
Bảng 1.6 Số lượng Lợn theo các vùng sinh thái
(Nguồn: Số liệu Tổng cục thống kê năm 2009)
Về chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống của
nhiều địa phương góp phần tăng thu nhập cho nhiều hộ gia đình, đồng thời chăn nuôi gia cầm đóng góp một phần quan trọng vào tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta Cho đến nay, chăn nuôi gia cầm được nhiều địa phương chú trọng phát triển, nhiều giống gia cầm ngoại chuyên trứng, chuyên thịt của thế giới đã được nhập vào nước ta và nuôi chủ yếu theo hướng công nghiệp, sản xuất hàng hóa Bên cạnh đó, các giống gia cầm địa phương vẫn được nuôi phổ biến ở tất cả các địa phương Gà Ri là giống gà được mọi người Việt Nam ưa dùng, ngoài ra các giống gà thả vườn khác luôn được người chăn nuôi ưa chuộng, thường chúng có giá cao hơn các giống gà công nghiệp Khi dịch cúm gia cầm xảy ra đã ảnh hưởng đến tốc độc tăng trưởng của đàn gia cầm của nước ta (từ năm 2005 đến năm 2009) Tuy nhiên cho đến nay, đàn gia cầm nước ta đã có sự hồi phục khá nhanh Theo số liệu thống kê năm 2009 của BNN & PTNT, đàn gia cầm của Việt Nam so với năm 2008 đã
có số lượng trên 270 triệu con/năm tăng 20,49%, sản lượng thịt đạt 462,7 nghìn tấn tăng 11,01%, sản lượng trứng 5,56 tỷ quả tăng 12,6% Trong giai đoạn 2005 – 2010, tốc độ tăng bình quân đàn gia cầm đạt 6,15 %, sản lượng thịt gia cầm tăng 10,66%
Với văn hóa ẩm thực của người Việt Nam thì sản phẩm gia cầm có vị trí quan trọng thứ hai sau thịt lợn Đàn gia cầm của Việt Nam phân bố khắp các địa phương trong cả nước Gà là vật nuôi quan trọng chiếm trên 3/4 tổng
Trang 13số lượng đàn gia cầm, tiếp sau đó là vịt Xuất phát từ điều kiện sinh thái và tập quán chăn nuôi, trên 60% số lượng vịt của cả nước được nuôi tập trung ở vùng ĐBSCL
Bảng 1.7 Số lượng gia cầm qua các năm Năm (triệu con) Gia cầm
Tỷ lệ tăng/giảm bình quân (%)
SL thịt (nghìn tấn)
Tỷ lệ tăng/giảm bình quân (%)
SL Trứng (triệu quả)
Tỷ lệ tăng/giảm bình quân (%)
Bảng 1.8 Số lượng gia cầm theo các vùng sinh thái
Đơn vị tính: triệu con
Đông
Cả nước
và cá basa đạt trên 1.200.000 tấn và sản lượng tôm nuôi đạt 307.000 tấn Hiện
Trang 14nay, đối tượng nuôi và mô hình nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam khá phong phú
và đa dạng, tuy nhiên chủ lực nhất vẫn là nuôi cá tra ở vùng nước ngọt và nuôi tôm ở vùng nước nợ ven biển Theo kế hoạch năm 2010, diện tích nuôi trồng thuỷ sản cả nước là 1.110.000 ha, đạt sản lượng 2.700.000 tấn, mục tiêu đến năm
2020, kinh tế thủy sản đóng góp 30-35% GDP trong khối nông - lâm- ngư nghiệp với tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản từ 8-10%/năm Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8-9 tỷ USD, tổng sản lượng thủy sản đạt 6,5 - triệu tấn, trong đó, nuôi trồng chiếm 65-70% tổng sản lượng, tạo việc làm cho 5 triệu lao động nghề cá
1.1.2.3 Một số mô hình chăn nuôi ở Việt Nam
Mô hình chăn nuôi Bò
- Chăn nuôi bò thịt: Hiện nay ở Việt Nam, ngành chăn nuôi bò vẫn còn ở
tình trạng nhỏ lẻ Người nông dân còn thiếu cả vốn lẫn trình độ kỹ thuật chăn nuôi Chăn nuôi bò theo mô hình trang trại được hình thành và bước đầu phát triển Công nghệ chăn nuôi đổi mới chưa nhiều, các cơ sở giống và một số cơ
sở chăn nuôi tập trung được đầu tư cải tạo nâng cấp, chuồng trại đạt yêu cầu kỹ thuật, áp dụng công nghệ tin học trong quản lý đàn bò và công nghệ vỗ béo bò thịt Chăn nuôi bò thịt vẫn dựa vào chăn thả tự nhiên Riêng công nghệ nhân giống bò thịt có tiến bộ, tỷ lệ thụ tinh nhân tạo đạt khoảng 26% và được áp dụng rộng răi trong cả nước
Các phương thức chăn nuôi bò thịt ở nước ta hiện nay: chăn nuôi bò thịt quảng canh, tận dụng và sử dụng sức kéo (đây là phương thức chăn nuôi phổ biến của hầu hết các hộ chăn nuôi bò ở Việt Nam); chăn nuôi bò bán thâm canh (các trang trại chăn nuôi bò vừa và nhỏ thường sử dụng phương thức này); chăn nuôi bò thâm canh (đây là phương thức chăn nuôi bò thịt chất
lượng cao và mới đối với nông dân Việt Nam)
- Chăn nuôi bò sữa: Đa phần chăn nuôi nông hộ và quy mô nhỏ, phân
tán và thủ công vẫn là chủ yếu, trên 95% số bò sữa hiện nay được nuôi phân tán trong các nông hộ Chất lượng giống bò sữa được cải thiện đáng kể, hiện nay cơ cấu giống bò sữa của Việt Nam chủ yếu là bò lai HF, chiếm gần 85% tổng đàn bò sữa Số lượng bò HF thuần chiếm khoảng 14% tổng số đàn, được nuôi chủ yếu tại các cơ sở giống hoặc trang trại lớn; còn lại khoảng 1% là các giống khác Tiêu dùng sữa ở Việt Nam phần lớn là sữa bột chiếm khoảng 78%, còn lại sữa tươi chỉ chiếm khoảng 22%, tỷ lệ sử dụng sữa tươi của Việt Nam thấp hơn so với các nước cùng khu vực và trên thế giới, trong khi đó tại Thái Lan 99% sữa tươi, tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan sữa tươi được sử
Trang 15khuyến khích phát triển Nhiều dự án đầu tư về kỹ thuật chăn nuôi, về nghiên cứu giống bò sữa, về quy hoạch vùng nguyên liệu làm thức ăn cho bò sữa đang được chú trọng phát triển, góp phần thúc đẩy chăn nuôi bò sữa theo hướng công nghiệp, có quy mô lớn, năng suất cao đáp ứng nhu cầu cho ngành sản xuất và chế biến sữa ở Việt Nam phát triển
Mô hình chăn nuôi Lợn
Trong những năm gần đây, bên cạnh phương thức chăn nuôi lợn truyền thống mà đặc trưng là chăn nuôi hộ gia đình với quy mô nhỏ, năng suất thấp thì chăn nuôi lợn theo phương thức tập trung công nghiệp đang có xu hướng ngày càng phát triển Các tỉnh, thành phố có chăn nuôi lợn trang trại nhiều như Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Hải Dương, Thanh Hoá, Thái Bình, Tiền Giang Đã có một số điển hình hợp tác xã chăn nuôi lợn hướng nạc như Nam Sách - Hải Dương, Đan Phượng -
Hà Tây, Yên Định - Thanh Hoá Đây là mô hình tổ chức sản xuất có nhiều lợi thế, giảm chi phí đầu vào vì đã tập trung các dịch vụ như cung cấp con giống, thức ăn công nghiệp, thú y, thụ tinh nhân tạo và bao tiêu sản phẩm
Tỷ trọng chăn nuôi lợn trang trại (công nghiệp và bán công nghiệp) tăng nhanh Hơn 6 triệu con lợn thịt ngoại và phần lớn lợn lai F2, F3 được chăn nuôi trang trại, gia trại Hệ thống chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và sưởi ấm cho lợn con, hệ thống máng ăn, núm uống tự động
là những tiến bộ kỹ thuật về chuồng trại đã được áp dụng tại các trang trại chăn nuôi lợn ở các vùng chăn nuôi lợn trọng điểm như Đông Nam Bộ, ĐBSH, ĐBSCL và Tây Nguyên Sản xuất lợn giống và nhân giống lợn bằng thụ tinh nhân tạo đang được nhiều tỉnh, thành phố đầu tư phát triển như Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội, Thanh Hoá, Thành phố Hồ Chi Minh, Bình Dương, Tiền Giang, Trà Vinh, Cần Thơ Nhiều cơ sở chăn nuôi lợn đã
áp dụng tin học trong theo dõi, quản lý giống Tuy nhiên, chăn nuôi lợn ở nước ta vẫn phổ biến là nhỏ, phân tán trong nông hộ; năng suất chăn nuôi thấp, giá thành cao, công tác chọn lọc, nuôi dưỡng và quản lý đực giống chưa tốt; tình trạng giết mổ, chế biến thịt còn thủ công, chưa đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm
Mô hình chăn nuôi gia cầm
Hiện nay, ở nước ta đang tồn tại 3 mô hình chăn nuôi gia cầm Chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông (chủ yếu trong hộ nông dân); chăn nuôi bán công nghiệp (quy
mô vừa, thả vườn) và chăn nuôi công nghiệp (quy mô lớn, tập trung)
Chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông
Trang 16Đây là mô hình chăn nuôi truyền thống có hầu hết các vùng nông thôn Việt Nam Đặc trưng của mô hình chăn nuôi này là đầu tư thấp, gà nuôi thả rông, tự tìm kiếm thức ăn và tận dụng phụ phẩm trong nông nghiệp, đồng thời tự
ấp và nuôi con Do chăn thả tự do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo, vật nuôi dễ mắc bệnh dịch, tỷ lệ nuôi sống thấp và hiệu quả kinh tế không cao Tuy vậy, phương thức này phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế của hộ nông dân, với các giống gà bản địa có khả năng chịu đựng kham khổ cao, chất lượng thịt, trứng thơm ngon Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm
2008 có trên 60 % hộ gia đình nông thôn chăn nuôi gà theo phương thức này (trong tổng số trên 7,5 triệu hộ chăn nuôi gà) với tổng số gà theo thời điểm khoảng 110-115 triệu con (ước đạt khoảng 50-52% tổng số gà xuất chuồng của cả năm)
Chăn nuôi bán công nghiệp
Đây là mô hình chăn nuôi có sự kết hợp những kinh nghiệm chăn nuôi truyền thống và kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến, nuôi các giống gà lông mầu có năng suất cao Mục đích chăn nuôi đã mang đậm tính hàng hoá Đặc trưng của
mô hình chăn nuôi này là quy mô đàn gà từ 200-500 con; đàn gà vừa thả, vừa nhốt và sử dụng thức ăn công nghiệp, nên tỷ lệ nuôi sống và hiệu quả chăn nuôi cao; thời gian nuôi rút ngắn, vòng quay vốn nhanh hơn so với chăn nuôi nhỏ
lẻ nông hộ Ước tính có khoảng 10-15% số hộ nuôi theo mô hình này với số lượng gà sản xuất hàng năm chiếm tỷ lệ 25-30%
Chăn nuôi công nghiệp
Chăn nuôi gà công nghiệp mới bắt đầu chính thức hình thành ở nước ta từ năm 1974 khi Nhà nước có chủ trương phát triển ngành kinh tế này Tuy nhiên,
nó chỉ thực sự phát triển trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây Điểm đáng chú ý của phương thức chăn nuôi gà công nghiệp ở Việt Nam là hệ thống sản xuất giống các cấp không đồng bộ, các doanh nghiệp nhà nước và các công ty nước ngoài chỉ tập trung đầu tư sản xuất con giống thương phẩm 1 ngày tuổi từ đàn bố
mẹ nhập ở nước ngoài, ít hoặc không chú ý đầu tư xây dựng và sản xuất giống ông bà, cụ kỵ Việc chăn nuôi gà công nghiệp sản xuất thịt, trứng chủ yếu là các trang trại tư nhân và các doanh nghiệp Hiện nay, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất và cung cấp phần lớn là gà giống công nghiệp lông trắng (gần 80%) Ngược lại, các DNNN và các trang trại tư nhân chiếm phần lớn thị phần gà giống lông màu thả vườn Tính đến 01/10/2008 cả nước có trên
1900 trang trại chăn nuôi gà với quy mô phổ biến từ 2.000-10.000 con/trại; có một số trang trại chăn nuôi với quy mô từ 50.000 đến 100.000con Các tỉnh có
Trang 17số lượng trang trại chăn nuôi gà lớn là Hà Tây (cũ): 392 trang trại, Bình Định
315 trang trại, Bình Dương: 235 trang trại, Đồng Nai: 164 trang trại, Thanh Hoá:
106 trang trại Nhìn chung, chăn nuôi gà theo phương thức công nghiệp ở nước
ta vẫn chưa phát triển như các nước trong khu vực và trên thế giới, mà còn trong tình trạng thấp kém cả về trình độ công nghệ và năng suất chăn nuôi
1.2 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH CHĂN NUÔI CỦA VIỆT NAM
1.2.1 Một số chính sách ngành chăn nuôi
Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi tập trung vào 4 lĩnh vực chính: sản xuất (giống, chăn nuôi bò sữa, quy hoạch chăn nuôi tập trung ), thị trường (chính sách hỗ trợ xuất khẩu lợn), chế biến và xuất nhập khẩu
(1) Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg về Chương trình giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp đến năm 2010
Chính phủ về cách phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2010
(3) Quyết định số 394/QĐ-TTg ngày 13/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc khuyến khích đầu tư xây dựng mới mở rộng cơ sở giết mổ chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung công nghiệp
(4) Quyết định số 167/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam giai đoạn
và nuôi chăn thả có kiểm soát” để đến năm 2020, ngành chăn nuôi gia cầm phải trở thành ngành sản xuất hàng hoá hiệu quả và bền vững Mục tiêu từ 2008 đến
2020, tổng đàn gà tăng bình quân 5%/năm, đạt 300 triệu con, trong đó gà công nghiệp chiếm 33%; sản lượng thịt gà đạt 1.760 tấn, chiếm 32% tổng sản lượng thịt xẻ các loại; sản lượng trứng đạt 14 tỷ quả Đây là những chỉ tiêu vô cùng to
Trang 18lớn, đòi hỏi từ nay đến năm 2020 ngành chăn nuôi phải thực hiện đồng bộ, có hiệu quả một loạt các giải pháp quan trọng trong công tác quy hoạch và bố trí đất đai, tổ chức sản xuất, khoa học công nghệ, tài chính và tín dụng, sản xuất và kiểm soát chất lượng thức ăn gia cầm, phòng chống dịch bệnh, giết mổ chế biến, thị trường, tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là bảo vệ môi trường
Ngoài ra, còn có một số chính sách phát triển cho từng loại gia súc, gia cầm khác như:
(7) Quyết định số 3065/QĐ-BNN-NN ngày 07/11/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều kiện chăn nuôi, ấp trứng, vận chuyển, giết mổ, buôn bán gia cầm và sản phẩm gia cầm
(8) Quyết định số 87/2005/QĐ-BNN ngày 26/12/2005 về việc quy định kiểm soát giết mổ động vật
(9) Quyết định số 07/2005/QĐ-BNN ngày 31/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về quy định về quản lý lợn đực giống
1.2.2 Tình hình tổ chức thực hiện cơ chế chính sách phát triển ngành chăn nuôi
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi đã có bước phát triển nhanh chóng, cơ cấu giá trị ngành chăn nuôi đã tăng nhanh qua các năm
Trong giai đoạn 2001 - 2005, BNN & PTNT đã phê duyệt triển khai 21 dự
án giống vật nuôi với tổng mức đầu tư 430 tỷ đồng Đến hết năm 2005 đã giải ngân trên 350 tỷ đồng (đã đầu tư nâng cấp hầu hết các cơ sở nghiên cứu và sản xuất giống gốc vật nuôi của các viện, trung tâm; các trang thiết bị tiên tiến và các cơ sở giống thuộc Bộ với 38.000 m2 chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm); nhập nội 190 nghìn liều tinh bò cao sản (trong đó 350 lợn cụ kỵ; 198 bò sữa thuần; 3.000 gà ông bà; 2.600 vịt, ngan ông bà; 120 dê siêu thịt, siêu sữa); sản xuất và cung cấp cho các địa phương một khối lượng lợn giống gốc có chất lượng nhân giống thương mại phục vụ nhu cầu sản xuất, trong đó đã đáp ứng cơ bản giống lợn ông bà, giống bố mẹ vịt, ngan, gà thả vườn, tinh bò sữa, bò thịt cho các địa phương; tập huấn và chuyển giao cho nhiều tiến bộ kỹ thuật về giống cho sản xuất
BNN & PTNT đã đưa ra định hướng phát triển chăn nuôi thời kỳ 2006 -
2015 và kế hoạch giai đoạn 2006 - 2010 đưa ra mục tiêu chung: Phát triển ngành
chăn nuôi theo hướng tập trung, công nghiệp qui mô vừa và lớn; có năng suất,
chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh cao; bảo đảm vệ sinh thú y, môi trường và
an toàn vệ sinh thực phẩm; tăng tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp (năm
2010 là 30% và năm 2015 là 35%) Mục tiêu cụ thể đến năm 2010:
Trang 19+ Đàn bò thịt đạt 7,1 triệu con; tỷ lệ bò lai đạt 36%; sản lượng thịt bò 210 nghìn tấn
+ Đàn bò sữa đạt 200 ngàn con, năng suất sữa 4.000 – 4.200 kg/con/chu
kỳ, sản lượng sữa 350 ngàn tấn, đáp ứng 30% sữa tiêu dùng trong nước
+ Đàn trâu đạt 3,1 triệu con; sản lượng thịt 72,8 ngàn tấn
+ Đàn dê, cừu đạt 2,2 triệu con, tỷ lệ dê lai 45%; sản lượng thịt 21 ngàn tấn; dê sữa đạt 20% tổng đàn, sản lượng sữa 1,2 ngàn tấn
+ Đàn lợn đạt 32,8 triệu con; khối lượng lợn xuất chuồng binh quân 71 kg/con (lợn ngoại là 84 - 90 kg, lợn lai 60 - 64 kg, lợn nội 40 - 42 kg); khối lượng thịt lợn nái bình quân cả nước đạt 750 - 780 kg/nái/năm Sản lượng thịt 3,2 triệu tấn
+ Đàn gia cầm: Tổng đàn gia cầm 282 triệu con, sản lượng thịt 1.427 ngàn tấn, trong đó đàn gà 233 triệu con với sản lượng thịt 1.188 ngàn tấn; đàn thủy cầm 49 triệu con với sản lượng thịt 239 ngàn tấn; sản lượng trứng đạt 7,92
tỷ quả, trong đó trứng gà 6,8 tỷ quả, trứng vịt 1,12 tỷ quả
Thực hiện Quyết định số 17/2006/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg ngày 10/12/1999 về chương trình giống cây trồng và giống vật nuôi, giống cây lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010, Ngân sách Nhà nước (bao gồm cả vốn sự nghiệp) được đầu tư cho nghiên cứu khoa học về giống; giữ nguồn gen; nhập nội nguồn gen, giống mới có năng suất và chất lượng mà trong nước chưa có hoặc còn thiếu; hoàn thiện công nghệ và xây dựng một số mô hình trình diễn về công nghệ sản xuất giống; đầu tư cho cơ sở hạ tầng của các đơn vị sự nghiệp; tăng cường quản lý chất lượng về giống Ngân sách Nhà nước bao gồm trung ương
và địa phương đầu tư cho các dự án giống của BNN & PTNT hoặc Bộ ngành có liên quan; ngân sách địa phương đầu tư cho các dự án thuộc địa phương
Thực hiện Quyết định số 31/2007/QĐ-TTg ngày 05/30/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với các hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn, các hộ chăn nuôi tại các vùng kinh tế khó khăn đã được hỗ trợ 4,04% lãi suất tiền vay/năm (chênh lệch giữa 0,9%/tháng thay vì 1,2%/tháng) cho 30% tổng vốn đầu tư phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp cho 3 hạng mục sản xuất lợn cụ, kỵ, lợn bố mẹ và lợn thịt ngoại
Theo Quyết định số 394/QĐ-TTg ngày 13/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc khuyến khích đầu tư xây dựng mới mở rộng cơ sở giết mổ chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung công nghiệp, Cục Chăn
Trang 20nuôi BNN & PTNT đã đưa ra một số đề án đổi mới chăn nuôi một số loại gia cầm từ năm 2007 - 2020 như: Đề án đổi mới chăn nuôi lợn giai đoạn 2007 - 2020; Đề án đổi mới chăn nuôi gà giai đoạn 2007 - 2020; Đề án đổi mới chăn nuôi thủy cầm giai đoạn 2007 - 2020
1.2.3 Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi trong giai đoạn hiện nay
1.2.3.1 Các yếu tố tạo thuận lợi cho sự phát triển của ngành chăn nuôi
Giá trị sản phẩm chăn nuôi chiếm vị trí quan trọng trong việc hình thành giá trị sản xuất nông nghiệp Tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp từ năm 2005 – 2008 không ngừng gia tăng, cho thấy ngành chăn nuôi đã được chú trọng phát triển
Bảng 1.9 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp
Sự phát triển của ngành chăn nuôi cho thấy các chính sách của Nhà nước
đã và đang chú trọng phát triển ngành này một cách bền vững, theo hướng tập
trung, công nghiệp qui mô vừa và lớn
Với tốc độ tăng trưởng GDP 7 - 8%/năm, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm có chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được chú trọng, thị trường tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi như thịt, trứng, sữa sẽ còn mở rộng, bên cạnh đó mức tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam hiện còn thấp, chỉ bằng 30 - 50% mức tiêu thụ của các nước trong khu vực đó là những cơ hội mở ra cho ngành chăn nuôi trong thời gian tới
Ngoài ra, mục tiêu phát triển chăn nuôi giai đoạn 2009 - 2015 là đạt tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 30% vào năm 2010 và 35% vào năm
2015, đưa tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 38%; tốc độ tăng trưởng đạt 6 - 7%/năm; sản lượng thịt xẻ các loại đạt 4,3 triệu tấn, trong đó thịt lợn chiếm 65%, gia cầm 31%, thịt trâu, bò 3%; trứng đạt 11 tỷ quả; sữa 700.000 tấn; bình quân đầu người đạt 46kg thịt xẻ các loại/năm, trứng 116 quả/năm, sữa 7,5kg/năm; tỷ trọng thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp đạt khoảng 25% Đây chính là những nhân tố kích thích chăn nuôi phát triển trong thời gian tới
Trang 211.2.3.2 Các yếu tố gây khó khăn cho sự phát triển của ngành chăn nuôi
Bên cạnh những thuận lợi trên, ngành chăn nuôi Việt Nam cũng gặp phải
nhiều thách thức to lớn ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành trong giai đoạn
tới nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO
(1) Giá thành thức ăn chăn nuôi (chiếm 75% trong chi phí chăn nuôi)
Giá thức ăn chăn nuôi trong nước tăng cao, trong khi giá các sản phẩm gia
súc, gia cầm lên xuống thất thường đã gây nhiều khó khăn cho các trang trại
chăn nuôi trong thời gian qua
Việt Nam có thế mạnh về trồng trọt, là một trong những quốc gia hàng
đầu xuất khẩu gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều… nhưng cây trồng làm nguyên liệu
chế biến thức ăn chăn nuôi như bắp, đậu nành… lại rất thiếu, phải nhập khẩu
Khi giá nguyên liệu chế biến TĂCN thế giới tăng cao gây ảnh hưởng đến giá
TĂcN trong nước do không chủ động được nguyên liệu đầu vào Điển hình, từ
tháng 5/2009 đến tháng 5/2010 trong 1 năm giá TĂCN tại thị trường nội địa đã
tăng khoảng 8,44 - 10,08% (tùy từng loại thức ăn )
Bảng 1.10 Giá thức ăn chăn nuôi trong nước T5/2009
(đ/kg)
T12/2009 (đ/kg)
T5/2010 (đ/kg)
T5/2010 so với T12/2009 (tỷ lệ tăng %)
T5/2010 so với T5/2009 (tỷ lệ tăng %) Thức ăn HH
cho gà 6.660 6.500-7.550 7.200-8.300 9,93 - 10,08 8,1 - 24,5
Thức ăn HH
cho lợn 5.660 7.000-7.700 7.700-8.350 8,44 - 10 36,04 - 47,53
(Nguồn: Hiệp hôi Thức ăn chăn nuôi Việt Nam)
Trong khi đó giá sản phẩm thịt (thịt lợn) lại giảm:
Bảng 1.11 Giá thịt lợn trong nước T5/2009
(ngđ/kg)
T12/2009 (ngđ/kg)
T5/2010 (ngđ/kg)
T5/2010 so với T12/2009 (tỷ lệ giảm %)
T5/2010 so với T5/2009 (tỷ lệ giảm %)
Trang 22Giá thức ăn trong nước tăng cao, giá sản phẩm thịt (thịt lợn)giảm xuống chăn nuôi đang đứng trước thách thức lớn vì không thể mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
(2) Nguy cơ mất thị phần trên thị trường trong nước
Nhìn tổng thể về chăn nuôi, dù gia súc hay gia cầm thì đặc điểm chung cả nước vẫn là nuôi phân tán, chưa phải là một nền chăn nuôi chuyên nghiệp, quy
mô lớn để giảm giá thành, tăng mức cạnh tranh trên thị trường Việt Nam tuy có thế mạnh về trồng trọt nhưng cây trồng làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương lại thiếu, phải nhập khẩu một lượng nguyên liệu để chế biến thức ăn chăn nuôi thành phẩm từ các nước trong khu vực và trên thế giới Điều đó gây ảnh hưởng đến giá thành TĂCN trong nước, ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất TĂCN Nhìn vào 2 mặt hàng chiến lược của ngành chăn nuôi là thịt bò và thịt heo, có thể thấy rõ những điểm yếu này Chăn nuôi heo dù có những bước cải thiện, tiếp cận với công nghệ của thế giới, năng suất có tăng lên, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp hơn so với khu vực
Năng suất lợn nái ngoại nuôi trong nước đạt chỉ 80 - 85% so với con giống nuôi tại chính quốc Lượng xuất chuồng bình quân của heo chỉ hơn 63 kg/con (Trung Quốc đạt 80-90 kg/con)
Chăn nuôi bò thịt trong nước chủ yếu là tận dụng thức ăn, đồng cỏ ven bờ với 90% bò thịt nuôi ở từng hộ nhỏ lẻ Ở đây chưa nói đến điểm yếu của chăn nuôi trong vài năm nay là dịch bệnh bùng phát rất mạnh, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển chăn nuôi như dịch cúm gia cầm H5N1 và dịch bệnh lở mồm long móng Hiện nay, chăn nuôi trong nước đã hình thành tính chuyên nghiệp, nhưng quy mô chưa đủ lớn để tăng hiệu quả, giảm giá thành, tăng mức cạnh tranh trên thị trường
Với những bất lợi trên và cùng với việc cam kết giảm mức thuế suất nhập khẩu thịt gia súc và gia cầm theo cam kết gia nhập WTO thì ngay tại thị trường trong nước sẽ chịu sự cạnh tranh gay gắt trước sản phẩm ngoại nhập
(3) Về vệ sinh an toàn thực phẩm
Vệ sinh an toàn thực phẩm luôn là vấn đề mà người tiêu dùng sản phẩm chăn nuôi quan tâm Khi mức sống của người dân ngày một cao cùng với sự phát triển của xã hội thì người tiêu dùng sẽ đòi hỏi được tiêu dùng các sản phẩm sạch, sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Mặc dù trong chăn nuôi vấn
đề vệ sinh an toàn thực phẩm chỉ dừng ở mức độ là đảm bảo cho quá trình sinh
Trang 23trưởng và phát triển của vật nuôi an toàn và không xẩy ra hiện tượng dịch bệnh trên vật nuôi Bên cạnh đó do các điều kiện cơ bản về chăn nuôi tập trung, hệ thống chuồng trại chăn nuôi chưa đảm bảo yêu cầu về an toàn cho chăn nuôi nên vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với ngành chăn nuôi
(4) Tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi
Do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, buôn bán, giết mổ phân tán, không đảm bảo an toàn sinh học nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xẩy ra, gây tổn thất lớn về kinh tế Các bệnh thường gặp trên vật nuôi: đối với gia cầm bệnh thường gặp là Niucastxon, Gumboro, Tụ huyết trùng, dịch tả, dịch cúm ; đối với gia súc bệnh thường gặp là bệnh tai xanh, bệnh gạo, lở mồm long móng, Dịch cúm gia cầm ở nước ta bắt đầu xẩy ra tháng 12/2003 và đã gây ảnh hưởng cho chăn nuôi gia cầm Ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm có thể thấy rõ qua giai đoạn 2003 - 2005 dịch bệnh đã phát triển 4 đợt, tổng số gia cầm (cả gà và vịt) chết và tiêu hủy trên 51 triệu con, thiệt hại ước tính gần 10.000 tỷ đồng Năm 2007, dịch bệnh đã xẩy ra trên 13.355 hộ gia đình (trên
14 tỉnh, thành) với gần 30.000 đầu lợn bị tiêu hủy, đến năm 2008, dịch bệnh
dã xẩy ra trên 28 tỉnh, thành, số lợn bị tiêu hủy cao gấp 10 lần năm 2007 Dịch cúm gia cầm đã gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi gia cầm và ảnh hưởng lớn đến nhiều lĩnh vực liên quan về sản xuất thức ăn chăn nuôi, công nghiệp chế biến thực phẩm, các ngành dịch vụ, du lịch Đợt dịch bệnh xẩy ra hồi tháng 4/2010, dịch bệnh lợn tai xanh xẩy ra trên diện rộng tại các địa phương phía Bắc, mặc dù đã có những ứng phó kịp thời khi dịch bệnh xẩy
ra nhưng ngành chăn nuôi cũng chịu những tắc động nặng nề từ khi dịch bệnh bùng phát Tiêu thụ lợn giảm (ước tính sản lượng tiêu thụ tại các chợ thành phố lớn trong thời gian có dịch bệnh giảm từ 30 - 40% so với trước khi có dịch), giá bán các sản phẩm lợn thịt cũng giảm đáng kể, gây ảnh hưởng rất nặng nề đối với ngành chăn nuôi
do số lượng không đảm bảo, chất lượng yếu kém, chưa chú trọng quy mô phát triển
Trang 24- Quy mô chăn nuôi nhỏ, thiếu bền vững: Hình thức chăn nuôi ở quy mô
hộ gia đình, tận dụng thức ăn thừa, không quan tâm tới công tác tiêm phòng hay phòng chống dịch bệnh theo quy trình của cơ quan thú ý Đặc điểm của chăn nuôi trong cả nước vẫn là nuôi phân tán, chủ yếu lấy công làm lời, chưa phải là một nền chăn nuôi tập trung chuyên nghiệp, quy mô lớn để giảm giá thành, tăng mức cạnh tranh trên thị trường
- Một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến chăn nuôi trong nước: thuế nhập khẩu thịt gia súc và gia cầm giảm khi gia nhập WTO, vấn đề về vốn, ô
nhiễm môi trường trong chăn nuôi
1.2.4 Chính sách quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp qua các năm
(Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2009)
Trồng trọt Chăn nuôi
Dịch vụ
Trang 25Tốc độ chăn nuôi bình quân trong giai đoạn 2000-2005 cả nước đạt cao hơn trồng trọt, lên đến 9,8%/năm, nhưng tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu chung của ngành nông nghiệp vẫn thấp hơn so với trồng trọt Mục tiêu phát triển chăn nuôi giai đoạn 2009 - 2015 đạt tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 30% vào năm 2010 và 35% vào năm 2015 là đưa tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 38%; tốc độ tăng trưởng đạt 6 - 7%/năm; sản lượng thịt xẻ các loại đạt 4,3 triệu tấn, trong đó thịt lợn chiếm 65%, gia cầm 31%, thịt trâu, bò 3%; trứng đạt 11 tỷ quả; sữa 700.000 tấn; bình quân đầu người đạt 46kg thịt xẻ các loại/năm, trứng 116 quả/năm, sữa 7,5kg/năm; tỷ trọng thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp đạt khoảng 25%
Để đạt được mục tiêu trên cần phải có các chính sách phát triển ngành chăn nuôi một cách bền vững, đa dạng hóa phương thức chăn nuôi, phát triển
ngành chăn nuôi theo hướng tập trung, công nghiệp qui mô vừa và lớn; có năng
suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh cao; bảo đảm vệ sinh thú y, môi trường và đặc biệt chú trọng đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm Trong đó cần chú trọng vào các chính sách:
- Tăng cường hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế về chăn nuôi, mở rộng hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm tranh thủ các tiến bộ về khoa học kỹ thuật, công nghệ, quản lý và vốn đầu tư phát triển chăn nuôi
- Mở rộng các hoạt động tìm hiểu khảo sát thị trường các nước có tiềm năng hợp tác về khoa học công nghệ và xuất, nhập khẩu các sản phẩm vật nuôi với Việt Nam
- Xây dựng thương hiệu và tiêu chuẩn hoá các sản phẩm chăn nuôi
- Tăng cường công tác quản lý ngành chăn nuôi
- Tăng cường năng lực quản lý gắn liền với kiện toàn hệ thống tổ chức ngành chăn nuôi từ Trung ương đến địa phương
+ Hoàn thiện tổ chức bộ máy của Cục Chăn nuôi
+ Kiện toàn hệ thống quản lý nhà nước ngành chăn nuôi thú y ở các địa phương
+ Xây dựng hệ thống khảo kiểm nghiệm, kiểm định chất lượng giống và thức ăn chăn nuôi
+ Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực chăn nuôi
- Hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất quản lý nhà nước về giống và thức ăn chăn nuôi trong phạm vi cả nước
Trang 261.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH CHĂN NUÔI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc áp dụng công nghệ chăn nuôi sinh thái
Trung Quốc đã phát triển thành công một công nghệ chăn nuôi sinh thái không có chất thải dựa trên nền tảng công nghệ lên men vi sinh độn lót nền chuồng Công nghệ này nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên toàn Trung Quốc nhờ những lợi ích to lớn mà nó mang lại và nhờ sự tiện lợi trong việc áp dụng vào sản xuất ở bất cứ quy mô chăn nuôi nào
Đây thực sự là một công nghệ chăn nuôi không chất thải vì toàn bộ phân và nước giải nhanh chóng được vi sinh vật phân giải và chuyển thành nguồn thức ăn protein sinh học cho chính gia súc Hơn nữa, chăn nuôi theo công nghệ này không phải dùng nước rửa chuồng và tắm cho gia súc nên không có nước thải từ chuồng nuôi gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh
Trong chuồng nuôi không có mùi hôi thối bởi vì vi sinh vật hữu ích trong chế phẩm sử dụng đã cạnh tranh và tiêu diệt hết các vi sinh vật có hại và sinh mùi khó chịu Vì không sử dụng nước rửa và tắm cho gia súc nên trong chuồng không có chỗ cho muỗi sinh sôi và vì vi sinh vật nhanh chóng phân giải phân nên cũng không có chỗ cho ruồi đẻ trứng Nhờ hệ vi sinh vật hữu ích tạo được bức tường lửa ngăn chăn các vi sinh vật gây bệnh nên chăn nuôi theo công nghệ này hạn chế được tới mức thấp nhất sự lây lan bệnh tật giữa gia súc với nhau cũng như giữa gia súc với người
Về mặt kinh tế, đây là một công nghệ đưa lại hiệu quả cao nhờ tiết kiệm được 80% nước dùng (chỉ dùng nước cho uống và phun giữ ẩm), tiết kiệm được 60% sức lao động chăn nuôi (không phải tắm cho gia súc, không phải rửa chuồng và dọn phân), tiết kiệm được 10% thức ăn (nhờ lợn
ăn được nguồn vi sinh vật sinh ra trong độn lót không những cung cấp nguồn protein chất lượng cao về dinh dưỡng và còn là một nguồn probiotics có tác dụng kích thích tiêu hóa và kích thích vi sinh vật có lợi trong đường ruột phát triển), giảm thiểu được chi phí thuốc thú y (do lợn ít khi bị bệnh và chết) Theo tính toán ở Trung Quốc thì mỗi con lợn thịt chăn nuôi theo công nghệ này tiết kiệm được khoảng 150 Nhân dân tệ Đó là chưa tính đến khả năng bán được các sản phẩm chăn nuôi sinh thái với giá cao hơn bình thường
Trang 271.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là nước có ngành chăn nuôi phát triển nhất khu vực Đông Nam
Á, với số lượng đầu gia súc trên 30 triệu con Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi của đất nước Chùa Vàng không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa mà đang hướng đến xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ ngành thuộc da, chủ yếu là xuất sang các nước như Malaysia, Brunei, Trung Quốc, Đài Loan
Chăn nuôi là ngành đòi hỏi khoa học - kỹ thuật cao, chăn nuôi công nghiệp phải đầu tư lớn, vì thế, Chính phủ Thái Lan đã yêu cầu các ngân hàng thương mại phải dành ít nhất 20% trong tổng các khoản cho vay của mình để cấp vốn cho các trang trại chăn nuôi Tại Thái Lan, nhiều nơi đã chuyển sang chăn nuôi thâm canh
vì dễ dàng hơn, hiệu quả hơn và ít tốn thời gian hơn Ngoài thịt, lượng phân thải
ra của việc chăn nuôi tập trung cũng đem lại một nguồn thu không nhỏ Các nhà khoa học của Thái Lan không ngừng tìm tòi, nghiên cứu để đưa vào sản xuất các giống cây, con mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng phải đảm bao an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường Riêng thức ăn chăn nuôi phải đầy đủ dưỡng chất nhưng phải đảm bảo an toàn cho gia súc và không ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Thức ăn đảm bảo, chăn nuôi được kiểm soát cũng có nghĩa là chất lượng thịt được đảm bảo, nhà nước tuyệt đối nghiêm cấm đưa các chất tăng trọng độc hại vào thức ăn chăn nuôi Chất lượng thịt tốt nhưng cũng phải đảm bảo giá thành hạ cho nên việc chọn giống cũng như phát triển công nghiệp chế biến thức
ăn gia súc, công nghiệp chế biến thực phẩm sau thu hoạch luôn được nhà nước quan tâm đầu tư với những chính sách hỗ trợ thích hợp
Tại Thái Lan, các công ty lớn như CP Group chi phối phần lớn ngành chế biến TĂCN Hiệp hội các nhà máy TĂCN Thái Lan cho biết 56 thành viên trong hiệp hội (một số thành viên có hơn một nhà máy) sản xuất 70% trong tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi của cả nước Hầu hết TĂCN được sản xuất cho tiêu thụ nội địa Cục phát triển chăn nuôi đã đưa ra danh sách tổng cộng 655 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi - nhưng con số này bao gồm rất nhiều nhà máy nhỏ theo quy mô kiểu “nông dân” Ngoài ra, Công ty Thức ăn chăn nuôi Thái Lan cho biết cũng có nhiều nhà máy nhỏ không đăng ký hoạt động dưới hình thức đơn thuần là trộn các sản phẩm thức ăn với nhau (sử dụng thiết bị nghiền và đóng gói) và không có sự kiểm soát của Cục chăn nuôi
Số lượng các nhà máy TĂCN tại Thái Lan tương đối ổn định trong nhiều năm qua, cho thấy một ngành chế biến TĂCN trưởng thành Điều thú vị là, từ năm 2003, giá TĂCN trên thị trường nội địa do chính phủ Thái Lan kiểm soát
Trang 28thông qua Bộ thương mại (cụ thể là Vụ nội thương) Kế hoạch hàng năm về lượng đầu vào nguyên liệu thức ăn nhập khẩu do Hiệp hội TĂCN Thái Lan phê duyệt
Thái Lan thường tự chủ động trong nguồn nguyên liệu ngô và sắn để sản xuất TĂCN, chỉ nhập khẩu các sản phẩm giàu protein như bột đậu tương, đậu tương, một phần bột cá và bột xương Các doanh nghiệp SME có thể lợi thế ở gần các nguồn nguyên liệu thô - mua bột gạo, mật đường từ khu vực địa phương (và thậm chí phần thừa từ sản xuất thức ăn cho vật nuôi trong nhà) Ví dụ, Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa Mualek tìm tất cả nguyên liệu thô ở trong nước (trừ một số bột đậu tương nhập từ Achentina) - và tìm kiếm các nguồn nguyên liệu chất lượng cao nhưng với giá rẻ nhất - để giữ cho chi phí sản xuất ở mức thấp có thể Các nguyên liệu cho sản xuất TĂCN của Thái Lan gồm: Cám lúa mỳ - từ Thái Lan; Nhân cọ - từ miền Nam Thái Lan; Hạt bông - từ miền Bắc Thái Lan; Bột đậu tương - trong nước và nhập khẩu; Sắn - trong nước; Ngô - trong nước - họ ký hợp đồng sản xuất ngô với các trang trại; Bột dừa - từ miền Nam Thái Lan
Thương lái đến tận các cơ sở xay xát để thu mua sản phẩm phụ - tuy nhiên các nhà máy sử dụng các nguyên liệu đầu vào này không thể cung cấp thức ăn cho các cơ sở chăn nuôi lợn được cấp chứng chỉ GMP
- Chuỗi cung ứng thức ăn chăn nuôi của Thái Lan
Tình trạng sát nhập theo chiều dọc giữa các công ty lớn là rất cao - từ hợp đồng nông sản các nguyên liệu thô như ngô cho tới sản xuất TĂCN và chế biến thực phẩm
Công ty chế biến TĂCN Thái Lan bán ra thị trường cho các đại lý và trực tiếp tới các trang trại quy mô lớn và trung bình với lượng tối thiểu là khoảng 20 tấn/tháng cho một khách mua Công ty cung cấp thức ăn dưới dạng bột không đóng gói cho một số trang trại
Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa bán sản phẩm cho các xã viên, các hợp tác xã chăn nuôi bò sữa khác trong ngành, nhiều trang trại lớn do quân đội sở hữu, một trang trại của chính phủ và một trang trại tư nhân Hợp tác xã đang tìm kiếm mở rộng thị trường tới các đại lý ở Chiềng Mai Mỗi tháng, hợp tác xã cung cấp khoảng 900 tấn TĂCN cho xã viên và 800 tấn còn lại cung cấp cho hệ thống các trang trại
- Vấn đề đăng ký các sản phẩm thức ăn chăn nuôi và kiểm soát chất lượng TĂCN ở Thái Lan
Việc kiểm soát chất lượng TĂCN được đặt dưới sự kiểm soát của DLD - Phòng tiêu chuẩn và chứng nhận chăn nuôi, Hiệp hội doanh nghiệp sản xuất
Trang 29TĂCN Thái Lan (TFMA) không tham gia Thường xuyên có những phản hồi từ thị trường về chất lượng thức ăn cao hay thấp - các doanh nghiệp nhỏ cạnh tranh bằng giá (DLD) chỉ đưa ra cụ thể 4 chỉ tiêu cho mỗi loại TĂCN: pro-tê-in, độ
ẩm, chất béo và hàm lượng chất xơ Đây là những yêu cầu tối thiểu cho việc đăng ký công thức chế biến TĂCN thương mại - và tất cả các sản phẩm phải được đăng ký bởi DLD và các chỉ tiêu cụ thể (ghi ngoài nhãn) Phí đăng ký là
1000 Baht/một sản phẩm
DLD có trách nhiệm kiểm tra các sản phẩm này và có một quy trình cụ thể cho việc kiểm tra Các mẫu kiểm tra được lấy ngẫu nhiên từ các nhà máy ít nhất 3 lần/năm
Mỗi mẫu này được chia ra thành ba phần: một phần cho phòng thí nghiệm của DLD, một phần cho DLD (trong trường hợp có tranh cãi) và một phần do doanh nghiệp giữ
Các cuộc kiểm tra được tiến hành trong thư viện của DLD Cuộc kiểm tra được tiến hành theo một quy trình cụ thể (Nhóm A và nhóm B - có thể tham khảo tại ghi chép của DLD) và mỗi mẫu đảm bảo các yêu cầu sẽ được cấp đăng ký Có thể có 4 yếu tố dinh dưỡng được kiểm tra (khác với Việt Nam có 15 yêu cầu của việc đăng ký - trong đó DLD Việt Nam không kiểm tra về công suất) Các quy định khác liên quan đến an toàn thực phẩm do các công ty chịu trách nhiệm
DLD không chịu trách nhiệm thực hiện các hình thức xử phạt Nếu như sản phẩm không vượt qua cuộc kiểm tra, công ty và cảnh sát phải thông báo cho các cơ quan chức năng và vấn đề này có thể phải đưa ra Tòa án Một hình phạt tài chính hoặc ngồi tù có thể được đưa ra - nhưng thường là phạt tài chính Giá trị phạt cao nhất lên đến 50000 Baht
Các doanh nghiệp được yêu cầu giữ bản ghi chép chính thức về quá trình kiểm tra và các bản ghi chép này được thông qua bởi nhân viên DLD Đây là một cách tiếp cận trong việc kiểm soát chất lượng thức ăn có sự kết hợp với việc thực hiện GMP và HACCP
- Vai trò của Hiệp hội TĂCN Thái Lan trong việc phát triển ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi
Hiệp hội TĂCN Thái Lan (TFMA) có 56 thành viên Các thành viên phải trả phí thành viên 20,000 Baht/năm, không phụ thuộc vào công suất thiết kế của nhà máy Các thành viên của hiệp hội chiếm 70% tổng sản lượng TĂCN của Thái Lan Hiệp hội TĂCN tự coi mình là một “tổ chức dịch vụ” - hỗ trợ các thành viên về mặt thông tin và đào tạo Các thành viên của hiệp hội “trao đổi
Trang 30thông tin và chia sẻ khó khăn” Hiệp hội cũng cho rằng họ là đầu mối cung cấp thông tin cho Chính phủ: “chúng tôi có tất cả thông tin cần thiết” - và hành động như một nhóm vận động hành lang cho các công ty sản xuất TĂCN lớn, theo cách nói của Hiệp hội là “đề xuất chính sách”
Hiệp hội bao gồm ba tổ công tác: tổ mua nguyên liệu đầu vào, tổ xúc tiến thương mại và tổ quản lý chất lượng Hiệp hội chịu ảnh hưởng lớn của các tập đoàn lớn, đặc biệt là CP - cả Chủ tịch và Thư ký của Hiệp hội đều là nhân viên của CP FAO Châu Á Thái Bình Dương cũng ám chỉ tới điều này
Hiệp hội TĂCN Thái Lan đang điều phối một bản đề xuất xin tăng giá thức ăn chăn nuôi lên Bộ Thương Mại Thái Lan, mặc dù theo Hiệp hội này, giá
sẽ không đồng nhất giữa các công ty (mỗi công ty phải có đề xuất về giá riêng cho công ty mình)
Hiệp hội cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đề xuất với chính phủ về lượng khô dầu đậu tương có thể nhập khẩu thông qua “quota” (với thuế suất nhập khẩu 4%)
Quota chính thức rất nhỏ, và thuế suất nhập khẩu ngoài quota là rất cao (119%) Vì thế, các doanh nghiệp cần thông báo cho Hiệp hội thức ăn chăn nuôi (từ tháng Sáu năm trước) về khối lượng khô dầu đậu tương cần nhập khẩu trong năm tới, và Hiệp hội sẽ tính toán tổng số khô dầu đậu tưong cần đề xuất Sau khi
đề xuất được “xem xét”, Hiệp hội sẽ thông báo cho các nhà máy TĂCN về khối lượng được nhập khẩu
- Sự tham gia của các doanh nghiệp trong phát triển ngành TĂCN ở Thái Lan
Các doanh nghiệp ở Thái Lan tập trung trong ngành TĂCN cho đại gia súc vì họ không thể cạnh tranh được với CP và Betragro trong các lĩnh vực TĂCN khác
Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực chăn nuôi (ví dụ trang trại lợn với
2000 đầu nái) sẽ có cơ sở trộn thức ăn của riêng họ Các doanh nghiệp cần hướng tới phục vụ thị trường địa phương - sản xuất một lượng sản phẩm vừa đủ cho tiêu dùng nội địa
Việc cung cấp giống cũng như thức ăn đạt chất lượng đều do các Hợp tác
xã đảm nhiệm vì chỉ các hợp tác xã mới có điều kiện tiếp cận với các trung tâm giống uy tín để cung ứng cho người nuôi những con giống có chất lượng, lại được kiểm định ngặt nghèo Mô hình chăn nuôi chất lượng cao phát triển mạnh
mẽ không thể tách rời vai trò của hợp tác xã
Trang 31Đồng thời, Thái Lan đặt công tác thú y phòng trừ dịch bệnh lên hàng đầu Nhà nước Thái Lan hỗ trợ 100% các loại vắc-xin phòng dịch cho người chăn nuôi, nhưng cũng buộc người chăn nuôi phải hợp đồng với các cán bộ thú y để chủ động ngăn ngừa dịch bệnh có thể phát sinh và hạn chế sự lan tràn Nhờ làm tốt công tác kiểm dịch, tiêm phòng và tăng cường mạng lưới thú y cơ sở nên nhiều năm qua, mặc dù một số nước trong khu vực đã xảy ra dịch bệnh trên gia súc nhưng Thái Lan thì đã hạn chế được dịch bệnh và chăn nuôi đang trở thành nguồn thu nhập đáng kể của nền kinh tế quốc dân
Bên cạnh đó, người chăn nuôi cũng được tập huấn thường xuyên, bằng những cách thức mang tính thực hành cao, dễ hiểu, dễ thực hiện, mang lại hiệu quả kinh tế cao, bởi đội ngũ khuyến nông chuyên nghiệp của Nhà nước Người chăn nuôi cũng được khuyến khích và hỗ trợ để làm quen dần với các trang thiết
bị chuyên dụng để giúp họ giảm sự lệ thuộc vào những người trung gian, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng cường khả năng nâng cao mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất, vận chuyển, bảo quản Khi người chăn nuôi “trưởng thành” hơn trong hoạt động chăn nuôi, Nhà nước tiếp tục triển khai các dự án giúp họ tiếp cận nguồn vốn để tăng đàn, huấn luyện cách quản lý trang trại, từ đó dần hình thành những mô hình chăn nuôi quy mô lớn, hiệu quả cao và nhờ đó dễ dàng bán được ở các mức giá cao
Đặc biệt, đối với xuất khẩu gia súc được áp dụng khung thuế ưu đãi cao nhất về các loại thuế đối với cơ sở, doanh nghiệp chăn nuôi trang trại, công nghiệp; các cơ sở giết mổ, chế biến thực phẩm và sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, thú y Đặc biệt, miễn 5 năm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các
cơ sở, doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực ép dầu cung cấp nguyên liệu
Thái Lan có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng mới các cơ
sở giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi tập trung Cụ thể, hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư hạ tầng đến chân hàng rào công trình, đồng thời hỗ trợ lãi suất vốn vay trong 5 năm, được hưởng ưu đãi về thuế và đất đai…
1.3.3 Kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc áp dụng chính sách bảo hiểm chăn nuôi
Ngành chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng trong các phúc lợi của dân
cư nông thôn của Ấn Độ và đóng góp hơn 9% vào tổng sản phẩm quốc nội và sử dụng 8% lực lượng lao động của cả nước Khu vực này đang nổi lên như một đòn bẩy tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế Ấn Độ Trong những năm gần đây, sản lượng chăn nuôi tăng trưởng với tốc độ tăng 5 % một năm, tốc độ này cao hơn tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp
Trang 32Gần đây, Ấn Độ đã thành công khi đưa ra chính sách bảo hiểm trong ngành chăn nuôi khi yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo một tỷ trọng hợp lý doanh thu phí bảo hiểm từ các nghiệp vụ bảo hiểm vật nuôi từ khu vực nông thôn Thông thường tỷ lệ này sẽ tăng dần đến một con số nhất định, căn cứ theo số năm hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời, Chính phủ cũng thành lập Tổng công ty bảo hiểm riêng đối với ngành chăn nuôi và hàng năm, tài trợ 50% phí bảo hiểm cho người chăn nuôi và buộc tất cả các hộ khi vay vốn của ngân hàng phải mua bảo hiểm Khi có rủi ro thiên tai lớn, nếu Tổng công ty không đủ khả năng chi trả thì Nhà nước cho vay ưu đãi hoặc trợ cấp cho công ty
để bồi thường cho dân
1.3.4 Bài học cho Việt Nam
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, Trung Quốc đã phát triển thành công công nghệ chăn nuôi sinh thái không có chất thải, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Về mặt kinh tế chăn nuôi theo hướng sinh thái đã tiết kiệm được 80% nước dùng, 60% sức lao động, 10% thức ăn, giảm thiếu chi phí thuốc thú y
Trong khi đó, Ấn Độ đã thành công với chính sách bảo hiểm chăn nuôi nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi cho nông dân
Đối với Thái Lan, Thái Lan chăn nuôi theo quy mô lớn – trang trại, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển ngành chăn nuôi cùng với việc phát triển ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó tự chủ động nguồn nguyên liệu
để sản xuất TĂCN, xây dựng chuỗi cung ứng TĂCN, kiểm soát chất lượng TĂCN, nâng cao vai trò của Hiệp hội TĂCN trong việc cung cấp đủ dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm và không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người Thức ăn được đảm bảo đồng nghĩa với chăn nuôi được kiểm soát, độ an toàn cao
Từ những kinh nghiệm nêu trên, Việt Nam có thể học tập vận dụng, đặc biệt là kinh nghiệm của Thái Lan trong phát triển chăn nuôi của Việt Nam gắn với phát triển TĂCN
Ở Việt Nam, ngành chăn nuôi giữ vai trò trong nông nghiệp với tỷ lệ đóng góp từ 22,6% đến 25,5% trong giai đoạn 2001-2007 và năm 2008 tăng lên 25% - 26% (Cục chăn nuôi, 2008) Tuy nhiên do đặc điểm và mô hình chăn nuôi còn nhỏ lẻ dẫn tới các hạn chế về vệ sinh an toàn thực phẩm, về dịch bệnh cũng như
sự phát triển các ngành phục vụ chăn nuôi Vì vậy, ngành chăn nuôi theo hướng:
Chuyển đổi mô hình chăn nuôi theo hướng chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp, hiện đại hóa chăn nuôi, qua đó đảm bảo vệ sinh an toàn thực phảm và giảm dịch bệnh
Trang 33Phát triển ngành chăn nuôi song song với phát triển ngành thức ăn chăn nuôi, tập trung vào các nội dung:
+ Chủ động về nguyên liệu: Chi phí cho TĂCN chiếm tới khoảng 75% tổng chi phí sản xuất của các hộ chăn nuôi Giá TĂCN tăng cao ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ chăn nuôi vì làm tăng chi phí sản xuất Sản xuất TĂCN Việt Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu thế giới nên khi giá nguyên liệu tăng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành TĂCN trong nước Vì vậy, chúng ta cần phát triển cây nguyên liệu làm TĂCN, phát triển ngành sản xuất nguyên liệu TĂCN để chủ động nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước, giảm nhập khẩu đồng thời với việc giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, tránh sự biến động về giá thành sản phẩm chăn nuôi
+ Xây dựng kênh cung ứng thức ăn chăn nuôi, tạo thuận lợi trong việc tiếp cận về TĂCN, giúp ngành chăn nuôi chăn nuôi phát triển Đồng thời, nâng cao vai trò của tổ chức Hiệp hội ngành hàng trong việc cung ứng TĂCN bảo đảm chất lượng TĂCN
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ THỨC ĂN CHĂN NUÔI CỦA VIỆT NAM
2.1.1 Cân đối cung cầu thức ăn chăn nuôi
2.1.1.1 Tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu thức ăn chăn nuôi
(1) Khả năng cung ứng trong nước
* Cung nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi của Việt Nam trong thời gian qua
- Sản xuất ngô
+ Về diện tích: Diện tích ngô của cả nước tăng bình quân 4,66%/năm
trong giai đoạn 2000 - 2009
Bảng 2.1 Diện tích ngô phân theo địa phương
+ Về sản lượng: Tăng trưởng bình quân sản lượng ngô của cả nước trong
giai đoạn 2000-2009 đạt 9,47%/năm Mặc dù tiềm năng sản xuất trong nước khá
Trang 35lớn nhưng tính đến nay sản lượng ngô hàng năm mới chỉ đạt khoảng gần 4,5 triệu tấn và chỉ có khoảng 2 triệu tấn được đưa vào chế biến thức ăn chăn nuôi, tức là chỉ chiếm khoảng 40% Chẳng hạn, Sơn La là một trong những tỉnh trồng nhiều ngô nhất khu vực Tây Bắc nhưng do điều kiện sản xuất cũng như chăm sóc không thuận tiện, thu nhập của người trồng quá thấp nên người nông dân không mấy mặn mà với cây ngô Hiện mỗi năm sản lượng ngô của Sơn La đạt trên 415.000 tấn, sắn trên 270.000 tấn, chiếm 2/3 sản lượng của cả khu vực Tây Bắc Tuy nhiên, do chưa có hệ thống chế biến tốt nên tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch cao, chênh lệch giá bán của người dân và giá mua tại nhà máy lớn nên người dân chưa được hưởng lợi từ sự phát triển của ngành thức ăn chăn nuôi Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thiếu nguồn nguyên liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi của nước ta
Bảng 2.2 Năng suất và sản lượng ngô phân theo địa phương
Đơn vị: Tạ/ha; 1.000 tấn
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Năng suất 27,5 29,6 30,8 34,4 34,6 36,0 37,3 39,3 40,1 40,8 Tăng 7,6 4,1 11,7 0,6 4,0 3,6 5,4 2,0 1,7
(Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2010)
- Sản xuất đậu tương
+ Về diện tích: Diện tích trồng đậu tương của cả nước tăng bình quân hàng
năm 2,56%/năm trong giai đoạn 2000 – 2009 Tổng diện tích trồng đậu tương của
cả nước đã tăng từ 124,1 ngàn ha năm 2000 lên 204,1 ngàn ha năm 2005 và đã
Trang 36giảm xuống còn 146,2 ngàn ha năm 2009 Trong đó, địa phương có diện tích trồng đậu tương nhiều nhất là Hà Giang với 21,2 ngàn ha năm 2009; tiếp đến là Đắk Nông 15,9 ngàn ha; Thái Bình 102,2 ngàn ha và Điện Biên 9,2 ngàn ha…
Bảng 2.3 Diện tích đậu tương của một số địa phương sản xuất chính
Hà Giang 6,2 7,9 9,2 12,3 14,9 15,7 15,9 15,9 19,9 21,2 Cao Bằng 6,9 7,0 7,0 7,2 7,3 7,6 6,4 6,2 6,2 5,7 Thanh Hoá 2,7 4,7 6,7 6,7 6,2 5,6 4,9 5,3 4,4 4,7 Đắk Lắk 15,0 15,4 21,0 22,6 11,7 11,5 9,6 9,4 9,2 7,4
Bảng 2.4 Sản lượng đậu tương của một số địa phương sản xuất chính
Hà Giang 4,4 5,9 6,8 9,9 12,9 14,7 14,1 14,1 20,4 23,7 Thanh Hoá 3,4 6,3 8,9 8,6 8,6 7,3 6,6 7,6 6,3 7,4 Đắk Lắk 21,1 19,7 28,7 37,3 10,3 13,0 10,4 11,3 11,2 10,4 Đắk Nông 14,8 29,0 26,7 30,3 30,5 33,2 Đồng Tháp 6,6 12,7 15,0 16,2 21,5 24,1 14,0 16,6 13,7 10,7
(Nguồn: Số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2010)
Trang 37* Tình hình sản xuất TĂCN trong nước
TĂCN sản phẩm đầu vào không thể thiếu đối với lĩnh vực chăn nuôi Vì vậy, ngành TĂCN là một ngành công nghiệp chế biến quan trọng phục vụ cho ngành chăn nuôi, nhất là trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Trước đây, ngành chăn nuôi chủ yếu dựa vào thức ăn tự chế, chỉ một tỷ lệ rất ít là
sử dụng TĂCN công nghiệp Cùng với sự phát triển của dân số, nhu cầu tiêu dùng gia súc, gia cầm và thủy hải sản ngày một tăng cao, ngành chế biến TĂCN công nghiệp cũng đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và số lượng để đáp ứng nhu cầu của chăn nuôi
Kể từ những năm 90, ngành công nghiệp chế biến TĂCN Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi Trong giai đoạn 2000 – 2009, tốc độ tăng trưởng bình quân sản lượng thức ăn chăn nuôi khoảng 16,6% Thức ăn chăn nuôi được sản xuất ở các nhà máy của Việt Nam chủ yếu ở dạng thức ăn hỗn hợp và thức ăn đậm đặc
Nhận thức lợi nhuận tiềm năng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngày càng có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước thiết lập hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho thấy, cả nước hiện có 256 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi Trong
đó có 225 doanh nghiệp có nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm
Số còn lại là các doanh nghiệp chỉ kinh doanh thương mại mặt hàng này
Trong tổng số 225 cơ sở sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm có đăng ký ở Việt Nam, gồm 42 công ty nước ngoài, 12 liên doanh
và 171 doanh nghiệp trong nước và 89 nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi thuỷ sản Tất cả các tập đoàn sản xuất thức ăn chăn nuôi mạnh nhất nhì thế giới đều đã có mặt ở Việt Nam Các doanh nghiệp sản xuất và chế biến TĂCN tập trung ở ĐBSH gần 46%, Đông Nam Bộ khoảng 28,8%, số còn lại được phân bố tại các vùng khác Tây Nguyên và miền núi phía Bắc rất ít, chỉ chiếm 5,33%
Khu vực Đông Nam Bộ có sản lượng thức ăn chăn nuôi lớn nhất (3.274,5 nghìn tấn) với việc các nhà máy sử dụng gần hết công suất Khu vực sản xuất lớn thứ ba là ĐBSCL (771,6 nghìn tấn), tiếp theo là khu vực Bắc Trung bộ
Trong giai đoạn hiện nay, sản xuất TĂCN trong nước có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ Sản lượng thức ăn chăn nuôi của toàn
Trang 38ngành năm 2010 đạt 10,6 triệu tấn và năm 2011 là 11,3 triệu tấn Như vậy, lượng cung thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu, số còn lại phải nhập khẩu Song không chỉ nhập khẩu thành phẩm, hiện còn đang phải nhập khẩu lượng nguyên liệu đầu vào rất lớn phục vụ cho sản xuất gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ngành công nghiệp sản xuất thức
ăn chăn nuôi và giá thức ăn chăn nuôi trong nước
Các doanh nghiệp nước ngoài đang nắm giữ 65-70% thị phần thức ăn chăn nuôi Đã có một số doanh nghiệp tư nhân và cổ phần chuyên ngành thức ăn chăn nuôi trong nước đã phát triển, kinh doanh đạt hiệu quả tốt
Bảng 2.5 Số lượng và tổng công suất nhà máy chế biến thức ăn gia súc Loại hình sản lượng nhà
máy (tấn)
Số lượng nhà máy Tỷ lệ (%)
Tổng công suất (tấn)
(Nguồn: Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam)
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi Việt Nam cũng phát triển cả về quy mô và số lượng Sản lượng TĂCN liên tục tăng từ năm 2000
Bảng 2.6 Sản lượng thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2008
Đơn vị: 1.000 tấn, %
Năm Thức ăn hỗn hợp Thức ăn đậm đặc Tổng số
Tổng số (quy tương đương thức ăn hỗn hợp)
Tốc độ tăng trưởng
Trang 39(Nguồn : Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam)
Nhận thức lợi nhuận tiềm năng trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngày càng có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước thiết lập hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam
Ngoài ra, nhờ các chính sách đổi mới của Chính phủ Việt Nam cũng như khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, các tập đoàn sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn trên thế giới đều đã có mặt ở nước ta như CP Group (Thái Lan), Cargill (Hoa Kỳ), NewHope (Trung Quốc)…
(2) Tình hình xuất nhập khẩu TĂCN
* Thực trạng nhập khẩu
Tính trung bình mỗi năm Việt Nam cần khoảng 17-18 triệu tấn thức ăn chăn nuôi, nhưng trong nước mới chỉ đáp ứng được 50% Để sản xuất lượng thức ăn công nghiệp hàng năm các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi đang phải nhập khẩu tới 70% lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi từ nước ngoài, giá trị nhập khẩu trên dưới 2 tỷ USD/năm Nguyên liệu sản xuất TACN được chia ra thành ba nhóm Nhóm năng lượng gồm bắp, mì, cám gạo, lúa mì, khoai
mì lát Nhóm thứ 2 là đạm, như đậu nành, bột cá, bột thịt Nhóm thứ 3 có khoáng và vitamin Các loại nguyên liệu thức ăn giàu đạm như đậu tương, khô dầu, doanh nghiệp phải nhập 90-95% Các chất khoáng, vitamin, tạo mùi, tỷ lệ nhập khẩu lên đến 100% Nhóm sản phẩm năng lượng, trước đây Việt Nam tự chủ được khoai mì, cám gạo và bắp, nhưng hiện nay ngành chăn nuôi phải nhập từng ký khoai mì về chế biến TACN, vì khoai mì trong nước sản xuất ra lại dùng
để sản xuất ethanol
Năm 2009, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 2,1 tỷ USD các loại TĂCN và nguyên liệu Trong đó, trên 1 tỷ USD để mua khô dầu đậu tương, trên 300 triệu USD mua bắp, trên 280 triệu USD mua bột cá, xương thịt… Ước năm 2010, Việt Nam phải nhập khoảng 1,6 triệu tấn bắp, tăng 350.000 tấn so với năm 2009 Tính đến 9 tháng đầu năm 2010, ngành chế biến thức ăn chăn nuôi đã phải nhập khẩu gần 1,6 tỷ USD nguyên liệu
Kim ngạch nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2009 đã không ngừng tăng lên Thể hiện:
- Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi của Việt Nam theo chủng loại sản phẩm:
+ Khối lượng nhập khẩu:
Trang 40Theo số liệu thống kê của ITC năm 2010, khối lượng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam theo chủng loại sản phẩm nhập khẩu, cụ thể như sau: nhập khẩu khô dầu đậu tương và phế liệu khác (Mã HS 2304) đã tăng từ 446,6 ngàn tấn năm 2001 lên 1.016,1 ngàn tấn năm 2005 và đạt 2.406,2 ngàn tấn năm 2009; các chế phẩm thức ăn gia súc (Mã HS 2309) đã tăng từ 52,8 ngàn tấn năm 2001 lên 270,0 ngàn tấn năm 2005 và đạt 718,3 ngàn tấn năm 2009; tương
tự các con số nhập khẩu của bột mì, thịt, phụ phẩm thịt, cá không dùng người (Mã HS 2301) là 0,9 ngàn tấn, 11,3 ngàn tấn và 322 ngàn tấn; Khô dầu (Mã HS
2306) là 46,4 ngàn tấn, 124,2 ngàn tấn và 281,7 ngàn tấn (Xem chi tiết Bảng
2305 Khô dầu lạc và phế liệu rắn khác 0 5,1 19,4 56,4 18,1 19,6 24,1 29,6 9,3
(Nguồn: ITC calculations based on COMTRADE statistics)
+ Tăng trưởng khối lượng nhập khẩu:
Cũng theo số liệu thống kê của ITC năm 2010, giai đoạn 2000 – 2009 khối lượng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam theo chủng loại sản phẩm nhập khẩu biến động liên tục Năm 2009, khối lượng nhập khẩu của hầu hết các nhóm hàng đều giảm Cụ thể, tăng trưởng nhập khẩu các chế phẩm thức ăn gia súc (Mã HS 2309) bình quân hàng năm đạt 158,2%/năm; Bột củ cải, bã mía và bã bia hoặc bã chưng cất và nguyên liệu thải (Mã HS 2303)