Trên cơ sở tham khảo và kế thừa các phương pháp và kết quả nghiên cứu của Nga và các nước phương Tây, việc đánh giá đất là khâu quan trọng và then chốt đối với công tác địa chính của Việ
Trang 1BỘ TÀI NGUYấN VÀ MễI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ Đường Hoàng Quốc Việt - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
-^ ] -
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
Chương trỡnh:
nghiên cứu thực trạng và giải pháp
hoàn thiện Hệ THốNG quy hoạch sử dụng
đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa
Chủ nhiệm Chương trỡnh: TS Nguyễn Dũng Tiến
8518
HÀ NỘI - 7/ 2009
BTNMT VKHĐĐBĐ
Trang 22
BỘ TÀI NGUYấN VÀ MễI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ
Đường Hoàng Quốc Việt - Quận Cầu Giấy - Hà Nội
-^ ] -
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
Chương trỡnh:
nghiên cứu thực trạng và giải pháp
hoàn thiện Hệ THốNG quy hoạch sử dụng
đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa
Số đăng ký:
Hà Nội, ngày thỏng năm 2010
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
TS Nguyễn Dũng Tiến
Hà Nội, ngày thỏng năm 2010
CƠ QUAN CHỦ TRè ĐỀ TÀI
KT.VIỆN TRƯỞNG PHể VIỆN TRƯỞNG
Hà Nội, ngày thỏng năm 2010
CƠ QUAN QUẢN Lí ĐỀ TÀI
TL BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI NGUYấN VÀ MễI TRƯỜNG
VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC CễNG NGHỆ
TS Nguyễn Đắc Đồng
BTNMT VKHĐĐBĐ
Trang 31 Tôn Gia Huyên CV cao cấp Hội Khoa học đất VN
Trang 4Chương 1 Tổng luận về quy hoạch sử dụng đất đai 11
1.2.2.3 Diễn biến đánh giá phân loại sử dụng đất ở nước ta 21
1.1.3 Khái quát cơ cấu sử dụng đất của nước ta 31
1.2.2 Nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất 44
1.2.2.3 Lịch sử quy hoạch sử dụng đất của Việt Nam 49
1.2.3.1 Quy hoạch sử dụng đất đai ở khu vực Đông Bắc á 57
1.2.3.2 Quy hoạch sử dụng đất đai của một số nước Châu Âu 63
1.3 cơ sở lý luận của khoa học quy hoạch sử dụng đất 66
Trang 55
1.3.4 Lý thuyết về khống chế quá trình của quy hoạch sử dụng đất 96
1.4 nguyên lý kỹ thuật của quy hoạch sử dụng đất 100
1.4.3 Hệ thống và mô hình quy hoạch sử dụng đất 108
Chương 2 Hiện trạng quy hoạch sử dụng đất ở việt nam 113 2.1 Quy hoạch sử dụng đất là căn cứ pháp lý hình thành các
2.1.1 Hiện trạng công tác lập quy hoạch sử dụng đất 113 2.1.1.1 Lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất các cấp 113 2.1.1.2 Công tác xây dựng các định mức sử dụng đất 115 2.1.1.3 Hoạt động của các tổ chức hành nghề lập quy hoạch sử dụng đất 117
2.1.2 Những đóng góp của quy hoạch sử dụng đất 119
2.1.3 Những vấn đề chưa hoàn thiện trong quy hoạch sử dụng đất 121 2.2 Kết quả điều tra x∙ hội học về quy hoạch sử dụng đất 122
Trang 66
Chương 3: giải pháp hoàn thiện quy hoạch sử dụng
3.1 công nghiệp hóa tác động đến QH sử dụng đất 133
3.1.1 Công nghiệp hóa với quy hoạch sử dụng đất 133 3.1.2 Các yếu tố tác động đến QHSDĐ thời kỳ công nghiệp hóa 134
3.2 Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất
3.2.1 Một số quan điểm cơ bản trong công tác quy hoạch sử
3.3.1 Giới thiệu các phương pháp hiện đại trong quy hoạch sử dụng đất 152
3.3.1.2 Ký hiệu các loại đất theo các cấp vùng lãnh thổ 153
3.3.2.1 Các bước chuẩn bị, đánh giá, phân tích thông tin 158 3.3.2.2 Giới thiệu phương pháp quy hoạch tuyến tính 158
3.3.3 Đề xuất mô hình toán-kinh tế trong thực tế quy hoạch sử dụng đất ở nước
3.3.3.1 Mô hình toán – kinh tế của việc cân đối các loại đất giữa các ngành kinh
3.3.3.2 Một số chỉ tiêu để xây dựng mô hình cân đối quỹ đất quốc gia giữa
các ngành kinh tế quốc dân trong bài toán quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 170
3.3.4 Trình tự chuẩn bị thông tin phục vụ việc giải quyết bài toán quy hoạch sử
3.3.4.1 Đánh giá, phân tích quá trình sử dụng đất trong phạm vi hành chính
3.3.4.2 Phân tích, dự báo xu hướng sử dụng đất và xây dựng các phương án
3.3.4.3 Lựa chọn phương án QHSDĐ được coi là tối ưu và khả thi nhất 178 3.3.4.4 Xây dựng các biện pháp để hoàn thiện việc tổ chức sử dụng đất hợp lý
Trang 7Phụ lục : Kết quả thử nghiệm phần mềm LFB quy hoạch sử dụng đất xã
Hùng Thắng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 206
Trang 88
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quy hoạch sử dụng đất liên quan trực tiếp đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế và cơ cấu hài hòa của xã hội Ở Việt Nam, mặc dù tốc độ tăng dân số có xu hướng giảm dần, nhưng về quy mô tuyệt đối thì hàng năm dân số còn tăng trên dưới 1 triệu người (tương đương quy mô dân số trung bình của một tỉnh) Với quy mô gần 86,2 triệu dân, Việt Nam là nước đông dân thứ 12 trên thế giới (sau Trung Quốc, Ấn
Độ, Mỹ, Indonesia, Brazil, Pakistan, Bangladesh, Nigeria, Nhật Bản, Mexico, Philippines); mật độ dân số của Việt Nam đạt 260 người/km2, cao gấp 5 lần và đứng thứ 11/208 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; cao gấp 2 lần và đứng thứ 8/11 nước ở Đông Nam Á; trong khi đó tài nguyên đất của nước ta chỉ giới hạn giao động ở con số
± 32,924 triệu ha Như vậy, Việt Nam lâu nay là quốc gia “Đất chật - Người đông”, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa câu nói trên lại càng được minh chứng trong thực tiễn Vì vậy, những mâu thuẫn giữa con người với đất đai đang ngày càng trở nên gay gắt, đất đai - kinh tế - xã hội ngày càng trở nên phức tạp Do đó, việc xây dựng cho được một quy hoạch sử dụng đất khoa học và khả thi là một công trình có ảnh hưởngquyết định đến quốc kế dân sinh
Từ khi Hiến pháp 1980 được ban hành, vấn đề quy hoạch sử dụng đất được Hiến pháp quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung ”(Điều 20
- Hiến pháp 1980) và “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật” (Điều 18 - Hiến pháp 1992) Đặc biệt là từ thời điểm Luật Đất đai (1987) đến nay, công tác quy hoạch sử dụng đất đã được các ngành, các cấp coi trọng Chính quyền các cấp đã tiến hành quản lý đất đai theo quy hoạch, ý thức sử dụng đất theo quy hoạch của người dân không ngừng được nâng cao
Thời gian qua, công tác quy hoạch sử dụng đất đã đạt được những thành tựu đáng kể và đã trở thành một công cụ quan trong để thực hiện quản lý Nhà nước và củng cố sự đồng thuận của xã hội trong quá trình phát triển Nhưng trước những áp lực mới của tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, điều chỉnh lại cơ cấu sử dụng đất gắn với chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mặt khác quản điểm bảo vệ đất nông nghiệp, bảo vệ hệ sinh thái và môi trường, chống tam nhũng trong lĩnh vực đất đai yêu cầu phải đổi mới công tác quy hoạch sử dụng đất cả về lý luận cũng như thực tiễn và khoa học công nghệ
Trên cơ sở đó, chương trình “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa” được tổ chức triển khai với các mục tiêu và phương pháp sau:
Mục tiêu nghiên cứu: Nâng cao nhận thức sâu hơn và mới hơn, đầy đủ hơn,
nắm vững thực trạng quy hoạch sử dụng đất đai của nước ta, đề xuất được các giải pháp
Trang 99
hoàn thiện hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai trong thời kỳ công nghiệp hoá đât nước
từ nay đến những năm ngoài 2020
Phương pháp nghiên cứu
Chương trình nghiên cứu được áp dụng bằng các phương pháp: nghiên cứu lý thuyết; tiếp cận hệ thống; mô hình hoá và mô phỏng; kế thừa; điều tra thực tế (điều tra thống kê, điều tra xã hội học); phương pháp tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tiến hành nghiên cứu một khối lượng lớn
các tài liệu, tư liệu, sách báo khoa học được sưu tập và chọn lựa của các nước, các tổ chức quốc tế, các hội nghị hội thảo quốc tế và trong nước; các nghiên cứu khoa học của các tác giả trong thời gian 15 năm trở lại đây (thống kê cuối báo cáo)
Phương pháp tiếp cận hệ thống : Luôn luôn đặt các hiện tượng, sự việc trong
hoàn cảnh được sắp xếp theo thứ bậc, từ cao xuống thấp, từ đơn giản đến phức tạp, từ cái chung đến cái riêng, từ tổng thể đến chi tiết, từ lý lý luận đến thực tiễn, từ nguồn gốc lịch sử đến thực trạng phát triển và cho đến hiện tại,
Phương pháp mô hình hoá và mô phỏng: Khái quát hoá các nội dung, hệ thống
tiêu chí và chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường, dưới dạng các mô hình với các ràng buộc của các bài toán quy hoạch tuyến tính theo các cấp bậc phụ thuộc lẫn nhau Vấn đề mô phỏng được áp dụng trong việc mô tả các quá trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai của các cấp vùng lãnh thổ có độ phân dị khác nhau, các thông tin đầu vào và kết xuất được mô tả bằng các véc tơ có độ chuẩn và tính đồng nhất chấp nhận được
Phương pháp kế thừa: Được thực hiện ngay từ khi thiết kế chương trình đề tài
khoa học, đó là việc khái quát hoá, tổng hợp hoá các công trình nghiên cứu đã được các tác giả tổng kết trên thế giới về quy hoạch sử dụng đất đai, của chính các tác giả tham gia thực hiện các phần nội dung của chương trình khoa học
Phương pháp điều tra thực tế được sử dụng cả phương pháp điều tra thu thập tài
liệu, điều tra thống kê và điều tra xã hội học một số tiêu chí phục vụ cho nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Đối tượng điều tra là thực trạng quy hoạch sử dụng đất đai, nội dung quy hoạch sử dụng đất đai của nước ta theo cách chọn mẫu (8 tỉnh điều tra về thực trạng quy họach; điều tra đổi mới nội dung quy hoạch) và kết quả khảo sát tại Trung quốc Hai nội dung được điều tra ngoại nghiệp là về thực trạng quy hoạch
sử dụng đất đai của nước ta trong thời gian hơn 20 năm qua và về nội dung quy hoạch
sử dụng đất đai cho thời kỳ công nghiệp hoá đất nước từ nay đến những năm ngoài
2020 được thiết kế thành các bộ câu hỏi
Trang 1010
Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở báo cáo tổng kết nghiên cứu khoa học của
các đề tài nhánh, những nội dung cơ bản, các số liệu chính thức, quan điểm, giải pháp, công nghệ được chọn lọc, kết xuất đưa vào báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật Chương trình (sau khi đã tham khảo ý kiến phản biện của các chuyên gia)
Phạm vi nghiên cứu của chương trình bao gồm các lý thuyết về quy hoạch sử
dụng đất đai của thế giới và của nước ta với nội dung của các cấp vùng lãnh thổ hành
chính và vùng kinh tế tổng hợp
Thời gian nghiên cứu trong trường hợp này không bị bất kỳ một giới hạn cứng
nào Nghĩa là về không gian là của cả thế giới, về thời gian là từ lịch sử hình thành và
quá trình phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai tới thời đại của chúng ta Tuy nhiên
mục đích chính vẫn là về quy hoạch sử dụng đất đai hiện đại, trong đó đặc biệt quan
tâm đến ý nghĩa thực dụng của nó
Bố cục của báo: Gồm các phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, tài liệu tham khảo,
phụ lục và 3 Chương chính:
Chương 1: Tổng luận về quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam
Chương 2: Hiện trạng quy hoạch sử dụng đất ở nước ta
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất trong
thời kỳ công nghiệp hóa
Trang 1111
CHƯƠNG 1
TỔNG LUẬN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
1.1 ĐẤT ĐAI VÀ SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1 Đặc tính và chức năng của đất đai
1.I.1.1 Khái niệm về đất và đất đai
Đất trong thuật ngữ chung là các vật chất nằm trên bề mặt Trái đất, có khả năng
hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật và phục vụ như là môi trường sinh sống của các dạng
sự sống động vật từ các vi sinh vật tới các loài động vật nhỏ
V.V.Dokuchaev, nhà khoa học người Nga tiên phong trong lĩnhh vực khoa học
đất cho rằng: “Đất như là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển
riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diến ra trong nó Đất được coi là khác biệt bởi với đá Đá trở thành đất dưới ảnh hưởngcủa một loạt các yếu tố tạo thành đất như khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi” Theo ông, đất có thể
được gọi là các tầng trên nhất của đá không phụ thuộc vào dạng; chúng bị thay đổi một cách tự nhiên bởi các tác động phổ biến của nước, không khí và một loạt các dạng hình của các sinh vật sống hay chết(1 ) Đất vô cùng quan trọng cho mọi loại hình
sự sống trên Trái đất vì nó hỗ trợ sự sinh trưưởng của thực vật, trong quan hệ tuần hoàn thì các loài thực vật lại cung cấp thức ăn và oxy cũng như hấp thụ đioxit các bon…
Đất có thể chia thành hai lớp tổng quát (hay 2 tầng): Tầng bề mặt, là lớp trên cùng nhất, ở đó phần lớn các loài rễ cây, vi sinh vật và các loại hình sự sống động vật khác cư trú và tầng đất cái, tầng này nằm sâu hơn và thông thường dày đặc và chặt hơn cũng như ít các chất hứu cơ hơn
Nước, không khí cũng là thành phần của các loại đất Không khí nằm trong các khoảng không gian giữa các hạt đất và nước nằm trong các khoảng không gian cũng như bề mặt các hạt đất, chiếm khoảng 1/4 thể tích của đất Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưưởng của thực vật và các loại hình khác trong thiết diện đứng của đất trong một hệ sinh thái cụ thể Căn cứ tỷ lệ các loại hạt (thành phần đá và khoáng chất trong đất, đất được chia ra thành 3 nhóm: Đất cát, đất thịt, đất sét, chúng có các tỷ
lệ hạt cát, limon và sét như sau:
Trang 1212
Các loại đất tiến hóa tự nhiên theo thời gian bởi các hoạt động của thực vật, động vật và phong hóa Đất cũng chịu ảnh hưởng bởi các hoạt động sống của con người Con người có thể cải tạo đất để làm cho thích hợp hơn đối với sự sinh trưởng của thực vật thông qua việc bổ sung các chất hữu cơ và phân bón tự nhiên hay tổng hợp, cũng như cải tạo tưới tiêu tăng khả năng giữ nước của đất Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của con người cũng có thể làm thoái hóa đất bởi các hành vi hủy hoại đất, sử dụng đất không đúng mục đích, chặt phá rừng v.v và một trong những nguyên nhân rủi ro được bắt nguồn từ việc xây dựng, thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất thiếu khoa học, không đồng bộ và kém hiệu quả dẫn đến
hệ lụy làm cạn kiệt các chất dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường đất và làm tăng sự xói mòn đất…
Từ nửa thế kỷ trở lại đây, về học thuật, tư duy của con người về phân biệt đất và đất đai khá đồng nhất: “Đất” với nghĩa là “thổ” hay còn được hiểu là “thổ nhưỡng” Thuật ngữ này có nghĩa (tương đương) phổ biến và rõ ràng từ tiếng Anh, Nga, Trung, Pháp, Triều Tiên,… Còn “đất đai” với ý nghĩa là một không gian của đất: có ranh giới khép kín trên bề mặt của trái đất, có chiều thẳng đứng hướng lên phía trên không trung
và hướng xuống phía dưới trong lòng đất, có sự kết hợp các thành phần tự nhiên, sinh vật sống theo chiều nằm ngang [40] Thông thường khi gắn với ý nghĩa “tài nguyên thiên nhiên” người ta hay dùng thuật ngữ “Tài nguyên đất”; khi nói về khai thác, quản
lý, sử dụng,…người ta hay dùng “đất đai”
Đất đai được định nghĩa là một khu vực bề mặt của trái đất cùng với nước, đất,
đá, khoáng sản và Hydrocácbon bên dưới, bên trên khu và không khí bên trên khu vực
đó Nó bao gồm tất cả những đối tượng có liên quan đến một khu vực cố định hay một điểm của bề mặt trái đất, gồm cả những khu vực mà được bao phủ bởi nước (cả biển) [100] “Đất” và “Đất đai” cần được phân biệt trong từng trường hợp ngữ cảnh sử dụng
cụ thể
Đất với ý nghĩa là một khối lượng đất, thậm chí là đất của cả trái đất [52], ý nói
về cấu tạo của đất về tính chất hoá, lý, sinh,…của đất hay hiểu đúng hơn là “thổ nhưỡng” Đất đai nói về một diện tích của một giới hạn cụ thể trên bề mặt của quả đất, không gian của đất có cả chiều thẳng đứng hướng lên phía trên, phía dưới và có cả chiều nằm ngang kết nối các yếu tố tự nhiên cũng như các điều kiện sống Vì thế “địa chính” theo quan điểm hiện đại có đối tượng chính là “đất đai”, còn “đất” đóng vai trò thứ yếu (Thực tế ở nước ta, đất và đất đai đã được sử dụng lẫn cho nhau một cách phổ biến mà không cần bất kỳ một giải thích nào) [42]
Mặc dầu vậy trong đời sống hằng ngày “đất” và “đất đai” vẫn được dùng có cùng nghĩa như nhau Với cách lý giải như vậy, trong nghiên cứu này thuật ngữ “quy hoạch sử dụng đất” hay “quy hoạch sử dụng đất đai” là đồng nghĩa Tuy nhiên, như đã diễn giải về mặt học thuật, báo cáo thống nhất dùng thuật ngữ “quy hoạch sử dụng đất”
Trang 1313
1.1.1.2 Đặc tính
Nằm ở vị trí thuận lợi trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, các loại đất chính ở Việt Nam được kiến tạo trên mặt Trái đất có đầy đủ tính chất lý hóa Qua các nghiên cứu, kết quả chính thu được trên mật độ lớn, mật độ porosity, đặc điểm ẩm đất của một
số loại đất điển hình trong các khu vực sinh thái khẳng định đặc điểm của đất ở nước ta Đất Bazan có mật độ cao và số lượng lớn porosity cao so với các loại đất ở các vùng cao khác Đất có nguồn gốc trên đá phiến, đất phù sa cũ, xuống cấp đất xám có mật độ cao và thay đổi số lượng lớn bằng các biện pháp canh tác Gần đất phù sa, đất cát biển
đã không thay đổi nhiều trong đất về tính chất vật lý
Chế độ nước trong đất phụ thuộc vào nội dung chất hữu cơ, kết cấu đất Do sự khác biệt trong wilting điểm độ ẩm và độ ẩm lĩnh vực năng lực, hiệu quả độ ẩm của cá loại đất khác nhau bằng các loại đất
Bảng 1: Các đặc điểm tính chất của các loại đất ở Việt Nam
Trang 1414
Ngoài những đặc tính về lý hóa của đất, đặc tính tự nhiên và KTXH của đất đai được xem xét theo hai tư cách:
Thứ nhất, với tư cách là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, không tái tạo
được, có giới hạn Xét về nguồn gốc phát sinh xa xưa đất đai là sở hữu chung của loài người và thiên nhiên “cho không” loài người;
Thứ hai, đất đai với tư cách là nguồn nội lực, là vốn, là sở hữu riêng như một tài
sản - bất động sản (BĐS) được trao đổi sử dụng như hàng hoá trong nền kinh tế thị trường thì cả giá trị - giá trị sử dụng của đất là vô cùng to lớn và không ngừng tăng lên[103]
Trong kinh tế học, đất đai bao gồm tất cả các tài nguyên có nguồn gốc tự nhiên, chẳng hạn như vị trí địa lý của khu vực đất đai, các tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất và thậm chí các thành phần của phổ điện từ Trong kinh tế học cổ điển, đất đai được coi là một trong các yếu tố sản xuất, các yếu tố khác là tư bản và sức lao động Vì đất không được sinh ra, thị trường đất đai phản ứng với việc đánh thuế khác hẳn so với thị trường lao động và thị trường hàng hóa do con người sản xuất ra Thuế giá trị đất hoàn thiện một cách lý tưởng có thể không ảnh hưởng tới chi phí cơ hội trong việc sử dụng đất, thay vì nó có thể làm giảm giá trị của quyền sở hữu đất hợp pháp (xem chủ nghĩa George) Đất cụ thể là vị trí địa lý và các tài nguyên khoáng sản trong lịch sử, là tài sản
và của con nhười và quốc gia; sự thịnh vượng của mỗi quốc gia đều xuất phát từ khả năng sinh lời của đất thông qua chính sách quy hoạch sử dụng đất và sử dụng đất
Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất) vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc) Vì vậy, đất đai là “tư liệu sản xuất” Tuy nhiên cần lưu ý các tính chất “đặc biệt” của loại tư liệu sản xuất là đất so với các tư liệu sản xuất như:
- Đặc điểm tạo thành của đất đai: đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận
thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất Trong khi đó các tư liệu sản xuất khác
là kết quả của lao động có trước của con người (do con người tạo ra)
- Đất đai là tài nguyên hạn chế: diện tích bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên
bề mặt địa cầu Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội còn đất đai thì không thể Chính những yếu tố này tạo nên tính hạn chế về số lượng của đất Cũng như vậy các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về chất lượng, quy cách, tiêu chuẩn (mang tính tương đối do quy trình công nghệ quyết
Trang 1515
định) Tuy nhiên ở đất đai các hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý hoá của đất… không đồng nhất về chất lượng (được quyết định bởi các yếu tố hình thành đất cũng như chế độ sử dụng đất khác nhau), điều này tạo nền đặc tính không đồng nhất của đất đai
- Đặc điểm không thay thế được: Các tư liệu sản xuất có thể được thay thế bằng
tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn Đối với đất đai việc thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là việc không thể làm được Đây là đặc tính không thể thay thế của đất
Đất đai còn mang một đặc tính cơ bản đó là tính cố định về vị trí: đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác) Các
tư liệu sản xuất khác được sử dụng ở mọi nơi, mọi chỗ và có thể di chuyển trên các khoảng cách khác nhau tuỳ theo sự cần thiết
Ngoài ra một đặc tính cơ bản của đất mà hầu như không một tư liệu sản xuất nào
có được đó là tính vĩnh cửu của đất đai Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không lệ thuộc vào tác động phá hoại của thời gian) Nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tuỳ thuộc vào phương thức sử dụng, đây là tính chất có giá trị đặc biệt không tư liệu sản xuất nào có được Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sản xuất giảm và cuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất
1.1.1.3 Chức năng của đất
Trước đây, theo Lucreotit- Triết gia La mã thế kỷ I TrCN: Đất được quan niệm
là mẹ của muôn loài, không có cái gì không từ lòng mẹ “Đất” mà ra Theo nhà kinh tế học Italia Uyliam Petty: “Lao động là cha, đất là mẹ sinh sản ra mọi của cải vật chất của thế giới này” Tục ngữ ta có câu “Người ta là hoa đất” Theo Phan Huy Chú (1817):
“Của báu của một nước không có gì bằng đất đai Nhân dân và của cải đều do đấy mà
ra’’ Quan hệ người - đất được thể chế hoá bằng luật cũng đã có hàng nghìn năm tuổi
Luật sử dụng đất đầu tiên của nước Anh có từ năm 1268 Các chính sách thuế đất nông nghiệp ở Ai Cập cổ đại có từ khoảng 3.000 năm nay Chính sách thu thuế đất nông nghiệp của Trung Quốc cũng có cách đây hơn 2.500 năm Ở nước ta, các quan hệ về sử dụng đất đai cũng được xác lập từ thời Nhà tiền Lê, thời nhà Hồ, Nhà Trần và đặc biệt là thời Gia Long Như vậy quan hệ người - đất đặc biệt đối với người nông dân là rất sớm và nhà nước điều tiết mối quan hệ này cũng rất sớm [43]
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc ở miền Bắc, thực hiện chính sách “người cày có ruộng”, vai trò của đất đai được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam có hai tiếng Tổ Quốc Ta gọi Tổ Quốc là đất nước, có đất, có nước mới thành Tổ Quốc Có đất lại có nước thì dân giầu, nước mạnh” Vì vậy, đất đai có
Trang 1616
chức năng rộng lớn đối với kinh tế - chính trị - xã hội - con người - tự nhiên và môi trường Cụ thể:
Đất là một nhất thể không gian cố định: theo đó, đất cố định về định lượng theo
bề mặt của Trái đất và khoảng không bên trên, có vị trí cố định, diện tích hiện hữu, chất lượng biến đổi theo thời gian Đất được coi như một khu vực hay một nhất thể không gian từ một thửa đất đến một đất nước cho đến cả hành tinh [87]
Đất gắn kết với con người về tinh thần: đất được coi là vị thần linh, nơi con người gắn số phận của mình vào đó hơn là làm chủ sở hữu nó
Khoanh định ranh giới đất để xác định lãnh thổ và quyền lực: mỗi quốc gia trong cộng đồng thế giới đều có lãnh thổ riêng theo ranh giới cụ thể (được thế giới công nhận) thông qua các hiệp ước, điều ước quốc tế (là quê hương, quốc gia) Trong đó có
sự thể hiện về quyền lực, một nhóm cá nhân sống trong một khu vực nào đó với cùng quyền lợi và các giá trị cá nhân, tập thể
Đất là nguồn vốn: Trong nền kinh tế thị trường, đất được coi là một nguồn cung quan trọng, nguồn nội lực to lớn bởi nó có khả năng sinh lời cao và khả năng tạo ra nguồn tài chính dồi dào đối với nền kinh tế quốc dân
Đất như là môi trường: càng ngày đất càng được coi như một nguồn thiên nhiên với giá trị và quý hiếm đối với hệ sinh thái và cuộc sống con người Điều này được xác định trong Chương trình Nghị sự 21 (Liên hiệp quốc)
Đất như là tài sản: đó là quyền của cá nhân hay tập thể đối với đất, tạo ra bởi tập tục, quy ước hay luật pháp, trở thành tài sản cá nhân hay cộng đồng [103,104]
Đất đai cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, bằng cách đó, trực tiếp hay gián tiếp cung cấp thực phẩm cho con người và các loài sinh vật, đảm bảo sự sinh tồn
và phát triển cho các loài trên Trái đất
Việt Nam có tổng diện tích đất đai tự nhiên trên 33,12 triệu ha, đứng thứ 58 trên thế giới, trong đó đất bồi tụ khoảng 17 triệu ha, đất phát triển tại chỗ khoảng 22 triệu
ha, đất bằng và đất ít dốc chiếm 39% Cơ cấu sử dụng đất được điều chỉnh theo hướng công nghiệp hóa (CNH), đất sản xuất nông nghiệp có tỷ lệ 28%, lâm nghiệp 43,8%, đất chuyên dùng 4,3% và đất ở 1,8% Trong đó, đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm 17% Đất cần cải tạo (đất cát, mặn, phèn, xám bạc màu ) chiếm khoảng 20% Trong số các nhóm đất chính có 9,1% đất phù sa, 7,5% đất xám bạc màu, 5,2% đất phèn, 3,0% đất mặn, 1,4% đất cát biển, 48,5% đất feralit đỏ vàng, 6 triệu ha đất đỏ vàng trên đất sét và đá biến chất, 4,6 triệu ha đất nâu đỏ trên đá macma trung tính và bazơ (trong đó đất bazan là phì nhiêu nhất)
Tuy Việt Nam có diện tích đất lớn so với nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, mật độ dân số 260 người/km2 (cao gấp trên 5 lần và đứng thứ 41/208 nước và
Trang 1717
vùng lãnh thổ; cao hơn gấp 2 lần và đứng thứ 8/11 nước ở Đông Nam Á)(2); Hệ số sử dụng đất (tỷ lệ giữa tổng diện tích đất được Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, nhà đầu tư với diện tích sử dụng thực tế theo dự án đã được phê duyệt) đạt thấp, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài ở nước ta hiện nay(3) Tình trạng “quy hoạch treo”, “giải tỏa treo”, “dự án treo” bắt đầu từ chính sách quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) đã và đang trở thành “căn bệnh” chữa lâu khỏi ở các cấp, của các địa phương trong cả nước Như vậy, có thể khẳng định đất đai chỉ được sử dụng có hiệu quả, phù hợp, bền vững khi có định hướng chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội (KTXH) và môi trường chuẩn mực, trong đó QHSDĐ (được cấp có thẩm quyền phê duyệt) là sợi chỉ xuyên suốt đối với quá trình quản lý Nhà nước về đất đai và sử dụng đất đai
1.1.2 Phân loại (và sử dụng đất)
1.1.2.1 Khái niệm
Bắt đầu từ năm 1870, trường phái Nga về khoa học đất dưới sự lãnh đạo của V.V Dokuchaev (1846 - 1903) và N.M Sibirtsev (1860 - 1900) đã phát triển khái niệm mới về đất Các nhà nghiên cứu Nga coi đất là một thực thể tự nhiên độc lập, mỗi loại có thuộc tính duy nhất được tạo ra bởi tổ hợp duy nhất của khí hậu, các vật chất sống, nguyên liệu gốc, địa hình và thời gian Họ giả thuyết rằng các thuộc tính của mỗi loại đất phản ánh các hiệu ứng tổ hợp của một tập hợp cụ thể các yếu tố phát sinh có trách nhiệm trong việc hình thành đất HansJenny sau đó nhấn mạnh sự liên quan về chức năng của các thuộc tính của đất và sự hình thành đất Các khái niệm của người Nga có thể đánh giá là một cuộc cách mạng của đất tổng thể không còn dựa trên các điều suy diễn từ bản chất tự nhiên của đá hay khí hậu hoặc các yếu tố môi trường khác khi xem xét một cách độc lập hay tổng thể, mà nó là của bản thân đất một cách trực tiếp, sự biểu đạt tổng thể của các yếu tố này có thể xem xét trong hình thái học của đất Khái niệm này bắt buộc rằng mọi thuộc tính của đất phải được xem xét một cách tổng thể trong giới hạn của một thực thể tự nhiên độc lập hoàn toàn
Khái niệm về đất đã dần được mở rộng trong những năm sau thời kỳ 1930, chủ yếu thông qua sự hợp nhất cân bằng Marbut nhấn mạnh rằng sự phân loại đất phải dựa trên hình thái học thay vì dựa trên các học thuyết về nguồn gốc đất đai, bởi các học thuyết là “phù du” và thay đổi Marbut đã cố gắng làm rõ việc khảo sát đất đai tự nó là chủ yếu trong phát triển hệ thống phân loại đất và trong việc tạo ra các bản đồ đất đai
có ích Tuy vậy Marbut biểu lộ những hiểu biết cá nhân của ông về những đóng góp của địa chất học đối với khoa học đất Sự phân loại đất năm 1935 của ông phụ thuộc
2 Nguồn: Số liệu tổng điều tra dân số năm 2009
3 Nguồn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Đến tháng 12/2008, cả nước có 202 khu công nghiệp, khu chế xuất, diện tích đất
xây dựng là 49.713 ha, trong đó đất có thể cho thuê là 31.757 ha, đã cho thuê 15.381 ha (48,43%)
Trang 1818
nhiều vào khái niệm “đất bình thường”, sản phẩm của sự cân bằng trong khu vực ở đó
sự xói mòn theo thời gian giữ được tốc độ tiến triển của sự hình thành đất
Các yếu tố hình thành đất (Factors of Soi Formasion) cùng với một hệ thống thổ nhưỡng học định lượng đã được Hans Jenny (1899 - 1892) tổng quát hóa một cách xúc tích và minh họa bằng rất nhiều nguyên lý cơ bản của khao học đất hiện đại tới thời điểm đó Từ năm 1940, các công trình nghiên cứu của Guy Smith cuối cùng đã cho ra một hệ thống phân loại đất mới, nó trở thành hệ thống phân loại chính thức của
Mỹ (năm 1965)(4)
Trên cơ sở tham khảo và kế thừa các phương pháp và kết quả nghiên cứu của Nga và các nước phương Tây, việc đánh giá đất là khâu quan trọng và then chốt đối với công tác địa chính của Việt Nam, nhiều nghiên cứu khoa học đã được thực hiện
và đi đến thống nhất công tác phân loại đất đai theo hướng: Xác định cơ sở khoa học phân loại đất thích hợp theo mục đích sử dụng nông lâm nghiệp với các nguyên tắc, khái niệm, hệ thống phân vị, yếu tố phân loại phù hợp với việc ứng dụng trong thực tế; xác định các căn cứ và chỉ tiêu phân loại đất khái quát toàn quốc, định hướng xây dựng quy trình đánh giá đất thống nhất và mẫu bản đồ phân loại đất; xác định phương pháp phân loại đất thích hợp theo mục đích sử dụng làm cơ sở cho hoạch định chính sách sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất
Như vậy, khái niệm về phân loại đất trong báo cáo này được hiểu: Là việc gộp các hiện tượng, quá trình và tổng thể của mục đích sử dụng đất theo những dấu hiệu giống nhau của đối tượng Hệ thống phân loại đất có nhiều bậc, càng xuống bậc dưới sự giống nhau càng chi tiết và bao gồm ít cá thể Có hệ thống phân loại đất chung, hệ thống phân loại cho từng thành phần đất và từng cấp phân vị tài nguyên đất
1.1.2.2 Phân loại đất
Phân loại đất Miền Bắc Việt Nam (1959) gồm 3 nhóm với 18 đơn vị, năm 1964
VM Fritland phát triển thành 5 nhóm với 26 đơn vị; Phân loại đất Miền Nam Việt Nam (MR Moorman) 1960 gồm 7 nhóm với 25 đơn vị; Phân loại đất bản đồ đất Việt Nam 1/1.000.000 (1976) gồm 13 nhóm và 30 đơn vị; Phân loại đất dùng cho bản đồ tỷ lệ trung bình và lớn gồm 14 nhóm và 64 loại; Phân loại đất Việt Nam theo phương pháp định lượng FAO - Unesco (Hội Khoa học đất Việt Nam 1996) trên nguyên tắc: Kết hợp nguyên tắc phát sinh (nhất là ở cấp cao) và tiêu chuẩn định lượng đối với các cấp, thừa
kế phân loại đất hiện tại về bản chất cũng như thuật ngữ nhưng có nội dung và chỉ tiêu mới theo quan điểm định lượng, hệ thống phân vị theo 3 cấp tương đương FAO - Unesco: Nhóm (cấp I), Đơn vị (cấp II), Đơn vị phụ (cấp III)
4 Nguồn: Soil Survey Staff (1993) Soil Survey Manual USDA Handbook 18
Trang 1919
* Phân loại đất theo tên gọi, đất đai ở Việt Nam có một số loại đất chính: Nhóm đất phù sa (Fluvisol); nhóm đất phèn (Thionic Fluvisol); nhóm đất cát (Arenosol); nhóm đất xám (Acrisol); nhóm đất đỏ (Ferralsol); nhóm đất mặn (salic Fluvisol)
Trong đó, đất xám (Acrisol là nhóm có diện tích lớn nhất Việt Nam theo UNESCO, có diện tích 19.970.642 ha) phân bố rộng khắp trung du miền núi và đồng bằng Đất này được chia thành 5 loại: Xám bạc màu (Haplic Acrisol); xám có tầng loang lổ (Plinthic Acrisol); xám glay (Gleyic Acrisol); xám ferrlic (Ferralic Acrisol); xám mùn trên núi (Humic Acrisol)
FAO-Bảng 2: Phân loại đất Việt Nam theo phương pháp định lượng Fao-Unesco(5)
A Đất mùn Alít núi cao
E Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá
N Đất nhân tác
FLs Salic Fluvisols FLt Thionic Fluvisols
Ví dụ: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1993 (năm 1998) có các quy định (Điều 1 về sửa đổi Điều 20) liên quan đến việc phân loại đất dựa trên các căn cứ, phương thức, thời hạn, mục đích sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (viết tắt là chủ sử dụng đất) hoặc phân loại theo đặc điểm lý, hóa của đất:
5 Nguồn: Hội Khoa học đất Việt Nam 1996
Trang 2020
a) Các loại đất được phân theo phương thức giao đất:
- Đất Nhà nước giao;
- Đất Nhà nước cho thuê;
(Hiện vẫn còn một số diện tích đất do lịch sử của thời kỳ bao cấp để lại như việc Nhà nước cấp “cho đất” trước đây)
b) Các loại đất được phân ra theo thời gian sử dụng đất:
- Đất Nhà nước giao sử dụng ổn định, lâu dài - Trong loại này có:
+ Đất sử dụng để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm; + Đất sử dụng để trồng cây lâu năm là 50 năm;
- Đất Nhà nước giao có thời hạn sử dụng;
- Loại đất do Nhà nước thu hồi;
c) Các loại đất được phân ra theo phương thức tài chính - kinh tế:
- Đất Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất;
- Đất Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất
- Đất Nhà nước cho thuê - Trong loại này có:
+ Đất thuê phải trả tiền thuê đất hàng năm;
+ Đất thuê trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê;
Trong thực tế, mối quan hệ biện chứng và tác động tương hỗ giữa phân loại đất với quy hoạch sử dụng đất là không thể phủ nhận bởi phân loại đất là yếu tố đầu vào của sản phẩm quy hoạch sử dụng đất Hệ thống phân loại đất đai là tiêu chí và chỉ tiêu (tiêu chuẩn) cho việc tính toán lập các phương án quy hoạch sử dụng đất đai Trên cơ
sở các tiêu chí đã được xác định, chỉ tiêu sử dụng đất được chi tiết hóa đến từng tiểu mục trong các loại đất và tiểu loại đất trong các nhóm đất Luật đất đai 1987, phân loại đất đai theo 5 loại (Đất nông nghiệp - Đất lâm nghiệp - Đất khu dân cư - Đất chuyên dùng - Đất chưa sử dụng), mỗi nhóm tiếp tục được phân thành các loại nhỏ Luật Đất đai 1993, có 6 nhóm (Đất nông nghiệp - Đất lâm nghiệp - Đất khu dân cư nông thôn - Đất đô thị - Đất chuyên dùng - Đất chưa sử dụng đất), có 5 loại (trừ đất chưa sử dụng) được chia nhỏ thành trên 60 loại đất cho các mục đích sử dụng khác nhau Luật Đất đai năm 2003 chỉ phân đất thành 3 nhóm chính
- Nhóm đất nông nghiệp (có 7 loại chính);
- Nhóm đất phi nông nghiệp (có 10 loại chính);
- Nhóm đất chưa sử dụng;
Trang 2121
Mỗi nhóm lại được chia thành nhiều loại đất khác nhau(lên tới 105 loại)
* Trong xây dựng, đất sử dụng cho công tác xây dựng nằm trong nhóm đất phi nông nghiệp, hiện tại có nhiều phương pháp phân loại đất nhưng tựu trung ở tất cả các phương pháp, đất nói chung được chia thành 2 phạm trù khác nhau như: Đất không tính dính (còn gọi là đất thô hay đất cát sỏi vụn thô và đất dính (còn gọi là đất hạt mịn hay đất loại sét) Trong mỗi loại lại có nhiều nhóm đất khác nhau như khiểu phân loại đất thuần túy theo thành phần “hạt” và loại này thành phần nhóm hạt sét là chủ yếu Nhóm đất sét gồm 4 loại (sét, sét pha, á cát hay còn gọi là cát pha, cát), mỗi nhóm có các loại khác nhau Tuy nhiên, tìm hiểu cách phân loại này chỉ nhăm mục đích minh họa cho việc phân loại đất bằng nhiều phương pháp và phân loại đất (đối tượng nghiên cứu) chủ yếu là đất được phân loại theo mục đích sử dụng bởi nó là một trong những nội dung quan trọng
1.1.2.3 Diễn biến đánh giá phân loại sử dụng đất ở nước ta
a) Công tác điều tra, khảo sát đánh giá, phân hạng đất
Công tác điều tra, khảo sát đánh giá, phân hạng đất ở nước ta được bắt đầu từ cuối những năm 1950, bằng việc xây dựng sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 Mục đích của việc điều tra cơ bản các tài nguyên thiên nhiên miền Bắc nước ta là để xây dựng các kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế, kiến thiết miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội Từ cuối năm 1957, Bộ Nông lâm giao nhiệm vụ cho Viện khảo cứu trồng trọt bắt đầu điều tra cơ bản đất nông lâm nghiệp một cách có hệ thống
để lập bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam
Từ năm1961 đến 1965, các tỉnh miền Bắc tiến hành điều tra, khảo sát xây dựng bản đồ thổ nhưỡng của tỉnh với mục đích phục vụ cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Đây là đợt điều tra khảo sát xây dựng bản đồ thổ nhưỡng có quy mô lớn nhất và mang tính cơ bản nhất ở miền Bắc Việt Nam Sau 5 năm triển khai, có khoảng 13/15 tỉnh xây dựng xong bản đồ thổ nhưỡng của tỉnh ở tỷ
lệ từ 1/50.000 đến 1/100.000, ở vùng đồng bằng nhiều tỉnh đã xây dựng được bản đồ thổ nhưỡng cấp huyện ở tỷ lệ 1/25.000 Miền Bắc Việt Nam có bản đồ thổ nhưỡng tỷ
lệ 1/500.000 ở miền Nam, năm 1960, với sự giúp đỡ của tổ chức canh nông Liên hợp quốc đã xây dựng được bản đồ đất toàn miền tỷ lệ 1/1.000.000 và bản đồ vùng tỷ lệ từ 1/100.000 đến 1/300.000
Sau ngày thống nhất đất nước (1975), Nhà nước chỉ đạo tập trung lực lượng tổng điều tra đất toàn miền Nam, đến năm 1980, miền Nam đã có bản đồ tính từ cấp huyện trở lên Như vậy, đến năm 1980, nước ta cơ bản đã hoàn thành điều tra lập bản
đồ đất tỷ lệ trung bình và lớn với đơn vị phân loại thống nhất trên phạm vi cả nước Ngày 01/7/1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước
Trang 22xã hội chủ nghĩa” Hội đồng Chính phủ quy định việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Tại Mục II, Quyết định quy định toàn bộ ruộng đất được phân thành 4 loại sau:
- Đất nông nghiệp là đất được xác định dùng cho các lĩnh vực hoạt động của sản xuất nông nghiệp (SXNN) như trồng trọt, chăn nuôi hoặc nghiên cứu, thí nghiệm về trồng trọt hoặc chăn nuôi;
- Đất nông nghiệp là đất được xác định dùng cho các lĩnh vực hoạt động của sản xuất lâm nghiệp như khai thác rừng, trồng rừng, khoanh nuôi rừng, tu bổ cải tạo rừng
và dùng để phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường;
- Đất chuyên dùng là đất được xác định dùng vào các mục đích không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, bao gồm đất ở, đất xây dựng các công trình thủy lợi, công nghiệp, giao thông vận tải, quốc phòng, văn hóa giáo dục, khao học, y tế nghỉ mát, du lịch, kể cả các công trình phục vụ cho nông nghiệp và lâm nghiệp.v.v.;
- Đất chưa sử dụng là đất chưa phân bổ vào mục đích nào hoặc chỉ mới tạm thời phân phối để sử dụng trong một thời gian ngắn
Xét về giác độ quản lý, sử dụng đất, quan hệ đất đai trong lĩnh vực kinh tế được thể hiện qua từng giai đoạn cụ thể, nó phát triển theo nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các ngành, lĩnh vực Từ thời điểm sau cải cách ruộng đất đến trước thời kỳ đổi mới, chính sách sử dụng đất đai giai đoạn này đã phản ánh thực chất đặc điểm phát triển kinh tế của một quốc gia kinh tế nông nghiệp Theo đó Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là người sử dụng đất) sử dụng ổn định thông qua sự điều tiết, quản lý của tổ chức hợp tác xã nông nghiệp Trước thời kỳ đổi mới, cơ chế “xin-cho” luôn gắn với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung; đất sản xuất, đất ở nông thôn ở được giao theo lao động và nhân khẩu Ở thành thị, ngoài những hộ có đất ở, nhà ở có nguồn gốc từ trước, hầu hết cán bộ, công nhân viên chức nhà nước đều được phân phối nhà ở theo các tiêu chí chung (thâm niên công tác, số nhân khẩu, bậc lương, cấp bậc, chức vụ ), thời kỳ này không phát sinh giaodịch dân sự về nhà, đất hoặc nếu có thì chỉ dừng lại ở việc chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác, từ chủ
sử dụng này sang chủ sử dụng khác
Từ sau đổi mới, nền kinh bao cấp được thay thế bằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước Luật đất đai 1987 ra đời, với tư cách là Người quản lý thống nhất về đất đai, Nhà nước nghiêm cấm mua, bán, lấn chiếm đất đai và chỉ đảm bảo cho người sử dụng đất
Trang 2323
quyền chuyển, nhượng, bán thành qủa lao động, kết quả đầu tư trên đất đượcc giao khi không còn sử dụng đất Căn cứ nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu và tính chất sử dụng đất, Luật Đất đai 1987 (Điều 8) phân loại đất như sau:
- Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu dùng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, kể cả nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi;
- Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu dùng vào sản xuất lâm nghiệp như trồng rừng, khai thác rừng, khoanh nuôi, tu bổ, cải tạo rừng, nghiên cứu thí nghiệm
về lâm nghiệp; đất rừng cấm, vườn quốc gia, đất trồng rừng để phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, cải tạo môi trường;
Trong quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp thời kỳ này Luật quy định cấp có thẩm quyền giao đất giao cho mỗi người không quá 10% bình quân cho nhân khẩu của xã để các hộ làm kinh tế gia đình
- Đất khu dân cư là đất được xác định để xây dựng các thành thị và các khu dân
cư nông thôn; đất này được sử dụng làm nhà ở phù hợp với quy hoạch đã được cấp cao thẩm quyền phê duyệt;
- Đất chuyên dùng là đất được xác định dùng vào các mục đích không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất khu dân cư như: đất xây dựng các công trình công nghiệp, khoa học – kỹ thuật, giao thông, thủy lợi, văn hóa, xã hội, dịch vụ, đất dùng cho nhu cầu an ninh, quốc phòng, đất dùng cho thăm dò, khai thác khoáng sản, đất làm muối, làm đồ gốm gạch, ngói và các vật liệu xây dựng khác; đất di tích lịch
sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, đất nghĩa địa, đất có mặt nước sử dụng vào các mục đích không phải là nông nghiệp;
So với phân loại đất trước đây, đất chuyên dùng bao gồm nhiều nhóm đất được
mở rộng và chi tiết hơn cho phù hợp với thực trạng và nhu cầu sử dụng đất của giai đoạn này
- Đất chưa sử dụng là đất chưa được xác định để dùng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dâm cư, chuyên dùng và Nhà nước chưa giao cho ai sử dụng
ổn định, lâu dài
Cuối thập kỷ 80, giai đoạn bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới, mặc dù Nhà nước
đã điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế theo hướng thị trường, mở cửa thu hút đầu tư nhưng ảnh hưởng của chính sách “tự cung - tự cấp”, chính sách phân phối cào bằng trong lĩnh vực đất đai chưa được dỡ bỏ, người dân trông chờ vào sự phân phối của Nhà nước Một thời gian dài, nhu cầu đất cho phát triển kinh tế không nhiều, đối tượng sử dụng đất giai đoạn này chủ yếu là Nhà nước nên quan hệ đất đai đơn giản
Trang 2424
Từ năm 1993, “cung - cầu” về đất đai có nhiều biến động cộng với biên độ giá đất nhảy vọt, vấn đề “cung” được thoả mãn bằng các giao dịch mua, bán, chuyển nhượng đất đai qua các “kênh ngầm” tạo nên “cơn sốt” đất trong những năm 90 và chững lại sau khi LĐĐ 2003 có hiệu lực thi hành Thời kỳ này, không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà ngay cả người SDĐ bình thường đều nhận thức được rằng đất đai là loại hàng hoá đem lại nguồn thu “siêu lợi nhuận”, các giao dịch mua bán đất đai phát triển kết hợp với “cầu” để sử dụng, đất đai trở lên có giá Để tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai, đưa đất đai vào quỹ đạo phát triển kinh tế, Luật Đất đai 1993 được ban hành Theo đó, các tiêu chí phân loại đất đai được thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất, tiến tới hạch toán kinh tế từ đất cho các mục đích sử dụng, Luật này xác định có 6 loại đất chính như sau:
- Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào SXNN như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp (Điều 42)
Đối với loại đất này, Điều 45 quy định chi tiết việc sử dụng đất vườn, đất có mặt nước ven biển, đất bãi bồi cửa sông và thay đất 10% làm kinh tế hộ gia đình bằng quy định cấp xã được để lại 5% đất nông nghiệp phục vụ cho các nhu cầu công ích của địa phương
- Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp gồm có đất rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng, bảo vệ để phục hồi tự nhiên, nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp (Điều 43);
- Đất khu dân cư nông thôn là đất được xác định chủ yếu để xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn (Đất ở bao gồm đất để làm nhà ở và các công trình phục vụ cho đời sống gia đình - Điều 52);
- Đất ở đô thị là đất nội thành, nội thị xã, thị trấn được sử dụng để xây dựng nhà
ở, trụ sở các cơ quan, tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và các mục đích khác (Điều 55) Trong đó quy định chi tiết đất sử dụng vào mục đích công cộng (Điều 58)
Việc tách đất khu dân cư theo Luật đất đai 1987 thành đất khu dân cư nông thôn
và đất ở đô thị của Luật này là hoàn toàn phù hợp với chiến lược và tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của cả nước cũng như các địa phương
- Đất chuyên dùng là đất được xác định dùng vào các mục đích không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm nhà ở bao gồm: đất xây dựng các công trình công nghiệp, khoa học, kỹ thuật, hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi, đê điều, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, dịch vụ, đất sử dụng cho nhu cầu quốc phòng, an ninh, đất dùng cho thăm dò, khai thác khoáng sản, đá, cát, đất làm muối, làm
Trang 2525
đồ gốm gạch, ngói và các vật liệu xây dựng khác; đất di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất có mặt nước sử dụng vào các mục đích không phải là nông nghiệp (Điều 62);
- Đất chưa sử dụng là đất chưa có đủ điều kiện hoặc chưa xác định để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp; chưa được xác định là đất khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng và Nhà nước chưa giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng ổn định lâu dài (Điều 72)
Năm 2002, để chuẩn bị cho việc xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật đất đai phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước
và đô thị hóa Tháng 2/2002, Bộ Chính trị quyết định triển khai đề án Tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai 1993 Hội nghi Trung ương 7 - Khóa IX ngày 12/3/2003 ra Nghị quyết số 26- NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai và Luật Đất đai
2003 được Quốc hội khóa XI thông qua tháng 11/2003 Căn cứ tình hình phát triển kinh
tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế của cả nước và tình hình quản lý đất đai trong thời kỳ mới, Luật Đất đai 2003 phân đất đai thành 3 nhóm chính, trong mỗi nhóm có nhiều loại đất được giao và có thể giao cho các đối tượng sử dụng Cụ thể căn cứ mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau (Điều 13):
* Nhóm đất nông nghiệp bao gồm 5 loại đất chính:
- Đất sản xuất nông nghiệp được chia thành 3 loại: (a) Đất trồng cây hàng năm (đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác); (b) Đất trồng lúa, (c) Đất trồng cây lâu năm;
- Đất lâm nghiệp được chia thành 3 loại: (a) Đất rừng sản xuất; (b) Đất rừng phòng hộ; (c) Đất rừng đặc dụng;
- Đất nuôi trồng thuỷ sản;
- Đất làm muối;
- Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ;
* Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất:
- Đất ở có 2 loại: (a) Đất ở nông thôn, (b) Đất ở đô thị;
- Đất chuyên dùng có 4 loại chính: (I) Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; (II) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; (III) Đất sản
xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (đất xây dựng khu công nghiệp, đất cơ sở sản xuất,
kinh doanh phi nông nghiệp); (IV) Đất sử dụng vào mục đích công cộng: (đất giao
thông, thuỷ lợi; đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, đất bãi thải, nơi xử lý chất thải, đất có di tích lịch sử ; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ);
Trang 2626
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa;
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng do các cơ sở tôn giáo sử dụng: (gồm đất có công trình
là đình, đền, miếu, am, từ đưường, nhà thờ họ)
* Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng: (đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây
- Đất có mặt nước ven biển (quan sát): Gồm (I) Đất mặt nước ven biển nuôi trồng thủy sản, đất; (II) Đất mặt nước ven biển có rừng; (III) Đất mặt nước ven biển có mục đích khác
Bảng 3: So sánh sự khác nhau của hệ thống phân loại đất của 3 giai đoạn
Nội dung loại đất
TT Loại đất loại đất của pháp luật Theo hệ thống phân
về đất đai trước ngày 01/7/2004
Theo hệ thống phân loại đất sử dụng trong QHSDĐ đến năm
2010
Theo hệ thống phân loại đất của pháp luật hiện hành về đất đai
1 Đất nông
nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất làm muối;
đất nông nghiệp khác
Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối,; đất NN khác
1.1 Đất sản xuất
nông nghiệp
Đất trồng cây hàng năm (không gồm đất nương rẫy canh tác không thường xuyên);
đất trồng cây lâu năm;
đất nuôi trồng thủy sản
Đất trồng cây hàng năm (không gồm đất nương rẫy canh tác không thường xuyên);
đất trồng cây lâu năm; đất nuôi trồng thủy sản
Đất trồng cây hàng năm (gồm cả đất nương rẫy canh tác không thường xuyên); đất trồng cây lâu năm;
1.2 Đất lâm nghiệp
Đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất ươm cây giống
Đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng (đất ươm cây giống được chia đều cho từng loại rừng
Đất rừng sản xuất; rừng phòng hộ rừng đặc dụng (không gồm đất ươm cây giống vì đất này thuộc đất nông nghiệp khác)
2 Đất phi nông
nghiệp
Không phân loại mà đất không phải nông nghiệp được phân theo đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng
Đất ở; đất chuyên dùng; đất sông suối
Đất ở; đất chuyên dùng; đất tôn giáo tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng; đất phi nông nghiệp khác
đất đô thị; đất ở tại
Đất ở bao gồm đất ở tại đô thị và đất ở tại
Đất ở bao gồm đất ở tại đô thị và đất ở tại
Trang 27sự nghiệp; đất sản xuất kinh doanh; đất công cộng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất mặt nước sử dụng vào mục đích chuyên dùng;
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp;
đất sản xuất kinh doanh; đất công cộng;
đất tôn giáo tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất mặt nước sử dụng vào mục đích chuyên dùng; đất phi nông nghiệp khác
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; đất quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh; đất công cộng
3 Đất chưa sử
dụng
Đất chưa đưa vào sử dụng, núi đá không có rừng cây, đất nương rẫy canh tác không thường xuyên; đất sông suối, đất mặt nước chưa sử dụng
Đất chưa đưa vào sử dụng, núi đá không có rừng cây, đất nương rẫy canh tác không thường xuyên; đất mặt nước chưa sử dụng
Đất chưa đưa vào sử dụng, núi đá không có rừng cây
1.1.2.4 Cơ cấu và bố cục sử dụng đất
Trong quy hoạch sử dụng đất, ngoài yếu tố phân loại đất đai với các chỉ tiêu chi tiết, cơ cấu và bố cục sử dụng đất là những yếu tố đóng một vai trò quan trọng, nó quyết định chiến lược sử dụng đất đai phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội – môi trường thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cơ cấu sử dụng đất phản ánh mức độ thích hợp của từng loại đất so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; tập quán khai thác sử dụng đất, mức độ khai thác tiềm năng đất đai của địa phương, những mâu thuẫn trong sử dụng đất; tình hình đầu tư về vốn, vật tư, khoa học kỹ thuật trong sử dụng đất tại địa phương; hiệu quả sử dụng đất; những tác động đến môi trường đất trong quá trình sử dụng đất và những tồn tại chủ yếu trong sử dụng đất, nguyên nhân chính, giải pháp khắc phục, những kinh nghiệm về sử dụng đất
Căn cứ vào việc phân loại đất qua các thời kỳ theo quy định của pháp luật đất đai; căn cứ chiến lược phát triển kinh tế trong những giai đoạn cụ thể, đặc biệt là từ sau thời kỳ đổi mới, cơ cấu sử dụng đất của nước ta biến động thường xuyên theo cơ cấu kinh tế của cả nước, vùng, ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng
Trang 2828
nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại - dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp) Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu
sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại…
Thực hiện định hướng cơ bản trên đây của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng
ta đã đạt được những thành tựu nổi bật, đặc biệt là cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn:
Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6% Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến 41,6% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm 2005: 38,1%; năm 2008 khoảng 38,7%
Về nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn: Là một nước thuần nông có tỷ
lệ diện tích đất nông nghiệp chiếm tới 3/4 tổng diện tích đất tự nhiên cửa các nước, vì vậy, việc quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa to lớn và ảnh hưởngđến việc sử dụng đất trực tiếp Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hiện nay có sự chuyển dịch ngày càng tích cực theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn từ 17,3% năm 2001 lên 19,3% năm 2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần Tỷ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp) đã giảm 9,87%;
tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78% Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000
Trên cơ sở đó, cơ cấu và bố cục sử dụng đất đai cũng có những biến động nhất định Bố cục sử dụng đất được minh chứng trong việc phân loại đất đai qua các thời kỳ theo quy định của pháp luật đất đai Các loại đất (nhóm đất) quan trọng cơ bản, chiếm diện tích lớn được xếp thứ tự từ loại đất có diện tích lớn xuống đến các loại (nhóm) đất
có diện tích nhỏ trong các biểu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 2929
Qua 20 năm (1985 - 2005), nước ta cú trờn 9 triệu hộc-ta đất đó được đưa vào sử dụng, nõng tỷ lệ diện tớch đất đó được sử dụng từ 57,46% vào năm 1985 lờn 84,70% vào năm 2005 Trong giai đoạn 5 năm 2001 - 2005, trên 4 triệu héc-ta đất đã được đưa vào sử dụng Mặc dù phải chuyển một diện tích đáng kể đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, phát triển công nghiệp và dịch vụ, nhưng chính sách khuyến khích khai hoang, cải tạo đất chưa sử dụng để đưa vào sử dụng đã làm tăng đáng kể diện tích đất sản xuất nông nghiệp, bảo đảm tăng sản lượng nông nghiệp, làm tăng tỷ lệ phủ rừng, môi trường sinh thái ngày càng được cải thiện(6)
Trong toàn bộ diện tích đất đã được giao cho các đối tượng sử dụng, hộ gia đình,
cá nhân sử dụng lên đến 40,93% tổng diện tích đất tự nhiên cả nước và chiếm 57,19% diện tích đất đã giao cho các đối tượng sử dụng, trong đó hơn 81% số hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất an tâm đầu tư phát triển sản xuất
Chính sách khuyến khích phát triển mở rộng diện tích rừng và việc thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ rừng đã đưa diện tích đất lâm nghiệp tăng thêm 2,9 triệu héc-ta trong 5 năm qua (bao gồm cả việc trồng mới rừng trên đất trống, đồi núi trọc và khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên đã bị tàn phá), đến nay tỷ lệ đất có rừng đã nâng lên mức 41,46% tổng diện tích đất tự nhiên cả nước, góp phần tích cực cải thiện môi trường, chống xói mòn đất và hạn chế tác hại của lũ lụt
Phần lớn đất sử dụng vào mục đích công cộng đã giao cho các tổ chức sử dụng, quản lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển và quản lý kết cấu hạ tầng của các địa phương Trong 5 năm qua, diện tích đất giao thông, thủy lợi tăng cao hơn cho thấy các địa phương đã chú trọng đầu tư phát triển hệ thống giao thông nông thôn, các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp, tạo ra sự tiến bộ đáng kể trong xã hội nông thôn, nâng cao đời sống của người nông dân, rút ngắn được khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tăng lên đáng kể trong 5 năm qua đã chứng tỏ nhu cầu sử dụng đất cho các dự án đầu tư công nghiệp, dịch vụ được đáp ứng đầy đủ Hầu hết các tỉnh đã tạo được bước đi rất rõ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệp là chủ đạo sang kinh tế công nghiệp, dịch vụ là chủ đạo, góp phần tạo mức tăng trưưởng GDP hàng năm của cả nước đạt khoảng 8%
Đất ở tại đô thị cũng như nông thôn tăng cao, chứng tỏ vấn đề nhà ở cho người dân đã được giải quyết ở mức độ nhất định Các dự án chỉnh trang, phát triển khu đô thị
và khu dân cư nông thôn ngày càng nhiều hơn, đúng quy hoạch hơn, đồng bộ hơn và có chất lượng cao hơn
6 Nguồn: Tạp chí Cộng sản - Số 1(169) năm 2009
Trang 30Diện tích (1000ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (1000ha)
Cơ cấu (%)
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTĐ 93,7 0,28 97,1 0,29 92,3 0,28
2.5 Đất sông suối và mặt nước
Từ Bảng 4 cho thấy về cơ bản, cơ cấu sử dụng đất của các loại đất (nhóm đất)
không thay đổi từ năm 2000 (chỉ có đất nông nghiệp và phi nông nghiệp khác được bổ
sung chỉ tiêu từ kế hoạch sử dụng đất năm 2005); quỹ đất nông nghiệp tăng do khai
hoang, phục hóa từ đất chưa sử dụng sang (3290.4 ha) làm giảm tỷ lệ đất chưa sử dụng
xuống còn 15,32%, kế hoạch đến 2010 giảm diện tích đất này xuống còn 8,69% Theo
kế hoạch sử dụng đất đến 2010, để tăng các diện tích đất cho CNH, HĐH và đô thị hóa,
đảm bảo an ninh lương thực, đât đai của cả nước chu chuyển trong 5 năm 2006 – 2010
là: Đất nông nghiệp tăng 1.197.390 ha; đất phi nông nghiệp tăng 795.633 ha; đất chưa sử
dụng giảm 2.193.023 ha (cơ cấu sử dụng đất không thay đổi)
Bảng 5: Cơ cấu đất sử dụng phân theo địa phương(7)
(Tính đến 01/01/2008) (ĐVT: %)
Trong đó
Tổng diện tích
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất chuyên dùng
Trang 31Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 29/2004/QH11 phê duyệt QHSDĐ đến năm 2010 và KHSDĐ đến năm 2005 của cả nước Năm 2006, KHSDĐ 5 năm (2006-2010) của cả nước được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/6/2006 Theo đó, các chỉ tiêu SDĐ giai đoạn 2006 - 2010 của đất nông nghiệp là 25.627.400 ha (trong đó đất SXNN 9.363.000 ha, đất lâm nghiệp 16.243.700 ha); đất phi nông nghiệp 3.925.300 ha (trong đó đất ở 1.035.300 ha, đất chuyên dùng 2.145.400 ha) Giai đoạn này, diện tích đất trồng lúa giảm 155.700 ha, đất ở nông thôn tăng 440.000 ha, đất ở đô thị tăng 7.300 ha, đất chuyên dùng tăng 744.500 ha đảm bảo
bố trí đủ nhu cầu cho các mục đích phát triển KTXH, Như vậy, quy hoạch giai đoạn
2006 - 2010 đã có những điều chỉnh, chỉnh lý chỉ tiêu đất đai, điều tiết những lợi ích từ đất đai góp phần sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm, hợp lý và khoa học theo hướng ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường Tuy nhiên hình thức quản lý đất đai để tạo ra nền sản xuất lớn còn rất khó khăn, phức tạp, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn chưa được các cấp, các ngành và địa phương quan tâm đầu tư nên hiệu quả SDĐ thấp, thiếu tính bền vững
1.1.3 Khái quát cơ cấu sử dụng đất của nước ta
a) Đất nông nghiệp
Cả nước trong giai đoạn này có 22.801.210 ha đất nông nghiệp (không kể đất khu dân cư 2.021.350 ha, chiếm 75,06% tổng diện tích tự nhiên), bình quân 0,30 ha/đầu người
và 0,68 ha/lao động nông nghiệp Đất nông nghiệp được phân bổ cho các vùng:
Bảng 6: Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp theo vùng
TT Các vùng trong cả nước Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 Miền núi và Trung du Bắc bộ 6.821.780 27,48
Trang 3232
7 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 3.444.330 13,88
* Năm 2007, diện tích đất nông nghiệp của cả nước đạt 24.997.200 ha, tăng 2.195.990 ha so với năm 2005
Năm 2005, đất SXNN có 9.415.568 ha (giảm so với năm 2000 là 154.403 ha), chiếm 28,47% diện tích đất tự nhiên và chiếm 44,45% diện tích đất nông nghiệp cả nước Bình quân đất SXNN là 0,11 ha/người và 0,26 ha/lao động nông nghiệp Năm
2007, diện tích đất nông nghiệp có 9.420.300 ha, tăng 4.732 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 9.303.100 ha)
- Đất trồng cây hàng năm có 6.370.030 ha, chiếm 19,26% diện tích tự nhiên và 25,66% diện tích đất nông nghiệp, tăng 149.130 ha so với năm 2000, hệ số sử dụng đất trồng lúa nước tăng từ 1,796 lần lên 1,845 lần Năm 2007, diện tích đất này là 6.309.600
ha, giảm 60.430 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 6.215.800 ha) Ngoài ra, còn có 2.147.700 ha đất trồng cây hàng năm khác, đã được giao và cho thuê 2.102.500 ha
+ Đất trồng lúa nước có 4.033.740 ha, giảm 234.110 ha so với năm 2000 Trong đó đất trồng lúa nước 2 vụ trở lên tăng 185.210 ha Đến năm 2007, diện tích đất trồng lúa tăng lên 4.105.800 ha, tăng 72.060 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 4.081.700 ha);
+ Đất nương rẫy có 1.168.530 ha, tăng 524.080 ha so với năm 2000;
+ Đất dùng vào đồng cỏ chăn nuôi có 49.420 ha, tăng 11.840 ha so với năm 2000 Đến năm 2007, diện tích loại đất này có 56.100 ha, tăng 6.680 so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 31.500 ha);
- Đất trồng cây lâu năm cả nước có 3.045.540 ha, tăng 235.130 ha so với năm 2000 Đến năm 2007 diện tích đất này tăng lên 3.110.700 ha, tăng 65.160 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 3.087.400 ha);
* Đất lâm nghiệp: Đến năm 2005, cả nước có 14.677.410 ha đất lâm nghiệp, tăng 3.101.980 ha so với năm 2000 Trong đó đất có rừng là phần diện tích rừng đủ tiêu chuẩn, còn lại 2.399.420 ha là diện tích trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh Đến năm 2007, diện tích đất lâm nghiệp có 14.816.600 ha, tăng 139.190 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 11.497.000 ha) Trong các loại đất chi tiết thuộc đất lâm nghiệp, đến năm 2007 đất đã giao và cho thuê:
- Rừng sản xuất: 5.092.000 ha/6.259.600 ha (tổng diện tích);
- Rừng phòng hộ: 4.624.400 ha/6.565.300 ha (tổng diện tích);
- Rừng đặc dụng: 1.780.700 ha/1.991.700 ha (tổng diện tích);
Trang 3333
- Đất nuôi trồng thủy sản năm 2005 có 700.060 ha, tăng 332.220 ha so với năm
2000, chiếm 2,82% diện tích đất nông nghiệp Đến năm 2007 đất nuôi trồng thủy sản tăng
lên 728.600 ha, tăng 28.540 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 715.800 ha);
- Đất làm muối năm 2005 có 14.080 ha, giảm so 4.830 ha so với năm 2000, chiếm
0,06% diện tích đất nông nghiệp Đến năm 2007, diện tích này có 13.700 ha, giảm so với
năm 2005 là 380 ha (đã giao và cho thuê 12.700 ha);
Ngoài ra trong nhóm đất nông nghiệp còn có loại đất nông nghiệp khác năm 2005
có diện tích 15.447 ha chiếm 0,06% tổng diện tích đất nông nghiệp Đến năm 2007, diện
tích đất này tăng 2.553 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 17.300 ha);
b) Đất phi nông nghiệp
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, diện tích đất phi nông nghiệp cả nước là
3.225.740 ha, chiếm 9,75% tổng diện tích tự nhiên, tăng 375.440 ha so với năm 2007
Bảng 7: Cơ cấu diện tích đất phi nông nghiệp theo vùng
TT Các vùng trong cả nước Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
7 Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 561.570 17,41
Đến năm 2007, diện tích đất phi nông nghiệp có 3.385.800 ha, tăng 160.060 ha
so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 1.555.300 ha, đạt 43,93%) Trong đó:
- Đất ở đến năm 2005 cả nước có 598.428 ha, chiếm 18,55% đất phi nông
nghiệp, bằng 1,8% diện tích tự nhiên toàn quốc (đất ở nông thôn là 495.549 ha, đất ở đô
thị là 102.879 ha), tăng 155.250 ha so với năm 2000 Đến năm 2007, diện tích đất ở của
cả nước có 620.400 ha, tăng 21.972 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 614.200
ha - Trong đó đất ở nông thôn là 504.700 ha, đất ở đô thị là 109.500 ha);
- Đất chuyên dùng tăng nhanh trong vòng 5 năm kể từ năm 2000 nhưng vẫn đạt
tỷ lệ không cao so với tổng dện tích đất phi nông nghiệp (chiếm 42,9%) Đến năm
2005, diện tích đất này của cả nước có 1.383.766 ha, tăng 311.564 ha so với năm 2000;
năm 2007, đất chuyên dùng tăng thêm 169.934 ha (đã giao và cho thuê tính đến hất
năm 2007 là 721.200 ha Tình hình sử dụng đất cho thấy hệ thống hạ tầng KTXH và hạ
tầng kỹ thuật kỳ kế hoạch 2001 - 2005 chậm phát triển và có xu hướng tăng hơn trước
trong 2 năm đầu của kế hoạch 2006 - 2010 Ví dụ:
Trang 3434
+ Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: Đến năm 2005 cả nước có 23.269 ha, chiếm 1,68% diện tích đất chuyên dùng Đến năm 2007, diện tích này đã giao và cho thuê được 22.300 ha;
+ Đất quốc phòng, an ninh năm 2005 có 281.184 ha (chiếm 20,32% đất chuyên dùng) Năm 2007 đã giao đưa vào sử dụng 208.600 ha
+ Đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp năm 2005 có 151.075 ha, chiếm 20,32% đất chuyên dùng, chiếm 0,8% diện tích đất tự nhiên của cả nước (đất của các cơ sở SX, KD là 58.262 ha; đất KCN là 51.317 ha), tăng 89.504 ha Năm 2007, diện tích đất này tăng thêm 44.725 ha so với năm 2005, đã giao và cho thuê 180.200 ha
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng đến năm 2005 là 512.559 ha (chiếm 67,08% diện tích đất chuyên dùng), tăng 136.175 ha so với năm 2000 Đến năm 2007, diện tích đất này tăng lên 1.037.800 ha (+525.241 ha), chiếm tỷ lệ cao 89,02% so với cả
- Đất tông giáo, tín ngưỡng
Đến năm 2005, diện tích quỹ đất này của cả nước có 12.804 ha, trong đó đất cho
cá cơ sở tôn giáo sử dụng 8.008 ha, chiếm 0,25% diện tíc đất phi nông nghiệp Năm
2007 diện tích đất này tăng thêm 296 ha so với năm 2005 (đã giao đưa vào sử dụng 12.900 ha);
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa
Đến năm 2005, qũy đất này trong cả nước có 97.052 ha, chiếm 3,01% diện tích đất phi nông nghiệp, tăng 3.311 ha so với năm 2000 Đến 2007, đất nghĩa trang, nghĩa địa tăng thêm 584 ha so với năm 2005 (đã giao đưa vào sử dụng 84.200 ha Quỹ đất này được phân bố nhiều nhất ở vùng Bắc Trung bộ (31.399 ha);
- Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: Năm 2005, diện tích đất này của cả nước có 1.130.469 ha (chiếm 35,05% tổng diện tích đất phi nông nghiệp, chiếm 3,41% tổng diện tích tự nhiên, giảm so với năm 2000 là 12.681 ha Đến 2007, diện tích quỹ đất này còn 1.097.400 ha, giảm 33.069 ha so với năm 2005 (đã giao và cho thuê 119.900 ha) Trong đất nhóm đất phi nông nghiệp còn có loại đất phi nông nghiệp khác, năm 2005 có 3.221 ha, đến năm 2007 có 3.700 ha (đã giao và cho thuê 2.800 ha)
c) Đất chưa sử dụng
Đến năm 2005, cả nước còn 5.072.859 ha đất chưa sử dụng (chiếm 15,32% tổng diện tích đất tự nhiên), đất này được phân bố nhiều nhất là ở vùng Miền núi và Trung du Bắc bộ (2.727.988 ha), đến vùng Duyên hải Nam Trung bộ (1.008.097 ha) Đến năm
2007 diện tích đất này giảm xuống còn 4.732.100 ha (đã giao và cho thuê 876.200 ha)
Trang 3535
1.1.3.2 Những tồn tại chủ yếu về sử dụng đất
- Quỏ trỡnh phỏt triển KTXH thời kỳ CNH, HĐH đất nước, việc thu hồi đất sử dụng cho cỏc mục đớch quốc phũng, an ninh, lợi ớch quốc gia, lợi ớch cụng cộng và phỏt triển kinh tế là tất yếu khỏch quan Tuy nhiờn, nhiều địa phương trong cả nước lạm dụng quy hoạch, thiếu cỏch nhỡn tổng thể và lõu dài dẫn đến việc thu hồi quỏ lớn diện tớch đất trồng lỳa Điều quan ngại hơn là việc SDĐ nụng nghiệp bị thu hồi lóng phớ, tiờu cực, cú dõu hiệu tham nhũng từ đất đai trong việc SDĐ nụng nghiệp làm sõn golf Hiện
cả nước đó cú 144 dự ỏn cú mục tiờu kinh doanh sõn golf được cấp phộp, hoặc cú chủ trương cho phộp nghiờn cứu thực hiện Từ thỏng7/2006 đến thỏng 6/2008, đó cú thờm 106
dự ỏn sõn golf, tăng 13 lần so với 16 năm trước cộng lại Nếu cả 144 dự ỏn sõn golf được triển khai, sẽ sử dụng hết 44.584 ha đất Trong số 139 dự ỏn, chỉ cú 41 dự ỏn (7.095 ha) được ghi rừ trong quy hoạch, cũn lại là khụng hoặc lấn vào diện tớch dành chung cho hoạt động thể thao vui chơi giải trớ Nhiều chuyờn gia nhận xột: Hệ thống sõn golf hiện nay phần lớn phụ thuộc vào "sỏng kiến" của cỏc nhà đầu tư(7) Nhiều địa phương do nụn núng phỏt triển cụng nghiệp và đụ thị đó quy hoạch cho cỏc lĩnh vực này số diện tớch vượt quỏ khả năng đầu tư và điều kiện thực tiễn dẫn đến tỡnh trạng chuyển đổi đất SXNN, thu hồi và san lấp mặt bằng, chậm chễ hoặc khụng sử dụng, tỷ lệ lấp đầy KCN đạt thấp(8)
Sõn golf Phượng Hoàng ở Lương Sơn - Hũa Bỡnh (A?nh Đoàn Loan)
Việc cõn nhắc hiệu quả đầu tư (kinh tế và xó hội và mụi trường) là rất cần thiết trong quy hoạch sử dụng đất, một mặt cú kế hoạch ổn định diện tớch đất lỳa, mặt khỏc khuyến khớch đầu tư hạ tầng cơ sở để chuyển đổi diện tớch đất nụng nghiệp kộm hiệu quả sang cho cỏc mục đớch phi nụng nghiệp
- Việc quy hoạch xõy dựng cỏc KCN, KCX, khu cụng nghệ cao những năm gần đõy chưa đỏp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng đất cho cỏc nhà đầu tư trong thời gian dài Nhưng khi được giao đất, cho thuờ đất thỡ hiệu quả sử dụng đất kộm, chậm gõy ra tỡnh trạng lóng
7 ý kiến của Gs Tôn Gia Huyên - Hội Khoa học đất Việt Nam
Trang 36- Đối với quỹ đất nụng nghiệp, mặc dự Nhà nước đó cú chủ trương, chớnh sỏch dồn đổi ruộng đất và thực hiện thành cụng ở một số nơi nhưng vẫn khụng giải quyết được tớnh chất manh mỳn của ruộng đất Đến nay vẫn cũn tồn tại tới trờn 72 triệu thửa đất dẫn tới việc canh tỏc manh mỳn cản trở đối với tiến trỡnh CNH, HĐH nụng nghiệp nụng thụn và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Chưa cú quyết sỏch chuẩn và chế độ quản lý sử dụng đất nương rẫy đạt hiệu quả, đặc biệt là kết quả SDĐ đối với khu vực miền nỳi, vựng cao chưa tạo được động lực phỏt triển kinh tế trong việc thực hiện xúa đúi giảm nghốo(10) Thời kỳ từ năm 2001 đến 2005, diện tớch đất nương rẫy tăng lờn 592.471 ha so với năm 2000, nhưng diện tớch đất nương rẫy trồng lỳ bị giảm 68.387 ha Phần diện tớch tăng tập trung cho diện tớch trồng cỏc loại cõy hàng năm (ngụ, sắn, đậu ) Đồng thời với việc tăng diện tớch đất nương rẫy, hậu quả
là tài nguyờn rừng bị hủy hoại nghiờm trọng, đõy là nguyờn nhõn làm giảm tỷ lệ độ che phủ của rừng và suy giảm mụi trường sống của con người hiện nay
- Mặc dự, đến năm 2005, diện tớch đất rừng cú tăng nhưng diện tớch rừng tự nhiờn bị giảm do bị tàn phỏ, chất lượng rừng kộm, mức độ phục hồi chậm Những khu vực, địa phương cú thể thực hiện chớnh sỏch trồng rừng thỡ mật độ dõn cư thưa thớt, hạ tầng thấp kộm Nguy hại hơn là chớnh quyền địa phương cỏc cấp chưa cú cỏc giải phỏp hữu hiệu để bảo vệ diện tớch rừng, đặc biệt là đối với rừng tự nhiờn Theo Nghị quyết của Quốc hội, đến năm 2010 phải hoàn thành việc trồng mới 5 triệu ha rừng, nhưng sau 8 năm thực hiện
dự ỏn trồng được 1.424.135 ha, chỉ đạt 28,5% Theo Chương trỡnh 327 là bảo vệ rừng hiện
cú và trồng mới 2 triệu ha Sử dụng hợp lý rừng hiện cú và trồng mới 3 triệu ha Mặc dự Nhà nước đó tiến hành giao đất, giao rừng cho tổ chức, cỏ nhõn quản lý, sử dụng(11) nhưng cụng tỏc quản lý đất lõm nghiệp đó và đang cũn nhiều hạn chế, lóng phớ, kộm hiệu quả
9 Nguồn: Kết quả thực hiện Quyết định số 1013/QĐ-BTNMT về việc kiểm tra tình hình sử dụng đất của các quy
hoạch và dự án đầu tư trên địa bàn cả nước năm 2007
10 Theo thống kê đến cuối năm 2006, cả nước vẫn còn 61 huyện gồm 797 xã, thị trấn thuộc 20 tỉnh với 2,4 triệu dân
có tỉ lệ nghèo trên 50% sẽ được tiếp nhận chương trình hỗ trợ Tỷ lệ hộ nghèo các huyện này cao gấp 3,5 lần tỷ lệ nghèo chung cả nước Thu nhập bình quân của nhóm hộ này khoảng 140.000 đồng/người/tháng, có hơn 90% là đồng bào dân tộc thiểu số
11 Nguồn : Theo kết quả kiểm kờ năm 2005 Quyết định số 1970/QĐ/BNN- KL ngày 6/7/2006 của Bộ NN&PTNT,
rừng đó được giao cho cỏc chủ quản lý, sử dụng: Doanh nghiệp Nhà nước 2.878.701 ha, Ban quản lý rừng phũng hộ
Trang 3737
- Đối với đất ở, nhà ở, thực trạng đó và đang là vấn đề bức bỏch trong xó hội và cú nhiều vấn đề vướng mắc chưa thỏo gỡ được Đặc biệt là nạn đầu cơ đất đai ngày càng tăng theo cỏc “kờnh ngầm” dẫn đến tỡnh trạng tham nhũng, tiờu cực ở loại đất này Trong những năm qua quỏ trỡnh đụ thị hoỏ nhanh đó làm gia tăng đỏng kể quỹ đất đụ thị Theo tớnh toỏn của Bộ Xõy dựng, trong khoảng 10 năm (từ 1995 đến 2005), cả nước cú khoảng 216.895
ha đất nụng nghiệp, nụng thụn chuyển hoỏ thành đất đụ thị, đưa quỹ đất đụ thị từ 63.300 ha (năm 1995) lờn 325.195 ha vào năm 2005 và dự bỏo đến năm 2020 diện tớch đất đụ thị trờn toàn quốc là 460.000 ha Theo số liệu chỉ tiờu KHSDĐ đối với đất ở đụ thị cho thấy, khoảng 110.700 ha đất ở trong khu dõn cư được chuyển đổi thành đất ở tại đụ thị Đến năm
2005, Việt Nam đó thực hiện được gần 103.000 ha, chỉ cũn khoảng 7.800 ha (diện tớch này cũng đó được giao cho cỏc dự ỏn nhưng chưa triển khai) Như vậy, nguồn đất ở đụ thị ở nước ta đang bị cạn kiệt từ nay đến 2010 trước tốc độ đụ thị hoỏ mạnh mẽ (sẽ lờn tới 60% năm 2020 theo nhận định của cỏc tổ chức quốc tế) Kế hoạch sử dụng đất đến 2010 chỉ ra rằng diện tớch nụng nghiệp sẽ tăng (từ gần 8,8 triệu ha năm 2000 lờn 9,4 triệu ha 2010) Nhưng, dõn số tăng nhanh khiến cho bỡnh quõn diện tớch trờn đầu người giảm tới 5m2/người/năm Đồng thời, diện tớch đất đụ thị tăng kộo theo đất SXNN giảm 125.500 ha, gõy ỏp lực lờn đất sản xuất nụng nghiệp, nhất là đất trồng lỳa Hiện nay, dự tớnh nhu cầu SDĐ để định cư cho hơn 6,13 triệu người dõn đụ thị tăng thờm, từ nay đến 2010 thỡ con số 7.860 ha chỉ tiờu đất đụ thị tăng trong kỳ kế hoạch là khụng đủ đỏp ứng Nếu tớnh đất ở theo quy chuẩn cho một người dõn đụ thị (trung bỡnh khoảng 40 m2/người) thỡ đất ở cho đụ thị đến năm 2010 cần tăng thờm khoảng 21.000 ha, gấp 3 lần mức trờn
Như vậy, việc tạo quỹ đất nhưng khụng phải là đất trồng lỳa cho xõy dựng nhà ở khu vực đụ thị và phỏt triển khu dõn cư nụng thụn cho đủ diện tớch trờn là bài toỏn cần được giải đối với cỏc nhà hoạch định chớnh sỏch sử dụng đất đai
- Quỹ đất dành cho mục đớch cụng cộng, xó hội húa cỏc lĩnh vực văn húa, giỏo dục - đào tạo, y tế, thể dục thể thao chưa được quy hoạch đầy đủ, chưa thực hiện đỳng cỏc chớnh sỏch ưu đói về đất cho cỏc nhà đầu tư thuộc cỏc lĩnh vực này dẫn đến khu vực nụng thụn, cỏc khu đụ thị mới khụng đủ điều kiện để hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xó hội
- Việc quản lý, sử dụng đất của cỏc tổ chức(12) chưa tốt, gõy lóng phớ; tỡnh trạng sử dụng đất khụng đỳng mục đớch hoặc bị lấn chiếm diễn ra khỏ phổ biến ở hầu hết cỏc địa phương Trong khi chỉ tiờu KHSDĐ đến năm 2010 chỉ dành diện tớch cho mục xõy dựng
1.553.285 ha, Ban quản lý rừng đặc dụng 1.625.046 ha, Đơn vị liờn doanh 66.630 ha, tập thể 559.470 ha, đơn vị vũ trang 262.493 ha, UBND cỏc cấp 2.816.191 ha
12 Nguồn: Báo cáo kết quả chính thức điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2007 của Tổng cục Thống
kê tháng 12/2008: Tại thời điểm 01/7/2007, số cơ sở hành chính sự nghiệp xấp xỉ 182.900 cơ sở, chiếm 4,4% tổng số cơ sở kinh tế (tăng 28,8% so với 7/2002) Trong khu vực này, cơ sở thuộc cơ quan hành chính nhà nước là 39.700 cơ
sở (tăng 11,8% so với năm 2002); thuộc các đơn vị sự nghiệp 110.800 cơ sở (tăng 42,8% so với năm 2002), các cơ sở thuộc các tổ chức Đảng, đoàn thể, hiệp hội 32.4000 cơ sở (tăng 11,8% so với năm 2002)
Trang 3838
trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp là 28.530 ha, nhưng chỉ tính đến 30/9/2008 theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố, các tổ chức đã sử dụng đến 36.848 ha (kỳ kế hoạch đến 2010 chỉ tăng + 5.261 ha) Đối với đất giao cho doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước tính đến thời điểm trên đã được giao và sử dụng 1.184.946,85 ha (báo cáo của 46 đơn vị hành chinh cấp tỉnh) Tình trạng này dẫn đến việc các chỉ tiêu KHSDĐ đã được phê duyệt sẽ bị xáo trộn và rất khó điều chỉnh
- Thực hiện công tác quản lý sử dụng đất còn nhiều yếu kém, hiện tượng “xé rào” tự
ý chuyển mục đích sử dụng đất (tự chuyển đất nông nghiệp sang đất làm nhà ở tại khu vực ven đô thị; tự chặt phá rừng làm đất sản xuát nông nghiệp để trồng cây điều, cà phê, cao su ; tự chuyển đất trồng lúa, đất làm muối sang đất nuôi trồng thủy sản; sử dụng đất nông nghiệp để làm các trang trại phục vụ hoạt động phi nông nghiệp.v.v.) vì mục tiêu lợi nhuận trước mắt diễn ra ở nhiều địa phương
- Công tác rà soát và quy hoạch đối với các loại đất đến nay chưa thực hiện được, đặc biệt là đối với đất nông, lâm trường, đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp Hậu quả
là tình trạng tranh chấp, khiếu kiện về đất đai chưa thuyên giảm làm ảnh hưởngđến trật tự
an toàn xã hội
Một trong các nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nêu trên là do kết quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa tốt mà điểm xuất phát bắt đầu từ công tác lập quy hoạch sử dụng đất Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ CNH, HĐH và đô thị hóa, vấn đề QHSDĐ trong giai đoạn tới phải được nghiên cứu, hoàn thiện góp phần nâng cao năng lực thể chế và năng lực tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát trong công tác lập và thực hiện QH, KHSDĐ ở 4 cấp từ Trung ương xuống đến cấp cơ sở
1.2 QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.2.1 Khái quát về quy hoạch sử dụng đất
1.2.1.1 Khái niệm gốc về quy hoạch nói chung
Một định nghĩa chuẩn mực về quy hoạch nói chung là khó khăn do thuật ngữ
“quy hoạch” hiện nay dùng phổ biến tới mức nghĩa vốn có của nó thay đổi hẳn: ví dụ quy hoạch cán bộ, quy hoạch dòng chảy, quy hoạch tuyến tính, quy hoạch đất đai, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch làng, quy hoạch dân tộc, quy hoạch tôn giáo, quy hoạch dân số, quy hoạch dân cư,…Xét về nghĩa xuất phát ban đầu thuật ngữ quy hoạch có thể có nội hàm là một ý tưởng được tư duy lô gích theo một không gian
và thời gian với tập hợp các hành động nhằm đạt tới mục tiêu-kết quả được dự kiến như
là đã được xác định trước [48]
Trong nhiều tài liệu tham chiếu, nghĩa gốc của thuật ngữ “quy hoạch” thì quy có nghĩa là khuôn mẫu - quy củ - cách thức, hoạch là hoạch định - nghĩ ra - bày ra Vì thế trong nhiều cuộc hội nghị luận bàn về quy họach thường hiểu quy hoạch là sự bố trí,
Trang 39dự án 3 về quy hoạch sử dụng đất đai thuộc chương trình CPLAR trước đây là: Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành)
và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm nâng
cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường [64] Hay
một cách tiếp cận khác:
Quy hoạch sử dụng đất đai là tài liệu tổng hợp hệ thống các kết quả điều tra nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên và môi trường của đất đai; các biện pháp kinh tế-xã hội-chính trị của đất đai; các biện pháp kỹ thuật sử dụng đất đai; các quy định pháp chế của đất đai nhằm sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ (khoanh định) quỹ đất - phân khu chức năng - mục đích sử dụng đất, xác định các giải pháp sử dụng đất, xác định tính pháp lý sử dụng đất [50]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì quy hoạch đất đai là “việc bố trí, sắp xếp
và sử dụng các loại đất đai một cách hợp lý để sản xuất ra nhiều nông sản với chất lượng cao, hiệu quả kinh tế lớn Quy hoạch đất đai được chia thành 2 loại : Quy hoạch đất đai cho các vùng, các ngành và quy hoạch đất đai cho nội bộ xí nghiệp Việc quy hoạch giữa các vùng, các ngành tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của lực lượng sản xuất, với phân vùng của cả nước Việt Nam đã
và đang thực hiện quy hoạch đất đai trong nông nghiệp phục vụ cho yêu cầu chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế hàng hóa, khắc phục tính chất tự cấp, tự túc tồn tại trước đây
Điều 18 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất
đai theo quy hoạch và pháp luật ” theo đó “Quy hoạch” là cơ sở quan trọng để thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai, tuy chưa phải là pháp luật nhưng lại mang tính pháp
lý, gắn liền với nhiệm vụ quản lý Nhà nước Vậy là, quy hoạch hoá việc sử dụng đất không chỉ thuần túy là hoạt động kỹ thuật mà còn là loại hình hoạt động quản lý có ý nghĩa kinh tế - chính trị, thể hiện ý chí của Nhà nước đương thời về phát triển của đất
Trang 40để giải bài toán của phát triển Với vốn đất đai và lao động xác định, phải sắp sếp sao cho địa phương đó tiến lên với tốc độ mong muốn và hài hoà với cả nước Quy hoạch
sử dụng đất phải chỉ ra được sự phối hợp sử dụng đất của các địa phương trong một vùng ra sao để đảm bảo sự đồng bộ trong phát triển
Quy hoạch sử dụng đất tối đa hoá giá trị của đất đai và bất động sản Theo đó, việc sử dụng đất được quyết định trên cơ sở các động lực của thị trường, nên cũng có thể nói rằng QHSDĐ phải trở thành một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường Nghĩa là mỗi thửa đất đều phải được sử dụng theo cách đảm bảo tổng số các thửa đất trong vùng quy hoạch có giá trị tối đa theo các tiêu chuẩn thị trường Nói cách khác, mỗi thửa đất phải được sử dụng sao cho có giá trị lớn nhất mà không gây ra sự giảm giá cho những thửa đất còn lại, ở đó các nhà hoạch định chính sách có thể dùng những thuật toán cụ thể để giải quyết những vấn đề phức tạp, làm giảm nhẹ tính không hoàn thiện của thị trường đất đai và bất động sản do tác động tự nhiên của quan hệ cung - cầu Cũng như trong việc thu hồi đất, giá trị bồi thưường, giải phóng mặt bằng để thực hiện quy hoạch khi phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất được xem là khoản ứng trước của lợi ích do QHSDĐ sẽ mang lại QHSDĐ phải làm cho tổng giá trị đất đai trong vùng được nâng cao
Quá trình lập và thực hiện QHSDĐ cũng là quá trình dân chủ hoá trong quản lý
sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tài sản xã hội: Dự thảo quy hoạch sử dụng đất chi tiết phải được giới thiệu đến từng tổ dân phố, thôn, xóm, buôn, ấp, làng, bản, phum, sóc và các điểm dân cư khác, đồng thời phải được niêm yết công khai tại tụ sở uỷ ban nhân dân cấp xã… (Điều 18 Nghị định 181/2004/ NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai) Các quy định pháp luật về lập, xét duyệt và tổ chức thực hiện QHSDĐ trở thành công cụ quản lý Nhà nước đảm bảo cho sự phát triển đồng bộ, ổn định và an toàn được thể hiện cụ thể ngay trong nội dụng của các đề án QHSDĐ
Thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất đai như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
Như vậy, việc lập QH, KHSDĐ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt và cả lâu dài Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu