BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ CÔNG TRÌN
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI NGÀN
Trang 2BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CGCN Chuyển giao công nghệ
KH&CN Khoa học và Công nghệ
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NC&PT Nghiên cứu và Phát triển
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU CỦA ĐỀ TÀI
Bảng 3: Cơ cấu ngành kinh tế của huyện Vũ Quang 27
Bảng 5: Một số chỉ tiêu về mức sống của huyện Vũ Quang 28
Bảng 6: Vốn đầu tư phát triển giao thông nông thôn 29
Bảng 7: Ngân sách chi cho Văn hóa - Giáo dục - Y tế của huyện 31
Bảng 9: Sự phát triển Y tế - Giáo dục ở Vũ Quang 32
Bảng 10: Tình hình dân cư của các đơn vị tái định cư 36
Bảng 11: Một số mức sống của 2 xã tái định cư và tiếp cư 37
Bảng 12: Tình hình đất đai ở nơi ở cũ của Hương Điền, Hương Quang và thị trấn Vũ Quang 39
Bảng 13: Diện tích một số cây trồng chính của Hương Điền, Hương Quang và thị trấn Vũ Quangg 41
Bảng 14: Năng suất, sản lượng một số cây trồng chính 43
Bảng 15: Diện tích cây lâu năm của Hương Điền, Hương Quang và thị trấn Vũ Quang 48
Bảng 16: Tình hình chăn nuôi ở Hương Điền, Hương Quang và thị trấn Vũ Quang 50
Bảng 17: Trồng và chăm sóc rừng 54
Bảng 19: Tình hình sản xuất và nuôi trồng thủy sản của 2 xã Hương Quang, Hương Điền và thị trấn Vũ Quang 55
Bảng 20: Tình hình sản xuất trồng trọt ở Hương Thọ 57
Bảng 21: Năng lực tưới của một số công trình ở Hương Thọ 60
Bảng 22: Sản xuất chăn nuôi ở Hưong Thọ 61
Bảng 23: Tình hình sản xuất trồng trọt ở xã Sơn Thọ 62
Bảng 24: Năng lực tưới của một số công trình ở Sơn Thọ 63
Bảng 25: Tình hình sản xuất chăn nuôi ở Sơn Thọ 64
Bảng 26: Năng suất lúa ở 1 số xã của huyện Vũ Quang 65
Bảng 27: Công trình thủy lợi và khả năng tưới ở Vũ Quang 68
Bảng 28: Tình hình thủy lợi: Hương Quang, Hương Điền, TT Vũ Quang 68
Bảng 29: Vốn đầu tư cho các công trình thủy lợi 70
Trang 5Bảng số Tên bảng Trang
Bảng 31: Kế hoạch phát triển thủy lợi ở Vũ Quang 2006 - 2010 73
Bảng 32: Dự kiến mục tiêu phát triển khu vực TĐC đến năm 2020 79
Bảng 33: Quỹ đất các khu tái định cư 80 Bảng 34: Dự kiến kế hoạch sản xuất của Hương Điền ở khu TĐC 81
Bảng 35: Dự kiến kế hoạch sản xuất của Hương Quang ở khu TĐC 81
Bảng 36: Dự kiến kế hoạch phát triển chăn nuôi 82
Bảng 37: Hiệu quả sản xuất một số cây hàng năm 84
Bảng 38: Hiệu quả sản xuất một số cây lâu năm 85
Bảng 39: Hiệu quả chăn nuôi ở Hương Quang, Hương Thọ 85
Bảng 40: Cơ cấu nông lâm nghiệp ở khu tái định cư 89
Bảng 41: Cơ cấu nội bộ ngành trồng trọt ở khu tái định cư 90
Bảng 42: Cơ cấu nội bộ ngành chăn nuôi ở khu vực tái định cư 91
Bảng 43: Chế độ canh tác ở Hương Quang và Sơn Thọ 93
Bảng 44: Sử dụng giống mới ở Hương Quang, Hương Điền, Sơn Thọ 94
Bảng 48: Yêu cầu dinh dưỡng đối với lợn thịt 98
Bảng 49: Số người tham gia các lớp tập huấn 103
Bảng 50: Lịnh thời vụ đối với giống lúa, đậu, lạc ngô trong vụ hè thu năm 2009 105
Bảng 51: Kết quả sản xuất ngô vụ Thu - Đông 2009 ở Hương Thọ 106
Bảng 52: Kết quả sản xuất ngô Thu - Đông 2009 ở Sơn Thọ 106
Bảng 53: Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô C919 108
Bảng 54: Đặc điểm hình thái, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suât của giống Ngô C919 tại Vũ Quang - Hà Tĩnh 109
Bảng 55: Kết quả sản xuất lạc vụ xuân ở xã Hương Thọ 2010 110
Bảng 56: Kết quả sản xuất lạc vụ xuân ở xã Sơn Thọ 2010 110
Bảng 57: Các hộ tham gia xây dựng mô hình nuôi bò 112
Bảng 58: Các hộ tham gia xây dựng mô hình nuôi gà 113
Bảng 59: Kết quả mô hình nuôi gà thả vườn 113
Bảng 60: Dự kiến kế hoạch đào tạo ở Hương Điền, Hương Quang 124
Bảng 61: Công thức thức ăn nuôi bê tập ăn cho các tháng tuổi 145
Trang 6Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2010
BÁO CÁO THỐNG KÊ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I THÔNG TIN CHUNG
Họ và tên: ThS Lê Tiến Hùng
Ngày, tháng, năm sinh: 1972 Nam/ Nữ: Nam
Học hàm, học vị: Thạc sỹ
Chức danh khoa học:Nghiên cứu viên; Chức vụ: Trưởng phòng dự án Điện thoại: Tổ chức:04.39424357, Mobile: 0912508186 Fax: 04.39421077 E-mail: lehungrhq@gmail.com
Tên tổ chức đang công tác: Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng Địa chỉ tổ chức: Tầng 05 - Nhà số 70 - Trần Hưng Đạo - Hà Nội
Địa chỉ nhà riêng: Phường Yên Nghĩa - Quận Hà Đông - TP.Hà Nội
Địa chỉ: Tầng 05 - Nhà số 70 - Trần Hưng Đạo - Hà Nội
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: PGS.TS.Lê Tất Khương
Số tài khoản:1020100000533
Ngân hàng: Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Tên cơ quan chủ quản đề tài: Bộ Khoa học và Công nghệ
Trang 7II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
1 Thời gian thực hiện đề tài:
- Theo Hợp đồng đã ký kết: từ tháng 06 năm 2008 đến tháng 12 năm 2010
- Thực tế thực hiện: từ tháng 08 năm 2008 đến tháng 11 năm 2010
c) Kết quả sử dụng kinh phí theo các khoản chi:
Đối với đề tài:
Trang 8Các văn bản hành chính trong quá trình thực hiện đề tài:
(Liệt kê các quyết định, văn bản của cơ quan quản lý từ công đoạn xác định nhiệm vụ, xét chọn, phê duyệt kinh phí, hợp đồng, điều chỉnh (thời gian, nội dung, kinh phí thực hiện nếu có); văn bản của tổ chức chủ trì đề tài, dự án (đơn, kiến nghị điều chỉnh nếu có)
Số
TT
Số, thời gian ban
hành văn bản Tên văn bản Ghi chú
Nội dung tham gia chủ yếu
Sản phẩm chủ yếu đạt được
Ghi chú*
1 - Sở KH&CN
Hà Tĩnh - Sở KH&CN Hà Tĩnh Định hướng Khoa học &
Công nghệ cho vùng tái định cư
Đã định hướng Khoa học & Công nghệ cho vùng tái định
huyện Vũ Quang - Hà Tĩnh
- Kỹ thuật một số cây trồng vật nuôi
- Đã phối hợp với cơ quan chủ trì biên soạn tài liệu hướng dẫn kỹ thuật một số cây trồng vật nuôi
3 - Trung tâm
Khuyến nông
tỉnh Hà Tĩnh
- Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hà Tĩnh
- Kỹ thuật một số cây trồng vật nuôi
- Phối hợp biên soạn tài liệu kỹ thuật một số cây trồng vật nuôi
4 - Phòng Công
thương huyện
Vũ Quang
- Phòng Công thương huyện
Vũ Quang
- Tình hình
cơ bản và sản xuất của huyện
- Lý do thay đổi (nếu có):
Trang 95 Cá nhân tham gia thực hiện đề tài:
(Người tham gia thực hiện đề tài thuộc tổ chức chủ trì và cơ quan phối hợp, không quá 10 người
Nội dung tham gia chính
2 Lê Tất Khương Lê Tiến Hùng - Chủ nhiệm đề tài
- Cố vấn Khoa học, tham gia nghiên cứu và xây dựng các mô hình
3 Lê Tất Khương Lê Tất Khương - Tham gia nghiên cứu
và xây dựng các mô hình
4 Phạm Đức Nghiệm Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký đề tài
5 Nguyễn Trường Thành Phạm Đức Nghiệm
- Thực hiện một số chuyên đề nghiên cứu khoa học
6 Nguyễn Huy Lâm Nguyễn Huy Lâm - Định hướng Khoa học & Công nghệ cho vùng tái
định cư
7 Nguyễn Tuấn Thanh Nguyễn Tuấn Thanh - Cơ cấu cây trồng vật nuôi
8 Thân Văn Thắng Thân Văn Thắng - Kỹ thuật một số cây trồng vật nuôi
9 Phan Văn Lĩnh Phan Văn Lĩnh - Tình hình cơ bản và sản xuất của huyện
(Nội dung, thời gian, kinh phí, địa điểm,
tên tổ chức hợp tác, số đoàn, số lượng
người tham gia )
Thực tế đạt được
(Nội dung, thời gian, kinh phí, địa điểm, tên
tổ chức hợp tác, số đoàn, số lượng người
tham gia )
1 - Tham quan khảo sát học tập kinh
nghiệm di dân tái định cư tại Trung
Quốc (Công trình thủy lợi Diên Trì
- Vân Nam - Trung Quốc), 6 người
x 5 ngày
- Cơ quan chủ trì tổ chức cho đoàn cán bộ tỉnh Hà Tĩnh tham quan, khảo sát học tập kinh nghiệm di dân tái định cư tại tỉnh Sơn La
Trang 107 Tình hình tổ chức hội thảo, hội nghị:
(Nội dung, thời gian, kinh
1 - Tổ chức 02 cuộc hội thảo tại
huyện Vũ Quang tỉnh Hà
Tĩnh
- Đã tổ chức 02 cuộc hội thảo tại huyện Vũ Quang tỉnh Hà Tĩnh
8 Tóm tắt các nội dung, công việc chủ yếu:
(Nêu tại mục 15 của thuyết minh, không bao gồm: Hội thảo khoa học, điều tra khảo sát trong nước và nước ngoài)
1 - Điều tra điều kiện tự nhiên - xã hội vùng tái định cư Ngàn
Trươi - Cẩm Trang
- Đánh giá kết quả sản xuất nông lâm nghiệp
- Sau khi điều tra khảo sát nhóm
nghiên cứu
đã đánh giá kết quả sản xuất nông lâm nghiệp
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng và Trung tâm ứng dụng KHKT huyện
Vũ Quang
2
- Đánh giá hiện trạng sản
xuất nông lâm nghiệp ở vùng
tái định cư Ngàn Trươi - Cẩm
Trang
- Đánh giá đúng với thực tế
- Đã đánh giá được hiện trạng sản xuất nông lâm nghiệp ở vùng tái định cư
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng và Trung tâm ứng dụng KHKT huyện
Vũ Quang
3
- Đánh giá đời sống, văn hóa
- xã hội, phong tục tập quán
trong sản xuất của dân vùng
tái định cư Ngàn Trươi - Cẩm
Trang
- Phản ánh trung thực đời sống văn hóa tập quán ở vùng tái định cư
- Đã phản ánh trung thực đời sống văn hóa tập quán ở vùng tái định cư
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng và phòng công thương huyện
Vũ Quang tỉnh Hà Tĩnh
Trang 114
- Điều tra việc ứng dụng
TBKT vào sản xuất nông lâm
nghiệp ở vùng tái định cư
Ngàn Trươi - Cẩm Trang
- Nêu được mặt mạnh, mặt yếu về tiến bộ kỹ thuật
- Đã nêu được mặt mạnh, mặt yếu về tiến
thuật
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng và Trung tâm ứng dụng KHKT huyện
Vũ Quang
5
- Khảo sát, trao đổi và học
tập kinh nghiệm về tình hình
di dân và phát triển sản xuất
nông lâm nghiệp vùng tái
định cư công trình thủy lợi
Diên Chì tỉnh Vân Nam
(Trung Quốc)
- Khảo sát công trình thủy lợi Diên Trì - Vân Nam (Trung
Quốc)
- Khảo sát học tập kinh
nghiệm di dân tái định cư công trình thủy điện Sơn La tại huyện Mộc Châu và
TP Sơn
La
- Trung tâm nghiên cứu &
Phát triển Vùng và Sở KH&CN Hà Tĩnh
6
- Đánh giá hiện trạng hệ
thống thủy lợi vùng tái định
cư Ngàn Trươi - Cẩm Trang
- Giải pháp lựa chọn phương pháp chuyển giao TBKT
- Đã đưa ra giải pháp lựa chọn phương pháp chuyển giao TBKT
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng và UBND huyện
- Đã đề xuất giải pháp củng
thống thủy lợi
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng và UBND huyện
- Đã đề xuất định hướng phù hợp với phát triển sản xuất của huyện
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng và UBND huyện
Vũ Quang
Trang 129
- Nghiên cứu xác định cơ cấu
cây trồng vật nuôi hợp lý,
phù hợp với điều kiện từ
nhiên và tập quán canh tác,
khả năng đầu tư của người
dân vùng tái định cư
- Có cơ sỏ khoa học
và thực tiến
- Có cơ sỏ khoa học
và thực tiến
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng và Trung tâm ứng dụng KHKT huyện
Vũ Quang
10
- Lựa chọn tiến bộ kỹ thuật
đã được khu vực hóa hoặc
đưa vào sản xuất đại trà ở Vũ
Quang để áp dụng vào sản
xuất Đại Trà
- Lựa chọn TBKT phù hợp được người dân
- Đã Lựa chọn
TBKT phù hợp được người dân
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
Trung tâm ứng dụng KHKT huyện
- Đã tổ chức xây dựng các
mô hình thử
nghiệm một số giống cây trồng vật nuôi tại vùng TĐC
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
Trung tâm ứng dụng KHKT huyện
Vũ Quang
12
- Biên soạn tài liệu kỹ thuật
cầm tay cho nông dân vùng
tái định cư và đào tạo và tập
huấn hộ nông dân
- Biên soạn tài liệu tuyên
truyền và tập huấn hộ nông dân
- Đã biên soạn tài liệu tuyên truyền và tập huấn
hộ nông dân
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
Trung tâm ứng dụng KHKT huyện
- Đã đề xuất các giải pháp lựa chọn phương pháp chuyển giao TBKT
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
Trang 1314
- Giải pháp về tổ chức
chuyển giao TBKT như: Xây
dựng nhóm nông dân cùng sở
thích, giúp nhau phát triển
sản xuất, tiếp nhận công nghệ
được chuyển giao Tìm kiếm
và bồi dướng nông dân tiên
tiến để tiếp sức việc chuyển
giao kỹ thuật và công nghệ
- Giải pháp
về tổ chức chuyển giao
- Đã đề xuất giải pháp về tổ chức
chuyển giao
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
15
- Giải pháp về cung cấp
thông tin và thị trường kỹ
thuật cho người dân
- Giải pháp
về cung cấp thông tin
- Đã đề xuất giải pháp về cung cấp thông tin
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
16 - Giải pháp về tổ chức huấn luyện, nâng cao năng lực cho
người sản xuất
- Giải pháp
về tổ chức huấn luyện
- Đã đề xuất Giải pháp về tổ chức huấn luyện
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
TBKT
- Đã đề xuất cơ chế
khuyến khích ứng dụng TBKT
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
18 - Đề xuất các dự án ưu tiên
- Đề xuất
dự án ưu tiên, đầu tư
- Đã Đề xuất dự án
ưu tiên, đầu tư
- Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng
Trang 14III SẢN PHẨM KH&CN CỦA ĐỀ TÀI
1 Sản phẩm KH&CN đã tạo ra:
Thực tế đạt được
nông lâm nghiệp vùng tái
định cư công trình thủy lợi
Ngàn Trươi - Cẩm Trang
tỉnh Hà Tĩnh"
- Đánh giá đầy đủ khách quan dựa trên
cơ sở khoa học và thực tiễn vùng tái định cư công trình thủy lợi Ngàn Trươi
- Cẩm Trang
- Đưa ra định hướng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp và xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp
lý vùng tái định cư
- Xác định giải pháp khoa học công nghệ phù hợp với vùng tái định cư
- Đã đánh giá đầy đủ khách quan dựa trên
cơ sở khoa học và thực tiễn vùng tái định cư công trình thủy lợi Ngàn Trươi
- Cẩm Trang
- Đã đề xuất được định hướng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp và xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp
lý vùng tái định cư
- Đã đề xuất giải pháp khoa học công nghệ phù hợp với
vùng tái định cư
2 - Báo cáo tóm tắt về nội
dung đã nêu trong báo cáo
tổng hợp
- Đảm báo những vấn đề cơ bản được rút gọn từ báo cáo
tổng hợp
- Đã tóm lược những vấn đề cơ bản được rút gọn từ báo
- Đảm bảo chất lượng
Trang 15Ghi chú
(Thời gian kết thúc)
2 Đánh giá về hiệu quả do đề tài mang lại:
a) Hiệu quả về khoa học và công nghệ:
Xác định cơ sở Khoa học và thực tiễn bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý đối với vùng tái định cư Hương Thọ và Sơn Thọ
b) Hiệu quả về kinh tế xã hội:
Định hướng và giải pháp thực hiện sẽ góp phần để địa phương kế hoạch hóa trong sản xuất, góp phần phát triển sản xuất, ổn định đời sống của dân vùng tái định cư
Sử dụng tốt hơn nguồn tài nguyên đất đai, nguồn nước, rừng cây phục vụ phát triển theo hướng nông nghiệp bền vững
Trang 163 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo, kiểm tra của đề tài:
Số
TT Nội dung
Thời gian thực hiện
hiện đề tài, tiến độ công
việc theo thuyết minh đề
23/12/2008 - Cơ quan chủ trì và chủ nhiệm
đề tài đã tích cực triển khai điều tra, thu thập số liệu và đề xuất xây dựng các mô hình
- Đề tài gặp một số khó khăn khách quan nên số kinh phí sử dụng giải ngân chưa theo đúng tiến độ
- Về đề nghị chuyển đổi mô hình của đề tài, cơ quan chủ trì cần nghiên cứu đầy đủ cơ sở khoa học Ban Khoa học & Công nghệ địa phương sẽ xem xét và tham mưu cho lãnh đạo
- Giải quyết các vướng
mắc trong quá trình kiểm
tra
2/6/2009 - Chủ nhiệm đề tài và nhóm
nghiên cứu đã bám sát đề cương thuyết minh và hợp đồng đã ký kết với Bộ Khoa học và Công nghệ để đảm bảo yêu cầu về tiến độ công việc đặt ra
- Các chuyên đề nghiên cứu nên tách riêng ra không nên gộp chung lại, để tiện cho việc theo dõi
- Về đề xuất chuyển việc tham quan, khảo sát ở nước ngoài sang tham quan các mô hình tái định cư trong nước Đoàn kiểm tra cũng thống nhất đề xuất nêu trên và đề nghị đơn vị chủ trì đề xuất phương án cụ thể hơn để đảm bảo các yêu cầu đề ra
Trang 17Lần 3:
- Tiến độ thực hiện nhiệm
vụ trong định kỳ kiểm tra
theo thuyết minh được
- Báo cáo, thảo luận và
giải quyết những khó khăn
vướng mắc trong quá trình
thực hiện của đơn vị chủ
trì và chủ nhiệm nhiệm vụ
13/5/2010 - Chủ nhiệm nhiệm vụ và đơn
vị chủ trì đã chủ động công việc phối kết hợp với chính quyền huyện, xã và Sở Khoa học và Công nghệ Hà Tĩnh để thực hiện nội dung Hợp đồng
đã ký với Bộ KH&CN
- Đã hoàn thành các chuyên đề nghiên cứu, chuyên đề số 10 đang trong quá trình hoàn thiện
- Đề nghị cơ quan chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ có báo cáo giải trình những nội dung thay đổi trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ
II Kiểm tra định kỳ
Lần 1:
- Kiểm tra tình hình thực
hiện đề tài, tiến độ công
việc theo thuyết minh đề
23/12/2008 - Cơ quan chủ trì và chủ nhiệm
đề tài đã tích cực triển khai điều tra, thu thập số liệu và đề xuất xây dựng các mô hình
- Đề tài gặp một số khó khăn khách quan nên số kinh phí sử dụng giải ngân chưa theo đúng tiến độ
- Về đề nghị chuyển đổi mô hình của đề tài, cơ quan chủ trì cần nghiên cứu đầy đủ cơ sở khoa học Ban Khoa học & Công nghệ địa phương sẽ xem xét và tham mưu cho lãnh đạo
Bộ quyết định
- TS Hồ Ngọc Luật - Vụ trưởng, trưởng ban Khoa học
& Công nghệ Địa Phương chủ trì
- Các chuyên đề nghiên cứu nên tách riêng ra không nên gộp chung lại, để tiện cho việc
Trang 18mắc trong quá trình kiểm
tra
theo dõi
- Về đề xuất chuyển việc tham quan, khảo sát ở nước ngoài sang tham quan các mô hình tái định cư trong nước Đoàn kiểm tra cũng thống nhất đề xuất nêu trên và đề nghị đơn vị chủ trì đề xuất phương án cụ thể hơn để đảm bảo các yêu cầu đề ra
- TS Hồ Ngọc Luật - Vụ trưởng, trưởng ban Khoa học & Công nghệ Địa Phương chủ trì Lần 3:
- Tiến độ thực hiện nhiệm
vụ trong định kỳ kiểm tra
theo thuyết minh được
- Báo cáo, thảo luận và
giải quyết những khó khăn
vướng mắc trong quá trình
thực hiện của đơn vị chủ
trì và chủ nhiệm nhiệm vụ
13/5/2010 - Chủ nhiệm nhiệm vụ và đơn
vị chủ trì đã chủ động công việc phối kết hợp với chính quyền huyện, xã và Sở Khoa học và Công nghệ Hà Tĩnh để thực hiện nội dung Hợp đồng
đã ký với Bộ KH&CN
- Đã hoàn thành các chuyên đề nghiên cứu, chuyên đề số 10 đang trong quá trình hoàn thiện
- Đề nghị cơ quan chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ có báo cáo giải trình những nội dung thay đổi trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ
- TS Đỗ Vũ Bình - P Vụ trưởng, P trưởng ban Khoa học
& Công nghệ Địa Phương chủ trì III Nghiệm thu cơ sở 17/12/2010
Trang 19MỞ ĐẦU
I Giới thiệu tóm tắt Đề tài:
"Nghiên cứu giải pháp Khoa học Công nghệ hỗ trợ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp vùng tái định cư công trình thủy lợi Ngàn Trươi –
Cũng như các công trình thủy lợi thủy điện khác trong cả nước dù có qui
mô khác nhau, trên các địa bàn khác nhau bao giờ việc giải phóng mặt bằng, tổ chức tái định cư cũng là rất gian khổ, phức tạp và cam go
Dù được rút kinh nghiệm và có cơ chế chính sách thỏa đáng để bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di dời, hỗ trợ sản xuất và đời sống những năm đầu cho các hộ tái định cư thì người dân tái định cư ở bất cứ công trình thủy lợi - thủy điện nào trong cả nước, thậm chí công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà sau 30 năm vẫn chưa giải quyết xong hậu tái định cư
Vì vậy Bộ Khoa học và Công nghệ đã giao cho Trung tâm Nghiên cứu và
Phát triển Vùng thực hiện đề tài “Nghiên cứu giải pháp Khoa học Công nghệ
hỗ trợ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp vùng tái định cư công trình thủy lợi Ngàn Trươi – Cẩm Trang tỉnh Hà Tĩnh” nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc
của người dân vùng tái định cư theo đề nghị của UBND tỉnh Hà Tĩnh
1 Thời gian thực hiện: 30 tháng (từ tháng 6/2008 đến tháng 12/2010) tính từ
khi có quyết định phê duyệt đề tài
2 Kinh phí: 740 triệu đồng
- Ngân sách sự nghiệp khoa học TW: 560 triệu đồng
- Ngân sách sự nghiệp khoa học địa phương: 180 triệu
Trang 203 Tổ chức chủ trì đề tài
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng (Bộ Khoa học và Công nghệ)
Địa chỉ: Tầng 05 - Nhà số 70 - Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm - Hà Nội
4 Các cán bộ thực hiện đề tài
Stt Họ và tên Đơn vị công tác Tham gia
1 Lê Tiến Hùng Trung tâm NC&PT Vùng Chủ nhiệm
2 Nguyễn Minh Tuấn Trung tâm NC&PT Vùng Thư ký đề tài
3 Lê Tất Khương Trung tâm NC&PT Vùng Thành viên
4 Quách Ngọc Ân Trung tâm NC&PT Vùng Thành viên
5 Phạm Đức Nghiệm Trung tâm NC&PT Vùng Thành viên
8 Thân Văn Thắng Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh Thành viên
Quang – Hà Tĩnh
Thành viên
5 Mục tiêu đề tài
5.1 Mục tiêu chung
- Xác định cơ sở khoa học để lựa chọn TBKT phù hợp góp phần ổn định
đời sống và phát triển sản xuất cho người dân khu vực tái định cư công trình
thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang Hà Tĩnh
5.2 Mục tiêu cụ thể:
- Lựa chọn được những tiến bộ kỹ thuật thích hợp, có cơ sở khoa học để
xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi ở vùng tái định cư công trình thủy lợi Ngàn
Trươi - Cẩm Trang Hà Tĩnh
- Đào tạo huấn luyện để nâng cao năng lực cho người lao động vùng tái
định cư Ngàn Trươi - Cẩm Trang
6 Nội dung đề tài
- Điều tra tình hình sản xuất nông lâm nghiệp vùng tái định cư công trình
thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hệ thống thủy lợi vùng tái định cư
Ngàn Trươi - Cẩm Trang
Trang 21- Nghiên cứu việc ứng dụng TBKT và công nghệ để hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp vùng tái định cư
- Nghiên cứu giải pháp đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất
7 Cách tiếp cận trong nghiên cứu
- Trên cơ sở xác định địa bàn nghiên cứu tiến hành điều tra nhanh nông thôn (RRA) với sự tham gia của người dân (PRA) để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu (SWOT) ở vùng tái định cư
- Thực hiện tiếp cận liên ngành chủ yếu với Ban quản lý dự án tái định cư thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang để có được số liệu, tình hình phục vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu khai thác các văn kiện, báo cáo, tài liệu của huyện và tranh thủ ý kiến của các nhà quản lý, chuyên gia trong quá trình nghiên cứu và triển khai đề tài
- Tiếp cận khoa học công nghệ để nghiên cứu xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp ở vùng tái định cư
- Tiếp cận thị trường coi đó là động lực để thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp ở vùng tái định cư theo hướng hàng hóa
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp có người dân tham gia (PRA)
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích hệ thống và dự báo
- Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng đã nhận được sự cộng tác giúp đỡ của các Vụ, các Cục trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ, các ban ngành tỉnh Hà Tĩnh, UBND huyện
Vũ Quang, các Phòng, Ban của huyện cùng các nhà quản lý và chuyên môn Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vùng xin trân trọng cảm ơn
Trang 22II TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TÁI ĐỊNH CƯ
Di dân tái định cư có thể hiểu đơn giản là đến nơi ở ổn định lần thứ 2 để làm ăn, sinh sống Việc di dân tái định cư đã có từ rất sớm khi con người hoàn toàn dựa vào thiên nhiên để mưu sinh Đồng bào các dân tộc miền núi, nhất là bà con ít người ở vùng cao thường tìm đến nơi đất tốt để ở và canh tác Sau một thời gian đất trở nên nghèo dinh dưỡng họ lại đi tìm nơi ở mới, phá rừng làm rẫy Đó là tình trạng du canh, du cư Trải qua nửa thế kỷ tiến hành cuộc vận động định canh, định cư với nhiều chính sách ưu đãi của Chính Phủ đến nay nhiều tỉnh miền núi đã xóa được du canh, du cư Đó là về cơ bản, nhưng cá biệt vẫn còn diễn ra di dân tự do đến ở và khai phá rừng như đồng bào Mông, Tày ở các tỉnh phía Bắc vào sống ở Tây Nguyên
Tình trạng di dân tự do gây không biết bao nhiêu phiền toái cho chính quyền sở tại về sự kiểm soát và quản lý hộ khẩu, trật tự an ninh xã hội, nhất là việc họ phá rừng bừa bãi để bán đất và trồng tỉa
Ngược lại với di dân tái định cư tự do là việc di dân tái định cư có tổ chức
do Nhà nước thực hiện nhằm giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình kinh tế xã hội phục vụ cho toàn dân
II.1 Ở ngoài nước:
Các công trình thủy lợi: không chỉ giải quyết nước tưới, điều hòa dòng chảy trong mùa mưa lũ và mùa khô mà còn cung cấp nước cho công nghiệp, sinh hoạt, du lịch, nuôi trồng thủy sản, v.v kết hợp làm thủy điện Hiện nay, trên thế giới chưa kể Trung Quốc có trên 35000 hồ đập loại lớn, trong số đó, hồ thủy điện chiếm 45%
Quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện thường gắn liền với việc phải di dời nhiều hộ dân ra khỏi vùng lòng hồ Do đó việc tổ chức ổn định đời sống và phát triển sản xuất cho người dân tái định cư cần được coi trọng
Ở Canada năm 1939 khi xây dựng đập Val Marie để cấp nước tưới cho vùng Tây Nam Saskatchewan, trong giai đoạn đầu của dự án Chính quyền địa phương để tiến hành tái định cư cho 38 hộ với những chính sách ưu đãi về vận chuyển, thiết bị sinh hoạt, lương thực và chỗ ở mới
Ở Srilanca khi tiến hành xây dựng công trình thủy lợi Mahaweli, Chính phủ có chính sách đối với người dân tái định cư, giúp họ có điều kiện sản xuất
và tiện nghi ở nơi mới
Trang 23Ở Ấn Độ năm 1980 khi triển khai dự án Sarda sarova (SSP) đập Marmada, Chính phủ đã xem xét: phạm vi lợi ích của dự án đã đến đâu cái gì mà môi trường phải trả cho việc hình thành dự án? Môi trường tái định cư và tập quán sinh sống của hàng ngàn người dân sẽ như thế nào? Gia đình nào sẽ bị di dời và trợ cấp cho
họ từ dự án là những gì? Một loạt vấn đề đó được đặt ra trước khi triển khai dự án
và đã được giải quyết thỏa đáng để người dân TĐC yên tâm
Ở Thái Lan khi xây dựng nhà máy thủy điện Tabsalas đã không giải quyết tốt việc đền bù đất cho chủ cũ để bố trí cho người dân tái định cư nên đã làm nảy sinh mâu thuẫn giữa người dân TĐC và dân sở tại
Ở Trung Quốc từ năm 1951 đến năm 1982 xây dựng khoảng 523 đập, thủy điện Trung Quốc đã phải di dời hơn 10 triệu người trong vòng 40 năm qua
để giải phóng mặt bằng Cuộc di dân TĐC lớn nhất gồm 383.000 người để thực hiện dự án thủy điện Danjiang trên sông Yangte River
Mười mấy năm qua, Trung Quốc đã thu hồi của nông dân 150 triệu mẫu
TQ (tương đương 990 ngàn ha để xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện khu công nghiệp và mở mang đô thị Theo Bộ Nông nghiệp Trung Quốc cứ lấy
đi 2 mẫu đất TQ (1320 m2) là có 1 nông dân không có đất để sản xuất Như vậy Trung Quốc có 75 triệu nông dân bị mất đất đã dồn họ vào cảnh không đất để cày, không nghề để sống, không nơi để đi, mặc dù mỗi hộ được đền bù 10.000 NDT (22,5 triệu VNĐ/hộ ) vì thế năm 2005 tại Hán Nguyên (Tứ Xuyên) 10 vạn nông dân đã chống lại thu hồi đất để làm hồ chứa nước, các cuộc biểu tình chống đối năm 1993 có 8700 vụ Năm 2003 có 60.000 vụ Năm 2008 số lượng
vụ phản đối tăng nhiều, qui mô lớn, hành vi thêm dữ dội Để giải quyết thực trạng này:
- Chính phủ nâng cao thích đáng tiêu chuẩn đền bù ngoài hoa mầu cây cối, chi phí tái định cư, việc bồi thường ruộng đất thấp nhất phải gấp 30 lần giá trị bình quân sản lượng của 3 năm liền kề
- Nhà nước tích cực tìm kiếm việc làm cho nông dân mất đất, đào tạo huấn luyện tay nghề cho họ, có chính sách ưu đãi, xí nghiệp nhận họ vào làm việc giúp nông dân mất đất làm nghề mới
- Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội cho nông dân mất đất khi không còn làm nông nghiệp nữa
Năm 1981 chính phủ ban hành luật về TĐC tại các dự án hồ chứa trong
đó xây dựng “Quỹ bảo vệ hồ chứa” để hỗ trợ người dân TĐC Luật này quy định tất cả các nhà máy thủy điện phải đóng góp 0,001 nhân dân tệ cho mỗi KWh
Trang 24điện thương phẩm vào quỹ để nâng cao điều kiện sống cho người dân định cư hoặc để nâng cấp cơ sở hạ tầng cho những vùng bị ảnh hưởng bởi hồ chứa
Năm 1985 Bộ tài nguyên nước (MWR) ban hành quy định mới về thiết kế tái định cư cho việc xây dựng hồ chứa Trách nhiệm thực hiện việc lập kế hoạch
và thực hiện chương trình di dân được chia sẻ giữa đơn vị thiết kế và chính quyền địa phương Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm làm kế hoạch chi tiết và lập dự toán ngân sách cho việc TĐC cả 2 quy định đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp các kế hoạch phát triển kinh tế trong chiến lược TĐC hơn cả việc đơn thuần cứu trợ người dân TĐC và nhấn mạnh việc sử dụng quỹ hỗ trợ TĐC một cách minh bạch
Trong chương trình khôi phục thu nhập cho người dân TĐC của các dự án được sử dụng vốn vay của các Tổ chức quốc tế, Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cảnh báo TĐC có thể dẫn đến nguy cơ phải đối mặt với đói nghèo khi những điều kiện và nguồn tạo ra thu nhập của họ bị mất đi, họ có thể bị di dời đến nơi không có việc làm hay các tài nguyên kiếm sống không có buộc họ phải khai thác đến mức kiệt quệ môi trường để sinh sống, các thiết chế cộng đồng bị phá vỡ, quan hệ họ hàng cũng bị ảnh hưởng, các yếu tố truyền thống văn hóa bị mất đi
Các chương trình TĐC nhằm ngăn chặn bần cùng hóa, khôi phục thu nhập
và xây dựng cộng đồng vững mạnh theo 2 hướng chính sau đây:
- Hướng thứ nhất: Các chương trình TĐC dựa trên cơ sở đất đai cung cấp cho dân di cư đủ đất để họ tái tạo canh tác ở nơi mới và buôn bán nhỏ ở ngay trong nông thôn
- Hướng thứ hai: Việc TĐC không dựa vào đất đai mà tập trung đào tạo nghề nghiệp, tạo việc làm, tổ chức tín dụng, hướng phát triển các doanh nghiệp nhỏ, tạo công ăn việc làm
Việc khôi phục thu nhập bao gồm các hoạt động kinh tế dựa trên việc cấp đất hoặc phát triển dịch vụ, kinh doanh đều nhằm tái tạo nguồn thu nhập bền lâu, tạo khả năng khôi phục thậm chí tốt hơn mức sống trước đây của người dân TĐC
II.2 Ở trong nước:
Để đạt 32 tỷ kWh/năm cung cấp cho lưới điện quốc gia, giai đoạn 1995 -
2009 có 22 công trình thủy lợi, thủy điện trọng điểm đã và đang được xây dựng như công trình thủy điện Bản Vẽ (Nghệ An), công trình thủy điện Ialy (Gia Lai – Kon Tum), công trình thủy điện Plei Krông (Kon Tum), thủy điện sông Ba Hạ (Phú Yên) Tổng diện tích đất thu hồi để xây dựng công trình là 81.622 ha và
Trang 2549.785 hộ trong khu vực lòng hồ chịu ảnh hưởng trong đó có 40 ngàn hộ với 194 ngàn người, chiếm 80% tổng số hộ phải di dời TĐC Tổng dự toán đã duyệt để di dân 16.954,8 tỷ đồng, đến tháng 2/2009 đã di chuyển được 21 ngàn hộ với trên
103 ngàn người đạt 54% số hộ cần di dời TĐC, phần lớn các hộ này là đồng bào dân tộc thiểu số: Thái, Khơ Mú, Mông, Dao, Tày, Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng, Vân Kiều, Mơ Nông, La Ho Trong đó phải kể đến cuộc di dân có quy mô thế giới của thủy điện Sơn La, nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á Phạm vi ảnh hưởng
đã được Chính phủ xác định: 3.333 ha đất bị ngập, tổng thiệt hại 1.788 tỷ đồng, số
hộ vùng bị ngập phải di dời 18.897 hộ, 91.100 khẩu thuộc 8 huyện, thị xã
Chính sách hỗ trợ cho mỗi hộ dân khi phải di dời tái định cư phụ thuộc vào qui mô công trình và điều kiện cụ thể của địa phương phải tổ chức tái định cư: thủy điện Sơn La 500 triệu đồng/ hộ, thủy điện Tuyên Quang 450 triệu đồng/
hộ, các dự án thủy điện nhỏ 200 - 300 triệu/hộ Trong số vốn đầu tư được cơ cấu như sau: 42% giành cho đền bù giải phóng mặt bằng, 7,4% chi cho hỗ trợ di dời, 45,8% dành cho xây dựng kết cấu hạ tầng nơi tái định cư, 4,8% hỗ trợ sản xuất ban đầu và ổn định cuộc sống
Vốn đầu tư được sử dụng cho các hạng mục: Khai hoang, cải tạo mặt bằng đất ở, đất sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ xây dựng nhà ở, lương thực… Nhờ đó, người dân tái định cư, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa cũng
đỡ bớt khó khăn khi đến định cư nơi ở mới
II.3 Các loại hình di dời dân tái định cư gồm có:
- Di dân tái định cư tập trung với qui mô vừa và nhỏ
- Xen ghép dân tái định cư với dân bản địa, phương thức này nhiều nơi lại cho hiệu quả tốt
- Di dân tại chỗ (Di vén) thường gặp khó khăn vì thiếu đất sản xuất và đi lại không thuận tiện
Nhìn chung Chính phủ đã phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn để tổ chức cho dân tái định cư nhưng ở đâu người dân đến tái định cư cũng gặp rất nhiều khó khăn vì chưa được cấp đất kịp thời để sản xuất, diện tích đất cấp ít lại là đất xấu, đất dốc, sản xuất kém hiệu quả, thiếu nước sinh hoạt, nước sản xuất, trường học, trạm xá chưa được kịp thời xây dựng đồng bộ
Tại Hội nghị "Tổng kết 15 năm thực hiện công tác tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện" ngày 17/4/2007 đã đánh giá: Bên cạnh những kết quả đạt
được, công tác tái định cư vẫn còn nhiều tồn tại:
Trang 26- Chính sách đối với người dân tái định cư còn nhiều điều chưa được thực
sự hợp lý
- Công tác kế hoạch, qui hoạch chất lượng còn thấp, tính khả thi chưa cao
- Hình thức di chuyển chưa gắn với phong tục tập quán của đồng bào vùng dân tộc phải TĐC
- Cơ chế quản lý không thống nhất
Tại Hội thảo “Tái định cư và bảo vệ môi trường các dự án thủy điện tại Việt Nam” ngày 29-30/6/2007 do Bộ Công nghiệp (cũ) phối hợp với Tổng công ty
điện lực Việt Nam (EVN) và Ngân hàng thế giới (WB) tổ chức nhằm tìm ra lời giải: làm thế nào để hài hòa giữa qui hoạch và kế hoạch phát triển điện với các ngành khác, giảm thiểu xung đột giữa các đối tượng được qui hoạch và giảm thiểu các tác động bất lợi đến con người và môi trường để hình thành vùng tái định cư ổn định?
Bà Teresa Serra, giám đốc Viện môi trường và xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương là người có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn
đề liên quan đến tái định cư các dự án thủy điện ở Brazil chia sẻ: “Ở Brazil có một chính sách rất hay đó là chủ dự án không bồi thường cho người dân bằng tiền mặt Sau khi bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư, họ sẽ nhận được một thẻ tín dụng Người sử dụng thẻ được mua mọi đồ vật mình cần khi cầm thẻ tín dụng nhưng không được rút tiền mặt Điều này sẽ hạn chế người dân dùng tiền tái định cư không họp lý ”
Theo ông Alan Coulthar - quyền giám đốc WB tại Việt Nam nói: “Đây là
cơ hội để các nhà đầu tư trao đổi, đúc kết kinh nghiệm trong việc xây dựng nhanh các nguồn thủy điện mà vẫn đảm bảo ổn định dân sinh, không làm ảnh hưởng đến môi trường, phục vụ phát triển bền vững tại Việt Nam”
Xung quanh vấn đề di dân tái định cư, tốt nhất hãy lắng nghe ý kiến của một số đồng chí lãnh đạo ở địa phương
Ông Bùi Văn Tỉnh Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình thừa nhận đã gần 30 năm (kể từ 1980) đến nay Hòa Bình vẫn chưa giải quyết xong hậu di dân lòng
hồ Sông Đà do 3 nguyên nhân: Không có qui hoạch khu tái định cư, di cư dân tại chỗ và không ổn định cuộc sống cho bà con Thậm chí 1.000 hộ được hỗ trợ vào Nam phát triển kinh tế mới được vài năm, nhiều hộ lại quay về nơi xuất phát Tỷ lệ hộ nghèo ở lòng hồ Sông Đà cao nhất tỉnh đạt 42% đời sống của họ cực kì khó khăn Hòa Bình không biết lấy đâu ra trên 100 tỷ đồng để giải quyết trên 5.100 hộ cán bộ công nhân viên thi công xong công trình thủy điện Hòa
Trang 27Theo bà Vũ Thị Bích Việt, phó chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang cần phải phục hồi thu nhập cho bà con sau tái định cư: “Nếu đánh giá 1 - 2 năm cuộc sống của người dân tái định cư tốt hơn hẳn so với họ ở quê cũ là nói dối Chúng
ta phải nhìn thẳng vào sự thật, phấn đấu hết sức lắm thì vài năm sau vùng tái định cư mới ổn định Do vậy phải có kế hoạch dài hạn hậu di cư trong vòng 5 -
10 năm Di dân tái định cư thì rất dễ nhưng làm thế nào để họ có thu nhập sinh nhai, để ổn định cuộc sống thì mới khó…”
Ông Trịnh Xuân Hùng Trưởng ban tái định cư thủy điện Sơn La thì cho rằng: “Hiện nay việc lồng ghép các nguồn vốn cho chương trình tái định cư là yếu kém Đầu tư về hạ tầng điện, đường, trường, trạm không đồng đều giữa vốn tái định cư và dân bản địa nên dễ xảy ra mất đoàn kết và thông cảm với nhau” Dưới đây là tình hình lược qua ở một số công trình lớn về tái định cư:
Ngày 24/5/2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu tổ chức long trọng lễ mừng công hoàn thành công tác di chuyển dân ra khỏi lòng hồ dự án thuỷ điện Sơn La Giai đoạn I (2001- 2003) là giai đoạn xây dựng thí điểm khu TĐC Si Pa Phìn cho 200 hộ dân huyện Sìn Hồ - Lai Châu (cũ) Sau 2 năm thực hiện cơ sở
hạ tầng như mặt bằng xây dựng khu TĐC, cơ sở điện, nước, nhà văn hóa, đường giao thông, trường học, trạm xá đã hoàn thành, đáp ứng được nhu cầu phục vụ đời sống, sản xuất của bà con Giai đoạn II (2004 - 2009) lập và phê duyệt hồ sơ chi tiết cho 15 khu TĐC, tiến hành san ủi mặt bằng, xây dựng các khu TĐC Đến nay Lai Châu đã thực hiện giao đất, chuyển dân và tiếp nhận an toàn được 3.631 hộ (đạt 97,6%) số hộ di chuyển Giải ngân được 968,19 tỷ đồng (đạt 60%
kế hoạch) Tỉnh đã tiếp nhận và bố trí TĐC đảm bảo hạ tầng sinh hoạt và sản xuất cho gần 400 hộ từ thị xã Mường Lay (tỉnh Điện Biên) lên khu TĐC
Thủy điện Sơn La khởi công cuối năm 2005 tại Pa Vinh xã Ít Ong huyện Mường La với tổng số vốn đầu tư 34.000 - 36.000 tỷ đồng Chính phủ đã phải tách việc di dân tái định cư thành một dự án riêng với tổng kinh phí 9.600 tỷ đồng
Căn cứ vào mốc cắm dưới 215 m mức nước dâng của lòng hồ so với mặt nước biển, thì phải di dời TĐC 12.479 hộ trong đó 50% số hộ thuộc diện đặc biệt đói nghèo, 53% số hộ di dời sống ở các ngôi nhà tạm, 90% là đồng bào dân tộc ít người (Thái, Dao, La Ho, Khơ Mú…) trình độ dân trí rất thấp, đời sống khó khăn Tỉnh đang thực hiện rốt ráo quy hoạch 83 khu (xã) thuộc 10 huyện trên địa bàn TĐC
Ngày 12/5/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 495/QĐ-TTg quy định việc bồi thường, di dân TĐC Sơn La Theo đó xây dựng 200 điểm tiếp nhận tái định cư bồi thường thiệt hại về tài sản trên diện tích đất thu hồi để xây dựng cơ
sở hạ tầng, công trình công cộng, công trình phục vụ sản xuất và đời sống tại khu
Trang 28TĐC, điểm định cư Hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, chi phí chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo nghề cho lao động phải chuyển đổi nghề do di chuyển
Một tiểu dự án di dân TĐC mẫu được xây dựng tại xã Tân Lập, Mộc Châu trên diện tích quy hoạch 1.347 ha với 423 căn nhà sàn và trệt kết cấu khung bê tông tường gạch, ngói bằng tấm lợp kèm theo các công trình hạ tầng Tổng chi phí hết 210 tỷ đồng, đã tiếp nhận 390/490 hộ dân thuộc diện phải di dời về ở Tại Tân Lập có 8 điểm TĐC: Điểm tiểu khu 32 - Tà phìn có 86 hộ thực hiện mô hình: trồng chè + nương định canh + chăn nuôi bò thịt Mỗi hộ được cấp 0,5 ha chè có sẵn, 0,5 ha nương định canh và 2 con bò thịt Các hộ thực hiện mô hình: nuôi bò sữa + nương định canh được cấp 4 con bò sữa, 0,9 ha đất đồng cỏ, 0,5 ha nương định canh Vốn vay 4 bò sữa không phải trả lãi trong 4 năm, vốn vay lưu động 10 triệu đồng/ hộ/ năm Tại điểm Nậm Khao có 70 hộ dân TĐC thực hiện mô hình: nương định canh + chăn nuôi bò thịt + rừng kinh tế mỗi hộ được cấp1,28 ha nương định canh, 0,46 ha cây ăn quả, 4 bò thịt, 0,83 ha đất trồng rừng kinh tế Dự kiến khi định hình có thể thu nhập 27 triệu đồng/ hộ/ năm
Ngày 26/5/2009 UBNN tỉnh Sơn La đánh giá đã di chuyển được hơn 10.000/12.479 hộ đạt gần 80% kế hoạch Huyện Quỳnh Nhai phải di chuyển 6.155 hộ đang phấn đấu hoàn thành ngày 31/12/2009 để đến tháng 6/2010 đưa nước vào hồ và phát tổ máy số 1 đúng tiến độ
Nhưng xã Tân Lập huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La là mô hình mẫu, không phải nơi TĐC nào cũng được đầu tư đồng bộ như Tân Lập Tình trạng chung ở các khu TĐC là hết sức khó khăn
Khu TĐC Thái Lâm - xã Hạnh Lâm - huyện Thanh Chương (Nghệ An) thuộc công trình thủy điện Bản Vẽ, người dân về sống 3 năm ở đây nhưng vẫn chưa có đất sản xuất, nhất là đất ruộng cấy lúa nước mỗi hộ ở đây được giao 1- 1,5 ha đất sản xuất nông nghiệp nhưng thực tế chỉ giao được 700 - 800 m2/ hộ đất vườn
Khu tái định cư xã Hướng Linh thuộc công trình Rào Quán được giao 1 ha/hộ nhưng không sản xuất được vì đất quá xấu lại không có nước
Khu tái định cư Lộc Bổn thuộc công trình Tả Trạch có 30% số hộ trở về sản xuất ở vùng lòng hồ và 30% số hộ di dân tự do bỏ đi mưu sống ở nơi khác
Điểm tái định cư thôn Làng Non, xã Yên Nguyên (Chiêm Hóa - Quảng Trị) có đất nhưng vẫn không có nước để sản xuất
Nghiêm trọng hơn, nhiều khu tái định cư của thủy điện Tuyên Quang, Bản
Vẽ, Rào quán do công tác quy hoạch, thiết kế, quản lý yếu nên các hộ được giao đất không phù hợp với quy mô công trình, mùa khô có đến 6 - 7 tháng thiếu
Trang 29nghiệp và Phát triển Nông thôn Nhưng chính Bộ này lại cho rằng Tây Bắc, Tây Nguyên vốn đã thiếu đất, nay lại phải xây dựng các khu TĐC thì lấy đâu ra đất
Vấn đề là ở chỗ như Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng đã nói tại Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện công tác tái định cư của các công trình thủy lợi thủy
điện: “Nếu không có dự án về quy hoạch di dân thì không được phát triển thủy điện, thủy lợi Không thể để lợi ích của thủy điện mà bỏ qua lợi ích của thủy lợi, của môi trường và quan trọng nhất là mọi mặt đời sống của người dân Lợi ích nào cũng phải đảm bảo một cách tối đa”
Mặt khác, công tác thẩm định, phệ duyệt quy hoạch chi tiết dự án phải được tiến hành khẩn trương theo đúng tinh thần: Cải cách thủ tục hành chính để sớm trình Chính phủ điều chỉnh quy hoạch tổng thể đi dân tái định cư Đây là cơ
sở để lập, phê duyệt các dự án thành phần tại các khu, điểm tái định cư Nếu làm chậm, không thể đảm bảo tiến độ di dân Dù đấu thầu hay chỉ định cả các khâu, các bước trong quy trình đều phải đảm bảo đúng quy định
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cần được nâng cao và tăng cường, trước hết phải củng cố lực lượng làm công tác này nâng cao về trách nhiệm và trình độ chuyên môn Giải quyết kịp thời mọi khó khăn, vướng mắc trong đền
bù giải phóng mặt bằng, thực hiện các dự án thành phần theo hướng đến đâu dứt điểm đến đó, vừa tạo điều kiện thuận tiện cho người dân tham gia giám sát các khâu, các bước trong quy trình đầu tư xây dựng dự án Coi đây là một trong các biện pháp quan trọng góp phần đảm bảo chất lượng các dự án TĐC
Trang 30KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
CHƯƠNG I HIỆN TRẠNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN VŨ QUANG VÀ VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ CÔNG TRÌNH THUỶ ĐIỆN
NGÀN TRƯƠI - CẨM TRANG TỈNH HÀ TĨNH
Ngày 16/11/2006, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 1882/TTg-NN
cho phép đầu tư Dự án hệ thống thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang tại Hà Tĩnh
Đây là dự án đa mục tiêu của quốc gia, cung cấp, nước tưới cho 35.000 ha lúa, rau màu của 5 huyện, thị xã phía bắc Hà Tĩnh, hạn chế lũ lụt, giảm áp lực cho đê
La Giang và cung cấp nước cho mỏ sắt Thạch Khê tạo ra lợi thế cho huyện trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội
Khu tái định cư cho 2 xã phải di dời là Hương Điền, Hương Quang được
bố trí trên địa bàn của 2 xã tiếp nhận là Sơn Thọ và cùng trong huyện Vũ Quang Bởi vậy trước khi đến điều kiện tự nhiên của khu vực tái định cư cần xem xét điều kiện tự nhiên của khhu vực TĐC cần xem xét điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của huyện Vũ Quang để thấy được bối cảnh chung của khu vực TĐC
I Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh - nơi có công trình thủy lợi, thủy điện Ngàn Trươi - Cẩm Trang
Huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh là huyện miền núi biên giới được thành lập theo Nghị định 27/NĐ - CP ngày 4/8/2000 của Chính phủ trên cơ sở tách 6
xã thuộc huyện Đức Thọ (gồm Đức Liên, Đức Hương, Đức Bồng, Đức Lĩnh, Đức Giang, Ân Phú), 5 xã thuộc huyện Hương Khê (gồm Hương Thọ, Hương Minh, Hương Đại, Hương Điền, Hương Quang) và 1 xã thuộc huyện Hương Sơn: xã Sơn Thọ
Trang 31I.1.Điều kiện tự nhiên
I.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Vũ Quang cách thị xã Hà Tĩnh 70 km về phía Tây, có 42 km đường biên giới tiếp giáp với nước Lào, có địa giới hành chính như sau:
- Phía Bắc: giáp huyện Hương Sơn
- Phía Đông: giáp huyện Đức Thọ
- Phía Tây: giáp nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào
- Phía Nam: giáp huyện Hương Khê
Nằm trong trục hành lang kinh tế Đông – Tây của tỉnh Hà Tĩnh, với ưu thế có 21km đường Hồ Chí Minh chạy qua địa bàn rất thuận lợi cho việc phát triển các cụm công nghiệp chế biến, lưu thông hàng hóa và phát triển du lịch Huyện có nhiều tiềm năng trong việc phát triển kinh tế kết hợp nông - lâm nghiệp, du lịch Với 42 km đường biên giới tiếp giáp với nước Lào là điều kiện thuận lợi cho việc qua lại, buôn bán, giao thương giữa hai nước nhưng cũng đặt
ra yêu cầu cần làm tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự khu vực biên giới, chống các hoạt động phá hoại của địch, các loại tội phạm ma túy, hình sự khác
I.1.2 Địa hình, đất đai
* Địa hình
Vũ Quang là một huyện miền núi của tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây là núi trung bình, phía Đông là đồi bị bào mòn, đỉnh núi Rào Cỏ cao 2.235 m, có sông Ngàn Trươi, Ngàn Sâu chảy qua Với nhiều đồi núi có độ dốc lớn nên đất bị rửa trôi, xói mòn mạnh, huyện có nhiều sông suối, khe lạch nên vào mùa mưa bão thường xuyên bị ngập lụt và sạt lở Với địa hình phức tạp làm cho giao thông, đi lại giữa các thôn, xã khó khăn và ảnh hưởng đến việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp
* Đất đai
Đất sản xuất nông nghiệp ít, diện tích 3.291 ha chiếm 5,16% tổng diện tích đất tự nhiên phần lớn bị bạc màu, đồng ruộng manh mún Việc di dời 2 xã Hương Điền, Hương Quang vùng lòng hồ thuỷ lợi - thủy điện Ngàn Trươi - Cẩm Trang sẽ làm giảm một phần diện tích đất nông nghiệp của huyện Diện tích rừng chiếm tới 84,43% tổng diện tích đất tự nhiên lại có rừng quốc gia với thảm
Trang 32thực vật phong phú với nhiều loại cây gỗ quí, hệ động vật đa dạng Đây là nguồn
tài nguyên quí, huyện có thể khai thác và sử dụng hợp lý để đưa lâm nghiệp trở
thành thế mạnh của huyện
Bảng 1: Diện tích đất đai năm 2008 của huyện
Huyện Vũ Quang nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra còn chịu
ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa của miền Bắc và miền Nam, với đặc
trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có 1 mùa đông lạnh của miền
Bắc Tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình 25,40C; tháng lạnh nhất
là tháng 1 với nhiệt độ trung bình trên 160C Lượng mưa trung bình tương đối
cao trên 2.000 mm Khí hậu Vũ Quang có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa: có nhiều bão
lụt, kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, chiếm 2/3 lượng mưa cả năm; mùa khô: Từ
tháng 12 đến tháng 7 năm sau, có gió Tây (hoạt động từ giữa tháng tư đến tháng
7) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn, gây hạn hán nghiêm trọng
Vốn là một huyện miền núi nghèo mới được thành lập, xuất phát điểm của
sự phát triển thấp, lại nằm trong vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt,
nên gặp rất nhiều khó khăn đối với phát triển nông nghiệp nông thôn
I.2 Điều kiện kinh tế
Vượt qua khó khăn Đảng bộ và nhân dân huyện Vũ Quang đã phấn đấu
thực hiện thắng lợi Nghị quyết các kỳ Đại hội
Trang 33Bảng 2: Giá trị sản xuất qua các năm
Đơn vị: Triệu đồng
Tốc độ tăng b/q (%)
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vũ Quang 2007 - 2008
Trong 5 năm qua (từ 2004 - 2008), cơ cấu kinh tế của huyện Vũ Quang đã chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp - thủy sản từ 61,24% xuống còn 50,71%, tỷ trọng trong các ngành công nghiệp và xây dựng từ 10,58 tăng 11,12% Tỷ trọng ngành dịch vụ năm 2008 từ 28,01% tăng lên 38,17%
I.3 Điều kiện xã hội
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm 5 năm (2001 – 2005) đạt bình quân 12,9% và bình quân 5 năm 2004 – 2008 là 12,6% phản ánh sự phát triển khá của nền kinh tế Đời sống của người dân được cải thiện 1 bước, thu nhập bình quân tăng từ 1,980 triệu đồng/người/năm 2001 lên 3,301 triệu đồng/người/ năm 2005 và đạt 6, 960 triệu đồng/người/năm 2008 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế như sau:
Bảng 3: Cơ cấu ngành kinh tế của huyện Vũ Quang
Đơn vị:% Chỉ tiêu Năm
CN và xây dựng 12,23 10,58 20,57 23,00 20,88 11,12 Các ngành dịch vụ 31,37 28,01 25,48 24,19 32,99 38,27
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vũ Quang năm 2007- 2008
I.3.1 Dân số
- Năm 2008 huyện Vũ Quang có 32.240 người, trong đó có 17.480 người đang trong độ tuổi lao động, so với năm 2005 giảm cơ giới 1.260 người
Trang 34Bảng 4: Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế STT Lĩnh vực Số lao động (người) Tỷ lệ (%)
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vũ Quang năm 2008
Huyện có cơ cấu dân số trẻ, nhân khẩu dưới độ tuổi 15 có 15.190 người,
chiếm 46,59% tổng dân số Hiện nay lao động khu vực nông - lâm - nghiệp thủy
sản là 14.508 người chiếm 82,29% tổng số lao động toàn huyện Trong 5 năm từ
2004 đến 2008 tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện đã giảm từ 6,43% xuống còn
5,96%, nhưng so với tỉ lệ dân số của tỉnh và cả nước thì vẫn còn cao
- Nguồn thu nhập chính: Vũ Quang là một huyện thuần nông thu nhập từ
Nông nghiệp là chính trong đó thu nhập từ kinh tế vườn, kinh tế trang trại với
cây lâu năm có hiệu quả và chiếm tỷ trọng khá lớn
Bảng 5: Một số chỉ tiêu về mức sống của huyện Vũ Quang
Nguồn: Niên giám thống kê 2005 - 2008 huyện Vũ Quang
Bảng trên đây cho thấy, tuy đời sống của người dân có được cải thiện nhưng
nói chung vẫn còn nhiều khó khăn Thu nhập bình quân theo giá thực tế từ 2004 đến
2008 tăng 26,3% (thu nhập theo đầu người năm 2004 là 2,72 triệu đồng và tăng lên
6,965 triệu đồng năm 2008 ) trong bối cảnh đồng tiền mất giá, chỉ số CPI cao thì
mức tăng bình quân là 26,3% không đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống
I.3.2 Cơ sở hạ tầng nông thôn được tăng cường một bước
Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, vốn đầu tư cho giao
thông nông thôn được đóng góp như sau:
Trang 35Bảng 6: Vốn đầu tư phát triển giao thông nông thôn (Đơn vị: triệu đồng)
2001 2006 2007
Nhà nước hỗ trợ 100 360 700
Nguồn: Nhóm nghiên cứu đề tài
Hiện nay chiều dài đường liên thôn có 321,7 km, đã bê tông hóa 111,1 km bằng 34,5% (trong đó đạt tiêu chuẩn 105 km bằng 94,5%, chưa đạt tiêu chuẩn 6,1 km bằng 5,5% đường bê tông), còn lại 210 km là đường cấp phối bằng 65,5% chiều dài đường liên thôn Đường liên xã 82,6 km, đã nhựa hóa được 44
km bằng 53,3% (trong đó đạt tiêu chuẩn 26 km, chưa đạt tiêu chuẩn 18 km) còn lại là đường cấp phối 38,6 km bằng 46,7% chiều dài đường liên xã
I.3.3 Văn hoá – giáo dục
I.3.3.1.Các khu di tích lịch sử và các địa điểm du lịch
Vũ Quang đã sinh ra các bậc văn hào, sử gia, trung thần, nghĩa sĩ phò vua cứu nước, làm rạng danh trang sử vàng dân tộc Ngay trên mảnh đất này đã ghi đậm dấu tích về cuộc kháng chiến 10 năm chống Pháp của nhà yêu nước Phan Đình Phùng, cùng nghĩa sĩ Cần Vương Vũ Quang còn là căn cứ địa cách mạng,
là nơi sản xuất vũ khí, in bạc tài chính sau ngày mặt trận Bình - Trị - Thiên bị vỡ
Hiện nay trên địa bàn huyện Vũ Quang có một di tích lịch sử cấp Quốc gia là căn cứ địa Vũ Quang của cuộc khởi nghĩa Hương Khê - Phan Đình Phùng nằm trên địa bàn xã Hương Quang; 2 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh là Đền Phùng thuộc xã Đức Hương và Nhà thờ Đoàn Văn Truyền thuộc xã Hương Minh Đây là những địa điểm ghi lại dấu ấn của một thời hào hùng đồng thời cũng là nơi mang đậm nét văn hóa tâm linh của người dân Ngoài ra, trên địa bàn huyện Vũ Quang còn 7 địa danh chưa xếp hạng như:
- Đền Vại, nơi thờ Bà vương hậu Ngô Thị Quận Quân ở xã Ân Phú
- Chùa Sơn Quy ở xã Đức Giang
Các di tích lịch sử này là niềm tự hào của người dân Vũ Quang, đó là các chứng tích của một thời lịch sử vàng son, đồng thời đó cũng là tấm gương
Trang 36để người dân noi theo và nỗ lực phấn đấu phấn đấu làm rạng rỡ thêm truyền thống lịch sử của Vũ Quang
Đến những năm cuối của thế kỷ XX, thế giới lại biết đến địa danh Vũ Quang khi các nhà khoa học trong nước và Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WHF) tìm thấy ở đây giống mang lớn Sao La, mang lớn và gần 400 loài động, thực vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới Có thể nói vườn rừng quốc gia
Vũ Quang vẫn còn vẻ hoang sơ và giữ được bộ sưu tập động, thực vật quý hiếm, không chỉ điển hình về sinh vật cảnh, về đa dạng sinh học ở Việt Nam, mà còn có tầm cỡ thế giới Đó là sự ưu đãi của thiên nhiên dành cho Vũ Quang, vừa có lợi thế về kinh tế, vừa có lợi thế về văn hóa, du lịch mà ít nơi có được ngoài ra, Vũ Quang còn có nhiều thắng cảnh thiên nhiên như thác Rồng, thác Cổng, thác Rào đều là những địa danh có tiềm năng để đưa vào khai thác du lịch
I.3.3.2 Về giáo dục - Ytế
Có một điều dễ nhận thấy trong ở Vũ Quang, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao nhưng con em của họ lại hiếu học, mặc dầu ngân sách của Huyện đầu tư cho phát triển văn hóa, giáo dục, y tế còn hạn hẹp
Trang 37Bảng 7: Ngân sách chi cho Văn hóa - giáo dục - y tế của huyện Vũ Quang
Nguồn: Niên giám thống kê 2008 huyện Vũ Quang
Số trường học trong các bậc của huyện trong nhiều năm nói chung là ổn định, tuy nhiên trong 5 năm gần đây nói chung là ổn định tuy nhiên trong 5 năm gần đây (niên học 2004 - 2005 đến niên học 2008 - 2009) số học sinh có
xu hướng giảm, chủ yếu ở bậc tiểu học và Trung học cơ sở thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 8: Các bậc học ở Vũ Quang
Đơn vị: Học sinh
Tổng số Tiểu học THCS THPT Niên học
Trường HS Trường HS Trường HS Trường HS
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Vũ Quang năm 2005; 2008
Niên học 2006 - 2007 học sinh THPT tới trường đạt 72,7% Học sinh Mầm non đạt 65,9%; học sinh tiểu học đạt 99,7%; học sinh THCS đạt 99,1%
Tỷ lệ các em thi đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp đạt được như sau: năm 2001 có 131 em, năm 2006 có 169 em bằng 13,02% năm 2007 có 369
em bằng 19% so với tổng số học sinh THPT Trong khi đó, số học sinh bỏ học hàng năm bình quân khoảng 34 em (Mầm non: 0,61%; Tiểu học: 0,22%; THCS:
Trang 380,43%; THPT: 0,25%) Những con số trên đây phản ánh sự nghiệp phát triển giáo dục của huyện và lòng hiếu học của các em
Bảng 9: Sự phát triển y tế - giáo dục ở Vũ Quang
Đơn vị: người/10.000 dân
Đơn vị 2004 2005 2006 2007 2008
Số giường bệnh/ 1 vạn dân giường 27,20 34,42 35,92 41,10 41,33
Số y bác sĩ/ 1 vạn dân người 22,08 22,44 23,44 22,39 21,59
Số học sinh/ 1 vạn dân người 2.668 2.550 2.459 2.300 2.109
Nguồn: Niên giám thống kê 2008 huyện Vũ Quang
Về y tế số giường bệnh và y bác sĩ trên 1 vạn dân trong 5 năm gần đây
có tăng nhưng chậm, bình quân 2004 - 2005 giường bệnh tăng 11% và số y bác
sĩ tăng 0,6%
Về giáo dục thì lại có xu hướng giảm cả về giáo viên và học sinh trên 1 vạn dân, tốc độ giảm bình quân 5 năm (2005 - 2008) là 2,6% với giáo viên và 6,0% đối với học sinh
Mặt khác đời sống văn hóa cũng được cải thiện Năm 2005 số hộ có tivi
là 4.810 hộ, chiếm 57,45%, số hộ có đài là 4841 hộ chiếm 57,81%, số hộ dùng điện đạt 100% Trong 5 năm từ 2004 - 2008 số máy điện thoại trên 100 người dân lần lượt tăng lên như sau: 2,04 - 3,28 - 3,46 - 5,15 - 9,3 máy, việc tiếp cận thông tin đã có điều kiện tốt hơn
I.2 Làng nghề truyền thống
Trên địa bàn huyện Vũ Quang trước đây vốn có làng gốm cổ truyền Cẩm Trang thuộc xã Đức Giang nhưng do biến đổi thăng trầm theo thời gian, làng gốm không còn nữa chỉ còn nghề nung gạch Đây là điều đáng tiếc bởi làng nghề truyền thống ngoài ý nghĩa kinh tế còn là một nét văn hoá đặc trưng của quê hương mà địa phương cần phải giữ gìn, phát huy
I.3 Lễ hội và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Ở huyện Vũ Quang có một số ngày lễ:
- Ngày giỗ bà Vương hậu Ngô Thị Quận được tổ chức vào ngày 12/2 âm lịch hàng năm tại xã Ân Phú
Trang 39- Ngày tế thần kỳ an (cầu an) gọi là ngày lục ngoạt, tổ chức vào ngày 15/06
âm lịch hàng năm tại điện Cơn Dênh, tế 12 vị thần để cầu an cho nhân dân
Những ngày lễ này có ý nghĩa tâm linh để người dân bày tỏ lòng biết ơn và thành kính với trời đất, tổ tiên, đồng thời cũng là cơ hội để giao lưu văn hóa giữa các vùng miền với người dân địa phương, đó là nét văn hóa đẹp vốn có trong truyền thống của người Việt nói chung và của người dân Hà Tĩnh nói riêng từ bao đời nay
II Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu tái định cư
II.1 Khu tái định cư Hói Trung
II.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực Hói Trung thuộc xã Hương Thọ, huyện Vũ Quang cách trung tâm thị trấn Vũ Quang khoảng 12 km về phía Tây Nam, thuộc tiểu khu 159 và tiểu khu 160
- Phía Bắc giáp xã Hương Minh
- Phía Nam giáp huyện Hương Khê
- Phía Đông giáp Vườn Quốc gia Vũ Quang và Công ty SXKD thông Hà Tĩnh
- Phía Tây giáp xã Hương Minh
II.1.2 Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của vùng tái định cư Hói Trung có 838ha Trong
đó đất sông suối ao hồ chiếm 0,8% (6,7 ha), diện tích còn lại là đất rừng Khu vực này chưa quy hoạch cụ thể nên chưa có dân tái định cư Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp 734,5 ha
- Đất ao hồ sông suối 18,86 ha
- Đất phi nông nghiệp 80,77 ha
Theo kết quả phân tích thổ nhưỡng của Khoa Đất và Môi trường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội cho thấy các phẫu diện đất ở Hói Trung có hàm lượng mùn, đạm tổng số trong đất tương đối lớn, phù hợp với cây trồng lâu năm, khu vực này, ngày xưa kia là xưởng sản xuất vũ khí của nghĩa quân Phan Đình Phùng có thung lũng đất bằng sau này nhân dân khai phá làm ruộng cấy lúa, trồng mầu Do nhiều năm đất để hoang hóa giữa rừng sâu nên hiện nay chỉ dùng làm bãi thả trâu, bò Ở Hói Trung có nhiều khe lạch, rừng rậm nên khi dân tái định cư Hương Quang đến đây sẽ phải tiến hành phục hóa và đắp đập chống lũ quét thì có thể đưa diện tích ruộng bỏ hoang trở thành ruộng 2 vụ
Trang 40Theo quy hoạch diện tích, tại đây có thể định cư cho 520 hộ với 2.296 nhân khẩu của xã Hương Quang (tính đến năm 2020 với tỷ lệ tăng dân số cơ học 1% mỗi năm) Hiện tại xã Hương Quang có 394 hộ với 1.740 nhân khẩu có thể thoả mãn các nhu cầu về sản xuất, ổn định đời sống và có đủ điều kiện phát triển kinh tế lâu dài bền vững
II.1.3 Tài nguyên nước
Nước mặt: Tại khu vực tái định cư có suối Hói Trung chảy qua Độ dài suối
4 km, rộng bình quân 60 m, lưu vực suối Hói Trung khoảng 2,4 km2 Mực nước thấp nhất về mùa khô tại vùng thượng lưu là 30 cm, tại vùng hạ lưu là 50 cm
Theo kết quả phân tích chất lượng nước số 167/2006/QTMT của sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh, đối chiếu với tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5942-1995 thì nguồn nước tại vùng tái định cư Hói Trung đảm bảo cho việc sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp
II.2 Khu tái định cư Khe Ná, Khe Gỗ
II.2.1 Vị trí địa lý:
Khu vực Khe Ná - Khe Gỗ thuộc địa phận xã Sơn Thọ Cách trung tâm thị
trấn Vũ Quang khoảng 10 km về phía Tây Bắc
- Phía Bắc giáp khu đất đã quy hoạch của tổng đội TNXP
- Phía Nam giáp xã Sơn Thọ huyện Vũ Quang
- Phía Đông giáp xã Sơn Hàm huyện Hương Sơn
- Phía Tây giáp khu đất đã quy hoạch của tổng đội TNXP
II.2.2 Tài nguyên đất
Tổng diện tích là 1.541 ha trong đó đất nông nghiệp 211,59 ha (13,73%), đất phi nông nghiệp 47,98 ha (3,11%), đất chưa sử dụng 1190 ha Theo kết quả phân tích thổ nhưỡng của Khoa Đất và Môi trường - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội các phẫu diện đất ở Khe Ná - Khe Gỗ có hàm lượng mùn, đạm tổng số trong đất tương đối lớn phù hợp với cây trồng lâu năm Ở khu vực này
đã có 60 hộ dân của xã Sơn Thọ đến lập trang trại trồng cây ăn quả, có những hộ
1 năm thu nhập trên 100 triệu đồng Tuy nhiên, khu vực này không có đất bằng như ở Hói Trung, phần lớn là đất dốc hoặc các triền bãi nhỏ chân đồi nên trồng các loại cây lương thực là hạn chế