Thêm vào đó, những biến đổi quá nhanh chóng về các điều kiện tự nhiên biến đổi khí hậu, sự hao hụt của các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp như đất và nước cũng đặt ra những thách th
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.01/06-10 “ Những vấn đề cơ bản của Phát triển kinh tế Việt Nam đến 2020”
Đề tài KX.01.09/06-10 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI
BÁO CÁO KHOA HỌC TỔNG HỢP
Chủ nhiệm đề tài: TS Đặng Kim Sơn Viện trưởng - Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
7889
Hà Nội, 12/2009
Trang 2Các thành viên chủ yếu tham gia đề tài
1 Chủ nhiệm đề tài: TS Đặng Kim Sơn
2 Thư ký khoa học: Ths.Trương Thị Thu Trang
TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn
3 Các thành viên khác: ThS Nguyễn Ngọc Quế
ThS Nguyễn Quỳnh Huy
TS Nguyễn Thị Lan Hương ThS Vũ Thị Kim Mão
TS Đặng Nguyên Anh ThS Đỗ Liên Hương
TS Vũ Trọng Bình
TS Vũ Hoàng Linh
KS Đặng Đức Chiến ThS Nguyễn Lệ Hoa
CN Lương Ngọc Hà
CN Bùi Thị Uyên
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU 8
1 Bối cảnh nghiên cứu 8
2 Tính cấp thiết của đề tài 9
3 Mục tiêu của đề tài 12
4 Phương pháp 15
5 Khái niệm và khung phân tích 27
CHƯƠNG 2 – LÝ THUYẾT VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 32
1 Lý thuyết phát triển nông nghiệp 32
2 Lý thuyết phát triển nông thôn 49
3 Lý thuyết về nông dân 54
4 Lý thuyết về tập trung ruộng đất 58
5 Lý thuyết về di chuyển lao động 65
6 Lý thuyết về phát triển tổ chức kinh doanh nông thôn 70
7 Lý thuyết về phát triển ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp 80
CHƯƠNG 3 – THỰC TRẠNG, BỐI CẢNH XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 94
1 Thực trạng 94
2 Bối cảnh tương lai 111
CHƯƠNG 4 – CÁC VẤN ĐỀ NỔI BẬT TRONG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN 119
1 Tập trung ruộng đất 119
2 Di chuyển lao động 169
3 Các hình thức tổ chức kinh doanh ở nông thôn 215
4 Phát triển ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp 274
CHƯƠNG 5 – QUAN ĐIỂM VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH 290
1 Bàn về quan điểm phát triển nông thôn Việt Nam 290
2 Định hướng chiến lược và chính sách cho phát triển nông thôn Việt Nam đến năm 2020 292 KẾT LUẬN 300
Tài liệu tham khảo……… 304
Phụ Lục………312
Trang 4Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 1 Nội dung báo cáo chính 15
Sơ đồ 2 Khung phân tích của đề tài 31
Sơ đồ 3 Tổng quan lý thuyết 32
Sơ đồ 4 Các lý thuyết, giải pháp và động lực phát triển nông thôn 51
Sơ đồ 5 Tổ chức cấp trung ương hỗ trợ phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ 246
Danh mục bảng Bảng 1 Diện tích đất nông nghiệp năm 2007 119
Bảng 2 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp năm 2006 120
Bảng 3 Tỷ trọng các loại đất trong hộ gia đình nông thôn chia theo vùng 2006 121
Bảng 4 Bất bình đẳng và không có đất nông nghiệp qua các năm 2004 và 2006 122
Bảng 5 Diện tích đất trung bình của hộ nông thôn phân theo 5 nhóm thu nhập 123
Bảng 6 Tỷ lệ đất được tưới tiêu theo mục đích sử dụng 124
Bảng 7 Quy mô và số mảnh đất nông nghiệp của hộ theo vùng năm 2006 125
Bảng 8 Nguồn gốc các mảnh đất (tỷ lệ % trong tổng số mảnh) 127
Bảng 9 Nguồn gốc các mảnh đất phân theo nhóm thu nhập (tỷ lệ % trong tổng số mảnh) 128 Bảng 10 Giá đất trồng cây hàng năm 131
Bảng 11 Khung giá đất nông nghiệp quy định ở Nghị định 188/2004/NĐ-CP, năm 2004 (đồng/m2) 132
Bảng 12 Sự thay đổi quy mô nông hộ (ha/hộ) 136
Bảng 13 Tỷ lệ hộ tham gia thị trường đất đai năm 2006 138
Bảng 14 Kết quả lựa chọn mô hình 140
Bảng 15 Hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ ruộng đất nông nghiệp 140
Bảng 16 Chỉ số Simpson theo các nhóm thu nhập 143
Bảng 17 Diện tích và số mảnh đất phân theo các nhóm thu nhập 143
Bảng 18 Thu nhập từ trồng lúa theo quy mô 145
Bảng 19 Đặc tính các hộ gia đình sản xuất lúa, 2004 và 2006 146
Trang 5Bảng 20 Sản xuất lúa 2004 và 2006, phân theo địa phương 147
Bảng 21 Phân bố diện tích đất lúa theo vùng (% số hộ gia đình) 149
Bảng 22 Kết quả mô hình hàm năng suất lúa 151
Bảng 23 Hàm năng suất lúa theo vùng 153
Bảng 24 Tỷ lệ dân số đô thị năm 2009 theo vùng 157
Bảng 25 Chỉ tiêu đất xây dựng đô thị và đất ở đô thị theo vùng (năm 2005) 158
Bảng 26 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp cho các khu công nghiệp năm 2005 161
Bảng 27 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cả nước đến năm 2010 và 2020 163
Bảng 28 Sự thay đổi của chỉ số Simpson trong giai đoạn 2004-2006 164
Bảng 30 Bất bình đẳng về đất đai qua các năm 2004 và 2006 166
Bảng 31: Cơ cấu lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên theo trình độ chuyên môn năm 2006 (%) 173
Bảng 32: Mức tiền lương danh nghĩa bình quân của lao động làm công hưởng lương giai đoạn 1998-2006 (nghìn đồng) 174
Bảng 33: Chỉ số tiền lương của lao động làm công hưởng lương theo thành phần và ngành kinh tế (%) 175
Bảng 34: Chỉ số tiền lương thực tế của lao động làm công hưởng lương theo nghề (%) 175
Bảng 35: Tiền lương bình quân/tháng của lao động 1998-2004 176
Bảng 36: Tiền lương/tháng của lao động theo ngành kinh tế, 1998-2004 177
Bảng 37: Tiền lương bình quân/tháng (1000đ) của lao động theo trình độ 1998-2004 178
Bảng 38 Năng suất lao động xã hội theo khu vực và ngành kinh tế (theo giá so sánh 1994, triệu đồng/người/năm) 180
Bảng 39: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (%) 181
Bảng 40 Tỷ lệ dân số có việc làm (%) 181
Bảng 41: Tình trạng việc làm (%) 182
Bảng 42: Tỷ lệ thất nghiệp (%) 183
Bảng 43: Cơ cấu thất nghiệp phân theo trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật (%) 184
Bảng 44: Tỷ lệ lao động thiếu việc làm (%) 185
Bảng 45: Cơ cấu việc làm phân theo ngành kinh tế (%) 186
Bảng 46: Cơ cấu việc làm cả nước phân theo thành phần kinh tế 1996-2006 (%) 188
Bảng 47: Tỷ trọng lao động bán thời gian năm 2007 (%) 189
Bảng 48: Cơ cấu việc làm khu vực chính thức và phi chính thức năm 2006 (%) 191
Bảng 49: Các luồng di cư thuần theo các điểm đi và điểm đến chủ yếu nhất 192
Bảng 50: Tỷ trọng các lý do di cư theo nơi cư trú hiện tại (%) 194
Trang 6Bảng 51: Tình trạng hôn nhân và thời điểm đến Thành phố Hồ Chí Minh của người di cư196
Bảng 52: Tình trạng hôn nhân hiện tại theo tình trạng di cư 197
Bảng 53: Một số chỉ tiêu của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước (%) 199
Bảng 54: Thay đổi về phân hóa thu nhập của các hộ di cư (tỷ lệ % số người được hỏi) 201
Bảng 55: Diện tích nhà ở bình quân theo hộ (m2/hộ) 201
Bảng 56 Kết quả mô hình các yếu tố tác động đến dịch chuyển lao động 204
Bảng 57 Dân số nông thôn theo các nhóm tuổi, 2010-2020 (1000 người) 207
Bảng 58: Lực lượng lao động giai đoạn 2010-2020 (1000 người) 208
Bảng 59: Lao động có việc làm (nghìn người) 209
Bảng 60: Thất nghiệp giai đoạn 2010-2020 210
Bảng 61: Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành khu vực nông thôn 211
Bảng 62: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn (%) 212
Bảng 63: Một số chỉ tiêu cơ bản về doanh nghiệp nhà nước tại nông thôn qua các năm 216
Bảng 64: Một số chỉ tiêu cơ bản về doanh nghiệp tư nhân tại nông thôn 218
Bảng 65: Một số chỉ tiêu cơ bản về doanh nghiệp FDI tại nông thôn 2000-2007 220
Bảng 66: Số hộ nông thôn phân theo ngành nghề 221
Bảng 67: Cơ cấu trang trại nông lâm thủy sản 222
Bảng 68: Một số chỉ tiêu về hợp tác xã năm 2006 224
Bảng 69: Các tác nhân hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ 248
Bảng 70: Một số nhóm chính sách hỗ trợ kinh doanh nông thôn ở các tỉnh 249
Bảng 71 : Tỷ lệ doanh nghiệp có kiểm tra ở 4 tỉnh (Đv : %) 261
Bảng 72 : Số lần kiểm tra bình quân 1 doanh nghiệp trong năm ở 4 tỉnh(Đv : lần/năm) 262
Bảng 73: Kết quả hồi qui 267
Bảng 74: Hiệu quả biên của lao động 268
Bảng 75 Hiệu quả biên của vốn 268
Bảng 76 Hiệu quả của các yếu tố khác 269
Kết quả mô hình trước hết giúp phân tích hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các yếu tố đầu vào 282
Bảng 77 Độ co giãn của các yếu tố đầu vào đối với tăng trưởng tổng sản phẩm nông nghiệp, 1985-2008 282
Bảng 78 Đóng góp cho tăng trưởng của các yếu tố đầu vào và TFP (%) 283
Trang 7Danh mục hình
Hình 1: Cơ cấu hộ nông thôn phân theo quy mô đất (%) 129
Hình 2 Mối quan hệ giữa quy mô diện tích đất và thu nhập của hộ gia đình trồng lúa năm 2006 144
Hình 3 Tỷ lệ chi phí/lợi nhuận sản xuất lúa theo quy mô 1
Hình 4 Chi phí và lợi nhuận sản xuất lúa theo quy mô 1
Hình 5 Quan hệ giữa năng suất lao động và diện tích đất 155
Hình 6 Tỷ lệ dân số đô thị trong tổng dân số từ năm 1990 đến nay 156
Hình 7: Tỉ lệ phụ thuộc giai đoạn 1950-2050 170
Hình 8: Cơ cấu lực lượng lao động các vùng năm 2006 theo khu vực 171
Hình 9: Cơ cấu lực lượng lao động phân theo trình độ giáo dục phổ thông, giới và khu vực (%) 172
Hình 10 Năng suất lao động nông nghiệp của Việt Nam so với các nước (USD/lao động/năm) 179
Hình 11: Cơ cấu lao động thiếu việc làm 185
Hình 12 Tỷ trọng việc làm trong các ngành kinh tế 1996-2006 188
Hình 13: Số giờ làm việc bình quân trong 7 ngày trước ngày điều tra, năm 2007 190
Hình 14: Biến động dân số tại 8 vùng kinh tế 206
Hình 15: Số lượng doanh nghiệp 2000-2007 215
Hình 16: Số lượng doanh nghiệp nhà nước ở nông thôn giai đoạn 2000-2007 216
Hình 17: Số lượng doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn 2000-2007 217
Hình 18: Số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại nông thôn 2000-2007 219
Hình 19: Số lượng hợp tác xã qua các năm 224
Hình 20: Chỉ số tăng GDP, TFP và yếu tố đầu vào tổng hợp của nông nghiệp Việt Nam 285
Hình 21: Chỉ số hiệu quả kĩ thuật, tiến bộ kĩ thuật và năng suất tổng thể 285
Hình 22 Tăng trưởng TFP hàng năm của nông nghiệp Việt Nam 286
Hình 23 287
Trang 8CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU
1 Bối cảnh nghiên cứu
Kể từ khi Đổi mới, nông nghiệp nông thôn Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng trưởng tốc độ cao Từ năm 2000 đến 2008, tăng trưởng giá trị sản xuất của nông nghiệp bình quân đạt gần 5,5%/năm, tốc độ tăng GDP nông nghiệp đạt 3,8%/năm Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực An ninh lương thực quốc gia được đảm bảo vững chắc Đời sống vật chất và tinh thần cư dân nông thôn cải thiện rõ rệt, thu nhập nâng cao Thu nhập bình quân đầu người hộ nông thôn tăng từ 2,7 triệu đồng/người năm 1999 lên khoảng 7,8 triệu đồng/người năm 2007 Các hình thức tổ chức kinh doanh tiếp tục đổi mới, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhân dân Xuất khẩu tăng nhanh, một số mặt hàng nông, lâm, thủy sản từng bước chiếm lĩnh vị thế quan trọng trên thị trường quốc tế
Nhờ những thành tựu trên, nông nghiệp phát triển, nông thôn đổi mới đã góp phần quan trọng tạo ổn định chính trị, kinh tế và xã hội, mở đường thành công và làm nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới đất nước Trong những giai đoạn khó khăn nhất của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, nông nghiệp, nông thôn luôn là lĩnh vực tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế đất nước
Thực tiễn gần 30 năm đổi mới thành công đã đem lại nhiều bài học kinh nghiệm
có giá trị Phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn là nền tảng để phát triển kinh tế và ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, ổn định chính trị Áp dụng cơ chế thị trường, phát huy lợi thế so sánh để chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chấp nhận cạnh tranh, hướng về xuất khẩu Thông qua đổi mới chính sách
để tạo động lực nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của nhân dân Đầu tư đúng mức cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện phát triển Áp dụng khoa học công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh của sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn nhưng sau một giai đoạn phát triển thuận lợi, nông nghiệp, nông thôn đang đứng trước nhiều khó khăn Nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững và cạnh tranh thấp Hàng hóa nông sản chất lượng thấp, hiệu quả thấp, vệ sinh an toàn thực phẩm kém Công nghiệp và dịch vụ nông thôn chậm phát triển Tổ chức, thể chế nông thôn chậm đổi mới Đến nay hộ nhỏ vẫn là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ lực ở nông thôn, phần lớn không có khả năng tích lũy tái sản xuất mở rộng một cách đáng kể Thu nhập giữa nông thôn và đô thị chênh lệch, nghèo đói và bất bình đẳng còn ở mức khá cao Chênh lệch thu thập bình quân đầu người một tháng ở thành thị cao hơn nông thôn trong từng giai đoạn là 1,8 lần
Trang 9năm 1993, 2,3 lần năm 2002 và 2,1 lần năm 2006 Năm 2007, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn là 17,7% trong khi ở thành thị là 7,4% Nhiều nơi ở miền núi phía Bắc tỷ lệ hộ nghèo còn trên 70% Ô nhiễm môi trường tăng, nhiều tài nguyên có xu hướng bị khai thác quá mức
Những khó khăn kể trên xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan Nguyên nhân chủ quan đầu tiên là nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân còn bất cập, chưa hình thành hệ thống lý luận rõ ràng; chất lượng của chính sách chưa cao, triển khai chưa tốt; cải cách hành chính chậm, công tác quản lý Nhà nước còn nhiều bất cập; tổ chức nông thôn còn yếu; đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn thấp Nguyên nhân khách quan là xuất phát điểm của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thấp; diễn biến thời tiết, môi trường, dịch bệnh, thị trường phức tạp; chất lượng kết cấu hạ tầng và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn thấp
Quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta đang bước vào giai đoạn mới Sản xuất phát triển theo chiều sâu lấy chất lượng hiệu quả làm mục tiêu, đời sống của nhân dân đi vào nâng cao thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Bối cảnh của quá trình phát triển mới là quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hoá ngày càng nhanh Những thay đổi nêu trên đưa ra các cơ hội cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam gắn kết với thị trường thế giới và tạo khả năng hội nhập vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Tuy nhiên đây cũng là quá trình đặt ra các thách thức tiềm năng của việc bòn rút nguồn lực từ khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân cho sự phát triển của khu vực công nghiệp đô thị cũng như có thể gây ra bất bình đẳng và phân hóa xã hội sâu sắc Khả năng hội nhập của khu vực nông nghiệp nông thôn và nông dân Việt Nam vào thị trường thế giới phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các tổ chức kinh doanh trong khu vực nông thôn trong việc nâng cấp chính họ trong chuỗi giá trị toàn cầu Thêm vào đó, những biến đổi quá nhanh chóng về các điều kiện tự nhiên (biến đổi khí hậu, sự hao hụt của các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp như đất
và nước) cũng đặt ra những thách thức lớn cho vấn đề phát triển nông thôn Việt Nam trong tương lai, đặc biệt việc bố trí lại cơ cấu sản xuất nông nghiệp nông thôn, bố trí việc làm cho lực lượng lao động dư thừa, khả năng đảm bảo an ninh lương thực và nguồn cung bền vững các đầu vào của khu vực nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển cao của khu vực công nghiệp đô thị trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế
2 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề mấu chốt của phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời gian tới là duy trì tăng trưởng nông nghiệp, nâng cao mức sống cho người dân nông thôn,
Trang 10chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động và tạo điều kiện cho người dân nông thôn làm giàu ngay trên chính quê hương của họ Để giải quyết các vấn đề nêu trên, cần có những can thiệp chính sách hữu hiệu Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi xin đề cập đến bốn vấn đề chính cần xử lý để có thể xây dựng hệ thống chính sách chiến lược trong giai đoạn mới, đó là các vấn đề liên quan đến tập trung đất đai, di chuyển lao động, phát triển tổ chức kinh doanh nông thôn và khoa học công nghệ trong nông nghiệp:
- Đất đai manh mún nên sản xuất hàng hoá khó khăn Theo số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình 2006, mỗi nông hộ có 4 mảnh đất, mỗi mảnh trung bình hơn 2000 m2 (0,2 ha), đặc biệt đồng bằng sông Hồng nơi dân số đông thì diện tích trung bình một mảnh đất canh tác chỉ vào khoảng 570 m2 Đất đai manh mún là cản trở rất lớn đối với sản xuất hàng hoá nông nghiệp và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn Việc tạo ra thị trường đất đai thông thoáng có vai trò tiên quyết để thúc đẩy quá trình tập trung và tích tụ ruộng đất cho sản xuất hàng hoá nông nghiệp
- Sự phát triển của thị trường đất đai cần gắn liền với việc thu hút lao động dư thừa ra khỏi nông nghiệp Lao động nông thôn dư ra khá lớn, năm 2006 mới chỉ sử dụng được 81,8% thời gian lao động nông thôn, vẫn còn tới 18,2% chưa được sử dụng (Niên giám Thống kê 2007) Để tạo việc làm cho lượng lao động này cần có sự phát triển rất mạnh mẽ của doanh nghiệp nông thôn, nhưng những cố gắng hiện có chưa đủ để thu hút các nhà đầu tư bên ngoài tham gia sản xuất kinh doanh tại nông thôn Trong khi đó, lao động từ nông thôn lại không được trang bị các kỹ năng cần thiết để có thể tìm việc làm tại khu vực công nghiệp, đô thị
- Trong khi lao động nông thôn dư cần phải đưa ra bên ngoài, không tạo ra được nhu cầu để những người có năng lực làm việc tại nông thôn, không tạo
ra cơ hội để người dân nông thôn bỏ vốn đầu tư vào nông nghiệp và kinh tế nông thôn Sức đẩy lao động nông thôn kết hợp với sức kéo lao động từ đô thị tạo ra dòng di chuyển lao động ngày càng lớn ra khỏi nông thôn, phản ánh chênh lệch về cơ hội tạo thu nhập giữa nông thôn và thành thị và chênh lệch điều kiện sống về cơ sở hạ tầng và dịch vụ
- Muốn duy trì mức độ di chuyển lao động hợp lý, tạo cân bằng về thu nhập, trong điều kiện phát triển nông nghiệp ngày càng khó khăn, phải phát triển doanh nghiệp, thu hút đầu tư về nông thôn Đây là thách thức lớn do nông thôn thiếu nhân lực có kỹ năng, khả năng tự tích luỹ thấp, hệ thống tài chính kém phát triển, cơ sở hạ tầng lạc hậu Đầu tư cho khu vực nông nghiệp chiếm
tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư xã hội và tỷ trọng này có xu hướng giảm
Trang 11dần theo thời gian Năm 2007 chưa bằng một nửa mức của năm 2000, do tốc
độ tăng đầu tư vào nông nghiệp là 5% /năm, chỉ bằng 1/3 tốc độ tăng đầu tư vào công nghiệp, dịch vụ Đầu tư trực tiếp vào kinh tế nông thôn rất thấp, kể
cả với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
- Các thành tựu về tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam cho tới nay chủ yếu dựa trên khuyến khích bằng chính sách, tăng cường đầu tư tài nguyên (đất, nước, lao động) và vật tư đầu vào (phân bón, thuốc trừ sâu, năng lượng ) Mức độ
áp dụng khoa học công nghệ cho tăng trưởng nông nghiệp thấp, tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp đang tụt hậu Nếu không có sự thay đổi mạnh mẽ về
áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp thì không thể tạo ra động lực mới cho phát triển nông nghiệp tương lai - một nền nông nghiệp hướng về năng suất, chất lượng, hiệu quả và vững bền Nhiệm vụ này đòi hỏi không chỉ tăng cường các nguồn đầu tư của nhà nước và các thành phần kinh
tế mà cần có những chính sách, cơ chế đổi mới để tạo động lực cho người nghiên cứu, người ứng dụng hăng hái đưa tiến bộ vào sản xuất, hình thành được thị trường khoa học công nghệ lành mạnh và năng động
Trong khuôn khổ Chương trình “Những vấn đề cơ bản của Phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020”, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn đã tiến hành Đề tài nghiên cứu “Một số vấn đề về nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới” trong hai năm 2008 – 2009 nhắm vào những câu hỏi đặt ra với bốn vấn đề chính nêu trên Nhờ Chương trình định ra đúng hướng nghiên cứu thiết thực với yêu cầu của thực tế, trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu từ đầu đến cuối, các kết quả của đề tài lập tức được đưa vào ứng dụng cho các hoạt động hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước
Năm 2008, kết quả nghiên cứu của đề tài đã được sử dụng cho Báo cáo của Hội đồng Lý luận trung ương về “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa của các nước, liên hệ đến Việt Nam” Với những nội dung mới
mẻ của báo cáo, chủ trì đề tài TS Đặng Kim Sơn đã được giao trình bầy báo cáo này cho Bộ Chính trị và Ban Bí thư Sau đó, Tổng Bí thư đã giao nhiệm vụ cho chủ trì đề tài báo cáo chuyên đề trên trong Hội nghị Trung ương lần thứ 7 bàn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn vào tháng 7/2008 Báo cáo đem lại ấn tượng tốt với Trung ương
và thực sự trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình hình thành Nghị quyết Trung ương 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Trong quá trình xây dựng Đề án của Ban Cán sự Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phục vụ Nghị quyết 26, một số nội dung nghiên cứu của đề tài đã được sử dụng để viết một số chuyên đề phục vụ Đề án (Chuyên đề “Giải pháp chính sách tổng thể để phát triển khoa học công nghệ làm động lực cho quá trình phát triển nông
Trang 12nghiệp nông thôn”, Chuyên đề “Thực trạng nông dân-hộ nông thôn Việt Nam”, Chuyên đề “Tác động của chính sách vĩ mô đến nông nghiệp nông thôn và đề xuất giải pháp”) Các nội dung từ những chuyên đề này đã được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản thành 2 quyển sách (“Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hóa” và “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau”) của TS Đặng Kim Sơn trong tháng 6/2008 Hai quyển sách này đã được gửi cho các đại biểu Trung ương tham dự Hội nghị lần thứ 7 và phát hành rộng rãi cho các cơ sở trong quá trình triển khai Nghị quyết 26 Năm 2009, các kết quả nghiên cứu tiếp theo của đề tài được tiếp tục sử dụng để xây dựng Chiến lược Nghiên cứu Khoa học công nghệ Nông nghiệp và Nông thôn
2010 - 2020, Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Việt Nam thời kỳ 2011 –
2020 cho toàn ngành Kết quả nghiên cứu đã được tập hợp thành “Nhóm giải pháp tạo đột phá trong quản lý khoa học công nghệ nông nghiệp” để Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề xuất thành Đề án trình Chính phủ cho phép thực hiện ở 8 viện nghiên cứu trong Bộ Tiếp theo đó, Hội đồng Lý luận Trung ương đã giao nhiệm vụ cho chủ nhiệm đề tài xây dựng một chuyên đề về “Góp ý bốn quan điểm trong Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008” và một chuyên đề về “Phát triển nông nghiệp nông thôn từ lý thuyết áp dụng cho chính sách và chiến lược của Việt Nam”
để phục vụ Hội thảo Lý thuyết kinh tế của Hội đồng Lý luận Trung ương
3 Mục tiêu của đề tài
- Yếu tố ảnh hưởng và xu thế của quá trình tập trung ruộng đất
- Yếu tố ảnh hưởng và xu thế di chuyển lao động
- Yếu tố ảnh hưởng và xu thế phát triển của các tổ chức kinh doanh trong nông thôn
- Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp và đóng góp của khoa học công nghệ đến tăng trưởng nông nghiệp
Trang 133 Đề ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách và chiến lược phát triển nông thôn cho đến năm 2020
c) Các mục tiêu trên được triển khai thành 4 nội dung:
- Nội dung 1: Đặc điểm chung về chính sách phát triển nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới
• Báo cáo tổng quan về chính sách phát triển nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới
- Nội dung 2: Phân tích một số vấn đề nổi bật trong phát triển nông thôn Việt Nam
• Báo cáo vấn đề tập trung ruộng đất nông thôn: quá trình tích tụ ruộng đất, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu, đô thị hóa
• Báo cáo vấn đề lao động nông thôn
• Báo cáo vấn đề tổ chức kinh doanh nông thôn: thu hút đầu tư vào nông thôn, kết nối giữa sản xuất và kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu để tăng giá trị gia tăng, quy hoạch
• Báo cáo vấn đề phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp: đóng góp của khoa học công nghệ trong tăng trưởng nông nghiệp, các khó khăn về tạo động lực, tổ chức, thu hút đầu tư
Trong 4 báo cáo trên, báo cáo về vấn đề phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp là phần được bổ sung thêm theo yêu cầu của ban chủ nhiệm nên nội dung hạn chế hơn so với các phần khác, chỉ tập trung vào 2 nội dung chính là hiện trạng và vai trò của khoa học công nghệ nông nghiệp
- Nội dung 3: Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách và chiến lược phát triển nông thôn Việt Nam cho đến năm 2020
• Báo cáo đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách và chiến lược phát triển nông thôn Việt Nam cho đến năm 2020
- Nội dung 4: Thông tin kết quả nghiên cứu: hội thảo, diễn đàn chính sách trên internet, xuất bản sách, bài đăng tạp chí
d) Cấu trúc báo cáo chính
Báo cáo chính được chia thành 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Lý thuyết về các vấn đề nghiên cứu
Trang 14Chương 3: Thực trạng, bối cảnh xây dựng chính sách phát triển nông nghiepẹ nông thôn Việt Nam đến năm 2020
Chương 4: Các vấn đề nổi bật trong phát triển nông nghiệp nông thôn
Chương 5: Quan điểm và đề xuất các giải pháp chính sách
Các nội dung chính bắt đầu từ các lý thuyết phát triển chung liên quan đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân, sau đó là tổng quan các lý thuyết trực tiếp liên quan đến bốn vấn đề nghiên cứu Trong từng phần, các lý thuyết được xếp theo thời gian phát triển, gắn với đánh giá về mức độ và hiệu quả áp dụng trong chiến lược và chính sách phát triển trên thế giới và ở Việt Nam
Dựa trên tổng quan lý thuyết, một số giả thuyết khoa học được đặt ra để nghiên cứu Phần tiếp theo tổng hợp lại chính sách phát triển nông thôn Việt Nam kể từ khi bắt đầu quá trình Đổi mới, chỉ ra những thành công và tồn tại của chính sách trong từng giai đoạn Tiếp theo đó là phần mô tả thực trạng của bốn vấn đề phát triển nông thôn Trong từng vấn đề nêu các nội dung về tình hình, các yếu tố tác động, xu hướng Những
mô hình kinh tế thông dụng được dùng để phân tích các yếu tố tác động Những giả thuyết khoa học đã nêu ở phần lý thuyết được kiểm định để phủ định hoặc khẳng định bằng các phân tích định tính và định lượng Các kết luận từ phân tích được kết hợp với những kết luận rút ra ở phần tổng quan chính sách để đưa vào phần cuối của báo cáo: quan điểm, chiến lược và giải pháp chính sách Mặc dù nghiên cứu này chỉ tập trung vào bốn vấn đề cụ thể nhưng khi chuyển sang đề xuất thì chỉ có thể thể hiện bốn vấn đề tách bạch trong phần đề xuất chính sách còn khi nêu quan điểm thì bốn vấn đề nghiên cứu được đặt trong tổng thể quan điểm chung về phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trang 15Sơ đồ 1 Nội dung báo cáo chính
Theo đề bài của Ban Chương trình, đề tài nghiên cứu kỹ hơn vấn đề tập trung đất đai, di chuyển lao động và tổ chức kinh doanh nông thôn Vấn đề về khoa học công nghệ trong nông nghiệp được đưa thêm vào theo yêu cầu của Bộ Khoa học và Công nghệ và không được nghiên cứu sâu bằng ba vấn đề trên, chủ yếu tập trung vào vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng nông nghiệp
4 Phương pháp
a) Cách tiếp cận
Kết hợp định tính và định lượng để chỉ ra các vấn đề mấu chốt về lý luận và thực tiễn cho phát triển nông thôn ở Việt Nam, đồng thời xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến bốn vấn đề chính ở nông thôn hiện nay là tập trung ruộng đất, chuyển
Hiện trạng, xu hướng
- Tập trung ruộng đất
- Di chuyển lao động
- Các hình thức tổ chức kinh doanh ở nông thôn
- Phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp
Tổng quan chính sách và bối cảnh
Lý thuyết
Quan điểm phát triển Định hướng chiến lược Giải pháp chính sách
- Tập trung ruộng đất
- Di chuyển lao động
- Các hình thức tổ chức kinh doanh ở nông thôn
- Phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp
Trang 16dịch cơ cấu lao động, tổ chức kinh doanh nông thôn và khoa học công nghệ trong nông nghiệp Những phân tích định lượng nhằm kiểm định tác động của các yếu tố,
đo lường mức độ tác động và dự báo xu thế
b) Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin sẵn có
- Tìm hiểu các lý thuyết, lý luận liên quan đến phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung và bốn vấn đề tập trung đất đai, di chuyển lao động, phát triển tổ chức kinh doanh nông thôn và khoa học công nghệ trong nông nghiệp nói riêng
- Rà soát các văn bản chính sách liên quan đến nông nghiệp nông thôn
- Sử dụng niên giám thống kê hàng năm của cả nước và cấp tỉnh, những số liệu điều tra về đất đai, lao động, doanh nghiệp, mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, cơ sở dữ liệu về kinh tế các nước của Ngân hàng Thế giới, liên quan đến nội dung nghiên cứu
Điều tra thực địa
Khi xây dựng Thuyết minh đề tài, phần điều tra thực địa bao gồm cả bốn vấn đề nghiên cứu chính là tập trung ruộng đất, lao động nông thôn, tổ chức kinh doanh nông thôn, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp Tuy nhiên khi bắt đầu thực hiện đề tài, nhóm cán bộ nghiên cứu của đề tài được tiếp cận kết quả của những cuộc điều tra quy mô lớn của Tổng cục Thống kê như Điều tra mức sống
hộ gia đình hai năm một lần (khoảng 45 nghìn hộ điều tra thu nhập và 9 nghìn hộ điều tra cả thu nhập và chi tiêu, khả năng đại diện đến cấp vùng), Tổng Điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2001 và 2006 (tổng số đơn vị điều tra năm 2006
là 14,5 triệu), Tổng điều tra các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh (số doanh nghiệp tăng hàng năm, điều tra năm 2008 gồm hơn 200 nghìn doanh nghiệp) Quy
mô điều tra của đề tài nhỏ hơn rất nhiều so với các cuộc điều tra nói trên, vì vậy đề tài đã đề nghị và Ban Chương trình đã chấp thuận để điều tra tập trung vào vấn đề tổ chức kinh doanh nông thôn, gồm hai mảng chính cần điều tra: liên kết kinh doanh ở nông thôn và tác động tràn của các tổ chức kinh doanh nông thôn, là những lĩnh vực chưa được đề cập sâu trong các cuộc điều tra của Tổng cục thống kê
Cần lưu ý rằng do kinh phí có hạn nên cỡ mẫu điều tra khó có thể đủ tính đại diện như các cuộc điều tra quy mô lớn của Tổng cục Thống kê Vì vậy điều tra được tiến hành với quy mô và hình thức của bốn nghiên cứu tình huống tại bốn tỉnh Phú Thọ, Hải Dương, Lâm Đồng và Vĩnh Long
Trang 17- Phú Thọ (miền núi phía Bắc): Có mức độ công nghiệp hóa tương đối cao trong vùng miền núi phía bắc; có nhiều doanh nghiệp chế biến nông sản như chè tại huyện Hạ Hòa, Thanh Ba; liên kết nông dân và doanh nghiệp đã hình thành
- Hải Dương (đồng bằng Bắc Bộ): Có sự đa dạng các loại hình tổ chức kinh doanh nông thôn: chủ buôn, doanh nghiệp tư nhân, cụm công nghiệp; đang trong quá trình đô thị hóa ở mức trung bình của Đồng bằng sông Hồng; là trung tâm thương mại nông sản của Đồng bằng sông Hồng và là cửa ngõ trung chuyển đi Trung Quốc, Hải Phòng, Quảng Ninh; cụm công nghiệp tư nhân chế biến nông sản Nam Trung - Nam Sách phát triển từ năm 1990 trở thành một cụm công nghiệp chế biến địa phương: mua nông sản trong vùng, cả nước và chế biến, xuất đi cả nước, xuất khẩu; khu vực sản xuất đồ gốm Chu Đậu tại Thái Tân - Nam Sách giúp phục hồi nghề gốm phát triển tạo công ăn việc làm trong vùng
- Lâm Đồng (miền Trung): Có mức độ công nghiệp hóa cao; kinh tế trang trại phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng; có sự đa dạng về các hình thức liên kết sản xuất kinh doanh giữa doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế khác trong nông nghiệp nông thôn
- Vĩnh Long (miền Nam): Có sự đa dạng về loại hình doanh nghiệp, kinh doanh nông thôn; hiện nay, việc liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân được nhân rộng trong từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực, chú trọng đẩy mạnh xúc tiến thương mại
và xây dựng liên kết giữa các vùng sản xuất theo nhu cầu thị trường; kinh tế trang trại cũng phát triển mạnh; ngành nông nghiệp phát triển đa dạng, huy động mọi nguồn lực đầu tư thực hiện các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng, vốn tín dụng hỗ trợ cho nông dân phát triển sản xuất trong đó tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực như lúa chất lượng cao, cây ăn trái đặc sản, chăn nuôi bò, thủy sản
Mẫu điều tra tại mỗi tỉnh gồm 150 hộ, 10 trang trại, 15 doanh nghiệp và 10 tổ chức kinh doanh khác gồm hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh Bước đầu tiên là chọn doanh nghiệp khảo sát, theo các bước sau: (i) phân loại doanh nghiệp nông thôn ở địa bàn khảo sát từ danh sách do Sở Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban Nhân dân huyện cung cấp theo các tiêu chí lĩnh vực kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, cách thức liên kết với nông dân; (ii) phỏng vấn thử trên thực địa để lựa chọn loại doanh nghiệp phỏng vấn chính thức Sau khi biết được sơ bộ những mối quan hệ giữa doanh nghiệp và hộ nông dân, thể chế địa phương, lựa chọn một loại hình doanh nghiệp đại diện cho mỗi kiểu quan hệ để khảo sát; (iii) lựa chọn 15 doanh nghiệp mỗi tỉnh để khảo sát đảm bảo sự đa dạng các loại doanh nghiệp tại địa phương
Đối với lựa chọn hợp tác xã và tổ chức kinh doanh khác, ở miền Lâm Đồng và Vĩnh Long có điều tra tác nhân này vì các hợp tác xã đóng vai trò là tác nhân trung
Trang 18gian giữa doanh nghiệp và nông dân Trong khi đó, ở Phú Thọ và Hải Dương, các doanh nghiệp điều tra không liên kết với các hợp tác xã ở trong tỉnh mà chỉ liên kết với một số hợp tác xã ở ngoài tỉnh nên mẫu nghiên cứu tập trung vào các đại lý/hộ kinh doanh là tác nhân trung gian thay cho hợp tác xã
Hộ kinh doanh được lựa chọn nằm trong chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, là mắt xích trung gian giữa hai tác nhân Riêng đối với Hải Dương, ngoài
hộ kinh doanh chọn theo tiêu chí trên, một nhóm hộ kinh doanh tại cụm kinh doanh nông sản ở Gia Lộc được chọn để đánh giá riêng mà không nằm trong chuỗi liên kết với doanh nghiệp nào
Với hộ và trang trại, việc chọn mẫu theo các bước sau:
- Khoanh vùng ảnh hưởng của doanh nghiệp tới các địa phương Vùng ảnh hưởng có thể bao gồm các xã xung quanh doanh nghiệp, các xã có lao động làm việc trong doanh nghiệp, xã chịu ảnh hưởng môi trường từ doanh nghiệp, các xã có cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp
- Làm việc với chính quyền địa phương trong vùng ảnh hưởng Chủ yếu là phỏng vấn cán bộ xã về tình hình chung và những tác động có thể xảy ra của doanh nghiệp đến dân cư trong xã
- Đánh giá sơ bộ phạm vi ảnh hưởng của doanh nghiệp tại địa phương và các mặt bị ảnh hưởng
- Xác định danh sách các hộ/trang trại có mối quan hệ với doanh nghiệp: quan
hệ về lao động làm việc trong doanh nghiệp, cung cấp đầu vào trực tiếp hoặc gián tiếp
- Phân chia hộ nông dân/trang trại bị ảnh hưởng thành (i) nhóm nông dân/trang trại chịu ảnh hưởng và không chịu ảnh hưởng của doanh nghiệp, sau đó (ii) chia mỗi nhóm đó thành 3 nhóm nhỏ theo thu nhập của hộ gia đình/trang trại (dựa theo đánh giá của cán bộ xã) là khá giàu, trung bình và nghèo Trong mỗi nhóm, lựa chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình/trang trại điều tra từ danh sách các hộ được liệt kê
Đề tài cũng đã phỏng vấn và thảo luận nhóm với rất nhiều sở và cơ quan ban ngành như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Lao động, Cục Thuế, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách và Xã hội, để có thông tin tổng thể về địa phương
Bảng hỏi được thiết kế kết hợp cả định lượng và định tính để vừa đi sâu, tìm ra được những vấn đề mới, vừa tính được tần suất lặp lại của một số vấn đề trong phát triển tổ chức kinh doanh nông thôn Những tính toán thống kê từ điều tra được kiểm chứng thông qua phỏng vấn sâu, quan sát của nghiên cứu viên cũng như nhận xét của
Trang 19các cán bộ Sở ban ngành ở tỉnh điều tra Nội dung phỏng vấn chính bao gồm hai nhóm chính: (i) nhóm các chỉ tiêu đánh giá tác động của doanh nghiệp đến hộ nông dân và cộng đồng nông thôn và (ii) nhóm chỉ tiêu đánh giá quan hệ của doanh nghiệp với thể chế địa phương
Phương pháp phân tích thông tin
Một số phương pháp phân tích thường được áp dụng trong các nghiên cứu cùng loại trong nước và quốc tế đã được áp dụng trong đề tài như: tổng hợp tài liệu trong
và ngoài nước, thống kê mô tả; mô hình tham số và phi tham số,…
Tổng hợp tài liệu trong và ngoài nước
Dựa trên các tài liệu về lý thuyết, các báo cáo khảo sát quốc tế, báo cáo hội thảo, khảo sát thực tiễn, các tài liệu nghiên cứu đã được thực hiện trong và ngoài nước, đề tài đã tiến hành tổng quan lại các lý thuyết phát triển chung về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và các nhánh lý thuyết chính từ cổ điển đến hiện đại liên quan đến bốn vấn đề được nghiên cứu, đồng thời đối chiếu với thực tế áp dụng các lý thuyết này trong chính sách và chiến lược phát triển trong và ngoài nước để chỉ ra mặt được
và chưa được của các lý thuyết, đồng thời cũng liên hệ với điều kiện thực tế của Việt Nam Việc tổng hợp những kết quả nghiên cứu trước đây liên quan đến phạm vi của
đề tài này cho phép nhóm nghiên cứu có căn cứ để phát triển những giả thuyết khoa học mới và lựa chọn phương pháp phù hợp nhất cho những nội dung nghiên cứu
Có một số nội dung quan trọng liên quan đến dự báo như dân số, lao động, khả năng tạo việc làm, sử dụng quỹ đất trong tương lai, đề tài đã tham khảo để sử dụng các kết quả nghiên cứu định lượng và định tính từ các nghiên cứu trong và ngoài nước mới nhất để có cơ sở phân tích sâu hơn bằng các phương pháp định tính và định lượng, từ đó đưa ra những kết luận mới liên quan đến những vấn đề phải dự báo trong tương lai Các đề tài nghiên cứu chính được sử dụng làm căn cứ là các nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và Xã hội năm 2009, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương năm 2009, Viện Xã hội học năm 2009, Bộ Tài nguyên Môi trường năm 2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2009, Ngân hàng Thế giới năm 2008, Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc năm 2009
Thống kê mô tả
Dựa trên các thông tin số liệu mới nhất mà đề tài có thể thu thập được từ các cơ quan thống kê, các cuộc điều tra do Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn và các cơ quan khác tiến hành, phương pháp thống kê mô tả được
sử dụng để phân tích tình hình phát triển nông thôn cũng như thực trạng và xu hướng tập trung đất, chuyển dịch lao động, tổ chức kinh doanh ở nông thôn, tình hình nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Các thống kê mô tả
Trang 20được dùng chủ yếu trong nội dung 1 và 2 Dựa trên các số liệu thứ cấp và sơ cấp, các chỉ tiêu sau sẽ được sử dụng:
- Phát triển nông thôn: GDP khu vực nông thôn, tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn, thu nhập bình quân đầu người, GINI, tỷ lệ đói nghèo, đầu tư vào nông thôn, cơ sở hạ tầng nông thôn, tình trạng y tế, giáo dục, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP nông thôn,
cơ cấu sản xuất nông nghiệp,…
- Đất đai: diện tích đất, diện tích đất nông nghiệp, số mảnh đất bình quân hộ, cơ cấu đất, cơ cấu đất nông nghiệp, diện tích đất cho thuê mướn,… Chỉ số quan trọng phản ánh mức độ tập trung đất đai được sử dụng trong báo cáo là chỉ số Simpson Chỉ số này được tính như sau:
SI = 1 -
Trong đó n là số mảnh và a là diện tích của mảnh đất Chỉ số Simpson có giá trị
từ 0 đến 1, giá trị càng gần 0 chứng tỏ mức độ tích tụ càng lớn và ngược lại
- Lao động: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, tổng số người có việc làm, việc làm theo ngành kinh tế, thời gian làm việc, thất nghiệp, tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành, tỷ lệ lao động làm việc trong nội bộ ngành, thiếu việc làm, năng suất lao động, độ co giãn việc làm, tỷ lệ di cư từ nông thôn ra thành thị,
- Tổ chức kinh doanh: số lượng các tác nhân ở nông thôn phân theo quy mô vốn hoặc quy mô lao động, ngành nghề hoạt động, thu nhập,…
- Khoa học công nghệ: số lượng các nguồn cung cấp tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp (số cơ quan nghiên cứu, số cán bộ, ), một số tiến bộ kỹ thuật chính được áp dụng, số lượng liên quan đến khả năng chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ (số lượng cán bộ hoạt động khuyến nông, nguồn nhân lực ở nông thôn được đào tạo, )
Các chỉ số trên có thể được chi tiết đến vùng/tỉnh, ngành nghề, tác nhân, thay đổi theo thời gian tùy từng chỉ số và số liệu thu thập được
Phương pháp ước lượng tham số (hồi quy)
Phục vụ cho nội dung 2, cụ thể
- Vấn đề tập trung ruộng đất sử dụng 2 mô hình
Mô hình các yếu tố tác động đến tích tụ và tập trung ruộng đất: Để đo lường tác động giữa các yếu tố liên quan đến tập trung ruộng đất, hàm hồi quy của tích tụ và tập trung đất nông nghiệp của hộ gia đình tại thời điểm t được tính toán bằng phương trình sau:
SI it = β 1 + β 2 X it + β 3 M it + β 3 C it + β 4 S it + α i + v it t =1,2 (1)
Trang 21Trong đó: SIit là chỉ số Simpson, phản ánh mức độ tích tụ hay manh mún đất đai Chỉ số Simpson đo lường mức độ thay đổi về quy mô tích tụ đất nông nghiệp từ thời điểm t1 đến thời điểm t2, trong báo cáo này là từ năm 2004 đến năm 2006
Xit là đặc điểm của hộ gia đình tại thời điểm t, bao gồm các biến về thu nhập của
hộ, tiếp cận tín dụng, quy mô hộ, đặc điểm chủ hộ và lao động trong hộ (trình độ văn hóa, độ tuổi và giới tính)
Mit là các biến liên quan đến thị trường đất tại thời điểm t (diện tích đất được thuê hay cho thuê của hộ gia đình, tỷ lệ diện tích được tưới tiêu và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất bình quân trên đầu người)
Cit bao gồm các thông tin về đặc điểm của xã (có đơn vị sản xuất kinh doanh hay không, số thiên tai, dịch bệnh xảy ra trong xã, dân số trong xã và trạm khuyến nông)
Sit bao gồm các biến liên quan đến hoạt động phi nông nghiệp của hộ gia đình tại thời điểm t (tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp, tỷ lệ lao động tham gia hoạt động phi nông nghiệp trong tổng lao động của hộ)
αi là các biến không quan sát được nhưng có ảnh hưởng đến quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất (các biến về chất lượng đất, sự biến động của thời tiết, các biến
về tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và yếu tố về thể chế ) Mục đích của sử dụng số liệu lặp qua các năm 2004 và 2006 để loại bỏ các biến không quan sát được αi trong
Trang 22Như vậy, lợi tức theo quy mô giảm dần có nghĩa là sản phẩm đầu ra tăng thấp hơn khi đầu vào tăng với cùng một mức độ Lợi tức theo quy mô tăng dần là khi sản phẩm ra có mức độ tắc cao hơn khi đầu vào tăng cùng mức độ Còn lợi thế theo quy
mô không đổi là khi mức độ tăng của đầu ra cũng đúng bằng mức độ tăng của đầu vào Chú ý là trong khái niệm này, các đầu vào được giả định tăng với cùng một mức
độ
Để ước lượng mức độ và xu hướng lợi tức theo quy mô, người ta đưa ra khái niệm độ co giãn theo quy mô Độ co giãn theo quy mô của một sản phẩm được định nghĩa như sau
ε = Σi εi =Σi (∂Ln F(X) / ∂LnX) (5)
trong đó i là thứ tự của các đầu vào, εi là độ co giãn của sản phẩm cho đầu vào i;
ε là độ co giãn theo quy mô của sản phẩm
Hàm sản xuất trên tiếp tục được phân tích sâu hơn sử dụng phương pháp SFA có nguồn gốc từ các mô hình biên sản xuất ngẫu nhiên do Aigner, Lovell và Schmidt (1977) phát triển
Mô hình này có dạng như sau:
xuất
TE i thể hiện mức hiệu quả kỹ thuật được tính bằng tỷ lệ sản lượng thực tế trên
sản lượng cao nhất có thể TE i = 1 cho thấy hãng i có hiệu quả kỹ thuật ở mức cao
nhất có thể trong khi TEi < 1 đưa ra ước lượng mức thiếu hụt giữa sản lượng thực tế
và sản lượng cao nhất có thể có
Người ta cũng có thể viết TE dưới dạng mũ: trong đó ui ≥ 0 để
thỏa mãn TE i ≤ 1 Thông thường hay giả định f(x i , β) là hàm Cobb-Douglas hay hàm
translog Với trường hợp hàm Cobb-Douglas, mô hình trên có thể viết thành
Có thể giải mô hình này bằng phương pháp maximum likelihood ratio
- Vấn đề chuyển dịch lao động được phân tích bằng một mô hình
Trang 23Mô hình phân tích dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp sử dụng hàm tuyến tính rút gọn
Nghiên cứu sử dụng mô hình:
i* = Xβ + ε
Để xem xét các yếu tố tác động đến quyết định của hộ gia đình chuyển dịch lao động ra khỏi hoạt động nông nghiệp Trong đó i* là biến phụ thuộc có giá trị 0 (không chuyển dịch) và 1 (có chuyển dịch); X là các biến giải thích, β là véc tơ tham
số và ε là sai số:
Mô hình hồi quy Probit (là hàm phi tuyến cho phép xác định mức độ tác động của các yếu tố Xi tới xác suất xuất hiện của hiện tượng i khi X đã xảy ra) được dùng để ước lượng phương trình trên
- Vấn đề tổ chức kinh doanh ở nông thôn được phân tích sử dụng một mô hình
Mô hình phân tích hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp sử dụng phương pháp biên ngẫu nhiên
Đề tài sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp theo quy mô Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên cho phép sai số ngẫu nhiên xung quanh hàm sản xuất được ước lượng Trong mô hình này, đầu ra bị chặn
từ bên trên bằng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên và các yếu tố không phải đầu vào cho sản xuất (yếu tố phi hiệu quả kỹ thuật) chỉ giải thích một phần sự sai lệch khỏi hàm sản xuất biên Mô hình được xây dựng bởi Aigner et al (1997) cùng với Meeuseng
và Van Den Broeck (1997)
2007 và vốn cũng là vốn bình quân sử dụng trong năm 2007
β là vec tơ của các tham số chưa biết cần ước lượng
Sự khác biệt giữa phương pháp OLS và hàm ngẫu nhiên trong ước lượng hàm sản xuất nằm ở 2 đại lượng sai số cấu thành là v u i− i, trong đó v ilà đại lượng sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn độc lập đồng nhất, N(0,σv2 )Æ có giá trị trung bình = 0 và phương sai 2
v
σ , được giả định được phân phối độc lập với u i u ilà đại lượng sai số 1
Trang 24phía, được giả định là không âm và đại diện cho các tác động kỹ thuật phi hiệu quả Nếu u i = 0 thì doanh nghiệp hoàn toàn đạt hiệu quả về mặt kỹ thuật và sẽ đạt được mức sản lượng cao nhất ứng với các yếu tố đầu vào được sử dụng Nếu u i > 0, ngành không hiệu quả về mặt kỹ thuật
Giả thiết tổng quát hơn cho phân phối của u ilà tuân theo phân phối chuẩn đều không âm N( ,µ σi u2 )(Kumbhakar và Lovell, 2000)
Để phân tích định tố của sự không hiệu quả về kỹ thuật, µi coi như là một hàm số của các biến giải thích sau (Coelli và cộng sự., 1998):
0
µ δ= + δ ω+
Theo đó zi là véc tơ các biến giải thích quyết định sự không hiệu quả về kỹ thuật,
δ là véc tơ hệ số hồi quy chưa biết cần ước lượng, ω được định nghĩa theo phân i
phối chuẩn bị chặnN(0,σω2 )với điểm chặn là − (δ0 +z iδ)(Battese và Coelli, 1995) Viết lại mô hình dưới dạng translog như sau:
K , L i là 2 yếu tố sản xuất (vốn và lao động) của doanh nghiệp i
Nếu các hệ số tương tác và các hệ số của các đại lương bình phương mang giá trị
= 0 thì mô hình sẽ mang đặc điểm của hàm Coub - Douglas Để kiểm định tính chính xác của mô hình, chúng ta sử dụng kiểm định tổng quát LR Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật được mô hình gồm có biến vùng, ngành sản xuất kinh doanh,
và loại hình doanh nghiệp
Phương pháp ước lượng phi tham số:
- Vấn đề đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trưởng nông nghiệp được phân tích sử dụng một mô hình
Mô hình tiếp cận phi tham số (phương pháp Bao dữ liệu)
Mô hình này ước lượng thay đổi trong năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), tiến bộ công nghệ và những thay đổi về hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam; tìm ra những nguyên nhân làm cản trở tăng trưởng TFP trong nông nghiệp Kỹ thuật này cho phép phân chia tăng trưởng năng suất thành hai thành phần: hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ kỹ thuật theo thời gian Hai thành phần này bổ sung cho nhau một cách hợp lý giúp cho việc nhận dạng và phân biệt quá trình công nghệ
Trang 25Giả sử chúng ta có một tập hợp các khả năng sản xuất đầu ra sau:
Lưu ý, nếu θ đạt giá trị tối thiểu, thì y/θ đạt giá trị tối đa Như vậy hàm khoảng cách sẽ đo lượng đầu ra tối đa có thể sản xuất được bằng một lượng đầu vào cho trước Đây chính là thước đo hiệu quả kỹ thuật Tương tự, chúng ta có thể xác định được một hàm khoảng cách d t+ 1 (x,y) cho công nghệ năm t+1 (tức năm cuối)
Sự thay đổi năng suất có thể được đo bằng phần sản lượng tăng thêm mà không phải là kết quả của việc tăng đầu vào Chỉ số năng suất bằng (yt+1/yt)/(yb/ya), với (yt+1/yt) là tăng trưởng đầu ra và (yb/ya) là sự di chuyển dọc theo đường giới hạn sản xuất của năm t Có thể viết lại dưới dạng biểu thức như sau (yt+1/yb)/(yt/ya), với tử số
là hàm khoảng cách đầu ra của năm t+1 (yt+1) tương ứng với công nghệ của năm t và mẫu số là hàm khoảng cách thể hiện hiệu quả kỹ thuật của năm t Đây chính là chỉ số
năng suất Malmquist dựa trên đối chứng là công nghệ của năm đầu (năm cơ sở), theo
định nghĩa của Caves, Christensen và Diewert (1982a và 1982b), gọi tắt là CCD:
) , (
) , ( 1 1
t t
t
t t
t
t
y x
d
m
+ +
=
Tuy nhiên, chúng ta có thể chọn công nghệ của năm t+1 làm đối chứng để xác định chỉ số năng suất Chỉ số năng suất Malmquist dựa trên đối chứng là công nghệ của năm cuối được xác định như sau:
) , (
) , (
1
1 1 1
1
t t t
t t
t
t
CCD
y x
d
y x
d
+ + +
2 / 1
1
1 1 1 1 1 1
1
) , (
) , ( )
, (
) , ( ) , ,
+
t t t
t t t t t t
t t t t t t
t
y x d
y x d y x d
y x d y x
Trang 262 / 1
1 1
1 1
1 1 1
1 1 1
1
) , (
) , ( ) , (
) , ( )
, (
) , ( )
, ,
+ + +
+
t t t
t t t t
t t
t t t t
t t
t t t t t t
t
y x d
y x d y
x d
y x d y
x d
y x d y x
Biến đổi về hiệu quả = t t a c
y y
y y
/
/
1 +
; và
Biến đổi về công nghệ (tiến bộ kỹ thuật) =
2 / 1
1 1
/
/ /
a t c t
b t
y y
y y y y
y y
Tất cả các hàm khoảng cách được ước lượng bằng phương pháp DEA Ali và Seiford (1994), Grosskopf (1994) và Rao và Coelli (1998) giải thích khá rõ về cách ước lượng Giả sử có K vùng (chỉ số k) sử dụng N đầu vào (chỉ số n) để sản xuất M sản phẩm (chỉ số m) ki
mô không đổi, chúng ta có
,
1 '
' , ) max
z i
' 1
i k n K
Với z ki là một biến chỉ cường độ mà tại đó một hoạt động cụ thể được tiến hành
để thiết lập đường giới hạn sản xuất Lưu ý, khi i=i’=t (tương tự, i=i’=t+1), giải bài toán qui hoạch tuyến tính để tìm hiệu quả kỹ thuật cho năm t (tương tự cho năm
t+1)
Färe et al (1994) cũng ước lượng đường giới hạn sản xuất cho công nghệ có hiệu quả qui mô thay đổi và tách tác động quy mô khỏi biến động năng suất Tuy nhiên, như Grifell-Tatjé và Lovell (1995) đã phân tích, chỉ số Malquist có thể đo lường sai sự thay đổi TFP khi sử dụng giả định công nghệ có hiệu quả qui mô thay đổi Ray và Desli (1997) cũng cho rằng có thể sẽ bị nhầm lẫn nếu sử dụng đồng thời công nghệ có hiệu quả qui mô
Trang 27không đổi và công nghệ có hiệu quả qui mô thay đổi trong cùng một phân rã của chỉ số Malmquist Vì vậy nghiên cứu đã giới hạn khuôn khổ phân tích chỉ sử dụng giả định hiệu quả qui mô không đổi cho công nghệ đối chứng khi tính chỉ số năng suất
5 Khái niệm và khung phân tích
a) Khái niệm
Nông thôn
Khái niệm của Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp
Theo Ngân hàng Thế giới (2008), định nghĩa về nông thôn có thể khác nhau ở các quốc gia khác nhau Vùng nông thôn có thể được định nghĩa bởi qui mô định cư, mật độ dân số, khoảng cách đến những vùng thành thị, phân chia hành chính và tầm quan trọng của ngành công nghiệp
Theo Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc, có hai phương pháp chính để định nghĩa nông thôn Phương pháp thứ nhất là sử dụng định nghĩa địa chính trị: thành thị được xác định là tất cả những trung tâm của tỉnh huyện và tất cả các vùng còn lại được định nghĩa là nông thôn Phương pháp thứ hai: sử dụng mức độ tập trung dân sống thành cụm quan sát được để xác định vùng thành thị Trong một vùng có các hộ gia đình sống gần nhau tạo nên cộng đồng lớn hơn một số nhất định nào đó, ví dụ như 2000 người, thì được coi là thành thị Khu vực còn lại được coi là nông thôn Phương pháp này có lẽ thuyết phục hơn bởi đưa ra một giới hạn xác định rõ ràng Tuy nhiên, giới hạn này rất khác nhau theo từng nước Ngoài ra, một số quốc gia sử dụng số lượng và chất lượng của một số loại hình dịch vụ để xác định địa bàn thành thị, phần còn lại là nông thôn Phương pháp này thích đáng ở quan điểm phân tích nghèo đói bởi thiếu các dịch vụ cần thiết thường đi kèm với đói nghèo
Nghiên cứu này áp dụng các số liệu thống kê của Việt Nam được thu thập theo phương pháp thứ nhất để phân định nông thôn - thành thị Nông thôn, theo qui định
về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn quản lý thuộc cấp xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị)
Nông nghiệp
Theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành năm
2007, phân ngành nông nghiệp gồm các hoạt động trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nhân và chăm sóc cây giống nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt và chăn nuôi hỗn hợp, hoạt động dịch vụ nông nghiệp, săn bắt – đánh bẫy và hoạt động dịch vụ có liên quan Phân ngành lâm nghiệp gồm các hoạt động trồng rừng và chăm sóc rừng,
Trang 28khai thác gỗ và lâm sản khác, thu nhặt sản phẩm từ rừng không phải gỗ và lâm sản khác, hoạt động dịch vụ lâm nghiệp Phân ngành thủy sản gồm các hoạt động khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng
và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành Nông nghiệp theo nghĩa hẹp gồm trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản và theo nghĩa rộng bao gồm thêm lâm nghiệp, thuỷ sản
Trong nghiên cứu này, nông nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, gồm trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Áp dụng theo cách phân loại ngành kinh tế trong hệ thống thống kê chính thức của Việt Nam
Nông dân
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, nông dân là người lao động cư trú ở nông thôn, sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, sau đó bằng các ngành, nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai; tuỳ theo từng thời kì lịch sử, ở từng nước, có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất; những người này hình thành nên giai cấp nông dân, có
vị trí, vai trò nhất định trong xã hội Như vậy nông dân được hiểu là những người có nguồn sinh kế chính là nông nghiệp và môi trường sống chính là ở nông thôn Trong nghiên cứu này các số liệu phân tích chủ yếu liên quan đến các hộ cư dân nông thôn được thu thập theo quy định của Tổng cục Thống kê: hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua
kể từ thời điểm tiến hành thu thập thông tin và có chung quĩ thu chi; hộ nông thôn là
hộ gia đình ở địa bàn thuộc xã
Tập trung ruộng đất
Theo McPherson (1982), tập trung ruộng đất là quá trình làm tăng quy mô diện tích trung bình của nông hộ và giảm tình trạng phân tán đất đai Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (2003), để khắc phục tình trạng manh mún đất đai, có hai phương thức được thực hiện phổ biến là dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất Đây
là quá trình phân bổ và sắp xếp lại các mảnh nhằm loại bỏ hạn chế của tình trạng manh mún đất đai về ô thửa và tăng quy mô ruộng đất Trong nghiên cứu này chúng tôi xem xét cả hai khía cạnh: dồn điền đổi thửa (thay đổi vị trí phân bổ các mảnh ruộng trong một gia đình để giảm số mảnh và tập trung về địa bàn quản lý của hộ) và tích tụ đất đai (tăng quy mô đất đai do hộ quản lý thông qua mua bán, thuê và các hình thức chuyển nhượng khác) Các hình thức tập trung mở rộng quy mô đất đai khác như quy hoạch vùng chuyên canh, khai hoang mở rộng diện tích, đầu tư ra nước ngoài, không phải là đối tượng nghiên cứu của đề tài này
Trang 29Di chuyển lao động nông thôn
Trong đề tài này, di chuyển lao động nông thôn được quan niệm là quá trình lao động nông thôn di chuyển về mặt địa lý trong quá trình tìm việc làm (chuyển ra thành thị, đến các khu công nghiệp, đến các địa bàn nông thôn khác) và chuyển dịch giữa các ngành nghề (từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn) Những biến động về lao động và việc làm ở nông thôn khác không được nghiên cứu trong đề tài này (xuất khẩu lao động, di cư ra nước ngoài, )
Tổ chức kinh doanh nông thôn
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì tổ chức là hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên; cùng nhau hành động vì mục tiêu chung Các tổ chức trong
xã hội loài người được hình thành, đào thải, phát triển không ngừng theo tiến trình phát triển của xã hội với nhiều hình thức tập hợp, quy mô, nội dung và cách thức hoạt động khác nhau
Cũng theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ, ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất Như vậy có thể hiểu: tổ chức kinh doanh nông thôn là hình thức liên kết giữa các thành viên trong xã hội nông thôn nhằm thực hiện các hoạt động kinh tế và đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất
Do đặc thù của nông thôn Việt Nam, phần lớn các hộ tiểu nông có tham gia sản xuất hàng hóa, trong đó có một số hộ hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập Nên trong đề tài này tổ chức kinh doanh nông thôn được nghiên cứu chủ yếu bao gồm hai nhóm đối tượng chính gồm doanh nghiệp (có đăng ký kinh doanh) và hộ nông thôn
Liên kết kinh doanh nông thôn
Liên kết kinh doanh nông thôn theo nghĩa rộng là mối quan hệ trong kinh doanh giữa các tác nhân trong nông thôn tham gia vào sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm nào đó Tác nhân đó có thể bao gồm Nhà nước, doanh nghiệp, hộ kinh doanh,
cá nhân, nông dân, các tổ chức liên kết ngang và dọc của các tác nhân này Liên kết kinh doanh nông thôn trong phạm vi hẹp mà nghiên cứu này tập trung tìm hiểu là mối quan hệ giữa doanh nghiệp/hộ kinh doanh và nông dân trong cung cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ đầu ra Các doanh nghiệp được quan tâm chủ yếu là doanh nghiệp có sử dụng đầu vào là nông sản
Trang 30Khoa học công nghệ nông nghiệp
Theo Luật Khoa học và Công nghệ, khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm; hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ
Hoạt động khoa học công nghệ trong nông nghiệp được hiểu là các nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, ứng dụng, chuyển giao, kinh doanh tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp
Đề tài này tập trung nghiên cứu vai trò của khoa học công nghệ (cả nghiên cứu, cải tiến, nhập nội, ứng dụng) cho sản xuất nông nghiệp Khi sử dụng khái niệm năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP), ý nghĩa của “khoa học công nghệ” được mở rộng bao trùm cả các yếu tố về quản lý, động lực chính sách và một số các nhân tố khác ngoài vốn, vật tư, lao động
Điều kiện mới
Trong báo cáo này, khái niệm điều kiện mới được xem xét dưới hai khía cạnh: thứ nhất, những biến đổi của hoàn cảnh bên ngoài tác động đến quá trình phát triển nông thôn từ nay trở đi đến năm 2020; các bối cảnh này bao gồm cả những xu thế phát triển chung như quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, biến đổi khí hậu, khan hiếm nguyên liệu không tái tạo, phát triển khoa học công nghệ, tăng dân số và già hóa dân số , cả những yếu tố bất định có khả năng sẽ xuất hiện như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh, ; thứ hai, những xu thế diễn ra nội tại ngành nông nghiệp nông thôn như giảm lao động, hướng về sản xuất lớn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, giá trị gia tăng, phát triển vững bền, Nghiên cứu này không tính đến những điều kiện đặc biệt ví dụ như khi sử dụng các
dự báo về tăng trưởng kinh tế, phát triển dân số, mức độ đô thị hóa, chúng tôi không sử dụng các phương án giả định quá cao hoặc quá thấp mà chỉ sử dụng kịch bản ở mức trung bình Khi tính đến các yếu tố bất định, chúng tôi cũng không tính đến các biến động có xác suất xảy ra thấp, dù có thể đem lại tác động rất lớn, ví dụ như chiến tranh, thiên tai quy mô lớn,
b Khung phân tích của đề tài
Trang 31Sơ đồ 2 Khung phân tích của đề tài
Lý thuyết về các vấn đề nghiên cứu
Khảo sát và phân tích thực
địa 4 vùng (cho vấn đề tổ
chức kinh doanh nông thôn)
Giả thuyết nghiên cứu Phân tích số liệu điều tra
và mô hình
Phân tích tổ chức kinh doanh nông thôn: thực trạng, vấn đề và
mô hình
Phân tích vấn đề phát triển KHCNNN: thực trạng, và mô hình
Tổng quan chính sách Kết luận và xác định
giả thuyết
Bối cảnh trong nước và
quốc tế
Quan điểm phát triển nông thôn
Định hướng chiến lược và đề xuất các giải pháp chính sách cho các vấn đề nghiên cứu
Trang 32CHƯƠNG 2 – LÝ THUYẾT VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sơ đồ 3 Tổng quan lý thuyết
1 Lý thuyết phát triển nông nghiệp
a) Vai trò của nông nghiệp
Theo David Ricardo (1817), vai trò quan trọng nhất của nông nghiệp trong giai
đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa là cung cấp lương thực, thực phẩm
Khi đô thị và công nghiệp phát triển, lao động rút nhiều về đô thị, mức lương bình quân xã hội tăng lên, tạo ra thị trường lớn về tiêu dùng lương thực, thực phẩm Lúc này, sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo nhu cầu ăn cho xã hội để giữ giá lương thực thấp mới duy trì được mức lương thực tế hợp lý cho quá trình công nghiệp hóa Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã chứng tỏ rằng học thuyết “Tự điều tiết” nền kinh tế của các trường phái cổ điển và tân cổ điển là thiếu xác thực Năm 1936, John Maynard Keynes viết tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đưa ra học thuyết kinh tế mới đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong nền kinh tế Để tăng tiêu dùng, một trong những giải pháp quan trọng là tăng chi tiêu công Như vậy vai trò của Nhà nước được đề cao
Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp, trong đó thị trường điều tiết những quan hệ kinh tế chính, nhà nước tham gia điều tiết nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường Thực chất nền kinh tế hỗn hợp
Các hình thức tổ chức kinh doanh
ở nông thôn
Phát triển ứng dụng khoa học công nghệ nông nghiệp
Trang 33là sự xích lại gần nhau của học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes
Lý thuyết của Keynes từ rất sớm đã chỉ ra hướng ứng dụng chính sách quan trọng
là phát triển kinh tế nông thôn, tăng thu nhập của cư dân nông thôn Một khi dân số nông thôn còn chiếm đa số trong xã hội thì hoạt động xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, gắn kết lao động nông thôn với hoạt động phi nông nghiệp sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa nông thôn và đô thị, mở ra thị trường rộng lớn cho công nghiệp và kinh tế đô thị Đây chính là chiến lược được áp dụng một cách thành công ở các nền kinh tế Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan vào thập kỷ 50 đến 70
Tuy nhiên, trong giai đoạn những năm 40 và 50, phần lớn các nhà kinh tế vẫn không đánh giá cao vai trò của nông nghiệp trong kinh tế Phát triển kinh tế được quan niệm là sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, trong đó, tỷ trọng nông nghiệp
đóng góp cho tổng sản phẩm quốc dân giảm so với công nghiệp Do đó, mức độ thu
hẹp của nông nghiệp được coi là dấu hiệu tích cực của phát triển kinh tế nên các
chính sách phát triển thời kỳ này ít quan tâm đến nông nghiệp
Năm 1961, trong cuốn sách “Vai trò của nông nghiệp trong phát triển kinh tế”, Johnston và Mellor giới thiệu năm đóng góp quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp trong phát triển kinh tế:
- Thứ nhất, nông nghiệp cung cấp lương thực và các nguyên liệu đầu vào cho các ngành của nền kinh tế Độ co dãn thu nhập đối với cầu lương thực ở các nước đang phát triển khá cao, tức là khi mức sống tăng thì nhu cầu tiêu dùng lương thực cũng tăng nhanh Trong tình hình đó, nếu sản xuất nông nghiệp nội địa không tự đáp ứng được nhu cầu thì các nước đang phát triển phải bỏ ngoại tệ để nhập khẩu lương thực thay vì nhập máy móc, nguyên liệu phát triển công nghiệp
- Thứ hai, lĩnh vực nông nghiệp là nguồn thu ngoại tệ quan trọng ở những quốc gia có lợi thế so sánh sản xuất một số mặt hàng nông sản xuất khẩu
- Thứ ba, lĩnh vực nông nghiệp là thị trường trong nước quan trọng cho các ngành khác như sản xuất hàng tiêu dùng, máy móc và các vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu )
- Thứ tư, lĩnh vực nông nghiệp là nguồn cung cấp lao động cho lĩnh vực công nghiệp
- Thứ năm, lĩnh vực nông nghiệp tạo ra một lượng vốn thặng dư để đầu tư cho quá trình công nghiệp hoá
Sang thập kỷ 60, cuộc “cách mạng xanh” mở ra khả năng cân đối an ninh lương thực trên thế giới và nhiều nước đang phát triển dựa vững trên lĩnh vực nông nghiệp
Trang 34để công nghiệp hóa thì nhiều nhà kinh tế đã thay đổi cách nhìn với lĩnh vực nông
nghiệp Từ vai trò bị coi là thụ động trước kia, nông nghiệp được nhìn nhận đóng
vai trò tích cực phát triển kinh tế, do vậy, cần thiết được ưu tiên đầu tư Peter
Timmer (1988) nêu lên 5 vai trò nông nghiệp đóng góp cho công nghiệp hóa:
- Cung cấp lương thực thực phẩm cho mức tiêu dùng ngày càng tăng của cư dân
đô thị trong quá trình công nghiệp hóa, cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho công nghiệp;
- Cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp;
- Xuất khẩu nông sản tạo ngoại tệ để nhập các máy móc thiết bị và nguyên vật liệu cần thiết cho phát triển công nghiệp;
- Tích lũy vốn ban đầu cho phát triển công nghiệp;
- Tạo thị trường nội địa cho các sản phẩm công nghiệp trong giai đoạn đầu khi khả năng cạnh tranh của công nghiệp nội địa còn thấp, đặc biệt là thị trường cho hàng tiêu dùng công nghiệp
Những năm 1970, vai trò của nông nghiệp được nhìn nhận một cách tổng quát
hơn gắn với việc đáp ứng những nhu cầu căn bản và phân phối lại lợi ích từ quá
trình phát triển Như vậy nông nghiệp đã gắn với chức năng phát triển kinh tế và
xã hội nông thôn Trong các chương trình và chính sách xuất hiện thuật ngữ phát
triển nông thôn tổng hợp, trong đó công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, phát triển cộng đồng được gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp (Ellis và Biggs 2001)
Gần đây, trong tình hình ở một số nước công nghiệp phát triển, sản xuất nông nghiệp mất dần lợi thế so sánh phải chuyển sang áp dụng các chính sách trợ cấp và bảo hộ khi khái niệm nông nghiệp đa chức năng hình thành Theo cách nhìn nhận này, nông nghiệp không phải chỉ là một ngành kinh tế sản xuất ra hàng hóa nông sản
mà còn gắn với kinh tế nông thôn cung cấp các loại hình dịch vụ về du lịch, phát triển văn hóa cổ truyền, cung cấp dịch vụ môi trường, bảo tồn và phát triển tài
nguyên tự nhiên, Như vậy nông nghiệp thực sự gắn bó hài hòa với các lĩnh vực
kinh tế khác trong xã hội và kết nối hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường
cả nước Nhật Bản và một số quốc gia ở Tây Âu là những nơi lý thuyết này được
vận dụng nhiều trong chính sách
Ngân hàng Thế giới (2008) nhận định tăng trưởng nông nghiệp chính là yếu tố tiên phong của các cuộc cách mạng công nghiệp đã xảy ra trên khắp thế giới từ Anh, (giữa thế kỉ 18) cho đến Nhật Bản (cuối thế kỉ 19) Gần đây, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp nhanh chóng của Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam cũng là tiền đề cho sự phát triển công nghiệp Vai trò của nông nghiệp được khái quát lại là:
Trang 35- Nông nghiệp là hoạt động kinh tế đóng góp cho tăng trưởng và giải quyết việc làm quan trọng ở các nước đang phát triển
- Nông nghiệp là nguồn sinh kế cho 86% dân số nông thôn Trong 5,5 tỷ người của thế giới đang phát triển, khoảng 2,5 tỷ người thuộc các hộ gia đình làm nghề nông
- Nông nghiệp là nơi cung cấp các dịch vụ môi trường Đây là ngành sử dụng đất
và nước nhiều nhất, góp phần quan trọng trong lượng phát thải khí nhà kính
Năm 2008, thế giới chứng kiến tình trạng tăng giá của dầu mỏ và lương thực Đã xuất hiện những dự báo cho thấy nếu không có những phát triển đột biến về khoa học công nghệ thì giá lương thực trong tương lai rất có thể sẽ tăng lên Số người bị đói trên thế giới đang tăng, năm 2007 là 923 triệu người (bằng 15% dân số thế giới
và bằng 2/3 dân số Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới), tăng gần 10% so với đầu thập kỷ 1990, đe dọa kéo lùi thành tựu của những nước vốn được cho là sẽ sớm hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ (FAO 2009) Trong tương lai, với những thách thức chắc chắn sẽ xảy ra của quá trình biến đổi khí hậu toàn cầu và việc huy động ngày càng nhiều tài nguyên đất và nước sang các mục tiêu ngoài nông nghiệp, dường như điều kiện sản xuất lương thực của nhiều quốc gia đang phát triển, đặc biệt là vùng Phi Châu, sẽ trở nên khó khăn hơn Vì vậy, sản xuất nông nghiệp không chỉ
đóng vai trò quan trọng về mặt kinh tế mà thậm chí còn trở nên rất quan trọng
về mặt chính trị đối với quốc gia và quốc tế, có thể so sánh với vai trò của ngành
năng lượng dầu mỏ hiện nay Hội nghị G8 mới đây, các nước công nghiệp chủ trương chuyển từ viện trợ nhân đạo sang hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực ở các nước đang phát triển
Nhiều nước đang công nghiệp hóa thời gian qua đã lơ là phát triển nông nghiệp, nông thôn gây bất ổn chính trị xã hội, suy giảm tăng trưởng kinh tế Mỹ La Tinh sau
20 năm thực hiện mô hình “kinh tế thị trường cổ điển” dưới sức ép của Quỹ Tiền tệ quốc tế (tự do hoá thương mại, tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước, xây dựng khối thị trường tự do trong khu vực…) tình hình kinh tế và chính trị vẫn không được cải thiện Bất chấp mọi cố gắng thúc đẩy công nghiệp hoá, các quốc gia Mỹ La Tinh đã hai lần rơi vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng Năm 1980, khủng hoảng nợ của Mexico lan ra thành thảm hoạ của các nước trong vùng Lương thực tế tại Achentina giảm 40%, số người nghèo tăng hơn 30% Năm 1995, cuộc khủng hoảng nợ từ Mexico lại lan sang Achentina Tiền lương thực tế ở Mexico giảm 30% và người nghèo ở Achentina tăng 50%
Các bất cập trong quá trình công nghiệp hoá cộng với các yếu kém trong quản lý
vĩ mô dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Chỉ riêng vốn chảy ra khỏi vùng trong năm 1998 đã lên đến 100 tỷ đôla, nền kinh tế toàn cầu trong hai năm bị
Trang 36thiệt hại khoảng 2000 tỷ đôla Mười năm qua, hàng lọat chính phủ ở các nước Đông Nam Á nối nhau sụp đổ mà vấn đề ổn định chính trị vẫn là thách thức của nhiều quốc gia trong vùng, nhất là những nước tỷ trọng dân cư nông thôn còn cao như Philipin, Thái Lan, Indonesia
Cho đến gần đây, kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch, mục tiêu công nghiệp hóa được nhấn mạnh với quan điểm phát triển chung của các nước xã hội chủ nghĩa khi đó, nông nghiệp được coi như là nền tảng phục vụ công nghiệp, giống như những gì mà David Ricardo đã nêu từ thế
kỷ 19 Cách nhìn nhận này lạc hậu so với quan điểm chung của thế giới từ 1-2 thập
kỷ Thêm vào đó là những chính sách sai lầm trong hợp tác hóa khiến cho sản xuất nông nghiệp chung ở các nước xã hội chủ nghĩa tụt hậu so với các nước tư bản và những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng Xanh không được huy động kịp thời Nhìn chung đời sống ở nông thôn thấp kém, đặc biệt thậm chí xảy ra tình trạng đói kém trên diện rộng ở Trung Quốc, Liên Xô Điều đáng tiếc là sai lầm này đã được một số nhà kinh tế và nhà chính trị ở chính các nước xã hội chủ nghĩa phát hiện nhưng không được sửa sai kịp thời
Cùng với quá trình Đổi mới, vai trò quan trọng của nông nghiệp trong kinh tế Việt Nam được đánh giá lại Nhờ đó các giải pháp chính sách hợp lý đưa ra đã tạo nên sức phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp Việt Nam Lĩnh vực này thực sự trở thành mũi đột phá cho quá trình đổi mới kinh tế xã hội và trở thành nền tảng vững chắc của quá trình công nghiệp hóa hiện nay Vai trò của nông nghiệp từng bước thể hiện đúng như những gì các nhà lý luận kinh tế trên thế giới đã nêu ra: đầu thập kỷ
90 giải quyết vấn đề lương thực thực phẩm cho xã hội; trong thập kỷ 90 cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, cung cấp nguồn ngoại tệ xuất khẩu cho đất nước; cung cấp vốn cho công nghiệp hóa; thập kỷ 2000 góp phần tích cực phát triển xã hội nông thôn, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai Nhờ nông nghiệp phát triển, Việt Nam đạt thành tựu lớn về xóa đói giảm nghèo, duy trì ổn định xã hội, tạo điều kiện tốt để thu hút đầu tư nước ngoài Có thể nói sự nhìn nhận về vai trò của nông nghiệp
ở Việt Nam đã phần nào thể hiện bám sát lý luận phát triển chung Nếu đúng như vậy thì tới đây nông nghiệp sẽ đóng vai trò quan trọng hơn nữa cả về kinh tế, xã hội, môi trường và chính trị, ngoại giao với cả quốc gia
b) Quan hệ nông nghiệp, nông thôn - công nghiệp, đô thị
Adam Smith (1776), người mở đầu trường phái kinh tế thị trường cổ điển, khẳng định năng suất ngành nông nghiệp chắc chắn tăng thấp hơn ngành công nghiệp vì nông nghiệp luôn kém lợi thế về chuyên môn hóa và phân công lao động Do đó, đương nhiên công nghiệp cần được ưu tiên phát triển hơn Đây là quan điểm gây ảnh
Trang 37hưởng quan trọng đến việc hình thành chiến lược hy sinh nông nghiệp, bần cùng hóa nông dân để công nghiệp hóa ở Âu Mỹ hơn 2 thế kỷ trước
Những năm 50, Prebisch và Singer cho rằng: về dài hạn, nhu cầu hàng hoá nông sản sẽ tăng chậm hơn so với mức tăng thu nhập (độ co dãn của thu nhập đối với cầu thấp), do đó, sẽ hình thành xu hướng cánh kéo giá ngày càng có lợi cho hàng hoá công nghiệp và bất lợi cho hàng hoá nông sản Quy luật Engel cho thấy tỷ lệ chi tiêu cho hàng lương thực thực phẩm giảm dần khi thu nhập tăng lên cũng chứng tỏ sự hạn chế của nhu cầu đối với các mặt hàng nông sản và giải thích sự suy giảm giá liên tục của hàng nông sản
Vì thế, phát triển công nghiệp là con đường tất yếu để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường và tăng phúc lợi xã hội Trong điều kiện đi sau, muốn phát triển công nghiệp thì các nước đang phát triển phải áp dụng chính sách hướng nội, tập trung mạnh vào các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu, bảo vệ thị trường công nghiệp nội địa Trong hoàn cảnh đó, con đường thu ngoại tệ chính sẽ phải là xuất khẩu nguyên liệu thô và nông sản vốn là lợi thế so sánh sẵn có của các nước đang phát triển Tuy nhiên, do cánh kéo giá bất lợi cho hàng nông sản xuất khẩu nên càng đẩy mạnh xuất khẩu thì các nước đang phát triển càng chịu thiệt Giải pháp chính sách phải lựa chọn là hạn chế nhu cầu ngoại tệ bằng cách đẩy mạnh công nghiệp thay thế nhập khẩu Đây cũng là chính sách mà nhiều nước đang phát triển áp dụng trong thập kỷ 50-60
Thập kỷ 50, Hirschman củng cố thêm trào lưu coi nhẹ nông nghiệp trong bằng quan điểm “hiệu ứng liên kết” Mỗi ngành kinh tế có mối liên kết nhất định với cả nền kinh tế Đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia là liên kết trước và đầu
ra của ngành kia làm đầu vào của ngành này là liên kết sau Khi một ngành có mối quan hệ liên kết mạnh thì sẽ tạo ra “hiệu ứng liên kết” Sự phát triển của các khu vực đầu tầu sẽ thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển và thông qua hiệu ứng liên kết sẽ lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế Hirschman cho rằng lĩnh vực nông nghiệp không có liên kết đầu vào (không có liên kết sau) và liên kết đầu ra cũng yếu, do vậy, nông nghiệp không đáng được ưu tiên đầu tư Do đó, chiến lược phát triển thích hợp của các nước đang phát triển là tập trung đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp có hiệu ứng liên kết mạnh
Dobb (1955) và Byres (1977) cho rằng công nghiệp luôn sử dụng công nghệ hiện đại, tăng năng suất lao động và phúc lợi xã hội một cách nhanh chóng, giảm bớt sự phụ thuộc vào bất ổn của điều kiện tự nhiên và thị trường nên các nền kinh tế đang phát triển phải hy sinh lợi ích ngắn hạn của nông nghiệp để đạt được lợi ích dài hạn cho cả nền kinh tế bằng cách tập trung đưa công nghiệp và đô thị vượt nhanh khỏi tình trạng lạc hậu Những lý thuyết này đã có ảnh hưởng lớn đối với chiến lược phát
Trang 38triển kinh tế của nhiều nền kinh tế đang phát triển trong suốt các thập kỷ từ sau Thế chiến thứ hai đến thập kỷ 80 (Diana Hunt 1989) Lý thuyết phát triển Việt Nam, cũng như các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, từ cuối thập kỷ 50 đến giữa thập kỷ
80 cũng tập trung tài nguyên từ lĩnh vực nông nghiệp để phát triển công nghiệp Vậy tại sao lý thuyết phát triển này đem lại thành công cho làn sóng công nghiệp hóa giai đoạn trước lại không đem lại kết quả cho quá trình công nghiệp hóa ngày nay?
Tổng kết mô hình thành công của các nước công nghiệp hóa trước đây, Kuznets (1971) đưa ra lý thuyết nổi tiếng về vấn đề bất bình đẳng trong quá trình công nghiệp hóa là "Mô hình chữ U ngược":
- Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, sự bất bình đẳng giữa đô thị
và nông thôn cũng như các bất bình đẳng xã hội khác sẽ tăng Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phải chịu thiệt thòi để tăng cường đầu tư tích lũy cho phát triển công nghiệp
- Khi công nghiệp hóa thành công, kinh tế phát triển, thu nhập trong xã hội sẽ được cân đối, tích lũy của nhà nước và nhân dân cho phép bù đắp những thiệt hại trước đây, hy sinh tiêu dùng trong hiện tại sẽ được đền bù bằng tiêu dùng trong tương lai Xã hội dần trở lại công bằng
Vận dụng lý thuyết của Kuznet, nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng sự mất cân bằng, chấp nhận thua thiệt trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa là cái giá phải trả đối với cả kinh tế, xã hội và môi trường và từ nhận định này rất nhiều quốc gia chấp nhận chiến lược phát triển hướng tới việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp đô thị, coi khu vực công nghiệp đô thị, đặc biệt là tại các cực tăng trưởng, là đầu tàu để kéo khu vực nông nghiệp nông thôn chạy theo, coi tình trạng một nền kinh tế “nhị nguyên” là giai đoạn phải vượt qua trong quá trình công nghiệp hóa Tuy nhiên thực
tế phát triển đã chỉ ra những lựa chọn khác
Để giảm độ cong cho “chữ U ngược”, giảm bất bình đẳng trong thu nhập, điều quan trọng đầu tiên là phải tạo ra nhiều việc làm có thu nhập cao và ổn định cho đông đảo lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa Các nền kinh tế này
đã áp dụng chiến lược liên kết chặt phát triển công nghiệp, đô thị với nông nghiệp nông thôn bằng cách đưa công nghiệp và dãn đô thị về nông thôn, hỗ trợ công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, thu hẹp khỏang cách thu nhập nông thôn đô thị
Khác với nhiều quốc gia đi trước, các “con rồng Đông Á” coi nông dân, nông thôn là vấn đề chính trị sống còn ngay từ đầu, chính sách “khoan sức, tiếp sức cho dân” được áp dụng ngay khi tăng tốc công nghiệp hoá, không đợi GDP nông nghiệp giảm tới 15 %, việc “tổ chức nông dân, trao quyền cho dân” làm rất sớm, trước khi
Trang 39tỷ lệ nông dân xuống 7%, bảo vệ và phục hồi môi trường sớm hơn ngưỡng 8000 USD rất nhiều, tạo môi trường thuận lợi đặc biệt cho quá trình công nghiệp hoá
Để địa bàn, lao động và thị trường nông thôn nuôi được công nghiệp phát triển, công nghiệp lớn được chuyển từ đô thị về nông thôn tạo việc làm và thu nhập nông thôn, giảm tải cho thành phố Đài Loan thành lập 17 khu công nghiệp nông thôn hỗ trợ tín dụng, công nghệ, bảo trợ hợp đồng thu mua nguyên liệu và tiêu thụ nông sản cho dân Các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm vệ tinh cho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn, đóng góp hơn 60% lao động cho công nghiệp chế tạo máy Tỷ lệ xuất khẩu của doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 56% năm 1972 lên 76% năm 1982 Suốt thời kỳ công nghiệp cất cánh (1956 - 1966), lao động công nghiệp ở thành phố của Đài Loan giảm
từ 43% xuống 37% Năm 1971, 61% hàng tiêu dùng công nghiệp được sản xuất ở ngoài các thành phố lớn Ở Đài Loan 57% nông dân vẫn ở nông thôn đi làm công nhân theo thời vụ, chỉ 17% rời làng ra thành phố
Ở Nhật, sản xuất công nghiệp phân tán trên toàn quốc Năm 1883, bắt đầu công nghiệp hóa, 80% nhà máy lớn đã xây dựng ở nông thôn, 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, tỷ lệ này tăng lên 66% năm 1960 Năm 1950, thu nhập phi nông nghiệp góp 30% tổng thu dân nông thôn, năm 1990, tăng lên tới 85% Nhờ “li nông bất li hương,” nên phân phối thu nhập giữa nông thôn và đô thị ở Đài Loan và Nhật Bản rất công bằng Từ năm 1955 đến năm 1965, thu nhập hộ nông dân Nhật tương đương thu nhập ở thành phố Gắn nông thôn với công nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngành nghề nông thôn được chú trọng phát triển, Đài Loan không có hiện tượng di cư về thành phố, hơn 20 năm công nghiệp hóa, dân số 5 thành phố lớn chỉ tăng 18% - 27% Xóa bỏ khỏang cách thu nhập giữa nông thôn và
đô thị là thành công chưa từng có ở các nước công nghiệp hóa trước đây
Khi công nghiệp luôn phục vụ nông nghiệp phát triển thì ngược lại, nông nghiệp, nông thôn lại trở thành thị trường lớn để tích lũy cho công nghiệp Theo Keynes (1936), thu nhập của các cá nhân được sử dụng cho tiêu dùng và tích luỹ Khi mức thu nhập tăng thì tiêu dùng sẽ giảm, tiết kiệm tăng Giảm tiêu dùng làm giảm cầu Keynes cho rằng đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến kinh tế trì trệ Mặt khác, đầu tư đóng vai trò quyết định qui mô việc làm, khối lượng đầu tư phụ thuộc lãi suất cho vay và năng suất cận biên của vốn Ở các nền kinh tế nông nghiệp, khi cư dân nông thôn còn chiếm đa số, sức mua của nông thôn là yếu tố rất quan trọng, quyết định mức độ phát triển của thị trường nội địa cho hàng hóa công nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển
Suốt quá trình khôi phục kinh tế sau chiến tranh, công nghiệp Nhật Bản ưu tiên phát triển sản xuất vật tư và máy móc cho nông nghiệp Nhờ đó, nông nghiệp được
cơ giới hóa thích hợp quy mô sản xuất nhỏ, có đủ phân thuốc để thâm canh Đài
Trang 40Loan tập trung sản xuất vật tư nông nghiệp và phát triển công nghiệp chế biến phục
vụ xuất khẩu tạo sức cạnh tranh mạnh trên thị trường và tăng giá trị cho nông sản Năm 1950, nông nghiệp đóng góp 90% giá trị xuất khẩu, trong đó 70% là nông sản chế biến, 10 năm sau, nông lâm sản vẫn chiếm 70% giá trị xuất khẩu Năm 1991, công nghiệp chế biến tạo ra giá trị sản lượng 17,5 tỷ USD/năm (thịt 15%, thức ăn gia súc 12%, đồ uống 18%, xay sát gạo 9% …) Điểm hay nhất là các nhà máy chế biến đều dựa trên quan hệ hợp đồng với nông dân sản xuất nguyên liệu
Nhờ thu nhập khá của dân số nông thôn đông đảo, Nhật Bản và Đài Loan đã tạo cho mình một thị trường nội địa đủ lớn cho sản xuất công nghiệp tích lũy chuyển sang xuất khẩu Tại Đài Loan, từ thập kỉ 1950, công nghiệp tích lũy nhờ bán máy móc thiết bị, vật tư phục vụ nông nghiệp và hàng hóa cho nông thôn 1952 - 1963 đẩy mạnh công nghiệp hóa, tích lũy từ nông nghiệp vượt mức thu thuế của cả nền kinh tế mà thu nhập nông dân vẫn tăng Thập kỷ 60 - 70, đến lượt các ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp nặng, cuối thập kỷ 70 và đầu 80, dụng cụ điện tử, điện gia dụng lần lượt chiếm lĩnh thị trường trong nước trước khi chuyển sang xuất khẩu Giai đoạn 1956 - 1966, với qui mô dân số chỉ khoảng 10 triệu người nhưng thị trường nội địa đóng góp 60% tăng trưởng cho công nghiệp chế tạo
Mô hình tích lũy công nghiệp hóa trên diễn ra đúng như đề xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng trong thời kỳ này (cuối thập kỉ 1950) nhưng chưa được áp dụng cho
Việt Nam: "nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra,
đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ lương thực nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị, như thế là nông thôn giàu có giúp công nghiệp phát triển Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa” (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, trang
405-406)
Tại các nền kinh tế Đông Á trên, để đưa được công nghiệp về nông thôn để làm được điều không một quốc gia công nghiệp đi trước nào có là xây dựng nhà máy ở nông thôn rẻ hơn ở đô thị, Nhật Bản và Đài Loan đã áp dụng hai nhóm chính sách hết sức quan trọng là phát triển kết cấu hạ tầng và phát triển tài nguyên con người
Hệ thống giao thông, mạng lưới điện và bưu chính viễn thông, các viện nghiên cứu nông nghiệp được xây dựng hoàn chỉnh từ rất sớm cả ở Nhật bản và Đài Loan (khi còn là thuộc địa của Nhật) Hệ thống giáo dục của Nhật Bản rất tiên tiến, đầu những năm 1880 đã phổ cập giáo dục tiểu học và phát triển trường tư thục Bắt đầu công nghiệp hóa, tỷ lệ số dân biết chữ đã cao hơn Châu Âu và hơn cả nhiều nước đang phát triển hiện nay Tại Đài Loan năm 1970, tỉ lệ biết chữ đạt 90%, và hơn 2/3 dân
số nông nghiệp Đài Loan có bằng cấp giáo dục chính thức Trên nền tảng phổ cập giáo dục chất lượng tốt, việc giáo dục dạy nghề được tổ chức một cách hệ thống với
sự chủ động của chính các tổ chức cư dân nông thôn Khâu đột phá chính không phải
là kiến thức mà chính là thay đổi tâm lý thụ động, chia rẽ, dựa dẫm đã ăn sâu bám rễ