Tình hình nghiên cứu Nằm trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phát triển năng động nhất thế giới trong vài thập kỷ trở lại đây, sự tăng trưởng kinh tế tương đối cao của các nước Đông Nam
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
- -BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
Mã số: B.10-08
Tên đề tài:
MÔ HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ
GIÁ TRỊ THAM KHẢO ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Đơn vị chủ trì : Viện Kinh Tế Chủ nhiệm đề tài : ThS Phùng Lê Dung Thư ký đề tài : ThS Đinh Thị Nga
HÀ NỘI - 2010
Trang 2DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 TS Trần Tuấn Anh, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
2 TS Lê Văn Chiến, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
3 ThS Phùng Lê Dung, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
4 ThS Trương Diệp Hằng, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
5 ThS Phạm Mạnh Hùng, Viện kinh tế và chính trị thế giới
6 Bùi Thị Hương, Học viên cao học K15, chuyên ngành QLKT
7 TS Đinh Thị Nga, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
8 ThS Trần Thị Tuyết Lan, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
9 TS Hoàng Văn Nghĩa, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
10 PGS,TS Nguyễn Hữu Thắng, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
11 Nguyễn Quang Thử, Sở công thương tỉnh Quảng Nam
12 ThS Nguyễn Trí Tùng, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
Trang 3MỤC LỤC Nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn mô
1.1 Khái niệm về phát triển kinh tế, mô hình phát triển kinh tế 17
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển 22
1.2.2 Các mô hình lý thuyết về phát triển kinh tế-xã hội. 26
1.2.3 Một số mô hình phát triển kinh tế-xã hội thực tiễn 34
Chương II : Mô hình phát triển kinh tế-xã hội của các
2.2 Mô hình phát triển ktinh tế-xã hội của từng quốc gia cụ thể 57
2.3 Một số đánh giá chung về quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Trang 43.2 Lựa chọn mô hình phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam 1313.3 Giải pháp thực hiện thành công mô hình phát triển nền kinh tế
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới ở mọi thời đại Để đạt được mục tiêu này, việc lựa chọn các mô hình phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn, phù hợp với những đặc điểm riêng có của từng quốc gia có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, nó quyết định vận mệnh tương lai của một đất nước Thậm chí việc lựa chọn một mô hình kinh tế - xã hội đúng đắn của một quốc gia đã được xem như là biểu tượng của sức sáng tạo và quyền tự quyết của quốc gia ấy Bởi vậy, trong một thời gian dài, vấn đề lựa chọn các mô hình kinh tế được đặt ra một cách sôi nổi, không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các nước đang phát triển và các quốc gia chuyển đổi
Các nước Đông Nam Á nằm trong khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới Đặc biệt, các thành viên sáng lập ASEAN đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế khá mạnh và liên tục trong nhiều năm Những thành tựu không thể phủ nhận của các nước Đông Nam Á đã được đánh giá rất cao và được nhiều nước coi là biểu tượng của sự thành công và
là một hình mẫu để học tập Tuy nhiên, bên cạnh đó, những năm gần đây
đã xuất hiện một số ý kiến phê phán mô hình phát triển của các nước này
Dù sao, môi trường kinh tế toàn cầu hôm nay đã khác, tình hình kinh
tế xã hội trên thế giới ngày nay không còn giống thời kỳ những năm 60-70 của thế kỷ trước khi các mà nước Đông Nam Á bắt đầu quá trình CNH của mình nữa Do đó, Việt Nam hôm nay không thể rập khuôn máy móc những sách lược các quốc gia này đã sử dụng, song những bài học rút ra từ các kinh nghiệm cả thành công lẫn không thành công của các nước này là vô cùng quí báu và chắc chắc sẽ rất hữu ích cho Việt Nam trong công cuộc hiện đại hoá đất nước hôm nay
Những năm gần đây, cùng với xu thế toàn cầu hóa ngày càng mạnh
mẽ, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - tài chính đang lan rộng
Trang 6trên phạm vi toàn cầu như hiện nay, việc lựa chọn cho riêng mình một mô hình kinh tế xã hội phù hợp đang ngày càng trở nên vô cùng khó khăn.Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay đã bộc lộ nhiều vấn đề của các nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu Nó cũng đặt Việt Nam trước những thách thức về lựa chọn một mô hình phát triển mới Nhưng đây cũng là cơ hội để chúng ta đẩy mạnh cải cách kinh tế, khắc phục những sai lầm mà các nước trong khu vực và bản thân chúng ta đã trải qua những năm qua Chúng tôi đồng ý với phát biểu của nhà báo Nguyễn
Anh Tuấn khi cho rằng “Đất nước của chúng ta đang ở khúc ngoặt Mệnh lệnh của cuộc sống, mệnh lệnh của đất nước là phải nhân khó khăn này tái cấu trúc, sửa chữa tận gốc những khuyết tật cố hữu, tìm ra một cơ chế mới,
mô hình mới đưa đất nước hướng tới một tương lai phát triển chắc chắn, tốt đẹp và lâu dài” (Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn trong cuộc phỏng vấn nguyên Bộ trưởng Bộ thương mại Trương Đình Tuyển và GS Trần Văn Thọ ngày 23/03/2009) Vận hội, cơ may đang đến chúng ta nếu chúng ta
biết nhân cơ hội này mà lựa chọn một mô hình phát triển tốt hơn Nhưng thách thức cũng đang rình rập sẵn sàng thử thách chúng ta Nếu chúng ta đưa ra được những chiến lược phát triển thích hợp với năng lực của dân tộc, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước thì chúng ta có thể bước vào những chuyến tàu tốc hành của thời đại, còn không chúng ta
sẽ bỏ lỡ chuyến tàu trăm năm mới có một lần Chính vì vậy, công việc nghiên cứu tình hình kinh tế các nước trên thế giới nói chung, các nước khu vực Đông Nam Á nói riêng nhằm tìm kiếm những bài học cả thành công và không thành công mà các nước đã trải qua để đưa ra con đường ngắn nhất, hợp lý nhất, đỡ tốn kém nhất cho quốc gia, dân tộc trong những năm tới đã
và vẫn là những đề tài khoa học có ý nghĩa thiết thực, cấp bách
Từ cuối những năm 70, rất nhiều công trình nghiên nghiên cứu về các nước Đông Nam Á đã lẫn lượt ra mắt bạn đọc Đặc biệt, trong khoảng một thập kỷ qua, số lượng nghiên cứu về khu vực kinh tế phát triển năng động này của các học giả trên thế giới, khu vực và Việt Nam ngày càng
Trang 7nhiều Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này đều nghiên cứu các nước Đông Nam Á với tư cách là một tổ chức khu vực, hoặc nghiên cứu về từng nước Đông Nam Á Trong số những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước mà chúng tôi có điều kiện tiếp cận, chưa có một công trình nghiên cứu nào đưa ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoạch định mô hình phát triển từ thực tiễn phát triển của các nước Đông Nam Á Do đó, một đề tài nghiên cứu vấn đề này là cần thiết và sẽ có ý nghĩa thiết thực
Với những lý do nêu trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Mô hình phát triển kinh tế - xã hội của các nước Đông Nam Á và giá trị tham khảo đối với Việt Nam” để nghiên cứu Hy vọng những kết quả nghiên cứu của đề
tài sẽ là tài liệu có ý nghĩa thiết thực đối với những nhà hoạch định chính sách của Việt Nam và tất cả những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề này
2 Tình hình nghiên cứu
Nằm trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phát triển năng động nhất thế giới trong vài thập kỷ trở lại đây, sự tăng trưởng kinh tế tương đối cao của các nước Đông Nam Á đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội cũng như các nhà hoạch định chính sách Hàng trăm công trình nghiên cứu đã được công bố trong khoảng gần hai thập kỷ qua Nhìn chung đa số những nghiên cứu này đã đánh giá tốt quá trình phát triển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam Á Tuy nhiên cũng có những đánh giá trái chiều về quá trình phát triển của các quốc gia này Đặc biệt trong những năm gần đây, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm
1997 làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến qúa tình tăng trưởng và phát triển của các nước này, số lượng các nghiên cứu phê phán mô hình phát triển này đã tăng lên Thậm chí, gần đây nhóm nghiên cứu của Đại học Havard
đã cho rằng mô hình phát triển của một số nước Đông Nam Á là thất bại một cách tương đối (xem Tạp chí những vấn đề chính trị - xã hội, số 26+27, 7/2008) Bằng chứng mà nhóm nghiên cứu này đưa ra là các quốc
Trang 8gia này tuy chưa đạt được mức thu nhập bình quân đầu người cao như các nước NIEs (Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan) nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế đã có xu hướng chững lại Thêm nữa, để có được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong thời gian qua, các quốc gia này đã phải trả một cái giá tương đối đắt là sự cạn kiệt nhanh chóng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự ô nhiễm thậm chí là nghiêm trọng môi trường sống Ở một số quốc gia, những vấn đề phức tạp về xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng như hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng rộng, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chính trị ngày càng gia tăng
Chúng tôi sẽ điểm lại một số nghiên cứu chính trong và ngoài nước theo hai nhóm khác nhau: Những nghiên cứu đánh giá mô hình kinh tế xã hội của Đông Nam Á là thành công và những nghiên cứu phên phán mô hình phát triển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam Á
2.1 Những nghiên cứu đánh giá Đông Nam Á là thành công
Năm 1993, Ngân hàng thế giới ra một báo cáo trong đó gọi các nước Đông
Á, trong đó có các nước Đông Nam Á là “thần kỳ” là một trong những điểm mở đầu cho một làn sóng ca ngợi sự thành công của các nước Đông Nam Á
Trong cuốn “Những bài học từ kinh nghiệm tăng trưởng của khu vực Đông
và Đông Nam Á”, do Đinh Trọng Minh dịch, Nhà xuất bản chính trị quốc
gia ấn hành năm 1999, các tác giả đã tập trung trình bày một số nhân tố cơ bản tạo cơ sở cho sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế Đông và Đông Nam Á Một trong những kết luận mà các tác giả đưa ra là “…các nước đang phát triển, với kết quả hoạt động xuất khẩu tốt hơn, sẽ đạt được tăng trưởng kinh tế cao hơn” Nói cách khác, nhóm tác giả đã ca ngợi mô hình kinh tế hướng về xuất khẩu của các nước Đông và Đông Nam Á, coi đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thành công trong tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này trong những thập kỷ vừa qua
Trang 9Tiến Sỹ Nguyễn Thị Hiền trong tác phẩm “Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước Đông Nam Á”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
ấn hành năm 2002 đã mô tả quá trình phát triển kinh tế xã hội gắn liển với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của ba nước Philippines, Singapore, và Thailand Theo tác giả, ba nước Đông Nam Á kể trên đã thành công về mặt kinh tế nhờ biết tận dụng những lợi thế so sánh của mình
so với phần còn lại của thế giới để hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu Mỗi nước có một lợi thế khác nhau, nhưng điểm chung ở họ là chính phủ đã đưa ra được những chính sách phát triển hợp lý, phát huy được những lợi thế này để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đẩy mạnh xuất khẩu và gặt hái những thành công trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của mình
PGS, TS Lê Bàn Thạch và TS Trần Thị Tri trong cuốn “Công nghiệp hóa
ở NIEs Đông Á và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nhà xuất bản
thế giới 2000) đã đánh giá rất tỉ mỉ các bước, các giai đoạn quá trình công nghiệp hóa của các nước NIEs trong đó đáng chú ý là quá trình CNH của một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á là Singapore Các tác giả đã đánh giá cao nỗ lực của các nền kinh tế Đông Á trong quá trình CNH đất nước Theo các tác giả, mặc dù đây là những quốc gia hoặc vùng lãnh thổ vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa, hoặc vừa tách ra thành thực thể chính trị độc lập, các nước Đông Á gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình công nghiệp hóa do nguồn vốn hạn hẹp, trình độ công nghệ non kém và chưa có được mối quan hệ kinh tế quốc tế rộng rãi, nhưng nhân dân và chính phủ các quốc gia này đã thể hiện một ý chí và quyết tâm lớn trong việc tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, đưa sự nghiệp CNH của họ đi lên bằng những chiến lược, quyết sách quan trọng, phù hợp và họ đã gặt hái được những thành công to lớn Quá trình CNH được coi là thành công của các nước NIEs đã tạo ra cho các nước này một nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối hiện đại, cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến rất cơ bản theo hướng hiện đại, đời sống nhân dân vì thế cũng được cải thiện đáng kể, vị thế của
Trang 10các nước trên thế giới đã được khẳng định Kết luận lại các tác giả này cho rằng sự thành công của các nước NIEs là không thể phủ nhận, rằng “NIEs
đã khá thành công trong việc lựa chọn mô hình CNH, trong việc nắm bắt nhanh nhạy thời cơ và thách thức, kịp thời điều chỉnh các bước đi chiến lược để khai thác đầy đủ các lợi thế so sánh của đất nước, kết hợp chặt chẽ nguồn lực bên trong và bên ngoài, tạo dựng môi trường trong nước và quốc
tế thuận lợi phục vụ cho CNH”
TS Phạm Mộng Hoa trong cuốn “Địa lý kinh tế - xã hội các nước ASEAN”
do Nhà xuất bản khoa học xã hội ấn hành năm 1999 đã đánh giá quá trình phát triển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam Á (ngoại trừ Philippines)
là khá thành công Từ những nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu khi giành được độc lập hoặc thành lập thể chính trị độc lập, các quốc gia Đông Nam Á đã nhanh chóng trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình hoặc cao trên thế giới chỉ sau vài thập niên Nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể Một bộ phận quan trọng người dân ở các nước này đã thoát khỏi cuộc sống đói nghèo trước đây Một số nước như Singapore đã thành công trong việc bảo vệ môi trường trong quá trình CNH Đạt được những thành tựu này là do các quốc gia Đông Nam Á đã không ngừng theo đuổi các mục tiêu phát triển kinh tế
và đã có những chính sách phát triển kinh tế phù hợp với điệu kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mình Bên cạnh đó các nước này cũng khá thành công trong việc tận dụng những điều kiện quốc tế thuận lợi và vị trí địa chính trị quan trọng của mình để thu hút đầu tư, công nghệ nước ngoài phục vụ mục tiêu CNH của mình
Tác giả Dương Hồng Nhung trong bài viết “Công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu của ASEAN và đầu tư trực tiếp của Nhật Bản”1 đã cho rằng, thực
tế cho thấy, viện trợ và đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những yếu
tố dẫn đến thành công trong tăng trưởng kinh tế của các nước Đông Nam
1 Xem “ASEAN những vấn đề và xu hướng”, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1997
Trang 11Á Theo Dương Hồng Nhung, “Các nước ASEAN đã xác định đúng chiến lược kinh tế và cũng nắm được đúng thời cơ để thực hiện chiến lược đó, chiến lược “công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu” xét trên cả phạm vi quốc
tế và khu vực”
2.2 Các nghiên cứu phê phán mô hình kinh tế của các nước Đông Nam Á
Trong cuốn “Kinh tế các nước Đông Nam Á: thực trạng và triển vọng”
(Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2002), hai tác giả Phạm Đức Thành và Trương Duy Hòa đã mô tả kinh tế các nước Đông Nam Á “không phải là bức tranh ảm đạm nhưng cũng không thật sáng sủa như chúng ta mong muốn” Đánh giá về mô hình phát triển của các nước này, hai tác giả nhận định “đó là một kiểu mô hình tăng trưởng nhanh do dựa chủ yếu vào việc
sử dụng các yếu tố đầu vào như vốn và nhân công nhiều nhưng hiệu suất kinh tế lại không tăng được bao nhiêu Nói cách khác đó là mô hình phát triển mà hiệu năng kinh tế đầu tư thấp: Tỷ số ICOR – tỷ số tăng đầu tư trên tăng sản lượng- cao (khoảng 5-6 lần so với mức trung bình là 3-4 lần) nhưng tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có – ROE- thấp, khoảng 5% hay ít hơn”
Bên cạnh những thành công như đã đánh giá, PGS, TS Lê Bàn
Thạch và TS Trần Thị Tri trong cuốn “Công nghiệp hóa ở NIEs Đông Á
và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nhà xuất bản thế giới 2000)
cũng đã chỉ ra nhiều khiếm khuyết trong quá trình CNH của các nước NIEs Về kinh tế, chiến tăng trưởng của các nước này đã dẫn đến sự lệch lạc trong phân bố cơ cấu vùng, sự tàn phá quá mức môi trường sinh thái
Sự coi trọng quá mức nguồn vốn và công nghệ nước ngoài đã dẫn đến việc phụ thuộc của đất nước vào các yếu tố bên ngoài không thể kiểm soát được
Về xã hội, quá trình CNH của các nước này đã không được gắn liền với quá trình dân chủ hóa, coi trọng nhân tố con người, công bằng xã hội nên
Trang 12quá trình CNH của các nước này đã khai thác cạn kiệt nguồn lực con người
và làm tăng bất công trong xã hội
Trong tác phẩm “Những con rồng lâm bệnh” (nhà xuất bản khoa học
xã hội ấn hành năm 2000) tác giả Vũ Tuấn Anh đã cho rằng, cơn bão khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 quét qua các nước Đông Nam Á đã làm bộc lộ rõ những nhược điểm, căn bệnh cơ bản của của các nền kinh tế này Theo Tác giả mặc dù nền kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng tương đối cao và liên tục nhưng những yếu kém bên trong của nền kinh tế ngày càng bộc lộ rõ và khủng hoảng kinh tế
là không thể tránh khỏi Những yếu kém này thể hiện ở chỗ (i) nền kinh tế
đã phát triển quá nhanh gây áp lực lên giá cả và sử dụng cơ sở hạ tầng quá mức Ví dụ ở Thailand, giá cả thường xuyên tăng cao, năm 1996 đạt mức 5,9%; tiền lương tối thiểu của công nhân trong vòng 10 năm tăng trung bình 8,5%, tăng ở mức cao hơn nhiều so với mức tăng năng suất lao động 3%/năm Lạm phát và chi phí lao động tăng mạnh ở Thailand đã phản ánh tình trạng nền kinh tế phát triển quá nóng và sự thiếu hụt lao động lành nghề (ii) thâm hụt tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài ở mức quá cao thể hiện sự mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế (iii) Những sai lầm trong chính sách tỉ giá hối đoái, việc định giá đồng nội tệ quá cao dẫn đến sự sai lệch trong giá trị tiền tệ (iv) Hệ thống ngân hàng yếu kém, hoạt động kém hiệu quả không đáp ứng được sự phát triển của nền kinh tế (v) Khu vực tư nhân phụ thuộc quá lớn vào nợ ngắn hạn nước ngoài (vi) Chính phủ bị lũng đoạn bởi chế độ gia đình trị và tệ mọc ngoặc, tham nhũng Những yếu kém kể trên của các nền kinh tế Đông Nam Á là những bài học đắt giá cho tất cả các nước đi sau nếu không muốn vướng phải những “nốt trầm” trong
“bản hùng ca” tăng trưởng kinh tế
Gần đây nhóm nghiên cứu của Đại học Havard trong bài “lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai Việt Nam”
(Tạp chí những vấn đề chính trị xã hội 7/2008) đã khẳng định rằng “con đường của các nước Đông Á là con đương thẳng để đạt tới sự thịnh vượng,
Trang 13ổn định và kính trọng của cộng đồng quốc tế Còn con đường của các nước Đông Nam Á thì vòng vèo và gồ ghề hơn, đưa các quốc gia này tới một hiện tại mong manh hơn và một tương lai bất định hơn, với nỗi ám ảnh của bất công và bất ổn” Cũng theo bài viết này, cho đến nay nền kinh tế của các nước Đông Nam Á vẫn dựa vào việc khai thác lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên Chính phủ của các nước này đã bị suy yếu một cách đáng kể “vì tham nhũng và chính trị bẩn thỉu chạy theo đồng tiền” (trang 19) Quá trình đô thị hóa của các nước này đã diễn ra một cách hỗn loạn, với hàng triệu con người đang phải sống lay lắt trong các khu ổ chuột và nghèo đói Bởi vậy, bất ổn về mặt xã hội là điều không thể tránh khỏi Các cuộc biểu tình lớn, bạo loạn lật đổ không còn là chuyện hiếm của các quốc gia như Thailand, Philippines, hay Indonesia Cuối cùng xét về mặt nào đó,
mô hình phát triển của các nước Đông Nam Á là một sự “thất bại tương đối” nếu so sánh với các nước Đông Á
Bên cạnh những cuốn sách đã được trình bày ở trên còn rất nhiều bài nghiên cứu đã được công bố liên quan đến các vấn đề cụ thể về kinh tế xã hội ở các nước Đông Nam Á Một số bài cơ bản có thể kể như:
- Hồ Châu (1997), ” Vai trò nhà nớc trong hoạch định chiến lợc phát triển kinh tế ở các nớc ASEAN”, tạp chí Kinh tế và dự báo, số 11/1997
- Mai Ngọc Cường (1993), “Phát triển kinh tế hớng về xuất khẩu ở các
nớc ASEAN”, tạp chí Những Vấn Đề Kinh Tế Thế Giới, số 3 năm
1993
- An Như Hải (1996), “Rút ngắn thời gian công nghiệp hoá - xu hớng có tính quy luật ở các nớc ASEAN”, tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 10/1996
- Nguyễn Thị Luyến (1993), “Điều tiết của chính phủ trong quá trình
công nghiệp hóa: kinh nghiệm của các nớc ASEAN”, tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 4/1993.
Trang 14- Bùi Tất Thắng (1999), “Về mô hình phát triển kinh tế bền vững ở các nớc ASEAN”, tạp chí Thông tin lý luận, số 3/1999.
- Đinh Thị Thơm (1996), “Một số vấn đề trong quá trình chuyển đổi chiến lược công nghiệp hóa ở các nớc ASEAN”, tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 51996
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã mô tả và đưa ra lý giải khá đa dạng, nhiều mặt của những thành công cũng như chưa thành công của trong
mô hình phát triển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam Á, tuy nhiên chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu về những bài học không chỉ thành công mà còn các kinh nghiệm không thanh công của các nước Đông Nam Á cho Việt Nam Đặc biệt trong điều kiện hiện thay thế giới đã có nhiều đổi thay Tình hình không cho phép chúng ta sao chép nguyên si những gì mà các nước đã trải qua Đúng như Haughton
(1994) nhận định “Nhà nông khôn ngoan ngày nay biết rằng cần phải học tập, chứ không phải sao chép mọi chi tiết kinh nghiệm của các nhà nông đã thành công nhất trong khu vực” (Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng
rồng bay, trang 37) Vậy đâu là những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn phát triển của các quốc gia Đông Nam Á Nghiên cứu này vì thế được tiến hành để giải quyết vấn đề nêu trên
3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu chung của đề tài là trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn lựa chọn mô hình phát triển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam
Á, đề xuất những bài học kinh nghiệm nhằm xây dựng một mô hình phát triển phù hợp nhất cho Việt Nam trong hoàn cảnh mới, khi đất nước đang trong quá trình mở cửa, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới
Để đạt mục tiêu chung đề ra ở trên, đề tài tập trung giải quyết các mục tiêu cụ thể:
- Góp phần làm rõ những quan điểm khác nhau, đặc điểm và ý nghĩa của mô hình kinh tế xã hội
Trang 15- Đánh giá việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế - xã hội của các nước Đông Nam Á, những mặt thành công và chưa thành công mà các nước này đã trải qua.
- Phân tích quá trình lựa chọn và chuyển đổi mô hình kinh tế - xã hội
ở Việt Nam, đánh giá những mặt thành công và chưa thành công của các
mô hinh mà Việt Nam đã lựa chọn Luận giải những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thành công hoạc hạn chế của các mô hình
- Đề xuất các giải pháp giải pháp vận dụng những kinh nghiệm mà các nước Đông Nam Á đã trải qua vào xây dựng một mô hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới hiện nay
4 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài hướng đến việc giải quyết 4 vấn đề lớn như sau:
Thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình kinh tế-xã
hội và việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia
Thứ hai: Nghiên cứu thực tiễn lựa chọn mô hình và phát triển kinh tế
xã hội của các nước Đông Nam Á Đánh giá các thành tựu đạt được cũng như những nhược điểm của mô hình
Thứ ba: Đánh giá lại quá trình lựa chọn mô hình phát triển kinh tế xã
hội của Việt Nam thời gian qua, những thành tựu đạt được cũng như những điểm còn hạn chế
Thứ tư: Đề xuất giải pháp lựa chọn mô hình phát triển kinh tế-xã hội
Việt Nam trong những năm tới trên cơ sở tham khảo những bài học thành công cũng như chưa thành công mà các nước Đông Nam Á đã trải qua.Nội dung cụ thể của từng chương được dự kiến như sau:
Trang 16Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế-xã hội
Chương 2 Mô hình phát triển kinh tế-xã hội của các nước Đông Nam
Á và bài học rút ra.
Chương 3 Lựa chọn mô hình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam.
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận
- Tăng cường sự hiểu biết về lý luận mô hình kinh tế xã hội Góp phần làm
rõ nội dung, ý nghĩa của mô hình kinh tế xã hội, những nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của mô hình kinh tế xã hội
- Phân tích thực trạng các mô hình kinh tế xã hội ở các nước Đông Nam Á
và Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn:
- Đưa ra các giải pháp học tập những kinh nghiệm thực tiễn mà các nước Đông Nam Á đã trải qua và vận dụng vào việc lựa chọn và thực hiện mô hình kinh tế xã hội ở Việt Nam những năm tới
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và học tập môn kinh tế phát triển trong và ngoài hệ thống Học Viện
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách ở
Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LỰA MÔ HÌNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
Trên thực tế mỗi quốc gia đều tìm cho mình một con đường phát triển riêng dựa trên hoàn cảnh cụ thể của đất nước về tự nhiên, kinh tế, xã hội… Trong 25 năm đổi mới và phát triển vừa qua, Việt Nam đã thu được những thành tựu rất có ý nghĩa trong thúc đẩy tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân,… Có rất nhiều nguyên nhân lý giải cho sự thành công của Việt Nam thời gian qua nhưng có lẽ nguyên nhân bao trùm nhất, tổng quát nhất mà không ai có thể phủ nhận là sự chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế-xã hội từ mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang phát triển một nền kinh tế thị trêng định hướng XHCN gắn với “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Tuy vậy, mô hình đó những năm gần đây
cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định như “đã để mô hình phát triển
theo chiều rộng quá lâu”2 Để khắc phục hạn chế này, dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến 2020 đã chỉ ra rằng trong những năm tới chúng ta phải thay đổi mô hình phát triển Điều này cho thấy, để có thể tránh được nguy cơ tụt hậu, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, phát triển bền vững, Việt Nam, trong những năm tới, cần hoàn thiện mô hình phát triển đất nước
Để làm rõ cơ sở cho việc lựa chọn mô hình phát triển mới của Việt Nam, phần này chúng tôi xin trình bày một số mô hình lý luận và thực cơ bản về
mô hình phát triển kinh tế xã hội đã tồn tại trên thế giới
1.1 KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1.1 Khái niệm phát triển kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm
2 Ý kiến của nguyên bộ trưởng bộ thương mại Trương Đình Tuyển trong bài phỏng vấn Tuần Việt Nam net ngày 06/08/2010.
Trang 18Có thể nói, phát triển kinh tế là mục tiêu của tất cả các quốc gia dân
tộc trên toàn thế giới Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống 3 Như
vậy, sự phát triển của quốc gia trong một giai đoạn nhất định được xem xét trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự tiến bộ về xã hội
Sự gia tăng về kinh tế còn được gọi là sự tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Nếu tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên thì nó được coi là tăng trưởng kinh tế.
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của GNI hay GDP4 Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó
Khi đo lường sự tăng trưởng, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Một là: Mức tăng trưởng tuyệt đối
- Theo tổng sản phẩm (GNI hay GDP) của nền kinh tế:
Yn-1: tổng sản phẩm của năm liền kề trước đó
- Theo tổng sản phẩm bình quân đầu người:
3 Kinh tế học phát triển, NXB Chính Tri Quốc Gia, 2006.
4 Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết
tắt của Gross Domestic Product).GDP là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch
vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm).
Trang 19y
: tổng sản phẩm bình quân đầu người của năm n so với năm liền kề trước đó s(n-1)
yn: tổng sản phẩm bình quân đầu người của năm n
yn-1: tổng sản phẩm bình quân đầu người của năm liền kề trước đó
Hai là: Tốc độ tăng trưởng
- Theo GNI (GDP) của nền kinh tế:
[%]
100 100
)
(
1 1
Y
Y x
Y
Y Y Y
g
n
n n
n n n
)
(
1 1
y
y x
y
y y y
g
n
n n
n n n
Giữa khái niệm tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan
hệ mật thiết với nhau Trong đó, tăng trưởng là một chỉ tiêu, một điều kiệncủa phát triển kinh tế.Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập của dân cư Tăng ngân sách nhà nước đến lượt nó
là điều kiện giúp Nhà nước tăng đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức khỏecho nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải phóng sức sản xuất và có điều kiện giải quyết các chính sách xã hội (phát triển) Ngược lại sự phát triểnkinh tế sẽ là động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng Tuy nhiên, tăng trưởng không tự động dẫn đến sự hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và tiến bộ xã hội (phát triển) Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ cho phát triển kinh tế Nếu tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng không dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, theo hướng hiện đại; cuộc sống tinh thần của nhân dân không được cải thiện; phân hóa
xã hội ngày càng tăng lên; môi trường ngày càng ô nhiễm và bị hủy hoại thì chỉ có tăng trưởng mà không có phát triển Phát triển kinh tế không chỉ bao
Trang 20gồm những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế mà còn bao gồm
cả những thay đổi về chất lượng cuộc sống Một số nội dung cơ bản của phát triển kinh tế có thể được trình bày như sau:
Thứ nhất, để có sự phát triển kinh tế-xã hội thì trước hết nền kinh tế
phải có sự tăng trưởng trong GDP, thậm chí là tăng trưởng với tốc độ cao,
đó là sự tăng lên về quy mô sản xuất làm tăng thêm giá trị sản lượng của cải vật chất, dịch vụ Bên cạnh tăng trưởng, nền kinh tế phải đạt được sự biến đổi tích cực về cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng, lãnh thổ; tạo ra một
cơ cấu kinh tế hợp lý có khả năng khai thác lợi thế trong nước và tiếp thu thành tựu của văn minh nhân loại
Thư hai, tăng trưởng kinh tế là động lực làm thay đổi cơ cấu xã hội,
cải thiện đời sống dân cư, giảm bớt đói nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư, bảo đảm công bằng xã hội Tăng trưởng là tiền đề cơ bản nhất cho phát triển nhưng tăng trưởng bản thân nó không tự phát đưa một đất nước đi đến một trình độ phát triển cao được Để có một xã hội phát triển thì những thành tựu của tăng trưởng phải được sử dụng một cách hợp lý Tăng trưởng phải mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho đại đa số người dân, số người nghèo, đói phải giảm đi, khoảng cách về mức sống giữa các tầng lớp dân cư phải được đảm bảo hợp lý, không có sự bất bình đẳng quá lớn…
1.1.1.2 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là một phạm trù kinh tế - xã hội rộng lớn Để đo trình độ phát triển của một quốc gia, người ta thường dùng hệ thống các chỉ tiêu sau:
- Tăng trưởng kinh tế: là sự gia tăng về quy mô sản lượng hay giá trị
gia tăng của hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế Nó thường được thể hiện qua các chỉ tiêu tỉ lệ tăng trưởng tổng GDP, GNP hay GNI… hoặc chỉ tiêu tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tăng trưởng kinh tế càng nhanh thì đất nước
Trang 21càng có điều kiện để cải thiện các chỉ tiêu khác của phát triển kinh tế-xã hội
- Chăm sóc sức khỏe cộng đồng thể hiện qua các chỉ số như tỷ lệ chết
của trẻ sơ sinh; số giường bệnh, số bác sĩ so với dân cư; tuổi thọ trung bình Trong đó tuổi thọ trung bình của người dân là chỉ tiêu tổng hợp nhất, nó phản ánh kết quả tổng hợp của sự chăm sóc y tế đối với sức khỏe cộng đồng, mức sống vật chất và tinh thần của dân cư
- Trình độ học vấn của dân cư là chỉ tiêu phản ánh chất lượng trí tuệ
của đội ngũ lao động và dân cư Chỉ tiêu này bao gồm các chỉ số: tỷ lệ người biết chữ so với tổng dân số; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường; tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học so với tổng dân cư
- Mức sống về vật chất và tinh thần của người dân, tình trạng đói
nghèo, thất nghiệp, bất bình đẳng trong thu nhập
Để đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn mức độ phát triển xã hội, Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ tiêu phát triển con người (HDI)5, là chỉ tiêu tổng hợp ba chỉ số cơ bản dưới đây:
Chỉ số a: GNI bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP) (USD/người/năm)
Chỉ số b: chỉ số về giáo dục (tỷ lệ % người lớn biết chữ)
Chỉ số c: chỉ số về y tế (tuổi thọ bình quân trên cả nước)
Theo đánh giá của UNDP, chỉ số HDI của Việt Nam năm 2010 xếp thứ 113/169 nước trên thế giới
Bên cạnh những chỉ tiêu liên quan đến mức sống và điều kiện sống của người dân như đã trình bày ở trên, mức độ phát triển của một quốc gia còn được đo bằng một số chỉ tiêu liên quan đến thực trạng của nền kinh tế như sau:
- Chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận
hợp thành với vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy
5 Human Development Index
Trang 22trong một hệ thống thống nhất Nhưng để xem xét một cơ cấu kinh tế, người ta thường xem xét mối quan hệ tỷ lệ giữa ba lĩnh vực cơ bản là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) Nền kinh tế phát triển thì tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ trong GDP ngày càng cao, còn nông nghiệp thì giảm đi tương đối; tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng đến mức nào đó rồi dừng lại; còn tỷ trọng dịch vụ trong GDP thì không ngừng tăng lên tương ứng.
- Chỉ tiêu tiết kiệm và mức đầu tư phản ánh đầu tư tăng trưởng kinh
tế trong chu kỳ tiếp theo Bởi vì, tiết kiệm tiêu dùng thì phần tích lũy cho đầu tư phát triển tăng lên Đầu tư nhiều sẽ tăng quy mô sản xuất và gia tăng giá trị sản lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
- Tỷ lệ dân số đô thị và nông thôn; tỷ lệ lao động công nghiệp, dịch
vụ và lao động nông nghiệp là kết quả của phát triển sản xuất làm thay đổi
cơ cấu ngành nghề, thay đổi cơ cấu xã hội và dân cư
Dựa vào các tiêu chí trên, năm 2000, chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đã tiến hành khảo sát 198 quốc gia trên thế giới và đưa ra bảng phân loại trình độ phát triển của các quốc gia Danh sách này, cho đến nay, hầu như vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể nào, (xem bảng 1)
Bảng 1: Trình độ phát triển của các quốc gia trên thế giới 6
Nhóm nước (USD/người/năm)Chỉ số a Chỉ số b(%) Chỉ số c(tuổi)
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển
Trong mô hình phát triển kinh tế, nếu sản lượng được gọi là biến phụ thuộc thì các nhân tố ảnh hưởng là các biến độc lập Đó là các nhân tố đóngvai trò quyết đế tăng trưởng và phát triển của một quốc gia Trên thực tế có rất nhiều nhân tố đóng vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng và phát
6 Theo đánh giá của UNDP năm 2000.
Trang 23triển kinh tế, nhưng thông thường chúng được chia ra làm hai nhóm cơ bản sau:
1 1.2.1 Nhóm các nhân tố kinh tế
- Các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào (nguồn lực sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, tri thức) theo các cách thức nhất định để tạo ra các đầu ra (tổng sản phẩm trong nước - GDP hay tổng thu nhập quốc dân - GNI) theo nhu cầu của xã hội
Nếu ta gọi các biến số đầu vào là Xihàm số đầu ra là Y, thì sự tăng trưởng có mối quan hệ hàm số sau:
+ Vốn sản xuất: Ở bất kỳ nền kinh tế nào, vốn luôn là nhân tố đóng
một vai trò vô cùng quan trọng đối với qúa trình sản xuất, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay công nghệ sản xuất cao càng đòi hỏi đầu tư vốn lớn Vốn được thể hiện ra bên ngoài là các tư liệu sản xuất như máy móc, thiết
bị, phương tiện vận tải, kho hàng, kết cấu hạ tầng và kỹ thuật… Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ dẫn đến tăng thêm sản lượng sản phẩm hàng hóa Tất nhiên, trong thực tế sự tăng thêm giá trị sản lượng hàng hóa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn chất lượng lao động, trình độ kỹ thuật v.v…
+ Lao động: là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất Mọi
hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó, chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất
Trang 24+ Đất đai: là yếu tố sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng trong
nền kinh tế nông nghiệp Đối với sản xuất công nghiệp và dịch vụ đất đai cũng là một trong các đầu vào không thể thiếu Đất đai là yếu tố cố định, lại
bị giới hạn bởi quy mô, nên việc sử dụng đất đai một cách có hiệu quả làyêu cầu quan trọng trong tất cả các giai đoạn phát triển của nền kinh tế.+ Các loại tài nguyên từ trong lòng đất (khoáng sản, nước ngầm), tài nguyên sông, biển và các tài nguyên thiên nhiên khá đều là yếu tố đầu vào của sản xuất
+ Tri thức: Ngày nay tri thức được coi là một yếu tố đầu vào trực
tiếp của quá trình sản xuất có vai trò rất quan trọng Nó quyết định sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Những phát sinh, sáng chế mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội hiện đại
1.1.2.2 Nhóm các nhân tố phi kinh tế
Khác với nhóm các nhân tố kinh tế, các yếu tố phi kinh tế thường không tác động trực tiếp đến tăng trưởng và phát triển kinh tế nhưng lại có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến quá trình phát triển nói chung Tuy nhiên, những ảnh hưởng của các nhân tố phi kinh tế đến tăng trưởng kinh tế lại rấtkhó lượng hoá bằng các chỉ tiêu cụ thể Một số nhân tố phi kinh tế chủ yếu
có thể kể đến là:
- Thể chế chính trị và đường lối phát triển kinh tế-xã hội: Thể chế là
các qui định theo đó các cá nhân, công ty và nhà nước tác động lẫn nhau.Như vậy, thể chế kinh tế - xã hội là các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế -
xã hội, pháp luật, các chế độ, chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện những chính sách, nguyên tắc này Ngày nay, thể chế chính trị, đường lối phát triển kinh tế-xã hội được coi là nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội Bởi vì thể chế biểu hiện như một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế-chính trị-xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra Một thể chế chính trị,
Trang 25kinh tế, xã hội ổn định, hiện đại là điều kiện thuận lợi để các hoạt động kinh tế diễn ra suôn sẻ, ngược lại thể chế không phù hợp sẽ gây ra những cản trở, mất ổn định, thậm chí làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng hoặc gây ra những xung đột chính trị-xã hội.
- Đặc điểm dân tộc: Trong một quốc gia thông thường có sự tồn tại,
sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau Bên cạnh những điểm tương đồng, các dân tộc đều có những nhu cầu khác nhau về văn hóa, kinh tế, tập quán sống và sản xuất Những đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia Nếu chính sách của một quốc gia tốt sẽ huy động, khai thác và sử dụng được những tiềm năng, năng lực sản xuất của các dân tộc vào việc thực hiện tăng trưởng và phát triển, qua
đó mỗi dân tộc đều có được lợi ích nhờ lao động của chính bản thân mình Ngược lại, khi chính sách phát triển chỉ mang lại lợi ích cho dân tộc này, nhưng lại gây tác hại đến vùng khác, dân tộc khác thì sẽ trở thành nguyên nhân của sự xung đột giữa các sắc tộc
- Đặc điểm tôn giáo: Vấn đề tôn giáo gắn liền với vấn đề dân tộc
Trong quốc gia đa dân tộc thường có nhiều tôn giáo khác nhau, quy mô và mức độ tín ngưỡng của các tôn giáo phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội Song, dù ở quy mô và mức độ nào thì các tôn giáo đều có quan niệm, triết lý, tư tưởng riêng ăn sâu vào cuộc sống của giáo dân từ đời này qua đời khác và khó có thể thay đổi Các thiên kiến của tôn giáo thường tạo ra một tâm lý xã hội biệt lập của tôn giáo mình Do đó, các cuộc xung đột vì lý do tôn giáo rất dễ xảy ra gây ảnh hưởng đến an ninh và sự ổn định của một đất nước Một chính sách đóng đắn về tôn giáo là điều kiện cần thiết tạo ra sự hòa hợp giữa giáo dân, khai thác các nhân tố tích cực của tôn giáo phục vụ tăng trưởng và phát triển
- Đặc điểm văn hóa: Văn hóa là một phạm trù rộng lớn, bao trùm
nhiều mặt, từ tri thức phổ thông, khoa học, văn hóa nghệ thuật đến lối sống, tập quán, cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp… được hình thành và tích lũy trong một quá trình phát triển của dân tộc gắn liền với việc tiếp thu
Trang 26những tinh hoa của văn minh nhân loại Có thể nói, trình độ văn hóa của một dân tộc là nhân tố cơ bản tạo ra chất lượng của đội ngũ lao động, do đó
là nhân tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển
1.2 Mô hình phát triển kinh tế xã hội
Hà Nội, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các tác giả đưa ra định nghĩa: “Mô hình kinh tế là cách diễn đạt cơ bản nhất về sự phát triển kinh tế thông qua các biến số kinh tế và các mối quan hệ giữa chúng,
để từ đó hiểu rõ hơn các xu hướng vận động của nền kinh tế”7 Theo chúng tôi, đây là cách hiểu mô hình phát triển kinh tế theo nghĩa hẹp hay mô hìnhkinh tế thể hiện bằng toán học, nó phản ánh mối quan hệ giữa các biến số độc lập là các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và biến phụ thuộc là quá trình phát triển kinh tế
Khái niệm mô hình phát triển kinh tế-xã hội mà chúng tôi đề cập ở đây mang nghĩa rộng hơn nhiều Đó là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức các hoạt động kinh tế nhằm đưa đất nước phát triển từ trình độ hiện tại lên trình
độ phát triển hơn Nó biểu diễn cách thức vận động của nền kinh tế từ trình
độ này lên trình độ khác cao hơn Nó trả lời cho câu hỏi quá trình phát triển của một quốc gia đã diễn ra như thế nào, những chiến lược nào đã được sử dụng để đưa đất nước đi lên.
1.2.2 Các mô hình lý thuyết về phát triển kinh tế-xã hội.
7 Giáo trình “kinh tế phát triển”, NXB Thống Kê, 2002, tr 55
Trang 27Lựa chọn mô hình phát triển là một trong những vấn đề côt lõi nhất của tất
cả các quốc gia trên thế giới Bởi vậy, đến nay đã có nhiều mô hình lý thuyết về phát triển kinh tế-xã hội được xây dựng Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi xin trình bày một số lý thuyết tiêu biểu sau đây:
1.2.2.1 Mô hình kinh tế xã hội cổ điển với luận điểm cơ chế thị
trường tự do và sự hài hòa xã hội
Ra đời vào thế kỷ 18, trường phái kinh tế học tư sản cổ điển bao gồm các nhà tư tưởng vĩ đại như A.Smith, David Ricardo, và Malthus… Luận
điểm cơ bản của trường phái này là hãy để mặc cho thị trường hoạt động, nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế Theo họ, thị trường tự do
hoạt động là điều kiện để nền kinh tế tự điều chỉnh và đạt được mức hiệu quả nhất Đại biểu cho những luận thuyết này là Adam Smith (1723-1790) Những tư tưởng của ông được thể hiện trong các công trình nghiên cứu rất
nổi tiếng về nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như "Lý thuyết về những tình cảm đạo đức" (1759), "Của cải của các dân tộc" (1776)*
Qua các tác phẩm của mình, đặc biệt là cuốn sách "Của cải của các dân tộc", Adam Smith đã đưa ra một số luận điểm về mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và việc giải quyết các vấn đề xã hội trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Có thể tóm tắt luận điểm của Adam Smith như sau:
Thứ nhất, mặc dù trong một xã hội mỗi người đều bận rộn theo đuổi
lợi ích riêng của mình nhưng chính trong quá trình đó lợi ích của từng cá nhân sẽ đi tới chỗ phù hợp với lợi ích của cộng đồng Theo A.Smith: Nếu một nhà sản xuất bán hàng với giá cao hơn so với những người khác sẽ không có người mua, một công nhân mà đòi trả công cao hơn sẽ không tìm đối với việc làm, và một ông chủ trả lương thấp hơn so với những người cạnh tranh khác sẽ không thuê được người làm việc Như vậy, để thỏa mãnnhu cầu của mình, tối đa hóa lợi ích riêng của mình, các nhà tư bản, các
*Thật ra tác phẩm có tên đầy đủ là "An inquiry into the nature and causes of the wealth
of nations", nhưng thường được gọi tắt là "The wealth of nations" và được dịch ra
tiếng Việt là "Sự giàu có của các dân tộc", hay "Của cải của các dân tộc".
Trang 28nhà buôn, các chủ đất và các công nhân đều phải đáp ứng nhu cầu của những khách hàng của họ, kết quả là lợi ích của toàn bộ xã hội được đảm bảo Như vậy, theo Adam Smith, sự quan tâm của những người này đối với không phải vì lòng nhân từ, rộng lượng mà là vì sự lợi ích của riêng họ8 Chính thông qua trao đổi, mua bán mà người nọ nhận từ người kia những
sự giúp đỡ đôi bên cùng có lợi"9 Từ những lập luận nêu trên, A.Smith đã
rút ra một triết lý đơn giản là: "Anh cho tôi thứ mà tôi thích, anh sẽ có thứ
mà anh yêu cầu" 10
Thứ hai, dưới sự tác động của cơ chế thị trường thì xã hội sẽ phát
triển và trở nên thịnh vượng lên Theo A.Smith chính sự tự điều tiết của thị trường thông qua tự do cạnh tranh và giá cả, đã buộc các nhà sản xuất phải chú trọng đến việc đáp ứng cả về chủng loại và số lượng hàng hóa mà xã hội yêu cầu
Trên cơ sở lý giải hai vấn đề nói trên, A.Smith đã đi tới một tư tưởng
có ý nghĩa triết lý bao quát là: "Hãy để yên cho thị trường vận hành" 11 Bởi
vì theo ông, "bàn tay vô hình" của cơ chế thị trường sẽ bảo đảm cho xã hội
những gì sản xuất ra phù hợp với nhu cầu của các thành viên của nó theo
những số lượng mong muốn và với giá cả thỏa đáng Sự tác động qua lại giữa những người tự do cạnh tranh trên thị trường, dù với động cơ vị kỷ, cuối cùng cũng sẽ đưa lại kết quả bất ngờ là sự hài hòa xã hội 12 Ông viết:
"Mỗi cá nhân trong khi hướng ngành sản xuất của anh ta vào việc làm ra những sản phẩm có giá trị cao nhất, anh ta chỉ có ý định là thu được nhiều lợi nhuận cho chính mình Trong trường hợp này cũng như trong nhiều
trường hợp khác, anh ta được dẫn dắt bởi một bàn tay vô hình để thực hiện
một mục đích mà anh ta không hề nghĩ đến Khi theo đuổi lợi ích riêng, anh
8A.Smith: Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.65.
9A.Smith: Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.65.
10 A.Smith: Sách đã dẫn, tr.65.
11 Theo R.Heilbroner: The worldy philosophers - The lives, times and ideas of great
economic thinkers, New York 1980, p.66.
12 Theo R.Heilbroner: The worldy philosophers - The lives, times and ideas of great
economic thinkers, New York 1980, p.66.
Trang 29ta thực ra đã thúc đẩy lợi ích chung của toàn xã hội nhiều hơn là khi thực
sự có ý định làm như vậy"13
Với những luận thuyết của mình, A.Smith cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào cơ chế thị trường Nhà nước, theo ông, chỉ cần tập trung vào ba chức năng chính là chống giặc ngoại xâm, bảo vệ xã hội, xây dựng
và duy trì các tổ chức14
Trong vấn đề phân phối thu nhập, Adam Smith chia xã hội thành 3 nhóm người: địa chủ, tư bản và công nhân Sự phân phối thu nhập của 3 nhóm người này phụ thuộc vào quyền sở hữu của họ đối với các yếu tố sản xuất: địa chủ sở hữu ruộng đất thì nhận được địa tô; công nhân có sức lao động thì nhận được tiền công; nhà tư bản có vốn thì nhận được lợi nhuận
Từ đó thu nhập của xã hội bao gồm tiền công, lợi nhuận và địa tô Theo ông, ba nhóm người này không mâu thuẫn nhau về mặt lợi ích, mà có liên quan chung tới lợi ích xã hội và cùng tiến theo sự phát triển của xã hội.Một đại biểu xuất sắc khác của mô hình cổ điển là David Ricardo, với tác phẩm nổi tiếng “những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa” xuất bản năm 1817 Kế thừa những tư tưởng của Adam Smith, Ricardo coi đất đai, lao động, tư bản, tiến bộ kỹ thuật và môi trường thể chế kinh tế-xã hội là các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên,
theo Ricardo quy luật lợi tức giảm dần khiến cho tăng trưởng kinh tế
giảm dần Theo đó nếu giữ nguyên các yếu tố đầu vào khác, trong khi tăng
thêm liên tục một yếu tố đầu vào thì sản lượng tăng thêm do thêm một đơn
vị yếu tố đầu vào đó sẽ giảm dần Trong khi số lượng đất đai không đổi thì
sự gia tăng dân số sẽ dẫn tới mức lợi tức (hay năng suất lao động) giảm dần
và điều này sẽ đe dọa sự tăng trưởng kinh tế Ông cũng cho rằng sự thay đổi công nghệ hoặc cải tiến kỹ thuật sản xuất sẽ khống chế được mức lợi tức giảm dần, cho nên việc tăng vốn được coi là cách duy nhất để mở rộng sản xuất Nguồn tích lũy để tăng vốn chỉ có thể là lợi nhuận Tuy nhiên,
13 A.Smith: Sách đã dẫn, tr.648.
14 A.Smith: Sách đã dẫn, tr.911.
Trang 30nếu lợi nhuận là động cơ và điều kiện của tích lũy tư bản, thì tỷ suất lợi nhuận lại có xu hướng giảm xuống cùng với đà tăng lên của tích luỹ tư bản Nguyên nhân của tình trạng này là việc tăng dân số mà đất đai thì có hạn lại
bị tác động bởi quy luật “độ mầu mỡ của đất đai ngày càng giảm” nên giá
cả lương thực, thực phẩm không ngừng tăng lên, dẫn đến tiền công danh nghĩa tăng lên và tỷ suất lợi nhuận giảm dần Kết quả là tích lũy tư bản giảm sút, tăng trưởng kinh tế chậm lại
Trong phân phối thu nhập ông cũng chia xã hội thành 3 nhóm người với 3 loại thu nhập giống như quan điểm của Adam Smith, nhưng khác với Adam Smith, ông cho rằng giữa ba nhóm người này có tồn tại mâu thuẫn
về mặt lợi ích Tuy nhiên, sự tồn tại đối lập về lợi ích giữa các nhóm là phù hợp với “quy luật tự nhiên”
Tóm lại, toàn bộ những luận điểm có ý nghĩa triết lý của các nhà kinh tế học cổ điển về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội đều bắt nguồn từ niềm tin của các ông vào khả năng dẫn dắt của hệ thống thị trường tự do tới những hiệu quả xã hội đáng mong muốn
Với một hệ thống luận điểm mang ý nghĩa phát hiện mới so với những người đi trước và những người cùng thời - như các luận điểm về lao động, chứ không phải tự nhiên, là nguồn gốc sinh ra giá trị, về sự hình thành giá cả thị trường của hàng hóa do tác động của quy luật cung - cầu và quy luật cạnh tranh, về nguồn gốc và cách sử dụng của tiền tệ, v.v A.Smith và David Ricardo được xem là những nhà kinh tế chính trị học cổ điển vĩ đại đã đặt nền tảng lý thuyết cho nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn tự do cạnh tranh
Tuy vậy, do không thấy được những mâu thuẫn nội tại của nền kinh
tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nhất là không thấy được "vì sao người lao động làm thuê lại không được hưởng toàn bộ giá trị mà lao động của anh ta
đã sản xuất ra và vì sao anh ta lại phải để cho nhà tư bản hưởng một
Trang 31phần?"15, cho nên luận điểm có ý nghĩa triết lý của A.Smith về "bàn tay vô hình" của cơ chế thị trường tự do dẫn đến sự hài hòa xã hội đã trở thành phi
lý Bản thân các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng kinh tế ở phương Tây sau này cũng nhận xét: "Niềm tin của Smith vào sự hài hòa tự phát đã không hề được thực tế chứng minh"16
Thực tế là trong suốt thế kỷ XIX, nền kinh tế thị trường tự do đã liên tục trải qua các cuộc suy thoái và khủng hoảng chu kỳ, dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh xã hội hoặc bùng nổ cách mạng ở một loạt nước châu Âu và Bắc
Mỹ Chính điều đó đã buộc nhiều thế hệ các nhà kinh tế học về sau phải đi tìm các lời giải khác cho những vấn đề xã hội mà thực tế của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa luôn đặt ra trong quá trình phát triển đầy khóc khuỷu, quanh co với nhiều tật bệnh của nó
Lý thuyết về sự trì trệ của Ricardo đã đánh giá thấp tác động của sự tiến bộ công nghệ trong việc bù đắp lại mức lợi tức giảm dần Thực tế là sự tiến bộ công nghệ nhanh chóng đã đóng góp vào cho sự tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy trước đó
1.2.2.2 Mô hình phát triển kinh tế-xã hội của C Mác
Ở Việt Nam C Mác (1818-1883) luôn được biết đến như mộ nhà kinh điển về học thuyết phát triển kinh tế xã hội Những luận điểm cơ bản của ông có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm nhưng nổi tiếng nhất là bộ “tư bản luận” được xuất bản lần đầu tiên năm 1867
Theo C Mác, các yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh
tế là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật Trong đó, C Mác đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của lao động (cả sự tăng lên về số lượng và chất lượng lao động) trong tăng trưởng kinh tế Theo ông, sức lao động đối với các nhà tư bản là một loại hàng hóa đặc biệt Cũng như các hàng hóa khác, sức lao động được các nhà tư bản mua trên thị trường và tiêu thụ trong quá
15C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 19, Đã dẫn, tr.168.
16 Maurice Baslé, Francois Benhamon, Bernard Havance, Alain Gélédan, Jean Léobal,
Alain Lipietz: Lịch sử tư tưởng kinh tế, (Tập I) - Các nhà sáng lập, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1996, tr.44.
Trang 32trình sản xuất Nhưng trong quá trình sử dụng nó có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị của sức lao động cộng với giá trị thặng dư
Theo C.Mác, vốn, tài nguyên, khoa học công nghệ có vai trò to lớn trong quá trình tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, vai trò đó phải được thể hiện thông qua việc làm cho năng suất lao động tăng thêm, vì bản thân chúng không tạo ra giá trị
Về phân phối thu nhập trong xã hội, cũng giống như Ricardo, C Mác cho rằng khu vực sản xuất ra của cải vật chất bao gồm 3 nhóm người: địa chủ, tư bản và công nhân.Thu nhập của họ là tiền công do bán sức lao động thì hưởng của người công nhân , địa tô (bao gồm địa tô chênh lệch I
và II) của địa chủ nhờ cho thuê đất, lợi nhuận của nhà tư bản do có vốn đầu
tư vào sản xuất Nhưng khác với Ricardo, C Mác cho rằng sự phân phối
này là không hợp lý, mang tính chất bóc lột Trong "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C.Mác viết: "Lao động sản xuất ra những vật phẩm kỳ diệu cho những người giàu, nhưng chính nó lại sản xuất ra sự bần cùng hóa của công nhân Nó tạo ra lâu đài, nhưng cũng tạo ra cả những nhà ổ chuột cho công nhân Nó sản xuất ra trí tuệ, nhưng cũng sản xuất ra cả sự đần độn, ngu ngốc cho công nhân"17 Ở đây đời sống vật chất và tinh thần của người công nhân bị chi phối bởi chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủnghĩa Ông phê phán chủ nghĩa tư bản khi cho rằng lao động của người công nhân là nguồn gốc duy nhất của của cải, do vậy người công nhân chỉ được hưởng tiền công tối thiểu là vô lý, một phần tiền công của người lao động đã bị nhà tư bản chiếm đoạt (bóc lột) Vì vậy, C Mác chia xã hội tư bản thành hai giai cấp, giai cấp bóc lột bao gồm những nhà tư bản và địa chủ và giai cấp bị bóc lột đó là những người công nhân lao động Do đó, đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp trở thành động lực chủ yếu cho
sự phát triển Theo ông, giai cấp vô sản sẽ là lực lượng xoá bỏ chế độ sở
17 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000,
tr.131.
Trang 33hữu tư nhân TBCN và thiết lập nên chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất Khi giai cấp vô sản giành được chính quyền họ sẽ xây dựng một nền kinh tế có kế hoạch nhằm phát triển mạnh sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân lao động Trong xã hội đó, nguyên tắc phân phối các
sản phẩm làm ra một cách hợp lý nhất là phân phối theo lao động Sự phân
phối ấy là một bước tiến lớn hướng tới công bằng và bình đẳng so với sự phân phối bất công dưới chủ nghĩa tư bản
Mô hình của C Mác có thể gọi là mô hình tăng trưởng kinh tế theolao động Lao động (bao gồm cả số lượng và chất lượng) đóng vai trò quyết định trong phát triển kinh tế Ở đó, con người là trung tâm của sự phát triển, phát triển là do con người và vì con người Trong mô hình phát triển này, nhà nước cũng giữ vai trò rất quan trọng
1.2.2.2 Mô hình kinh tế hỗn hợp của J.M.Keynes
Trên thực tế không bao giờ có một nền kinh tế thị trường hoàn toàn tự do không có sự can thiệp của chính phủ, cũng không bao giờ có một nền kinh
tế mệnh lệnh hoàn toàn không có hoạt động của thị trường Giữa hai thái cực cực đoan đó là một nền kinh tế mang tính hiện thực hơn đó là nền kinh
tế hồn hợp Nền kinh tế hỗn hợp là một nền kinh tế pha trộn những đặc điểm của các hệ thống kinh tế khác nhau Điều này thường được hiểu là một nền kinh tế bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân lẫn quốc doanh, hoặc kết hợp giữa kinh tế thị trường và kinh tế chỉ huy
Các định nghĩa về kinh tế hỗn hợp có thể khác nhau, nhưng tựu trung lại có một số điểm chung: có một mức độ tự do kinh tế (bao gồm các ngành kinh doanh tư nhân) kết hợp với kinh tế kế hoạch tập trung (có thể để can thiệp vào phúc lợi xã hội, sự sở hữu của nhà nước đối với một số phương tiện lao động)
Sinh ra ở nước Anh, J.M.Keynes (1883-1946) được coi là người đầu tiên đưa ra mô hình phát triển trong đó có sự kết hợp giữa thị trường và vai
Trang 34trò của nhà nước Công trình nghiên cứu chính của ông là "Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ" xuất bản năm 1936 (gọi tắt là "Lý thuyết tổng quát").
Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã thể hiện một cách tập trung những vấn đề mới của xã hội phương Tây, khi chủ nghĩa tư
bản do cạnh tranh đã chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc Như "Lý thuyết tổng quát" của J.M.Keynes đã khẳng định: "Những khuyết điểm nổi bật của
xã hội kinh tế trong đó chúng ta đang sống [tức là xã hội tư bản] là không
có việc làm đầy đủ và phân phối của cải một cách bất công"18 Để khắc phục hai khuyết điểm ấy, J.M.Keynes đã đi sâu phân tích những khuynh hướng, những nhân tố có tác động đến quá trình vận hành của nền kinh tế đương thời, qua đó tìm ra các giải pháp khôi phục kinh tế, đẩy lùi thất nghiệp, tiến tới toàn dụng nhân công phân phối lại thu nhập, tạo ra sự đồng thuận xã hội cho phát triển
Theo J.M.Keynes, trên thực tế không có cơ chế tự động an toàn của
nền kinh tế thị trường tự do Ông đề xuất nền kinh tế thị trường phải được điều tiết bởi Nhà nước nhằm khuyến tiêu dùng và đầu tư, qua đó mà có thể đạt tới tình trạng toàn dụng nhân công, khắc phục nạn thất nghiệp tràn lan
- mối đe dọa nghiêm trọng nhất về mặt xã hội đối với sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản.
Trong thời gian đó, học thuyết của J.M.Keynes đã được áp dụng ở nhiều quốc gia phương Tây Tại những nước này, người ta đã kết hợp vận dụng nền kinh tế thị trường có điều tiết với một hệ thống chính sách phúc lợi xã hội do Nhà nước thực hiện nhằm điều hòa mâu thuẫn, duy trì ổn định
xã hội để phát triển Người ta gọi đó là "Nhà nước phúc lợi kiểu Keynes" (Keynesian welfare state)19
18Jonh Maynard Keynes: Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (Bản dịch cuốn The generl theory of employment, interes and monney) Nxb Giáo dục - Trường
Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, 1994, tr.426.
19Sophie Bessis: From social exclusion to social cohesion -apolicy agenda UNESCO,
Pari 1995, P.27.
Trang 351.2.3 Một số mô hình phát triển kinh tế-xã hội thực tiễn
1.2.3.1 Mô hình phát triển của Tây Âu và Mỹ
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, kinh tế các nước Tây Âu đều
bị kiệt quệ, kế hoạch Marshall của Mỹ được thông qua và thực hiện với hai mục tiêu: vực dậy nền kinh tế Tây Âu và giữ các nước này trong quỹ đạo của Mỹ
Nhìn một cách khái quát, mô hình phát triển của các nước Phương Tây là nền kinh tế thị trường với vai trò điều tiết của nhà nước Trong cơ cấu nền kinh tế, khu vực công đủ mạnh để nhà nước có khả năng điều tiết nền kinh tế, duy trì vai trò của quốc gia đó trong quan hệ quốc tế và thực hiện những chức năng xã hội Trong suốt nửa thế kỷ, mô hình này đã phát huy được sức mạnh của nó: nền kinh tế các nước Tây Âu đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng được nâng cao, nhờ đó nhà nước của các nước này đã thực hiện các chính sách an sinh xã hội nhằm đảm bảo công bằng cho các tầng lớp dân cư, đồng thời có điều kiện để đầu tư cho nghiên cứu cơ bản và phát triển khoa học-công nghệ Điều này giải thích tại sao các nước châu Âu, cùng với Mỹ và Nhật bản vẫn đi đầu về khoa học công nghệ và giáo dục trong những thập kỷ vừa qua Phân tích trường hợp của Pháp chúng ta thấy, ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chính phủ Pháp đã quốc hữu hóa một loạt ngân hàng, chú trọng phát triển khu vực kinh tế công, dịch vụ công cộng và những ngành công nghiệp mà Pháp xác định là ngành mũi nhọn Với mô hình phát triển này, nước Pháp đã thực hiện được ba mục tiêu: (i) duy trì được vai trò là một cường quốc kinh tế, (ii) trở thành một cường quốc quân sự thông qua việc xây dựng một lực lượng hạt nhân độc lập và một nên công nghiệp quốc phòng phát triển dùa trên công nghệ cao, tạo được lợi thế trong quan hệ với Mỹ và Liên Xô (iii) Phát triển được một khu vực kinh tế, dịch vụ công cộng và đảm bảo được những phúc lợi
xã hội cho đại đa số dân chúng
Trang 36Vào cuối thế kỷ XX, khi mà gánh nặng chi phí xã hội quá lớn, kinh tế lại rơi vào suy thoái, nhiều nước châu Âu buộc phải xem lại mô hình phát triển của mình Tất cả đều vẫn thừa nhận vai trò của thị trường và tính chất cạnh tranh của nó, nhưng không nhất trí về vai trò của nhà nước và khu vực công trong nền kinh tế toàn cầu hóa Những người theo chủ nghĩa tự do như bà Thatcher ở Anh, Regan ở Mỹ đã chủ trương tư nhân hóa khu vực dịch vụ, phi quy tắc nền kinh tế, nói cách khác là tìm cách giảm vai trò của nhà nước và khu vực công, cắt giảm chi phí xã hội Trong khi đó, các nước do các Đảng xã hội nắm giữ như ở Đức và Pháp lại chủ trương tăng cường hơn nữa sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế bằng cách quốc hữu hóa nhiều ngân hàng thương mại và cải cách chứ không thể xóa bỏ chế độ an sinh xã hội đối với mọi người dân Rất tiếc là kết quả thu được trong cả hai trường hợp trên đều không được như mong đợi Những nước theo chủ nghĩa tự do như Anh, Mỹ có giải quyết được một phần vấn đề công ăn việc làm nhưng tư nhân hóa dịch vụ công cộng dẫn đến tình trạng chạy theo lợi nhuận không hề để ý tới chất lượng phục vụ cũng như chức năng xã hội của dịch vụ công Ngược lại, các nước chủ trương nhà nước can thiệp mạnhhơn vào nền kinh tế đã làm triệt tiêu nhiều động lực phát triển, kinh tế trì trệ và gánh nặng thâm hụt quỹ bảo hiểm xã hội ngày càng lớn Do vậy, cho đến nay không thể nói rằng các nước châu Âu đã tìm ra được một mô hình phát triển hoàn hảo Thêm vào đó, tiến trình xây dựng châu Âu được đẩy mạnh, khó có thể cho phép các nước có đột phá về mô hình phát triển.
1.2.3.2 Mô hình kinh tế thị trường xã hội Đức
Mô hình phát triển kinh tế-xã hội của Đức và các nước Bắc Âu thường được biết đến với tên gọi “mô hình kinh tế thị trường xã hội’’ Sau chiến tranh thế thứ hai, nước Đức và sau đó là một số nước Bắc Âu nhưThuỵ Điển, Đan Mạch đã lựa chọn cho mình một mô hình phát triển có
sự kết hợp hài hòa giữa vai trò của nhà nước và của thị trường trong điều tiết nền kinh tế mà nhiều người gọi đó là mô hình "Kinh tế thị trường xã hội" (KTTTXH) Sự thành công của mô hình này đã được nhiều người phải
Trang 37ca ngợi và ngày nay nhiều nước, nhất là các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) đang áp dụng mô hình này Ở Việt Nam mô hình này cũng thu hútđược nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu và lãnh đạo Nhiều ý kiến cho rằng đây có thể là mô hình phù hợp với nước ta Vì lý do đó, chúng tôi xin trình bày tương đối chi tiết hơn một số đặc điểm của mô hình này.
Một số đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường xã hội
Đặc trưng thứ nhất: quyền tự do cá nhân Trong nền kinh tế đó, mỗi cá
nhân hay thực thể kinh tế với tư cách là các chủ thể ra quyết định được tự
do theo đuổi lợi ích của cá nhân mình; các thị trường vận hành theo chức năng của nó; các thể chế luôn đảm bảo quyền tự do cá nhân trong lĩnh vực kinh tế Tự do cạnh tranh được khuyến khích phát triển Cạnh tranh được nhìn nhận như một biện pháp khuyến khích sức sáng tạo và sức mạnh của
cá nhân, triển vọng kiếm được lợi nhuận bằng sự mạo hiểm, chấp nhận thất bại
Đặc trưng thứ hai: nguyên tắc về công bằng xã hội Trong một cơ chế thị
trường tự do cạnh tranh thì phân phối thu nhập phụ thuộc vào mức đóng góp của các chủ thể kinh tế vào quá trình sản xuất Trong khi đó, xã hội luôn tồn tại một sô người do thiếu may mắn, do hạn chế về sức khỏe sẽ không thể đóng góp vào quá trình sản xuất xã hội Vì vậy, bất bình đẳng trong xã hội là điều không thể tránh khỏi Vấn đề công bằng xã hội và nhiều vấn đề khác của thị trường chỉ có thể được giải quyết bằng một chính sách xã hội nhằm giúp đỡ những người không hoặc ít tham gia vào tiến trình kinh tế và cần phải được bảo vệ trước những khó khăn mà không phải
do lỗi của họ
Đặc trưng thứ ba: chính sách chống biến động chu kỳ Cạnh tranh và
chính sách xã hội xét trên lý thuyết là hai trụ cột chính để nền kinh tế TTXH vận hành ổn định Tuy nhiên, trên thực tế có các biến động mang tính chu kỳ và tạo ra sự không đều đặn của mức tăng trưởng kinh tế Do đó, nhà nước cũng thường phải có các chính sách can thiệp vào nền kinh tế làm
Trang 38giảm thiểu sự biến động mang tính chu kỳ của nền kinh tế, làm cho tăng trưởng diễn ra ổn định hơn.
Đặc trưng thứ tư: chính sách tăng trưởng Nhà nước trong nền kinh tế
TTXH luôn hướng tới việc xây dựng khung chính sách tối thiểu cần thiết
để phát triển kinh tế Chính sách tăng trưởng phải bao gồm những động lực thúc đẩy quá trình hiện đại hóa tư liệu sản xuất, áp dụng tiến bộ công nghệ
và nâng cao hiệu quả sản xuất
Theo học thuyết kinh tế thị trường xã hội, bên cạnh việc xây dựngkhuôn khổ pháp lý cho nền kinh tế tự do vận động, nhà nước cần thực hiện hàng loạt các hình thức can thiệp vào nền kinh tế, thực hiện các chính sách kinh tế tuỳ thuộc vào các điều kiện, tình hình cụ thể của nền kinh tế
Đặc trưng thứ năm: chính sách cơ cấu Các quốc gia theo mô hình "kinh
tế thị trường xã hội" bắt buộc phải có một chính sách cơ cấu nhằm hỗ trợ việc cải thiện tình hình mất thăng bằng của nền kinh tế do cấu trúc thị trường bị các nhân tố tự nhiên, kỹ thuật và các nhân tố khác gây ra Trên thị trường lao động, sự mất cân bằng hoặc thất nghiệp cần được hỗ trợ bằng các chương trình tái đào tạo và/hoặc tái định cư
Đặc trưng thứ sáu: sự tuân thủ cạnh tranh trên thị trường Chính sách
cạnh tranh được thể hiện trong tất cả các chính sách kinh tế Có nghĩa là các biện pháp kinh tế từ nhà nước cần thỏa mãn các mục tiêu công bằng xã hội, ổn định kinh tế, tăng trưởng và cân bằng cơ cấu kinh tế trong khi vẫn không cản trở quá mức hoạt động cạnh tranh trên thị trường
Tóm lại, mô hình KTTTXH Đức cho thấy, mong muốn đạt được lợi ích của
các chủ thể kinh tế là động lực thúc đẩy họ tham gia vào quá trình sản xuất
Còn cạnh tranh lại bắt buộc những người tham gia thị trường - trong vai trò
là nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ hoặc vai trò là nhà đầu tư phải sử dụng các yếu tố sản xuất một cách hiệu quả
Nhưng sự ưa chuộng mà nhiều người trên thế giới dành cho mô hình
KTTTXH Đức chính là hệ thống an sinh xã hội mà chính phủ Đức rất chú
trọng phát triển "Đảm bảo phúc lợi xã hội" đã trở thành một giá trị xã hội
Trang 39và ngày càng ăn sâu vào tiềm thức của người dân Đức và các nước châu Âu
đi theo mô hình phát triển này Các khoản chi cho những người bị hạn chế
về khả năng việc làm đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, đó là những người được nhận các khoản hỗ trợ từ bảo hiểm xã hội trong những trường
hợp thất nghiệp, ốm đau và tàn tật Và cả những chính sách ưu đãi kinh tế cho các doanh nghiệp (trợ cấp, ưu đãi về thuế) như là những công cụ để
phân phối lại sản phẩm xã hội Tuy nhiên, mô hình này cũng gây nhiều tranh cãi xung quanh cơ sở và mức độ của các biện pháp này Để đảm bảo một hệ thống an sinh xã hội tốt, những người có việc làm luôn phải chịu một mức thuế tương đối cao và điều này phần nào làm triệt tiêu động lực lao động
1.2.3.3 Mô hình kế hoạch hóa tập trung của Liên Xô
Ở Liên Xô cũ và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nhiều chính sách đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội đã được thực hiện trong
mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung phi thị trường Đây là mô hình kinh
tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, được quản lý bằng một hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh từ trên giao xuống đối với cả sản xuất và phân phối sản phẩm thông qua chế độ cấp phát và giao nộp theo quan hệ hiện vật là chủ yếu
Đánh giá một cách khách quan, trong khoảng ba bốn thập niên, mô hình phát triển này đã từng phát huy tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hoá theo kiểu cổ điển Riêng Liên Xô đã hoàn thành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa chỉ trong vòng 3 kế hoạch năm năm, nhờ
đó mà nâng cao được tiềm lực kinh tế và quốc phòng, đồng thời tạo nên sự bình ổn xã hội bằng những chính sách quan tâm đến mọi mặt của đời sống nhân dân Mọi người đến tuổi lao động đều có công ăn việc làm, nạn thất nghiệp hầu như bị xoá bỏ hoặc giảm tới mức tối thiểu Ai nấy đều được học tập và chữa bệnh không mất tiền, các chế độ nghỉ ngơi và hưởng thụ văn hoá cơ bản được đáp ứng Hầu hết gia đình ở thành thị và các khu công nghiệp tập trung được cung cấp nhà Những người già cô đơn và trẻ em mồ
Trang 40côi được Nhà nước nuôi dưỡng Tóm lại, những nhu cầu thiết yếu trong đời sống vật chất và văn hoá của người dân đều được Nhà nước và tập thể bao cấp từ A đến Z.
Tuy nhiên, càng về sau mô hình này càng bộc lộ nhiều khuyết tật mà chủ yếu là các nhu cầu về xã hội vượt quá khả năng đáp ứng của một nền kinh tế thiếu năng động, kém hiệu quả, rất chậm trễ trong việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ mới nhất vào sản xuất do cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ dần dần biến thành tập trung quan liêu và thực hiện chế độ phân phối theo lao động trên danh nghĩa, nhưng trên thực tế là theo chủ nghĩa bình quân Chính điều đó đã kìm hãm, thậm chí triệt tiêu động lực của sự phát triển, khiến cho Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác rập khuôn theo mô hình Xô Viết dần dần rơi vào tình trạng trì trệ, suy thoái rồi khủng hoảng về kinh tế - xã hội ở các mức độ khác nhau
1.2.3.4 Mô hình phát triển kinh tế-xã hội của Trung Quốc
Sau nhiều năm thực hiện phát triển kinh tế theo mô hình kế hoạch tập trung, đến cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX Trung Quốc từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường Quá trình xây dựng, phát triển nền kinh
tế thị trường của Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn tìm tòi, thử nghiệm nhưng đã gặt hái được nhiều thành công vang dội Về mặt thể chếphát triển, Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng nhưngTrung Quốc được đánh giá là nước luôn đi trước Việt Nam khoảng mộtthập niên Do vậy, học tập kinh nghiệm Trung Quốc cũng là điều cần đượcchú ý Phần này chúng tôi sẽ trình bày khá chi tiết về mô hình phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc
Quá trình chuyển đổi của Trung Quốc có thể được tóm tắt như sau:
Bước thứ nhất, sau Hội nghị Trung ương 3 khoá XI (12-1978), nhận
thức của các giới chức Trung Quốc đã có sự thay đổi và từng bước thoát ra khỏi quan niệm truyền thống khi cho rằng kinh tế thị trường là của riêng chủ nghĩa tư bản, kinh tế kế hoạch mới là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, những năm đầu sau năm 1978 mới chỉ dừng lại ở việc hình