Tuy vậy, sự phát triển của các VKTTĐ còn bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế đứng trên góc độ phát triển bền vững: 1 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng v
Trang 1Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Nguyễn Văn Nam
Cơ quan chủ trì : Trường Đại học Kinh tế quốc dân
8028
HÀ NỘI, 1 – 2010
Trang 2Các thành viên tham gia đề tài:
Chủ nhiệm đề tài: GS, TS Nguyễn Văn Nam, Đại học Kinh tế quốc dân Phó chủ nhiệm đề tài: PGS, TS Ngô Thắng Lợi, Đại học Kinh tế quốc dân
Các thư ký đề tài:
- Th.s Vũ Thành Hưởng, Đại học Kinh tế quốc dân
- Th.s Nguyễn Anh Tuấn, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Chủ nhiệm các đề tài nhánh:
- PGS, TS Lê Thu Hoa, Đại học Kinh tế quốc dân
- TS Hoàng Xuân Quế, Đại học Kinh tế quốc dân
- TS Nguyễn Tiến Dũng, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
- TS Tạ Thị Thu, Viện Chiến lược phát triển, Bộ KH&ĐT
- Ths Bùi Đức Tuân, Đại học Kinh tế quốc dân
- Th.s Vũ Thành Hưởng, Đại học Kinh tế quốc dân
- Th.s Nguyễn Anh Tuấn, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL : Ban quản lý
BVMT : Bảo vệ môi trường
Bộ KH & ĐT: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Bộ TN & MT: Bộ Tài nguyên và Môi trường
CCKTLT : Cơ cấu kinh tế lãnh thổ
ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GTVT : Giao thông vận tải
KCN : Khu Công nghiệp
KCNC : Khu công nghệ cao
SEZ : Đặc khu kinh tế
TNC : Tập đoàn đa quốc gia
TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
VĐT : Vốn đầu tư
VKTTĐ : Vùng Kinh tế trọng điểm
VKTTĐBB : Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ VKTTĐMT : Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung VKTTĐPN : Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU viii
PHẦN I 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1
VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 1
1.1 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 1
1.1.1 Khái luận chung về vùng kinh tế trọng điểm 1 1.1.2 Các quan điểm và lý thuyết về vùng KTTĐ trên Thế giới 3
1.2 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 14
1.2.1 Đặt vấn đề phát triển bền vững VKTTĐ 14
1.2.2 Nội hàm phát triển bền vững VKTTĐ 16
1.2.3 Các tiêu chí phát triển bền vững VKTTĐ 18
1.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC VKTTĐ 24
1.3.1 Hệ thống cơ chế chính sách - một trong những công cụ định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế 24
1.3.2 Hệ thống cơ chế chính sách – một nhân tố tác động đến phát triển bền vững VKTTĐ 25 1.3.3 Sự cần thiết phải có các chính sách riêng trong từng giai đoạn phát triển các VKTTĐ 28 1.4 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 33
1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc: mô hình 33
phát triển vùng Chu Giang mở rộng 33
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản 41
1.4.3 Kinh nghiệm của Pháp về tổ chức hội đồng tư vấn kinh tế và xã hội vùng 42
1.4.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 43
1.4.5 Kinh nghiệm của Thái Lan 45
1.4.6 Kinh nghiệm của Malaixia 49
1.4.7 Kinh nghiệm của Đài Loan 50
1.4.8 Kinh nghiệm của Philippine 52
1.4.9 Các bài học về phát triển bền vững vùng KTTĐ đối với Việt Nam 53
PHẦN II 58
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐẾN PTBV CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM 58
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM 58
2.1.1 Giai đoạn hình thành (1992-1999) 58
2.1.2 Giai đoạn phát triển mở rộng (2000-2005) 60
2.1.3 Giai đoạn phát triển lan tỏa: Từ 2006 .61
2.2 THỰC TRẠNG CÁC CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM 62
2.2.1 Nhóm cơ chế chính sách trực tiếp cho VKTTĐ 62
2.2.2 Các chính sách phát triển các lãnh thổ đặc biệt hướng tới sự phát triển tập trung 74
2.2.3 Những cơ chế, chính sách chung, có ảnh hưởng đến phát triển bền vững các VKKTĐ 77 2.3 ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH THEO CÁC TIÊU CHÍ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VKTTĐ .96
2.3.1 Đánh giá hệ thống cơ chế chính sách đối với bền vững lĩnh vực kinh tế 96
Trang 52.3.2 Đánh giá hệ thống cơ chế chính sách đối với việc thực hiện các mối liên kết vùng 118
2.3.3 Đánh giá hệ thống cơ chế chính sách đối với bền vững về xã hội 126
2.3.4 Đánh giá cơ chế chính sách đối với bền vững về môi trường 133
2.3.5 Đánh giá cơ chế chính sách đối với tác động lan tỏa của các VKTTĐ (đóng góp của VKTTĐ đối với nền kinh tế quốc gia) 142
2.3.6 Những vấn đề quan trọng đặt ra cho hoàn thiện chính sách từ những khía cạnh không bền vững trong phát triển VKTTĐ 150
PHẦN III 154
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 154
3.1 NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC VKTTĐ ĐẾN NĂM 2015 154
3.1.1 Căn cứ xác định quan điểm và định hướng phát triển VKTTĐ 154
3.1.2 Quan điểm định hướng chiến lược phát triển các VKTTĐ 160
3.1.3 Định hướng phát triển bền vững VKTTĐ 165
3.2 HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 175
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến bảo đảm tính chất hợp lý và đồng bộ trong quy hoạch, kế hoạch và đầu tư phát triển 175
3.2.2 Chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành hợp lý cho các vùng trọng điểm 185
3.2.3 Hoàn thiện chính sách bảo đảm vốn và các nguồn lực chất lượng cao nhằm hướng tới mục tiêu thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều sâu các vùng trọng điểm 192
3.2.4 Hoàn thiện chính sách chống ô nhiễm và BVMT trên các vùng trọng điểm 201
3.2.5 Xây dựng và hoàn hiện các chính sách tạo sự lan tỏa kinh tế của các VKTTĐ 207
3.2.6 Hoàn thiện chính sách và bộ máy quản lý VKTTĐ nhằm bảo đảm thực hiện tốt sự phối hợp và liên kết vùng 210
3.2.7 Hoàn thiện bộ máy điều phối phát triển VKTTĐ 220
3.3 CÁC KIẾN NGHỊ 227
3.3.1 Một số kiến nghị chung: 227
3.3.2 Các kiến nghị cụ thể: 227
KẾT LUẬN 229
PHỤ LỤC - 1 -
Trang 6
Danh mục các bảng trong đề tài
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chính của các thành phố vùng Chu Giang 40
Bảng 1.2: GDP và dân số Thái Lan năm 1981 và 1991 47
Bảng 1.3: Thái Lan - Dân số vùng và số dân di cư ròng 48
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu tổng hợp của ba vùng KTTĐ 59
Bảng 2.2: Tỷ trọng của ba vùng KTTĐ so cả nước 59
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu tổng hợp của ba vùng KTTĐ 61
Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng GDP các VKTTĐVN 97
Bảng 2.5: Quy mô và mật độ kinh tế của các VKTTĐVN (tính theo GDP) 100
Bảng 2.6: So sánh động thái về mật độ kinh tế của VKTTĐ 101
Bảng 2.7: NSLĐ của các VKTTĐ (GDP/lao động) 102
Bảng 2.8: Vốn đầu tư tính cho 1 đồng GDP 105
Bảng 2.9: Cơ cấu ngành kinh tế các VKTTĐ 106
Bảng 2.10: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu theo hệ số COSφ của VKTTĐ 107
Bảng 2.11: Năng lực cấp nước tại các đô thị phân theo VKTTĐ 110
Bảng 2.12: Tốc độ tăng trưởng lao động các VKTTĐ 112
Bảng 2.13: Cơ cấu lao động các VKTTĐ 113
Bảng 2.14: So sánh cơ cấu lao động theo ngành với cơ cấu ngành kinh tế 114
Bảng 2.15: Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở các VKTTĐ 115
Bảng 2.16: Thu nhập bình quân đầu người VKTTĐ 127
Bảng 2.17: Tỷ lệ điện thoại / 100 dân 128
Bảng 2.18: Tốc độ tăng GDP và GDP/người trên các VKTTĐ 128
Bảng 2.19: Tỷ lệ hộ nghèo các VKTTĐ 129
Bảng 2.20: Tổng hợp hệ số co giãn của tỷ lệ nghèo đói và thu nhập 130
Bảng 2.21: Hệ số GINI, hệ số giãn cách thu nhập và tiêu chuẩn “40” của VKTTĐ 131
Bảng 2.22: Tỷ lệ co giãn giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường ở Vùng KTTĐBB, giai đoạn 2000 – 2005 133
Bảng 2.23: Sự bền vững về môi trường của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành công nghiệp, giai đoạn 2000 - 2005 134
Bảng 2.24: Khối lượng CTR các đô thị loại 4 trở lên 135
Bảng 2.25: Thu - chi ngân sách các VKTTĐ 142
Bảng 2.26: Cán cân ngân sách của ba VKTTĐ 143
Bảng 2.27: Tốc độ tăng thu ngân sách các VKTTĐ 143
Bảng 2.28: Đóng góp thu ngân sách của các VKTTĐ 144
Bảng 2.29: Kim ngạch xuất – nhập khẩu của các VKTTĐ 145
Bảng 2.30: Cán cân thương mại quốc tế của VKTTĐ 145
Bảng 2.31: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu 3 VKTTĐ 146
Bảng 2.32: Vốn đầu tư vào VKTTĐ 147
Bảng 2.33: Quy mô thu hút lao động VKTTĐ 148
Trang 7Danh mục các hình trong đề tài
Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững vùng KTTĐ 15
Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống cơ chế chính sách sử dụng trên VKTTĐ 27
Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 3 VKTTĐ và cả nước các năm 2001 và 2007 98
Hình 2.2: Tăng trưởng dịch vụ của các VKTTĐ năm 2001 và 2007 98
Hình 2.3: Tốc độ tăng trưởng GO và GDP của VKTTĐBB 101
Hình 2.4: Tốc độ tăng trưởng GO và GDP Công nghiệp VKTTĐ (%) 102
Hình 2.5: So sánh NSLĐ của VKTTĐ với NSLĐ của một số nước 103
Hình 2.6: Đóng góp của các yếu tố đầu vào đến tăng trưởng (2002– 2008) 104
Hình 2.7: Hệ số ICOR cả nước và ba VKTTĐ từ 2000-2008 104
Hình 2.8: Cơ cấu ngành của 3 VKTTĐ các năm 2000 và 2008 108
Hình 2.9: Số lao động được GQVL hàng năm 113
Hình 2.10: Tỷ lệ bác sĩ /10.000 dân các vùng KTTĐ 128
Hình 3.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức bộ máy VKTTĐ Việt Nam hiện nay 221
Hình 3.2: Sơ đồ hệ thống tổ chức bộ máy VKTTĐ Việt Nam theo phương án mới 225
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đã đặt mục tiêu đến 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp Một trong những khâu đột phá để thực hiện mục tiêu trên là hình thành các cực tăng trưởng kinh tế nhanh Nằm trong khuôn khổ hình thành các cực tăng trưởng kinh tế, Thủ tướng Chính phủ đã công bố quyết định thành lập
ba vùng KTTĐ vào giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII, IX
và X của Đảng nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng 3 vùng KTTĐ trở thành những vùng kinh tế phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng nhanh, đi đầu trong một số lĩnh vực quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo động lực cho quá trình phát triển của cả nước
Trong thời gian qua, nhờ có quyết tâm lớn của Đảng, Chính phủ, các Bộ ngành và các địa phương đã có những nỗ lực đáng kể, tạo ra bước phát triển mới đối với ba vùng KTTĐ trên các mặt: tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mạng lưới kết cấu hạ tầng, thu hút vốn đầu tư Các vùng kinh tế trong điểm đó trở thành các trung tâm kinh
tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, cung cấp dịch vụ cho các vùng và trong cả nước
Tuy vậy, sự phát triển của các VKTTĐ còn bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế đứng trên góc độ phát triển bền vững: (1) Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng và chưa đạt được mục tiêu kế hoạch đặt ra cho các VKTTĐ; (2) Cơ cấu kinh tế của các vùng trọng điểm chưa tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững, chưa tạo được sức cạnh tranh và động lực phát triển cho cả nước; (3) các khu công nghiệp (KCN), khu công nghệ cao (KCNC), khu chế xuất (KCX) các đầu tầu tăng trưởng trong cả 3 vùng KTTĐ đều chưa sử dụng hết năng lực, tỷ lệ lấp đầy còn thấp, đầu tư công nghệ hiện đại chưa cao, đóng góp vào xuất khẩu và thu hút lao động còn thấp; (4) Mức toàn dụng lao động, đặc biệt là lao động có kỹ thuật chưa cao, chưa giải quyết được tốt việc làm cho lao động nông nghiệp dôi dư khi bị mất đất nông nghiệp cho công nghiệp; (5) Vấn đề ô nhiễm môi trường ở các thành phố, khu trung tâm du lịch, làng nghề ở các vùng KTTĐ đang có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân cư và phát triển bền vững đang đòi hỏi phải giải quyết cấp bách
Có nhiều lý do dẫn đến những bất cập trên, trong đó những vấn đề thuộc về cơ chế chính sách và sự vận hành nó cũng còn nhiều yếu tố không đồng thuận cho phát triển bền vững các vùng KTTĐ Cụ thể: (1) hệ thống chính sách với tư cách của riêng cho các vùng trọng điểm còn rất ít mà lại không phù hợp; (2) theo cơ chế hiện tại, 3 VKTTĐ chưa có bộ máy chuyên trách thực hiện chức năng quản lý, tổ chức phối hợp phát triển trong nội bộ vùng, lập kế hoạch phát triển, giám sát, đánh giá tác động phát triển ở cấp
Trang 9vùng; (3) Quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch chưa được coi trọng hoặc làm tuỳ tiện; (4) việc thực hiện các chủ trương chính sách thiếu cụ thể và điều chỉnh kịp thời, gặp khó khăn do bị chia cắt địa giới hành chính, sự liên kết giữa các vùng còn rời rạc, chưa tạo ra sức mạnh tổng hợp của vùng
Để thực hiện được các mục tiêu đặt ra cho các vùng trọng điểm, nhất là mục tiêu trở thành các đầu tầu tăng trưởng và phát triển bền vững, Nhà nước cần tiếp tục có cơ chế chính sách tích cực thúc đẩy các vùng KTTĐ; tăng cường năng lực nâng cao nhận thức về phát triển bền vững vùng KTTĐ cho các cấp chính quyền địa phương thuộc vùng; thống nhất quy hoạch phát triển vùng KTTĐ trong mối quan hệ với quy hoạch tổng thể quốc gia; tăng cường chính sách và phát huy tính chủ động của các địa phương trên vùng về chính sách thu hút vốn đầu tư, phát triển sản xuất, thương mại, kỹ thuật, nguồn nhân lực, chính sách liên quan tới việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên
và BVMT, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các vùng KTTĐ Những vấn
đề nêu trên chính là cơ sở hình thành của đề tài, hay nói cách khác, đã khẳng định sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu đặt ra
2 Tổng quan nghiên cứu :
2.1 Những nghiên cứu nước ngoài
Phát triển có trọng điểm một số địa bàn lãnh thổ về mặt kinh tế được xem là một xu thế vận động mang tính qui luật và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế nhanh trong điều kiện của các nước đang phát triển Việc tập trung nguồn lực và áp dụng các cơ chế
ưu tiên cho một số vùng lãnh thổ sẽ tạo điều kiện phát triển nhanh những vùng có ưu thế phát triển, qua đó nhờ tác động lan toả thúc đẩy sự phát triển của các vùng lãnh thổ lân cận và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Về mặt lý thuyết, đã có nhiều quan điểm và mô hình lý thuyết được các học giả nước ngoài đưa ra và được sử dụng làm nền tảng cho quá trình tổ chức phát triển kinh tế lãnh thổ của các quốc gia trên thế giới Trong số các lý thuyết trên có thể kể đến một số lý thuyết nổi bật như : lý thuyết vành đai nông nghiệp của V Thunen, lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Clark và Fisher, lý thuyết về điểm trung tâm của Christaller, hay lý thuyết cực của François Perroux, vv Việc nghiên cứu những lý thuyết này sẽ rất có ích cho việc phát triển các vùng kinh tế của Việt nam, đặc biệt là lý thuyết cực tăng trưởng của François Perroux đã từng được áp dụng rông rãi ở các nước ASEAN và đã chứng minh là đạt kết quả thích hợp với các quốc gia còn thiếu vốn cần kêu gọi vốn nước ngoài Sự thành công này góp phần giải thích sự cần thiết và gợi ý định hướng phát triển kinh tế lãnh thổ theo hướng có trọng điểm
Về thực tế, trong những năm gần đây chúng ta đã được chứng kiến sự thành công trong việc phát triển có trọng điểm các vùng kinh tế của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đang phát triển như Trung Quốc, Malaixia, Philippine, Thái Lan, Đài Loan, vv
Trang 10Các nghiên cứu về phát triển vùng kinh tế trọng điểm của các nước này đã chỉ ra rằng :
Một là: Các quốc gia này thường chọn những vùng lãnh thổ có lợi thế so sánh, thông thường là những khu vực gần các trục giao thông huyết mạch, ven sông, ven biển có điều kiện phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế với bên trong và bên ngoài, có khả năng tiếp cận và hoà nhập nhanh chóng vào các thị trường hàng hoá để tập trung đầu tư, lập các trọng điểm phát triển công nghiệp và thương mại nhằm tạo địa bàn động lực, mũi đột phá trong phát triển kinh tế vùng để từ đó có sức lan toả phát triển sang các vùng khác trong nước
Hai là: Thực tế thành công của các quốc gia nêu trên đã minh chứng cho quan điểm đúng đắn về đầu tư phát triển có trọng điểm theo lãnh thổ Có thể nói, đối với các nước đang phát triển, các cực phát triển được xem là một công cụ hữu hiệu trong phát triển lãnh thổ vì nó phù hợp với điều kiện hạn chế về nguồn lực của các nước này
Ba là: Trong quá trình phát triển theo hướng có trọng điểm, sự phân cực giữa các vùng về trình độ phát triển và mức sống dân cư là không thể tránh khỏi và có thể gia tăng theo thời gian Tuy nhiên, các quốc gia đều có những giải pháp khống chế, không để cho tình trạng chênh lệch vùng trở nên trầm trọng Bên cạnh việc đầu tư có trọng điểm để vùng thuận lợi bứt phá nhanh về phát triển kinh tế, các quốc gia đều chủ động thực hiện đầu tư hỗ trợ cho các vùng khó khăn dần dần tự phát triển, việc đầu tư cũng không chỉ dừng lại ở khía cạnh kinh tế mà còn quan tâm thích đáng đến các khía cạnh xã hội và môi trường
Bốn là: Để phát triển thành công các vùng kinh tế trọng điểm, vai trò điều tiết của Nhà nước là rất cần thiết nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa các lãnh thổ trong việc phân chia lợi ích quốc gia Nhà nước có biện pháp điều tiết thu nhập giữa các vùng thông qua các chính sách vĩ mô và cơ chế điều hành thích hợp ví dụ như có chính sách khuyến khích phát triển hoặc hạn chế kịp thời đối với các lãnh thổ có sự phát triển nóng, đồng thời có các chính sách hỗ trợ các vùng khó khăn, kém phát triển
2.2 Những nghiên cứu trong nước
Thời gian gần đây, nhiều công trình nghiên cứu với những qui mô và tầm quan trọng khác nhau đã được nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học, nhiều nhà khoa học triển khai nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu và kinh nghiệm ở các nước ngoài vào phát triển các vùng kinh tế trọng điểm ở nước ta Các nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, của Viện Nghiên cứu Kinh tế TP Hồ Chí Minh, của các nhà nghiên cứu như TS Lê Thu Hoa, TS Phạm Vũ Câu, … đã nhận thức nhất quán tầm quan trọng và sự cần thiết của việc phát triển các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, những tác động tích cực trong việc tạo ra những vùng kinh tế phát triển nhanh, gây ảnh hưởng lan toả kích thích các vùng cùng phát triển, qua đó thoả mãn yêu
Trang 11cầu tăng lên về trình độ phát triển và mức sống của dân cư ở các vùng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế đất nước
Các nghiên cứu này một mặt đã chỉ rõ yêu cầu phát triển các vùng kinh tế trọng điểm về mặt lý luận trong điều kiện phát triển kinh tế hiện tại của Việt Nam, khẳng định
vị trí vai trò quan trọng của ba vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời đưa ra được bức tranh toàn cảnh về quá trình phát triển các vùng kinh tế trọng điểm của nước ta cũng như triển vọng tương lai trong việc phát triển các vùng lãnh thổ này
Mặt khác, các nghiên cứu trên cũng đã tập trung làm rõ được những vấn đề bất cập, những yếu kém trong phát triển vùng kinh tế trọng điểm của nước ta (tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, thu hút và sử dụng vốn chưa hiệu quả, chưa tạo được mối liên kết cần thiết giữa các vùng trọng điểm với các vùng lãnh thổ khác, thiếu sự điều tiết của Nhà nước và sự phân công hợp tác giữa các vùng kinh tế trọng điểm với các địa phương, vv)
Đồng thời các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những thách thức mới đối với yêu cầu phát triển bền vững các vùng kinh tế trọng điểm trong thời gian tới (về nâng cao khả năng cạnh tranh của vùng, tăng cường liên kết vùng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tăng cường quản lý nhà nước, giảm bớt sự chênh lệch quá lớn giữa các vùng lãnh thổ, vv)
Tuy nhiên, nhiều vấn đề lý luận về phát triển vùng kinh tế trọng điểm, về mối quan hệ giữa các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng lân cận mới chỉ được nghiên cứu trên một số giác độ nhất định, chưa đưa ra được cái nhìn tổng thể, xem xét đầy đủ các mối quan hệ tương tác giữa phát triển vùng và phát triển bền vững trong môi trường kinh
tế trong nước, khu vực và thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh của quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế Các nghiên cứu cho đến nay cũng chưa đề cập nhiều đến yêu cầu phát triển bền vững các vùng kinh tế trọng điểm, phát triển bền vững nội tại của bản thân vùng kinh
tế trọng điểm trong mối liên hệ với phát triển bền vững tổng thể toàn nền kinh tế quốc dân Các phương pháp tiếp cận, đánh giá hiệu quả của sự phát triển cũng như đánh giá tác động của sự phát triển có trọng điểm một số vùng lãnh thổ vẫn chủ yếu mang tính chất thống kê và sử dụng cách tiếp cận định tính, ít sử dụng phương pháp định lượng, mô hình hoá để có những kết luận đầy đủ hơn và dự đoán được những diễn biến trong tương lai
3 Mục tiêu nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu chung
Đề tài đặt mục tiêu cuối cùng là trên cơ sở xác định rõ quan điểm, mục tiêu phát triển bền vững các VKTTĐ nước ta trong giai đoạn đến 2015; đưa ra luận cứ (lý luận và
Trang 12thực tiễn) và những nội dung đề xuất hoàn thiện, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của nền kinh tế nói chung, sự phát triển bền vững của từng VKTTĐ và liên kết vùng, trong đó có sự liên kết giữa vùng trọng điểm và vùng không trọng điểm lân cận
3.2 Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu
- Hệ thống hoá những cơ chế, chính sách có liên quan đến quá trình hình thành và phát triển các VKTTĐ, cơ chế vận dụng chính sách đối với từng VKTTĐ trong thời gian qua; từ đó phân tích và đánh giá tác động của hệ thống chính sách và cơ chế vận dụng chính sách của từng vùng đến sự phát triển của VKTTĐ theo những yêu cầu phát triển bền vững
- Kết luận về những tác động đồng thuận và không đồng thuận từ phía các cơ chế chính sách đến quá trình phát triển bền vững VKTTĐ nói chung cũng như những tác động đặc thù của những chính sách đó đến từng VKTTĐ ở nước ta
- Xác định luận cứ (lý luận và thực tiễn, trong đó kể cả những kinh nghiệm quốc tế) có liên quan đến việc đề xuất hoàn thiện và đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách nhằm phát triển bền vững VKTTĐ ở nước ta; cơ chế vận dụng chính sách trong các điều kiện đặc thù của từng VKTTĐ
- Đề xuất nội dung hoàn thiện, đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách phát triển VKTTĐ nói chung và những cơ chế vận dụng cho từng VKTTĐ đến năm 2015; những kiến nghị và giải pháp nhằm thực hiện những đề xuất đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách cho các VKTTĐ và cho từng vùng cụ thể
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được yêu cầu đặt ra, trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận của
đề tài như sau:
4.1 Phương pháp tiếp cận thực tế thông qua điều tra khảo sát
Để phục vụ nhu cầu thông tin cho việc đánh giá thực trạng và tác động của các chính sách đến sự phát triển của vùng KTTĐ, ngoài những thông tin thứ cấp có thể thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, nhóm đề tài đặt trọng tâm vào việc thu thập các thông tin
sơ cấp, coi đây là nguồn thông tin quan trọng và đáng tin cậy cho việc tiến hành nghiên cứu Những thông tin này được thu thập thông qua khảo sát, điều tra thực tế tại địa bàn, kết hợp với việc tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến chuyên gia về các chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu
Trang 13Việc điều tra khảo sát nhằm mục đích tiếp cận tốt hơn và sát thực hơn với tình hình thực tế phát triển kinh tế tại các địa phương Quá trình khảo sát sẽ được thực hiện đồng thời bằng nhiều phương pháp như điều tra trực tiếp, lấy ý kiến chuyên gia và những người ra quyết định tại địa phương, tổ chức thảo luận nhóm và tổ chức hội thảo tại chỗ Hoạt động điều tra khảo sát này sẽ được tiến hành tại các địa phương thuộc cả ba vùng kinh tế tọng điểm hiện nay
Phương pháp tiếp cận này sẽ đảm bảo tính chính xác và chất lượng của các thông tin thu thập, là kênh thông tin quan trọng cho phép đánh giá một cách cụ thể các tác động của các cơ chế, chính sách phát triển vùng KTTĐ, cũng như cung cấp thông tin đầu vào cho các mô hình phân tích định lượng mà đề tài dự kiến áp dụng
4.2 Phương pháp kết hợp nghiên cứu tổng hợp với nghiên cứu chi tiết
(1) Nghiên cứu tổng thể các vùng kinh tế: đặt xu thế vận động của tổng thể các vùng KTTĐ theo xu thế phát triển bền vững, đó là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các nguồn lực của tương lai Do đó, để có được sự phát triển bền vững tổng thể các vùng kinh tế, cần có cách tiếp cận tổng hợp giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và tự nhiên Cơ sở đánh giá tác động của cơ chế chính sách phải dựa trên những yêu cầu về phát triển cả 3 khía cạnh trên Khi có sự tác động thiên lệch của một chính sách nào đó sẽ ảnh hưởng đến phát triển bền vững Từ kết quả đánh giá sẽ xác định mức độ ảnh hưởng đến phát triển bền vững, và sẽ là chỉ báo
để hiệu chỉnh cơ chế, chính sách nhằm đạt được sự phối hợp tốt nhất trong hệ thống Phát
triển bền vững cần được tiếp cận một cách tổng hợp và toàn diện, kết hợp chặt chẽ, hợp
lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT
(2) Nghiên cứu đặc thù của từng vùng: mỗi vùng KTTĐ bản thân nó lại có những đặc điểm và những yêu cầu phát triển khác nhau Nghiên cứu sẽ phải tìm ra những điểm nhấn cần thiết cho từng vùng một cách cụ thể để trên cơ sở đó có cái nhìn đúng cho sự phát triển của từng vùng KTTĐ hiện nay, đánh giá đúng sự tác động thuận và không thuận của hệ thống chính sách và tìm ra những nét đặc thù trong vận dụng chính sách đối với từng vùng, đảm bảo cho sự phát triển trong những điều kiện cụ thể Việc nghiên cứu chi tiết từng vùng KTTĐ sẽ cho phép sử dụng những kinh nghiệm, những mô hình phát triển của vùng KTTĐ phía Nam vào 2 vùng KTTĐ Bắc Bộ và miền Trung một cách có hiệu quả nhất
4.3 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu hệ thống và xu thế động
(1) Đặt sự vận động của các vùng KTTĐ trong hệ thống nền kinh tế quốc dân Từ
đó nghiên cứu các chính sách một mặt nhằm tạo ra sự phát triển đột phá từ các vùng này, mặt khác các chính sách cũng phải hướng tới yêu cầu nhằm phát huy tác động lan toả của
Trang 14các vùng trọng điểm với các vùng khác trên lãnh thổ quốc gia và tạo dựng mối liên kết kinh tế giữa các vùng với nhau
(2) Đặt sự phát triển các vùng kinh tế dưới tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó cơ chế, chính sách là yếu tố tác động mang tính chủ quan về phía các nhà hoạch định, các nhà lãnh đạo quản lý Cơ sở của những quyết định này phải được hình thành từ những yếu tố khách quan mang tính chất thị trường và những phát sinh nội lực của các vùng kinh tế
(3) Hệ thống cơ chế chính sách đặt ra ở đây vừa là những chính sách chung của nhà nước Trung ương áp dụng cho các vùng KTTĐ, vừa là cơ chế vận dụng chính sách
ấy đối với từng vùng khác biệt Vì vậy, cách tiếp cận tổng hợp đòi hỏi có sự tham gia tích cực của các bên quan tâm sẽ là cần thiết để làm rõ tác động của chính sách đến phát triển bền vững các vùng KTTĐ
4.4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu định lượng
Một kỳ vọng đặt ra cho nghiên cứu này là phân tích định lượng cho các nội dung: (1) Tác động của một số chính sách điều tiết vĩ mô đến quá trình thu hút vốn đầu
tư, đến tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khả năng thu hút lao động vào các vùng KTTĐ;
(2) Tác động lan toả (tràn) của sự phát triển của vùng KTTĐ đến các vùng khác trên lãnh thổ quốc gia hoặc các vùng, địa phương lân cận;
(3) Đưa ra hệ thống chỉ tiêu thể hiện sự phát triển bền vững các vùng KTTĐ, bao gồm các chỉ tiêu thể hiện sự bền vững nội tại vùng KTTĐ và những chỉ tiêu thể hiện sự lan toả của nó đến nền kinh tế của quốc gia
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu: với chủ đề là cơ chế chính sách phát triển bền vững các
VKTTĐ, đề tài đặt ra hai đối tượng nghiên cứu chính:
Một là: hệ thống cơ chế chính sách có liên quan đến phát triển các VKTTĐ của Việt Nam xuất hiện trong thời gian qua, phân tích nội dung chính sách và những khía cạnh được hay không được của hệ thống chính sách này với tư cách là công cụ định hướng và điều tiết phát triển nói chung và các VKTTĐ nói riêng
Hai là: Các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam: Tình trạng và mục tiêu phát triển (theo các khía cạnh phát triển bền vững) các VKTTĐ của Việt Nam; cơ chế chính sách có ảnh hưởng đến thực trạng phát triển bền vững VKTTĐ (theo từng khía cạnh) và hoàn thiện cơ chế chính sách cho sự phát triển bền vững VKTTĐ ở VN thời gian tới
Trang 155.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài không chỉ nghiên cứu hệ thống cơ chế chính sách riêng cho các VKTTĐ
mà là tổng thể các cơ chế chính sách có liên quan đến phát triển VKTTĐ ở VN thời gian qua Tuy vậy, để phân chia cụ thể cơ chế riêng và chính sách riêng thì đây là một vấn đề rất khó khăn, vì thế trong phân tích và đề xuất, đề tài dùng cụm từ cơ chế - chính sách chung và về cơ bản đi sâu vào hệ thống chính sách, góc độ cơ chế, chúng tôi chỉ đặt vấn
đề về cách thức vận dụng chính sách đối với từng địa phương trong VKTTĐ
- Đối với hệ thống các VKTTĐ: đề tài đặt vấn đề nghiên cứu 3 VKTTĐ là chủ yếu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, Chính phủ có quyết định thành lập thêm 01 VKTTĐ mới là VKTTĐ Đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu sẽ không đề cập đến vùng này trong phân tích thực trạng mà chỉ đề cập đến trong phần định hướng đến năm
2015
4 Kết cấu đề tài: Những nội dung cơ bản của đề tài được kết cấu theo ba phần chính
ngoài mở đầu và kết luận như sau:
- Phần I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về cơ chế chính sách phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm
- Phần II: Thực trạng cơ chế chính sách và tác động đến phát triển bền vững các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam thời gian qua
- Phần III: Hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm mục tiêu phát triển bền vững các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam đến 2015
Trang 16PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
1.1 SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
1.1.1 Khái luận chung về vùng kinh tế trọng điểm
Một trong những nội dung mang tính nguyên tắc đựơc chi phối từ lâu trong phân vùng kinh tế trên thế giới là hình thành “khu vực nhân” trong mỗi vùng kinh tế hoặc mỗi quốc gia Khái niệm về “khu vực nhân, hay hạt nhân” dùng để chỉ những khu vực đóng vai trò là động lực, có ý nghĩa đầu tầu, lôi kéo sự phát triển chung cho cả nước hay cho từng vùng kinh tế Mỗi quốc gia, hay mỗi vùng đều tồn tại khu nhân hay lãnh thổ động lực Ngay từ buổi bình minh của Cách mạng công nghiệp, cùng với sự ra đời của các
“Công trường thủ công”, các lãnh thổ công nghiệp tập trung cũng đã dần hình thành và phát triển ở nước Anh Tiếp đó, với các KCN tập trung nối tiếp nhau ra đời, nước Anh đã trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất với lực lượng công nghiệp hùng mạnh Tiếp sau nước Anh, quá trình công nghiệp hóa diễn ra tại Hà Lan, Đức, Pháp, Italia, Bỉ, Hoa Kỳ, Canađa… kéo theo sự phát triển nhanh chóng của các lãnh thổ sản xuất công nghiệp tập trung, làm trọng điểm cho sự phát triển của các vùng và toàn bộ nền kinh tế Tại Châu Mỹ La tinh, các lãnh thổ động lực dưới hình thức các khu thương mại tự do đã bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1920 Tính đến năm 2002, trên toàn Thế giới đã có khoảng 43 triệu người đang làm việc trong khoảng 3.000 khu thương mại tự do của 116 quốc gia và vùng lãnh thổ Mục tiêu chính của các lãnh thổ kinh tế này là tăng cường thu hút các dòng ngoại tệ, phát triển các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu và tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, từng bước tạo ảnh hưởng lan tỏa cho sự phát triển của các lãnh thổ xung quanh và toàn bộ nền kinh tế
Từ những năm 1960, đã có một sự thay đổi lớn trong việc lựa chọn và phát triển các “khu nhân”, nó không phải chỉ là một KCN, KCX, khu thương mại tự do, mà đã phát triển thành một vùng động lực mà chúng ta gọi là “vùng kinh tế trọng điểm” Một số quốc gia trên Thế giới đã chủ động lựa chọn những lãnh thổ có lợi thế so sánh, thông thường là những khu vực gần các trục giao thông huyết mạch, ven sông, ven biển, gần các đô thị sôi động (hoặc ngay chính các đô thị đó), có điều kiện phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế với bên trong và bên ngoài, có khả năng tiếp cận và hoà nhập nhanh chóng vào các thị trường hàng hoá và dịch vụ… để tập trung đầu tư, lập các trọng điểm phát triển công nghiệp và thương mại nhằm tạo địa bàn động lực, tạo mũi đột phá trong phát triển lãnh thổ để từ đó có sức lan toả phát triển sang các lãnh thổ khác
Trang 17Hiện nay khái niệm về vùng kinh tế trọng điểm (hay vùng động lực) chưa được thống nhất ở Việt Nam Nhiều ý kiến cho rằng: đó là những vùng có lịch sử phát triển lâu dài và do đó có được sự tập trung các tiềm lực về kinh tế, có được sự tập trung các điều kiện thuận lợi để phát triển (nhất là về giao thông, điện, nước, thông tin, dịch vụ tài chính ngân hàng, lao động kỹ thuật…), có được sự quan tâm của các nhà đầu tư, và trong tương lai với sự hấp dẫn như thế, nó trở thành động lực lôi kéo sự phát triển của các vùng khác, có vai trò to lớn trong việc quyết định tăng trưởng, hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến của nước ngoài Ý kiến nêu trên về cơ bản phản ánh đựợc bức tranh của vùng kinh tế trọng điểm Tuy vậy, trên thực tế, nhiều vùng động lực trên thế giới cũng như Việt Nam có thể được hình thành không phải từ những vùng có lịch sử phát triển lâu dài mà là những vùng mới xuất hiện với những dấu hiệu về lợi thế cạnh tranh; hay nhiều vùng kinh tế trọng điểm khi thành lập không phải là
đã có sự tập trung các tiềm lực kinh tế cao là mới chỉ là có những dấu hiệu lợi thế để từ
đó thu hút nguồn lực để trở thành vùng tập trung kinh tế cao Vì vậy theo quan niệm của
nhóm nghiên cứu, vùng kinh tế trọng điểm là vùng hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện phát
triển, có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh, làm đầu tầu tăng trưởng nhanh để đẩy mạnh quá trình phát triển cho chính mình, và tiến tới đóng được vai trò chi phối quyết định đối với nền kinh tế cả nước Lãnh thổ được coi là VKTTĐ phải thỏa mãn các yếu tố sau:
(1) Hội tụ các điều kiện thuận lợi tập tung tiềm lực kinh tế, có vị trí thuận lợi trong quá trình thực hiện liên kết, gần và có điều kiện phát triển thị trường và hội nhập,
có vị thế hập dẫn các nhà đầu tư, để tạo khả năng thực hiện vai trò đầu tầu tăng trưởng và phát triển nhanh trong nội bộ vùng
(2) Có khả năng chiếm tỷ trọng cao trong tổng GDP của quốc gia, nếu được đầu
tư thích đáng sẽ có khả năng tạo tốc độ phát triển nhanh cho cả nước
(3) Có khả năng tạo tích lũy đầu tư để tái sản xuất mở rộng; đồng thời có thể tạo nguồn thu ngân sách lớn cho đất nước Trên có sở đó vùng này không chỉ tự bảo đảm nguồn tài chính cho mình mà có khả năng hỗ trợ cho các vùng khác
(4) Có khả năng thu hút những ngành công nghiệp mới và các ngành dịch vụ then chốt để rút kinh nghiệm về mọi mặt cho các vùng khác trong phạm vi cả nước Từ đây có tác dụng lan truyền sang các vùng xung quanh
Quan niệm và yêu cầu đặt ra đối với VKTTĐ sử dụng trong nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với quan điểm địa kinh tế mới: một mặt, muốn cho quốc gia phát triển mạnh thì phải tạo ra được sự phát triển dẫn đầu của những vùng có lợi thế; mặt khác trong dài hạn, sự tập trung và phân cực kinh tế phải kéo theo sự hội tụ dần về vấn đề xã hội, đó chính là nhiệm vụ đặt ra cho các VKTTĐ
Trang 181.1.2 Các quan điểm và lý thuyết về vùng KTTĐ trên Thế giới
1.1.2.1 Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh
Một trong những lý thuyết quan trọng luận cứ cho việc hình thành các vùng kinh
tế trọng điểm là lý thuyết về lợi thế cạnh tranh vùng hay quốc gia
Trước hết phải nói đến quan điểm của Adam Smith trong cuốn “của cải các dân tộc” (năm 1776) Theo quan điểm của ông, “chính do bờ biển, và dọc theo các bờ sông cho phép giao thông thủy là nơi các ngành sản xuất khác nhau bắt đầu chia nhỏ một cách
tự nhiên và tự cải tiến, dần dà không bao lâu, sau chính những cải tiến đó tự lan rộng vào những vùng miền đất liền của đất nước” Điểm mấu chốt trong quan điểm của Adam Smith là: sự phát triển kinh tế của một quốc gia, trong những giai đoạn đầu của nó, có xu hướng đi theo những vùng miền là những nơi mang lại tiềm năng tiếp cận thị trường lớn nhất, và nhờ đó tạo điều kiện tiếp cận đến những nơi có mật độ cao Song những nơi cách xa vùng có mật độ cao, như các vùng trong đất liền (trong ví dụ của Adam Smith)
có xu hướng bị bỏ lại phía sau Theo quan điểm của Adam Smith, lợi thế cạnh tranh của vùng trong một quốc gia được xuất phát từ các điều kiện lợi thế về khả năng tiếp cận thị trường quốc tế (trong giai đoạn này là hệ thống giao thông đường thủy, đường sông), và những vùng có lợi thế này sẽ trở thành những vùng động lực tăng trưởng mạnh mẽ, nó không chỉ có khả năng tạo sức bật cho chính nó mà còn có khả năng lan tỏa sự phát triển của mình sang các địa phương khác trong cả nước Theo ông, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, để tạo ra sự khởi sắc nhanh chóng cho nền kinh tế đất nước, cần khai thác triệt
để lợi thế cạnh tranh của các vùng này để phát triển
Trong hai cuốn sách ''Lợi thế cạnh tranh'' năm 1985 và cuốn ''Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1990, M Porter đã đưa ra quan điểm của mình về lợi thế cạnh tranh Ông đã phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho rằng lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường cạnh tranh quốc tế là chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối của Adam Smith hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hóa thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và thông qua quá trình địa phương hóa cao độ
Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn hóa, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công trong cạnh tranh Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu vì môi trường trong nước của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất Các công ty của họ thu được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ
Trang 19việc có các đối thủ mạnh trong nước, nhờ có các nhà cung cấp có khả năng trong nước, nhờ sự phong phú nhu cầu khách hàng trong nước và sự liên kết chặt chẽ của các ngành phụ trợ
Theo Porter, lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi thế của ngành, quốc gia mà nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo
ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp Lợi thế cạnh tranh quốc gia có thể được bắt nguồn từ lợi thế so sánh nhưng không phải chỉ là lợi thế so sánh Lợi thế so sánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào đó của một quốc gia hoặc ngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện tự nhiên, tài nguyên hay con người Nguồn nhân công rẻ, tài nguyên dồi dào thường được coi là lợi thế so sánh của các nước đang phát triển Tuy nhiên đây mới chỉ là cơ sở cho một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợi thế cạnh tranh đảm bảo cho sự thành công trên thị trường quốc tế Lợi thế cạnh tranh phải là khả năng cung cấp giá trị gia tăng cho các đối tượng có liên quan như: khách hàng, nhà đầu tư hoặc các đối tác kinh doanh
và tạo giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp
Như vậy, M Porter đã phát triển khá đầy đủ quan niệm về lợi thế cạnh tranh Theo ông, lợi thế cạnh tranh, (i) trước hết phải được thể hiện từ những dấu hiệu lợi thế của đất nước; (ii) nhưng phải từ lợi thế đó, phải làm thế nào đó để duy trì lợi thế, biến những lợi thế đó thành những thế mạnh cụ thể để tạo ra giá trị kinh tế từ lợi thế và tạo sự hấp dẫn đối với bên ngoài (các nhà đầu tư, khách hàng, đối tác) nhằm phát triển kinh tế
(ii) Khi kinh tế phát triển và sản phẩm được mở rộng sang lĩnh vực công nghiệp
và dịch vụ, thì một số vùng trở nên hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp và người lao động do có những lợi thế so sánh Những lợi thế so sánh có thể bao gồm: lợi thế do ưu đãi tự nhiên và địa lý, ví dụ như vị trí ven biển, ven sông; có nhiều tài nguyên thiên nhiên
ưu đãi; có thể do điều kiện về lịch sử, xã hội như lao động, ngành truyền thống; có thể do
hệ thống sơ sở hạ tầng để lại từ xa xưa;… Các yếu tố đó đã mang lại thuận lợi cho các vùng này trong các vấn đề về hội nhập thị trường, thu hút lao động, vốn và khả năng mở rộng giao lưu thương mại trong nước và quốc tế
(iii) Chúng ta cần nằm bắt được các dấu hiệu lợi thế so sánh này, kết hợp với việc chính phủ đưa ra các chính sách định hướng cũng như trợ giúp sẽ thúc đẩy quá trình thu hút đầu tư, nguồn nhân lực, để tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh của vùng, hình thành những vùng động lực, đóng vai trò dẫn đầu để tận dụng tính hiệu quả nhờ tích tụ
Trang 20trở thành các trung tâm tăng trưởng và sáng tạo để có cơ hội dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong tương lai dài
1.1.2.2 Các lý thuyết về sự phát triển các lãnh thổ trọng điểm
Từ thế kỷ 19, Johann - Heinrich Von Thunen trong lý thuyết phát triển các vành
đai nông nghiệp (1833) đã coi các thành phố, các cảng biển, các đầu mối giao thông lớn
là những nút, những trọng điểm của lãnh thổ có sức hút và sức lan tỏa ra xung quanh Cách phân tích và lý luận để dẫn tới lý thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp dưới ảnh hưởng của các thành phố (trung tâm thị trường) có ích rất nhiều cho những nghiên cứu liên quan đến các trọng điểm của lãnh thổ
Trong lý thuyết định vị công nghiệp (1909), nhà kinh tế học A Weber đã đề cập
những ưu điểm và hạn chế của việc tập trung các doanh nghiệp tại một địa điểm mà trong ngôn ngữ kinh tế học hiện đại chúng được gọi là các “lợi ích ngoại ứng” và “chi phí ngoại ứng” (hay phi kinh tế ngoại ứng) của vùng lãnh thổ trong phạm vi quyết định đầu tư Các lợi ích ngoại ứng xuất hiện khi các doanh nghiệp có thể chia sẻ gánh nặng sử dụng chung hệ thống kết cấu hạ tầng và có thể hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động, thực hiện chuyên môn hoá, hợp tác hoá, làm tăng NSLĐ, hạ giá thành sản phẩm, sử dụng tiết kiệm các nguồn nguyên nhiên liệu, năng lượng Phi kinh tế ngoại ứng xuất hiện khi có sự quá tải của lãnh thổ và sự cạnh tranh, chèn ép lẫn nhau dẫn đến hạn chế sự phát triển của mỗi doanh nghiệp
Lý thuyết định vị công nghiệp được vận dụng trong việc lựa chọn các lãnh thổ trọng điểm cho phát triển: nhờ các lợi ích ngoại ứng mà những lãnh thổ/ vùng hội tụ được nhiều yếu tố thuận lợi cho sự phát triển sẽ trở nên hấp dẫn đối với các hoạt động kinh tế, đặc biệt là công nghiệp; mặt khác sự tập trung phát triển của công nghiệp lại dẫn tới tăng cường tiềm lực kinh tế cho những lãnh thổ/ vùng này
Lý thuyết vị trí trung tâm (1933) của hai nhà bác học người Đức là W Christaller
và A Losch là sự khám phá quy luật phân bố không gian, nghiên cứu các hệ thống không gian cơ sở để xác định các nút trọng điểm Việc phân chia các địa điểm không gian của các nhà sản xuất có quy mô thị trường khác nhau sẽ tạo nên một trật tự thứ bậc của các vị trí trung tâm Các trung tâm đô thị càng lớn sẽ càng có nhiều loại sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ, càng có chức năng đa dạng, phong phú và phức tạp hơn so với các trung tâm đô thị nhỏ Theo quan niệm của Christaller, các thành phố là cực hút, là hạt nhân của sự phát triển, là đối tượng để đầu tư có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức
độ thu hút và mức độ ảnh hưởng của các vị trí trung tâm
Lý thuyết cực tăng trưởng do nhà kinh tế học người Pháp Francois Perrous đề
xướng vào năm 1950, sau đó được Albert Hirshman, Myrdal, Friedman và Harry
Trang 21Richardson tiếp tục nghiên cứu và phát triển Lý thuyết này chú trọng vào những lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế Theo lý thuyết này, sự phát triển kinh tế của một lãnh thổ không phải là tiến hành một cách cân đối/ đồng đều theo một tốc độ như nhau trên tất cả các vùng Trong mỗi thời kỳ khác nhau, có vùng có mức tăng trưởng cao hơn nhờ vào sự phát triển của các ngành chủ đạo/ mũi nhọn (leading industry) với năng lực đổi mới và khả năng mang lại lợi nhuận cao Các ngành chủ đạo/ mũi nhọn này thường tập trung tại một số thành phố lớn và được ưu tiên phát triển, trở thành “cực tăng trưởng” Cực tăng trưởng thường lại là các trung tâm sản xuất, trung tâm thương mại, trung tâm tài chính, trung tâm thông tin, trung tâm giao thông hay các trung tâm dịch vụ quan trọng có tính chất quyết định đối với lãnh thổ Tập trung hoá về lãnh thổ đạt tới một mức nhất định và sau đó hiệu ứng lan toả sẽ làm cho các cơ hội phát triển mới bắt đầu xuất hiện ở nhiều địa phương khác Kết quả là sự phát triển của một cực như là một lãnh thổ trọng điểm sẽ có tác dụng như những “đầu tàu” lôi kéo theo sự phát triển của các
vùng lãnh thổ khác, tạo điều kiện cho nền kinh tế cả nước phát triển nhanh và mạnh hơn
Tác động của cực được xác định bởi cả hiệu ứng thu hút hay hiệu ứng phân cực và hiệu ứng lan toả Hiệu ứng phân cực (hay tập trung hoá) là những tác động tiêu cực của tăng trưởng tại điểm cực tới các vùng trong phạm vi ảnh hưởng của nó, thể hiện ở sự gia tăng khoảng cách chênh lệch GDP bình quân đầu người giữa các vùng và những ảnh hưởng xấu tới sự tăng trưởng, phát triển các vùng xung quanh do sự thu hút các nguồn lực vào vùng cực Hiệu ứng lan toả được đề cập như là những tác động tích cực của sự tăng trưởng tại điểm cực tới tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người và cơ cấu kinh tế của các vùng lãnh thổ xung quanh nó
1.1.2.3 Quan điểm địa kinh tế mới
Trong một khoảng thời gian dài, đứng trên góc độ địa kinh tế, đã tồn tại trong nhiều quốc gia với các yếu tố chính trị không giống nhau như Liên Xô cũ, Cộng hòa Ả Rập, Ấn Độ, Braxin, Indonexia, Mêxico, Nigieria, Nam Phi hay nhiều nước khác một quan điểm “tăng trưởng kinh tế theo không gian” Theo đó các chính sách của Chính phủ
luôn cố gắng hướng tới trải rộng sự phát triển kinh tế đồng đều trên mọi vùng lãnh thổ
của đất nước, mặc dù bản thân những vùng này có những đặc điểm và điều kiện thuận
lợi cũng như khó khăn cho phát triển kinh tế hoàn toàn không giống nhau Thậm chí trong lịch sử, nhiều nước phát triển đã từng có một sự cam kết mạnh mẽ về sự phát triển cân đối theo không gian Ví dụ như nước Anh theo đuổi chủ trương này vào khoảng cuối những năm 1920 đến thập kỷ 1980; hay Canada cũng đã làm tương tự như vậy vào khoảng cuối thập kỷ 50 của thể kỷ 20 Tuy nhiên mọi sự cố gắng trong nhiều năm đều dẫn đến những kết cục không sáng sủa, các vùng không có khả năng phát triển chẳng những không cải thiện được thành quả kinh tế của mình sau những chính sách đầu tư khá
Trang 22tốn kém của Chính phủ Hơn nữa cách chính sách làm giảm khoảng cách chênh lệch phát triển giữa các vùng trong nước, trên một góc độ nhất định đã làm giảm đi khả năng phát triển của những vùng có nhiều lợi thế hơn
Một thực tế ở nhiều nước thành công về phát triển kinh tế trong thời gian qua đã cho thấy chính phủ của các quốc gian này đã vừa phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự tập trung hóa sản xuất diễn ra ở những vùng có lợi thế cạnh tranh, lại vừa phải đề ra những chính sách khiến mức sống của tất cả mọi người (xét về mặt dinh dưỡng, giáo dục và điều kiện vệ sinh) đồng đều hơn giữa các vùng Để tranh thủ được lợi ích của sự tập trung hóa sản xuất và hội tụ xã hội, đòi hỏi phải có những hành động chính sách chú trọng đến sự hội nhập và liên kết kinh tế Sự thành công của các nước này đã củng cố cho một quan điểm về địa kinh tế mới có giá trị rất quan trọng trong tổ chức không gian, phân vùng kinh tế và thực hiện mục tiêu phát triển của nhiều nước trên thế giới hiện nay
Quan điểm địa kinh tế mới đó là: “Phát triển kinh tế cần phải tập trung (mất cân đối);
còn xã hội thì tiến đến hội tụ (phát triển đồng đều)” Theo quan điểm này, một quốc gia
thành công trong phát triển cần phải theo đuổi các chính sách nhằm bảo đảm một mức sống tương đối đồng đều giữa các vùng trong nước nhưng không phải thực hiện bằng cách tạo sự tăng trưởng kinh tế mạnh thông suốt theo không gian, mà phải theo phương
châm: Sản xuất kinh tế phải tập trung còn mức sống thì hội tụ Một số vấn đề nhóm
nghiên cứu nhấn mạnh từ quan điểm địa kinh tế mới có liên quan đến vấn đề phát triển vùng trọng điểm như sau:
(1) Muốn toàn bộ quốc gia trở nên phồn thịnh thì nhất quyết phải có một số vùng giầu lên trước những vùng khác Khi nền kinh tế chuyển từ nông nghiệp sang công
nghiệp, sự phân bố sản xuất và dân số theo không gian gắn kết chặt chẽ với nhau hơn Trong phạm vi một nước, sự tích tụ và liên kết kinh tế của các vùng có lợi thế đã làm cho các vùng này trở thành vùng động lực tăng trưởng nhanh, dẫn đầu có nhiều hoạt động kinh tế Sự tiến bộ về công nghệ và toàn cầu hóa làm gia tăng tiềm năng thị trường của những vùng dẫn đầu (vùng động lực) ở các nước đang phát triển tăng cường tính tập trung, phát huy hiệu quả của các lợi thế cạnh tranh và nâng cao tính đậm đặc trong mật
độ kinh tế Đây chính là khía cạnh ủng hộ cho quan điểm cần phải có các vùng kinh tế
trọng điểm ở các nước đang phát triển theo nghĩa tạo động lực cho tăng trưởng nhanh, tích tụ các yếu tố vật chất cho quá trình thực hiện phát triển kinh tế chung của cả nước
(2) Chênh lệch về mức sống theo không gian sẽ đi theo hình chữ” U ngược”, tức
là mở rộng ở giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, tiếp tục duy trì mức cao trong thời gian dài trước khi dần dần hội tụ với nhau Khi một nước công nghiệp hóa, nó cần phải
tập trung nguồn lực có giới hạn vào các vùng dẫn đầu, nơi có tiềm năng tăng trưởng cao Nhiều vùng nằm xa các trung tâm mới có mật độ kinh tế cao sẽ trở nên tụt hậu Khoảng cách lớn về năng suất và thu nhập có thể tồn tại trong nhiều thế hệ ngay cả khi vốn và lao động vẫn rất cơ động Tăng cường tính tập trung về kinh tế vào các vùng động lực đã
Trang 23làm đậm đặc thêm sự bất bình đẳng theo không gian Tiếp theo giai đoạn này là quá trình thu hẹp khoảng cách mức sống, một mặt quá trình phân phối hoạt động kinh tế theo không gian trở nên ổn định hơn; mặt khác chính phủ sẽ áp dụng đa dạng hóa những chính sách có liên quan đến sự hội tụ về mặt xã hội
(3) Để thực hiện quá trình trên, vai trò của hệ thống chính sách của Chính phủ là rất cần thiết: (i) Trước tiên là các chính sách nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho các vùng
động lực, tức là, từ các dấu hiệu lợi thế, vai trò của các chính sách Chính phủ là làm thế nào để tạo điều kiện thu hút vốn, nhân lực, đầu tư đẩy mạnh hoạt động kinh tế, mở rộng
hệ thống thị trường, phát triển khoa học công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường, tạo sự hấp dẫn của vùng cho các đối tác đầu tư… (ii) tiếp sau đó là áp dụng các chính sách nhằm hướng tới sự hội tụ về xã hội, các chính sách này, một mặt dựa vào quan điểm địa kinh tế mới hướng tới sự giao lưu và hội nhập, ví dụ như quan điểm di dân
tự do, không tạo rào cản cho người dân ở các vùng khác di chuyển đến vùng động lực, hay chính sách đầu tư hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, chính sách phát triển khu đô thị; một mặt khác các chính sách có liên quan đến công bằng xã hội như: chính sách điều tiết thuế thu nhập lũy tiến, chính sách tài khóa, thị trường đất đai, nhà ở; các chính sách liên quan đến đầu tư công như giáo dục, y tế, cấp nước và vệ sinh
cơ bản
1.1.3 Sự cần thiết phát triển VKTTĐ ở Việt Nam
1.1.3.1 Mục tiêu CNH, HĐH đất nước và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CNH, HĐH là tất yếu khách quan đối với các nước có nền kinh tế còn kém phát triển như Việt Nam Mục tiêu CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có CCKT hợp lý CNH, HĐH cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế, là quá trình làm biến đổi nền kinh tế từ chỗ có cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ hiện đại, làm tăng tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế gắn với những đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH chính là sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ tình trạng lạc hậu, mất cân đối, kém hiệu quả sang một cơ cấu hợp lý, đa dạng, cân đối, năng động và có hiệu quả cao, gắn với từng bước trưởng thành của cơ sở vật chất - kỹ thuật do CNH, HĐH tạo ra Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chúng
ta không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn làm thay đổi cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghệ tiến bộ, không chỉ tuần tự qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá mà còn kết hợp đồng
Trang 24thời với các thành tựu trên nhiều lĩnh vực, và có những mũi nhọn phát triển đi tắt, đón đầu, không chỉ áp dụng công nghệ tiên tiến mà còn tận dụng và hiện đại hoá các công nghệ truyền thống
Xét từ giác độ lãnh thổ, mục tiêu CNH, HĐH đòi hỏi các vùng có tiềm năng, lợi thế phải nhanh chóng trở thành những lãnh thổ trọng điểm, động lực, có hệ thống KCHT hiện đại, chức năng đa dạng, dịch vụ chất lượng cao để đáp ứng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ hiện đại và đòi hỏi hàm lượng chất xám cao cùng với các ngành nông nghiệp sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng và giá trị kinh tế cao Bên cạnh đó mục tiêu CNH, HĐH cũng đòi hỏi quan tâm một cách hợp lý đến việc
hỗ trợ phát triển của các vùng còn lại, đặc biệt là các vùng khó khăn, để các vùng này dần vươn lên tự giải quyết khó khăn cho mình, khai thác được các lợi thế và nguồn lực tại chỗ, từng bước chuyển dịch CCKT theo hướng tiến bộ và tăng cường liên kết giữa các vùng, tạo nên sự phát triển ổn định và bền vững của cả nước
Thực chất của quá trình trên cũng là hình thành một CCKTLT hợp lý Một
CCKTLT hợp lý phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, cơ cấu đó phải bảo đảm phù hợp nhất với các điều kiện cấu thành (các
phần tử cơ cấu vùng) và những nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước giao cho vùng nhằm bảo đảm sự phát triển tốt nhất của vùng và thực hiện tốt nhất các nhiệm
vụ được giao
Thứ hai, cơ cấu đó phải bảo đảm sự “ăn khớp nhịp nhàng” của các yếu tố phát
triển nói chung và của sức sản xuất nói riêng giữa các lãnh thổ, có sự thích ứng cao với những thay đổi bên ngoài
Thứ ba, cơ cấu đó phải bảo đảm đạt được hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất, hài
hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
Một CCLT được coi là hợp lý cũng phải đạt được ba nhóm mục tiêu là:
Các mục tiêu của vùng: mỗi vùng phải hoàn thành những nhiệm vụ kinh tế quốc
dân nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và các nguồn lực có trong vùng, hoàn thiện CCKT của vùng để phát triển tối đa kinh tế vùng về lâu dài, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật và những điều kiện kinh tế - xã hội khác cho việc phát triển nhanh chóng kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng, BVMT sinh thái
Các mục tiêu của ngành: mỗi vùng phải hoàn thành nhiệm vụ sản xuất những
sản phẩm chủ yếu, đáp ứng nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, giảm đến mức thấp nhất chi phí sản xuất, phối hợp hài hoà với các bộ phận khác trong ngành và ngoài ngành nằm ở các vùng khác
Trang 25Các mục tiêu của cả nước: CCKTLT hợp lý phải thể hiện đúng chiến lược phát
triển quốc gia cả trong kinh tế, xã hội, môi trường cũng như vấn đề an ninh quốc phòng
Với những yêu cầu và mục tiêu nêu trên, rõ ràng, CCKTLT hợp lý không thể chỉ
là quan hệ tỷ lệ của các bộ phận cấu thành CCKTLT đó, mà điều quan trọng hơn, cốt lõi hơn là phải đề cập đến "kiểu bố trí" nền kinh tế xã hội theo lãnh thổ Những yêu cầu và mục tiêu về tính hiệu quả và chất lượng của phát triển đòi hỏi sự phát triển cần được tập trung vào một số lãnh thổ trọng điểm; trong khi đó yêu cầu và mục tiêu ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia lại đòi hỏi phải quan tâm phát triển toàn diện các vùng lãnh thổ của đất nước Vì vậy, để hình thành CCKTLT hợp lý, các quốc gia luôn phải phát hiện ra và có giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các lãnh thổ hay địa bàn có vai trò động lực để thúc đẩy, lôi kéo sự phát triển chung của nền kinh tế; đồng thời cũng phải tìm ra các vùng còn chậm phát triển hay trong tình trạng trì trệ, suy thoái để có giải pháp thích hợp hỗ trợ cho các vùng này phát triển "Kiểu bố trí" phát triển có trọng điểm theo lãnh thổ kết hợp với phát triển toàn diện như vậy có một ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là đối với các quốc gia trong nền kinh tế chuyển đổi với điểm xuất phát thấp, nguồn vốn hạn hẹp, các nguồn lực hạn chế như Việt Nam
1.1.3.2 Sự khác biệt theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam
Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là khung cảnh và là điều kiện cần thiết (chứ không phải quyết định) đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của bất cứ quốc gia/ vùng lãnh thổ nào Đặc biệt, đối với một quốc gia đang ở giai đoạn đầu của quá trình CNH với kinh tế nông nghiệp và dân cư nông thôn còn chiếm tỷ trọng cao thì sự phân dị các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên giữa các vùng lãnh thổ đã khiến cho các vùng có những tiềm năng và lợi thế không giống nhau, điều này có ý nghĩa không nhỏ đối với việc hình thành CCKTLT và phát triển các lãnh thổ trọng điểm
- Việt Nam là nước đứng đầu về tính chất biển trong số các quốc gia lục địa Đông Nam Á Ngoại trừ hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên, các vùng còn lại đều tiếp giáp với biển, có nhiều vũng, vịnh kín gió, cửa sông nước sâu, nhiều cảng tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập một hệ thống các cửa vào - ra giữa các vùng trong nội địa và với các lãnh thổ bên ngoài
Vị trí nằm ở "ngã ba đường", gần các tuyến hàng hải quan trọng qua Biển Đông nối châu úc với vùng Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Công, Đài Loan), nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương có ý nghĩa không nhỏ với các vùng ven biển, đặc biệt là các khu vực thuộc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Nam Bộ
Trang 26Hình thể đất nước kéo dài nhưng lại hẹp chiều ngang cũng quy định các mối liên
hệ vận tải chủ yếu theo hướng Bắc - Nam Các trung tâm kinh tế của các vùng đồng thời cũng là các đầu mối giao thông quan trọng đều nằm theo trục Bắc - Nam
- Địa hình Việt Nam phức tạp gồm nhiều khu vực khác nhau Các dải trung du Bắc Bộ và ĐNB có địa hình bán sơn địa và thềm phù sa cổ, nền địa chất công trình lý tưởng rất thuận lợi phát triển cây công nghiệp và bố trí cơ sở hạ tầng, dân cư, đô thị, các ngành công nghiệp cơ bản, nhất là công nghiệp năng lượng và vật liệu xây dựng Các khu vực ven biển vùng Đông Bắc và Trung Bộ có nhiều núi nhô ra sát biển, có nhiều cảng mực nước sâu, nhiều eo vịnh kín gió, là điều kiện thuận lợi để hình thành "hệ thống cửa mở", các cửa vào - ra của đất nước Vùng đồng bằng ven biển tương đối bằng phẳng bồi tụ bởi phù sa sông biển, hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi cho phân bố dân cư và hoạt động kinh tế, là nơi tập trung các ngành công nghiệp "hạ du", các ngành công nghiệp chế biến, sản xuất thành phẩm cuối cùng, ngành nông nghiệp thâm canh cây lương thực, thực phẩm, chăn nuôi tiểu gia súc, gia cầm, thuỷ sản cũng như các ngành dịch vụ
- Khí hậu Việt Nam phân hoá rất sâu sắc theo không gian và thời gian, ảnh hưởng
đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội theo lãnh thổ Miền Bắc có mùa đông lạnh, bị ảnh hưởng nhiều của mưa bão Miền Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, khá ôn hoà và tương đối thuận lợi cho phát triển Miền Trung, đặc biệt từ Nghệ An đến Bình Định là nơi hội tụ nhiều điều kiện không thuận lợi về thời tiết, khí hậu: mưa bão lớn, lũ
lụt, khô hanh, gió Lào
- Quỹ đất phân bố rất khác nhau theo các vùng lãnh thổ Vùng có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất là ĐBSCL, nhỏ nhất là ĐBSH Đất lâm nghiệp có rừng nhiều nhất
ở miền núi và trung du phía Bắc
- Nguồn tài nguyên khoáng sản và năng lượng là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển sản xuất và thu hút đầu tư cho phát triển được phân bố không đều giữa các vùng
1.1.3.3 Lịch sử phát triển của Việt Nam đã để lại kết quả về sự không đồng đều giữa các vùng
Sự chênh lệch trong phân bố dân cư và nguồn nhân lực giữa các vùng
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, các vùng phát triển chiếm 42% tổng số dân
cả nước và có mật độ dân số trung bình 400 người/km2 đặc biệt vùng ĐBSH có mật độ cao nhất, trên 1.100 người km2 trong khi đó các vùng chậm phát triển chiếm 16,5 % dân
số toàn quốc, dân cư thưa thớt với mật độ chỉ bằng khoảng 1/5 mật độ dân số vùng phát triển
Trang 27Xét về trình độ lao động chuyên môn kỹ thuật, các vùng có lịch sử phát triển văn hoá và kinh tế lâu đời là nơi tập trung nhiều lao động có tay nghề cao; Nhìn chung trên toàn quốc, tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật là 12,3%, tỷ lệ này ở vùng chậm phát triển chỉ là 7% và ở vùng phát triển là 31%, như vậy mức chênh lệch tới 4,5 lần Một số vùng phát triển như ĐNB chiếm 20,1%, ĐBSH chiếm 34% tổng số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học của toàn quốc Nếu chỉ tính
số cán bộ kỹ thuật có trình độ từ cao đẳng trở lên, vùng ĐBSH chiếm 37,5% và vùng ĐNB chiếm 25,16 % so với toàn quốc
Sự phát triển chưa đồng bộ và phân bố chênh lệch của mạng lưới giao thông vận tải
Đường bộ: Ngoài quốc lộ số 1 chạy suốt từ Lạng Sơn đến Cà Mau, các tuyến
đường bộ quan trọng của đất nước tập trung ở một số địa bàn như đường số 5, 18, 10 ở vùng Đồng bằng Sông Hồng; đường số 15, 7, 8, 9 ở Bắc Trung Bộ, đường số 51, 13, 22
ở vùng Đông Nam bộ
Đường sắt: hệ thống đường sắt tập trung và phát triển mạnh nhất ở vùng Đông
Bắc và vùng ĐBSH Bắt đầu từ Bắc Trung Bộ vào đến ĐNB chỉ có độc nhất một tuyến đường sắt xuyên Việt mà phần lớn chạy song song với quốc lộ 1, kết thúc ở TP HCM
Đường thuỷ nội địa: Cả nước có khoảng 11.000 km đường sông đang được khai
thác, tập trung chủ yếu ở hai đồng bằng châu thổ miền Bắc và miền Nam; Các lưu vực vận tải miền Trung do sông ngắn, dốc, lại không nối với nhau nên giá trị vận tải không cao
Sự phân bố hệ thống cảng biển và năng lực thông qua có sự chênh lệch khá lớn
giữa các vùng lãnh thổ ĐNB là vùng có thế mạnh nhất về vận tải biển Tiếp sau là ĐBSH và vùng Đông Bắc Để đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế đối ngoại, hệ thống cảng biển của nước ta đang được cải tạo, hiện đại hoá với mục tiêu đưa công suất lên 240 triệu tấn vào năm 2010
Hệ thống cảng hàng không của Việt Nam tập trung dọc khu vực ven biển, hiện có
3 sân bay quốc tế: Nội Bài (Hà Nội), Đà Nẵng và Tân Sơn Nhất (TP HCM) và 19 sân bay nội địa đang hoạt động và sẽ được mở rộng, nâng cấp
Sự phát triển tập trung của hệ thống đô thị tại một số lãnh thổ
Mạng lưới đô thị các cấp ở ĐBSH có thể coi là phát triển hơn cả do đã được hình thành từ lâu trong lịch sử Khoảng cách giữa hai đô thị cỡ từ thị xã - tỉnh lỵ trở lên nằm cách nhau không quá xa, thông thường khoảng 45 - 50 km, có khi còn ít hơn, khoảng 25
- 30 km Nếu kể cả các thị trấn thì khoảng cách các đô thị chỉ không quá 15 - 20 km hay
ít hơn
Trang 28Tại vùng ĐNB, có hai cụm đô thị: Cụm TP HCM - Biên Hoà - Thủ Dầu Một cách nhau khoảng 28 - 30 km và cụm Vũng Tàu - Bà Rịa cách nhau 23 km TP HCM đóng vai trò của cực thu hút chính yếu - và do địa hình tương đối bằng phẳng, toả ảnh hưởng
ra hầu hết các khu vực của ĐNB và cả khu vực đông bắc ĐBSCL
Tại vùng ĐBSCL chủ yếu là các thị xã, thị trấn nhỏ phân bố rải đều, thành phố Cần Thơ đã thực sự trở thành đô thị trung tâm của vùng
Dọc DHMT có nhiều thành phố và thị xã, trong đó hai đô thị có sức hút lớn nhất
Trường hợp thứ nhất, các vùng có sức hấp dẫn dó có hệ thống kết cấu hạ tầng
phát triển, giao thông thuận tiện, thông tin liên lạc hiệu quả cao, tiềm năng chất xám dồi dào sẽ có khả năng thu hút nhiều vốn đầu tư từ bên ngoài, nhờ đó năng suất cận biên của các yếu tố sản xuất tăng, làm gia tăng sản lượng và vùng đạt mức tăng trưởng cao Tăng trưởng cao sẽ làm tăng thu nhập của vùng và tiếp tục tạo ra mức chi tiêu cao trong vùng, điều này lại làm cho lợi nhuận từ đầu tư và phát triển kinh tế tăng lên, và vùng càng trở nên có sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư
Trường hợp thứ hai, ngược lại, các vùng kém hấp dẫn sẽ không hoặc ít có khả
năng thu hút đầu tư nên năng suất cận biên của các yếu tố đầu vào của sản xuất thấp, dẫn đến sản lượng tăng trưởng thấp; thu nhập của vùng thấp nên mức chi tiêu cũng thấp, không tạo ra cơ hội tăng lợi nhuận cho các nhà đầu tư, vì thế sức hấp dẫn đầu tư bị hạn chế và kết quả là vùng sẽ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của thiếu đầu tư cho tăng trưởng
và phát triển Muốn phá vỡ vòng tròn luẩn quẩn này, cần có sự đột phá tạo sức hấp dẫn cho vùng, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng
Như đã phân tích ở trên, các vùng lãnh thổ đã phát triển có sức hấp dẫn tương đối
về ĐTNN ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng ven biển từ ĐBSH đến ĐBSCL; Tại các khu vực này có các tuyến trục giao thông quan trọng nối liền (như quốc
lộ 1A, đường sắt Thống Nhất, các tuyến hàng không ), đồng thời có hệ thống cảng biển
đã và đang được phát triển triển thành các cửa vào - ra của đất nước Các khu vực này cũng có các hệ thống giao thông nội vùng phát triển và thuận lợi hơn nhiều so với vùng miền núi và Trung du; Dân cư tập trung đông, chiếm gần 74 % dân số cả nước với mật
độ cao gấp 1,5 lần mật độ trung bình toàn quốc và gấp 3 lần mật độ trung bình vùng
Trang 29miền núi - trung du Dân số đông với sức mua cao sẽ tạo ra mật độ cầu cao là điều kiện cần thiết cho sự đầu tư phát triển của nhiều ngành Bên cạnh đó, các vùng phát triển còn
là nơi tập trung đông lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật, đặc biệt có tới 73% số lượng cán bộ khoa học kỹ thuật của toàn quốc, tập trung tại nhiều cơ quan nghiên cứu, đào tạo và các cơ sở kinh tế của các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ ; Ưu thế về trình độ lao động sẽ tạo ra ưu thế về năng suất và chất lượng lao động, nâng cao hiệu quả đầu tư, là tiền đề quan trọng để thu hút các nhà ĐTNN
Các lãnh thổ phát triển ở khu vực ven biển có mức tăng trưởng kinh tế cao hơn mức trung bình toàn quốc, có cơ cấu kinh tế công nghiệp, dịch vụ phát triển, đóng góp trên 60% GDP, 90% giá trị hàng xuất khẩu, 85% giá trị sản lượng công nghiệp và trên 80% thu ngân sách của toàn quốc
Tóm lại, với ưu thế là nơi tập trung đông dân cư, nguồn lao động có kỹ thuật, phần lớn năng lực sản xuất của toàn quốc cùng với hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối phát triển, một số vùng lãnh thổ nước ta sẽ có nhiều khả năng thu hút đầu tư, đặc biệt là ĐTNN, có thể hình thành một số trọng điểm phát triển và nhiều cực tăng trưởng trong tương lai
1.2 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
1.2.1 Đặt vấn đề phát triển bền vững VKTTĐ
Phát triển bền vững là một nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát
triển kinh tế - xã hội của quốc gia Các mục tiêu của Agenda21- VN chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược phát triển bền vững trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, trong đó đặc biệt cần nhấn mạnh đó là phát triển bền vững các vùng KTTĐ Với cách lập luận như vậy, yêu cầu của phát triển bền vững các VKTTĐ phải được đặt ra trên hai khía cạnh: một măt, nó phải nằm trong khuôn khổ quan niệm, yêu cầu về phát triển bền vững quốc gia đã xác định trong chương trình nghị sự 21 của Việt Nam; mặt khác nó phải được đặt ra cao hơn trên cơ sở những yêu cầu riêng có đối với các VKTTĐ với tư cách là các vùng động lực trong cả nước
Theo hướng tiếp cận trên, phát triển bền vững VKTTĐ được đặt ra với hai yêu cầu:
(1) Phát triển bền vững VKTTĐ nằm trong khuôn khổ phát triển bền vững quốc gia Theo đó phát triển bền vững VKTTĐ cũng phải bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa
bền vững về kinh tế, với bền vững về xã hội và BVMT (sơ đồ dưới)
Trang 30Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững vùng KTTĐ
Sơ đồ này được trích từ sơ đồ phát triển bền vững trong chương trình nghị sự 21 –
VN Theo đó, phát triển bền vững VKTTĐ là một tập hợp hội tụ đầy đủ cả ba yêu cầu: bền vững về kinh tế, thể hiện ở khả năng duy trì tăng trưởng kinh tế một cách có hiệu quả trong dài hạn; bền vững về môi trường, bao gồm sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên môi trường, thực hiện tái sinh tài nguyên và chống ô nhiễm môi trường; bền vững về xã hội, tựu chung lại là bảo đảm sự tiến bộ xã hội cho con người, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển
(2) Phát triển bền vững VKTTĐ còn được đặt ra với tư cách là mắt xích quan trọng nhất trong hệ thống mục tiêu phát triển bền vững quốc gia Với tầm quan trọng
này, yêu cầu phát triển bền vững VKTTĐ đặt ra cao hơn so với yêu cầu chung của cả nước và xuất phát từ mục đích của hình thành các VKTTĐ Định hướng mục tiêu phát triển VKTTĐ đã xác định: Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của cả ba VKTTĐ một cách có hiệu quả và bền vững; đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có vai trò động lực, là đầu tầu đối với cả nước trong quá trình thúc đẩy, hỗ trợ các vùng khác, nhất là các vùng khó khăn cùng phát triển; đi đầu trong hợp tác quốc tế, thu hút ĐTNN; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và BVMT Theo cách hiểu như vậy, chúng ta sẽ bàn đến những yếu tố nội hàm của phát triển bền vững VKTTĐ Theo yêu cầu này, tính chất phát triển bền vững VKTTĐ (không có trong yêu cầu chung), còn thể hiện vai trò lan tỏa tích cực của mình đối với kinh tế quốc gia nói chung
và các vùng tụt hậu, chậm phát triển nói riêng thông qua việc chia sẻ kết quả kinh tế, xã hội cho các vùng khác trong cả nước
PT BV
Kinh tế
Xã hội Môi trường
Trang 31(3) Một yêu cầu mang tính đặc trưng cho vùng KTTĐ, đặt ra trên quan điểm tận dụng lợi thế nhờ quy mô, tính hiệu quả của chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất, đó là
mở rộng quy mô, tính chất và hiệu quả của liên kết giữa các địa phương trong vùng trọng điểm Liên kết giữa các địa phương trong vùng trọng điểm nhằm khai thác thế mạnh, nâng hiệu qủa đầu tư, tránh lãng phí nguồn lực cần có cơ chế điều phối sự phát triển chung của toàn vùng, như đã được khẳng định trong Nghị quyết số 20-NQ/TƯ ngày
18/11/2002 của Bộ Chính trị: “Các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhất là các tỉnh trong
khu vực cần chủ động phát triển quan hệ liên kết, hợp tác với thành phố trên các lãnh vực tạo nên sự gắn bó để cùng phát triển chung”
1.2.2 Nội hàm phát triển bền vững VKTTĐ
Theo yêu cầu trên, nội hàm phát triển bền vững các VKTTĐ ở nước ta bao gồm hai yếu tố cấu thành, đó là: bền vững trong nội tại các VKTTĐ và thể hiện tác động lan tỏa tích cực đối với các đối tượng hưởng lợi, mà cụ thể là sự phát triển bền vững của quốc gia Có thể đi sâu vào một số nội dung cụ thể của từng bộ phận cầu thành nội hàm phát triển bền vững VKTTĐ như sau:
(i) Phát triển bền vững nội tại các VKTTĐ
Nội hàm của phát triển bền vững bản thân VKTTĐ cũng bao hàm những yếu tố bảo đảm phát triển bền vững quốc gia nhưng xét trong khuôn khổ một vùng kinh tế, tức
là nó bao gồm tính bền vững trong cả ba lĩnh vực là bền vững về kinh tế, bền vững về môi trường và bền vững xã hội (như đã phân tích ở trên) Tuy vậy với tư cách là những đầu tầu của phát triển kinh tế cả nước, tất cả những nội dung bền vững trong ba lĩnh vực trên đối với các VKTTĐ được đặt ra với yêu cầu cao hơn, trong đó đặc biệt là yêu cầu của tính bền vững trong kinh tế Ba VKTTĐ phải thực sự trở thành những vùng kinh tế phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng nhanh và cao hơn các vùng trong cả nước, đi đầu trong một số lĩnh vực quan trọng, đặc biệt là những lĩnh vực được xác định là thế mạnh của từng vùng, bảo đảm tính hiệu quả và sức cạnh tranh của các địa phương trên VKTTĐ cao hơn tất cả trên cơ sở sử dụng tối ưu các hoạt động liên kết kinh tế giữa các địa phương trong VKTTĐ Về mặt xã hội, tính chất bền vững ở các VKTTĐ cũng đặt ra trên cơ sở tác động tích cực của kinh tế vùng đến việc giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực của các vấn đề xã hội, mà tựu chung lại là vấn đề tăng cường khả năng giải quyết việc làm và nâng cao mức sống, khả năng giải quyết các vấn đề xã hội cơ bản cho dân cư trong VKTTĐ Lĩnh vực môi trường, hoạt động của VKTTĐ phải gắn liền với các phương án BVMT trong VKTTĐ, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển VKTTĐ
(ii) Tác động lan tỏa của VKTTĐ đến sự phát triển của các đối tượng hưởng lợi
và toàn bộ nền kinh tế quốc gia
Trang 32Nội hàm của khía cạnh này thể hiện ở khả năng lan tỏa của VKTTĐ đến các vùng khác, nhất là các vùng khó khăn, vùng kém phát triển, và cuối cùng, là tác động đến mục tiêu phát triển bền vững quốc gia Điều này được xác định trong việc duy trì thế đứng của VKTTĐ trong quá trình thực hiện phát triển kinh tế quốc gia, cụ thể là: trong quá trình hợp tác quốc tế; quá trình thu hút nguồn lực trong và ngoài nước, trong đó nhấn mạnh đến các nguồn lực có được từ các nhà đầu tư trong nước; phát triển hệ thống cơ sở
hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội gắn kết các địa phương VKTTĐ với các địa phương khác; thực hiện liên kết kinh tế một cách chặt chẽ với các vùng khác trong cả nước, kể cả duy trì mối liên kết giữa các VKTTĐ với nhau; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tăng thu cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của cả nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
(iii) Thực hiện các liên kết kinh tế trong vùng
Liên kết giữa các địa phương trong vùng được thể hiện theo các khía cạnh sau đây:
Nếu xét những hình thức liên kết, hợp tác, bao gồm:
- Song phương: hai Sở ngành hoặc hai doanh nghiệp của hai địa phương ký kết
hợp tác với nhau bằng nhiều phương thức như sản xuất và kinh doanh hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân, cung cấp thông tin có liên quan, tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ hay kinh nghiệm quản lý nhà nước cho các chuyên gia trong ngành, nông dân, công nhân, tiểu thương trong Vùng, xây dựng đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước trong và ngoài KCN phục vụ hoạt động của các KCN và nhu cầu của người dân sống bên ngoài KCN
- Đa phương: ba Sở ngành hoặc ba doanh nghiệp trở lên của hai hay nhiều địa
phương địa phương ký hợp đồng cung cấp thông tin có liên quan, tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu cơ hội đầu tư để mời gọi các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, giáo dục công tác BVMT sống xung quanh khu dân cư cho các doanh nghiệp và người dân trong Vùng
Ngoài ra, hình thức hợp tác được thể hiện bằng hai loại khác:
- Giữa cơ quan Nhà nước với cơ quan Nhà nước: hai Sở, ngành của hai địa phương ký kết hợp tác với nhau để thúc đẩy phát triển kinh tế của hai địa phương Trong các chương trình hợp tác đó, Chính quyền thành phố và các tỉnh ban hành cơ chế, chính sách nhằm thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
- Giữa cơ quan Nhà nước với các doanh nghiệp: các Sở, ngành tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của hai địa phương cơ hội tìm hiểu và xúc tiến đầu tư vào mọi lĩnh vực
Trang 33trong phát triển kinh tế trên địa bàn các tỉnh trong vùng thông qua việc tổ chức hội chợ, triển lãm, tọa đàm, hội thảo
Xét theo góc độ lĩnh vực hợp tác, bao- gồm: Kinh tế: các ngành nông nghiệp
(nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản), công nghiệp, thương mại (nội thương và ngoại thương), du lịch; Hạ tầng xã hội: các ngành giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao; Hạ tầng kỹ thuật: các ngành giao thông, cấp nước, thoát nước, bưu chính viễn thông, điện; BVMT (nước, khí, rắn)
1.2.3 Các tiêu chí phát triển bền vững VKTTĐ
Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, hệ thống tiêu chí phát triển bền vững nên được hình thành theo góc độ tổng hợp, lấy các VKTTĐ là chủ thể chính, tính chất lan tỏa được phản ánh ở chính kết quả hoạt động của bản thân VKTTĐ Theo cách tiếp cận như
vậy, chúng tôi xin đưa ra những tiêu chí chủ yếu sau:
1.2.3.1 Tăng trưởng kinh tế bền vững VKTTĐ
Tiêu chí “Tăng trưởng bền vững”, thực chất đây là tiêu chí phản ánh sự bền vững
về kinh tế Tiêu chí tăng trưởng bền vững phải được thể hiện cùng một lúc cả yêu cầu về
số và chất lượng tăng trưởng Điều đó có nghĩa là: không phải chỉ thể hiện yêu cầu mặt
số lượng, đó là tốc độ tăng trưởng GDP, mà còn phải thể hiện cả ở khả năng duy trì một cách lâu dài, bền bỉ tốc độ tăng trưởng GDP hợp lý và có hiệu quả Khía cạnh chất lượng tăng trưởng phải được đặt ra xứng tầm với nội dung của nó.Cụ thể đánh giá tăng trưởng VKTTĐ, cần dựa trên những tiêu chí chính sau đây:
- Tốc độ tăng trưởng, quy mô GDP: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng gia tăng thu nhập trên các vùng KTTĐ Để thực sự đóng vai trò đầu tầu, động lực thúc đẩy kinh tế của cả nước, nội dung tiêu chí này ngoài việc thỏa mãn các điều kiện như đã nói ở trong phần tiêu chí phát triển bền vững chung, thì đối với các VKTTĐ, tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP) đặt ra phải cao hơn nhiều (có thể là từ 1 đến 2 lần) so với tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước Mức GDP tạo nên trong vùng có tác dụng lan tỏa ngày càng nhiều đối với cả nước
- So sánh tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GO) Giá trị gia tăng (GDP) tăng trưởng với tốc độ chậm hơn GO phản ánh giai đoạn đầu của quá trình phát triển khi nền kinh tế còn trong tình trạng tăng trưởng “nhờ gia công” Đối với các VKTTĐ thì yêu cầu đặt ra phải điều chỉnh kịp thời mối quan hệ tương quan giữa hai tốc độ tăng trưởng này để hướng tới tốc độ tăng GDP phải cao hơn Nếu tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn tốc độ tăng trưởng GO, phản ánh một cấu trúc tăng trưởng hợp lý
và có hiệu quả, trong đó các ngành ngày càng được phát triển theo chiều sâu và bảo đảm
Trang 34mối quan hệ tích cực giữa các ngành công nghiệp chế biến và các ngành công nghiệp hỗ trợ
- Hiệu quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế trên vùng (trong sự so sánh với các vùng khác và toàn quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế) Theo tiêu chí này, tùy theo khả năng thống kê, chúng ta có thể xác định các khía cạnh so sánh giữa kết quả đạt được
về tăng trưởng kinh tế trên vùng với các yếu tố chi phí để thực hiện nó, hay nói theo cách của kinh tế học thì đó là cái giá phải trả cho thực hiện sự tăng trưởng GDP Các chỉ tiêu
so sánh có thể thực hiện được, đó là: NSLĐ (hiệu quả sử dụng lao động) được tích bằng mức GDP/lao động theo giá hiện hành hoặc theo giá cố định; suất đầu tư tăng trưởng (hiệu quả sử dụng vốn) được tính bằng mức đầu tư trên một đồng GDP hoặc là để tăng 1% GDP thì cần phải tích lũy bao nhiêu % GDP, chi phí năng lượng cho một đơn vị thu nhập đầu ra… Yêu cầu đặt ra đối với các vùng trọng điểm là phải đạt được những chỉ số
về hiệu quả tăng trưởng cao hơn nhiều so với mức chung (như nói ở phần chung) và xu hướng nâng cao hiệu quả phải thực sự tích cực
- Mật độ kinh tế của các vùng KTTĐ: đây là một tiêu chí mới cập nhật quan điểm địa kinh tế mới trong giai đoạn hiện nay Mật độ kinh tế phản ánh mức độ đậm đặc của nền kinh tế tính cho 1 đơn vị km2, có thể là GDP/km2 hoặc giá trị sản xuất GO/km2 Tiêu chí này phản ánh hai vấn đề: Một là nó phản ánh khả năng thực tế của vùng trọng điểm, nếu mật độ càng cao chứng tỏ khả năng thu hút nguồn lực của vùng càng lớn, tính hấp dẫn của vùng càng cao và điều đó chứng tỏ chúng ta đã lựa chọn đúng vùng trọng điểm; Hai là phản ánh hiệu quả của hoạt động kinh tế trên vùng Yêu cầu đặt ra của chỉ tiêu này đối với vùng trọng điểm rất cao, GDP/km2 của các vùng trọng điểm phải thật cao mới thể hiện tính động lực của vùng và chứng tỏ sự lựa chọn vùng của chúng ta có chính xác hay không Mật độ kinh tế vùng trọng điểm càng cao thể hiện bản thân vùng đạt hiệu quả kinh tế cao; mặt khác, nó càng phản ánh vai trò lan tỏa về kinh tế của vùng trọng điểm đến các vùng khác trong cả nước để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong phạm vi
cả nước
- Cấu trúc tăng trưởng GDP Đây là một yếu tố phản ánh khá rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế Cấu trúc tăng trưởng phản ánh xu thế hiệu quả và bền vững của các yếu tố bên trong cấu thành tăng trưởng GDP Cấu trúc tăng trưởng thể hiện sự đóng góp của từng yếu tố vào tăng trưởng (quy mô, tính chất và tác động qua lại của từng yếu tố) như thế nào khẳng định mô hình tăng trưởng trên các vùng trọng điểm là gì? Và thông qua mô hình phản ánh bản chất của tăng trưởng trên vùng trọng điểm chúng ta có thể đánh giá chất lượng của tăng trưởng kinh tế trên vùng, hiệu quả và khả năng duy trì các chỉ tiêu đó như thế nào Thông thường nếu hàm lượng công nghệ cao và chế biến sâu trở
Trang 35thành động lực chính của tăng trưởng, quyết định nội dung về chất của cơ cấu kinh tế vùng thì đây là biểu hiện của tăng trưởng có chất lượng và hiệu quả cao
- Cơ cấu ngành kinh tế trên vùng trọng điểm: tiêu chí này phản ánh tính hiệu quả của tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời phản ánh trình độ phát triển vùng Thông thường, cơ cấu ngành được xác định theo một số góc độ để phân tích trình độ phát triển vùng, cụ thể: xác định cơ cấu theo 3 nhóm ngành, xác định cơ cấu ngành theo tính chất ngành sản xuất và phi sản xuất; cơ cấu ngành theo ngành sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp (bao gồm sản xuất và dịch vụ) Các góc độ phân tích cơ cấu có thể được tính theo GDP, có thể tính theo các nguồn lực như lao động, vốn Thông thường, theo tiêu chuẩn quốc tế, nếu một quốc gia tỷ trọng các ngành phi sản xuất nông nghiệp phải chiếm trên 90% được xem như bước sang giai đoạn phát triển cao, dó đó đối với vùng trọng điểm chúng ta cũng sẽ sử dụng tiêu chí này để đánh giá trình độ phát triển trọng điểm Hoặc là đối với một vùng phát triển thì tỷ trọng các ngành phi sản xuất (dịch vụ) phải chiếm tỷ trọng ngày càng cao hơn, và tỷ trọng chiếm phải ở mức trên 50%
Để có thể sử dụng các tiêu chí trên trong đánh giá hiệu quả tăng trưởng, cần phải
có sự phân tích so sánh trên hai góc độ: (1) so sánh và đánh giá theo thời gian (so sánh chuỗi) để theo dõi sự vận động theo thời gian của yếu tố này như thế nào; (2) so sánh và đánh giá chéo: tức là đem so sánh các chỉ tiêu này của các vùng trọng điểm với mức trung bình của cả nước, hoặc so với những vùng động lực tăng trưởng của những quốc gia khác Có như thế thì mới rút ra những kết luận chính xác hơn về hiệu quả và tính bền vững của các chỉ tiêu định lượng
1.2.3.2 Tính chất và mức độ thực hiện các mối liên kết kinh tế trên vùng
Xét đến cùng thì tiêu chí này phản ánh một khía cạnh của khả năng nâng cao chất lượng tăng trưởng, cụ thể là bảo đảm tính hiệu quả của hoạt động kinh tế trên vùng Tuy vậy, hiện nay đây là một điểm yếu, một mặt thực hiện chưa tốt ở các VKTTĐ nước ta, vì vậy nên tách ra để có sự theo dõi đầy đủ hơn, đánh giá chính xác hơn và có giải pháp thiết thực cải thiện nó
Tiêu chí liên kết kinh tế vùng đòi hỏi trong nội bộ VKTTĐ phải thực hiện được ngày càng nhiều hơn sự chung sức, trợ giúp lẫn nhau giữa các địa phương, nhằm khai thác triệt để hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của mỗi địa phương trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi địa phương và của toàn vùng Để thực hiện liên kết vùng, có nhiều nội dung khác nhau, cụ thể là: liên kết trong nghiên cứu xác định lợi thế so sánh của từng địa phương, là cơ sở để xác định ngành mũi nhọn của vùng, để tập trung đầu tư phát triển; liên kết phối hợp trong huy động vốn đầu tư phát triển; phối hợp trong hoạch định xây dựng mạng lưới cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng về giao thông, xử lý nước thải, ô nhiễm môi trường, gắn liền với quy hoạch phát triển khu dân cư, KCN của các địa phương
Trang 36trong vùng; phối hợp trong đào tạo nguồn nhân lực và giải quyết việc làm cho người lao động Vùng càng phát triển bền vững khi thực hiện được một cách đa dạng với quy mô lớn các nội dung phối hợp, liên kết như nói ở trên giữa các địa phương với nhau Đánh giá việc thực hiện liên kết vùng còn xem xét qua các lĩnh vực hợp tác mà các địa phương thực hiện được Những lĩnh vực hợp tác cần được đánh giá bao gồm: Kinh tế: các ngành nông nghiệp (nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản), công nghiệp, thương mại (nội thương
và ngoại thương), du lịch; Hạ tầng xã hội: các ngành giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao; Hạ tầng kỹ thuật: các ngành giao thông, cấp nước, thoát nước, bưu chính viễn thông, điện; BVMT (nước, khí, rắn) Ngoài ra còn phân tích thể hiện sự hợp tác đó qua các nội dung hợp tác trong lĩnh vực: phát triển nguồn nhân lực: khả năng cùng tham gia trong việc đào tạo thu hút nguồn nhân lực vào các vùng trọng điểm như thế nào? Khả năng chia sẻ nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc đánh giá sự phối hợp liên kết vùng phải xem xét trên ba khía cạnh (1) các loại, hình thức thực hiện các hoạt động liên kết (nhiều hay ít, sâu hay nông); (2) phạm vi thực hiện liên kết như thế nào? Liên kết tất cả các địa phương hay chỉ là những liên kết song phương giữa các địa phương có đường biên giới với nhau, hay chỉ là liên kết để giải quyết các vấn đề nhỏ lẻ phát sinh giữa hai cơ sở kinh tế gần nhau thuộc hai địa phương khác nhau; (3) việc tổ chức liên kết như thế nào? Liên kết trên cơ sở chiến lược, kế hoạch dài hạn hay liên kết mang tính tự phát
1.2.3.3 Sản xuất và tiêu dùng bền vững trong VKTTĐ (bền vững về môi trường)
VKTTĐ thường là nơi tập trung đông dân cư và nhiều hoạt động kinh tế, tức là mức độ sản xuất và tiêu dùng thường có mật độ và tốc độ khá cao, và điều đó đồng nghĩa với quy mô tiêu dùng lớn, ảnh hưởng lớn tới việc tạo ra chất thải và các tác động tới môi trường tự nhiên cũng như xã hội Trong tiêu chí này, chúng ta thường nói đến cả hai nội dung tiêu dùng, đó là tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng sản phẩm hàng hóa cuối cùng
- Đối với tiêu dùng sản xuất: điều cần quan tâm xem xét là khả năng sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất, giảm thấp chi phí sử dụng tài nguyên trên một đơn vị các sản phẩm chủ yếu trong VKTTĐ Giảm tiêu dùng tài nguyên chính là giảm phát thải và BVMT Tính chất bền vững trong tiêu dùng sản xuất của VKTTĐ còn được xem xét qua mức độ và khả năng thay thế tài nguyên truyền thống bằng tài nguyên do khả năng tri thức của con người tạo ra
- Đối với tiêu dùng sản phẩm hàng hóa cuối cùng, tính chất bền vững được đánh giá trên các khía cạnh: (1) đó là khả năng xử lý chất thải từ hàng tiêu dùng, bao gói, hóa chất tạo ra, nó đòi hỏi công nghệ xử lý phức tạp và chi phí xử lý khá tốn kém; (2) khả năng tự tạo ra các sản phẩm tiêu dùng thân thiện môi trường, các sản phẩm không chất
Trang 37thải; (3) Sự phát triển các mô hình công nghiệp sinh thái, trong đó các sản phẩm và chất thải được quay vòng, tái sử dụng, trao đổi trong một vòng đời khép kín
Như vậy tiêu chí bảo đảm sự phát triển bền vững trong lĩnh vực này chính là ở góc độ khả năng bền vững về môi trường trên các vùng trọng điểm
- Tính bền vững trong tiêu dùng và sản xuất còn thể hiện ở sự tương xứng giữa nhu cầu phát triển sản xuất (kinh tế) với khả năng đáp ứng của các yếu tố có liên quan trực tiếp như vốn, lao động, tài nguyên, cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội như giao thông, hệ thống cảng, bến tầu, xe, hệ thống nguồn và mạng lưới điện, hệ thống nước và mạng lưới cấp nước, hệ thống và mạng lưới xử lý chất thải, hệ thống và mạng lưới bưu chính viễn thông; hệ thống và mạng lưới dịch vụ logistics khác trong các khu vực đô thị Như vậy, trên góc độ này, tính chất bền vững được xem xét trên góc độ khả năng bảo đảm về mặt số và chất lượng của các yếu tố nguồn lực và cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong các vùng trọng điểm so với tính chất và quy mô phát triển của vùng
1.2.3.4 Đánh giá bền vững xã hội trên vùng trọng điểm
Tiêu chí này yêu cầu sự phát triển VKTTĐ, trước hết, phải có sự phát triển vượt trội so với các vùng khác trong cả nước về một số lĩnh vực xã hội chủ yếu như: thu nhập bình quân đầu người, trình độ phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, việc làm Mặt khác, phải làm sao cho mọi người sống trong vùng có quyền bình đẳng và chia sẻ các thành quả của phát triển vùng Yêu cầu thứ nhất, được đánh giá thông qua các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển các lĩnh vực xã hội chủ yếu; Yêu cầu thứ hai, được đánh giá trên
cơ sở tình trạng cuộc sống của dân cư trong VKTTĐ như tỷ lệ nghèo đói, các chỉ số phản ánh bất bình đẳng về kinh tế và các lĩnh vực khác có sự cải thiện tích cực như thế nào Như vậy, đánh giá tính chất bền vững về xã hội được thể hiện trên những khía cạnh chính:
- Trình độ phát triển các lĩnh vực xã hội chủ yếu trên các vùng trọng điểm như thế nào, bao gồm: sự phát triển giáo dục; y tế - chăm sóc sức khỏe; văn hóa – xã hội; lao động – việc làm Các đánh giá phải được thực hiện trên quan điểm: các vùng trọng điểm phải thể hiện tính vượt trội hơn hẳn so với mức trung bình của cả nước về các khía cạnh trên, và có sự so sánh với những tiêu chuẩn quốc tế
- Mức độ lan tỏa của kinh tế đến một số tiêu chí thể hiện tác động và có mối quan
hệ trực tiếp với kinh tế, đó là thu nhập bình quân đầu người, tình trạng nghèo đói và tình trạng bất bình đẳng về kinh tế Các đánh giá phải thể hiện trên những yêu cầu: mức độ vượt trội của những tiêu chí trên so với mức trung bình của cả nước; động thái thay đổi của những tiêu chí đó theo thời gian như thế nào; mối quan hệ tương quan giữa sự gia tăng về kinh tế với sự thay đổi các tiêu chí này thông qua phân tích hệ số co giãn của
Trang 38tăng trưởng với giảm nghèo, bất bình đẳng Trong phân tích, để làm nổi bật tính chất bền vững các vấn đề xã hội, cần phải có sự so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế và với một số
quốc gia có liên quan
1.2.3.5 Tác động lan tỏa của các VKTTĐ thể hiện vị thế của các động lực tăng trưởng trong hệ thống kinh tế trong nước và quốc tế Tiêu chí này xem xét trên một số khía cạnh sau đây:
Một là, tác động của VKTTĐ đối với sự giầu mạnh ngân sách của quốc gia, thể
hiện ở sự đóng góp của VKTTĐ vào ngân sách nhà nước hàng năm Tiêu chí đóng góp vào ngân sách quốc gia được thể hiện bằng: mức và tỷ lệ thu ngân sách của VKTTĐ trong tổng thu ngân sách, tốc độ tăng thu thuế từ vùng Khi đánh giá tiêu chí này, cần phải phân tích động thái gia tăng mức độ đóng góp (tốc độ tăng tỷ trọng đóng góp thu ngân sách của các vùng trọng điểm so với tổng thu ngân sách cả nước); động thái gia tăng mức thu ngân sách của các vùng trọng điểm (tốc độ tăng thu ngân sách hàng năm); mối quan hệ giữa thu ngân sách với quy mô thu nhập của toàn nền kinh tế vùng thông qua hệ số co giãn giữa tăng trưởng GDP với tốc độ tăng thu ngân sách
Hai là, Đóng góp về kim ngạch xuất khẩu của VKTTĐ so với cả nước Mục tiêu
phát triển các VKTTĐ là thu hút nguồn vốn của các nhà ĐTNN, phát triển sản xuất hàng xuất khẩu Quy mô xuất khẩu của các VKTTĐ ngày càng cao làm cho tỷ lệ đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của vùng ngày càng lớn và nó thể hiện vùng đang có vị thế cao và
có ảnh hưởng tích cực nền kinh tế quốc gia Đánh giá theo tiêu chí này cần sử dụng các chỉ tiêu như: tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu trên vùng; tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của vùng trọng điểm so với kim ngạch xuất khẩu cả nước; mức độ thặng dư thương mại quốc tế của vùng như thế nào?
Ba là, mức độ lan tỏa của thu nhập kinh tế của vùng trọng điểm đến mức thu nhập
bình quân đầu người trong cả nước Do mức độ tập trung kinh tế của các vùng trọng điểm cao hơn so với cả nước, vì vậy mức thu nhập kinh tế của các vùng này thường cao hơn nhiều, vì vậy các vùng KTTĐ với tư cách là các vùng động lực tăng trưởng phải đảm trách việc phân phối nguồn thu cho các vùng không trọng điểm để bảo đảm sự công bằng trong chính sách xã hội Đánh giá theo tiêu chí này, chúng ta sẽ sử dụng thước đo: phần thu nhập bình quân đầu người của quốc gia được tạo nên bởi vùng trọng điểm là bao nhiêu phần trăm
Bốn là, mức độ lan tỏa trong thu hút nguồn lực quốc gia và quốc tế vào vùng trọng điểm Với tư cách là vùng trọng điểm, sức lan tỏa phải được thể hiện trong khả
năng giải quyết việc làm, thu hút lao động, thu hút nguồn vốn đầu tư của các nhà đầu tư ngoài vùng và nước ngoài vào vùng ngày một nhiều Vì vậy theo tiêu chí này, chúng ta
sẽ tính tốc độ gia tăng lực lượng lao động trong vùng trọng điểm, tỷ lệ lao động của vùng
Trang 39trọng điếm so với tổng lao động cả nước, tương tự như thế là tốc độ tăng trưởng vốn đầu
tư, tỷ lệ vốn đầu tư vào vùng trọng điểm so với tổng vốn đầu tư cả nước
Kết luận: những luận cứ trên đây đã phác họa nội dung các tiêu chí phát triển bền
vững VKTTĐ của Việt Nam Các tiêu chí này một mặt thỏa mãn được yêu cầu bền vững nội tại trong bản thân các VKTTĐ; mặt khác, nó đặt ra một yêu cầu cao hơn cho VKTTĐ trong việc thực hiện tác động lan tỏa tích cực của mình đến các vùng khác, nhất là các vùng yếu kém, vùng chậm phát triển trên phạm vi cả nước Các tiêu chí phản ánh việc đánh giá phát triển bền vững các VKTTĐ cũng đã cụ thể hóa những yêu cầu bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội quốc gia nói chung và các vùng trọng điểm nói riêng
Dựa trên cơ sở các tiêu chí nêu trên, căn cứ vào thực trạng hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê, khảo sát, nghiên cứu sẽ lựa chọn những nội dung quan trọng nhất để phân tích
ấy là hệ thống chính sách định hướng và điều tiết sự phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong mỗi giai đoạn
Cho đến nay cũng chưa có định nghĩa thống nhất về thuật ngữ cơ chế, chính sách,
nhưng tựu chung lại, cơ chế, chính sách phát triển là một hệ thống những nguyên tắc và
biện pháp thích hợp mà Chính phủ sử dụng với tư cách là công cụ để định hướng và điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội của một quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ nhất định (nhóm nghiên cứu cũng đồng nhất với quan điểm này và sử
dụng trong phân tích) Các chính sách của Chính phủ được cụ thể hóa, tổ chức triển khai
cụ thể trên cơ sở mục tiêu và đặc điểm từng ngành, từng địa phương nhất định gọi là cơ chế vận hành chính sách
Đứng trên góc độ tính chất của hệ thống cơ chế chính sách, có thể chia làm hai loại khác nhau, đó là chính sách định hướng và chính sách điều tiết vĩ mô
- Các chính sách định hướng phát triển có chức năng định hướng, hướng dẫn các hoạt động kinh tế, xã hội, chỉ ra cách thức vận hành của nền kinh tế để hướng tới các mục tiêu đặt ra Các chính sách định hướng bao gồm: chính sách quy hoạch và kế hoạch
Trang 40hóa phát triển, chính sách phát triển các ngành kinh tế, vùng kinh tế, các lĩnh vực kinh tế như dân số - lao động, khoa học công nghệ, đất đai, chính sách đầu tư, chính sách hội nhập…
- Các chính sách điều tiết vĩ mô, bao gồm các chính sách liên quan đến tài khóa và tiền tệ Chính phủ thông qua các công cụ chủ yếu của chính sách tài khóa như thuế, chi tiêu cũng như công cụ chính sách tiền tệ như lãi suất, tỷ giá, nhằm điều tiết nền kinh tế theo hướng thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh Các chính sách điều tiết còn tập trung vào thực hiện tốt quá trình phân phối
và phân phối lại thu nhập giữa các đơn vị, các vùng kinh tế, các thành viên trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu bảo đảm phúc lợi xã hội cho con người
1.3.2 Hệ thống cơ chế chính sách – một nhân tố tác động đến phát triển bền vững VKTTĐ
1.3.2.1 Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững VKTTĐ
Lý luận và thực tiễn thành công trong tổ chức VKTTĐ ở các nước trên thế giới cũng như ở VN cho thấy có nhiều nhân tố tác động đến phát triển VKTTĐ, trong đó có thể nêu ra những nhân tố chính sau đây:
(1) yếu tố tiềm năng của vùng: đây chính là yếu tố tạo nền tảng cho sự phát triển của VKTTĐ.Yếu tố nội cảnh thể hiện những điểm nổi trội, lợi thế so sánh, tạo nên những thế mạnh, đặc trưng riêng có của vùng so với các vùng khác, ví dụ như: điều kiện về tài nguyên, nguồn nhân lực, hay thế mạnh về cơ sở hạ tầng, tiềm lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, thế mạnh về đất đai Các dấu hiện này tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tạo lợi thế cho những hoạt động đầu tư, có khả năng đem lại nguồn lợi trong phát triển sản xuất kinh doanh
(2) Yếu tố vị trí và thế đứng của vùng Yếu tố này thể hiện trên hai góc độ:
(i) Vị trí và thế đứng của bản VKTTĐ, đây chính là yếu tố tạo thuận lợi và hấp dẫn về mặt địa lý thu hút nhà đâu tư Thông thường vùng phải có vị trí thuận lợi cho sự giao lưu hàng hoá, thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách “mở cửa” với bên ngoài Các nước khi xây dụng vùng động lực thường lựa chọn vùng ven biển, hay thuận lợi về
cơ sở hạ tầng giao thông, cảng biển Thế đững con được thể hiện ở khả năng “nhập” và
“thoát” thuận lợi trong quá trình giao lưu phát triển kinh tế của vùng thể hiện ở hệ thống đường giao thông hay mặt bằng không gian có khả năng thông thoát thuận lợi, không bị ách tắc
(ii) Ví trí và thế đứng của VKTTĐ còn được xét theo góc độ khả năng liên kết hoặc thực hiện lan toả tác động với bên ngoài Yếu tố này muốn nhấn mạnh những địa phương, vùng lân cận của vùng động lực như thế nào Nếu xung quanh VKTTĐ bao gồm những lãnh thổ có những tính chất khác biệt, có thể bổ sung hỗ trợ cho vùng động lực thì