1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020

337 756 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đến năm 2020
Tác giả Hoàng Văn Châu
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương Hà Nội
Chuyên ngành Chính sách và Phát triển công nghiệp hỗ trợ
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 337
Dung lượng 4,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo các chuyên gia, ở các nước đang phát triển, tiến trình của công nghiệp hỗ trợ thường trải qua 5 giai đoạn: Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ít, để đáp ng nhu cầu chủ yếu phải nhập khẩu;

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM

ĐẾN NĂM 2020

CNĐT: HOÀNG VĂN CHÂU

8374

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 10

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Phân loại công nghiệp hỗ trợ 20

1.1.3 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ 23

1.1.4 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ 27

1.2 PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 35

1.2.1 Khái niệm và các tiêu chí đánh giá sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ 35

1.2.2 Các mô hình phát triển công nghiệp hỗ trợ 38

1.2.3 Điều kiện để phát triển công nghiệp hỗ trợ 40

1.3 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 44

1.3.1 Khái niệm về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ 44

1.3.2 Nội dung chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ 47

1.3.3 Vai trò của chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ 49

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 52

2.1 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA THÁI LAN 52

2.1.1 Tình hình phát triển công nghiệp hỗ trợ của Thái Lan 52

2.1.2 Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Thái Lan 59

2.2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA MALAYSIA 65

2.2.1 Tình hình phát triển công nghiệp hỗ trợ của Malaysia 65

2.2.2 Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Malaysia 71

2.3 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA TRUNG QUỐC 79

2.3.1 Tình hình phát triển công nghiệp hỗ trợ của Trung Quốc 79

2.3.2 Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Trung Quốc 84

2.3.2.1 Chính sách phát triển cụm công nghiệp hỗ trợ 84

2.3.2.2 Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài 88

2.3.2.3 Chính sách thu hút và phát triển nhân lực 94

2.4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 95

2.4.1 Mô hình và cấu trúc phát triển công nghiệp hỗ trợ phù hợp 95

2.4.2 Chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ linh hoạt và mềm dẻo 97

2.4.3 Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào công nghiệp hỗ trợ 98

2.4.4 Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ song song với các doanh nghiệp lớn giữ vai trò chủ đạo 99

2.4.5 Chính sách tăng cường mối liên kết giữa các doanh nghiệp 103

2.4.6 Chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 104

2.4.7 Một số bài học thất bại 108

CHƯƠNG 3: CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM 110

3.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM 110

Trang 3

3.1.2 Quy mô doanh nghiệp 112

3.1.3 Trình độ công nghệ và nguồn nhân lực của doanh nghiệp CNHT 114

3.1.3 Quan hệ với khách hàng 115

3.1.4 Quan hệ với nhà cung cấp 119

3.1.5 Tỷ trọng các nguồn cung cấp 122

3.2 MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM 124

3.2.1 Công nghiệp hỗ trợ ô tô của Việt Nam 124

3.2.2 Công nghiệp hỗ trợ điện tử của Việt Nam 131

3.2.4 Công nghiệp hỗ trợ da giày của Việt Nam 147

3.2.5 Công nghiệp hỗ trợ cơ khí chế tạo của Việt Nam 157

3.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 163

3.3.1 Kết quả đạt được: 163

3.3.2 Tồn tại: 163

CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM 166

4.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM 166

4.1.1 Sơ lược về hệ thống chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam 166

4.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 167

4.1.3 Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 170

4.1.4 Các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ khác 173

4.2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 186

4.2.1 Chính sách đối với công nghiệp hỗ trợ ô tô 186

4.3.2.Chính sách đối với công nghiệp hỗ trợ điện tử 188

4.3.3.Chính sách đối với công nghiệp hỗ trợ dệt may 189

4.3.4.Chính sách đối với công nghiệp hỗ trợ da giày 190

4.3.5.Chính sách đối với công nghiệp cơ khí chế tạo 192

4.3 ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CỦA VIỆT NAM 198 4.3.1 Đánh giá của doanh nghiệp 198

4.3.2 Đánh giá của nhóm tác giả 199

CHƯƠNG 5: ĐỂ XUẤT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 202

5.1 DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 202

5.1.1 Các yếu tố bên ngoài 202

5.1.2 Các yếu tố bên trong 208

5.2 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 211

5.2.1 Quan điểm phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đến năm 2020 211

5.2.2 Định hướng chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ 214

5.2.3 Phương hướng và mục tiêu phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ 217

5.3 ĐỀ XUẤT THỂ CHẾ VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 223

5.3.1 Xây dựng thể chế phát triển công nghiệp hỗ trợ 223

5.3.2 Tăng cường phổ biến thông tin doanh nghiệp 229

Trang 4

5.3.4 Tăng cường liên kết doanh nghiệp 237

5.3.5 Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hỗ trợ 239

5.3.6 Phát triển cụm công nghiệp hỗ trợ 242

5.3.7 Xây dựng bộ tiêu chuẩn công nghiệp 250

5.3.8 Xây dựng chính sách thuế và thuế quan hợp lý 251

5.3.9 Hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ 254

5.4 ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 257

5.4.1 Đối với CNHT ô tô 257

5.4.2 Đối với CNHT điện tử 261

5.4.3 Đối với CNHT dệt may 263

5.4.4 Đối với CNHT da giày 267

5.4.5 Đối với CNHT cơ khí chế tạo 269

KẾT LUẬN 272

TÀI LIỆU THAM KHẢO 275

PHỤ LỤC 1: DANH MỤC CÁC SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 289

PHỤ LỤC 2: DANH MỤC CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 291

PHỤ LỤC 3: SƠ LƯỢC VỀ PHƯƠNG PHÁP VÀ MẪU PHIẾU KHẢO SÁT CỦA ĐỀ TÀI 321

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Một số đặc điểm các nhà cung cấp linh kiện ô tô tại Nhật Bản 24

Bảng 2.1: Các liên doanh lắp ráp ôtô lớn tại Trung Quốc 89

Bảng 2.2: Sản xuất mô-đun và sản xuất tích hợp 96

Bảng 3.1: Số lượng doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp theo các năm 110 Bảng 3.2: Số lượng doanh nghiệp theo từng ngành công nghiệp chính và hỗ trợ 111

Bảng 3.3 Số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ 113

Bảng 3.4: Số lao động trung bình trong các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ 113 Bảng 3.5 Vốn của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ 114

Bảng 3.6: Khó khăn đối với doanh nghiệp khi đầu tư máy móc, thiết bị 115

Bảng 3.8: Tỷ trọng doanh thu của doanh nghiệp CNHT theo nhóm khách hàng 116

Bảng 3.9: Khách hàng của doanh nghiệp CNHT theo loại hình sở hữu 117

Bảng 3.10: Tần suất sử dụng hợp đồng của các doanh nghiệp CNHT theo loại hình sở hữu 118

Bảng 3.11: Tần suất sử dụng các công cụ marketing của các doanh nghiệp CNHT theo loại hình sở hữu 118

Bảng 3.12: Số lượng nhà cung cấp của doanh nghiệp CNHT 119

Bảng 3.13: Nhà cung cấp của doanh nghiệp CNHT theo tỷ lệ giá vốn hàng bán 119

Bảng 3.14: Quan hệ cung cấp của các doanh nghiệp CNHT theo loại hình sở hữu 120

Bảng 3.15: Đánh giá của doanh nghiệp về nguồn cung cấp trong nước 121

Bảng 3.16: Tỷ lệ giá trị đầu vào nhập khẩu 123

Bảng 3.17 Tỷ lệ giá trị đầu vào mua của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 123

Bảng 3.18: Tỷ lệ giá trị đầu vào mua từ doanh nghiệp trong nước 123

Bảng 3.19: Tỷ lệ giá trị đầu vào doanh nghiệp tự sản xuất (tự chế) 124

Bảng 3.20 : Các công ty lắp ráp ô tô Việt Nam năm 2009 125

Bảng 3.21: Một số DNĐTNN cho CNHT sản xuất ô tô 130

Bảng 3.22: Một số DNĐTNN vào công nghiệp hỗ trợ điện tử - tin học 137

Bảng 3.23: Năng lực sản xuất một số sản phẩm phụ kiện may của Việt Nam 146

Bảng 3.24.: Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng của ngành da giầy 147

Bảng 3.25: Sản phẩm chủ yếu của ngành và tốc độ tăng trưởng 148

Trang 6

Bảng 3.27:Tình trạng máy móc, thiết bị của ngành da – giầy Việt Nam 152

Bảng 3.28: Giá trị sản xuất ngành cơ khí (giá cố định 1994) 159

Bảng 3.29: Tăng trưởng giá trị sản xuất (giá cố định 1994) 160

Bảng 3.30: Kim ngạch XNK thiết bị, phụ từng, dụng cụ cơ khí 160

Bảng 4.1: Một số chiến lược phát triển các ngành công nghiệp 167

Bảng 5.1: Kiến nghị lộ trình phát triển công nghiệp hỗ trợ 216

Bảng 5.3: Các cơ quan đầu mối phát triển CNHT ở các nước trên thế giới 224

Bảng 5.2: Quy trình hoạch định chính sách và sự tham gia của hiệp hội doanh nghiệp 229

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp riêng biệt 11

Hình 1.2 Công nghiệp hỗ trợ dùng chung 12

Hình 1.3: Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản 18

Hình 1.4: Các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ 19

Hình 1.5: Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ 20

Hình 1.6: Phân loại công nghiệp hỗ trợ theo hệ thống ngành sản xuất 24

Hình 1.7: Khả năng xuất khẩu của ngành CNHT 29

Hình 3.1: T trọng số lượng doanh nghiệp CNHT hình th c sở hữu trong các ngành công nghiệp 112

Hình 3.1 : Doanh số thị trường ô tô Việt Nam 127

Hình 3.2: Giá trị tổng sản lượng công nghiệp điện tử Việt Nam 132

Hình 3.2: Giá trị sản xuất công nghiệp sản phẩm dệt 138

Hình 3.3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 1998 – 2009 139

Hình 3.4: Cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng 2009 140

Hình 3.5: Sơ đồ mô tả quá trình sản xuất dệt may 141

Hình 3.6: Nhập khẩu bông theo tháng giai đoạn 2007 – 2009 144

Hình 3.7: Cơ cấu doanh nghiệp ngành da giầy theo thành phần kinh tế, % 149

Trang 7

Hình 4.2: Đánh giá chung về m c độ ảnh hưởng của chính sách tới sự phát triển

của công nghiệp hỗ trợ 198

Hình 4.3: Đánh giá chung về m c độ ảnh hưởng của chính sách tới sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ theo loại hình sở hữu 199

Hình 4.4: Đánh giá chung về m c độ ảnh hưởng của chính sách tới sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ theo từng ngành 199

Hình 5.1: Hoạt động của Hiệp hội doanh nghiệp CNHT 226

Hình 5.2: Cấu trúc thể chế và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ 228

Hình 5.3 : Quy trình phát triển cụm công nghiệp 246

Hình 5.4: Hiệu ng Canon tại khu công nghiệp Thăng Long 248

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 đã bộc lộ nhiều yếu kém trong

mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam Nổi bật nhất là vấn đề tăng trưởng dựa vào xuất khẩu Xuất khẩu, trong một thời gian dài, đã giúp chúng ta thoát nghèo, đưa m c thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng $1000/năm (2009), với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 7-8% mỗi năm Tuy nhiên, nghịch lý là ở chỗ, do chưa chủ động được nguồn cung ng nguyên vật liệu đầu vào nên xuất khẩu lại phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu Nhập siêu là tình trạng bình thường trong nhiều năm qua Mô hình tăng trưởng nhờ xuất khẩu như thế đã làm cho chúng ta mất tính chủ động Kinh tế khủng hoảng, thị trường xuất khẩu chính của hàng hóa Việt Nam như: Mỹ, Nhật, EU gặp phải khó khăn Xuất khẩu thu hẹp đột ngột, giá nguyên liệu nhập khẩu gia tăng, doanh nghiệp lao đao, đối mặt với phá sản Thực tiễn đang đòi hỏi chúng ta phải có biện pháp tăng cường

sự chủ động của nền kinh tế, tái cấu trúc lại mô hình phát triển – được xem như

là một trong những nhiệm vụ cấp thiết hiện nay Trong đó, phát triển công nghiệp

hỗ trợ (CNHT) được xem là giải pháp thiết thực thực hiện nhiệm vụ này CNHT phát triển sẽ giúp các ngành sản xuất chủ động được nguồn nguyên vật liệu đầu vào, chủ động lựa chọn được nhà cung cấp, cắt giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh CNHT phát triển sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn được chiến lược phát triển phù hợp với chuỗi giá trị gia tăng của ngành trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế Ngoài ra, phát triển CNHT còn tạo cơ hội

và thúc đẩy khối doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển mạnh mẽ, tạo nên mạng sản xuất kinh doanh đa dạng và rộng khắp Không những thế CNHT còn làm gia tăng năng lực cạnh tranh của ngành và quốc gia, bù đắp cho thế mạnh đang suy giảm của Việt Nam về giá nhân công rẻ Đây là một trong những điểm mấu chốt để tiếp tục thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta Hơn nữa, để thực hiện mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 là đưa nước ta

về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, tất yếu phải phát triển CNHT Đây chính là nền tảng để phát triển một nền công nghiệp

tự chủ, hiện đại

Tuy nhiên, ở Việt Nam, công nghiệp hỗ trợ lại mới ch đang bắt đầu phát triển (thậm chí, còn có những ý kiến cho rằng Việt nam chưa có công nghiệp hỗ trợ) Trên thực tế, sau hơn 2 thập kỷ phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện

Trang 9

khảo sát của Tổ ch c Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại 68 doanh nghiệp của Nhật đang hoạt động tại Việt Nam cho thấy 50-90% linh phụ kiện vẫn phải nhập từ nước ngoài

Theo các chuyên gia, ở các nước đang phát triển, tiến trình của công nghiệp hỗ trợ thường trải qua 5 giai đoạn: Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ít, để đáp

ng nhu cầu chủ yếu phải nhập khẩu; Số lượng đã tăng lên, nhưng chất lượng không cao, chưa có khả năng cạnh tranh; Khối lượng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngày một tăng và đặc biệt đã xuất hiện những sản phẩm độc đáo, thoả mãn phần nào nhu cầu của công nghiệp chính, nên lượng nhập khẩu bắt đầu giảm; Sản xuất công nghiệp hỗ trợ phát triển cao hơn với nhiều nhà sản xuất nên đã xuất hiện sự cạnh tranh ngay trong nội địa, từ đó tạo ra động lực nâng cao chất lượng,

hạ giá thành; Năng lực của công nghiệp hỗ trợ được phát triển, bắt đầu xuất khẩu nhập khẩu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ Thực tế khó tách bạch từng giai đoạn, vì giữa các giai đoạn đều làm tiền đề và kế thừa lẫn nhau Và, sự ngắn dài của mỗi giai đoạn tuỳ thuộc vào sự phát triển của chính kinh tế nước đó cộng với sự hỗ trợ của các nền kinh tế phát triển Đối chiếu với 5 phân kỳ trên đây, công nghiệp

hỗ trợ của ta mới ở giai đoạn 2 và 3, được biểu hiện một phần qua tỷ lệ phụ tùng nội địa sản xuất cung ng cho công nghiệp chính, gọi tắt là “tỷ lệ nội địa hoá” Khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất các sản phẩm hỗ trợ đang đối mặt chính là họ rơi vào tình thế sản xuất các linh kiện thụ động phải chờ

sự chấp thuận của hãng lớn mặc dù bản thân họ rất linh hoạt Hơn nữa, ở Việt Nam công nghiệp hỗ trợ còn hết s c đơn giản, quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết giản đơn, giá trị gia tăng thấp và có sự chênh lệch về năng lực phụ trợ giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa ở Việt Nam với các yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu Đây là con đường gập ghềnh và nhiều gian nan cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa để có thể b t phá giữa yêu cầu cao của các hãng chính và thực trạng thấp kém của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất các linh kiện

Có thể nói, chính sự yếu kém của công nghiệp hỗ trợ cũng góp phần vào thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam Một trong những nguyên nhân khiến nhập siêu tăng phi mã là sự yếu kém của nền công nghiệp hỗ trợ, dẫn đến việc chúng ta vẫn phải nhập khẩu rất nhiều đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu Càng đẩy mạnh xuất khẩu thì nhu cầu về đầu vào cho sản xuất càng tăng mạnh

Trong những năm tới đây, khi đã hội nhập với cộng đồng kinh tế quốc tế,

Trang 10

với thách th c không nhỏ Việt Nam có thể thông qua thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của thế giới chẳng những tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước với sự trưởng thành của các DN, đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề, từ đó có thể nhanh chóng

mở ra các ngành công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp nói chung và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng Tuy vậy nếu chúng ta không vươn mạnh, thì các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ của thế giới theo lộ trình cắt giảm thuế quan sẽ

ùn ùn kéo vào tiếp tục nhấn sâu nước ta trong vòng gia công hàng hoá cho thế giới, ch hưởng tiền công rẻ mạt, còn chuỗi giá trị gia tăng tạo được lại tiếp tục rơi vào các nhà đầu tư nước ngoài Trong khi đó, những đối thủ sát sườn của chúng ta là Trung Quốc và Thái Lan đang ráo riết phát triển ngành công nghiệp này Và trong tình thế này ngay các cơ sở sản xuất trong nước cũng sẽ hướng tới dùng sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ nước ngoài, đồng nghĩa với việc thị trường nội địa bị lấn chiếm Để các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm hỗ trợ có thể

"chen chân" được vào chuỗi giá trị của các hãng lớn đang được xem như yếu tố cốt tử của nền công nghiệp Việt Nam Giá trị gia tăng hay nói rộng hơn là GDP của Việt Nam trong tương lai tuỳ thuộc vào chính việc này

Con đường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ của Việt Nam còn gập ghềnh Để mở rộng thị trường quốc tế, đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ đồng bộ cần nhấn mạnh vai trò của các chủ thể chính tham

gia "cuộc chơi" này Thứ nhất, Chính phủ cần nhận diện lại vấn đề và tham gia

tích cực vào cuộc chơi này bằng cách lập ra một cơ quan đầu mối để môi giới cho các doanh nghiệp cung cấp chi tiết linh kiện Trên thực tế, nước láng giềng Thái Lan đã làm rất tốt việc này trong thời kỳ công nghiệp hoá của họ Họ đã có một cơ quan nhà nước luôn theo dõi việc hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ để

"chui" vào các hãng chính Thứ hai, tham gia vào cuộc chơi chính là các nhà lắp

ráp, các hãng lớn Cuộc chơi phải có hai chiều, trong đó chiều từ các hãng lớn đóng vai trò cực kỳ quyết định Họ là những người đặt ra hợp đồng, đặt ra bài toán và họ là những người có năng lực hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa trong việc cung cấp linh kiện Vai trò th ba chính là các doanh nghiệp phụ trợ nội địa Trong đó, chính quyền địa phương đóng vai trò rất quan trọng thông qua việc quan tâm đến chính sách khuyến công địa phương, khuyến khích các doanh nghiệp phụ trợ phát triển ở quê hương mình

Trong khi các doanh nghiệp tham gia công nghiệp hỗ trợ chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn nhiều hạn chế về nguồn lực thì sự tham gia của

Trang 11

Chính phủ là rất cần thiết Cho đến nay, Việt Nam đã có Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020 (ban hành kèm theo Quyết định

số 34/2007/QĐ-BCN ngày 31/7/2007) Tuy nhiên, bản quy hoạch này ch mang tính định hướng và đưa ra những nhóm giải pháp chung Theo nhiều chuyên gia kinh tế, Nhà nước cần hỗ trợ mạnh mẽ, chiến lược và có hiệu quả hơn, trước mắt

là thiết lập một cơ quan đầu mối, tạo sự chuyên nghiệp về công nghiệp hỗ trợ Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước cần lựa chọn các ngành trọng điểm

để đầu tư, trước mắt nên ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ cho các ngành ô tô, điện tử - điện gia dụng, dệt may, da giày… bởi đây là những ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn, tạo ra nhiều việc làm Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ Hoàn thiện, ban hành mới các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm công nghiệp, xây dựng các rào cản kỹ thuật cần thiết cho từng ngành, từng chủng loại sản phẩm… Để xây dựng

cơ sở khoa học cho việc ban hành các chính sách này, việc nghiên c u đề tài

“Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đến năm 2020” mang

tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Trên thế giới, có khá nhiều nghiên c u về công nghiệp hỗ trợ và tác động của nó đến phát triển công nghiệp, đến năng lực cạnh tranh các ngành công nghiệp Có thể kể đến các nghiên c u về lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.E.Porter (1990), nghiên c u về công nghiệp hỗ trợ của Bộ Năng lượng (Hoa Kỳ)… Các nghiên c u này sử dụng những thuật ngữ tiếng Anh khác nhau (supporting industries, sub-contracting, related industries, ) với nội hàm khác nhau nhưng đều khẳng định vai trò của các ngành công nghiệp hỗ trợ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội

Về mặt thực tiễn trên thế giới, cũng đã có nhiều nghiên c u về công nghiệp hỗ trợ ở các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển Có thể kể đến nghiên c u kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ của châu Á của Tổ ch c Năng suất châu Á (APO, 2002), nghiên c u về liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp của Rendon (2000) Cũng có một số các nghiên c u về chính sách và thể chế phát triển công nghiệp ở các nước như Thái Lan (Lauridsen, 2000) Uỷ Ban đầu tư Thái Lan (Thailand Board of Investment) cũng đã xây dựng cơ sở dữ liệu các ngành công nghiệp hỗ trợ ASEAN nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực này Tuy nhiên, phần thông tin về Việt nam trên trang web này hầu như chưa có gì Do đó, có thể thấy rằng các nghiên c u này không tập trung đi

Trang 12

sâu phân tích công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam nên chưa phản ánh được những nét đặt thù của nước ta, ch có giá trị tham khảo

Ở Việt Nam, cũng đã có các công trình nghiên c u về công nghiệp hỗ trợ Đáng chú ý có thể kể đến các nghiên c u của Nhật Bản (JICA, JETRO) và Diễn đàn phát triển Việt Nam VDF (Đại học Kinh tế quốc dân) được công bố trong

“Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam” (Kenichi, 2007), hay nghiên c u

“Xây dựng và tăng cường ngành Công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam” của Kyoshiro Ichikawa Tuy nhiên, các nghiên c u này thường tập trung vào một vài ngành công nghiệp hỗ trợ có vốn đầu tư của Nhật Bản như ô tô, điện tử,… mà không nghiên c u công nghiệp hỗ trợ một cách toàn diện hơn Năm 2006, Viện nghiên

c u chiến lược và chính sách công nghiệp cũng đã nghiên c u quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020 (đã được ban hành theo quyết định 34/2007/QĐ-BCN ngày 31/7/2007) Trong bản quy hoạch này cũng đã phân tích thực trạng các ngành công nghiệp hỗ trợ, xác định một số ngành ưu tiên phát triển và đề xuất một số giải pháp tổng thể Hiện tại, cũng đang có 2 nghiên c u có liên quan đang được thực hiện là đề tài NCKH cấp Bộ “Phát triển ngành Công nghiệp hỗ trợ - đánh giá thực trạng và hệ quả” của Viện kinh tế thế giới (thực hiện từ tháng 11/2007), đề tài NCKH cấp Bộ “Các doanh nghiệp vừa và nhỏ với việc phát triển các ngành Công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam” của Trường Đại học Ngoại thương (thực hiện từ tháng 3/2008) Năm

2010, PGS,TS Lê Thế Giới cũng đã nghiên c u “Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việ Nam: Lý thuyết, thực tiễn và chính sách” (NXB Chính trị quốc gia) Tuy nhiên, nghiên c u này có xu hướng đi sâu vào việc vận dụng lý thuyết, kinh nghiệm nước ngoài cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Có thể nói, tất cả các nghiên c u trên đều xác định Công nghiệp hỗ trợ hoặc doanh nghiệp vừa và

nhỏ làm đối tượng nghiên c u mà không nghiên c u chính sách phát triển công

nghiệp hỗ trợ của Nhà nước

Bên cạnh đó, cũng đã có một số nghiên c u về chính sách phát triển công nghiệp ở Việt Nam như “Hoạch định chính sách công nghiệp ở Thái Lan, Malaysia và Nhật Bản: Bài học kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam” (Kenichi Ohno, 2006) hay “Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” (Kenichi Ohno & Nguyễn Văn Thường, 2005) Các nghiên

c u này ch đề cập đến chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ với tư cách một

bộ phận trong chính sách phát triển công nghiệp Do đó, có thể nói, cho đến nay

Trang 13

chưa có một công trình nghiên c u toàn diện, quy mô nào về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên c u của đề tài là chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam với tư cách là một hình th c của chính sách công nghiệp Theo

đó, chính sách công nghiệp hỗ trợ sẽ bao gồm 5 nội dung chính:

- Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào công nghiệp hỗ trợ

- Chính sách phát triển doanh nghiệp mới

- Chính sách tăng cường liên kết doanh nghiệp

- Chính sách phát triển nguồn nhân lực và công nghệ

- Chính sách hỗ trợ tài chính

- Chính sách khoa học công nghệ

Về mặt thời gian, nghiên c u giới hạn sự phát triển và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt nam trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay (sau Đổi mới) và đưa ra quan điểm và luận c khoa học cho việc giải quyết mối quan

hệ này trong thời kỳ đến năm 2020, đưa Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp

Về mặt nội dung, trên cơ sở phân tích các quan điểm về công nghiệp hỗ trợ, đề tài sẽ xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ bao gồm:

- Công nghiệp hỗ trợ cơ bản cung cấp máy móc công cụ và trang thiết bị cho nhiều ngành công nghiệp, bao gồm cả công nghiệp lắp ráp, chế biến và công nghiệp hỗ trợ khác

- Công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp chế biến cung cấp nguyên phụ liệu cho công nghiệp chế biến như dệt may, da giày Các ngành công nghiệp hỗ trợ này không đòi hỏi nhân lực có kỹ năng cao, sản xuất ít loại nguyên liệu và không tác động lớn đến sản phẩm

- Công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp lắp ráp cung cấp linh kiện, phụ tùng cho công nghiệp lắp ráp như ôtô, xe máy, điện tử Các ngành công nghiệp hỗ trợ này đòi hỏi lao động có kỹ năng cao hơn, sản phẩm chủ yếu là các linh kiện kim loại, nhựa, cao su, yêu cầu đáp ng các tiêu chuẩn chung và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm (Kenichi Ohno, 2007)

Trang 14

Trên cơ sở phạm vi của công nghiệp hỗ trợ như trên, đề tài sẽ tập trung phân tích thực trạng và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cơ khí – chế tạo (công nghiệp hỗ trợ cơ bản), công nghiệp hỗ trợ dệt may, da giày (công nghiệp

hỗ trợ cho công nghiệp chế biến) và công nghiệp hỗ trợ ô tô, điện tử (công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp lắp ráp) Việc lựa chọn 5 lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ này do:

- Dệt may và da giày là mặt hàng có hàm lượng lao động cao phù hợp với lợi thế hiện tại của nước ta, điện tử và ô tô là mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật, phù hợp với trình độ và định hướng phát triển của Việt Nam đến năm 2020; và

cơ khí chế tạo là công nghiệp hỗ trợ cơ bản, sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của công nghiệp hỗ trợ và cả nền kinh tế nói chung

- Trên thế giới, mạng sản xuất của các sản phẩm này đang có xu hướng tập trung ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nên sẽ là điều kiện thuận lợi và

là cơ hội cho sự tham gia của Việt Nam vào mạng sản xuất tòan cầu

- Các ngành này cũng được xác định trong “Quy hoạch định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ cho một số ngành công nghiệp Việt Nam giai đoạn đến

2010, tầm nhìn đến 2020”, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta

Các ngành công nghiệp chế biến (dệt may, da giày)

Nguyên, phụ liệu Máy móc,

trang thiết bị, công cụ

Công nghiệp

hỗ trợ cho công nghiệp lắp ráp

Các ngành công nghiệp lắp ráp (ôtô, điện tử)

Linh kiện, phụ tùng

Máy móc, trang thiết bị, công cụ

CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

Trang 15

- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

- Nghiên c u chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam

- Phân tích thực trạng công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

- Hệ thống hóa và đánh giá các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt nam hiện nay

- Nghiên c u phương hướng và giải pháp chính sách nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt nam đến năm 2020:

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sẽ được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện

ch ng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê nin; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về đường lối hội nhập và phát triển kinh tế; các lý thuyết, quan điểm hiện đại về kinh tế quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế; các nghiên c u đã có về các vấn đề có liên quan Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp trên tinh thần lý luận kết hợp với thực tiễn

Để có các thông tin tổng quát, đề tài đã căn c vào Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam ban hành theo Quyết định số10/2007/QĐ-TTg để xác định phạm vi các ngành công nghiệp hỗ trợ (xem chi tiết ở phụ lục 3) Do hạn chế về m c độ chi tiết trong hệ thống ngành kinh tế này nên có thể có một số phân ngành không hoàn toàn nằm trong phạm vi của công nghiệp hỗ trợ và m c độ chính xác của số liệu nhưng theo nhóm tác giả, đây là cách tiếp cận khả thi duy nhất để có được các số liệu thống kê (dựa trên Tổng điều tra doanh nghiệp hàng năm của Tổng cục Thống kê) phục vụ nghiên c u Điều này khắc phục được nhược điểm của các nghiên c u trước đây khi chủ yếu dựa trên kết quả khảo sát

Bên cạnh đó, đề tài cũng tiến hành khảo sát đối với các doanh nghiệp trong nước Việc khảo sát được tiến hành đối với 5 sản phẩm được lựa chọn: ô tô, điện tử, dệt may, da giày và cơ khí chế tạo Nội dung bảng hỏi tập trung vào những khó khăn trong việc liên kết giữa doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chính (xem chi tiết ở phụ lục 3) Trên cơ sở phân tích sâu về 5 lĩnh vực này, đề tài sẽ khái quát, tổng hợp để có những phân tích đánh giá chung về thực trạng và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

Trang 16

Đề tài cũng tiến hành khảo sát tại Trung Quốc Đây là quốc gia có khả năng đem lại những bài học kinh nghiệm phù hợp cho chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam vì: (i) Trung Quốc là nước có nhiều điểm tương đồng

về đường lối phát triển và thể chế chính trị đối với Việt Nam; (ii) Mặc dù có quy

mô lớn nhưng Trung Quốc có trình độ phát triển kinh tế không quá cao hơn so với Việt Nam (cùng là nước đang phát triển); (iii) Trung Quốc là nước láng giềng, cùng nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương nên sẽ chia sẻ những

cơ hội, thách th c từ mạng sản xuất khu vực; (iv) Trung Quốc là nước có nhiều thành công trong phát triển kinh tế và đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ (ô tô, dệt may, da giày, điện tử)

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài được chia làm 5 chương chính:

Chương 1: Công nghiệp hỗ trợ và chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ Chương 2: Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của một số nước trên thế

giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Chương 3: Công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam

Chương 4: Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam

Chương 5: Đề xuất chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đến

năm 2020

Trang 17

CHƯƠNG 1: CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT

TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Công nghiệp hỗ trợ nhìn từ cấu trúc ngành

Sản xuất công nghiệp thường diễn ra theo một quá trình dài, với nhiều công đoạn, với sự góp mặt của nhiều nhà sản xuất Trong quá trình này, sản phẩm của nhà sản xuất ở công đoạn trước là đầu vào của quá trình sản xuất và công đoạn sau Bắt đầu tư khoáng vật (quặng, than đá, cây gỗ …), các nguyên liệu thô được tạo ra

và là đầu vào của quá trình sản xuất các bán thành phẩm ở các m c độ khác nhau Các bán thành phẩm này có thể trải qua nhiều giai đoạn cho tới khi tới tay nhà lắp ráp cuối cùng Sản phẩm là thành phẩm cuối cùng được tạo ra và được mang tới tay người tiêu dùng Tùy theo từng ngành nghề, theo đặc điểm sản phẩm, theo m c độ phân công lao động trong ngành hay quyết định của các nhà sản xuất mà quá trình sản xuất có thể diễn ra dài ngắn khác nhau

Nếu đ ng trên góc độ người sản xuất sản phẩm cuối cùng, trong hệ thống sản xuất công nghiệp tồn tại những doanh nghiệp, những hoạt động sản xuất nhằm cung cấp linh kiện, dịch vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ (supporting industry) xuất hiện dựa trên cách nhìn này Tuy vậy khái niệm về công nghiệp hỗ trợ còn khá mơ hồ và không nhất quán

Xét trên nghĩa tổng quát nhất, Công nghiệp hỗ trợ (supporting industry) là thuật ngữ chỉ một hệ thống sản xuất, cung cấp những yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng Một sản phẩm là một chiếc xe hơi, nếu kể ngược lại

quá trình sản xuất thì điểm bắt đầu sẽ là các công nghiệp khai khoáng (như khai thác dầu, quặng thép), công nghiệp tổng hợp, chế biến các nguyên liệu sắt, nhựa, cao su …, công nghiệp chế biến các linh kiện cho tới khi thành các khối linh kiện được lắp thành tổng thành của xe Trong sản xuất hiện đại ngày nay, hầu hết các công đoạn sản xuất các vật liệu, linh kiện được thực hiện bên ngoài nhà máy của nhà lắp ráp cuối cùng Tất cả hệ thống này tạo nên ngành công nghiệp hỗ trợ

Trang 18

Hình 1.1 Công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp riêng biệt

Nguồn: Ngô Đức Anh, 2008

Ở một phạm vi nhỏ hơn, khi xem xét công nghiệp hỗ trợ, người ta hay đề cập

tới công nghiệp hỗ trợ cho một ngành cụ thể Ví dụ công nghiệp hỗ trợ cho ngành ô

tô Các ngành công nghiệp khác như điện tử, da giày, xe máy, đóng tầu… đều có một hệ thống các nhà cung cấp linh kiện các cấp 1, 2, 3

Khi xem xét sự phát triển của hệ thống các nhà cung cấp hỗ trợ, một xu hướng dễ dàng nhận ra là một nhà cung cấp có thể sản xuất và cung cấp linh kiện cho khách hàng ở nhiều ngành sản xuất khác nhau Ví dụ như một nhà sản xuất thép

có thể cung ng sản phẩm của mình cho ngành đóng tầu, sản xuất ô tô, xe máy hay thậm chí là điện tử Nói cách khác, có một sự giao thoa giữa các ngành sản xuất khác nhau trong việc sử dụng hệ thống cung cấp hỗ trợ Việc này gợi ý tới một

phạm vi, một cách hiểu khác đối với công nghiệp hỗ trợ Đó là tập hợp những doanh nghiệp, không kể phục vụ cho ngành sản xuất ra sản phẩm cụ thể nào, sản xuất và cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho những nhà sản xuất Khái niệm về

công nghiệp hỗ trợ dần được hình thành theo cách tiếp cận này nhằm khẳng định vai trò của một hệ thống các doanh nghiệp chuyên môn hóa theo một số công nghệ

và quá trình sản xuất, bán sản phẩm cho những nhà sản xuất khác để sản xuất ra một loại sản phẩm cụ thể nào

Trang 19

Hình 1.2 Công nghiệp hỗ trợ dùng chung

Nguồn: K.Ohno và J.Mori, 2005

Tiếp tục mở rộng khái niệm này về công nghiệp hỗ trợ, các thành phần của công nghiệp hỗ trợ không ch giới hạn trong sản xuất mà mở rộng các hoạt động dịch vụ tham gia vào chuỗi giá trị như bảo hiểm, giao nhận… Các doanh nghiệp và hoạt động tham gia vào công nghiệp hỗ trợ có thể được mô hình hóa và phân chia thành các phạm vi khác nhau từ phạm vi chính, phạm vi mở rộng (Nguyễn Thị Xuân Thúy, 2007)

1.1.1.2 Công nghiệp hỗ trợ nhìn từ lịch sử phát triển

Có thể nói hệ thống các nhà cung cấp (hay các nhà thầu phụ - sub-contractor) được hình thành từ khá sớm và phát triển mạnh sau Chiến tranh thế giới lần th II khi hệ thống sản xuất theo kiểu mạng lưới nhiều cấp dần chiếm ưu thế Mỗi nhà sản xuất công nghiệp xây dựng cho mình một mạng lưới những nhà cung cấp Từ đó, một hệ thống những nhà sản xuất và cung cấp linh kiện, dịch vụ sản xuất được hình thành Tuy vậy, khái niệm công nghiệp hỗ trợ ch mới được giới thiệu vào thập kỷ

80 thế kỷ trước, bắt nguồn từ những nhà sản xuất Nhật Bản (Nguyễn Xuân Thúy, 2007) Về khía cạnh lịch sử phát triển của nền sản xuất thế giới, khái niệm công nghiệp hỗ trợ mang tính tách biệt này xuất phát từ nhu cầu mở rộng mạng lưới sản xuất và phân công, chuyên môn hóa lao động Từ phía những nhà sản xuất linh kiện, từ việc cung cấp cho một nhà sản xuất với một loại sản phẩm (linh kiện) cụ thể, những nhà cung cấp dần làm chủ công nghệ và phát triển ra những ngành nghề với những sản phẩm cuối cùng khác Đối tượng nhà cung cấp này dần thoát khỏi hệ

thông tin Đóng tầu

Sự phát triển và sẵn sàng của các ngành công nghiệp cơ bản: nguyên liệu thô

Nhu cầu của những nhà lắp ráp Linh kiện nhựa, Linh kiện sắt, Công cụ cơ khí …

Các ngành công nghiệp hỗ trợ dùng chung (ép nhựa, cắt kim loại, cao sƣ,

gia công nhiệt, rèn, đúc, rập …)

Trang 20

thống sản xuất của một ngành truyền thống Dần dần, chính những nhà sản xuất này tạo ra một hệ thống sản xuất riêng, một ngành được xem là khá độc lập - ngành công nghiệp hỗ trợ

Khái niệm công nghiệp hỗ trợ riêng biệt cũng xuất phát từ phía các nhà sản xuất thành phẩm, đặc biệt trong quá trình mở rộng sản xuất sang nước khác Phát triển sản xuất lớn đòi hỏi những nhà sản xuất phải xây dựng một hệ thống những nhà cung cấp cho mình Thay vì thuần túy khai thác lợi thế quy mô với hệ thống tích hợp hàng dọc (vertical integration), các nhà sản xuất kết hợp và phát triển dần

hệ thống tích hợp theo hàng ngang (horizontal integration) Hệ thống những nhà cung cấp tạo nên lợi thế cạnh tranh của các nhà sản xuất (Porter, 1991), và trở thành một yêu cầu không thể thiếu của những nhà sản xuất khi mở rộng sản xuất ra một địa điểm mới

Không phải ngẫu nhiên mà khái niệm công nghiệp hỗ trợ xuất hiện đầu tiên

từ các nhà sản xuất Nhật Bản Một trong những thế mạnh của sản xuất hàng hóa Nhật Bản là phát triển mạng lưới sản xuất nhiều cấp với liên kết chặt chẽ (Cusumano & Takeishi, 1991) Việc phát triển này vừa do tính văn hóa, vừa do tính lịch sử phát triển sản xuất của Nhật Bản (Nishiguchi, 1994) và tạo nên lợi thế của sản xuất hàng hóa kiểu Nhật (Fujimoto, 2000; Helper, 1991) Các nhà sản xuất Nhật Bản thường đánh giá cao tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ Hơn những thế, họ thường có xu hướng phát triển hệ thống cung cấp theo mô hình riêng của mình

Khái niệm công nghiệp hỗ trợ chính th c được nhắc tới cũng xuất phát từ nhu cầu của các nhà sản xuất Nhật Bản khi mở rộng hệ thống sản xuất của mình ra nước ngoài và đòi hỏi có một hệ thống những nhà cung cấp linh kiện Quá trình này được thúc đẩy mạnh vào những năm 1980 khi đồng yên lên giá đã đẩy mạnh quá trình đầu tư và xây dựng cơ sở sản xuất tại nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản Phát triển hệ thống cung cấp linh kiện, thậm chí một ngành cung cấp linh kiện tại các địa điểm đầu tư mới trở thành mối quan tâm của cả các doanh nghiệp lẫn Chính phủ Nhật Bản Khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” được đưa vào các văn bản chính th c của Cơ quan nhà nước Nhật Bản như là một mục tiêu trong các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp tại các nước đang phát triển cũng như hỗ trợ khuyến khích đầu tư và sản xuất của các doanh nghiệp Nhật Bản (Nguyễn Xuân Thúy, 2007) Điển hình trong các chính sách này là Dự án về Công nghiệp Hỗ trợ (Supporting Industries Project) do Tổ ch c Thương mại Hải ngoại của Nhật Bản (JETRO) thực hiện năm 1994 tại 6 nước Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan,

và Philippines nhằm điều tra đánh giá m c độ phát triển của các nhà cung cấp và các điều kiện phát triển hệ thống các nhà cung cấp tại các nước này (UNCTAD,

Trang 21

2004) Từ đó, khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” sử dụng ngày càng nhiều trong các chính sách xúc tiến thương mại và sản xuất của Nhật Bản tại các nước đang phát triển

Tương tự như những nhà đầu tư Nhật Bản, các nhà đầu tư nước ngoài khác

từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển cũng luôn đòi hỏi một hệ thống các nhà cung cấp linh kiện ở địa điểm đầu tư mới Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ được sử dụng rộng rãi đối với các nhà đầu tư ở nhiều nước khác nhau và được sử dụng trong các nghiên c u, báo cáo của các tổ ch c quốc tế Một đặc điểm cũng cần quan tâm là phần lớn các doanh nghiệp hỗ trợ là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Small and Medium Enterprises - SMEs) Ở nhiều nước, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ được đặt trong chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Chính vì vậy, khác với Nhật Bản, nhiều nước phát triển lấy các doanh nghiệp SMEs

là đối tượng cho chính sách hỗ trợ và liên kết công nghiệp tại các nước đang phát triển

Từ góc nhìn của các nước đang phát triển, khái niệm về công nghiệp hỗ trợ được du nhập từ các nước phát triển, qua các nhà đầu tư và các chính sách hỗ trợ phát triển Mặt khác việc phát triển sản xuất từ việc sản xuất linh kiện, tham gia vào chuỗi sản xuất của các nhà sản xuất nước ngoài là một trong những cách th c chủ yếu phát triển công nghiệp của các nước đang phát triển từ những năm 70 trở lại đây (Là ll, 1992) Phát triển hệ thống các nhà cung cấp cần có những chính sách riêng tập trung cho chính những đối tượng này Do đó, khái niệm công nghiệp hỗ trợ được sử dụng ở các nước đang phát triển, nhất là châu Á từ những năm 1990, với mục đích định hướng chính sách phát triển công nghiệp

1.1.1.3 Một số khái niệm có liên quan đến công nghiệp hỗ trợ

Cùng với thuật ngữ “công nghiệp hỗ trợ”, có một vài khái niệm khác cũng được sử dụng để ch ngành công nghiệp chuyên cung cấp đầu vào, trong số đó có: công nghiệp liên quan và hỗ trợ, thầu phụ, công nghiệp phụ thuộc, công nghiệp linh phụ kiện, và người cung cấp có nghĩa gần với nghĩa của công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp liên quan và hỗ trợ

Thuật ngữ “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” (related and supporting industries) được M Porter sử dụng như là một yếu tố quyết định của lợi thế cạnh tranh quốc gia Trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (M.Porter, 1990), ông giới thiệu mô hình kim cương gồm bốn yếu tố chính liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên lợi thế cạnh tranh và có thể áp dụng cho các quốc gia, vùng và các ngành công nghiệp Đó là chiến lược và cấu trúc cạnh tranh, các điều kiện của yếu tố đầu vào,

Trang 22

điều kiện về cầu và công nghiệp liên quan và hỗ trợ Trong đó, công nghiệp hỗ trợ được định nghĩa như khu vực tạo ra các yếu tố đầu vào được sử dụng rộng rãi, còn công nghiệp liên quan là những ngành trong đó doanh nghiệp có thể phối hợp và chia sẻ các hoạt động trong cùng chuỗi giá trị khi họ cạnh tranh với nhau, hoặc là những ngành sản xuất ra các sản phẩm có tính chất bổ sung cho nhau Thuật ngữ

“công nghiệp liên quan và hỗ trợ” của M Porter mang tính học thuật và bao hàm phạm vi khá rộng Trong định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ của chúng tôi, với mục tiêu nâng cao s c cạnh tranh của vùng nên có khá nhiều điểm tương đồng với khái niệm này của Porter

Thầu phụ

Khái niệm “thầu phụ” đã được sử dụng khá lâu trong giới công nghiệp nhưng không được định nghĩa cụ thể Theo Cơ quan Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) thì thầu phụ là: “thỏa thuận giữa hai bên nhà thầu chính và nhà thầu phụ Nhà thầu chính giao cho một hoặc vài doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện hoặc cụm linh kiện và/hoặc cung cấp dịch vụ công nghiệp cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm cuối cùng của mình Nhà thầu phụ thực hiện công việc tuân theo sự ch định của nhà thầu chính”1 Không như công nghiệp hỗ trợ, thầu phụ nhấn mạnh vào các cam kết và quan hệ lâu dài giữa doanh nghiệp lớn và nhà thầu phụ mà không bao gồm các loại hình giao dịch khác, như sản xuất tại chỗ hoặc mua ngoài Hình th c thầu phụ khá phổ biến tại Nhật Bản và các quốc gia NEC trong những năm 1950-

1970 Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, do áp lực kinh doanh và tồn tại, các doanh nghiệp thầu phụ đang có khuynh hướng chuyển dần sang việc độc lập hơn, giống như các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hỗ trợ Nền kinh tế Việt Nam hiện tại có khá nhiều đặc điểm cho sự phát triển của hình th c thầu phụ này Tuy vậy, mục tiêu của chúng ta là xây dựng một nền công nghiệp hỗ trợ để nâng cao tính độc lập của nển kinh tế

Công nghiệp phụ thuộc

Thuật ngữ “công nghiệp phụ thuộc” được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ từ những năm 1950 Được định nghĩa trong Luật Công nghiệp năm 1951, công nghiệp phụ thuộc được hiểu là hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp có liên quan đến hoặc

có dự định liên quan đến việc chế tạo hoặc sản xuất linh kiện, phụ tùng, cụm linh kiện, công cụ hoặc hàng hóa trung gian, hoặc cung cấp dịch vụ Thuật ngữ ch được biết đến ở Ấn Độ và ít được phổ biến ra bên ngoài do đặc tính kinh tế khép kín của nền kinh tế này ở thời điểm đó Có thể thấy rằng công nghiệp phụ thuộc là một phần của công nghiệp hỗ trợ dưới hình th c các hoạt động công nghiệp quy mô nhỏ Với

1

Trang 23

đặc tính như vậy, rất khó có thể tìm ra một chính sách độc lập để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp này

Công nghiệp linh phụ kiện

Công nghiệp linh phụ kiện được hiểu là ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp lắp ráp như xe máy, ô tô, điện và điện tử Đây là thuật ngữ có phạm vi hẹp, nó không bao gồm các yếu tố đầu vào khác trong công nghiệp hỗ trợ như dịch vụ, công cụ, máy móc và nguyên liệu Tuy vậy, công nghiệp linh phụ kiện có thể xem là trung tâm của chiến lược nội địa hóa các ngành công nghiệp lắp ráp

Nhà cung cấp

Cũng giống như “công nghiệp linh phụ kiện”, “nhà cung cấp” cũng không được định nghĩa cụ thể Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi ở Malaysia và các nước Nam Á để ch các hoạt động như nhà thầu phụ của các doanh nghiệp lớn Không giống với “công nghiệp hỗ trợ”, “nhà cung cấp” dùng để ch các doanh nghiệp đơn lẻ Nói một cách tổng thể, các nhà cung cấp là một bộ phận của công nghiệp hỗ trợ, nhân tố quan trọng cho sự phát triển của ngành công nghiệp này

Như vậy, công nghiệp hỗ trợ là một thực thể kinh tế được hình thành từ thực

tế phát triển công nghiệp của các quốc gia Dưới tác động của sự thay đổi cấu trúc công nghiệp, các nhà hoạch định chính sách nhận thấy tầm quan trọng của một khu vực kinh tế và cần phải có các chính sách để thúc đẩy sự phát triển của khu vực này Khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” được nhìn nhận từ nhiều góc nhìn và quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào mục tiêu quy hoạch cũng như thiết lập chinh sách công nghiệp đặc thù của các quốc gia Chúng ta có thể rút ra một số kết luận quan trọng liên quan đến các vấn đề lý luận của công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ là một khái niệm của công nghiệp hiện đại, được kế thừa

từ những khái niệm có liên quan và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố trung gian đầu vào cũng như các yếu tố hỗ trợ cho các ngành công nghiệp then chốt, có giá trị kinh tế cao và quá trình sản xuất ph c tạp

Khái niệm chung về công nghiệp hỗ trợ tương đối đồng nhất, phản ánh các hoạt động công nghiệp cung ng các yếu tố đầu vào cho các ngành công nghiệp then chốt Tuy nhiên, tùy vào mục đích sử dụng (chủ yếu trong hoạch định chính sách công nghiệp) mà mỗi quốc gia có sự giới hạn phạm vi của ngành này ở một số ngành cụ thể (theo cách định nghĩa của Nhật Bản, Thái Lan) hay một số hoạt động

cụ thể

Trang 24

Ngành công nghiệp hỗ trợ không được xem xét trong hệ thống phân loại ngành kinh tế theo quan điểm truyền thống (phân biệt theo lĩnh vực sản xuất) mà

ch được xem xét như một ngành công nghiệp với sự tái định nghĩa các ngành công nghiệp theo cấu trúc dọc (phân biệt theo hoạt động sản xuất) dưới áp lực của chuyên môn hóa quy trình và tái cấu trúc doanh nghiệp công nghiệp

Đối với các quốc gia đang phát triển, công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm xã hội, thúc đẩy tăng trưởng của các ngành công nghiệp mũi nhọn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, vùng và địa phương

Việc xác định phạm vi của ngành công nghiệp hỗ trợ phải căn c trên điều kiện đặc thù cũng như mục tiêu hoạch định chính sách công nghiệp của mỗi quốc gia hay khu vực cụ thể Đối với Việt Nam, không nên sử dụng các định nghĩa của các quốc gia khác, vì như vậy có thể tạo ra sự phát triển không ổn định cũng như đánh mất tính chủ động và độc lập của nền kinh tế đất nước (Ví dụ, nếu sử dụng các định nghĩa của Nhật Bản thì công nghiệp hỗ trợ Việt Nam sẽ phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế Nhật Bản)2

1.1.1.4 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm một số nước và ở Việt Nam

Mặc dù thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước nhưng thuật ngữ này vẫn không có định nghĩa thống nhất mà mỗi quốc gia có thể đưa ra những cách hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau

Nhìn lại lịch sử, công nghiệp hỗ trợ (supporting industries) xuất hiện đầu tiên ở Đông Á, cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp (chủ yếu là hoạt động lắp ráp - assembly) của Nhật vào các nước ASEAN (đặc biệt là Thái Lan, Malaysia và Indonesia) giữa thập kỷ 80 Như vậy, công nghiệp hỗ trợ là một khái niệm đối x ng với công nghiệp lắp ráp Bản thân cụm từ “Supporting Industries” được dịch trực tiếp từ thuật ngữ gốc trong tiếng Nhật là “Suso-no San-gyou” (suso-no nghĩa là chân núi, san-gyou là công nghiệp)3 Nếu hình dung cấu trúc toàn bộ qui trình sản xuất một sản phẩm như một quả núi (hay đơn giản là một hình tam giác), thì các ngành công nghiệp Susono đóng vai trò chân núi, còn “công nghiệp lắp ráp” đóng vai trò đ nh núi Chân núi là những ngành sử dụng tất cả các kỹ thuật gia công cơ

sử dụng có chất lượng cao” và “nỗ lực liên tục cải tiến quy trình sản xuất (kaizen)” Yếu tố quan trọng của monozukuri không phải là máy móc mà chính là sự tồn tại của công nghệ độc đáo và những chuyên gia kỹ thuật giàu kinh nghiệm

Trang 25

bản (đúc, dập, gò, hàn, cắt gọt, khoan đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấn bao bì ) gia công các loại vật liệu từ các loại kim loại, tới cao su, nhựa, gốm, gỗ và các loại vật liệu tổng hợp khác, nhằm chế tạo ra các linh kiện, phụ tùng phục vụ lắp ráp (Đỗ Mạnh Hồng, 2009) Trên cơ sở đó, Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản (METI) chính th c định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ trong Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ châu Á (1993) là “các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn,… cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)” (Lê Thế Giới, 2010)

Hình 1.3: Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản

Nguồn: J.Mori, 2005

Ở các nước đang phát triển như Thái Lan, Malaysia, công nghiệp hỗ trợ được định nghĩa là các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành công nghiệp (Ratana E., 1999) Văn phòng phát triển công nghiệp hỗ trợ Thái Lan định nghĩa “Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản” (Lê Thế Giới, 2010) Như vậy, theo cách hiểu theo nghĩa hẹp này thì công nghiệp hỗ trợ không bao hàm việc chế tạo vật liệu cơ bản (như các loại sắt thép, nguyên vật liệu thô)

Một quan điểm theo nghĩa rộng khác được đưa ra bởi Bộ Năng lượng Mỹ Theo đó, công nghiệp hỗ trợ là những ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường (DOE, 2005) Như vậy, công nghiệp hỗ trợ không ch đơn thuần là việc sản xuất linh kiện, phụ kiện mà còn bao gồm các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi,

Sản phẩm trung gian (Sub-asembly)

Lắp ráp thành phẩm (Final asembly)

Linh kiện, phụ tùng (Production parts) Công cụ (Tooling) Máy móc (Machinery) Nguyên vật liệu (Material & Raw Material)

Công nghiệp hỗ trợ

Trang 26

phân phối, bảo hiểm Cách hiểu này tương tự với khái niệm công nghiệp hỗ trợ được đưa ra trong Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 của Bộ Công Thương, Việt Nam Trong Bản Quy hoạch này, hệ thống công nghiệp hỗ trợ là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cho khâu lắp ráp cuối cùng Công nghiệp hỗ trợ có thể được phân chia thành hai thành phần chính (i) Phần c ng là các cơ sở sản xuất nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp; (ii) Phần mềm bao gồm các bộ phận thiết

kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch vụ công nghiệp và maketing (IPSI, 2005)

Có thể tổng kết các quan điểm khác nhau về công nghiệp hỗ trợ trong hình dưới đây:

Hình 1.4: Các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ

Nguồn: VDF, 2007 Như vậy, có thể thấy, mỗi quốc gia đều căn c vào lợi thế của mình để xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ một cách phù hợp Nhật Bản, với lợi thế về công nghệ, tiếp cận công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa rộng (2) Trong khi Hoa Kỳ, với lợi thế về dịch vụ sản xuất lại tiếp cận công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa rộng(1) Các nước đang phát triển như Thái Lan lại tập trung vào phạm vi chính của công nghiệp hỗ

trợ

Trang 27

Mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chính được thể hiện như sau:

Hình 1.5: Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ

Nguồn: Quy hoạch phát triển CNHT

Trong Dự thảo Nghị định về phát triển công nghiệp hỗ trợ thì Công nghiệp

hỗ trợ: là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm .để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng Nghị định này cũng xác định phạm vi các sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ theo 5 ngành chính (xem phụ lục 1) Như vậy, có thể thấy rằng Dự thảo nghị định này ch tập trung vào phần c ng của CNHT theo quan điểm trong bản quy hoạch đưa ra Quan điểm này cũng phù hợp với định nghĩa của Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) khi cho rằng “Công nghiệp hỗ trợ gồm một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng) cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến” Đối với Việt Nam, để tập trung nguồn lực thì việc xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa hẹp, ch bao gồm các phần c ng như vậy là hợp lý

Trên cơ sở đó, trong phạm vi đề tài, công nghiệp hỗ trợ là công nghiệp sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng, sản phẩm trung gian,… đóng vai trò là đầu vào (inputs) và lắp ráp chúng để trở thành sản phẩm cuối cùng

1.1.2 Phân loại công nghiệp hỗ trợ

Ngành ô tô

Ngành xe máy Ngành điện tử

Ngành điện gia dụng

Ngành dệt may

Ngành da giày Ngành cơ khí chế tạo

Ngành công nghiệp hỗ trợ

Trang 28

Việc phân loại công nghiệp hỗ trợ có thể được thực hiện theo các tiêu chí khác nhau

1.1.2.1 Phân loại theo ngành nghề sản xuất ra sản phẩm cuối cùng

Theo cách tiếp cận về công nghiệp hỗ trợ là một hệ thống bao trùm chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm, một chủng loại sản phẩm cụ thể, công nghiệp hỗ trợ

có thể phân thành các ngành phù hợp với các sản phẩm cuối cùng chính như:

- Công nghiệp hỗ trợ ngành giầy da, may mặc

- Công nghiệp hỗ trợ các ngành cơ khí: có thể chia nhỏ thành

o Công nghiệp hỗ trợ ngành đóng tầu

o Công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô

o Công nghiệp hỗ trợ ngành xe máy

o Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế biến nông lâm thủy sản

o Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí gia dụng

- Công nghiệp hỗ trợ ngành điện

- Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử (điện tử dân dụng, điện tử văn phòng)

- Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử tin học (máy tính …)

Tuy vậy cách phân loại này gặp phải khó khăn khi một doanh nghiệp hỗ trợ tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau Ví dụ như một doanh nghiệp sản xuất linh kiện kim khí rèn rập, sản phẩm của họ có thể là linh kiện cho ô tô, xe máy,

đồ gia dụng … Khó có thể xác định nhà sản xuất này tham gia một ngành đơn nhất nào Chính sự giao thoa này làm hạn chế khả năng tiếp cận các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ, kể cả về mặt nghiên c u và chính sách

Trang 29

1.1.2.2 Phân loại theo ngành / công nghệ sản xuất linh kiện

Với cách tiếp cận công nghiệp hỗ trợ là ngành sử dụng chung cho nhiều ngành sản xuất khác nhau, một cách th c phân loại công nghiệp hỗ trợ là phân loại theo sản xuất linh kiện, căn c vào chủng loại sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra hoặc công nghệ mà doanh nghiệp đó sử dụng Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất dây diện có thể cung cấp sản phẩm cho sản xuất xe máy, sản xuất điện, điện tử hoặc cho các ngành cơ khí chế tạo khác Một doanh nghiệp cơ khí chế tạo khuôn mẫu có thể sản xuất và cung cấp cho các khách hàng trong ngành nhựa (chế biến sản phẩm gia dụng), ngành ô tô, xe máy, cơ khí nông nghiệp, điện, điện tử …

Với cách tiếp cận phân loại trên, một số ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng các công nghệ liên quan tới các vật liệu điển hình là:

- Ngành sản xuất linh kiện nhựa

- Các ngành sản xuất gia công kim khí như:

o Gia công nhiệt

o Gia công cơ khí chính xác

- Ngành sản xuất linh kiện cao su

- Ngành sản xuất linh kiện thủy tinh

- Ngành sản xuất linh kiện kim loại mầu

Trang 30

bộ ngành công nghiệp hỗ trợ Như thể hiện trong hình 2, các nhà cung cấp trực tiếp cho các nhà sản xuất lắp ráp sản phẩm cuối cùng thường là những nhà sản xuất những cụm linh kiện với nhiều chi tiết là nhựa, kim loại gia công, cao su… Cách phân loại theo quy trình công nghệ hay gia công nguyên vật liệu hạn chế khả năng tiếp cận những nhà cung cấp trên (cấp 1,2)

Tuy vậy, nhìn lại lịch sử phát triển của thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ, có thể nói ngành này là một trong những đối tượng ưu tiên trong chính sách hợp tác phát triển công nghiệp của các nước đang phát triển với các nước phát triển, nhất là Nhật Bản Bản thân khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” cũng từ yêu cầu xây dựng chính sách phát triển và liên kết công nghiệp mà ra Đ ng từ góc nhìn của các nhà đầu tư nước ngoài, đối tượng các nhà cung cấp mà họ thường cần tới là những nhà sản xuất với các công nghệ và sản phẩm cụ thể như rèn, rập, đúc, gia công kim loại … Việc phân loại công nghiệp hỗ trợ theo công nghệ sản xuất cho phép các doanh nghiệp và người lập chính sách tại các nước đang phát triển xác định đúng đối tượng ưu tiên

trong chính sách của mình

1.1.3 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ

Cho dù các cách tiếp cận về công nghiệp hỗ trợ có thể khác nhau nhưng có thể nói, đây là một ngành có phạm vi khá lớn với sự tham gia của đông đảo các doanh nghiệp Công nghiệp hỗ trợ có những đặc điểm riêng từ cấu trúc tới đặc điểm phát triển của ngành

1.1.3.1 Tính đa cấp

Đặc điểm cần xem xét đầu tiên của công nghiệp hỗ trợ là tính đa cấp của công nghiệp hỗ trợ Các doanh nghiệp tham gia công nghiệp hỗ trợ nằm ở các vị trí khác nhau trong chuỗi giá trị sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Một sản phẩm có thể đơn giản như quần áo tới các sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao hơn như ô tô, máy tính

… đều trải qua một quá trình sản xuất, bắt đầu từ nguyên liệu thô, qua các giai đoạn khác nhau cho tới khi giá trị được tích lũy vào thành phẩm cuối cùng Trong chuỗi giá trị này, các nhà cung cấp được phân loại theo cấp độ, vị trí họ tham gia vào hệ thống Trên nhất là nhà lắp ráp sản phẩm cuối cùng Tiếp đó là lần lượt là các nhà cung cấp cấp 1, cấp 2, cấp 3…

Trang 31

Hình 1.6: Phân loại công nghiệp hỗ trợ theo hệ thống ngành sản xuất

Tính đa cấp của công nghiệp hỗ trợ dẫn tới sự phân hóa khá rõ rệt trong các thành phần tham gia công nghiệp hỗ trợ Các nhà cung cấp ở các cấp khác nhau sẽ khác nhau về quy mô vốn, quy mô sản xuất, về sở hữu, công nghệ, về quản lý, khách hàng, mối quan hệ với khách hàng … Lấy ví dụ như trong hệ thống cung cấp của ngành ô tô Nhật Bản, điều tra của Fujimoto & Takeishi (1994) ch rõ những đặc

điểm khác biệt này

Bảng 1.1: Một số đặc điểm các nhà cung cấp linh kiện ô tô tại Nhật Bản Đặc điểm Nhà CC cấp 1 Nhà CC cấp 2 Nhà CC cấp 3 Nhận xét

Quy mô trung bình (69 người)

Quy mô nhỏ

và rất nhỏ (10 người)

Càng cấp dưới, quy mô càng nhỏ

Thành phẩm

Nhà cung cấp

cấp 2

Nhà cung cấp cấp 2

Nhà cung

cấp cấp 3

Nhà cung cấp cấp 3

Nhà cung cấp cấp 3

Nhà cung cấp cấp 3

Nhà cung cấp cấp 3

Nhà cung cấp cấp 3

Nhà cung cấp cấp 2

Nhà cung cấp cấp 2

Nhà cung cấp cấp 1

Nhà cung cấp cấp 1

Trang 32

Quan hệ với

khách hàng

Từ những năm

1950 (tập trung 45%

1980 (20%)

Từ những năm

1970 (47%), những năm

1980 (42%)

Cấp càng thấp càng có ít thời gian làm việc với khách hàng

Quy mô sản

xuất hàng

tháng

Quy mô lớn (4.540 nghìn sản phẩm / tháng)

Quy mô trung bình (530.000 sản phẩm / tháng)

Quy mô nhỏ (140.000 sản phẩm 1 tháng)

Cấp càng thấp, quy mô sản xuất càng nhỏ

Chủng loại

sản phẩm

Đa dạng (594 chủng loại)

Trung bình (107 chủng loại)

Ít (35 chủng loại)

Cấp càng thấp, chủng loại sản phẩm càng ít Giá bán giảm

theo thời gian

(tính từ 1990

tới 8/1992)

Tăng giá (0,7%)

Giảm giá 2,6%)

Giảm giá 6,6%)

(-Cấp càng thấp càng giảm giá nhiều theo thời gian

Nguồn: Trích lược một số chỉ tiêu từ Fujimoto 1998

1.1.3.2 Tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính

Nằm trong chuỗi giá trị, các doanh nghiệp trong công nghiệp hỗ trợ có mối quan hệ liên kết với nhau trong quy trình sản xuất Mối liên hệ này dẫn đến yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hệ thống và tập trung theo khu vực Trong hệ thống công nghiệp hỗ trợ, sự phát triển của các doanh nghiệp mua linh kiện tạo nhu cầu và kích thích sự phát triển của các doanh nghiệp cung cấp Ngược lại, sự phát triển của các nhà cung cấp tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đem lại lợi thế cạnh tranh cho những doanh nghiệp mua linh kiện, kích thích sự phát triển của đối tượng này Đ ng về mặt địa lý, việc phát triển những nhà sản xuất linh kiện và lắp ráp tại một khu vực tạo nên lợi thế về địa lý, khai thác ưu điểm của cụm công nghiệp (cluster) trên nhiều phương diện, từ thông tin tới hậu cần và phát triển sản phẩm mới

Cần lưu ý là với sự phát triển của mạng lưới sản xuất và thị trường toàn cầu, việc phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính của công nghiệp hỗ trợ giảm dần theo điều kiện không gian Mối quan hệ phụ thuộc về không gian này cũng tùy thuộc vào đặc điểm của từng ngành công nghiệp chính Một số ngành như sản xuất điện tử, ưu

Trang 33

thế do vị trí gần nhau, tiết kiệm được chi phí vận chuyển, không cao như những ngành sản xuất linh kiện lớn như sản xuất ô tô Quá trình phát triển kinh tế khu vực (liên quốc gia) và phát triển giao thông liên quốc gia cũng làm giảm những lợi thế

về vị trí của công nghiệp hỗ trợ Tuy vậy việc phát triển những cụm công nghiệp (cluster) vẫn có những lợi thế lớn của nó, không ch trong việc tiết kiệm chi phí vận chuyển và còn trong quá trình trao đổi thông tin, giải quyết sự cố hay phát triển sản phẩm mới

Đặc điểm này của công nghiệp hỗ trợ dẫn tới ba điểm lưu ý trong việc phát

triển ngành công nghiệp này Thứ nhất, do tính hệ thống, công nghiệp hỗ trợ có thể

tự phát triển trong những điều kiện đặc biệt nhất định (thị trường lớn, điều kiện sản xuất có lợi thế đặc biệt…) Tuy vậy, vai trò của chính sách thúc đẩy hệ thống này phát triển cũng rất quan trọng Do đặc tính hệ thống, nếu chính sách thành công trong việc thúc đẩy một bộ phận trong công nghiệp hỗ trợ nó sẽ tạo ra hiệu quả trong toàn bộ ngành

Thứ hai, các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng cần cân nhắc đặc

điểm của ngành Ví dụ như một số ngành có khả năng phân bổ trên phạm vi địa lý rộng hơn, qua nhiều quốc gia (như điện tử), trong khi đó, một số ngành lại đòi hỏi tập trung ở một phạm vi hẹp hơn Tương tự như vậy với đặc điểm liên kết và trao đổi về thông tin, phát triển sản phẩm mới, cạnh tranh trong khu vực … Bên cạnh những chính sách khuyến khích phát triển chung, cần có những chính sách cụ thể cho từng nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ

Thứ ba, với sự phát triển của mạng lưới sản xuất toàn cầu, ngành công

nghiệp hỗ trợ của một quốc gia phải cạnh tranh với các nước khác và có phạm vi thị trường ngày càng mở rộng Điều này đòi hỏi có những chính sách thích đáng để phát triển công nghiệp hỗ trợ

1.1.3.3 Đa dạng về công nghệ và trình độ công nghệ

Sự đa dạng về công nghệ sản xuất trong công nghiệp hỗ trợ xuất phát từ đòi hỏi sản xuất các loại linh kiện phong phú để có được sản phẩm cuối cùng Với các sản phẩm có m c độ ph c tạp cao như ô tô, hàng chục nghìn linh kiện của một chiếc xe đòi hỏi vô số công nghệ, liên quan tới hầu hết các lĩnh vực sản xuất, từ sản xuất cao su, nhựa cho tới gia công cơ khí, điện tử điều khiển chính xác Giá trị gia tăng của việc sản xuất các linh kiện, các quy trình cũng khác nhau rất nhiều Nhiều

bộ phận tinh xảo có giá trị gia tăng lớn, đòi hỏi kỹ thuật sản xuất, công nghệ rất cao như những bộ phận điều khiển, điện tử, máy mà ch những nhà cung cấp lớn mới có

Trang 34

thể đáp ng Ngược lại có những chi tiết đòi hỏi kỹ thuật sản xuất không quá khó có thể mua sắm từ những nhà cung cấp cấp thấp để lắp ráp thành những cụm linh kiện

Sự đa dạng về trình độ công nghệ thể hiện trong cấp độ tham gia hệ thống cung cấp Nhìn chung, các cung cấp cấp thấp thường sở hữu công nghệ sản xuất không cao như những nhà cung cấp cấp cao Các sản phẩm các nhà cung cấp cấp thấp thường có giá trị gia tăng không cao như các nhà cung cấp cấp cao Xu hướng này thường thấy ở các nước đang phát triển khi những nhà sản xuất nội địa tham gia vào công nghệ hỗ trợ bằng cách trở thành những nhà cung cấp cấp thấp, tận dụng lao động rẻ và sử dụng công nghệ không cao để tiết kiệm chi phí

1.1.3.4 Thu hút số lượng lớn doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Một đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ là nó thu hút một số lượng doanh nghiệp lớn, với nhiều quy mô khác nhau trong đó có một số lượng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ Do tính chất đa cấp và phát triển theo hình cây của hệ thống công nghiệp hỗ trợ, số lượng các doanh nghiệp ở cấp thấp rất lớn Đa phần các doanh nghiệp ở cấp này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Ví dụ trong ngành ô tô Nhật Bản (Bảng 1) cho thấy, ch tính tới các nhà cung cấp cấp 3, quy mô doanh nghiệp trung bình ch là 10 lao động Trong các lĩnh vực sản xuất khác, điều kiện cũng tương tự như vậy

Đặc tính này của công nghiệp hỗ trợ cho thấy tầm quan trọng của phát triển công nghiệm hỗ trợ và vai trò quan trọng của chính sách nhà nước trong phát triển ngành công nghiệp này, đặc biệt tại các nước đang phát triển Phát triển công nghiệp hỗ trợ là cơ sở cho doanh nghiệp tham gia vào hệ thống sản xuất của các công ty đa quốc gia, tiếp nhận công nghệ, tham gia hệ thống toàn cầu Phát triển công nghiệp hỗ trợ không ch là một phương th c hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài mà còn là cơ sở tạo lập một cơ sở công nghiệp bền vững trong nước với một

số lượng lớn các doanh nghiệp tham gia Tuy vậy, để phát triển công nghiệp hỗ trợ với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, những đối tượng hạn chế về khả năng về vốn, công nghệ, quản lý, nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích mạnh mẽ

1.1.4 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

1.1.4.1 CNHT là nền tảng thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực chất là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại nhằm phát triển

Trang 35

lực lượng sản xuất và thúc đẩy hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý để đạt được tới năng suất lao động cao” Vì một trong những tính chất của ngành CNHT là ngành cung cấp đầu vào cho một số lượng lớn các ngành công nghiệp khác, nên ngành CNHT phát triển chắc chắn sẽ góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của toàn

bộ nền công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung Theo khái niệm của CNH, HĐH thì các yếu tố sau cần được thỏa mãn:

“Quá trình cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại”, hay nói khác đi thì đây chính là quá trình chuyên môn hóa Phát triển CNHT giúp các doanh nghiệp không phải thực hiện mọi khâu trong quá trình sản xuất ra một sản phẩm với khoản chi phí khổng lồ Các doanh nghiệp sẽ chuyển từ sản xuất theo chiều dọc sang sản xuất theo chiều ngang Với sự phát triển của CNHT, các doanh nghiệp ch cần tập trung vào chuyên môn hóa vào khâu mà mình có khả năng làm tốt nhất với một m c đầu tư chi phí hợp lý nhất Các nhà lắp ráp hay chế biến sản phẩm cuối cùng sẽ không phải lo nhập khẩu hoặc sản xuất đầu vào nữa vì họ có thể yên tâm vào các sản phẩm đầu vào mua ngay trong nước Kết quả là xã hội có sự phân công lao động ngày càng sâu sắc

“Sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại”: CNHT là một ngành đòi hỏi chi phí cho máy móc, công nghệ lớn hơn bất kì một ngành công nghiệp nào khác Yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng trong sự phát triển của ngành CNHT Những ngành như sản xuất linh kiện điện tử, linh kiện ô tô, xe máy,… là những ví dụ điển hình của nhu cầu sử dụng công nghệ trong ngành CNHT Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ đang diễn ra hàng ngày trên toàn thế giới thì việc chuyển giao công nghệ càng trở nên dễ dàng hơn Với những nước đang phát triển, thì ngành CNHT cần phải tận dụng lợi thế của người đi sau, tiết kiệm thời gian phát triển công nghệ, mà thay vào

đó là tiếp thu trực tiếp từ các nước có nền công nghiệp phát triển thông qua hình

th c FDI hoặc viện trợ ODA,… Chính vì thế, trong quá trình HĐH-CNH, ngành CNHT là ngành có nhu cầu lớn nhất trong việc sử dụng công nghệ hiện đại lớn nhất

“Hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý” Một cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ cấu kinh tế trong đó tỷ lệ nông nghiệp giảm, tỷ lệ công nghiệp và dịch vụ tăng lên CNHT là ngành bao trùm số lượng lớn các ngành công nghiệp khác nên ngành này đang thu hút một số lượng lao động đáng kể Hơn nữa, lao động trong ngành này đòi hỏi phải là những lao động có tay nghề, có trình độ được đào tạo, tiếp thu tốt công nghệ mới Cùng với sự gia tăng của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước

Trang 36

ngoài, sẽ có một lượng lớn lao động trong nông nghiệp sẽ chuyển sang làm việc cho các công ty trong ngành công nghiệp này vì thu nhập của họ sẽ được cải thiện hơn Người dân nhận thấy được lợi ích của đào tạo, giáo dục từ đó làm động lực cho thế

hệ sau không ngừng trau dồi thêm kiến th c Kết quả là cơ cấu lao động thay đổi, từ

đó thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý hơn

1.1.4.2 CNHT góp phần giúp nền kinh tế tăng trưởng trong dài hạn:

Nếu như ba nhân tố cấu tạo nên tính cạnh tranh của một sản phẩm hỗ trợ được giải quyết thì ngành CNHT sẽ trở nên cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế trong dài hạn,vì:

Th nhất, một quốc gia với ngành CNHT cạnh tranh có thể duy trì nguồn vốn FDI cho ngành lắp ráp cuối cùng tương đối lâu hơn một quốc gia không có ngành CNHT cạnh tranh Với xu hướng chi phí lao động ngày càng chiếm một tỷ lệ nhỏ thì dù một nền kinh tế đang nổi với chi phí nhân công rẻ cũng không thể đạt được công nghệ để sản xuất các đầu vào ở một m c giá cạnh tranh ngay lập t c được Theo đó, một nhà lắp ráp đa quốc gia có thể vẫn ở lại một quốc gia cho dù quốc gia đó đang mất đi lợi thế về chi phí lao động, miễn là lợi ích mà họ nhận được từ việc sử dụng các đầu vào cạnh tranh có thể bù đắp được chi phí lao động đang tăng cao

Th hai, sản phẩm của ngành CNHT có thể được xuất khẩu tới các quốc gia

mà ngành lắp ráp cuối cùng ở đó đang có nhu cầu

Hình 1.7: Khả năng xuất khẩu của ngành CNHT

Nguồn: Báo cáo của VDF về CNHT tại Việt Nam từ triển vọng của các doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản (2006)

Có hai cách để xuất khẩu sản phẩm của ngành CNHT Cách th nhất là xuất khẩu gián tiếp Các nhà cung cấp bộ phận sẽ cung cấp đầu vào cho các nhà lắp ráp Sản phẩm được xuất khẩu sẽ là sản phẩm hoàn ch nh do các nhà lắp ráp sản xuất Khi đó một ngành CNHT cạnh tranh sẽ tạo ra các sản phẩm là các bộ phận có chất

Trang 37

lượng tốt, giá cả cạnh tranh và vận chuyển đúng thời gian, là cơ sở tốt để các nhà lắp ráp có thể sản xuất ra các sản phẩm có đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Cách th hai là xuất khẩu trực tiếp Khi đó các bộ phận sản xuất ra sẽ được xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài Với khả năng cạnh tranh cao, các bộ phận xuất khẩu sẽ đạt được giá cao và uy tín trên thị trường quốc tế

Cuối cùng, sự phát triển của ngành CNHT sẽ tạo nên ảnh hưởng tích cực trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, từ đó cải thiện phúc lợi của một quốc gia Trong lý thuyết “Khối kim cương”, cùng với các yếu tố: điều kiện các yếu tố sản xuất, các ngành hỗ trợ và có liên quan, điều kiện về cầu thì CNHT và các ngành có liên quan cũng đóng góp vào việc hình thành khả năng cạnh tranh của một quốc gia Trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”, M.Porter đã nhấn mạnh tầm quan trọng của CNHT mang tính cạnh tranh với vai trò là một chất xúc tác quá trình đổi mới công nghệ tại các công ty xuyên quốc gia Ngoài ra, theo ông, đây còn là ngành tiếp nhận công nghệ mà các công ty đa quốc gia chuyển vào Thêm vào đó, CNHT nội địa có thể tận dụng lợi thế về không gian địa lý để tạo nên dòng chảy thông tin nhanh hơn và trao đổi kĩ thuật cũng thuận tiện hơn Hơn nữa, M.Porter đề cập đến các công ty của một quốc gia sẽ hưởng lợi nhiều nhất khi mà CNHT mang tính cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu mặc dù một quốc gia không cần thiết phải có lợi thế cạnh tranh trong tất cả các ngành CNHT nếu như quốc gia đó đã có những ngành chuyên môn hóa nhất định

1.1.4.3 CNHT góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp

CNHT được coi là ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp chính yếu, thông qua việc cung cấp các phụ tùng, linh kiện và các quy trình xử lý kỹ thuật Nếu CNHT trong nước mà không phát triển thì các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp sẽ phải phụ thuộc vào nhập khẩu, khi đó ngành chế tạo ở quốc gia này

ch là ngành gia công lắp ráp đơn thuần Ở các nước phát triển, CNHT được ưu tiên phát triển trước để làm cơ sở cho các ngành công nghiệp chính như : ô tô, xe máy, điện tử, giày da, dệt may, đóng tàu… phát triển

Các tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của DN trong một ngành bao gồm: năng suất lao động, trình độ công nghệ, sản phẩm, quy mô tài chính, kinh nghiệm quản lý, phương th c thanh toán….Việc phát triển CNHT không phải là tiêu chí tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp chính, nhưng lại có tác động gián tiếp, cụ thể như sau:

Trang 38

Th nhất, ngành CNHT phát triển sẽ tạo được nguồn cung đầu vào ổn định, chất lượng, từ đó đảm bảo được khả năng giao hàng cho các DN trong các ngành công nghiệp chính Các DN lắp ráp hay các DN sản xuất sản phẩm cuối cùng, dù là

DN trong nước hay các DN MNCs, dù bán sản phẩm tại thị trường nội địa hay xuất khẩu, đều có nhu cầu rất lớn về mua sắm các sản phẩm phụ trợ như phụ tùng nhựa, khuôn kim loại, linh kiện, phụ tùng từ các nhà cung cấp trong nước Nếu CNHT không phát triển, các công ty này sẽ phải phụ thuộc rất nhiều vào nhập khẩu linh phụ kiện, điều này có thể ảnh hưởng đến tiến độ của hợp đồng Hơn nữa, khi ngành CNHT phát triển sẽ kích thích các nhà sản xuất đầu tư nhiều hơn vào máy móc, dây chuyền thiết bị….vì họ có thể yên tâm về tính đồng bộ và kịp thời trong sản xuất

Th hai, CNHT giúp giảm giá thành sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm cuối cùng Theo ông Junichi Mori [3], chuyên gia UNIDO cho biết, đối với các sản phẩm điện tử tiêu dùng, chi phí vật liệu và linh phụ kiện chiếm 70% chi phí sản xuất, phần còn lại bao gồm chi phí về lao động (khoảng 10%), chi phí chế tạo (18%) và chi phí hậu cần (2%) Chính vì vậy, việc cắt giảm chi phí lao động của sản phẩm sẽ không thu được nhiều kết quả so với việc cắt giảm chi phí theo linh phụ kiện Ngay cả khi những sản phẩm này được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài (nhập khẩu linh phụ kiện) thì những phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng chi phí đầu vào cho DN rất nhiều Đó là chưa kể đến những rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu Đối với các công ty đa quốc gia thì sẽ gặp khó khăn hơn trong việc quản lý dây chuyền cung cấp (supply chain management) Sự phát triển của CNHT trong nước sẽ tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho các DN lắp ráp sản phẩm cuối cùng, hạ giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh Do đó, để phát triển công nghiệp, mỗi quốc gia không những cần xác định các ngành công nghiệp chủ đạo, mũi nhọn mà song song với nó là phát triển các ngành CNHT

Trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, chiến lược phát triển công nghiệp cần được xây dựng dựa trên khả năng cạnh tranh quốc tế Khả năng cạnh tranh quốc tế lại được xây dựng bằng nhiều yếu tố, như chất lượng sản phẩm, chi phí, thời gian, chuyên môn hoá, tiếp thị (marketing), dịch vụ hậu mãi Nhân tố chi phí, như đã nói

ở trên chính là việc có sẵn sản phẩm CNHT trong nước hay không Bởi vì, đối với nhiều nhà sản xuất, bộ phận chi phí lớn nhất chính là linh phụ kiện và các đầu vào trung gian khác Theo ông Kenichi Ohno, Giám đốc dự án Diễn đàn phát triển Việt Nam, VDF phân tích thì khi quá trình sản xuất thượng nguồn và hạ nguồn của một sản phẩm diễn ra ở các nước khác nhau thì một số công đoạn yêu cầu công nghệ cao

và sự sáng tạo trong khi các công đoạn khác lại có thể thực hiện ở bất c nước nào

Trang 39

Và giá trị gia tăng của sản phẩm gắn với quy trình sản xuất sử dụng công nghệ cao,

ch không phải với toàn bộ sản phẩm Ông đưa ra một dẫn ch ng các công đoạn trong sản xuất máy tính, theo đó : giá trị lớn thường ở giai đoạn bắt đầu (thiết kế và linh phụ kiện) và giai đoạn cuối (tiếp thị), còn giai đoạn giữa (lắp ráp) lại cần công nghệ tương đối thấp 8 Theo tính toán của các chuyên gia, đối với một số ngành, CNHT cung cấp tới 90-95% giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp

Tóm lại, sự phát triển CNHT trong nước sẽ giúp giảm chi phí sản xuất do nâng cao được tỷ lệ nội địa hoá và giúp các nhà lắp ráp có vốn FDI mở rộng sản xuất Sự tập trung của công nghiệp phụ linh kiện cũng sẽ tạo điều kiện thu hút các nhà lắp ráp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam

1.1.4.4 CNHT làm tăng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

CNHT có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), nhất là FDI trong ngành sản xuất các loại máy móc Như đã đề cập ở trước, tỷ lệ chi phí về CNHT cao hơn nhiều so với chi phí lao động trong giá thành sản phẩm, nên dù có ưu thế lao động dồi dào và rẻ mà CNHT không phát triển cũng làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài

Một DN FDI đang đầu tư sản xuất, lắp ráp tại một quốc gia có những sự lựa chọn cho việc tiếp nhận các yếu tố đầu vào như sau : (i) sản xuất nội bộ trong khuôn khổ các công ty đó; (ii) đặt mua từ nhà cung cấp địa phương (có thể là DN trong nước hoặc DN nước ngoài đặt tại thị trường nội địa); (iii) nhập khẩu từ các quốc gia khác Nếu lựa chọn các nhà cung cấp địa phương sẽ giúp DN FDI linh hoạt hơn trong việc thu hút các yếu tố đầu vào, và có điều ch nh sản lượng kịp thời trước những thay đổi của thị trường, dễ dàng hơn trong đàm phán và kiểm soát chất lượng Ngoài ra, các DN FDI cũng tiết kiệm được chi phí vận chuyển, bảo hiểm, những rủi ro trong quá trình vận chuyển so với việc nhập khẩu các yếu tố đầu Hơn thế nữa, không phải DN FDI nào cũng có khả năng sản xuất tại chỗ những sản phẩm phụ trợ

Từ phân tích ở trên ta thấy ngay là CNHT phải phát triển mới thu hút FDI, nhất là FDI trong các ngành sản xuất các loại máy móc Tuy nhiên, cũng không phải

là CNHT phát triển đồng bộ rồi mới có FDI Có nhiều trường hợp FDI đi trước và lôi kéo các công ty khác (kể cả công ty nước ngoài và công ty bản x ) đầu tư phát triển CNHT Cụ thể, có thể chia quá trình FDI xâm nhập vào thị trường nội địa thành 3 giai đoạn như sau:

Trang 40

Giai đoạn 1: Trước khi FDI vào đã có nhiều công ty trong nước sản xuất sản phẩm CNHT cung cấp cho các công ty lắp ráp, sản xuất sản phẩm chính cho thị trường nội địa Khi có FDI, một bộ phận những công ty sản xuất CNHT sẽ phát triển mạnh hơn nếu được tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các

DN FDI Tuy nhiên, để có thể trở thành đối tác của các DN này, các công ty CNHT phải ch ng tỏ có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập

Giai đoạn 2: Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều DN bản x ra đời trong các ngành CNHT chủ yếu để phục vụ cho hoạt động của các DN FDI Những

DN sớm hình thành sự liên kết với DN FDI sẽ được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển nhanh

Giai đoạn 3: Sau một thời gian hoạt động, sản xuất của DN FDI được mở rộng, tạo thị trường ngày càng lớn cho các sản phẩm CNHT, nhiều công ty nước ngoài sẽ đến đầu tư vào lĩnh vực CNHT, có thể là các công ty vốn đã có quan hệ giao dịch lâu dài với các DN FDI đến đầu tư do sự khuyến khích của các DN FDI; cũng có trưòng hợp các SMEs ở nước ngoài độc lập với các DN FDI nhưng thấy thị trường của CNHT đã lớn mạnh nên đến đầu tư

Như vậy, nếu các công ty CNHT trong nước phát triển, có thể đáp ng được yêu cầu của DN FDI (giai đoạn 1) sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các DN phụ trợ (giai đoạn 2) ra đời, đồng thời tạo điều kiện, môi trường để các công ty nước ngoài đến đầu tư (giai đoạn 3) Mối liên quan giữa CNHT và môi trường thu hút FDI đặt ra thách th c: chừng nào các công ty FDI không thấy chính phủ đưa ra các chính sách

cụ thể và dài hạn để phát triển CNHT theo hướng nói ở (1) và (2) cũng như chính phủ không tạo môi trường kinh doanh ổn định cho các DN FDI để từ đó CNHT phát triển theo trường hợp (3) thì họ sẽ không đánh giá cao môi trường FDI ở nước đó

1.1.4.5 CNHT giúp tiếp thu chuyển giao công nghệ

Như ở trên đã phân tích, việc phát triển các ngành CNHT sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa Và, có thể thấy một xu hướng

rõ ràng là việc mở rộng thu hút FDI đi liền với sự đổi mới và chuyển giao công nghệ cho DN trong nước Ngoài vốn, các DN nước ngoài tại đây còn mang đến những công nghệ sản xuất, kỹ năng, trình độ quản lý tiên tiến hơn, mà từ đó các DN trong nước có thể học tập Điều này lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình CNH, HĐH đất nước

Ngày đăng: 17/04/2014, 00:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Công nghiệp (1999), Các giải pháp cơ chế chính sách tạo điều kiện cho ngành da giày phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp cơ chế chính sách tạo điều kiện cho ngành da giày phát triển
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 1999
4. Bộ Công nghiệp (2005), “Về chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020”, Bài phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng và thực hiện chiến lược công nghiệp Việt Nam” ngày 24/03/2005 tại Hilton Opera Hotel, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2020”, Bài phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Xây dựng và thực hiện chiến lược công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 2005
5. Bộ Công nghiệp (2006), Đề án Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 2006
6. Bộ Công Nghiệp (2007), Nghiên cứu dự báo những tác động cơ bản ảnh hưởng tới thị trường xuất khẩu của ngành da giầy và một số giải pháp trong công tác thị trường cho các doanh nghiệp da giầy khi Việt Nam gia nhập WTO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dự báo những tác động cơ bản ảnh hưởng tới thị trường xuất khẩu của ngành da giầy và một số giải pháp trong công tác thị trường cho các doanh nghiệp da giầy khi Việt Nam gia nhập WTO
Tác giả: Bộ Công Nghiệp
Năm: 2007
7. Bộ Công nghiệp (7/2007), “Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020
8. Bộ Thương Mại (2006), Biểu Cam kết về hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam với WTO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu Cam kết về hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam với WTO
Tác giả: Bộ Thương Mại
Năm: 2006
13. Diễn đàn phát triển Việt Nam (2006), “Báo cáo của VDF: Công nghiệp phụ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của VDF: Công nghiệp phụ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản
Tác giả: Diễn đàn phát triển Việt Nam
Năm: 2006
17. Tấn Đ c (2009), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Cơ hội đã đến”, tải từ http://www.tinkinhte.com/nd5/detail/cong-nghiep/cac-nganh-cong-nghiep-khac/phat-trien-nganh-cong-nghiep-phu-tro-co-hoi-da-den/67572.136240.html, 20/11/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp hỗ trợ: Cơ hội đã đến
Tác giả: Tấn Đ c
Nhà XB: Tin kinh tế
Năm: 2009
18. Quang Hà (2009, “Chiến lược nội địa hóa ô tô: Phá sản”, tải từ http://www.tienphong.vn/Xe-Hoi/179790/Chien-luoc-noi-dia-hoa-o-to-Pha-san.html, 09/12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược nội địa hóa ô tô: Phá sản
Tác giả: Quang Hà
Nhà XB: Báo điện tử Tiền Phong
Năm: 2009
20. Trần Văn Hà (2007) Phát triển nguyên phụ liệu cho ngành Da- giày, cần một kế hoạch dài hạn, Tạp chi công nghiệp kỳ 1, tháng 4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguyên phụ liệu cho ngành Da- giày, cần một kế hoạch dài hạn
21. Nguyễn Thị Thu Hiền & Hoàng Văn Dụ (2007), Hội nhập WTO buộc ngành điện tử Việt nam muốn tồn tại phải đổi mới toàn diện, tạp chí Công nghiệp, kỳ 1 tháng 4/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập WTO buộc ngành điện tử Việt nam muốn tồn tại phải đổi mới toàn diện
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền & Hoàng Văn Dụ
Năm: 2007
22. Hiệp Hội Da Giày Việt Nam (2007), Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh và các hoạt động của Hiệp hội trong nhiệm kỳ IV (2000-2006), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh và các hoạt động của Hiệp hội trong nhiệm kỳ IV (2000-2006)
Tác giả: Hiệp Hội Da Giày Việt Nam
Năm: 2007
24. Quốc Hùng (2009), “Việt Nam xây dựng khu công nghiệp hỗ trợ đầu tiên”, tải từ http://www.thesaigontimes.vn/Home/dautu/18111/, Thời báo kinh tế Sài Gòn Online, 27/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam xây dựng khu công nghiệp hỗ trợ đầu tiên
Tác giả: Quốc Hùng
Nhà XB: Thời báo kinh tế Sài Gòn Online
Năm: 2009
25. Đỗ Hưng (2010), “Phát triển ngành công nghiệp ô tô: Cần sự chuyển hướng chọn lọc”, tải từ http://vovnews.vn/Home/Phat-trien-nganh-cong-nghiep-o-to-Can-su-chuyen-huong-chon-loc/20106/146330.vov, 11/06/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngành công nghiệp ô tô: Cần sự chuyển hướng chọn lọc
Tác giả: Đỗ Hưng
Năm: 2010
26. Nguyễn Hường (2007) Doanh nghiệp làm công nghiệp phụ trợ còn quá ít, Tạp chí đời sống và pháp luật, ngày 19/11/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp làm công nghiệp phụ trợ còn quá ít
27. Ichikawa, Kyoshiro (2004), “Xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam”, Cục xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà Nội (Báo cáo điều tra) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam”
Tác giả: Ichikawa, Kyoshiro
Năm: 2004
28. Đào Mạnh Kháng, 6/2009, “Bàn về quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”, "Tạp chí Kinh tế và Dự báo
29. Trần Quang Lâm và Đinh Trung Thành (2007) Phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam trước làn sóng đầu tư mới của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản, Tạp chí kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, số 21, ngày 22/5/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam trước làn sóng đầu tư mới của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản
30. Jooh Lee, (1992) Nghiên cứu so sánh mối quan hệ giữa chiến lược và thực hiện kinh doanh: Các nước công nghiệp và các nước mới công nghiệp hóa, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh mối quan hệ giữa chiến lược và thực hiện kinh doanh: Các nước công nghiệp và các nước mới công nghiệp hóa
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
31. Nguyễn Công Liêm, Nguyễn Mạnh Hà, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia, “Đi tìm lời giải cho ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong kỳ chiến lược tới”, Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội, số 19, tháng 7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đi tìm lời giải cho ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam trong kỳ chiến lược tới”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp riêng biệt - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 1.1. Công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp riêng biệt (Trang 18)
Hình 1.2. Công nghiệp hỗ trợ dùng chung - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 1.2. Công nghiệp hỗ trợ dùng chung (Trang 19)
Hình 1.3: Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 1.3 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản (Trang 25)
Hình 1.4: Các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 1.4 Các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ (Trang 26)
Hình 1.5: Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 1.5 Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ (Trang 27)
Hình 1.6: Phân loại công nghiệp hỗ trợ theo hệ thống ngành sản xuất - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 1.6 Phân loại công nghiệp hỗ trợ theo hệ thống ngành sản xuất (Trang 31)
Hình 3.1: T  trọng số lƣợng doanh nghiệp CNHT hình thức sở hữu trong các - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 3.1 T trọng số lƣợng doanh nghiệp CNHT hình thức sở hữu trong các (Trang 119)
Hình 3.1 : Doanh số thị trường ô tô Việt Nam - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 3.1 Doanh số thị trường ô tô Việt Nam (Trang 134)
Hình 3.3: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 1998 – 2009 - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 3.3 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 1998 – 2009 (Trang 146)
Hình 3.4: Cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng 2009 - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 3.4 Cơ cấu xuất khẩu theo mặt hàng 2009 (Trang 147)
Hình 3.5: Sơ đồ mô tả quá trình sản xuất dệt may - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 3.5 Sơ đồ mô tả quá trình sản xuất dệt may (Trang 148)
Hình 3.6: Nhập khẩu bông theo tháng giai đoạn 2007 – 2009 - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 3.6 Nhập khẩu bông theo tháng giai đoạn 2007 – 2009 (Trang 151)
Hình 5.1: Hoạt động của Hiệp hội doanh nghiệp CNHT - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 5.1 Hoạt động của Hiệp hội doanh nghiệp CNHT (Trang 233)
Hình 5.3 : Quy trình phát triển cụm công nghiệp - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 5.3 Quy trình phát triển cụm công nghiệp (Trang 253)
Hình 5.4: Hiệu ứng Canon tại khu công nghiệp Thăng Long - Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ ở việt nam đến năm 2020
Hình 5.4 Hiệu ứng Canon tại khu công nghiệp Thăng Long (Trang 255)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm