1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện

96 784 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Phạm Minh Hòa, Nguyễn Anh Dũng, Tiết Minh Tuyết
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Anh Tuấn
Trường học Viện Năng Lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Chuyên ngành Kỹ thuật điện
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 3,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 4Bảng thuật ngữ và viết tắt Monopoly model Mô hình độc quyền liên kết dọc Single buyer Model Mô hình cạnh tranh trong khâu sản xuất Wholesale co

Trang 1

TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

VIỆN NĂNG LƯỢNG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

NĂM 2009

BÁO CÁO TỔNG HỢP

KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRUYỀN TẢI ĐIỆN VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC CHỐNG TẮC NGHẼN TRONG ĐIỀU KIỆN LIÊN

Trang 2

TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM

VIỆN NĂNG LƯỢNG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

NĂM 2009

BÁO CÁO TỔNG HỢP

KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRUYỀN TẢI ĐIỆN

VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC CHỐNG TẮC NGHẼN TRONG ĐIỀU KIỆN

LIÊN KẾT THỊ TRƯỜNG ĐIỆN

Trang 3

Số

1 Nguyễn Anh Tuấn Phòng quan hệ quốc tế

Viện Năng Lượng

2 Phạm Minh Hòa Phòng quan hệ quốc tế

Viện Năng Lượng

3 Nguyễn Anh Dũng Phòng quan hệ quốc tế

Viện Năng Lượng

4 Tiết Minh Tuyết

Phòng Kinh tế dự báo và Quản lý nhu cầu Năng Lượng Viện Năng Lượng

Trang 4

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 1

Tham gia thực hiện đề tài :

Số

1 Nguyễn Anh Tuấn Phòng quan hệ quốc tế

Viện Năng Lượng

Viện Năng Lượng

3 Nguyễn Anh Dũng Phòng quan hệ quốc tế

Viện Năng Lượng

4 Tiết Minh Tuyết

Phòng Kinh tế dự báo và Quản lý nhu cầu Năng Lượng Viện Năng Lượng

Trang 5

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 2

Mục lục Bảng thuật ngữ và viết tắt 4 

Đặt vấn đề 6 

Chương 1 Thị trường điện ở Việt Nam 7 

1.1 Khái niệm cơ bản về thị trường điện 7 

1.2 Các điều kiện tiên quyết cho một thị trường cạnh tranh hoàn hảo 8 

1.3 Các giao dịch trong thị trường điện 12 

1.4 Các mô hình tổ chức thị trường điện 14 

1.5 Các thành phần chính trong thị trường điện 19 

1.6 Các thị trường truyền tải 20 

1.7 Lộ trình phát triển thị trường điện và truyền tải điện ở Việt nam 22 

1.7.1 Hiện trạng ngành điện ở Việt nam 22 

1.7.2 Hiện trạng mua bán điện của EVN 25 

1.7.4 Lộ trình phát triển thị trường điện ở VN 28 

1.8 Kết luận 35 

Chương 2 Giá truyền tải 38 

2.1 Nguyên tắc và các trường phái khi xác định giá truyền tải 38 

2.2 Xác định tổng doanh thu cho phép hàng năm 39 

2.3 Nhóm phương pháp thiết lập phí truyền tải điện theo tổng chi phí 41 

2.3.1 Phương pháp giá “tem thư” 41 

2.3.2 Phương pháp giá trên hợp đồng tuyến truyền tải 44 

2.3.3 Phương pháp giá trên cơ sở trào lưu phụ tải và cơ sở khoảng cách (MW-mile) 45 

2.4 Nhóm phương pháp theo chi phí gia tăng 46 

2.4.1 Phương pháp chi phí biên ngắn hạn 47 

2.4.2 Phương pháp chi phí gia tăng trung bình dài hạn (LRAIC) 51 

Phương pháp giá theo vùng hoặc nút 1 

2.5 Đề xuất phương pháp tính giá điện truyền tải điện áp dụng cho Việt Nam 57 

2.5.1 Nguyên tắc chung 58 

Trang 6

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 3

2.5.2 Đề xuất phương pháp tính toán tổng doanh thu yêu cầu hàng năm 59 

2.5.3 Phương pháp phân chia giá sử dụng lưới truyền tải hàng năm cho các đơn vị phải trả chi phí truyền tải điện 63 

Chương 3 Quản lý tắc nghẽn trong thị trường điện 66 

3.1 Tổng quan về quản lý tắc nghẽn trong thị trường điện 66 

3.2 Các phương pháp quản lý tắc nghẽn 67 

3.2.1 Một số khái niệm trong quản lý tắc nghẽn 67 

3.2.2 Các phương pháp quản lý tắc nghẽn 68 

3.3 Kinh nghiệm của các nước trong việc quản lý tắc nghẽn 71 

3.4 Ví dụ tính toán kết hợp phương pháp phân vùng thị trường và thương mại đối lưu. 77 

Chương 4 Kết luận và kiến nghị 85 

Tài liệu tham khảo 88 

Phụ Lục 90 

Trang 7

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 4

Bảng thuật ngữ và viết tắt

Monopoly model Mô hình độc quyền liên kết dọc

Single buyer Model Mô hình cạnh tranh trong khâu sản xuất

Wholesale competition Model Mô hình cạnh tranh trong khâu phân phối

Retail competition Model Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

IPP Independent power producer Nhà phát điện độc lập

BOT Build – Operate – Tranfer Xây dựng – Hoạt động – Chuyển giao

TSO Transmission system operator Công ty quản lý truyền tải điện

ISO Independent system Operator Công ty vận hành hệ thống điện độc lập

PX Power Exchange Công ty quản lý thị trường điện

MO Market Operator Công ty quản lý thị trường

PPA Power purchage Agreement Hợp đồng mua bán điện

SRIC Short run incremental cost Giá trị gia tăng ngắn hạn

LRIC Long-run incremental cost Giá trị gia tăng dài hạn

SRMC Short-run marginal cost Giá biên ngắn hạn

LRMC Long-run marginal cost Giá biên dài hạn

LRAIC Long – run – average incremental

cost Chi phí gia tăng trung bình dài hạn

ROE Return on equity Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

CAPEX Capital expenditures Chi phí vốn

Trang 8

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 5

OPEX Operating expenditure Chi phí vận hành và bảo dưỡng

TTC Total transmission capacity Tổng công suất truyền tải

TRM Transmission reliability margin Biên độ truyền tải tin cậy

NTC Net transfer capacity Dung lượng truyền tải trên lưới

Trang 9

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 6

Đặt vấn đề

Trên thế giới đã có rất nhiều nước có thị trường điện và họ đã thành công trong việc lựa chọn phương pháp tính giá truyền tải và đưa ra được cách tính giá truyền tải hợp lý cho thị trường điện của họ Riêng về các giải pháp chống tắc nghẽn mạch trong điều kiện thị trường thì có 5 giải pháp chính hiện đang được áp dụng Tuy nhiên mỗi giải pháp đều có ưu điểm và nhược điểm mà chưa được phân tích và tổng quát hoá cho từng điều kiện thị trường khác nhau

Ở nước ta hiện nay, giá truyền tải điện đang được nghiên cứu bởi Cục Điều tiết Điện lực, và Bộ Công thương đó có văn bản quy định về phương pháp tính giá truyền tải trên hệ thống truyền tải điện.Tuy nhiên, các phương pháp tính giá hiện nay chưa xem xét đến các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện

Vì vậy, đề tài được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu giá truyền tải hợp lý và các phương pháp hạn chế tắc nghẽn mạch trong điều kiện thị trường trong tương lai

Đề tài tập trung vào việc đánh giá và phân tích các phương pháp xác định giá truyền tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện Từ đó đưa ra đề xuất tính giá truyền tải và đề xuất phương thức chống tắc nghẽn

áp dụng cho thị trường điện Việt Nam trong giai đoạn đầu của lộ trình phát triển thị trường bán buôn cạnh tranh Mục tiêu của đề tài bao gồm:

- Cơ sở và triển vọng phát triển của ngành điện và thị trường điện ở Việt Nam

sẽ được phân tích và đánh giá, đặt cơ sở phương pháp luận cho tính giá

truyền tải và đề xuất phương pháp chống tắc nghẽn

- Một số khái niệm về giá thành chuyền tải và phương pháp luận sẽ được phân tích đánh giá theo 03 nhóm chính: giá cố định, giá tăng dần, và kết hợp giá cố định và tăng dần

- Các phương pháp chống tắc nghẽn truyền tải sẽ được phân tích về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn như: phân chia theo tỷ lệ, theo thứ tự ưu tiên, giá đấu thầu, giá vùng, kết hợp chia vùng và đấu thầu Kinh nghiệm và bài học trong quá trình áp dụng các phương pháp trên tại châu Âu và Mỹ sẽ được đánh giá

- Kiến nghị các phương pháp và phương thức thích hợp nhất cho điều kiện thị trường điện ở Việt Nam

Trang 10

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 7

Chương 1 Thị trường điện ở Việt Nam 1.1 Khái niệm cơ bản về thị trường điện

Việc truyền tải điện đến khách hàng là tổng hợp của rất nhiều dịch vụ khác nhau bao gồm: phát điện, truyền tải, phân phối và các dịch vụ hỗ trợ khác (như điều chỉnh tần số, điểu khiển lưới, nguồn dự phòng khôi phục hệ thống v.v ) Mỗi một dịch vụ lại yêu cầu một thị trường riêng biệt, thậm chí có một vài dịch vụ yêu cầu nhiều hơn một thị trường Việc tự do hóa không nhất thiết chỉ mang ý nghĩa cạnh tranh hoàn hảo

mà bao hàm theo nó là tổng hợp của nhiều quá trình Điều đó cho thấy rằng mức độ tự

do hóa phụ thuộc vào cấu trúc của hệ thống để có mức độ cạnh tranh hoàn hảo Chúng

ta sẽ phân tích cấu trúc của thị trường điện Việt Nam để đưa ra các luận điểm tương xứng

Một thị trường điện cạnh tranh hoàn hảo đạt được khi giá trị lợi ích xã hội ròng

là cao nhất Lý thuyết kinh tế vi mô cho thấy rằng lợi ích xã hội ròng bằng thặng dư của bên mua cộng thặng dư của bên bán (xem hình 1.1) Giá trị này sẽ đạt giá trị cao nhất trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo trong khi sẽ thấp hơn ở các dạng thị trường với điều kiện khác như thị trường độc quyền hay bán tự do Vì vậy, khi tiến hành thực hiện thị trường cạnh tranh, các cấu trúc được xem xét cần hướng đến thị

trường cạnh tranh hoàn hảo để tối ưu hóa giá trị lợi ích xã hội ròng

Hình 1.1: Lợi ích xã hội ròng trong điều kiện thị trường cạnh tranh (LIXH = thặng dư người sản xuất+ thặng dư người tiêu dùng)

Sản lượng

Giá

Thặng dư tiêu dùng

Thặng dư sản xuất

Trang 11

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 8

1.2 Các điều kiện tiên quyết cho một thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Một thị trường được coi là cạnh tranh hoàn hảo cần phải bao gồm các đặc điểm sau:

1 Các nhà cung cấp và khách hàng tự do đặt giá (price takers)

2 Thông tin đầy đủ và chính xác

3 Tự do trong việc tham gia thị trường

4 Các sản phẩm mang tính đồng nhất trên thị trường

5 Lợi thế kinh tế nhờ quy mô không quá lớn (No large economies of scale)

Hiện trạng ở Việt nam hiện nay, việc mua bán điện diễn ra trực tiếp với hình thái rất đơn giản Vì vậy vấn đề xây dựng thị trường điện cạnh tranh hoàn hảo thực hiện rất khó khăn Chúng ta sẽ xem xét từng đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo với điều kiện cụ thể ở Việt Nam

Đặc điểm thứ nhất là cả các nhà cung cấp và khách hàng được tự do đặt giá

Đối với các khách hàng, điều này có nghĩa là không một khách hàng nào được quyền

áp đặt giá mua Đối với nhà cung cấp, điều này thể hiện ở 2 vấn đề là: tối ưu quy mô nhà máy và thị trường điện

Để kích thích việc cạnh tranh trong thị trường điện, hiện nay trên thế giới khuyến khích việc phát triển các nguồn phân tán để tăng số lượng các nhà cung cấp và giảm ảnh hưởng của mỗi nhà cung cấp đơn lẻ lên thị trường Đồng thời, việc phát triển nguồn phân tán sẽ làm giảm áp lực lên hệ thống truyền tải và tăng độ tin cậy cũng như

độ ổn định của hệ thống điện Tuy nhiên, thị trường điện Việt Nam đang có xu hướng ngược lại

Một so sánh đơn giản giữa Việt nam và Mỹ cho thấy xu hướng trái ngược nhau khi phát triển nguồn điện Quy mô nhà máy ở Việt nam năm 2008 là 230 MW/1 nhà máy và giảm xuống 193 MW/ 1 nhà máy vào năm 2010 Trong khi đó ở Mỹ, giá trị trung bình cao nhất của một nhà máy là 151 MW trong giai đoạn 1975-1979 và giảm nhanh chóng xuống 87 MW trong giai đoạn 1980-1984 và 26.5 MW trong giai đoạn 1990-1994 Ngoài ra, theo tổng sơ đồ phát triển điện Việt Nam đến năm 2025, ở Việt Nam có xu hướng xây dựng các nhà máy có công suất lớn, điều đó đồng nghĩa với việc các nhà máy này sẽ có ảnh hưởng lớn đến thị trường điện Việt Nam

Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI - Herfindahl-Hirschman Index) được sử dụng để đánh giá mức độ cạnh tranh của các thị trường điện Chỉ số HHI được tính theo công thức sau:

Trang 12

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 9

=

= N

i i

s HHI

1

Trong đó: N là số đơn vị thành viên tham gia thị trường

Si là tỷ lệ trên thị trường của nhà cung cấp i

Theo đó, các thị trường được đánh giá như sau:

Chỉ số HHI < 1000 : Thị trường không tập trung

1000 < HHI < 1800 : Thị trường tương đối tập trung

HHI > 1800 : Thị trường tập trung cao

Chỉ số HHI cao nhất là 10.000 trong trường hợp thị trường chỉ có 1 nhà cung cấp duy nhất Chỉ số này ở thị trường Việt nam được nhóm nghiên cứu tính toán như sau

Bảng 1.1 Giá trị tính toán HHI cho từng năm

Nguồn: tính toán của đề tài nghiên cứu

Một chỉ số quan trọng khác là hệ số tập trung CR – là hệ số xác định tỷ trọng chiếm lĩnh trên thị trường của m công ty lớn nhất Trong trường hợp này, chúng tôi tính toán với m = 3

Bảng 1.2 Giá trị tính toán CR3 cho từng năm

Trang 13

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 10

Hình 1.2 So sánh giá trị HHI ở các thị trường

Khi phân tích thị trường điện Việt Nam dưới 2 góc độ về tối ưu quy mô nhà máy và sự tập trung của thị trường điện, không thể đưa ra kết luận được về mức độ tác động vào giá điện trong thị trường của các nhà máy điện Tuy nhiên có thể khẳng định một điều là các nhà máy điện không đơn thuần chỉ là người cung cấp điện, mà họ sẽ có ảnh hưởng đáng kể tới thị trường điện (áp đặt giá bán), như các chỉ số phân tích về sự tập trung của thị trường và quy mô tổ máy phát điện đều cho thấy ảnh hưởng không tích cực (âm) tới tính cạnh tranh của thị trường điện

Đặc điểm thứ 2 mang tính lý thuyết cao khi thực tế không có ai có khả năng

truy cập thông tin hoàn hảo Tuy nhiên, yêu cầu cho đặc tính này là ở khả năng quản lý liên kết và kỹ thuật xử lý Điều này giúp cho việc phân hóa cấu trúc dọc của thị trường

ở những nước phát triển Ở Việt Nam, không có dấu hiệu cho thấy việc tự do thông tin đang được tiến hành Hiện trạng ở Việt Nam cho thấy quá trình tập trung trong việc điều khiển và quản lý đã diễn ra từ rất lâu với hệ quả là khả năng truy cập thông tin rất hạn chế

Đặc điểm thứ 3 là thông qua các kế hoạch cũng như khung pháp lý, chính phủ

thúc đẩy việc gia nhập thị trường một cách tự do Các dự luật và kế hoạch cần được xem xét một cách kỹ lưỡng Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp phải chi trả khoản chi phí lớn cho việc gia nhập thị trường điện với những thủ tục tương đối phức tạp Những yêu cầu cụ thể cho thị trường truyền tải sẽ được phân tích kỹ lưỡng trong các phần sau của đề tài

Đặc điểm thứ 4 là tính đồng nhất, điện năng có thể được coi như một sản phẩm

mang tính đồng nhất

Đặc điểm thứ 5 là lợi thế kinh tế nhờ qui mô không quá lớn Điều này quyết

định khả năng các nhà máy có ảnh hưởng đến giá cả trên thị trường Khi một nhà máy

2 0 0 8 ,

5153.21 4508.0962 0 10 ,

Nordpool, 1300

Swedish, 3300

1 10 100 1000 10000

Thị trường tập trung cao

Trang 14

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 11

bắt đầu đi vào hoạt động, có 2 dạng chi phí ngắn hạn chính: Chi phí cố định và Chi phí thường xuyên Chi phí thường xuyên thường thay đổi theo các yếu tố sản xuất Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chi phí lao động cố định trong khoảng thời gian ngắn

và một phần trong tổng vốn đầu tư được tái sử dụng theo các hợp đồng phụ thuộc vào sản phẩm đầu ra Chúng ta có thể giả thiết là công lao động thay đổi theo thời gian và tổng vốn đầu tư cố định trong thời gian ngắn

Hầu hết các dịch vụ liên quan đến như vận tải, truyền tải và phân phối điện đều

có tính hiệu quả kinh tế theo quy mô Hơn nữa, đối với một số công nghệ phát điện hiện nay, chi phí hoàn vốn đầu tư chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí thường xuyên của sản phẩm (bao gồm cả thủy điện và điện hạt nhân) Do vậy, điện năng là mặt hàng mang tính hiệu quả kinh tế theo quy mô mặc dù một số công nghệ phát điện có đường đặc tính chi phí tương đối bằng phẳng Các số liệu phân tích cho EVN cho thấy chi phí sản xuất trung bình của một kWh đang tăng lên từ 321 VND/kWh vào năm 2000 đến 450 VND/kWh vào năm 2005 và khoảng 728 VND/kWh vào năm 20091 Tuy nhiên, tính qui đổi ra giá cố định của năm 2000 thì chi phí sản xuất trung bình lại tương đối ổn định, mặc dù sản lượng điện phát liên tục tăng trưởng

AC = TC / Q = VC / Q + FC / Q = AVC + AFC Trong đó : VC/Q là chi phí thường xuyên trung bình trên một đơn vị sản phẩm (AVC)

FC/Q là chi phí cố định trung bình trên một đơn vị sản phẩm (AFC) Giá trị AFC sẽ giảm tỷ lệ nghịch với số lượng sản phẩm, trong khi giá trị AVC có thể cố định hoặc giảm xuống tùy thuộc vào việc đổi mới trong cách thức tổ chức, tuy nhiên khi xét trong một giai đoạn dài thì AVC sẽ tăng lên do ảnh hưởng của các hệ số giới hạn Khi một xí nghiệp sản xuất một mặt hàng cố định tìm cách giảm chi phí trung bình bằng việc tăng sản lượng, tỷ lệ hoàn vốn sẽ thay đổi Khi chi phí trung bình tiệm cận với chi phí biên (có nghĩa là trong trường hợp này chi phí trung bình sẽ không thay đổi), hoạt động này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế Khi

xí nghiệp muốn tăng chi phí trung bình đồng thời với việc tăng sản lượng, xí nghiệp sẽ rơi vào trạng thái không mang lại hiệu quả kinh tế theo quy mô (economy of scale)

Trang 15

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 12

Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể kết luận rằng có rất nhiều yếu tố hạn chế ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng một thị trường điện hoàn hảo ở Việt Nam Tuy nhiên, cũng có rất nhiều mô hình có thể áp dụng cho Việt Nam trong chiến lược phát triển thị trường điện tự do để chuyển dịch dần từ việc mua bán điện trực tiếp sang sàn giao dịch mua bán điện Trong phần sau của đề tài sẽ trình bày cụ thể hơn về các mô hình thị trường điện

1.3 Các giao dịch trong thị trường điện

Trong các mô hình thị trường điện có hai hình thức mua bán phổ biến Thứ nhất

là giao dịch trực tiếp giữa bên mua và bên bán thông qua các hợp đồng song phương hoặc đa phương Thứ hai là bên mua và bên bán sẽ giao dịch thông qua một tổ chức trung gian có nhiệm vụ mua điện của bên bán và bán điện cho bên mua

Bảng 1.3 Các dạng giao dịch trong thị trường

Dạng hợp đồng

Tổ chức đơn giản Tập trung cao

1.3.1 Giao dịch song phương và đa phương

Trong hình thái giao dịch này, bên mua và bên bán sẽ thương lượng và giao dịch với nhau một cách độc lâp được gọi là “phương pháp tiếp xúc trực tiếp” Phương pháp này mang lại lợi ích cho cả hai bên Bên mua có thể mua điện từ nhiều nhà cung cấp

và bên bán cũng có thể bán điện cho nhiều bên mua tùy thuộc vào cân bằng công suất giữa bên mua và bên bán nhằm tối ưu hóa nguồn cấp và phụ tải Tuy nhiên, hình thái giao dịch này có chi phí lớn như: thương lượng, ký kết hợp đồng, các bảo lãnh về tài chính v.v

Hình 1.3 Dạng giao dịch trực tiếp song phương và đa phương

Trang 16

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 13

1.3.2 Mua bán điện tập trung

Trong hình thái này, không có chi phí thực hiện giao dịch giữa bên mua và bên bán Tất cả các giao dịch đều tập trung tại một khu vực giao dịch Trong các sàn giao dịch, nguyên tắc cơ bản nhất để xác định giá mua điện và sản lượng điện được mua dựa vào điểm cân bằng giữa các đường đặc tính của giá điện và sản lượng của bên mua

và bên bán Giá điện tại điểm này được gọi là giá xác định của thị trường Thị trường tập trung có nhiều ưu điểm hơn thị trường giao dịch song phương Thị trường tập trung giúp các bên tham gia giao dịch giảm được chi phí giao dịch, tăng tính cạnh tranh giữa các bên, có cơ chế giá rõ ràng và giảm thời gian thực hiện giao dịch Quá trình vận hành của thị trường điện tập trung như sau:

1 Đấu thầu: Các nhà máy đưa ra bản chào giá và công suất phát cho từng thời điểm trong ngày tùy theo quy định của thị trường ( thông thường các thời điểm được tính là 1 giờ hoặc nửa giờ) Bên mua sẽ đưa ra các yêu cầu về nhu cầu công suất và giá mua cao nhất có thể chấp nhận được

2 Lập kế hoạch và giá điện: Sau khi kết thúc quá trình đặt thầu, người vận hành thị trường điện sẽ tính toán giá xác định của thị trường với cân bằng công suất theo từng giai đoạn Giá điện xác đinh theo thị trường được gọi là giá biên của

hệ thống được áp dụng cho tất các các nhà máy

3 Quá trình truyền tải điện: Sau khi các giao dịch đã xác định vào ngày n-1, quá trình truyền tải điện sẽ được thực hiện vào ngày n Quá trình truyền tải tuân thủ theo các thông tin xác định trong hợp đồng như thời gian truyền tải, công suất đỉnh và điện năng truyền tải

4 Giao dịch tài chính: Trong giai đoạn này, bên mua sẽ trả tiền mua điện cho đơn

vị điều hành thị trường và đơn vị này sẽ trả tiền cho bên bán Chi phí được tính toán dựa theo giá biên của thị trường

Trong một số trường hợp, hai mô hình này được kết hợp với nhau Bên mua và bên bán thiết lập các hợp đồng mua bán điện dài hạn nhằm tránh rủi ro về giá điện Ngoài ra, bên mua và bên bán còn có thể tham gia thị trường điện trong những giai đoạn ngắn

Trang 17

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 14

Hình 1.4 Mô hình kết hợp giữa hợp đồng song phương và sàn giao dịch

1.4 Các mô hình tổ chức thị trường điện

Trong thập niên 90, các nước còn khá mơ hồ trong khái niệm về thị trường điện Quá trình tái cấu trúc được đặt ra nhằm chuyển cấu trúc ngành điện từ độc quyền sang dạng cấu trúc khác mang tính cạnh tranh cao hơn Trong quá trình tái cấu trúc và tự do hóa thị trường điện, phân biệt giữa các khu vực phát điện, truyền tải và phân phối điện được xóa bỏ dần dần bằng các biện pháp khác nhau Chúng ta cùng nhau xem xét một

số mô hình tổ chức

1.4.1 Mô hình tổ chức 1: Mô hình độc quyền liên kết dọc

Mô hình này có cấu trúc mua bán điện theo cấu trúc dọc truyền thống Điện năng được nhà máy bán cho một đơn vị duy nhất Đơn vị này phụ trách việc truyền tải điện và sẽ bán điện cho các công ty điện lực Sau đó, các công ty điện lực lại bán điện cho các khách hàng Mô hình này được sử dụng ở các nước: Pháp, Bồ Đào Nha, Italy, Malaixia

Ưu điểm: Cả ba khâu sản xuất, truyền tải và phân phối đều do một công ty điều khiển, vì vậy việc điều hành hệ thống tập trung và trong nhiều trường hợp được thực hiện nhanh chóng Công ty chủ động trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh Trong một số trường hợp, Nhà nước bảo trợ cho kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bằng cách bù giá Hệ thống giá mua và bán điện được thống nhất cho tất cả các khách hàng trên toàn quốc và có tính ổn định trong khoảng thời gian nhất định

Nhược điểm lớn nhất của mô hình này là không có sự cạnh tranh cần thiết ở tất

cả các cấp Các nhà máy phải bán điện cho một đơn vị duy nhất (ở Việt Nam là EVN) Các khách hàng cùng chỉ mua điện từ 1 nhà cung cấp duy nhất (thường là các công ty điện lực) Điều này khiến cho giá điện bán ra của các nhà máy, hoặc giá điện mua vào

Trang 18

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 15

của các hộ tiêu thụ không được xác định theo thị trường mà xác định theo tính toán chủ quan của một đơn vị duy nhất Điều này khiến cho giá bán điện có thể thấp hơn hoặc cao hơn giá biên và gây thiệt hại cho thị trường chung ở cả bên mua và bên bán Thêm vào đó, do sự can thiệp quá sâu của nhà nước sẽ hạn chế khả năng chủ động của các công ty Do có sự bảo trợ của nhà nước, nên các công ty ít quan tâm đến việc đầu tư công nghệ, kỹ thuật hiện đại cho hệ thống điện, cũng như các giải pháp giảm tổn thất điện năng Do đặc thù của ngành điện, đầu tư phải đi trước một bước và với lượng vốn lớn Đây sẽ là gánh nặng cho Chính phủ khi nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng nhanh Bộ máy quản lý, tổ chức đan xen chức năng và thường rườm rà Khách hàng phụ thuộc vào các cơ sở độc quyền và không được chọn nhà cung cấp cho mình

Hình 1.5 Mô hình độc quyền mua bán điện

1.4.2 Mô hình 2 : Mô hình cạnh tranh trong khâu sản xuất

Ở mô hình này, các nhà máy độc lập bán điện cho một đơn vị mua điện duy nhất, sau đó đơn vị này sẽ bán lại điện cho các công ty điện lực khác nhau Mô hình này thường được sử dụng ở: Bắc Ailen, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Bỉ Cấu trúc này không cho phép các hộ tiêu thụ mua điện từ đơn vị mua điện hay từ nhà máy Việc bán điện được một công ty điện lực độc quyền cho một khu vực cụ thể Tuy nhiên, trong mô hình này đã có sự cạnh tranh giữa các nhà máy và giữa các công ty

Trang 19

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 16

điện lực trong việc mua bán điện Trong trường hợp này, nhà nước thường quy định giá bán điện đến hộ tiêu thụ

Mua bán điện

Truyền tải trong cùng công ty

Hình 1.6 Mô hình một đơn vị mua buôn điện

1.4.3 Mô hình 3: Mô hình cạnh tranh trong khâu phân phối

Ở trong mô hình này, đơn vị mua bán điện tổng được thay thế bằng một thị trường mua bán điện Thị trường này được thành lập nhằm giảm bớt các thủ tục giao dịch giữa bên mua và bên bán và làm đơn giản hóa quá trình mua bán điện Các công

ty điện lực có thể mua bán điện trực tiếp từ nhà máy thông qua các hợp đồng mua bán điện dài hạn hoặc mua bán điện trên thị trường điện trong giai đoạn ngắn Giá điện trên thị trường được đơn vị điều hành thị trường tính toán dựa theo giá biên ( hay giá xác định của thị trường) Trong mô hình này, việc truyền tải điện trên lưới điện được thực hiện cạnh tranh Lưới điện truyền tải sẽ do một đơn vị độc lập quản lý Tuy nhiên, cũng giống như hai mô hình trước, hộ tiêu thụ vẫn phải mua điện từ một nhà cung cấp duy nhất trong khu vực

Mua bán tổng

Phân phối

Mua bán tổng

Phân phối

Trang 20

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 17

Mua bán điện

Hình 1.7 Mô hình thị trường mua bán điện cấp công ty

1.4.4 Mô hình 4 : Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

Trong thị trường này, ngoài việc xóa bỏ đơn vị mua điện độc quyền ở cấp truyền tải, các công ty điện lực vẫn tồn tại nhưng dưới hình thái khác hơn, là công ty mua bán điện trung thế Điều đó có nghĩa là song song với đơn vị quản lý lưới điện truyền tải, các đơn vị quản lý lưới điện trung thế cũng được thành lập Đặc trưng của

mô hình này là thành lập thị trường điện cạnh tranh ở tất cả các cấp điện áp Thông qua đó, các hộ tiêu thụ có thể tự do trong việc mua bán trên trên thị trường điện bên cạnh việc mua bán điện thông qua hợp đồng trực tiếp với các đơn vị kinh doanh điện

IPP

Thị trường

Trang 21

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 18

Hình 1.8 Mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo Bảng 1.3 Tổng hợp so sánh 4 loại mô hình thị trường

Đặc tính Mô hình 1 Mô hình 2 Mô hình 3 Mô hình 4

Đặc điểm Độc quyền tại tất cả các cấp Cạnh tranh giữa các nhà

Cạnh tranh giữa các nhà máy và các Distcos tự

do ký hợp đồng

Cạnh tranh giữa các nhà máy và

hộ tiêu thụ tự do

ký hợp đồng Cạnh tranh giữa

Trực tiếp Trực

tiếp

Trang 22

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 19

1.5 Các thành phần chính trong thị trường điện

• Gencos

Các Gencos có chức năng vận hành và bảo dưỡng các nhà máy điện Thông thường, các Gencos là các chủ sở hữu của nhà máy Khi có các Gencos, lưới điện truyền tải cần được mở cho việc tự do truyền tải điện của các Gencos thông qua các hợp đồng và chỉ được hạn chế dựa trên tính toán theo thị trường

• Các nhà máy dạng BOT và IPP

Các nhà máy dạng BOT (xây dựng, vận hành và chuyển giao) hoặc IPP thường

có những hợp đồng dài hạn có tầm cỡ quốc gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc

bổ sung nguồn phát cho hệ thống điện đối với các hệ thống điện có mức độ tăng trưởng phụ tải cao như ở Việt Nam Đối với các nhà máy dạng này, để khuyến khích các nhà đầu tư, thông thường các chính phủ thường tạo các cơ chế hỗ trợ cho các nhà đầu tư như các dạng hợp đồng Take-or-pay

• Các công ty phân phối điện và kinh doanh điện

Các công ty phân phối điện và kinh doanh điện đều hoạt động trong phạm vi lưới phân phối tuy nhiên chức năng và nhiệm vụ của các công ty này là khác nhau Các công ty phân phối điện thông thường chỉ có chức năng quản lý và bảo dưỡng hệ thống phân phối Ngoại trừ trong các mô hình mua bán điện độc quyền ở cấp phân phối, trong đó công ty phân phối điện vừa làm chức năng quản lý hệ thống phân phối, vừa độc quyền trong việc bán điện đến hộ tiêu thụ

Các công ty kinh doanh điện, trong mô hình cạnh tranh ở cấp phân phối, có chức năng bán điện đến từng hộ tiêu thụ theo các dạng hợp đồng song phương hoặc giao dịch qua sàn mua bán điện Hệ thống lưới điện phân phối trong quá trình chuyển dịch cơ cấu của thị trường điện có thể được bán lại cho các công ty phân phối điện với giá thấp Điều này sẽ khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào lưới điện trung và hạ thế, góp phần nâng cao chất lượng của hệ thống phân phối điện

• Công ty quản lý truyền tải điện (TSO)

Các công ty quản lý hệ thống truyền tải như trạm biến áp hoặc đường dây truyền tải thông thường do nhà nước quản lý Các công ty này không có chức năng kinh doanh và không được tham gia vào thị trường điện Điều này đảm bảo cho việc truyền tải điện theo các gói hợp đồng được diễn ra lành mạnh theo cấu trúc lưới điện mà không có sự can thiệp mang tính lợi ích của các công ty quản lý hệ thống truyền tải điện Nguyên tắc cơ bản của quản lý hệ thống truyền tải là tất cả các nhà cung cấp điện, hoặc khách hàng đều tự do tham gia quá trình truyền tải và có quyền lợi tương đương nhau

Trang 23

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 20

Thông thường, ở các thị trường điện có mức độ cạnh tranh cao và lành mạnh, việc thành lập các đơn vị vận hành hệ thống điện độc lập là cần thiết

• Công ty vận hành hệ thống điện độc lập (ISO)

Công ty vận hành hệ thống điện độc lập có nguyên tắc làm việc quan trọng nhất

là không có sự liên hệ hoặc tham gia của các nhà cung cấp điện hoặc khách hàng Điều này đảm bảo cho thị trường điện vận hành với tính minh bạch cao nhất Đồng thời, các công ty này không được thu lợi nhuận trong các hoạt động mua bán điện ở tất cả các cấp Công ty vận hành hệ thống điện độc lập có thể là một công ty độc lập với TOs Tuy nhiên, các TOs cũng có thể đồng thời là chủ sở hữu của lưới điện truyền tải, đồng thời vận hành lưới điện truyền tải theo nguyên tắc kỹ thuật thuần túy Các công ty vận hành hệ thống điện độc lập có 3 chức năng chính bao gồm:

• Bảo trì và bảo dưỡng hệ thống điện truyền tải

• Đảm bảo suất sự cố trong giới hạn

• Tăng cường hiệu quả kinh tế trong việc truyền tải và tính chất vô vụ lợi trong việc truyền tải

• Công ty quản lý thị trường điện (PX)

Công ty quản lý thị trường điện có chức năng quản lý, giám sát thị trường điện, cung cấp sàn giao dịch minh bạch cho các hoạt động mua bán điện Công ty này có chức năng tính toán cân bằng công suất trên hệ thống, đồng thời tính toán giá biên mua bán điện trong từng thời điểm Công ty quản lý thị trường điện lên kế hoạch truyền tải theo từng thời điểm và tính toán trào lưu công suất khi trạng thái tắc nghẽn xảy ra trên

hệ thống Tùy thuộc vào quy mô của hệ thống và mức độ tham gia thị trường, công ty quản lý thị trường điện sẽ quy định thời gian chào giá Thông thường các mức thời gian từ nửa giờ đến một giờ, tuy nhiên có thể lên đến 1 tuần hoặc dài hơn Trong các thị trường điện trên thế giới, thông thường áp dụng thời gian đấu thầu từ 1 ngày trước khi truyền tải Tuy nhiên, mốc thời gian ngắn hơn theo giờ cũng có thể được áp dụng khi mất cân bằng lưới ngắn hạn Ở một số nước như Anh, PX và ISO sẽ trực thuộc công ty quản lý lưới điện quốc gia, nhăm đảm bảo không có sự can thiệp của các nhà cung cấp hoặc khách hàng lên hoạt động của các công ty này

1.6 Các thị trường truyền tải

Các thị trường truyền tải luôn được quản lý rất chặt chẽ Trên một số nước như

Mỹ, Đức, Scandinavia, các đơn vị vận hành hệ thống điện thường có chức năng quản

lý toàn bộ các dịch vụ hỗ trợ trên lưới

Ở phần trên của đề tài đã đề cập đến các yếu tố tiên quyết khi thành lập thị trường điện, trong đó yếu tố thứ 3 nêu rõ về tính chất tự do trong việc gia nhập thị

Trang 24

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 21

trường điện Tuy nhiên, đặc tính này không được thực hiện đầy đủ ở Việt Nam Hiện nay, lưới điện truyền tải và phân phối ở Việt Nam do một đơn vị duy nhất là EVN quản lý Do đó, các nhà đầu tư có tiềm năng khó có khả năng tham gia thị trường do các rào cản về cấu trúc lưới và rào cản về tài chính Các chi phí về thủ tục và khởi động dự án thường rất cao, điều đó làm giảm tính cạnh tranh của thị trường

Khi xem xét đến tính hiệu quả kinh tế theo quy mô trong các ngành công nghiệp, chi phí trung bình sẽ giảm tương ứng với việc tăng sản lượng Do vậy, các xí nghiệp có sản lượng lớn thường có chi phí thấp, tạo ra mức độ cạnh tranh cao trên thị trường Đây được coi là mô hình độc quyền tự nhiên Sở dĩ hiện tượng này được gọi là

tự nhiên do hai yếu tố: thứ nhất là do các đặc tính trong quá trình sản xuất điện; thứ hai

là do quy mô của thị trường điện Khi thị trường có hiện tượng độc quyền, nhà cung cấp chính trên thị trường sẽ lợi dụng cơ hội để áp đặt mức giá cao hơn giá trị thực của hàng hóa Do các đặc tính tự nhiên, thị trường điện dễ dẫn đến hiện tượng độc quyền

tự nhiên Đây là trường hợp thị trường đã mất tính cạnh tranh cần thiết để đảm bảo giá trị trường tiệm cận với giá biên của sản phẩm Trong thị trường độc quyền tự nhiên, nhà sản xuất có thể cung cấp sản phẩm với tổng chi phí thấp nhất

Khi xem xét thị trường truyền tải điện, có thể kết luận rằng đây là một dạng thị trường độc quyền tự nhiên Chi phí cố định cao trong khi chi phí thường xuyên lại có

xu hướng thấp Hệ thống điện có đặc tính hiệu quả kinh tế theo quy mô và phải được kết nối (kỹ thuật) để đạt tới hiệu suất thương mại lớn nhất, tạo nên một hệ thống độc quyền tự nhiên Vì những lý do như vậy, chính phủ phải đưa ra các quy định cụ thể để tạo ra tính cạnh tranh trong các hoạt động của các doanh nghiệp tham gia thị trường Các quy định cụ thể và tác dụng của nó đối với thị trường truyền tải sẽ được xem xét

và phân tích trong các đề tài khác

Dựa vào những phân tích ở trên, có thể thấy để tạo ra tính cạnh tranh minh bạch trong thị trường điện, cần thiết phải thành lập các công ty quản lý hệ thống (SO) Các công ty này có thể hoạt động độc lập phi lợi nhuận hoặc có thể có lợi nhuận

Các công ty hoạt động có lợi nhuận như SO hoặc TransCo sở hữu, quản lý và vận hành hệ thống điện như một dạng độc quyền tự nhiên Nó được điều hành dựa vào khả năng và chức năng của công ty nhằm đạt lợi nhuận tối đa Đối với các công ty này, các quy định được đạt ra rất chặt chẽ nhằm đảm bảo thị trường điện vận hành an toàn

và thuận lợi

Một dạng công ty khác là công ty quản lý hệ thống phi lợi nhuận được gọi là các công ty quản lý hệ thống độc lập ISO Các công ty này không sở hữu hệ thống truyền tải mà có chức năng quản lý và vận hành hệ thống Do hoạt động của công ty không nhằm mục đích lợi nhuận nên các quy định áp dụng cho dạng công ty này mang tính linh hoạt cao

Trang 25

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 22

Có 4 nguyên tắc chính cần được đảm bảo khi vận hành thị trường truyền tải bao gồm:

• Đảm bảo quyền tự do và công bằng cho tất cả các pháp nhân tham gia thị trường

• Đảm bảo cân bằng công suất

Bảng 1.4 Các mô hình quản lý trên thế giới

TSO TR & SO Anh, Pháp, Hà Lan, Tây ban Nha, Đức, Nord Pool

MO/SO MO & SO PJM(Mỹ), Úc, Hàn Quốc, Canada

1.7 Lộ trình phát triển thị trường điện và truyền tải điện ở Việt nam

1.7.1 Hiện trạng ngành điện ở Việt nam

Ngành điện hiện tại đang được vận hành theo mô hình liên kết dọc truyền thống Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) hiện đang sở hữu một phần lớn công suất các nguồn phát điện (trừ một số nhà máy được sở hữu bởi các đơn vị phát điện bên ngoài), nắm giữ toàn bộ khâu truyền tải, vận hành hệ thống điện, phân phối và kinh doanh bán

lẻ điện

Trang 26

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 23

Trong khâu phát điện, hiện tại EVN đang sở hữu hoặc nắm cổ phần chi phối 71% tổng công suất đặt toàn hệ thống, phần còn lại được sở hữu bởi các Tổng công ty/Tập đoàn nhà nước (Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty lắp máy Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà v.v), các nhà đầu tư nước ngoài (theo hình thức BOT) và các nhà đầu tư tư nhân trong nước khác (theo hình thức IPP) Các nhà máy này bán điện cho EVN qua hợp đồng mua bán điện PPA dài hạn

Tới cuối tháng 7 năm 2008, tổng công suất các nguồn điện toàn hệ thống là 15.060 MW (bao gồm 14.500 MW các nhà máy điện và 560 MW nhập khẩu từ Trung Quốc) Trong 14.500 MW tổng công suất các nhà máy điện, các nhà máy điện do EVN

sở hữu 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối là 9.560 MW, chiếm 65,9%; các nguồn điện BOT nước ngoài là 1.470 MW, chiếm 10,1%, và các nguồn IPP trong nước (do các Tổng công ty, Tập đoàn nhà nước, các nhà đầu tư tư nhân nhỏ lẻ khác) là 3.470

MW, chiếm tỷ trọng 23,9%

Hình 1.9 Cơ cấu nguồn điện toàn ngành năm 2008

Mô hình tổ chức của EVN hiện nay gồm các khối chức năng chính như sau:

• Khối phát điện: 16 công ty phát điện Trong đó, 6 công ty đã cổ phần hoá, 3 công ty đã chuyển sang mô hình Công ty TNHH MTV Các công

ty phát điện còn lại tồn tại dưới hình thức đơn vị hạch toán phụ thuộc

• Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia được thành lập dưới hình thức đơn vị hạch toán phụ thuộc

• Công ty Mua bán điện: được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 01 năm 2008 dưới hình thức công ty hạch toán phụ thuộc, đại diện cho EVN đàm phán mua điện từ các nhà máy điện lớn để bán lại cho các công ty điện lực

Trang 27

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 24

• Khối truyền tải: Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia được thành lập

và đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2008 dưới hình thức đơn vị hạch toán độc lập

• Khối phân phối điện: 11 công ty điện lực Trong đó, Công ty điện lực Khánh Hoà được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần (JSC), 5 công

ty điện lực được thành lập dưới hình thức công ty TNHH MTV, các công ty điện lực còn lại được thành lập dưới hình thức công ty hạch toán độc lập Tại các thành phố lớn, các khách hàng sử dụng điện được mua điện trực tiếp từ các công ty điện lực thuộc EVN Ở các vùng sâu, vùng

xa, hình thức kinh doanh điện qua các hợp tác xã vẫn mang tính phổ biến, tạo nên một cấp kinh doanh điện bán lẻ cho các hộ dân

Nguồn điện

Xét về công nghệ phát điện, tính đến cuối tháng 7 năm 2008, tổng công suất đặt các nguồn điện của hệ thống điện Việt Nam là 14.500 MW, chưa tính đến lượng công suất nhập khẩu từ Trung Quốc vào khoảng 550 MW Trong đó, công suất của thuỷ điện là 5.016 MW (37,1%), nhiệt điện than là 1.885 MW (14,0%), tua bin khí là 4.995

MW (37,0%), nhiệt điện dầu là 912 MW (6,8%), diezel là 193 MW (1,4%)

Hình 1.10 Cơ cấu nguồn điện theo công nghệ năm 2008

Lưới điện

Lưới điện truyền tải và phân phối không ngừng được mở rộng, củng cố một cách đồng bộ với sự phát triển của nguồn điện và nhu cầu phụ tải hệ thống Lưới truyền tải 500 kV nối liền các miền Bắc – Trung – Nam bao gồm 2 mạch đường dây với tổng chiều dài 3.286 km, dung lượng các trạm biến áp 500 kV là 7.050 MVA Tổng chiều dài các đường dây cấp điện áp 220 kV là 6.487 km, cấp điện áp áp

110 kV là 11.409 km Công suất các trạm biến áp với cấp 220 kV là 17.513 MVA, cấp

110 kV là 22.238 MVA

Trang 28

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 25

1.7.2 Hiện trạng mua bán điện của EVN

Phân cấp mua buôn điện từ các công ty phát điện

Từ 01/01/2008, Công ty Mua bán điện đã thay mặt EVN để trực tiếp ký Hợp đồng mua bán điện (PPA) với các công ty phát điện thuộc EVN và các nhà máy điện độc lập IPP Từ tháng 3 năm 2008, EVN cũng đã ủy quyền cho các công ty điện lực ký mua điện trực tiếp từ các IPP nhỏ có công suất ≤ 30 MW Các PPA hiện tại gồm các dạng sau:

- Hợp đồng PPA giữa EVN với các công ty phát điện hạch toán độc lập trực thuộc EVN và các công ty phát điện cổ phần mà EVN giữ cổ phần chi phối

- Hợp đồng ký kết giữa EVN với các IPP

- Hợp đồng nhập khẩu điện từ Trung Quốc và Lào

Đến nay, EVN đã ký kết 32 hợp đồng mua bán điện với 30 nhà đầu tư trong và ngoài nước Tổng công suất đặt của các nhà máy điện BOT và IPP đã ký hợp đồng là 4.381 MW

Trong năm 2007, EVN đã mua của các nhà máy điện BOT, IPP là 15,41 tỷ kWh chiếm tỷ lệ 22,5% tổng sản lượng điện toàn hệ thống, riêng điện năng nhập khẩu từ Trung Quốc là 2,63 tỷ kWh chiếm tỷ lệ 3,8% Các năm tới sản lượng điện mua từ các nhà máy IPP và BOT sẽ tiếp tục tăng mạnh

Giá và sản lượng điện EVN mua từ các dự án IPP, BOT và các công ty cổ phần được thực hiện theo nguyên tắc mua bán thoả thuận trên cơ sở các qui định của Nhà nước

Bán buôn điện cho các công ty điện lực

Hiện nay, EVN đang bán buôn điện cho các công ty điện lực tại các điểm giao nhận là hệ thống đo đếm tại các nhà máy điện và các trạm biến áp truyền tải

• Về hình thức bán điện:

Hoạt động bán buôn điện của EVN cho các công ty điện lực (bao gồm cả các Công ty TNHH MTV Điện lực) mang tính điều hành trong nội bộ của EVN thông qua các quy chế, các quyết định giao kế hoạch và các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ Trước tháng 8 năm 2006, các hợp đồng mua bán điện giữa EVN với các công ty điện lực là hợp đồng giao kế hoạch nội bộ, từ tháng 8/2006 tới nay, EVN mới ký hợp đồng mua bán điện với các công ty điện lực cho năm tiếp theo

• Giá bán điện nội bộ:

Trang 29

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 26

Giá bán buôn điện được tính toán theo quy chế do Hội đồng quản trị EVN ban hành theo QĐ số 154/QĐ-EVN-HĐQT ngày 8 tháng 4 năm 2005 về "Tính toán giá bán điện nội bộ giữa Tổng công ty và các công ty điện lực trực thuộc"

Quy chế được áp dụng chung cho các công ty điện lực hạch toán độc lập trong EVN và định hướng phương pháp giá bán điện để thỏa thuận mua bán điện với các Công ty TNHH MTV Điện lực Giá bán buôn điện giữa EVN và các công ty điện lực

là khác nhau nhằm điều hoà lợi nhuận của các công ty điện lực và thực hiện bù chéo giữa các công ty điện lực để duy trì giá bán lẻ điện thống nhất toàn quốc

Giá bán điện nội bộ được phê duyệt mỗi năm một lần và được Hội đồng quản trị EVN xem xét điều chỉnh khi Nhà nước điều chỉnh giá bán điện hoặc có những biến động lớn ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của toàn tập đoàn cũng như của từng công ty điện lực

Theo qui định hiện hành, giá bán lẻ điện đến khách hàng dùng điện lưới quốc gia là giá thống nhất toàn quốc do Chính phủ quy định Vì vậy, giá bán điện nội bộ EVN áp dụng trên nguyên tắc “trừ lùi” từ giá bán điện bình quân và tỷ lệ lợi nhuận cho từng CTĐL để điều hòa lợi nhuận giữa các công ty Giá này chưa dựa trên cơ sở tính

từ giá thành sản xuất điện của các nhà máy cộng với giá truyền tải, do đó giá bán điện nội bộ chưa phản ánh đúng giá thành thực tế tới các cấp điện áp của từng công ty điện lực

• Giá bán lẻ điện:

Theo Luật Điện lực, biểu giá bán lẻ điện do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo

đề xuất của Bộ Công Thương Tuy nhiên, với cơ cấu tổ chức theo mô hình tích hợp dọc hiện nay của ngành điện, chi phí cho các khâu phát điện, truyền tải, phân phối không thể tách biệt rõ ràng, vì vậy việc xác định chính xác chi phí và giá thành của từng khâu cho mục đích điều chỉnh giá điện là không thể thực hiện đuợc Mặt khác, theo quy định hiện hành, trong phương pháp xây dựng giá bán lẻ không có cơ chế điều chỉnh giá theo các yếu tố đầu vào hình thành giá Vì vậy, giá bán lẻ chỉ đuợc điều chỉnh trung bình từ 2 đến 3 năm một lần theo lộ trình được duyệt, nên thường gây nên tình trạng giá điện bán lẻ thấp, không phản ánh đúng chi phí của từng khâu, gây khó khăn cho sản xuất và đầu tư phát triển điện

Theo số liệu thống kê, giá bán lẻ điện bình quân của EVN năm 2007 là 860 đ/kWh (tương đương 5,3 US cent/kWh) và năm 2008 là 870 đ/kWh (5,27 US cent/kWh) trong khi đó giá thành điện 2007 là 834 đ/kWh và năm 2008 ước thực hiện

Trang 30

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 27

có thể lên tới xấp xỉ 900 đ/kWh2 Với mức giá thành và giá bán như thế, năm 2007 tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của EVN chỉ đạt mức 7,23% và năm 2008 sẽ chỉ còn ở mức dưới 3% Biểu giá điện bán lẻ hiện nay được xây dựng từ năm 2005, trình duyệt 2006 và được áp dụng từ 2007 với các số liệu đầu vào của năm 2005, như vậy biểu giá này chưa xem xét đến biến động các yếu tố đầu vào của 3 năm, từ 2006 đến

2008 Trong khi đó, trong 3 năm gần đây giá thiết bị trên thế giới đã tăng trên 30%, giá nhiên liệu đã có những thời điểm tăng hơn 2 lần so với mức giá năm 2006

Cơ chế xây dựng và điều chỉnh giá điện như vậy đã làm cho giá điện bán lẻ Việt Nam hiện nay ở mức thấp nhất khu vực Đông Nam Á Cùng với các bất hợp lý trong cấu trúc biểu giá (bù chéo lớn từ khối sản xuất cho sinh hoạt, bù giá sinh hoạt không đúng đối tượng, chưa áp dụng được giá công suất, giá theo thời gian chưa hợp lý v.v),

đã làm cho giá điện chưa thực sự trở thành một tín hiệu cho việc thu hút vốn đầu tư phát triển các công trình điện mới để đáp được ứng nhu cầu điện đang tăng với tốc độ cao Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu nguồn điện, phải cắt điện trên diện rộng như trong thời gian qua, lưới điện không được đầu tư nâng cấp thường xuyên có suất sự cố lớn, tỷ lệ tổn thất cao

Công ty Mua bán điện trực thuộc EVN

Ngày 31 tháng 12 năm 2007, Tập Đoàn Điện lực Việt Nam đã thành lập Công

ty Mua bán điện (EPTC) dưới hình thức là đơn vị hạch toán phụ thuộc EVN EPTC sẽ đảm nhiệm các chức năng mua buôn điện từ các nhà máy và bán buôn điện cho các công ty điện lực thông qua các hợp đồng mua bán điện có thời hạn và mua điện giao ngay trên thị trường phát điện cạnh tranh Trong thị trường phát điện cạnh tranh Công

ty Mua bán điện sẽ thực hiện chức năng của đơn vị mua buôn duy nhất

Tổng Công ty truyền tải điện Quốc gia trực thuộc EVN

Ngày 01 tháng 7 năm 2008, Tổng công ty truyền tải điện quốc gia (NPT) được thành lập dưới hình thức là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tập đoàn điện lực Việt Nam NPT có trách nhiệm quản lý, vận hành hệ thống lưới truyền tải điện từ cấp điện áp 220

kV trở lên, với 4 đơn vị thành viên là Công ty truyền tải điện 1, 2, 3 và 4 Xem phần phụ lục mô tả chi tiết sơ đồ tổ chức của NPT và cac công ty truyền tải điện

2 Giá thành điện ở đây bao gồm cả chi phi sản xuất, chuyên tải, điều độ, phân phối Khác với khái niệm giá thành sản xuất điện nêu phía trên

Trang 31

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 28

1.7.4 Lộ trình phát triển thị trường điện ở VN

Nhằm phù hợp với các mục tiêu của Luật điện, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Lộ trình hình thành và phát triển thị trường điện theo đề xuất của Bộ Công nghiệp Lộ trình xác định kế hoạch phát triển thị trường điện khởi đầu từ cấp độ thị trường phát điện cạnh tranh, sau đó đến cấp độ thị trường bán buôn điện cạnh tranh, cuối cùng là thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Khung pháp lý của Việt Nam được thực hiện trong tiến trình của các năm tới, vì vậy kế hoạch được chia thành sáu giai đoạn, từ 2006 đến 2024 Trong giai đoạn đầu thực hiện kế hoạch sẽ có một số thay đổi tác động đến hoạt động truyền tải điện Bốn công ty truyền tải điện được quyết định là sẽ được tái cơ cấu và sát nhập thành một công ty truyền tải duy nhất Cơ quan vận hành hệ thống (SMO) hiện đang là Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia thuộc EVN cũng được kỳ vọng sẽ trở thành đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc công ty truyền tải của EVN Để làm việc này, chương trình tái cơ cấu EVN cần được hoàn thành trước năm 2008

Trong tiến trình 3 giai đoạn, công ty truyền tải phải có phương pháp lập giá truyền tải để có thể thu giá truyền tải

Thị trường điện lực tại Việt Nam được hình thành và phát triển qua 3 cấp độ: – Cấp độ 1 (2005 - 2014): thị trường phát điện cạnh tranh

– Cấp độ 2 (2015 - 2022): thị trường bán buôn điện cạnh tranh

– Cấp độ 3 (từ sau 2022): thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Mỗi cấp độ được thực hiện theo hai bước: thí điểm và hoàn chỉnh, cụ thể như sau:

a) Bước 1 - cấp độ 1: thị trường phát điện cạnh tranh thí điểm (từ năm 2005 đến năm 2008)

– Thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh giữa các nhà máy điện thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) để thí điểm cạnh tranh trong khâu phát điện theo mô hình một đơn vị mua duy nhất Các nhà máy điện, các công ty truyền tải điện, các công ty phân phối điện thuộc EVN

sẽ được tổ chức lại dưới dạng các công ty độc lập về hạch toán kinh doanh

– Các công ty phát điện độc lập (IPP) không thuộc sở hữu của EVN tiếp tục bán điện cho EVN theo các hợp đồng mua bán điện dài hạn (PPA) đã được ký kết

Trang 32

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 29

– Kết thúc bước thí điểm, các nhà máy điện lớn có vai trò quan trọng trong

hệ thống điện hiện đang thuộc EVN phải được chuyển đổi thành các đơn

vị phát điện độc lập IPP (Independent Power Producer) dưới dạng các công ty nhà nước độc lập; các nhà máy điện còn lại phải được chuyển đổi thành các đơn vị phát điện độc lập dưới dạng các công ty cổ phần để chuẩn bị cho thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh

– Bộ Công nghiệp ban hành các quy định điều tiết các hoạt động của thị trường và hướng dẫn thực hiện

– Các hệ thống thông tin phục vụ quản lý vận hành và giao dịch thanh toán trên thị trường được trang bị phù hợp

Về năng lực hoạt động của các đơn vị tham gia thị trường:

Các đơn vị mới thành lập gồm Cục Điều tiết điện lực, đơn vị mua buôn duy nhất, đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện, đơn vị điều độ hệ thống điện, đơn vị truyền tải điện và các đơn vị phát điện cần có đội ngũ cán bộ, công nhân viên đã được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu hoạt động của thị trường điện cạnh tranh

b) Bước 2 - cấp độ 1: thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh (từ năm 2009 đến năm 2014)

– Thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh sau khi các điều kiện tiên quyết cho bước này đã được đáp ứng

Trang 33

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 30

– Cho phép các nhà máy điện độc lập (IPP) không thuộc sở hữu của EVN tham gia chào giá để bắt đầu thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh (theo mô hình một người mua duy nhất); các đơn vị phát điện sẽ bán điện lên thị trường thông qua các hợp đồng PPA và chào giá cạnh tranh trên thị trường giao ngay với tỷ lệ điện năng mua bán theo hai hình thức của từng đơn vị do Cục Điều tiết điện lực quy định

Về cơ cấu tổ chức:

Các nhà máy điện thuộc EVN được tách thành các đơn vị phát điện độc lập (không có chung lợi ích kinh tế với đơn vị mua duy nhất, đơn vị truyền tải và đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện) dưới dạng các công ty nhà nước độc lập hoặc các công ty cổ phần Tổng công suất đặt của một đơn vị phát điện không được vượt quá 25% công suất đặt của toàn hệ thống

Về hệ thống các văn bản pháp lý:

– Đề án tái cơ cấu ngành điện được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

– Đề án thiết kế thị trường điện lực phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh được

Bộ Công nghiệp phê duyệt;

– Quy định thị trường điện lực được bổ sung, sửa đổi hoặc xây dựng mới phù hợp với cấu trúc thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh;

– Các quy định cho vận hành thị trường phát điện cạnh tranh bao gồm: quy định lưới truyền tải; quy định về thủ tục giám sát thực hiện quy hoạch và thực hiện các dự án trong danh mục dự án quy hoạch; quy định về thủ tục cấp, sửa đổi, bổ sung và giám sát thực hiện giấy phép hoạt động điện lực; quy định về trình tự và thủ tục chọn nhà đầu tư phát triển các dự án nguồn mới theo quy hoạch nguồn chi phí tối thiểu; quy định về thủ tục đăng ký tham gia thị trường phát điện cạnh tranh; quy định về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh trong thị trường điện lực; quy định về xử lý các vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại trong hoạt động thị trường điện lực được ban hành;

– Các quy định về phương pháp xây dựng, thủ tục, trình tự lập, thẩm định

và phê duyệt biểu giá điện bán lẻ, khung giá phát điện, khung giá điện bán buôn, phí truyền tải điện, phí phân phối điện, phí điều hành giao dịch thị trường điện lực, phí điều tiết, phí sử dụng dịch vụ phụ trợ và các loại phí có liên quan khác; quy định về mẫu hợp đồng PPA; quy định về giám sát hoạt động mua bán điện trên thị trường, kiểm tra thực hiện khung, biểu giá điện, các loại phí đã được ban hành;

Trang 34

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 31

– Quy định về xử lý các chi phí dàn xếp của các hợp đồng PPA dài hạn khi các IPP tham gia thị trường được ban hành;

Về cơ sở hạ tầng hệ thống điện:

– Hệ thống SCADA/EMS, hệ thống đo đếm từ xa được thiết lập hoàn chỉnh tới toàn bộ các nhà máy điện trong hệ thống điện, đáp ứng các hoạt động của thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh;

– Hệ thống thông tin phục vụ quản lý vận hành thị trường điện được trang

Về năng lực hoạt động của các đơn vị tham gia thị trường:

Các đơn vị phát điện độc lập cần có đội ngũ cán bộ, công nhân viên đã được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được được các hoạt động của thị trường điện cạnh tranh

c) Bước 1 - cấp độ 2: thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm (từ năm 2015 đến năm 2016)

– Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm khi các điều kiện tiên quyết cho cấp độ này đã được đáp ứng

– Cho phép lựa chọn một số đơn vị phân phối và khách hàng lớn để hình thành thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm Cho phép hình thành một số đơn vị bán buôn mới để tăng cường cạnh tranh trong khâu mua bán buôn điện Các công ty truyền tải điện hiện tại được sáp nhập thành một công ty truyền tải điện quốc gia duy nhất trực thuộc EVN; các đơn

vị phân phối, đơn vị vận hành hệ thống và đơn vị điều hành giao dịch thị trường điện do EVN tiếp tục quản lý

Về cơ cấu tổ chức:

Một số công ty phân phối điện được lựa chọn để thí điểm mua điện trực tiếp từ các đơn vị phát điện hoặc các đơn vị bán buôn

Hệ thống các văn bản:

Trang 35

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 32

– Đề án thiết kế thị trường bán buôn điện thí điểm được phê duyệt;

– Các quy định về hoạt động điều tiết; quy định thị trường; quy định lưới truyền tải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với cấu trúc và vận hành của thị trường bán buôn cạnh tranh;

– Quy định về điều kiện cho các khách hàng lớn được lựa chọn mua điện trực tiếp từ đơn vị phát điện hoặc qua thị trường điện lực được ban hành

Về cơ sở hạ tầng hệ thống điện:

– Hệ thống thu thập số liệu, giám sát điều khiển/quản lý năng lượng (SCADA/EMS), hệ thống đo đếm từ xa được thiết lập hoàn chỉnh tới toàn bộ các đơn vị phân phối độc lập và tới các khách hàng sử dụng điện lớn, đáp ứng các hoạt động của thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm;

– Hệ thống thông tin phục vụ quản lý vận hành thị trường điện được trang

bị phù hợp;

Về năng lực hoạt động của các đơn vị tham gia thị trường:

Các đơn phân phối được lựa chọn cho thị trường bán buôn điện thí điểm cần có đội ngũ cán bộ, công nhân viên đã được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được các hoạt động của thị trường điện cạnh tranh

d) Bước 2 - cấp độ 2: thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh (từ năm

Trang 36

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 33

- Quy định về cạnh tranh lựa chọn nhà đầu tư nguồn điện mới theo quy hoạch nguồn chi phí tối thiểu được sửa đổi phù hợp với mục tiêu cạnh tranh của thị trường bán buôn

Về cơ sở hạ tầng hệ thống điện:

- Hệ thống SCADA/EMS, hệ thống đo đếm từ xa được trang bị hoàn chỉnh tới tất cả các điểm đấu nối vào/ra của lưới điện truyền tải từ các đơn vị phân phối độc lập và tới các khách hàng sử dụng điện lớn;

- Hệ thống thông tin phục vụ quản lý vận hành thị trường điện lực được trang bị phù hợp đáp ứng cấu trúc và vận hành của thị trường bán buôn

Về năng lực hoạt động của các đơn vị tham gia thị trường:

Các đơn vị phân phối điện độc lập cần có đội ngũ cán bộ, công nhân viên đã được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được các hoạt động của thị trường điện cạnh tranh

đ) Bước 1 - cấp độ 3: thị trường bán lẻ điện cạnh tranh thí điểm (từ năm 2022 đến năm 2024)

- Thực hiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh thí điểm khi các điều kiện tiên quyết cho cấp độ này đã được đáp ứng

- Cho phép lựa chọn một số khu vực lưới phân phối có quy mô thích hợp

để triển khai thí điểm Theo mức độ tiêu thụ điện do Cục Điều tiết điện lực quy định, các khách hàng được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình (đơn vị bán lẻ điện) Chức năng kinh doanh bán lẻ điện của các công ty phân phối được lựa chọn thí điểm sẽ được tách khỏi chức năng quản lý và vận hành lưới phân phối; các đơn vị bán lẻ điện sẽ cạnh tranh

để bán điện tới từng khách hàng sử dụng điện và cạnh tranh để mua điện

từ các đơn vị bán buôn điện

Hệ thống các văn bản pháp lý:

Trang 37

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 34

- Đề án thiết kế thị trường điện lực bán lẻ điện cạnh tranh thí điểm và Đề

án tổ chức lại các công ty phân phối và lựa chọn quy mô bán lẻ điện thí điểm được phê duyệt;

- Các quy định về hoạt động điều tiết, quy tắc thị trường điện lực và quy định lưới truyền tải được sửa đổi bổ sung phù hợp với cấu trúc và vận hành của thị trường bán lẻ điện;

- Quy định lưới phân phối được xây dựng và ban hành

Về cơ sở hạ tầng hệ thống điện:

- Hệ thống SCADA/EMS, hệ thống đo đếm từ xa được đầu tư hoàn chỉnh tới tất cả các khách hàng sử dụng điện và tới các điểm đo đếm trong khu vực lưới phân phối được chọn để thí điểm;

- Hệ thống thông tin phục vụ quản lý vận hành thị trường điện lực được trang bị phù hợp với cấu trúc và vận hành của thị trường bán lẻ điện

Về năng lực hoạt động của các đơn vị tham gia thị trường:

Các đơn vị bán lẻ điện được lựa chọn cho thí điểm thị trường bán lẻ điện cần có đội ngũ cán bộ, công nhân viên đã được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được các hoạt động của thị trường điện cạnh tranh

e) Bước 2 - cấp độ 3: thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh (từ năm 2024)

- Theo mức độ tiêu thụ điện do Cục Điều tiết điện lực quy định, các khách hàng sử dụng điện trên toàn quốc được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình (đơn vị bán lẻ điện) hoặc trực tiếp mua điện từ thị trường

- Các tổ chức, cá nhân đáp ứng các yêu cầu về hoạt động điện lực được phép thành lập mới các đơn vị bán lẻ điện để cạnh tranh trong khâu bán

lẻ Các đơn vị này được quyền mua điện từ các đơn vị phát điện hoặc từ thị trường để bán lẻ cho khách hàng sử dụng điện

Hệ thống các văn bản:

- Đề án thiết kế thị trường điện lực bán lẻ điện cạnh tranh được phê duyệt;

- Các quy định về hoạt động điều tiết, quy định thị trường, quy định lưới truyền tải được sửa đổi bổ sung phù hợp với cấu trúc và vận hành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Về cơ sở hạ tầng hệ thống điện:

Trang 38

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 35

- Hệ thống SCADA/EMS, hệ thống đo đếm từ xa được đầu tư hoàn chỉnh cho lưới phân phối;

- Hệ thống thông tin phục vụ quản lý vận hành thị trường điện lực được trang bị phù hợp với cấu trúc thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Về năng lực hoạt động của các đơn vị tham gia thị trường:

Các đơn vị bán lẻ điện độc lập cần có đội ngũ cán bộ, công nhân viên đã được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được các hoạt động của thị trường điện cạnh tranh

1.8 Kết luận

Những đánh giá về hiện trạng ngành điện

Mô hình tổ chức: Mô hình liên kết dọc truyền thống hiện nay không phù hợp quy định tại Quyết định số 26/2006/QĐ-TTg về xây dựng thị trường phát điện cạnh tranh Mô hình này chưa tách bạch được chi phí trong các khâu phát điện, truyền tải và phân phối; hiệu quả sản xuất-kinh doanh Việc tái cơ cấu lại mô hình tổ chức ngành điện là một trong những điều kiện tiên quyết để hình thành thị trường phát điện cạnh tranh chính thức

Hệ thống điện: Nếu các nguồn điện được xây dựng đúng tiến độ, đến cuối năm

2009 tổng công suất đặt toàn hệ thống sẽ là 24.300 MW, trong khi nhu cầu phụ tải đỉnh hệ thống theo dự báo ở mức 15.000 - 16.000 MW, khi đó dự phòng công suất tối

đa vào khoảng trên 30% Tuy nhiên do việc chậm tiến độ đưa vào vận hành các nguồn mới, đồng thời nhu cầu điện những năm qua cũng tăng thấp hơn so với mức dự báo của TSĐ6, nên tới cuối 2009 tổng công suất đặt của hệ thống vảo khoảng 19.000MW, công suất cực đại hệ thống vào khoảng 14.000MW và hệ thống có dự phòng ở mức xấp xỉ 20% Hiện nay do lưới điện truyền tải của Việt Nam chưa đáp ứng tiêu chí N-1 trong toàn hệ thống nên việc sự cố một số đường dây, đặc biệt là các đường dây 220

kV trọng yếu, sẽ làm quá tải các đường dây còn lại Trong các trường hợp này, để tránh sụt điện áp và giảm nguy cơ tan rã hệ thống buộc phải áp dụng các biện pháp sa thải phụ tải

Những thách thức cho phát triển thị trường điện

Từ những đánh giá nêu trên, có thể xác định được những thách thức chính cho phát triển thị trường điện phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh theo đúng lộ trình được duyệt, như sau:

Trang 39

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 36

– Cơ cấu tổ chức hiện tại của ngành điện không đáp ứng yêu cầu cho phát triển thị trường điện, cần được tái cơ cấu một cách toàn diện để đáp ứng cho việc chuyển ngành điện sang hoạt động theo cơ chế thị trường – Cơ chế xây dựng và điều chỉnh giá điện hiện tại được xây dựng theo mô hình tích hợp dọc của ngành điện cần phải được thay đổi cơ bản để đáp ứng yêu cầu hoạt động của ngành điện theo cơ chế thị trường

– Cơ chế xây dựng, thẩm định và phê duyệt quy hoạch điện quốc gia và đặc biệt là cơ chế điều hành thực hiện các dự án trong quy hoạch được duyệt cần phải được thay đổi để đảm bảo đầu tư vào các khâu của ngành điện luôn tuân thủ nguyên tắc chi phí tối thiểu toàn hệ thống nhằm đạt được và duy trì độ dự phòng cần thiết cho vận hành của hệ thống điện và đảm bảo ổn định cung cấp điện với giá bán lẻ đến người tiêu thụ cuối cùng ở mức thấp nhất

– Kế hoạch cổ phần hoá các đơn vị thuộc EVN cần phải được lập trên cơ

sở kế hoạch tái cơ cấu ngành điện phục vụ phát triển thị trường phát điện cạnh tranh

Mục tiêu định hướng cho xây dựng thị trường phát điện cạnh tranh

Từ tình hình ngành điện hiện trạng, những thách thức cho phát triển thị trường

có thể xác định những mục tiêu định hướng khi xây dựng thị trường phát điện cạnh tranh như sau:

– Đảm bảo cung cấp điện ổn định với giá điện hợp lý tới người tiêu dùng: Việc mua điện từ các nhà máy điện để bán lại cho các công ty phân phối phải được đảm bảo liên tục không gây xáo trộn, ảnh hưởng đến an ninh cung cấp điện Cơ chế vận hành thị trường điện phải đảm bảo kế thừa được những hợp đồng mua điện dài hạn đã ký giữa EVN với các đơn vị phát điện, đặc biệt là các hợp đồng có bảo lãnh nhà nước (BOT) để tránh khả năng phải đàm phán lại gây tăng giá mua điện dẫn đến đột biến tăng giá điện bán lẻ

– Có cơ chế giá điện phù hợp nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp hoạt động trong từng khâu phát điện, truyền tải, phân phối và kinh doạnh điện

có doanh thu đủ bù đắp chi phí thưc tế và có lợi nhuận hợp lý cho đầu tư phát triển dài hạn Giá truyền tải và giá phân phối cần được điều tiết chặt chẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp hoạt động có mức lợi nhuận hợp lý nhưng không tăng áp lực tăng giá điện Chỉ với cơ chế này mới có thể thu hút đầu tư từ mọi thành phần kinh tế vào phát triển nguồn lưới mới,

Trang 40

Phòng Quan hệ quốc tế -Viện Năng Lượng 37

đảm bảo đáp ứng nhu cầu phụ tải đang tăng cao và hệ thống có dự phòng cần thiết

– Tạo nên môi trường cạnh tranh thực sự và minh bạch trong khâu phát điện để đạt được giá điện phản ánh đúng chi phí phát điện theo giá thị trường, nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh điện mang lại lợi ích cho người tiêu dùng điện và nền kinh tế quốc dân Những mục tiêu này sẽ là cơ sở định hướng cho việc lựa chọn các giải pháp cho xây dựng thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam

– Các cấp độ phát triển thị trường điện và các bước trong từng cấp độ cho thị trường điện Việt Nam là những bước đi thận trọng trong một khoảng thời gian dài là cần thiết Tuy nhiên qua phân tích các điều kiện tiên quyết cho sự vận hành thị trường hoàn hảo, ta có thể thấy rằng các cột mốc theo lộ trình cần thiết phải được đánh giá chi tiết lại sau mỗi một giai đoạn cấp độ để có thể điều chỉnh sự hoạt động của thị trường thích hợp nhất, đảm bảo lợi ích xã hội là lớn nhất

Ngày đăng: 17/04/2014, 00:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Report of the Nordel ad hoc group, “Rules for congestion management Evaluation of availability of capacity and possibilities for increased counter trade”, August 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rules for congestion management Evaluation of availability of capacity and possibilities for increased counter trade
3. William W. Hogan, “Transmission Market Design ”, April 4, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transmission Market Design
4. T. Limpasuwan, “A proposal for transmission pricing methodology in Thailand basedon electricity tracing and long-run average incremental cost”, Energy Policy 32 (2004) 301–308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A proposal for transmission pricing methodology in Thailand basedon electricity tracing and long-run average incremental cost
5. Konstantin Petrov, “Transmission Pricing MethodologyInitial Ideas for Price Design”, Seoul, November 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transmission Pricing MethodologyInitial Ideas for Price Design
6. KEMA-ERAV, “Vietnam Power Market Design -Task 1 Final Report - Recommendations on the General Structuring of the Power Sector to Meet Requirements of the Competitive Generation Market ”, 10 June 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Power Market Design -Task 1 Final Report -Recommendations on the General Structuring of the Power Sector to Meet Requirements of the Competitive Generation Market
7. KEMA-ERAV, “Vietnam Power Market Design - Task 2 Final Report:Market Structure for the Competitive Generation Market ”, 9 November 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Power Market Design - Task 2 Final Report:Market Structure for the Competitive Generation Market
8. Mette Bjứrndal, “Congestion Management in the Nordic Power Market – Counter Purchases and Zonal Pricing” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Congestion Management in the Nordic Power Market – Counter Purchases and Zonal Pricing
9. MOIT, “Dự thảo Thông tư quy định phương pháp lập, trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành giá truyền tải điện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Thông tư quy định phương pháp lập, trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành giá truyền tải điện
10. Ettore Bompard, “A Comparative Analysis of Congestion Management Schemes under a Unified Framework ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Comparative Analysis of Congestion Management Schemes under a Unified Framework
12. Janusz W Bialek, “Transmission Pricing &amp; Congestion Management in a Competitive Power Market”, Power Market Development in India:Reflections from International Experience, April 19-21, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transmission Pricing & Congestion Management in a Competitive Power Market
13. Fernando L. Alvarado, “TLR, Reliability and Efficiency”, Presentation to the Harvard Electricity Policy Group Milwaukee, WI, November 18, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TLR, Reliability and Efficiency
14. ESTO, “Co-ordinated use of Power Exchanges for Congestion Management”, Final Report April 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Co-ordinated use of Power Exchanges for Congestion Management
15. Andrew Brzezinski, “Flow Control and Congestion Management for Distributed Scheduling of Burst Transmissions in Time-domain Wavelength Interleaved Networks ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flow Control and Congestion Management for Distributed Scheduling of Burst Transmissions in Time-domain Wavelength Interleaved Networks
16. B. J. Kirby, “Congestion Management Requirements,Methods and Performance Indices ”, June 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Congestion Management Requirements,Methods and Performance Indices
17. Thilo Krause, “Evaluating Congestion Management Schemes in Liberalized Electricity Markets Using an Agent-based Simulator” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating Congestion Management Schemes in Liberalized Electricity Markets Using an Agent-based Simulator
18. Virginie Pignon, “Congestion Management in a Regional Power Market”, September 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Congestion Management in a Regional Power Market
19. Nordic Energy regulator, “Congestion Management Guidelines”, Report 8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Congestion Management Guidelines
1. ETSO, “An Overview of Current Cross-Border Congestion Management Methods in Europe September 2004 Khác
11. Hung-po Chao,” Flow-Based Transmission Rights and Congestion Management”, Electricity Journal, October 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thuật ngữ và viết tắt - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Bảng thu ật ngữ và viết tắt (Trang 7)
Hình 1.1: Lợi ích xã hội ròng trong điều kiện thị trường cạnh tranh (LIXH = thặng dư người sản xuất+ thặng dư  người tiêu dùng) - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.1 Lợi ích xã hội ròng trong điều kiện thị trường cạnh tranh (LIXH = thặng dư người sản xuất+ thặng dư người tiêu dùng) (Trang 10)
Hình 1.2. So sánh giá trị HHI ở các thị trường - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.2. So sánh giá trị HHI ở các thị trường (Trang 13)
Bảng 1.3. Các dạng giao dịch trong thị trường - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Bảng 1.3. Các dạng giao dịch trong thị trường (Trang 15)
Hình 1.3. Dạng giao dịch trực tiếp song phương và đa phương - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.3. Dạng giao dịch trực tiếp song phương và đa phương (Trang 15)
Hình 1.4 Mô hình kết hợp giữa hợp đồng song phương và sàn giao dịch - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.4 Mô hình kết hợp giữa hợp đồng song phương và sàn giao dịch (Trang 17)
Hình 1.5 Mô hình độc quyền mua bán điện - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.5 Mô hình độc quyền mua bán điện (Trang 18)
Hình 1.6. Mô hình một đơn vị mua buôn điện - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.6. Mô hình một đơn vị mua buôn điện (Trang 19)
Hình 1.7. Mô hình thị trường mua bán điện cấp công ty - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.7. Mô hình thị trường mua bán điện cấp công ty (Trang 20)
Hình 1.8. Mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo  Bảng 1.3 Tổng hợp so sánh 4 loại mô hình thị trường - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.8. Mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo Bảng 1.3 Tổng hợp so sánh 4 loại mô hình thị trường (Trang 21)
Bảng 1.4. Các mô hình quản lý trên thế giới - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Bảng 1.4. Các mô hình quản lý trên thế giới (Trang 25)
Hình 1.9. Cơ cấu nguồn điện toàn ngành năm 2008 - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.9. Cơ cấu nguồn điện toàn ngành năm 2008 (Trang 26)
Hình 1.10. Cơ cấu nguồn điện theo công nghệ năm 2008 - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 1.10. Cơ cấu nguồn điện theo công nghệ năm 2008 (Trang 27)
Hình 2.1: Tổng chi phí kết hợp với chi phí gia tăng - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 2.1 Tổng chi phí kết hợp với chi phí gia tăng (Trang 61)
Hình 3.1 Thị trường điện châu Âu - Báo cáo khoa học : Xác định giá chuyển tải điện và các phương thức chống tắc nghẽn trong điều kiện liên kết thị trường điện
Hình 3.1 Thị trường điện châu Âu (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w