DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ABFI : Sáng kiến Quỹ Trái phiếu châu Á ABMI : Sáng kiến Thị trường Trái phiếu châu Á ACFTA : Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc ACMECS : Chiến lược Hợ
Trang 1Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.01.06/06-10
TRIỂN VỌNG HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ĐÔNG Á VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM
(Báo cáo tổng hợp)
Chủ nhiệm: PGS TS Lưu Ngọc Trịnh
Hà Nội, tháng 3 năm 2010
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ABFI : Sáng kiến Quỹ Trái phiếu châu Á
ABMI : Sáng kiến Thị trường Trái phiếu châu Á
ACFTA : Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc
ACMECS : Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya -
Mekong ACU : Đơn vị Tiền tệ châu Á
ADB : Ngân hàng Phát triển châu Á
AEC : Cộng đồng Kinh tế ASEAN
AFTA : Khu vực Thương mại Tự do ASEAN
AIA : Khu vực Đầu tư ASEAN
AMBDC : Hợp tác Phát triển Lưu vực Sông Mekong
AMF : Quỹ Tiền tệ châu Á
APEC : Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
ASEAN : Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
ASEAN+1 : ASEAN và một nước đối tác
ASEAN+3 : ASEAN và Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc
ASEAN+6 : ASEAN và Australisa, Ấn Độ, Hàn Quốc, New Zealand,
Nhật Bản, Trung Quốc ASEM : Diễn đàn Hợp tác Á-Âu
BIMP-EAGA : Khu vực phát triển Đông ASEAN Brunei - Indonesia -
Malaysia - Philippines BIMSTEC : Sáng kiến hợp tác kinh tế và kỹ thuật đa ngành Vịnh Bengal BFTA : FTA song phương
CEP : Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện
CEPEA : Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Đông Á
CJKFTA : Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn
Quốc CGE : Mô hình cân bằng tổng thể có thể tính toán được
CLMV : Campuchia, Lào, Myanma, Việt Nam
CMI : Sáng kiến Chiang Mai
EAEC : Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử châu Âu
Trang 3EAS : Hội nghị Cấp cao Đông Á
EAVG : Nhóm Tầm nhìn Đông Á
EC : Cộng đồng châu Âu
ECSC : Cộng đồng Than Thép Châu Âu
EEC : Cộng đồng Kinh tế châu Âu
EHP : Chương trình thu hoạch sớm
EL : Danh mục loại trừ
EMEAP : Hội nghị các cán bộ điều hành của Ngân hàng trung ương
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương EMU : Liên minh Tiền tệ châu Âu
EPA : Hiệp định đối tác kinh tế
EPG : Nhóm Nhân vật Nổi tiếng
EPU : Liên minh Nghị viện châu Âu
ERIA : Viện nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á
EU : Liên minh châu Âu
EVSL : Tự nguyện tự do hóa sớm theo lĩnh vực
EWEC : Hành lang Kinh tế Đông-Tây
FEALAC : Diễn đàn Hợp tác Đông Á - Mỹ Latinh
G7 : Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển
G20 : Nhóm 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới
GATT : Hiệp định Chung về Thuế quan và Mậu dịch
GDP : Tổng sản phẩm nội địa, tổng sản phầm quốc nội
GMS : Tiểu vùng Sông Mê Kông Mở rộng
GNP : Tổng sản phẩm quốc dân
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA : Hiệp định/khu vực thương mại tự do
IAI : Sáng kiến Hội nhập ASEAN
IMF : Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IMT-GT : Tam giác tăng trưởng Indonesia - Malaysia - Thailand
JSG : Nhóm Nghiên cứu Chuyên sâu
MECOSUR : Thị trường Chung Nam Mỹ
NAFTA : Khu vực/Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ
NEAT : Mạng lưới các cơ quan nghiên cứu Đông Á
NIE : Các nền kinh tế công nghiệp mới
Trang 4NK : Nhập khẩu
ODA : Hỗ trợ Phát triển Chính thức
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
RIA : Lộ trình Hội nhập ASEAN
SDR : Quyền Rút vốn Đặc biệt
SL : Danh mục nhạy cảm
TAC : Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (của ASEAN)
TPP : Đối tác Xuyên Thái Bình Dương
UNCTAD : Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển UNDP : Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc
Trang 5DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Trang
BẢNG
Bảng 2-1: Tỷ trọng thương mại nội vùng trong tổng giá trị thương
mại của khu vực thời kỳ 1986-2006
20
Bảng 2-2: Quan hệ thương mại của các nước ASEAN và các nước
Đông Bắc Á
21
Bảng 7.1: Các lựa chọn hội nhập khu vực (I) 158
Bảng 7.2: Các lựa chọn hội nhập khu vực (II) 159
Bảng 7.3: Xếp hạng mức độ phát triển cơ sở hạ tầng “cứng” của các
nước Đông Á trên toàn thế giới
Hình 6.1: So sánh quy mô của ba khối kinh tế khu vực theo GDP 134
Hình 6.2: Tác động của EAEC tới các nước trong khu vực theo hai
kịch bản: hiệp định thương mại tự do Đông Á (EAFTA) và
hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA)
145
Hình 6.3: So sánh thời gian giao hàng quốc tế (ngày) 147
Hình 6.5: Chênh lệch về GDP vào năm 2025 giữa trường hợp có tác
động của phát triển cơ sở hạ tầng và không có
151
Trang 6PHẦN 1
GIỚI THIỆU
I.1 Tính cần thiết của đề tài
Hiện nay, quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa kinh tế đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trên thế giới Điều này không những được thể hiện ở xu hướng thị trường hóa đang trở thành xu hướng chủ đạo trên thế giới, mà còn thể hiện ở chỗ các quan hệ giao lưu buôn bán, đầu tư, viện trợ, chuyển giao công nghệ và sự dịch chuyển đan xen lẫn nhau của các dòng vốn và nhân lực Cùng với việc các nền kinh tế quốc gia có quan hệ đan xen và ràng buộc chặt chẽ lẫn nhau và nền kinh tế thế giới ngày càng trở thành một thực thể thống nhất, thì các khối kinh tế khu vực cũng hình thành và cạnh tranh lẫn nhau, khiến cho các nền kinh tế ngoài khối bị tác động không nhỏ và không thể thờ
Trang 7hình thành một khối kinh tế toàn khu vực gọi là Cộng đồng Kinh tế Đông Á Nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
và khu vực và nhờ đó đã thúc đẩy được sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Đứng trước trào lưu hợp tác kinh tế mới trong khu vực, Việt Nam cần
có sự nghiên cứu khẩn trương và cẩn thận, hiểu rõ được thực tế, biết được những thuận lợi và khó khăn mà thực thể đó gây ra, để có thể không những thích ứng (tận dụng được những lợi thế mà Khối đó mang lại và hạn chế được những khó khăn mà khối đó tạo ra để có thể tiếp tục phát triển bền vững), mà còn chủ động tham gia tích cực vào quá trình hình thành và phát triển của khối này trong tương lai
Ý tưởng nghiên cứu đề tài "Triển vọng hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á và tác động của nó đến sự phát triển của Việt Nam" được hình thành
trong bối cảnh như thế
I.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là dự báo về triển vọng hình thành
Cộng đồng Kinh tế Đông Á (East Asia Economic Community - EAEC) và một
số tác động chủ yếu của nó đối với kinh tế thế giới, khu vực và đặc biệt là đối với sự phát triển của Việt Nam Trên cơ sở đó, đề tài sẽ kiến nghị một số điều chỉnh chính sách và giải pháp thích ứng của Việt Nam
Để thực hiện được mục đích đó, đề tài sẽ: i) Hệ thống hóa một số vấn đề
lý luận cơ bản liên quan đến hội nhập/liên kết kinh tế, và xu hướng hình thành các khối kinh tế khu vực và các hiệp định hợp tác kinh tế và mậu dịch song
Trang 8phương hiện nay trên thế giới; ii) Làm rõ nhu cầu, điều kiện và khả năng, những thuận lợi và khó khăn của việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á; iii) Làm
rõ vai trò và những ý đồ của một số nước lớn và nhóm nước đối với hợp tác kinh tế Đông Á nói chung và Cộng đồng kinh tế Đông Á nói riêng và các điều
chỉnh chính sách chủ yếu của họ; iv) Trên cơ sở những phân tích trên, phác thảo một số nét cơ bản về lộ trình hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á; v) Dự báo
về triển vọng hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á, mô hình và thể chế vận hành của nó; những cơ hội và thách thức mà nó mang lại đối với nền kinh tế thế
giới và khu vực; và vi) Dự báo một số tác động chủ yếu (cả tiêu cực lẫn tích
cực) của việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á đến sự phát triển của Việt Nam
I.3 Phạm vi nghiên cứu
I.3.1 Đông Á
Trong kinh tế và kinh doanh, Đông Á, như được sử dụng khi nói tới sự
Thần kỳ Đông Á, bao gồm Nhật Bản, các nước/lãnh thổ mới công nghiệp hóa
(Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore), Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.1 Báo cáo này, khi bàn đến hội nhập kinh tế ở Đông Á nói chung, sẽ sử dụng cách hiểu Đông Á giống như trong kinh tế và kinh doanh
1
Song, cần lưu ý rằng, nếu theo các cách tiếp cận khác (địa lý, văn hóa, nhân chủng học, địa chính trị, …), có thể có những cách xác định khác về phạm vi của Đông Á Thậm chí cùng theo một cách xác định thì ở mỗi tổ chức hoặc ở mỗi nước, Đông Á lại cũng có thể
Trang 9Tuy nhiên, cần lưu ý là Hội nghị Cấp cao Đông Á - là cơ chế mà từ đó Cộng đồng Kinh tế Đông Á tương lai được xây dựng nên - lại có những thành viên nằm ngoài khu vực Đông Á theo cách hiểu trên như Ấn Độ, Australia, New Zealand (thành viên chính thức) và Nga (quan sát viên)
I.3.2 Cộng đồng kinh tế
Cộng đồng thường được hiểu là một tập thể cá nhân tồn tại trong cùng một môi trường; có chung những mối quan tâm, những lợi ích, những quan niệm, những nhận thức, những giá trị quan, những kế hoạch; chịu chung các tác động tới tính thống nhất của tập thể; có ý thức cộng đồng; cùng ra quyết định chung Cộng đồng kinh tế là cộng đồng của hai hay nhiều nền kinh tế Trong thế
kỷ 20, các khối kinh tế tự nhận là cộng đồng được thành lập đầu tiên có lẽ là
Cộng đồng Than Thép châu Âu (European Coal and Steel Community, thành lập vào năm 1952), Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (European Atomic Energy Community, 1957), Cộng đồng Kinh tế châu Âu (European Economic Community, 1957) Những cộng đồng kinh tế này được thành lập trên nguyên tắc của chủ nghĩa siêu quốc gia (supranationalism) Chủ nghĩa siêu
quốc gia là phương thức ra quyết định của cộng đồng các quốc gia, trong đó quyền lực được ủy nhiệm cho một thể chế do các chính phủ các nước thành viên cùng thành lập Từ ba cộng đồng trên, các nước châu Âu đã lập ra Cộng đồng châu Âu vào năm 1992, tiền thân của Liên minh châu Âu
Ngoài ra, hiện trên thế giới đã có các khối kinh tế tự nhận là cộng đồng sau được thành lập: Cộng đồng Caribbe, Cộng đồng Kinh tế Trung Phi, Cộng đồng
Trang 10Kinh tế Tây Phi, Cộng đồng Kinh tế châu Phi, Cộng đồng Đông Phi, Cộng đồng Kinh tế ASEAN Tuy nhiên, không cộng đồng kinh tế nào trong số các cộng đồng mới này đang thực thi nguyên tắc chủ nghĩa siêu quốc gia như các cộng đồng kinh tế ở châu Âu
Điểm chung của các cộng đồng kinh tế là đều có liên kết kinh tế, thấp nhất
là ở mức độ thương mại tự do
I.4 Khái quát tình hình nghiên cứu có liên quan
Có rất ít nghiên cứu của nước ngoài đề cập đến tác động của việc hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á và việc Việt Nam tham gia Cộng đồng tới
sự phát triển của Việt Nam Do xu hướng nghiên cứu theo chuyên sâu theo các chủ đề hẹp, nên các nghiên cứu có đề cập thì lại thường không đề cập đến toàn bộ các tác động mà chỉ một tác động cụ thể nào đó Việt Nam thường được đặt chung trong nhóm các nước ASEAN kém phát triển (nhóm CLMV) hoặc đặt chung trong Đông Á Không có nghiên cứu nước ngoài nào lấy Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu duy nhất
Các nghiên cứu trong nước về liên kết Đông Á đã được công bố khá nhiều Đáng chú ý có công trình do Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược chủ biên
công bố năm 2004 “Hướng tới cộng đồng kinh tế Đông Á” Đây là tập hợp
một loạt tham luận đã được trình bày tại một hội thảo quốc tế do Viện Kinh tế
và Chính trị Thế giới tổ chức, công trình chưa đề cập được một cách có hệ thống về nhu cầu, điều kiện, lộ trình thành lập, mô hình của Cộng đồng Kinh
Trang 11tế Đông Á Phần đánh giá về tác động của Cộng đồng tới kinh tế Việt Nam chủ yếu mới dừng ở tầm vĩ mô
Hội thảo quốc tế "Hướng tới Cộng đồng Đông Á: Cơ hội và thách thức"
do Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, tổ chức tại Hà Nội tháng 9 năm 2005 Hội thảo này chủ yếu đề cập đến Cộng đồng Đông Á nói chung, chứ không phải là chuyên về Cộng đồng Kinh tế Đông Á, và trên thực tế đây là diễn đàn để các đại biểu (phần lớn là nước ngoài) nêu ra các quan điểm sơ bộ của mình về hợp tác Đông Á và những cơ hội và thách thức đối với các nước Đông Á, chứ không riêng gì của Việt Nam, nếu một Cộng đồng Đông Á được hình thành trong tương lai Trừ tham luận của PGS.TS Nguyễn Xuân Thắng (Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới), còn hầu hết các tham luận còn lại đều bàn chủ yếu đến những khía cạnh văn hóa, lịch sử và giá trị Đông Á mà chưa chú ý đến sự hợp tác kinh tế Đông Á hiện tại và các vấn
đề liên quan đến Cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai
Hội thảo quốc tế "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội nhập Đông Á" do Viện nghiên cứu Đông Bắc Á (Viện Khoa học xã hội Việt
Nam) tổ chức tại Bắc Ninh tháng 12 năm 2003 mới đề cập chủ yếu đến quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Hàn Quốc hiện nay và triển vọng Đề tài khoa học cấp bộ do Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á chủ trì, TS Trần Quang Minh làm
chủ nhiệm về “Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế” công bố năm 2007 chủ yếu đề cập
đến quan điểm và hoạt động hội nhập Đông Á của Nhật Bản Còn về hợp tác
Trang 12kinh tế ở khu vực Đông Bắc Á, thì hội thảo và đề tài trên mới chỉ đề cập đến như là một môi trường tác động đến mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc, còn Cộng đồng kinh tế Đông Á hầu như chưa được đề cập gì
Tiếp cận chủ đề liên kết Đông Á qua hướng nghiên cứu về hợp tác ASEAN+3 có đề tài cấp bộ do Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Viện Khoa học
xã hội Việt Nam) chủ trì, do PGS TS Nguyễn Thu Mỹ làm chủ nhiệm “Một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN+3” công bố năm 2008 và công trình của
Nguyễn Khắc Nam (Khoa Quốc tế học, trường Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn, ĐHQG Hà Nội) “Hợp tác đa phương ASEAN + 3 - Vấn đề và triển vọng” cũng công bố năm 2008 Đề tài đầu tiên đã đề cập tương đối sâu về hợp
tác kinh tế ASEAN+3, song lại không đề cập đến những vấn đề mà chúng tôi quan tâm như nhu cầu và điều kiện của việc hình thành Cộng đồng, lộ trình và
mô hình của Cộng đồng, và đặc biệt đề tài còn ít đề cập đến tác động của việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á tới kinh tế Việt Nam Công trình sau của Hoàng Khắc Nam chủ yếu bàn về hợp tác trong các lĩnh vực chính trị, văn hoá
Trang 13Tuy nhiên, công trình này không đề cập đến việc một khối kinh tế toàn Đông Á
sẽ được hình thành như thế nào và tác động của nó tới sự phát triển của Việt Nam ra sao
Ngoài những dự án và hội thảo trên, các tổ chức và các nhà nghiên cứu ngoài Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới còn có một số hội thảo, viết một số bài báo và có một số tham luận khác bàn về những vấn đề có liên quan đến hợp tác Đông Á và Cộng đồng Đông Á Tuy vậy, vấn đề hợp tác kinh tế Đông Á hiện tại
và những vấn đề liên quan đến Cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai, cũng như sự tham gia của Việt Nam vào tiến trình hình thành Cộng đồng này chưa được các tác giả Việt Nam đề cập đến một cách có hệ thống, toàn diện, sâu sắc
và cụ thể, mà mới chỉ được đề cập thoáng qua trong các công trình bàn về các vấn đề hợp tác khu vực, ở các khía cạnh cụ thể khác như hợp tác văn hoá, an ninh, hay giá trị Đông Á hoặc quan hệ hợp tác kinh tế song phương giữa hai nước nào đó trong khu vực, chứ Cộng đồng kinh tế Đông Á như là một thực thể độc lập (hình thành, tiến triển và tác động như thế nào trong tương lai) chưa được hầu hết các công trình đề cập Do đó, có thể nói, trong khoảng 5 năm qua, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) không những là một trong những Viện đi tiên phong mà còn là Viện nghiên cứu một cách khá tập trung, toàn diện và cụ thể quá trình hợp tác kinh tế Đông Á và việc hình thành và mô hình Cộng đồng kinh tế Đông Á trong tương lai và sự tác động của nó Trên thực tế, Viện đã đạt được những kết quả nghiên cứu bước đầu khá tích cực và cụ thể
Trang 14I.5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cách tiếp cận của đề tài này là đặt sự phát triển của khu vực Đông Á nói chung, của Cộng đồng Kinh tế Đông Á nói riêng, trong sự phát triển chung của thế giới, trong dòng xoáy của xu thế toàn cầu hoá, của nền kinh tế tri thức đang diễn ra một cách mạnh mẽ, từng ngày, từng giờ tác động (cả tích cực lẫn tiêu cực) đến sự phát triển của các quốc gia, dân tộc Trước tiên, cần giải quyết được những cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hợp tác kinh tế Đông Á để thấy được tính tất yếu và hợp lý của quá trình này và hướng tiến triển của một khối kinh tế ở khu vực Đông Á trong tương lai Đề tài xem xét sự tiến triển của hợp tác kinh tế Đông Á nói chung và Cộng đồng Kinh tế Đông Á nói riêng trong chính sách và chiến lược khu vực và toàn cầu của các nước lớn và nhóm nước, như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU, và ASEAN, để thấy được vai trò của các nước này trong việc hình thành Cộng đồng kinh tế Đông Á, cũng như tính phức tạp của sự tiến triển của sự hợp tác Đông Á cũng như của Cộng đồng này Chỉ
có dựa trên những cơ sở đó, mới có thể vạch ra được lộ trình và hình dung được
mô hình tương lai có thể của Cộng đồng kinh tế Đông Á Khi đánh giá về tác động tới sự phát triển của Việt Nam, đề tài đã xuất phát từ lợi ích quốc gia và dân tộc của Việt Nam cũng như tính cùng có lợi của sự hợp tác quốc tế và khu vực để xem xét quá trình hợp tác kinh tế Đông Á và Cộng đồng kinh tế Đông
Á để có thể nghiên cứu được trúng vấn đề, đưa ra được những kiến nghị hợp lý
và khả thi, để không những có thể giúp Việt Nam chủ động hội nhập sâu hơn
Trang 15vào nền kinh tế quốc tế và khu vực, tham gia một cách tích cực vào tiến trình hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á, mà còn có thể tiếp tục giữ vững đươc độc lập dân tộc và duy trì sự tăng trưởng cao và phát triển bền vững
Đề tài đã áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để triển khai đề tài
Đề tài thu thập số liệu một các đầy đủ và có hệ thống từ nhiều nguồn khác nhau (các tổ chức nghiên cứu tư nhân, chính phủ, các tổ chức quốc tế, từ cả các nước trong và ngoài khu vực) để có thể có cái nhìn và đánh giá khách quan, toàn diện,
đa chiều và khoa học đối với quá trình hợp tác khu vực và sự hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á Các phương pháp lịch sử cụ thể và so sánh sẽ được sử dụng để có thể hiểu rõ được vấn đề một cách cụ thể, có chiều sâu lịch sử, theo một quá trình, không những thấy được tính phổ biến mà còn thấy được những điểm đặc thù của hiện tượng hợp tác kinh tế Đông Á và Cộng đồng kinh tế Đông Á Các phương pháp biện chứng và duy vật lịch sử sẽ được vận dụng để nghiên cứu vấn đề một cách sâu sắc, để hiểu được bản chất của quá trình liên kết kinh tế Đông Á, ý đồ thực sự của các thực thể tham gia liên kết Trong khi
đó, các phương pháp thống kê và phân tích hệ thống sẽ được sử dụng để có thể vạch ra được lộ trình và sự tiến triển của Cộng đồng kinh tế Đông Á, các kịch bản tương lai của nó và tác động có thể của nó đối với thế giới, khu vực và Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã tiến hành khảo sát thực địa và trao đổi thực tế tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc với một số học giả tại các trung tâm nghiên cứu lớn ở trong nước và quốc tế, tổ chức các hội thảo chung lẫn chuyên sâu về từng vấn đề để có thể tập hợp được các ý kiến rộng rãi
Trang 16của các chuyên gia, hiểu kỹ hơn quan điểm của các nước và làm sâu sắc và hoàn chỉnh hơn quan điểm của Việt Nam về hợp tác kinh tế Đông Á và Cộng đồng Kinh tế Đông Á Đồng thời, đề tài đã tiến hành khảo sát tại một vài địa phương trong nước (Hải Phòng, Quảng Ninh, Lào Cai, thành phố Hồ Chí Minh) để tìm hiểu nhu cầu và thực tiễn liên kết khu vực của các địa phương và doanh nghiệp, trao đổi ý kiến với các nhà khoa học về đề tài
I.6 Nội dung của báo cáo này
Ngoài phần giới thiệu này, Báo cáo tổng hợp của đề tài bao gồm sáu phần
Phần 1 sẽ phân tích những nhu cầu (tức là những nhân tố thôi thúc thành lập Cộng đồng) và những điều kiện (tức là những yếu tố mà thiếu nó thì việc thành lập Cộng đồng sẽ gặp trở ngại)
Phần 2 sẽ trình bày những thuận lợi và khó khăn đối với việc hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á
Phần 3 trình bày vai trò của các nền kinh tế quốc gia đối với sự hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á, trước hết là vai trò của các khối và nước
dự kiến là thành viên của Cộng đồng (ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand), tiếp đó là vai trò của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu Quan điểm của mỗi một nước, khối về liên kết kinh tế Đông Á nói chung và Cộng đồng Kinh tế Đông Á nói riêng sẽ được xem xét Đồng thời, sự đóng góp của mỗi nước, khối vào việc hình thành Cộng đồng sẽ
Trang 17được trình bày Ngoài ra, quan hệ giữa APEC và Cộng đồng Kinh tế Đông Á cũng sẽ được xem xét và trình bày ở cuối phần này
Phần 4 khái quát về lộ trình và dự báo một số đặc điểm chủ yếu của mô hình của Cộng đồng Kinh tế Đông Á
Phần 5 bàn về những tác động có thể của việc hình thành Cộng đồng Kinh tế Đông Á tới thế giới, khu vực và đặc biệt là tới sự phát triển của Việt Nam
Tại phần 6, đề tài kiến nghị một hệ giải pháp gồm 10 điểm tới Chính phủ
để Việt Nam có thể khai thác được những cơ hội mà việc thành lập Cộng đồng Kinh tế Đông Á và việc Việt Nam tham gia Cộng đồng này đem tới, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực
Trang 18PHẦN 2
NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ĐÔNG Á
II.1 Nhu cầu thành lập Cộng đồng kinh tế Đông Á
II.1.1 Nhu cầu phát triển thể chế để phù hợp với liên kết trên thực tế
Trên thực tế, liên kết kinh tế ở khu vực Đông Á đã phát triển mạnh, thể hiện ở thương mại nội bộ và đầu tư nội bộ khu vực
II.1.1.1 Thương mại nội bộ khu vực
Thương mại nội bộ khu vực Đông Á đã tăng trưởng mạnh mẽ trong
khoảng ba thập kỷ gần đây Như Bảng 2-1 cho thấy, thương mại nội bộ khu
vực (gồm ASEAN+3 và Hong Kong, Đài Loan) trong tổng kim ngạch thương mại toàn Đông Á đã tăng từ 37% năm 1980 lên 55% năm 2006 Tỷ lệ này tuy còn thấp hơn so với thương mại nội bộ của EU-15 trước đây (đạt mức cao nhất 66% năm 1990), song nó vượt chỉ số này của khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (49% năm 2001)
Sự nhộn nhịp của thương mại nội bộ khu vực còn thể hiện khá mạnh ở
con số thương mại giữa các nước ASEAN và Đông Bắc Á, như Bảng 2-2 cho
thấy Hầu hết các nước ASEAN có tỷ lệ xuất khẩu và nhập khẩu là khá cao đối với các nước Đông Bắc Á, từ 14% đến 31% đối với xuất khẩu và từ 24% đến gần 40% đối với nhập khẩu
Trang 19Bảng 2-1: Tỷ trọng thương mại nội vùng trong tổng giá trị thương mại của khu vực thời kỳ 1986-2006
(Đơn vị: %)
Khu vưc 1980 1985 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
ASEAN+3 30,2 30,2 29,4 37,6 37,3 37,1 37,9 39,0 39,2 38,9 38,3 ASEAN+3+Hong
Kong+Đài Loan
36,8 39,0 43,1 51,9 52,1 51,9 53,8 55,4 55,9 55,4 54,5
ASEAN+6 34,6 34,8 33,7 40,8 40,5 40,6 41,3 423,4 43,0 43,1 42,6 ASEAN+6+Hong
Kong+Đài Loan
40,5 42,7 46,3 54,5 54,6 54,5 56,3 57,7 58,5 58,4 57,6
NAFTA 33,8 38,8 37,9 43,1 48,8 49,1 48,4 47,4 46,4 46,1 44,3 Mercosur 11,1 7,2 10,9 19,2 20,3 17,9 13,6 14,7 15,2 15,5 15,7
EU cũ 60,7 59,8 66,2 64,2 62,3 62,2 62,5 63,0 62,2 60,4 59,5
EU mới 61,5 60,0 66,8 66,9 66,3 66,7 67,4 68,1 67,6 66,2 65,8
Nguồn: Kawai, Masahiro & Ganeshan Wignarja (2007), “ASEAN+3 or ASEAN+6: Which Way Forward?” ADBI discussion paper 77 Ghi chú:
- NIE-4 là 4 nước công nghiệp mới châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore);
- ASEAN+3 là toàn bộ khối ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc;
- ASEAN+6 là ASEAN+3 và Austrlia, New Zealand, Ấn Độ.
Trang 20Bảng 2-2: Quan hệ thương mại của các nước ASEAN và các nước Đông
Nguồn: Theo The International Centre for the Study of East Asian Development, 2002 Ghi chú: XK là xuất khẩu; NK là nhập khẩu
Đông Á còn mang sắc thái nội ngành khá rõ rệt Thương mại nội ngành theo chiều dọc, đặc biệt trong các sản phẩm chế tạo được mở rộng nhanh chóng Hiện nay, phần lớn trao đổi thương mại các sản phẩm chế biến nội vùng ở Đông Á là theo chiều dọc và theo bản chất nội ngành Các công ty đa quốc gia
đã tạo ra các loại hình thương mại như vậy thông qua các hoạt động đầu tư định vị các quy trình sản xuất khác nhau ở các nước khác nhau theo năng lực công nghệ và lợi thế so sánh về các đầu vào sản xuất Đó chính là nhân tố thúc đẩy thương mại nội ngành đối với các phụ tùng, phụ kiện, bán thành phẩm và thành phẩm trên khắp các nước trong khu vực
II.1.1.2 Đầu tư nội bộ khu vực
Tỷ trọng FDI nội vùng vào Đông Á so với tổng vốn FDI vào Đông Á
Trang 21nước có truyền thống là nhà đầu tư lớn vào khu vực, tầm quan trọng của các NIE Châu Á cũng đang gia tăng Trong giai đoạn 1995-2005, Nhật Bản chiếm 11% tổng dòng FDI tích lũy tới các nước Đông Á mới nổi Đồng thời, các công ty thuộc NIE châu Á chiếm 29% tổng dòng FDI vào ASEAN-92 và 54% tổng dòng FDI vào Trung Quốc trong giai đoạn nói trên Hiện tượng này chủ yếu là do sau khi là những nước tiếp nhận FDI từ các công ty đa quốc gia trong thập niên 1980, Hồng Kông, Singapore và Đài Loan đã nhanh chóng trở thành các nhà đầu tư đối với các nước Đông Á còn lại, đặc biệt là ở các nước ASEAN có thu nhập trung bình, Trung Quốc và Việt Nam Theo thống kê, hiện nay 85% các nhà đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc là từ khu vực Đông
Á.3 Gần đây, các nhà đầu tư khu vực cũng đang nổi lên trong nhóm các nhà đầu tư lớn vào Đông Á mới nổi như Hon Hai Precision Industry Co (Ltd.), Quanta Corporation của Đài Loan Khi Trung Quốc nổi lên như là nước thu hút FDI trong thập niên 1990, một số nước ASEAN có thu nhập trung bình như Malaysia cũng bắt đầu đầu tư vào Trung Quốc
Tuy nhiên, cho tới nay các nhà đầu tư lớn vào khu vực vẫn chủ yếu là các công ty đa quốc gia có xuất xứ từ EU, Mỹ và Nhật Bản, sau đó mới đến các NIE và Trung Quốc Đối với các NIE, khoảng 23% các dòng chảy FDI vào trong giai đoạn 1990-2002 đến từ nước Mỹ, khoảng 15% đến từ EU và 14% đến từ Nhật Bản Với các nước ASEAN-9, 22% các dòng chảy FDI đến
Trang 22từ Nhật Bản, trong khi 18% đến từ EU và 16% từ Mỹ Ở Trung Quốc, Mỹ chiếm 10% dòng chảy FDI vào, trong khi EU và Nhật Bản lần lượt chiếm 8,3% và 6,2% Các nước công nghiệp mới châu Á, trong đó có Hong Kong, chiếm khoảng 55% dòng chảy FDI vào Trung Quốc
Như vậy, bên cạnh các nhà đầu tư từ Mỹ và EU, các nước Đông Á đang
có vai trò lớn hơn với tư cách là nhà đầu tư FDI vào khu vực Hiện nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất ở ASEAN Đồng thời, các NIE và một số nước ASEAN có thu nhập trung bình và Trung Quốc đang trở thành các nhà đầu tư tích cực hơn trong khu vực
II.1.1.3 Các yếu tố thúc đẩy thương mại và đầu tư nội bộ khu vực
Có một số yếu tố nằm sau sự mở rộng thương mại và đầu tư vốn là nhân
tố chính thúc đẩy liên kết kinh tế Đông Á trong thời gian vừa qua
Thứ nhất, các nền kinh tế Đông Á theo đuổi tự do hóa thương mại và đầu
tư như một phần của chính sách thương mại và đầu tư hướng ngoại trong khuôn khổ đa phương của GATT/WTO và chủ nghĩa khu vực mở thông qua APEC Một vài vòng đàm phán tự do hóa của GATT đã làm giảm các rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại trên nền tảng bền vững Một điểm chủ chốt là khu vực đã tránh được các thực tiễn đối xử thương mại phân biệt Quá trình APEC đã thành công trong việc thúc đẩy Trung Quốc cũng như Đài Loan trong việc theo đuổi tự do hóa thương mại và đầu tư bên ngoài khuôn khổ WTO Với áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, các nền kinh tế đã theo đuổi các cải cách kinh tế bổ trợ ở trong nước theo hướng thị trường và mở cửa
Trang 23khu vực và sau đó là các công ty Đông Á đã tạo dựng các mạng sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực trên khắp Đông Á Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy ngoài nhân tố quy mô thị trường, thì tiền tệ mất giá tại các nước tiếp nhận, rủi ro chính trị ít và sự tồn tại của một hiệp định thương mại tự do giữa nước đầu tư và nước thu hút đầu tư cũng là những nhân tố thúc đẩy FDI song phương ở Đông Á Cũng giống như đối với thương mại quốc tế, khoảng cách địa lý là một nhân tố quy định quan trọng đối với các dòng FDI song phương ở khu vực Xuất khẩu và FDI bổ sung cho nhau; xuất khẩu càng nhiều sẽ thúc đẩy dòng FDI chảy vào Điều này cho thấy có
một sự phân công theo chiều dọc và chia sẻ sản xuất (fracmentation of production) giữa các nền kinh tế châu Á GDP bình quân đầu người giữa nước
đầu tư và nước thu hút đầu tư càng chênh lệch, thì dòng FDI càng nhỏ - chứng
tỏ FDI ở khu vực chịu ảnh hưởng lớn của các xí nghiệp chủ trương liên kết theo chiều dọc trong khu vực.4
Các mạng sản xuất đã kết nối hệ thống xí nghiệp giữa các quốc gia và trở thành một nhân tố quan trọng liên kết kinh tế Đông Á Mạng lưới này được thực hiện dưới sự đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản và dựa trên cơ sở của sự phân công lao động nhiều tầng Theo đó, quá trình sản xuất một sản phẩm được phân chia thành các quá trình nhỏ và phân bổ chúng ở các nước có mức độ phát triển và thu nhập khác nhau dựa trên lợi thế so sánh và năng lực công nghệ Đây gọi là phân công lao động theo quá trình sản xuất Các mạng lưới sản xuất khu vực này đã nối các nền kinh tế khác nhau của châu Á, liên kết, đan xen chúng với nhau Điều này dẫn đến sự phát triển của thương mại ngành dọc quy mô lớn đối với phụ tùng, phụ kiện, bán thành phẩm và sản
4
Rajan, Ramkishen S (2007), “Chapter 13: Intra-Developing Asia FDI Flows: Magnitudes, Trends, and Determinants,” in Hadi Soesastro edited (2007), “Deepening Economic Integration in East Asia,” ERIA Research Project Report 2007, No 1-2
Trang 24phẩm chế tạo cuối cùng Quan hệ thương mại này tồn tại ngay cả giữa những nước có khoảng cách địa lý lớn Tác động quan trọng của cuộc cách mạng này
là nó thúc đẩy sự tham gia thương mại của khu vực theo cách nó phản ánh các giai đoạn phát triển công nghiệp của các nền kinh tế riêng lẻ Mạng lưới sản xuất khu vực đã tạo ra tam giác thương mại Nhật Bản - Đông Á - Bắc Mỹ Trong tam giác này, Nhật Bản có vai trò là người cung cấp vốn và kỹ thuật cho các nước; các nước Đông Á xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng tới Bắc Mỹ; còn Bắc Mỹ là thị trường tiêu thụ hàng xuất khẩu quan trọng của cả Nhật Bản
Sự khác biệt về tiền lương giữa các nước là lực lượng dẫn dắt thúc đẩy
cơ chế chia sẻ sản xuất ở Đông Á Dòng vốn và công nghệ giữa các nước đã
bổ sung cho sự chia sẻ sản xuất và cho phép các công ty mở rộng thuê ngoài
(out-sourcing) toàn cầu và mở rộng mạng lưới sản xuất khu vực Giảm chi phí
thương mại làm tăng động cơ mở rộng hơn nữa dòng thương mại, vốn và ý tưởng xuyên biên giới Điều này ngược hẳn với những gì thế giới chứng kiến trong những năm 1960, 1970 và đầu những năm 1980 khi dòng thương mại và vốn giữa Mỹ và châu Âu thể nghiệm sự thay thế chứ không phải là bổ sung Bên cạnh lợi ích về thu nhập quốc dân, các nước còn chịu hiệu ứng tái phân
Trang 25phối thu nhập bên trong khi mà thuê ngoài toàn cầu có xu thế làm tăng bất bình đẳng thu nhập trong mỗi nước Hầu hết Đông Á đã tránh được sự gia tăng bất bình đẳng tiền lương bằng cách kết nối tăng trưởng nhu cầu lao động
kỹ năng do toàn cầu hóa với tăng trưởng cung ứng lao động có kỹ năng nhờ đầu tư vào giáo dục bởi cả khu vực hộ gia đình lẫn chính phủ
Về mặt lý thuyết, thương mại đầu vào cho phép giảm hàng rào thương mại và giảm chi phí sản xuất và cuối cùng là tăng đáng kể tổng dòng thương mại.7, 8 Và thực tế ở Đông Á cho thấy, sự gần gũi về mặt địa lý giữa các nước cũng như sự cải thiện cơ sở hạ tầng đã góp phần đáng kể giảm chi phí vận tải; trong khi đó, tự do hóa thương mại và các cơ chế hoàn thuế đã giúp giảm đáng kể chi phí thuế quan Chi phí thương mại ở Đông Á giảm mạnh còn nhờ các mạng lưới phân phối hoặc các nhà trung gian tại các trung tâm kinh doanh quốc tế trong khu vực Trong thương mại nội vùng ở Đông Á, thương mại bán thành phẩm - dòng thương mại có xu hướng nhạy cảm đặc biệt với sự thay đổi chi phí thương mại - chiếm tỷ lệ lớn Cắt giảm nhỏ trong chi phí thương mại
có thể tác động lớn đến thương mại bởi vì sự cắt giảm này có xu hướng làm tăng thương mại trong các chuỗi cung ứng kết nối các nước lại với nhau Tuy nhiên, sự chia sẻ sản xuất có thể diễn ra giữa nhiều nước Trong chế tạo hàng dệt may chẳng hạn, các công ty đa quốc gia có thể sử dụng cúc áo của một nước, vải của nước thứ hai và cắt may ở một nước thứ ba Ở đâu mạng sản xuất dày đặc, ở đó thuê ngoài toàn cầu có thể đặc biệt nhạy cảm với các hàng rào thuế quan xuyên biên giới, bởi vì trong một chuỗi cung ứng, các đầu vào
có thể phải chuyển dịch qua nhiều biên giới
Trang 26Giảm thuế quan và chi phí vận tải ở Đông Á đã đóng vai trò đáng kể trong việc mở rộng mạng sản xuất khu vực Tuy vậy, không chỉ có thuế nhập khẩu và chi phí vận tải cản trở thương mại; cả chi phí tìm kiếm và thông tin cao cũng hạn chế thương mại Nhiều công ty ở Đông Á cố gắng giảm các chi phí này bằng cách sử dụng những trung gian nằm ở các trung tâm kinh doanh quốc tế trong khu vực Những trung gian này hoạt động như các nhà môi giới giữa người bán và người mua, giúp cho các nhà sản xuất quản lý được toàn bộ chuỗi cung ứng nhiều giai đoạn Ví dụ, các nhà xuất khẩu Trung Quốc có xu hướng thực hiện xuất khẩu qua Hong Kong mà một trong những lý do là để tận dụng lợi thế trung tâm vận chuyển Các mạng lưới những nhà phân phối ở Hong Kong và Singapore cũng như các thành phố lớn khác của khu vực như Thượng Hải là một yếu tố quan trọng thúc đẩy liên kết kinh tế Đông Á và tạo cho khu vực một lợi thế hơn hẳn so với những khu vực phát triển khác như châu Phi và Mỹ Latinh - nơi thiếu các trung tâm kinh doanh quốc tế
Tính kinh tế theo quy mô và vị trí đặt cơ sở sản xuất cũng là những nhân
tố thúc đẩy các mạng sản xuất hoạt động ở Đông Á Vì chi phí vận chuyển đầu vào hay đầu ra phụ thuộc vào chi phí vận tải và những hàng rào thương mại, nên các nhà cung ứng đầu vào và các nhà sản xuất đầu ra có động cơ lựa chọn một nơi chung duy nhất để sản xuất phục vụ cho thị trường toàn cầu Tích tụ về mặt địa lý của các hoạt động kinh tế làm tăng tiền lương trong các cụm công nghiệp mới nổi và do đó tăng chi phí sản xuất Điều này khiến cho các công ty lại có nhu cầu chuyển địa điểm sản xuất về nơi có mức lương thấp hơn - thường thấy ở những nơi có mức độ tích tụ ít hơn Kết quả là tạo ra một
cơ cấu sản xuất trung tâm-ngoại vi
Thứ ba, sự kết nối kỹ thuật số và địa lý tốt hơn cũng như sự phát triển
của dịch vụ hỗ trợ - nhờ đầu tư vào hạ tầng (giao thông, viễn thông, v.v ) đã
Trang 27các hoạt động đầu tư và thương mại Điều này giúp cho các cụm công nghiệp chế tạo tập trung và mạng cung ứng trong Đông Á hình thành và phát triển
Thứ tư, tăng trưởng nhanh của Trung Quốc - nền kinh tế cực lớn - cũng
đóng góp cho các mối liên kết kinh tế gần gũi hơn giữa các nước Đông Á Trung Quốc hiện nay đóng một vai trò chủ chốt trong các mạng sản xuất và chuỗi cung ứng này bởi vì gia tăng xuất khẩu của Trung Quốc đòi hỏi nhập khẩu nhiều hơn các nguyên liệu, phụ liệu, phụ tùng công nghiệp và những sản phẩm trung gian khác từ các nền kinh tế láng giềng Gần đây, sự nổi lên của
Ấn Độ được dự báo là còn thúc đẩy hơn nữa mối liên kết kinh tế khu vực Tất
cả những nhân tố này làm cho khu vực Đông Á mở cửa hơn, và liên kết với nhau hơn; và đến lượt nó, mở cửa và hội nhập nhiều hơn tạo ra sự tập trung một cách tự nhiên các hoạt động động đầu tư và thương mại tại khu vực Bắc
Mỹ và châu Âu vẫn là những thị trường quan trọng cho các sản phẩm cuối cùng của Đông Á, song với sự tăng trưởng của các thị trường khu vực, tầm quan trọng của các thị trường bên ngoài sẽ giảm dần đi theo thời gian
Tóm lại, ở Đông Á đã diễn ra một quá trình liên kết kinh tế thực tế
nhưng không chính thức (de facto integration) Các nhà kinh tế và kinh doanh
trong khu vực, nhìn chung, đều nhất trí rằng cần có sự phát triển thể chế để
đảm bảo rằng Đông Á có cả liên kết kinh tế chính thức về pháp lý (de jure integration)
II.1.2 Nhận thức về vai trò của hợp tác khu vực đối với tăng trưởng kinh tế Đông Á
Đã có nhiều học thuyết và công trình phân tích quá trình phát triển của các nền kinh tế Đông Á trong nửa cuối thế kỷ qua.9, 10 Mặc dù các trường
Trang 28phái khác nhau đưa ra các giải thích khác nhau, song họ đã cùng thống nhất với nhau một điểm rằng kinh tế Đông Á đã tăng trưởng nhanh và thay đổi cơ cấu đáng kể trong những thập niên cuối thế kỷ 20 Tuy vậy, có một nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế châu Á chưa được đánh giá đúng mức, đó là sự hợp tác khu vực Thực ra cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về hợp tác kinh tế và khu vực hóa ở châu Á hay Đông Á, song khía cạnh hợp tác kinh tế khu vực ít được coi là một yếu tố quan trọng giải thích cho thành công kinh tế Đông Á, đặc biệt trong bối cảnh so sánh kinh nghiệm Đông Á với các nước đang phát triển khác như Đông và Trung Âu hay Mỹ Latinh và châu Phi Tăng trưởng kinh tế châu Á nổi bật bởi tốc độ tăng trưởng cao ở từng nước riêng lẻ và bởi tính bền vững của sự tăng trưởng này cũng như bởi cách thức mà sự tăng trưởng nhanh này được lan truyền ra toàn khu vực Điều này hàm nghĩa rằng nhân tố khu vực và quốc tế rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế ở châu Á Sự năng động kinh tế châu Á có thể giải thích trên nền của
hai vòng tăng trưởng kinh tế tích cực Thứ nhất, vòng tăng trưởng kinh tế nội
địa, giải thích tại sao sự mở cửa cho đầu tư và thương mại quốc tế dẫn đến tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao bền vững Thứ hai, vòng tăng trưởng khu vực, giải
thích sự lan truyền tăng trưởng kinh tế từ nước này sang nước khác
Vòng nội địa cho thấy rằng cải cách chính sách trong nước được thực hiện ngay từ khi bắt đầu phát triển kinh tế Cải cách chính sách tích cực sẽ dẫn đến tăng mạnh dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bao gồm cả kỹ năng quản lý và công nghệ giúp nâng cao sức cạnh tranh của nền sản xuất trong nước Dòng FDI này có xu thế thúc đẩy thương mại hơn là thay thế thương mại Sự gia tăng thương mại đến lượt nó lại thúc đẩy FDI hơn nữa và thậm chí tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững
9
WB (1993), The East Asian Miracle
Trang 29Kinh nghiệm của các nền kinh tế Đông Á cho thấy FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kinh nghiệm này ngược với thực tiễn của Mỹ Latinh, nơi mà
sự gia tăng các nguồn lực nước ngoài đã dẫn tới gia tăng thất nghiệp và thiếu việc làm Yếu tố chủ chốt giải thích sự khác biệt của hai khu vực trên hoàn toàn không nằm ở nước xuất xứ của các công ty đa quốc gia và hình thái của các công ty này mà nằm ở các chiến lược phát triển khác nhau và sự khác biệt trong môi trường kinh tế nội địa của nước chủ nhà
Mô hình vòng tròn tăng trưởng khu vực gắn liền với sự phân công lao động khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong bối cảnh đàn nhạn bay, mô hình công nghiệp hóa Đông Á Trong quá trình này, FDI và thương mại đóng vai trò quan trọng Ở các nước đầu tư, sự chuyển dịch các ngành công nghiệp đang suy giảm sẽ giải phóng nguồn lực cho các ngành công nghiệp mới nổi, tạo cơ hội nâng cấp cơ cấu công nghiệp Trong các nước tiếp nhận, dòng FDI vào giúp chuyển giao vốn, bí quyết quản lý và công nghệ cần thiết để bắt kịp với các nước công nghiệp Trong khi vòng tăng trưởng tích cực của FDI và quan hệ thương mại diễn ra ở các nước riêng lẻ, một vòng tròn công nghiệp hoá tích cực tồn tại ở cấp độ khu vực
Nguồn FDI trong khi tích cực tác động vào từng nền kinh tế riêng lẻ cũng đồng thời kết nối các nền kinh tế Chính đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản đã dẫn đến hình thành mạng lưới sản xuất khu vực Mạng lưới này hình thành một cơ cấu sản xuất không nhằm phục vụ tiêu dùng thị trường nội địa, mà hướng trực tiếp phục vụ các thị trường châu Âu và Hoa Kỳ Thông qua mạng sản xuất khu vực, các ngành công nghiệp đã trưởng thành của Nhật Bản được chuyển giao tới các nước công nghiệp phát triển kém hơn và hình thành những mối quan hệ sản xuất rất chặt chẽ Trong mạng lưới sản xuất đó, các công ty Nhật Bản chi phối toàn bộ từ việc cung cấp cơ sở vật chất, các
Trang 30trang thiết bị và bán sản phẩm Cơ sở của sự chi phối này chính là lợi thế về trình độ tri thức khoa học của các công ty Nhật Bản
FDI của Nhật Bản khác với đầu tư của Hoa Kỳ và châu Âu về động cơ, hình thức và tác động ảnh hưởng của đầu tư tới các quốc gia chủ nhà Trước hết, nó có xu hướng hướng tới hoạt động thương mại và được thể hiện rất rõ trong các hình thức liên doanh sản xuất và chuyển giao công nghệ mở FDI của Nhật Bản nhằm phát triển kinh tế của các quốc gia chủ nhà và từ đó các nước này lại tác động ngược lại, bổ sung cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản Trong khí đó, mục đích của FDI ở các nước phương Tây chỉ là tìm kiếm lợi nhuận cho các công ty của mình Động cơ đầu tiên của hoạt động kinh doanh Nhật Bản chuyển các ngành công nghiệp của mình ra nước ngoài là nhằm duy trì lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh Động cơ này càng được thúc đẩy mạnh khi bắt đầu có sự tăng giá của đồng Yên vào giữa những năm 1980
Xu hướng tập trung các ngành công nghiệp thâm dụng lao động rất phù hợp với chiến lược của các nền kinh tế Đông Á Trong thập kỷ 1970, đầu tư của Nhật Bản về vốn và kỹ thuật đã góp phần làm xuất hiện thêm các ngành công nghiệp thâm dụng lao động ở các nước công nghiệp mới Đông Á Từ năm 1972 đến 1976, FDI của Nhật Bản đã chiếm tới 71% tổng đầu tư nước ngoài ở Hàn Quốc; 32% mức tăng trưởng của Hàn Quốc là nhờ vào sự đóng góp trực tiếp của FDI Tại Đài Loan, các công ty thương mại của Nhật Bản đã kiểm soát một nửa giá trị xuất khẩu của Đài Loan trong năm 1978 Tất cả các công ty của Nhật Bản đều định hướng vào xuất khẩu và khuyến khích xuất khẩu Cơ chế sản xuất định hướng xuất khẩu đã được thúc đẩy bởi FDI của Nhật Bản và hình thành ở châu Á từ cuối những năm 1970 Các nền kinh tế
Trang 31Đông Á đã đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh nhờ mối quan hệ sản xuất chặt chẽ trong mạng sản xuất khu vực.11
Trong quá trình sản xuất và phát triển, mỗi nước trưởng thành và nâng cao vị thế của mình trong mạng sản xuất xét từ góc độ tạo ra giá trị gia tăng Các công ty điện tử của Singapore và Đài Loan là những điển hình rất thú vị Xuất xứ ban đầu là những công ty tham gia ở công đoạn cuối có giá trị gia tăng thấp nhất trong mạng sản xuất, các công ty như Hon Hai Precision Industry Co (Ltd.), Quanta Corporation và Compal Electronics, Inc đã trở thành những công ty dẫn đầu trong mạng sản xuất khu vực
Về cơ bản, trong quá trình phát triển kinh tế của mình, các nước trải qua một quá trình biến đổi về chi phí so sánh Để duy trì cạnh tranh ở cấp độ trong nước và quốc tế, các công ty sau khi đã trưởng thành trong nền kinh tế nội địa thực hiện chuyển dịch hoạt động sản xuất ra nước ngoài thông qua FDI Kết quả là, một hệ thống phân công lao động công nghiệp phức tạp theo tiểu khu vực hình thành, tạo cơ hội lan truyền công nghiệp hoá toàn khu vực theo mô hình đàn sếu bay Khi các doanh nghiệp của các quốc gia nâng cao được vị thế của mình trong mạng lưới sản xuất, chúng cũng đồng thời làm tăng vị thế tham gia của đất nước mình vào trong quá trình phân công lao động của khu vưc
II.1.3 Những nhu cầu mới từ giữa thập niên 1990
Như trên đã trình bày, hợp tác và liên kết kinh tế ở Đông Á trở nên sôi động từ nửa cuối thập niên 1990 Có một số nhân tố tạo ra sự thay đổi này, đó là: 1) xu hướng mới của tự do hóa thương mại trên thế giới, 2) sự hình thành của NAFTA và sự phát triển của EU, 3) sự thay đổi quan điểm về hợp tác
11
Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2, năm 2004
Trang 32trong khu vực của một số nước lớn; và 4) sự khủng hoảng của mô hình phát triển Đông Á
Theo thống kê của WTO, trong vòng hơn 45 năm từ 1948 đến 1994, GATT ghi nhận có 124 hiệp định thương mại khu vực trong lĩnh vực hàng hóa; nhưng chỉ trong vòng 10 năm từ 1995 đến 2004, WTO đã ghi nhận có tới
130 hiệp định thương mại khu vực mới được thành lập trong cả lĩnh vực hàng hóa lẫn dịch vụ.12 Thống kê này cho thấy tự do hóa thương mại đa phương hạn chế trong khuôn khổ địa lý khu vực trở thành một xu hướng mới của tự
do hóa thương mại Như đã trình bày ở Phần 1 của báo cáo này, khu vực hóa (hay chủ nghĩa khu vực) được xem là một cách tiếp cận của toàn cầu hóa từ sau Chiến tranh Lạnh
Việc hình thành các hiệp định hợp tác khu vực thời gian qua còn có những đặc điểm mới lạ so với các hiệp định từng thành lập sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, đó là: 1) các hiệp định kiểu mới không còn phân biệt trình
độ phát triển kinh tế hay chế độ chính trị để chấp nhận thành viên, 2) các hiệp định có mức độ thể chế hóa rất đa dạng, từ chặt chẽ tới lỏng lẻo, thậm chí không có mấy tính thể chế hóa và chẳng quan tâm gì đến yếu tố địa lý như trường hợp của APEC hay ASEM; và 3) các hiệp định kiểu mới không ngăn cản thành viên phát triển quan hệ thương mại cá nhân với ngoài khối Chính những đặc điểm mới là nhân tố quan trọng thúc đẩy các nền kinh tế trên thế
12
Dẫn lại từ Le, Bo Linh and Doan, Hong Quang (2004), “Globalization, Regional Integration and the Future of East Asian Economic Cooperation,” in Võ, Đại Lược and Đỗ, Hoài Nam edited (2004), Towards East Asian Economic Community, Thế giới Publisher,
Trang 33giới hăng hái tham gia các hiệp định hợp tác khu vực, làm cho số lượng hiệp định tăng rất nhanh trong thời gian qua
Mặt khác, những bế tắc của đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ Vòng Doha thúc đẩy các nước tìm lối đi mới cho tự do hóa thương mại, và đó chính là các hiệp định khu vực và song phương
Sự tiến triển của EU và NAFTA là nhân tố thúc đẩy việc hình thành các hiệp định hợp tác kinh tế khu vực khắp thế giới thời gian qua, từ châu Phi, châu Á tới châu Mỹ Latinh Các nước châu Âu đã ngày càng liên kết chặt chẽ với nhau, tạo ra một thị trường chung, rồi thành một liên minh kinh tế và tiền
tệ với dân số gần 500 triệu người và quy mô kinh tế (GDP danh nghĩa) lên tới gần 19,2 nghìn tỷ đô la Ba nước Bắc Mỹ cũng đã vượt qua mọi trở ngại để thành lập một khu vực thương mại tự do cả hàng hóa lẫn dịch vụ với dân số gần 450 triệu người và quy mô kinh tế lên tới gần 16,8 nghìn tỷ đô la.13 Có một sự nhất trí trong các nhà kinh tế học rằng NAFTA là một nhân tố đem lại
sự thần kỳ kinh tế của Hoa Kỳ trong nửa cuối thập niên 1990 mà Alan Greenspan gọi là “sự thịnh vượng bất thượng”
Có quan điểm cho rằng EU và NAFTA khiến cho các nước ngoài hai khu vực này lo ngại về việc bản thân trở nên gặp khó khăn trong việc thâm nhập hai thị trường khu vực này, nên họ phải tìm cách thành lập các khối của riêng mình Quan điểm này là không có cơ sở bởi vì cả EU và NAFTA đều xúc tiến các quan hệ hợp tác của toàn khối với đối tác ngoài khối như trường hợp EU
13
Theo số liệu năm 2008 của IMF công bố tại World Economic Outlook Database-October 2008
Trang 34xúc tiến ASEM và Khu vực thương mại tự do châu Âu-Địa Trung Hải, hay như trường hợp NAFTA xúc tiến quan hệ với các khu vực thương mại tự do ở Nam Mỹ (Mercosur, Cộng đồng Andes) và cả 3 thành viên của NAFTA đều tham gia APEC Có thể chính sự thèm khát được hưởng những lợi ích to lớn của liên kết kinh tế khu vực giống như các nước tham gia EU và NAFTA là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới các nước khác trên thế giới cũng muốn tham gia vào các hiệp định thương mại khu vực nào đó Rất nhiều nước, nhất
là nước châu Phi và Nam Mỹ tham gia đồng thời nhiều hiệp định
Sự tiến triển của liên kết kinh tế của ASEAN, Nam Á, Đông Á cũng nên được hiểu trong bối cảnh như vậy
Một nguyên nhân quan trọng trực tiếp làm nảy sinh mong muốn hợp tác thể chế và tạo ra bước ngoặt ở Đông Á chính là sự thay đổi quan điểm về hợp tác của các nước trong khu vực, đặc biệt của hai nước lớn trong khu vực vốn
có đối trọng và tầm ảnh hưởng lớn đến phát triển của khu vực là Nhật Bản và Trung Quốc Trung Quốc đã thay đổi, từ chủ nghĩa hoài nghi về toàn cầu hóa
và khu vực hóa sang tích cực hội nhập khu vực Trong khi đó, Nhật Bản thay đổi, từ chỗ quan tâm tới khuôn khổ hợp tác đa phương trong WTO sang tích cực tham gia hợp tác khu vực Ngoài ra, cũng cần kể tới sự thay đổi từ “chính sách hướng Tây” sang “chính sách hướng Đông” của Ấn Độ Phần 3 của báo cáo này sẽ phân tích rõ hơn quan điểm của các nước lớn trong khu vực và trên thế giới về liên kết kinh tế ở Đông Á
Sự thay đổi quan điểm về hợp tác trong khu vực còn thể hiện ở sự bùng
Trang 35nổ của các FTA song phương của các nước Đông Á, trong đó có nhiều FTA song phương giữa hai nước Đông Á với nhau là một nhân tố quan trọng nữa thúc đẩy liên kết kinh tế Đông Á
Phân tích các nguyên nhân thúc đẩy sự tiến triển nhanh của các sáng kiến FTA ở Đông Á, có thể thấy về cơ bản có ba yếu tố cần lưu ý: sự phát triển về chiều sâu của liên kết kinh tế thị trường, tiến bộ của liên kết kinh tế châu Âu và Bắc Mỹ và cuộc khủng hoảng châu Á 1997 Yếu tố cơ bản nằm sau sự ra đời của các sáng kiến FTA là tiến bộ về liên kết và sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế trong khu vực Liên kết kinh tế thị trường đòi hỏi các giải
pháp chính sách hỗ trợ và phát triển hơn nữa, tức là hài hòa (harmonization)
chính sách, quy chế và các chuẩn mực quản lý thương mại và FDI Các nhà lập chính sách ở Đông Á ngày càng ủng hộ quan điểm rằng FTA, nếu được thiết kế rộng mở về quy mô có thể thúc đẩy mở rộng các hoạt động thương mại và đầu tư thông qua việc giảm nhiều hơn nữa các rào cản xuyên biên giới, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư và hài hóa các thủ tục, quy tắc và chuẩn mực Theo cách này, các FTA có thể được xem như là một phần của khuôn khổ chính sách hỗ trợ cho việc phát triển chiều sâu các mạng sản xuất
và chuỗi cung ứng do các công ty đa quốc gia và các công ty Đông Á tạo ra.14Khủng hoảng châu Á nổ ra vào tháng 7 năm 1997 đã làm cho các nước nhận thức rõ hơn về sự cần thiết phải thiết lập các thể chế hợp tác khu vực Trên nền tảng như vậy, ASEAN-9 (không gồm Campuchia) đã nhóm họp cấp cao với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc tại Kuala Lumpur vào ngày
15 tháng 12 năm 1997 Đây được coi là bước quan trọng đầu tiên dẫn đến sự hợp tác ở cấp độ thể chế chính thức tại Đông Á
14
Kawai, Masahiro (2007), sđd
Trang 36Các nhà kinh tế đã nhất trí rằng nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng này là sự rút vốn ồ ạt và sự lây lan Tuy nhiên nguyên nhân sâu hơn mang tính
cơ cấu của khủng hoảng là rất khác nhau, song có một yếu tố chung cho tất cả các nước: các tổ chức tài chính trong nước quản trị thiếu cẩn trọng đã cho vay quá mức đối với các công ty đầu tư vốn vay vào dự án không hiệu quả Hơn nữa, ban đầu cuộc khủng hoảng tiền tệ có vẻ chuyển sang khủng hoảng kinh
tế nói chung do các tác động lẫn nhau của sự sụt giá đồng tiền, suy thoái khu vực tài chính và sự kiệt sức của doanh nghiệp Về cơ bản cuộc khủng hoảng
là kết quả tác động lẫn nhau giữa các lực lượng toàn cầu hóa tài chính và sự yếu kém về cơ cấu của nền kinh tế nội địa, dẫn tới những mâu thuẫn chính sách nguy hiểm Mâu thuẫn chính sách thứ nhất là lợi dụng vốn ngắn hạn nước ngoài để tài trợ cho đầu tư dài hạn trong nước mà thiếu sự quản lý hiệu quả dòng vốn đó Mâu thuẫn chính sách thứ hai là chính sách tiền tệ lấy ổn định tỷ giá hối đoái, chứ không phải ổn định giá cả, làm mục tiêu và chính sách tự do hóa tài khoản vốn Hai cặp này tạo ra những bất chắc trong kinh tế
vĩ mô, cuối cùng góp phần gây ra khủng hoảng Ngoài ra, nó còn kích thích vay vốn ngắn hạn nước ngoài Mâu thuẫn chính sách thứ ba là tự do hóa (thả lỏng) khu vực tài chính mà không tăng cường giám sát tài chính Mâu thuẫn chính sách thứ tư là không giám sát tài chính nhưng lại duy trì các cơ chế bảo hiểm tiền gửi ngầm Cặp chính sách mâu thuẫn thứ năm là tự do hóa tài chính nội địa và tự do hóa tài chính quốc tế mà không nâng cao năng lực quản trị công ty cổ phần Các mâu thuẫn chính sách thứ ba, tư và năm này dẫn tới tình trạng rủi ro đạo đức ở tất cả các bên chủ thể kinh tế có liên quan.15
Với nỗ lực thực hiện cải cách cơ cấu riêng lẻ trong từng nước, hiệu quả dường như chưa được như mong đợi vì nhiều nguyên nhân Sự thực hiện cải
15
Nguyễn Bình Giang chủ biên (2009), “Cải cách kinh tế ở Đông Á thời kỳ 10 năm sau
Trang 37cách kết hợp giữa nhiều nước trong khu vực có thể tạo ra những hiệu quả đáng mong đợi Có vài lợi thế khi các nước liên kết cùng nhau tiến hành cải
cách cơ cấu Thứ nhất, sự kết hợp cải cách cho phép tận dụng các cam kết bên
ngoài đối với nước láng giềng và áp lực lẫn nhau để phá vỡ các nhóm quyền lợi chống đối cải cách vốn đang lớn lên và khá mạnh ở các nước trong khu
vực Thứ hai, Đông Á có nhiều công ty hoạt động xuyên biên giới và nếu các
nước liên kết cải cách có thể cùng khuyến khích các công ty này thực hiện các chuẩn mực tối thiểu hoặc theo đuổi các thực tiễn quản trị doanh nghiệp tốt
nhất Thứ ba, để ngăn ngừa khủng hoảng kiểu tự thực hiện (self-fulfilling) và lây lan (contagion) thì nỗ lực cá nhân của một nước sẽ không đem lại kết quả
Bên cạnh đó, hợp tác khu vực Đông Á còn có thể giúp bảo vệ môi trường hiệu quả và bảo đảm cung ứng lương thực và năng lượng nhờ tận dụng lợi thế của tính bổ sung lẫn nhau của Nhật Bản, NIE và các nền kinh tế khác trong khu vực Sự liên kết Đông Á cũng sẽ làm tăng tính khốc liệt của cạnh tranh và gây tranh chấp thương mại giữa thành viên Mạng lưới hợp tác chặt chẽ là đặc biệt cần thiết để giải quyết các tranh chấp này và thực hiện hợp tác công nghiệp kịp thời và sớm
Những vấn đề này đòi hỏi gia tăng mạnh sự hợp tác ở cấp khu vực Chênh lệch phát triển kinh tế của các nước Đông Á hạn chế tiến bộ hợp tác kinh tế khu vực Tuy nhiên thực tế sự khác biệt và bổ trợ đó làm cho các nền kinh tế khác nhau trong khu vực này cần thiết phải thực hiện trao đổi hơn để tìm kiếm các cách tiếp cận và phương pháp hợp tác có thể phù hợp với đặc trưng địa phương Với cơ cấu kinh tế và tài nguyên cũng như lợi thế so sánh khác nhau, sự hợp tác khu vực có thể tạo ra hiệu ứng bổ trợ rất lớn Nhật Bản
có thế mạnh về vốn và công nghệ, song đã đánh mất sự năng động của tăng trưởng Nước này muốn tận dụng sự năng động của các láng giềng có nền kinh tế trẻ hơn Trung Quốc đang là nền kinh tế năng động nhất thế giới Các
Trang 38nước Đông Nam Á cũng là những trường hợp có cơ cấu phát triển được coi là năng động Sự năng động kết hợp với lợi thế mang tính tích luỹ của Nhật trong vốn công nghệ sẽ tạo ra những bước phát triển vượt bậc không ngờ cho khu vực, nếu chúng được kết hợp đúng cách Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều quốc gia Đông Á đạt được sự hiểu biết chung đó Điều đó có nghĩa rằng có thể thu được lợi ích lẫn nhau chỉ khi hợp tác được thực hiện và
sự hiểu biết này sẽ có một tầm quan trọng to lớn trong việc phát triển tương lai hợp tác
Có không ít lý luận cho rằng khủng hoảng châu Á 1997 cũng là hậu quả của những khuyết điểm của mô hình đàn nhạn bay - mô hình đã đem lại những thành công trong công nghiệp hóa ở Đông Á Có thể thấy vấn đề ở trước hết, là sự phát triển của mạng lưới sản xuất kiểu này đã dẫn đến sự phụ thuộc cao của các nền kinh tế vào vốn và kỹ thuật Nhật Bản Điều này được phản ánh rõ không chỉ bởi các nền kinh tế bị các công ty Nhật Bản chi phối,
mà còn theo khía cạnh là các nền kinh tế rất dễ bị tác động bởi kinh tế Nhật Bản Từ những năm 1990, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu trì trệ và do vậy đầu tàu tăng trưởng của nhiều nền kinh tế châu Á yếu đi Sự suy giảm FDI của Nhật Bản chính là nhân tố tiềm ẩn dẫn đến sự chậm trễ trong tăng trưởng kinh
tế và xuất khẩu của một số nền kinh tế châu Á Điểm yếu tiếp theo của mô hình này là mạng lưới sản xuất khu vực đã làm cho cơ cấu xuất khẩu của một
số nước mang tính đồng nhất Điều này đặc biệt đúng đối với các nước Đông Nam Á Xuất khẩu của bốn nước ASEAN (Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Philippines) giới hạn trong các ngành công nghiệp thâm dụng lao động dưới hình thức phân công lao động theo chiều dọc Cơ cấu xuất khẩu đó làm cho bốn nước ASEAN này dễ bị tổn thương trước sự dao động của giá cả quốc tế Điểm yếu thứ ba của mô hình này nằm ở chỗ việc hướng vào xuất khẩu của
Trang 39vào xuất khẩu Tại phần lớn các nước ASEAN, xuất khẩu chiếm tới 40% GDP Trong khi đó, sự lãnh đạo thiếu nhất quán của Nhật Bản làm cho triển vọng liên kết kinh tế châu Á không chắc chắn Trên thực tế, Nhật Bản cố gắng duy trì sự lãnh đạo trên phương diện sản xuất ở các nước thông qua mạng sản xuất khu vưc, nhưng Nhật Bản không đủ khả năng cung cấp cho các nước một thị trường xuất khẩu ổn định Cùng với tính bảo thủ trong việc chuyển giao công nghệ cho các nước, Nhật Bản không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về khoa học kỹ thuật và thương mại ở các nước Hơn nữa, do phụ thuộc vào thị trường Hoa Kỳ, quan điểm của Nhật Bản trước khủng hoảng châu Á
1997 là có phần lưỡng lự trong việc xây dựng một mô hình liên kết châu Á mạnh hơn Chính vai trò không rõ ràng của Nhật Bản đã tác động đến nền kinh tế châu Á- những nền kinh tế phụ thuộc mạnh vào Nhật Bản
Tóm lại, sự phân công lao động xuất phát từ mạng sản xuất khu vực đã dẫn đến sự phụ thuộc kinh tế của nhiều nước Mặc dù sự phụ thuộc này ít hơn
so với sự phục thuộc của các nước thuộc thế giới thứ ba vào các sản phẩm hàng hoá cơ bản và dầu mỏ, nhưng sự phụ thuộc này cho đến nay vẫn rất dễ
bị tổn thương Liên kết kinh tế khu vực dựa theo mô hình mạng sản xuất khu vực không hoàn thiện bởi nó chỉ dựa trên lĩnh vực sản xuất Mạng sản xuất khu vực làm cho Nhật Bản khó có thể duy trì sự thống trị của mình đối với toàn bộ các nền kinh tế
II.2 Điều kiện để thành lập Cộng đồng Kinh tế Đông Á
Để có thể thành lập được một cộng đồng kinh tế ở châu Á giống như ở châu Âu, Đông Á cần liên kết cả ở 3 phương diện: 1) thương mại-đầu tư-sản
xuất, 2) tài chính-tiền tệ, và 3) cấp cao (summitary integration) Dưới đây,
chúng tôi sẽ phân tích các điều kiện đó
Trang 40II.2.1 Điều kiện liên kết về thương mại-đầu tư-sản xuất
Mặc dù trên cơ sở hợp tác ngày càng rộng khắp và chặt chẽ về thương mại-đầu tư-sản xuất và đã có những tiến triển rất tốt trong liên kết ở phương diện này16, song tình trạng hiện tại của sự liên kết này là trạng thái cùng tồn tại của nhiều FTA.17 Trong khi Nhật Bản đã ký EPA với ASEAN thì đồng thời lại có những EPA song phương với các nước ASEAN riêng rẽ Trung Quốc cũng đã ký FTA với ASEAN trong khi đồng thời có FTA song phương với Thái Lan Hàn Quốc ký FTA với ASEAN với tư cách cả khối, nhưng hiệp định này lại chưa được Thái Lan thông qua Giữa ASEAN và Ấn Độ cũng có tình trạng tương tự
Tình trạng tồn tại đồng thời nhiều FTA với những mô thức khác nhau và lịch trình thực hiện khác nhau có thể là một trở ngại đối với việc hình thành
Cộng đồng Kinh tế Đông Á Thứ nhất, các FTA này làm cho quan hệ thương
mại giữa các nước trong khu vực trở nên rất phức tạp
Thứ hai, các FTA này lại có những quy tắc xuất xứ hàng hóa không đồng
nhất Thủ tục hải quan giữa ASEAN và các nước Đông Á khác không giống nhau và ngay cả trong ASEAN thì các nước cũng đang phải nỗ lực hài hòa thủ tục này