CHƯƠNG I: Tổng quan về tình hình phát triển Ngành cơ khí Thế giới và Việt Nam 1.1- Ngành công nghiệp cơ khí chế tạo thế giới Trong nền kinh tế của mỗi nước, ngành công nghiệp cơ khí c
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM
BÁO CÁO ĐỀ TÀI KHCN
NĂM 2010
Tên đề tài: “Tổng hợp, đánh giá tình hình phát triển ngành cơ khí
Việt Nam giai đoạn 2003 đến 2010, đề xuất các giải pháp thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí đến năm 2020 theo nội dung quyết định 186/TTg”
Mã số: 22410RD
Đơn vị thực hiện HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM Ks Đào Phan Long Chủ nhiệm đề tài
8349
Năm 2010
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG
HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM
BÁO CÁO ĐỀ TÀI KHCN
NĂM 2010
Tên đề tài: “Tổng hợp, đánh giá tình hình phát triển ngành cơ khí
Việt Nam giai đoạn 2003 đến 2010, đề xuất các giải pháp thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí đến năm 2020 theo nội dung quyết định 186/TTg”
Mã số: 22410RD
Đơn vị thực hiện: HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP CƠ KHÍ VIỆT NAM
Ban Chủ nhiệm đề tài
nhiệm Phó Chủ tịch - Tổng thư ký VAMI
TS Đỗ Văn Vũ Ủy viên Tổng giám đốc Viên IMI
TS.Lê Minh Đức Ủy viên TS Trưởng Ban KHCN, Tập
đoàn VINASHIN
TS Tạ Ngọc Hải Ủy viên Trưởng ban Cơ khí TKV
KS.Trần Văn Quang Ủy viên Tổng giám đốc Cty CP chế tạo
TB điện KS.Nguyễn Văn Vũ Ủy viên Phó TGĐ VEAM
KS.Nguyễn Văn Thành Ủy viên Phó Tổng giám đốc TCTy MIE KS.Đào Xuân Minh Ủy viên T.P Viện nghiên cứu chiến lược -
BCT
KS Đinh Việt Phương Ủy viên Phó Tổng Giám đốc TCty
Công nghiệp Ô tô VN
KS Trịnh Nam Hải Ủy viên Phó Tổng giám đốc TCTy Cơ khí xây
dựng Nhóm chuyên viên VPHH Ủy viên
Trang 3MỤC LỤC
Đặt vấn đề 5
CHƯƠNG I: Tổng quan về tình hình phát triển Ngành cơ khí Thế giới và Việt Nam 7
1.1- Ngành công nghiệp cơ khí chế tạo thế giới 7
1.1.1 Công nghệ gia công chế tạo 7
1.1.2- Vật liệu chế tạo 9
1.1.3- Những xu hướng phát triển trong ngành cơ khí chế tạo của thế giới đến năm 203011 1.2- Thực trạng chung về cơ khí chế tạo ở Việt Nam đến 2009 15
1.2.1 Số lượng cơ sở công nghiệp 15
1.2.2 Lực lượng lao động công nghiệp 15
1.2.3 Kết quả hoạt động công nghiệp 15
1.3- Tình trạng thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư chiều sâu của từng ngành hàng, thiết kế, thiết bị, trình độ công nghệ, đào tạo nhân lực 19
1.4- Tình hình xuất, nhập khẩu công nghệ, thiết bị toàn ngành cơ khí 27
1.4.1.Động thái tăng trưởng giá trị xuất khẩu máy, thiết bị và cơ cấu 27
1.4.2- Động thái tăng trưởng giá trị nhập khẩu máy và thiết bị 28
1.5- Đánh giá chung: mạnh, yếu của Cơ khí Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 29
CHƯƠNG II: Tổng hợp thực trạng và đánh giá tình hình thực hiện phát triển 08 chuyên ngành và nhóm sản phẩm cơ khí quan trọng, xác định theo quyết định 186/TTg về định hướng chiến lược phát triển của các nhóm sản phẩm, các chính sách và giải pháp hỗ trợ ngành cơ khí phát triển căn cứ theo quy hoạch phát triển của chính phủ .36
2.1- Thực trạng ngành cơ khí qua xem xét chủ yếu ở 08 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm theo QĐ186 36
2.1.1- Chế tạo thiết bị đồng bộ 36
2.1.2/2.1.3- Máy động lực và Cơ khí phục vụ nông – lâm – ngư nghiệp và công nghiệp chế biến 37
2.1.4 Máy công cụ và dụng cụ công nghiệp 42
2.1.5- Cơ khí xây dựng 44
2.1.6- Cơ khí đóng tàu thủy 45
2.1.7- Thiết bị kỹ thuật điện 48
2.1.8 Cơ khí lắp ráp ô tô – Cơ khí giao thông vận tải 49
2.2 - Tình hình xây dựng các quy hoạch phân ngành: 51
2.3- Đánh giá các chỉ tiêu đề ra trong quy hoạch và kết quả thực hiện 51
2.3.1- Thiết bị toàn bộ, 52
2.3.2/3 – Máy động lực và Cơ khí phục vụ nông – lâm – ngư nghiệp và công nghiệp chế biến 53
2.3.4- Máy công cụ 53
2.3.5- Cơ khí xây dựng 55
2.3.6- Cơ khí đóng tàu thủy 55
2.3.7- Thiết bị kỹ thuật điện – điện tử 57
2.3.8- Cơ khí ô tô – Cơ khí giao thông vận tải 58
2.4- Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách và giải pháp hỗ trợ ngành cơ khí phát triển theo Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg 59
2.4.1- Chính sách tạo vốn: 59
2.4.2- Chính sách thuế: 60
2.4.3- Chính sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển: 60
2.4.4- Chính sách thị trường: 61
2.4.5- Chính sách đào tạo nguồn nhân lực: 61
CHƯƠNG III: Đề xuất các giải pháp thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí đến năm 2020 theo nội dung quyết định 186/TTg 64
NHẬN THỨC CHUNG 64
Trang 4MỘT SỐ Ý KIẾN TƯ VẤN VÀ KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHẦN PHỤ LỤC 78
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU Đặt vấn đề
1 Cơ sở và luận cứ của đề tài
Năm 2010 là năm nước ta có nhiều sự kiện trọng đại và là năm chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng, y tế, giáo dục… đều có những tổng kết, đánh giá thành tựu xây dựng, phát triển, ưu, khuyết sau nửa chặng đường 10 năm thực hiện sự nghiệp CNH – HĐH đất nước như mục tiêu của Đảng cộng sản Việt Nam
đã khởi xướng và lãnh đạo Đối với Ngành Cơ khí Việt Nam - một trong những
lĩnh vực công nghiệp quan trọng trong tiến trình thực hiện CNH – cũng cần được xem xét và đánh gía thực trạng hiện tại đang như thế nào? và hướng phát triển trong 10 năm tiếp đến 2020 sẽ cần phải đạt được năng lực, trình độ đến đâu để
tương xứng với vị thế của một nước công nghiệp? Chính vì vậy nên Hiệp hội
Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam với trách nhiệm của mình và thực hiện nhiệm
vụ Bộ Công Thương giao thực hiện đề tài trên
2 Nhiệm vụ được giao
Chúng ta đã chứng kiến sự thăng trầm của ngành Cơ khí nước nhà qua nhiều thời kỳ xây dựng đất nước kể từ 1975 đến 2000 Giờ đây chúng ta có thể khẳng định: Kể từ ngày lập nước đến nay, chưa khi nào ngành Cơ khí lại được Đảng và Nhà nước có những quyết định quan trọng khẳng định và thể hiện quyết tâm xây dựng phát triển công nghiệp cơ khí để thực hiện CNH-HĐH đất nước thắng lợi như những năm vừa qua Đây là các yếu tố rất quyết định để tạo ra cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp cơ khí Việt Nam trong thời kỳ xây dựng một nước Việt Nam độc lập đủ khả năng tham gia hội nhập kinh tế, văn hóa, xã hội với thế giới đầy biến động cuối TK 20 sang TK 21 Trong quyết định 186/2002/QĐ-TTg ngày 26/12/2002 của Thủ Tướng Chính phủ đã khẳng định
quan điểm phát triển cơ khí là: “Cơ khí là một trong những ngành công nghiệp
nền tảng, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng của đất nước
Tập trung phát triển ngành cơ khí một cách có hiệu quả, bền vững trên
cơ sở phát huy mọi nguồn lực trong nước, kết hợp với nguồn lực bên ngoài Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển ngành cơ khí có tổ chức, phân công hợp tác hợp lý, đồng thời tiếp tục đổi mới, sắp xếp phát triển
và củng cố doanh nghiệp nhà nước về cơ khí đủ mạnh để giữ vai trò nòng cốt,
là lực lượng chủ lực của ngành
Tập trung phát triển một số chuyên ngành, sản phẩm cơ khí trọng điểm, nhằm khai thác, phát huy tốt nhất tiềm năng (tài nguyên, nguồn nhân lực) để đáp ứng yêu cầu cơ bản của công cuộc phát triển đất nước
Tăng cường năng lực tự nghiên cứu, chế tạo, đồng thời đẩy mạnh việc tiếp thụ, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến nhằm đạt trình độ trung bình tiên tiến của châu Á, tạo thêm nhiều sản phẩm cơ khí có khả năng cạnh tranh cao Nâng cao khả năng chuyên môn hóa và hợp tác hóa, nâng cao năng lực
Trang 6của ngành cơ khí, tạo tiền đề phát triển các ngành công nghiệp khác của đất nước
Phấn đấu đến năm 2010 ngành cơ khí đáp ứng 45 – 50% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước, trong đó xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng”
Tiếp đó, Bộ Chính trị Trung Ương Đảng lại có kết luận vào ngày 17 tháng
10 năm 2003 tại kết luận 25/KL/TW Bộ Chính trị đã có ý kiến: “Phải coi cơ khí
là một ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo độc lập tự chủ về kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng, góp phần nâng cao đời sống nhân dân” Từ những kết luận và quan điểm chỉ
đạo của Đảng, Nhà nước, Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam thấy cần nghiêm túc xem xét đánh giá những mặt được và chưa được của ngành cơ khí trong 10 năm qua để đề xuất các giải pháp nhằm tư vấn giúp Chính phủ hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển ngành cơ khí, góp phần phát triển sản xuất trong nước, giảm nhập siêu
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Xây dựng, gửi, thu thập phiếu khảo sát đến các doanh nghiệp, tổng hợp tình hình phát triển ngành cơ khí Việt Nam giai đoạn 2003-2009 (đầu tư phát triển, năng lực công nghệ, thiết bị, đào tạo nhân lực, đánh giá chất lượng sản phẩm cơ khí và kết quả đạt được so với mục tiêu định hướng), chủ yếu là 08 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm:
3.2 Khảo sát tại chỗ một số cơ sở điển hình;
3.3 Lập báo cáo tổng hợp;
3.4 Đề xuất các giải pháp thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí đến năm 2020 theo nội dung quyết định 186/2002/QĐ-TTg ngày 26 /12/2002 của Thủ Tướng Chính phủ
3.5 Lấy ý kiến chuyên gia về báo cáo đánh giá và đề xuất giải pháp
4 Các cơ quan và chuyên gia tham gia nội dung đề tài
5 Đề tài tập trung đánh gía 08 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm nêu trong
- Cơ khí đóng tàu thủy
- Thiết bị kỹ thuật điện - điện tử,
- Cơ khí ôtô - cơ khí giao thông vận tải
Trang 7CHƯƠNG I: Tổng quan về tình hình phát triển Ngành cơ khí Thế
giới và Việt Nam
1.1- Ngành công nghiệp cơ khí chế tạo thế giới
Trong nền kinh tế của mỗi nước, ngành công nghiệp cơ khí chế tạo đóng vai trò quan trọng, góp phần làm thay đổi diện mạo mỗi nước và thế giới, với trên
20 triệu doanh nghiệp đang hoạt động trên các châu lục, chiếm tới 28% số lượng việc làm và đóng góp 25% giá trị tổng sản phẩm của thế giới KH&CN (Khoa học và công nghệ) cơ khí chế tạo thế giới trong thế kỷ XX đã có những bước phát triển vượt bậc nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại như: Công nghệ thông tin, vật liệu mới, tự động hoá Sau đây là tổng hợp một số thành tựu chính của ngành cơ khí chế tạo thế giới trong thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI và xu hướng phát triển; Những xu hướng này sẽ trở nên phổ biến trong công nghiệp cơ khí chế tạo đến năm 2030
Một số thành tựu của công nghiệp cơ khí toàn cầu:
1.1.1 Công nghệ gia công chế tạo
Sự đổi mới liên tục của CAD/CAM đã giúp cho các nhà chế tạo tiết kiệm
về tài chính, thời gian, nguồn lực, vì CAD và CAM đều là những phương pháp dựa vào máy tính để mã hoá dữ liệu hình học, nên tạo khả năng cho các quy trình thiết kế và chế tạo được tích hợp cao độ Hệ CAD tất nhiên không hiểu được các khái niệm của thế giới thực, chẳng hạn như bản chất hay chức năng của đối tượng được thiết kế Hệ CAD thi hành chức năng của mình nhờ khả năng mã hoá các khái niệm hình học Do vậy, quá trình thiết kế dựa vào CAD liên quan đến việc chuyển ý tưởng của người thiết kế thành mô hình hình học Các nhược điểm khác của CAD đang được khắc phục nhờ R&D trong lĩnh vực hệ chuyên gia Lĩnh vực này được hình thành từ các nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo (Actifial Intelligence- AI) Một ví dụ về hệ chuyên gia bao hàm việc kết hợp thông tin về bản chất của vật liệu, trọng lượng, ứng lực, độ bền, độ dẻo vào phần mềm CAD Nhờ tích hợp được các dữ liệu đó và những dữ liệu khác vào phần mềm nên hệ CAD có thể biết được những gì mà người kỹ sư biết khi người đó tạo ra một bản vẽ thiết kế Sau đó, CAD có thể bắt chước cách nghĩ của người kỹ sư và thực hiện công việc thiết kế Do công nghệ CAD/CAM ngày càng hoàn thiện nên đã tạo cơ sở phát triển các công nghệ gia công như:
Công nghệ tạo nguyên mẫu, đúc và cán nhanh: Ngoài việc tăng cường các
phương pháp gia công truyền thống, công nghệ tạo nguyên mẫu nhanh đang nổi lên, đem lại cuộc cách mạng cho những khái niệm đang diễn ra, từ mô hình máy tính đến chi tiết nguyên mẫu đã hoàn tất Các thiết bị tạo nguyên mẫu nhanh in hoặc tạo dựng các chi tiết 3D (3 chiều) trực tiếp từ mô hình lập thể 3D CAD bằng các vật liệu polyme Có 2 công nghệ thường dùng là in lito lập thể - SLA (Stereo Lithography) và kết tủa Công nghệ SLA sử dụng tia laser để kích hoạt quá trình lưu hoá nhựa epoxy trong các lớp mỏng được xác định chính xác để tạo nên chi tiết Công nghệ kết tủa sử dụng các kim phun nhỏ để phủ các lớp mỏng polyme
Trang 8dẻo nóng chảy, tạo nên chi tiết Nhờ trực tiếp chế tạo ra các chi tiết từ những file
dữ liệu CAD, công nghệ tạo nguyên mẫu nhanh giúp giảm được rất nhiều thời gian và chi phí liên quan tới việc chế tạo các mô hình nguyên mẫu để hiển thị các thiết kế và kiểm tra mức độ phù hợp, hình dạng và chức năng
Công nghệ tạo nguyên mẫu nhanh với chi phí thấp mở đường cho các công nghệ đúc polyme và các kim loại mà nếu kết hợp với các công đoạn gia công hoàn tất thì sẽ đem lại triển vọng giảm được rất nhiều thời gian và chi phí cho một số chi tiết máy
Công nghệ chế tạo điện hoá (Electrochemical Fabrication - EFAB): EFAB
là một công nghệ chế tạo các chi tiết không cần khuôn đúc Công nghệ này có thể dùng để chế tạo các chi tiết kim loại vi mô lập thể, có hình dạng phức tạp, mà các công nghệ khác không thể thực hiện được, chẳng hạn như công nghệ gia công bằng tia lửa điện, công nghệ laser, công nghệ chế tạo vi mạch Quy trình EFAB
tự động chế tạo các chi tiết kim loại bằng cách mạ điện để hình thành nên rất nhiều lớp độc lập, theo một mẫu xác định, rồi kết hợp các lớp đó với nhau để tạo
ra chi tiết cần thiết Quy trình này cũng tương tự như công nghệ tạo nguyên mẫu nhanh, chẳng hạn như công nghệ in litô lập thể, dựa trên cơ sở xếp chồng nhiều lớp đã được lập mẫu từ trước để tạo ra sản phẩm Quy trình EFAB được thiết kế
để kết hợp những ưu điểm của các công nghệ gia công truyền thống với những ưu điểm của công nghệ chế tạo vi mạch bán dẫn Với các công nghệ gia công chính xác, chẳng hạn như laser hoặc gia công bằng tia lửa điện, có thể gia công một loạt các chi tiết một cách nhanh chóng và đạt hiệu quả về chi phí nhờ một máy công
tử nhỏ hơn 0,001 inch, độ dung sai dưới 0,0001 inch) EFAB kết hợp được các đặc tính về tốc độ cao, dễ sử dụng và linh hoạt của máy công cụ với các đặc tính
về độ chính xác và khả năng mở rộng cấp độ của công nghệ chế tạo vi mạch bán dẫn
Công nghệ gia công cắt gọt vi mô tốc độ cao (Micro-Tooling): Có nhiều
lợi ích khi sử dụng gia công tốc độ cao - HSM (High Speed Machining) với các nguyên công cắt gọt vi mô Hiện chưa có định nghĩa thống nhất hoặc các tham số tuyệt đối về HSM nhưng trong thực tế người ta thường gia công với tốc độ trục chính là 25.000 vòng/phút hoặc cao hơn
Công nghệ gia công bằng tia lửa điện: Gia công bằng tia lửa điện EMD
(Electrical Discharge Machining) có thể được ứng dụng để cắt các hình dạng khác nhau, đặc biệt là các vật liệu cứng, chẳng hạn như thép dụng cụ Quá trình gia công bằng EMD như sau: Tạo ra một loạt tia lửa điện có tốc độ cao giữa dụng
cụ (điện cực), phôi và chất lỏng điện phân; Phôi được nhúng chìm trong chất lỏng
Trang 9Gia công bằng tia nước: Công nghệ này được ứng dụng để thay thế các
công nghệ cắt bằng cơ khí thông thường, cũng như thay thế cho công nghệ laser, plasma và ôxy Hệ thống tạo tia nước bao gồm một số máy bơm chuyên dụng và
áp suất nước được gia cường lên hơn 3.400 Atm Tiếp đó nó được nén qua kim phun bằng kim loại hoặc saphire để tạo ra tia nước có đường kính 2 mm và đạt tới tốc độ cao hơn nhiều lần so với tốc độ âm thanh Đối với những vật liệu quá cứng, có thể bổ sung thêm bột mài để tăng cường tác dụng cắt Ứng dụng công nghệ gia công bằng tia nước có thể giảm hoặc loại bỏ những loại phế thải nhất định, bao gồm chất lỏng gia công, nước thải bị ô nhiễm, tro, xỉ
1.1.2- Vật liệu chế tạo
Trong ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, có 3 nhóm vật liệu có tính truyền thống, đó là vật liệu kim loại, vật liệu hữu cơ polyme và vật liệu vô cơ ceramic Một loại vật liệu mới khác - vật liệu compozit đang được ưu tiên phát triển Compozit chính là sự kết hợp nhân tạo của hai hoặc ba loại vật liệu cơ bản nói trên
Vật liệu kim loại, trước hết là thép, vẫn giữ vai trò then chốt trong ngành công nghiệp chế tạo Trong những thập kỷ gần đây công nghệ vật liệu đang đi vào nghiên cứu và sử dụng các loại thép có chất lượng cao như thép hợp kim thấp
độ bền cao, thép hợp kim hoá vi lượng, thép nitơ, thép kết cấu siêu bền Bên cạnh
đó, nhôm cũng đóng vai trò không nhỏ trong ngành công nghiệp chế tạo Hợp kim nhôm có độ bền cao, chống ăn mòn tốt, đã trở thành loại vật liệu thích hợp trong ngành công nghiệp chế tạo ô tô, máy bay, tàu thuỷ
Vật liệu polyme, có nhiều ưu điểm như tính dẻo cao, tính ổn định hoá học cao trong nhiều môi trường cùng với khả năng dễ tạo hình và gia công nếu có, phạm vi ứng dụng rộng Tuy nhiên, polyme là vật liệu kết cấu nên có những hạn chế vì độ bền chưa cao, khả năng chịu nhiệt thấp, tuổi thọ ngắn
Vật liệu gốm thường, chỉ sử dụng giới hạn trong nhóm vật liệu chịu lửa, vật liệu cắt gọt nhưng hiện người ta đang phát triển vật liệu gốm kết cấu Các loại động cơ chế tạo từ gốm kết cấu hệ cacbit đã được nghiên cứu chế thử và mở ra kỷ nguyên mới cho việc sử dụng động cơ chạy bằng nhiên liệu hydro có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường Gốm thuỷ tinh cũng là một loại gốm kết cấu đầy tiềm năng
Trang 10Vật liệu compozit, về thực chất là một kiểu lai, giữa hai hoặc nhiều loại vật liệu, sao cho tính chất của chúng bổ sung cho nhau Đối với compozit kết cấu thì yêu cầu về độ bền cao, tính dẻo tốt là những yêu cầu hàng đầu Việc kiểm soát được quá trình xảy ra khi chế tạo compozit có tầm quan trọng đặc biệt để phát triển loại vật liệu này
Vật liệu chế tạo dụng cụ cắt gọt
Vật liệu sử dụng phổ biến nhất để chế tạo dụng cụ cắt gọt có thành phần là carbide phủ (58%), cermet (28%) và carbide cement hoá (14%) Cermet là hạt gốm được khuếch tán vào nền kim loại Vật liệu cermet kết hợp được đặc tính chịu nhiệt độ cao của gốm với độ dai và độ dẻo của carbide Với xu thế vươn tới tốc độ gia công và hoàn tất ngày càng cao, các dụng cụ cắt gọt sử dụng cermet ở Nhật Bản chiếm 72% tổng số dụng cụ cermet của toàn thế giới Các dụng cụ dùng carbide phủ phổ biến nhất có lớp phủ dày 0,5 mm, bao gồm 6-8 micron là TiCN, 2-3 micron là Al2O3 và 0,5 micron TiN ở lớp ngoài cùng Lớp phủ kim c-ương sử dụng kỹ thuật kết tủa hơi hoá học (Chemical Vapor Deposition-CVD) cũng được áp dụng rất phổ biến ở Nhật Bản Đầu dụng cụ DC46 phủ kim cương của Mitsubishi có lớp phủ cement hoá Vấn đề cần khắc phục đối với dụng cụ phủ kim cương là độ bám dính của lớp phủ Các hãng chế tạo đã áp dụng các phương pháp cải thiện khác nhau, ví dụ, đối với việc gia công hợp kim nhôm có hàm lượng silic cao (18%), đòi hỏi lớp kim cương dày tới 10 micron, thì vấn đề
độ bám dính là hết sức quan trọng
Vai trò của khoa học vật liệu cũng không hề thay đổi ở kỷ nguyên thông tin ngày nay, nếu không chế tạo được vật liệu silic có độ tinh khiết đến 99,99999% thì sẽ không có chip máy tính, điện thoại tế bào hoặc mạng cáp quang Những thập kỷ vừa qua, ngành hoá vô cơ đã điều chế được vô số kim loại, hợp kim và gốm, giúp máy bay có thể bay cao hơn và nhanh hơn, giúp ôtô trở nên nhẹ hơn và tiết kiệm nhiên liệu hơn
Ngày nay, một lần nữa khoa học vật liệu lại đang chuẩn bị biến đổi thế giới Không thoả mãn với những nguyên vật liệu khai thác được trong lòng đất, các nhà nghiên cứu đang lao vào khám phá và tạo ra các cấu trúc hoàn toàn mới
Họ thực hiện điều đó bằng cách phá vỡ những bức rào ngăn cách giữa hoá hữu cơ
và hoá vô cơ, điều mà chỉ cách đây ít lâu vẫn bị coi là giả khoa học Science) Những hợp chất vô-hữu cơ của ngày mai sẽ được điều chế để phục vụ đúng nhu cầu theo phương pháp từ dưới đi lên, từ nhỏ đến lớn, tức là ghép những nguyên tử hoặc phân tử với nhau để nhận được những tính chất chính xác theo đúng nhu cầu sử dụng Arden Bemen, một kỹ sư ở trường Đại học Durdue gọi giai đoạn này là buổi bình minh của một kỷ nguyên vật liệu mới, với sự đáp ứng từng nhu cầu sử dụng cụ thể Kỷ nguyên này sẽ ra đời những loại vật liệu mới chưa có trong thiên nhiên Đó sẽ là những chất phun phủ có chứa những hạt gốm
(Pseudo-vô cùng nhỏ, giúp vật liệu có khả năng chống mài mòn, những dược phẩm và chất dẻo mới, là những pin sắt - polyme có điện lượng lớn gấp đôi so với những loại pin chúng ta dùng hiện nay Có thể, chúng ta sẽ có được những tấm kim loại
- compozit để làm vỏ ôtô có khả năng phục hồi lại hình dáng cũ sau khi bị biến dạng bởi những cú va đập Sẽ ra đời những vật liệu compozit nhẹ và dai để tăng
Trang 11công suất của động cơ phản lực Sẽ xuất hiện những vật liệu thông minh, mô phỏng các hệ thống sinh học, có khả năng thích ứng với điều kiện môi trường, bù đắp lượng hao mòn và cảnh báo khi sắp có sự cố Với kỹ thuật và công nghệ nano, hầu hết các vật liệu mà ta muốn có đều có thể sản xuất ra được - đây là nhận định của W Lance Haworth, chuyên gia điều hành hoạt động nghiên cứu vật liệu của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ Hay quan điểm của John Weaver, Trưởng khoa Vật liệu của Trường Đại học Illinois: “ý tưởng đặt ra ở đây là khai thác, tìm hiểu những cơ chế phân tử có được nhờ quá trình tiến hoá của tự nhiên
để sản xuất những vật liệu mới Những vật liệu chúng ta sáng chế và sản xuất ra được từ trước tới nay chỉ giống như phần nhìn thấy được, còn phần rất lớn (chưa nhìn thấy) đang chờ sự phát minh và khám phá, đây chính là lĩnh vực của vật liệu nano”
Những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp đã có những công trình nghiên cứu và đã tạo ra được những vật liệu nano ứng dụng vào trong ngành
cơ khí chế tạo để chế tạo ra các loại rôbôt mini, các dụng cụ y sinh phục vụ công việc chữa bệnh Các vật liệu nano khác được sử dụng trong việc chế tạo các loại máy chính xác, máy siêu chính xác, trong ngành hàng không vũ trụ, trong công nghiệp quốc phòng, trong công nghệ thăm dò và khai thác tài nguyên biển và đại dương
1.1.3- Những xu hướng phát triển trong ngành cơ khí chế tạo của thế giới đến năm 2030
Những năm đầu của thế kỷ XXI, nhân loại được chứng kiến nhiều biến đổi sâu rộng lớn của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại, mà đặc trưng là các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới - công nghệ nano, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không và vũ trụ Các công nghệ này đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị quốc tế, làm thay đổi diện mạo thế giới đương đại Trong sự phát triển vĩ đại đó, ngành công nghiệp cơ khí chế tạo đóng vai trò có tính nền tảng và có sự hiện diện hầu như trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của cộng đồng quốc tế
Chính vì vậy, xu hướng phát triển KH&CN cơ khí chế tạo vẫn được chú trọng và chủ yếu tập trung phát triển một số lĩnh vực sau đây:
Về thiết kế và quy trình gia công chế tạo: Tiếp tục nghiên cứu và nâng
cấp hệ CAD/CAM, trong đó chú trọng phát triển các loại phần mềm ứng dụng, phần mềm thông minh tiện lợi trong giao diện người - máy, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong thiết kế và gia công chế tạo Đến năm 2030, sẽ thay đổi một cách căn bản phương thức thiết kế, các nhà thiết kế chủ yếu làm việc bằng máy tính trực tuyến (On-Line) Thiết kế sản phẩm có sử dụng các vật liệu trí tuệ Thiết
kế và lập kế hoạch chế tạo số và ảo Phương thức thiết kế theo kiểu môdun cho các hệ thống chế tạo liên tục Tập trung hơn vào tự động hoá các dây chuyền chế tạo, các quy trình tiên tiến nhất Phát triển công nghệ gia công ở cấp nano (trong phạm vi 0,1-100 nano) để tạo ra các cấu trúc nano Chế tạo ở cấp phân tử để tạo
Trang 12dựng các hệ thống từ cấp nguyên tử hoặc phân tử Tập trung nghiên cứu để tạo ra các công nghệ sử dụng nhiều tri thức để tiến tới chế tạo ra các loại sản phẩm cơ khí gọn, nhẹ ít tiêu hao vật liệu, năng lượng và thân thiện với môi trường Nghiên cứu phát triển các khái niệm công nghệ gia công mới trên cơ sở hội tụ các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano, công nghệ sinh học Nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống cảm biến trong công nghệ lắp ráp các sản phẩm phức tạp Nghiên cứu phát triển công nghệ tự động mới dựa vào ứng dụng giao diện người - máy thông minh có nhận thức Nghiên cứu các khái niệm rôbôt mới như rôbôt dịch vụ, rôbôt tự thích nghi, rôbôt có nhận thức, các bầy đoàn rôbôt tự quản
Về vật liệu chế tạo: Tiếp tục nghiên cứu để tạo ra tri thức mới về vật liệu
chế tạo chất lượng cao, vật liệu thông minh phục vụ các quy trình chế tạo Nghiên cứu các vật liệu sử dụng nhiều tri thức với các thuộc tính phù hợp, các vật liệu gốm mới như gốm áp điện, gốm sinh học, màng gốm và vật liệu thuỷ tinh (gốm thuỷ tinh, composit gốm - thuỷ tinh và thuỷ tinh dẫn điện) Nghiên cứu việc sắp xếp trật tự trong các khối đồng nhất polyme Tiếp tục nghiên cứu công nghệ in litô với các vật liệu mới, tính ổn định của cấu trúc nano 3D Nghiên cứu sự tích hợp của các mức độ phân tử nano macro trong công nghệ hoá học và các vật liệu gia công công nghiệp Nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp chế tạo các vật liệu nano mới, vật liệu sinh học và vật liệu ghép
Khoa học nano và công nghệ nano: Tiếp tục nghiên cứu khả năng chế tạo
các cấu trúc nano phức tạp và siêu hàm lượng cao Chế tạo các thiết bị nano dưới
20 nm, chế tạo các cấu trúc nano 3D phức hợp và tích hợp đa năng Phát triển các
mô hình tích hợp hàng loạt công nghệ chế tạo nano mới Nghiên cứu các thiết bị cảm biến cấp nano, tổng hợp ống nano đồng nhất, chế tạo dây nano và các bảng nano, phát triển các cấu trúc nano từ nhiều loại vật liệu Nghiên cứu chế tạo các động cơ cỡ nano, máy móc kích cỡ nano
Về công nghệ chế tạo: Phát triển các IMS (hệ thống chế tạo thông minh
không giới hạn -Intelligent Manufacturing Systems) Các IS (hệ thống thông minh -Intelligent System) hứa hẹn rất lớn trong các quy trình chế tạo tự động hoá công nghiệp và các doanh nghiệp trong tương lai Các hệ thống này đang thu hút được sự quan tâm ngày càng tăng của các ngành công nghiệp và đang được ứng dụng vào toàn bộ phạm vi của các hoạt động chế tạo để tạo được sức cạnh tranh toàn cầu Giá trị và tác động của các công nghệ IS còn to lớn hơn so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, góp phần đưa lại kỷ nguyên mới của các
ngành công nghiệp chế tạo IS được định nghĩa là các hệ thống, trong đó mô
phỏng và áp dụng tích cực một số khía cạnh của trí tuệ con người nhằm thực thi nhiệm vụ Hơn thế nữa, IS còn cố gắng nâng cao năng lực như con người để cảm thụ, suy luận và ra quyết định hành động IS tạo khả năng cho các máy móc/thiết
bị dự đoán được các yêu cầu và ứng phó hữu hiệu trong những hoàn cảnh phức tạp, chưa biết trước và chưa thể dự báo trước
Xu hướng của ngành công nghiệp cơ khí chế tạo (tới năm 2028), một lần nữa được khẳng định tại Hội nghị thượng đỉnh về tương lai của ngành cơ khí chế tạo (4/2008) do ASME (Hiệp hội cơ khí chế tạo Mỹ) triệu tập, với trên 120 kỹ sư
Trang 13và các nhà khoa học hàng đầu của 19 quốc gia, đại diện cho khu vực công
thương, hàn lâm và Chính phủ tham gia, để xem xét viễn cảnh của ngành cơ khí
từ nay đến năm 2028 Một trong những kết luận then chốt của Hội nghị nói trên là: công nghệ nano (CNNN) và công nghệ sinh học (CNSH) sẽ là những phát triển công nghệ chủ đạo trong 20 năm tới và sẽ được kết hợp vào tất cả các khía cạnh của công nghệ có ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày của mỗi người
CNNN và CNSH sẽ cung cấp những “chi tiết lắp ráp” để những kỹ sư (cơ khí) tương lai sử dụng nhằm giải quyết những vấn đề thúc ép trong những lĩnh vực phức tạp; Chẳng hạn như y tế, năng lượng, quản lý nước, hàng không, nông nghiệp và môi trường “Các kỹ sư cơ khí chế tạo 20 năm tới sẽ có nhiệm vụ phát triển những công nghệ để giúp cho môi trường toàn cầu sạch hơn, lành mạnh hơn, an toàn hơn và bền vững”
Một khi CNNN và CNSH nằm ở tâm điểm của đổi mới công nghệ, thì cơ hội to lớn nhất của người kỹ sư cơ khí sẽ nằm ở vùng giao nhau của 2 lĩnh vực công nghệ này
Trong số nhiều xu hướng và quan điểm mà Hội nghị trên đưa ra, có 2 kết luận đặc biệt đáng chú ý là: (1) Chương trình đào tạo kỹ sư cơ khí chế tạo cần phải được cấu trúc lại để bao hàm việc thoả mãn những nhu cầu của những người nghèo khó; và (2) Vì toàn cầu hoá làm cho Trái đất trở nên “phẳng”, nên
sự hội tụ của những công nghệ sẽ đem lại sự phục hưng cho các doanh nhân kỹ thuật, thực sự thúc đẩy các hoạt động địa phương, có tính chất phân tán
Một trong những thách thức lớn nhất đặt ra cho các kỹ sư cơ khí chế tạo là phát triển những giải pháp kỹ thuật sản xuất để làm cho thế giới sạch hơn, lành mạnh hơn, an toàn hơn và bền vững Xét ở bình diện toàn cầu, có một thị trường rất lớn để các kỹ sư cơ khí chế tạo tác nghiệp, đó là phục vụ cho những người còn nghèo khó, báo cáo của ASME ước tính rằng hiện có khoảng 4 tỷ người sống
ở mức dưới 2 USD/ngày Tới năm 2030, Trái đất sẽ có thêm khoảng 2 tỷ người, trong số đó 95% là ở những nước đang phát triển và kém phát triển Việc phục
vụ cho lớp người này đòi hỏi phải cấu trúc lại nhiều lĩnh vực mà người kỹ sư chế tạo được đào tạo cần có cách tiếp cận bằng nghiệp vụ của mình Hơn nữa, “Thị trường này không chỉ gồm những người nghèo khó, mà cả những doanh nhân tài giỏi, nhà sáng chế và những người tiêu dùng tiềm năng” Hiện tại, phần lớn các trường kỹ thuật đều không nhằm thỏa mãn những nhu cầu của tầng lớp người nghèo, cho dù nhiều người trong số này sống ở những nước công nghiệp Tuy nhiên, nhu cầu đối với các giải pháp kỹ thuật có khả năng phát triển thích hợp với điều kiện của từng địa phương, dành cho những tầng lớp dân cư nghèo khó là một yếu tố then chốt để phát triển bền vững
Chương trình kỹ sư không biên giới đang thúc đẩy sự phát triển bền vững
và đào tạo các kỹ sư những kỹ năng có giá trị cho tương lai Đó là, tiến hành các nguyên công chế tạo cơ khí ngay tại cơ sở (tại gia đình) “Tới 2028, những tiến
bộ trong công nghệ chế tạo được máy tính hỗ trợ Robot học, CNNN và CNSH sẽ phổ cập hoá công việc thiết kế và chế tạo những cơ cấu mới Người kỹ sư sẽ có khả năng thiết kế những giải pháp cho các vấn đề cụ thể tại địa phương Từng kỹ
sư sẽ có phạm vi rộng lớn hơn để thiết kế và chế tạo những cơ cấu của mình, trên
cơ sở sử dụng những vật liệu và nhân lực nội sinh, tại chỗ Nhân lực kỹ thuật cơ
Trang 14khí sẽ thay đổi, khi đó số lượng kỹ sư cơ khí làm việc tại gia trở nên đông đảo hơn với tư cách là những hãng kỹ thuật thầu phụ (phụ trợ) hoặc những cơ sở gia công độc lập
Xu hướng chế tạo phân tán hiện đã hình thành trong một số hãng công nghiệp trên phạm vi toàn cầu, ASME cho rằng các công nghệ đang nổi trong CAD, vật liệu học, Robottics, CNNN và CNNS sẽ kết hợp với nhau làm biến đổi phương thức làm việc của các kỹ sư Tốc độ của quá trình chế biến và của mạng lưới tăng lên sẽ cho phép người kỹ sư trong tương lai thiết kế ra toàn bộ các sản phẩm với tư cách là một hệ thống, chứ không phải những bộ phận tách rời Điều này sẽ tăng cường năng lực của họ và tạo khả năng hoàn thành ở bất kỳ đâu những thiết kế phức tạp hơn “Trong vòng 20 năm tới, có nhiều khả năng là những nhà “chế tạo tại gia” sẽ có sức hấp dẫn về kinh tế và có thể cung cấp sản phẩm cho bất kỳ ai có nhu cầu ở phạm vi ngoài biên giới quốc gia Các kỹ sư sẽ hoạt động như những nhà tác nghiệp độc lập, tương tác với các đồng nghiệp ở trên khắp thế giới Họ có thể hoàn thành các thiết kế tại gia nhờ các hệ thống CAD tiên tiến hoặc cộng tác với các đồng nghiệp trên toàn cầu ở các thế giới ảo Các kỹ sư cơ khí sẽ có khả năng sử dụng công nghệ chế tạo tại gia để thử nghiệm
mô phỏng nhiều thiết kế của họ Các kỹ sư tương lai sẽ có những công cụ tốt hơn
để tạo dựng sự nghiệp, tăng thu nhập với tư cách là các nhà sáng chế cá nhân, các doanh nghiệp độc lập, hoặc là những nhân viên trong các doanh nghiệp phân tán; Những doanh nghiệp này là nơi thu hút tài năng kỹ thuật của khắp thế giới Chúng thực sự là những mắt xích trong chuỗi sản xuất cơ khí chế tạo có qui mô toàn cầu (Theo Nanowerk, 8/2008, Dịch XM)
Các nước phát triển có nền công nghiệp hiện đại như Nhật Bản và Đài Loan: ngành sản xuất máy công cụ đã được hình thành vả phát triển đã khá lâu và các hãng đều đã có tiếng trên thị trường Các nước này cũng có một thị trường sản xuất các phụ kiện nên sự phát triển ngày càng vững chắc Bên cạnh đó, hầu hết các hãng sản xuất máy công cụ đặc biệt là CNC đều đã có các nhà máy sản xuất hoặc lắp ráp tại Trung Quốc Bên cạnh việc chế tạo máy, các ngành công nghiệp ứng dụng CNC như chế tạo linh kiện, phụ kiện có độ chính xác cao, loạt lớn, khuôn mẫu,… cũng rất phát triển Có thể nhìn thấy Thái Lan là một trong những nước ứng dụng rất tốt chính sách phát triển do Chính phủ đề ra: Trở thành nhà cung cấp phụ tùng cho các ngành công nghiệp xe máy và ôtô Chỉ trong khoảng 10 năm (1980-1990), Thái Lan đã trở thành nhà cung cấp phụ tùng lớn nhất thế giới, chất lượng tốt, giá thành thấp
Dịch vụ kỹ thuật tại các nước rất phát triển : Việc đào tạo rất được chú trọng như ở Singapore Các hãng đều mở các văn phòng buôn bán và kèm dịch
vụ hỗ trợ kỹ thuật tại đây Có một giai đoạn, mọi thiết bị công nghệ cao khi nhập vào Việt Nam đều có các chuyên gia Singapore đến giảng dạy Malaysia cũng là một nước lấy dịch vụ làm mũi nhọn Một công ty bán phần mềm CAD/CAM tại đây có thể kiếm được khoảng 1,5 triệu USD/năm, rất nhiều công ty lấy việc đào tạo làm nguồn thu chính
Xu hướng mới nhất ở châu Âu hiện nay và còn đi xa hơn nữa, đó là các
nhà sản xuất máy công cụ CNC đưa ra thị trường ngày càng nhiều các Trung tâm
Trang 15Tiện-Khoan-Phay hỗn hợp(FMS) Lý do là khoảng 90% các chi tiết tiện đều đòi
hỏi phải được khoan và phay tiếp theo Các chi tiết phức tạp yêu cầu phải tiện, khoan các lỗ, phay các rãnh và các bề mặt, phay răng , phay ren nay được gia công hỗn hợp trên cùng một hay nhiều máy công cụ CNC có tới 5 trục gia công nội suy Điều đó tạo nên độ linh hoạt rất cao và sự tập trung nguyên công cao nhất của thiết bị Các trung tâm Tiện-Khoan-Phay hiện nay có khả năng gia công phong phú một cách khó tin nhưng lại là sự thật sinh động Chúng đảm nhiệm hàng loạt các công nghệ gia công sau đây được tích hợp trên cùng một máy CNC:
đó là các công nghệ gia công: Tiện, Phay, Khoan, Đo lường tự động, Khoan lỗ sâu, Phay-Tiện, Phay trục cam, Phay 5 trục, Phay lăn bánh răng, Xọc răng,v.v Hiện nay, những Trung tâm Tiện-Khoan-Phay cỡ lớn có khả năng gia công các chi tiết với đường kính trên 1000mm, chiều dài nhiều mét và có khối lượng đến 10 tấn
Khủng hoảng kinh tế đã tác động mạnh đến qui mô sản xuất của công nghiệp chế tạo cơ khí nên đầu tư và tiêu dùng giảm rõ rệt, dẫn đến xu thế phân công lao động mới (chuyển dịch sản xuất và thiết bị, công nghệ) đã lại có tác động tích cực với một số nước và lĩnh vực sản xuất cơ khí Với một khoản đầu tư không lớn có thể mua lại được thiết bị hiện đại, tiến tiến để duy trì sản xuất cơ khí Hơn nữa chính khủng hoảng có thể giúp các doanh nghiệp cơ khí tìm ra các khiếm khuyết, buộc phải cơ cấu lại để phát triển hoàn thiện và bền vững hơn
1.2- Thực trạng chung về cơ khí chế tạo ở Việt Nam đến 2009
1.2.1 Số lượng cơ sở công nghiệp
Theo niên giám thống kê mới nhất, cả nước có 7.803 doanh nghiệp cơ khí; Tăng trung bình 22,7%/năm trong giai đoạn 2001-2008 Trong đó có 6 DN lớn có trên 5000 lao động (1 DN đóng tàu và 5 DN sản xuất máy và thiết bị điện); Nếu tính theo qui mô vốn trên 500 tỷ đồng, có 95 DN
1.2.2 Lực lượng lao động công nghiệp
Theo Niên giám Thống kê VN, cả nước có hơn 538.700 lao động thuần cơ khí; Tăng trưởng 14,38%/năm trong giai đoạn 2001-2008 Trong đó có gần 2 vạn cán bộ kỹ thuật được đào tạo chính quy có trình độ khá và tập trung ở hàng chục doanh nghiệp lớn và 12 viện nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thiết kế về cơ khí Đây là nguồn nhân lực hết sức quan trọng để phát triển ngành này
Tuy nhiên trình độ nhân lực trong thiết kế, chế tạo còn chưa đồng đều, khả năng gia công các chi tiết phức tạp còn nhiều hạn chế Nguyên nhân chủ yếu do không được cập nhật kiến thức thường xuyên và ít được tu nghiệp ở các nước tiên tiến (xem phụ lục về nhân lực)
1.2.3 Kết quả hoạt động công nghiệp
* Giá trị sản xuất công nghiệp và tăng trưởng giai đoạn 2001 – 2009 và dự báo 2010
Trang 16Theo Niên giám thống kê, trong 13 năm qua, giá trị sản xuất ngành cơ khí
đã tăng từ 13.800 tỉ đồng năm 1995 lên 22.225 tỉ đồng năm 2000; Đạt 61.430,7 tỷ
đồng năm 2005 và đạt 143.715 tỷ đồng năm 2009 (theo giá cố định 1994); Dự
báo năm 2010 sẽ đạt 175.185 tỷ đồng VN; Đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hơn
23%/năm trong giai đoạn 2001-2009; Riêng giai đoạn 2006-2009 ước tính tăng 23,67%/năm và dự báo tăng 23,32%/năm trong giai đoạn 2006-2010
Tuy nhiên, theo đánh giá mấy năm qua, tỷ lệ giá trị sản xuất cơ khí trong nước trên tổng giá trị toàn ngành cơ khí bị suy giảm mạnh Nếu như năm 2005 tỷ
lệ này là hơn 37%, thì đến năm 2008 còn 29,8% Nếu so với mức này của năm
1995 (một năm sa sút của ngành) thì chỉ tiêu này vẫn dậm chân tại chỗ
Bảng1: Giá trị sản xuất công nghiệp theo ngành
Đơn vị: tỷ đồng, giá cố định năm 1994
GTSXCN các năm %/năm T
Nguồn: Xử lý Niêm giám thống kê năm 2008 và báo cáo các Tổng Công ty
Giá trị gia tăng ngành công nghiệp cơ khí giai đoạn 2001-2009 và dự báo 2010.
Chỉ tiêu này tăng trưởng bình quân gần 18,6% trong giai đoạn 2001-2005; đạt 20,3% trong giai đoạn 2006-2009 và dự báo đạt 20,33% trong giai đoạn 2006-2010
Trang 17Nguồn: IPSI VA: Giá trị gia tăng GO: Giá trị sản xuất công nghiệp
Bảng 4 * Năng suất lao động tính theo VA (triệu đồng/người/năm, giá 94)
VA/số lao động, tr.đ/ng/năm BQ%/năm
Trang 182001-BQ 2006- 2010,%
Trang 19Nguồn: Niêm giám thống kê năm 2009 và xử lý tài liệu khảo sát
1.3- Tình trạng thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư chiều
sâu của từng ngành hàng, thiết kế, thiết bị, trình độ công nghệ, đào tạo nhân
lực
Ngành Cơ khí cần vốn đầu tư rất lớn, nhưng tỷ suất lợi nhuận lại thấp và
thời gian thu hồi vốn dài, nên ít doanh nghiệp dám mạo hiểm đầu tư và cũng khó
vay ngân hàng Trong khi đó sự hỗ trợ đầu tư từ phía Nhà nước không đáng kể
Theo đánh giá, trong suốt giai đoạn 1986-2002, Cơ khí nước ta chỉ được đầu tư
không quá 17 triệu đô la Mỹ (không kể đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài) Từ
sau năm 2002 đến nay, ngành cơ khí tuy được Chính phủ cấp nhiều tín dụng đầu
tư với lãi suất ưu đãi, nhưng phần lớn tập trung vào một số tổng công ty và tập
đoàn nhà nước, như đóng tàu, ô tô để sản xuất những sản phẩm ở công đoạn
cuối cùng là gia công và lắp ráp Trong khi đó, những khâu quan trọng như đúc,
tạo phôi, công nghệ nhiệt luyện, thiết kế và đào tạo nguồn nhân lực thì chưa
được đầu tư nhiều
Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp cơ
khí tại thời điểm 31/12 năm 2000 đạt 22.242 tỷ đồng, tăng lên 57.605 tỷ vào năm
2005 và đạt 95.267 tỷ đồng vào năm 2007 Trong khi đó, vốn sản xuất kinh
doanh bình quân tương ứng là 40210 tỷ đồng, 137655 tỷ đồng và 220.768 tỷ đồng
(xem phụ lục)
Trong thực tế, việc đầu tư của ngành cơ khí trong những năm vừa qua
thiếu tập trung, đầu tư phân tán và không đồng bộ, chưa có 1 cơ sở chế tạo nào đủ
mạnh làm đòn bẩy thúc đẩy toàn ngành chế tạo cơ khí Việc hỗ trợ và phối hợp
liên kết không thực hiện được cũng vì thiếu những chuyên ngành cơ khí cần thiết
như các dự án sản xuất phôi thép rèn, đúc chất lượng cao, khối lượng lớn, áp
dụng công nghệ tiên tiến Thiếu các cơ sở có máy gia công chế tạo thiết bị lớn
hiện đại trong nước Đa phần các doanh nghiệp cơ khí đầu tư nhỏ lẻ vào khâu chế
tạo gia công kim loại, ngành hàng cần vốn đầu tư không lớn, có đầu ra nhưng giá
trị gia tăng thấp
Điều quan trọng đối với một dự án là phương án sản phẩm Mỗi sản phẩm
có vòng đời, công nghệ trải qua các giai đoạn: Phát sinh triển khai, phổ biến rộng
rãi, chín muồi, suy giảm và thay thế Dự án chọn đối tượng sản phẩm ở giai đoạn
đầu của vòng đời công nghệ sẽ có hiệu quả cao và ngược lại Song tình trạng
chung, các doanh nghiệp nhà nước có nhu cầu đầu tư thường gặp phải vấn nạn về
thủ tục đầu tư phiền hà, kéo dài lãi xuất tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
thay đổi nhanh theo chiều hướng tăng cao, đồng thời chính sách cho vay các đối
tượng lại thay đổi nên hầu hết trong 24 dự án đã được chính phủ phê duyệt
ngày 27/10/2003 (công văn số 1457/CP – CN) chỉ có 3 dự án đầu tư được
triển khai và đã hoàn thành, sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi đó là:
Trang 20- Dự án đầu tư nâng cao năng lực sản xuất của công ty cơ khí Hà Nội giá trị 110 tỷ với lãi suất 3%
- Dự án đóng mới phương tiện vận tải tàu chở dầu 13.500DW trị giá 11 triệu USD bao gồm cả thuế VAT
- Dự án thiết bị nâng hạ của xí nghiệp cơ khí Quang Trung (xí nghiệp tư nhân) với vốn vay 282 tỷ lãi suất 6,6%/năm
- Riêng dự án đầu tư thiết bị nâng của Tổng công ty Cơ khí xây dựng (COMA), hiện nay mới xong phần xây dựng nhà xưởng
Nhưng thực tế một số doanh nghiệp cơ khí đã tận dụng được một số cơ chế
ưu đãi của những năm trước (1998.2002) đã đầu tư vào những cơ sở sản xuất của mình như Vinashin, sản xuất được nhiều phụ tùng phụ kiện để đóng tàu và nhận được một số cơ chế ưu đãi khác nên trưởng thành nhanh chóng trong các năm gần đây đã đóng được nhiều tàu cho nước ngoài và trong nước Kim ngạch xuất khẩu của các năm 2007 – 2008 đạt tới 500 triệu USD một năm
Cho dù mọi thủ tục và nguồn vốn vay của quỹ hỗ trợ phát triển của chính phủ chỉ hạn chế như trên trình bày, song hầu hết các doanh nghiệp cơ khí làm ăn
có kết quả như hiện nay họ đã tự tìm nguồn tài chính để đầu tư chiều sâu, mở rộng nhà xưởng, mua sắm thêm được 1 số thiết bị hiện đại, nhiều doanh nghiệp tư nhân cũng đã huy động nguồn vốn xã hội để đầu tư nhiều nhà máy cơ khí hiện đại phục vụ cho sản xuất cơ khí:
Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản - TKV đã thực hiện đầu tư đến nay xấp xỉ 600 tỷ VNĐ do đó đã chế tạo được nhiều sản phẩm cơ khí phục vụ trong ngành như: Lắp ráp xe tải, máy xúc lật dung tích gầu đến 10 m3, chế tạo cột chống thủy lực, cán thép vỉ và thép hình cho hầm lò .v v
COMA đã thực hiện gần 300 tỷ đồng đầu tư thiết bị và công nghệ cho sản xuất cốt pha thép, sản xuất kết cấu thép, cột điện, v v
VEAM: Đầu tư vào năng lực sản xuất phôi đúc, phôi rèn và nâng cấp các dây chuyền gia công cơ khí ở các công ty thành viên phát triển hợp tác sản xuất giữa các đơn vị thành viên trong việc tập trung năng lực hiện có …
Hệ thống máy móc thiết bị của một số Công ty thuộc VEAM được đầu tư thường xuyên theo xu hướng hiện đại hoá để nâng cao chất lượng và năng lực sản xuất Hiện nay Công ty VIKYNO&VINAPPRO có khoảng 40 trung tâm gia công CNC và trên 400 máy móc, thiết bị sản xuất được sắp xếp theo dây chuyền công nghệ khoa học phát huy tối đa chất lượng và năng lực sản xuất sản phẩm
Về ô tô: Các doanh nghiệp nhà nước như VINAMOTOR, VEAM,
SAMCO cùng các doanh nghiệp tư nhân như Công ty Trường Hải, Xuân Kiên đã đầu tư lớn về chế tạo và lắp ráp ô tô xây dựng các Nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô hiện đại đạt được tiêu chuẩn cao, nhiều doanh nghiệp đầu tư chuyên sâu sản xuất linh kiện cấu tạo khuôn dập Cabin, thùng xe, nhíp nâng dần tỉ lệ nội địa hóa.một
Trang 21số doanh nghiệp tư nhân như: Công ty Trường Hải, Vinaxuki,… cũng đã đầu tư lớn vào chế tạo lắp ráp ô tô Vinaxuki đã huy động hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng nhà máy lắp ráp xe tải nhẹ, xe con, xây dựng các cơ sở đúc rèn để chế tạo khuôn rập vỏ cabin, thùng xe, nâng dần tỷ lệ nội địa hóa
Nhìn chung công nghiệp cơ khí nước ta hiện mới đạt trình độ gia công lắp ráp, cán thép xây dựng chất lượng chưa cao và chế tạo các loại máy công cụ, máy động lực, máy canh tác và chế biến nông sản cỡ nhỏ
Ngành cơ khí Việt Nam hiện vẫn chưa có các cơ sở kỹ thuật tiên tiến để đủ khả năng thiết kế chế tạo máy, thiết bị công nghệ đạt tiêu chuẩn và hàm lượng công nghệ cao đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế
Do việc đầu tư phân tán, nhỏ lẻ không đồng bộ, lại khép kín trong các doanh nghiệp đặc biệt trong các tổng công ty lớn và tập đoàn, rất khó phối kết hợp cho nên chi phí sản xuất cao, khả năng cạnh tranh thấp
Công tác nghiên cứu khoa học công nghệ chưa thực sự gắn kết hoạt động của sản xuất cơ khí Từ năm 2001 – 2010 có 47 đề tài nghiên cứu cấp nhà nước,
20 dự án sản xuất thử nghiệm và hàng trăm đề tài cấp bộ nhưng hiệu quả của nguồn kinh phí lớn làm đề tài NCKH chưa có tác động nhiều đến sự phát triển của ngành cơ khí
Thực trạng này là do chúng ta chưa chú trọng việc nâng cao năng lực thiết
kế , tư vấn, lập dự án đầu tư
Đầu tư cho công nghiệp phụ trợ và sản xuất các phôi đúc rèn có độ chính xác cao chưa có chính sách hỗ trợ cụ thể, không có đầu ra do không bảo vệ được thị trường nên tỷ lệ nội địa hóa cho công nghệ lắp ráp và chế tạo cơ khí còn thấp
Đầu tư công tác đào tạo nguồn nhân lực:
Hiện tại ở Việt Nam chưa có đội ngũ chuyên gia tư vấn thiết kế, kỹ sư trưởng, công trình sư, tổng công trình sư Do dó cần cải tiến mạnh mẽ chương trình đào tạo cơ bản các kỹ sư trong các trường đại học, phải có chương trình thực tập trên các thiết bị cơ khí chính xác và nội dung đào tạo phải phù hợp với công nghệ hiện đại của thế giới
Việc đào tạo thợ cơ khí có trình độ lý thuyết và tay nghề cao được thực hành trên các máy công cụ và thiết bị thi công hiện đại còn yếu Việc chỉ đạo còn chung chung, nhưng thực tế chưa có ai triển khai nhiệm vụ này
Đối với ngành máy công cụ, có một số đặc điểm rất cơ bản Việt Nam là:
đầu tư thiếu đồng bộ do thiếu kinh phí, các doanh nghiệp thiếu đội ngũ kỹ sư và thợ có trình độ cập nhật với công nghệ hiện có trên thế giới nên thiết bị xuống cấp rất nhanh chóng, chất lượng hàng hóa chưa tốt, mẫu mã kém thay đổi hay nói cách khác là chưa chú ý đến việc sử dụng vòng đời của sản phẩm, hàng năm xuất khẩu đạt khoảng 8 triệu USD (chỉ bằng 0,1 tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam)
Dù đã có khoảng 2 tỷ vốn đầu tư nước ngoài vào ngành cơ khí nhưng không có bất kỳ một dự án đầu tư nào vào ngành máy Công cụ của Việt Nam Đây cũng là điều dễ hiểu vì nếu phát triển được ngành máy Công cụ thì sẽ kéo các ngành công nghiệp khác trong nước phát triển dẫn đến giảm bớt nhập khẩu (đó là cái mà các
Trang 22nước phát triển đang có sản phẩm xuất khẩu vào Việt Nam không hề mong muốn)
Qua khảo sát hàng trăm các doanh nghiệp hoạt động có liên quan đến khuôn mẫu ở Việt Nam, bao gồm cả các doanh nghiệp đầu tư của nước ngoài, nhóm khảo sát có thể chia ra như sau:
- Nhóm các doanh nghiệp ứng dụng CNC trong chế tạo khuôn mẫu và sản xuất các chi tiết có độ chính xác cao hành loạt Có các nhóm sau:
+ Nhóm các doanh nghiệp thiết kế chế tạo khuôn mẫu có chất lượng cao: Duy Tân, Lập Phúc, Phú Vinh, Muto, Everbrige, Toho, ITSV, Meisei…Các doanh nghiệp này đầu tư có bài bản, có vốn đầu tư nước ngoài nên có cách quản
lý chuyên nghiệp, sản phẩm có chất lượng cao Ví dụ: doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài - TOHO Việt Nam ở Đông Anh, Hà Nội vốn 2,2 triệu USD có
19 máy công cụ CNC bao gồm: 6 trung tâm gia công CNC, 4 máy phay CNC, 5 máy cắt dây CNC, 4 máy xung định hình CNC cùng 7 hệ thống CAD/CAM (/5/) + Nhóm các doanh nghiệp thiết kế và chế tạo khuôn mẫu chất lượng trung bình và thấp: Nhựa Hà Nội, Duy Khanh, Liên Anh, Ngọc Hải, Dương Hải, Chợ Lớn, Vinakip,… đẩu tư bình thừơng, chủ yếu tập trung vào các hàng tiêu dùng hàng ngày hoặc gia công sản phẩm cho các hãng lớn như Honda (chủ yếu là ép nhựa, khuôn do hãng mang đến)
Nhóm các doanh nghiệp sản xuất máy công cụ phục vụ các ngành kinh tế: chỉ
có khoảng vài ba doanh nghiệp như: Tổng công ty máy và Thiết bị công nghiệp (MIE), Công ty Cơ khí Hà Nội (HAMECO) với số lượng và chủng loại máy rất nghèo nàn: máy tiện vạn năng chiều cao tâm đến 300 mm, máy khoan tới đường kính 25-30mm, máy bào ngang hành trình 650mm, máy phay vạn năng , máy mài phẳng, máy cưa cần, các hệ máy gia công áp lực như: búa rèn không khí nén trọng lượng rơi đến 150 kg, máy dập đến 250 tấn, máy cắt đột dập kim loại, máy cắt tôn có chiều dày tới 6mm – tất cả đều là máy công cụ vạn năng, có giá trị thấp Năm 2005, MIE xuất khẩu khoảng 2000 máy trị giá 1,1 triệu USD, 2006 xuất khẩu khoảng 2700 chiếc với giá trị 1,5 triệu USD Cũng đã có một số công
ty bắt đầu sản xuất hoặc cải tạo các thiết bị CNC cũ như Sino, TA&T song cũng chỉ hoạt động tự phát, không có chiển lược phát triển chung
Tại Việt Nam, tuy máy công cụ CNC được nhập về và sử dụng trong các công ty, nhà máy và nhà trường ngày càng nhiều nhưng vẫn ở tình trạng chưa phổ cập rộng rãi Việc đầu tư trang bị máy công cụ CNC cho các cơ sở quốc doanh và các trường đại học, trường trung học dạy nghề còn rất chậm do không giải quyết được vấn đề kinh phí Chính vì vậy mà các cơ sở sản xuất tư nhân lại
là nơi trang bị được nhiều máy công cụ CNC hơn Các cơ sở tư nhân sản xuất khuôn mẫu ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là những nơi đầu tư nhiều máy công cụ CNC hơn cả Ở những cơ sở đó, lượng máy đã qua sử dụng và máy CNC được nâng cấp chiếm tỉ lệ khá cao, chỉ ở các công ty liên doanh với nước ngoài hoặc công ty 100% vốn nước ngoài mới có giàn máy CNC hiện đại và đông bộ
Bức tranh chi tiết về ngành đóng tàu có thể cho ta một minh chứng rõ hơn về Cơ khí Việt Nam trong lĩnh vực này:
Trang 23Tổng giá trị tài sản của VINASHIN hiện đạt hơn 90.000 tỉ VNĐ (chủ yếu hình thành từ nguồn vốn vay do vốn của chủ sở hữu rất nhỏ - khoảng 10.000 tỉ VNĐ), trong đó tổng giá trị tài sản cố định (giá trị còn lại) tính đến 31/12/2009 là 43.617.304 triệu đồng
Về công tác nghiên cứu, tư vấn, thiết kế:
Bên cạnh hoạt động đầu tư phát triển sản xuất (về máy móc, thiết bị công nghệ, nhà xưởng, triền đà, v.v…) thì công tác nghiên cứu, tư vấn, thiết kế đã được chú trọng phát triển trong bản thân doanh nghiệp và cả từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước
Trong giai đoạn 2003-2009 hàng trăm nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước và cấp Bộ, ngành đã được triển khai thực hiện trong lĩnh vực cơ khí đóng tàu thủy Thực tế, trong giai đoạn 2000 đến nay (chủ yếu là 2002-2009), VINASHIN đã và đang thực hiện hơn 100 nhiệm vụ KH&CN các cấp (bao gồm 53 nhiệm vụ cấp Nhà nước, 56 nhiệm vụ cấp Bộ, ngành) Đặc biệt, ngày 14/12/2006 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh mục các nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước năm
2006, trong đó có Dự án KH&CN „Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ
đóng tàu chở dầu thô 100.000 DWT”, bao gồm 10 đề tài NCKH, 09 Dự án SXTN
cấp Nhà nước, được thực hiện trong giai đoạn 2006-2009 Nhìn chung các nhiệm
vụ KH&CN đã tập trung giải quyết những vấn đề kỹ thuật, công nghệ khó khăn, cấp thiết nhất mà thực tế sản xuất và phát triển của ngành CNTT đặt ra và góp phần tích cực vào việc tăng năng lực công nghệ đóng mới và sửa chữa tàu thủy của Việt Nam
Công tác thiết kế, tư vấn cũng đã được chú trọng phát triển Hầu hết các đơn vị đóng tàu lớn đề có Phòng/bộ phận thiết kế – công nghệ, đảm đương được phần lớn công việc thiết kế công nghệ nhiều tàu lớn, cũng như nghiên cứu, thiết
kế các thiết bị, máy móc phục vụ nhu cầu của ngành Nhiều công ty tư vấn thiết
kế cũng đã được hình thành và tạo điều kiện phát triển trong giai đoạn
2003-2009
Đặc biệt, Viện KH&CN tàu thủy đã được tập trung đầu tư phát triển cả về mặt nghiên cứu, thiết kế và tư vấn, kiểm định, từ trang thiết bị (điển hình là các phần mềm thiết kế mạnh, hệ thống máy tính, bể thử mô hình tàu thủy – Phòng thí nghiệm quốc gia), công nghệ (các công nghệ mới từ nước ngoài, từ quá trình nghiên cứu, từ thực tế sản xuất) đến nhân lực (tuyển dụng, đào tạo nâng cao, đào tạo tại nước ngoài, đào tạo qua công tác nghiên cứu, thiế kế, thử nghiệm)
Về nhà xưởng, trang thiết bị:
Trong giai đoạn 2003-2009, các đơn vị đóng tàu thuộc VINASHIN đều có đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị Thống kê cho thấy các đơn vị có giá trị tài sản
cố định khá lớn (và trong phạm vi toàn Tập đoàn thì chiếm khoảng 50% tổng tài sản hiện có), trong đó nhiều đơn vị đầu tư vào nhà xưởng làm việc với giá trị lớn hơn đầu tư vào trang thiết bị (trừ một số đơn vị đã có cơ sở vật chất – kỹ thuật từ trước như Bạch Đằng, Hạ Long và các đơn vị đóng tàu nhỏ chỉ tiến hành đổi mới trang thiết bị là chủ yếu) Trong giai đoạn 2003-2009 nhiều doanh nghiệp đã đầu
tư lớn cho các dây chuyền, thiết bị mới, trong đó điển hình là TCTy CNTT Nam
Trang 24Triệu, Công ty Đóng tàu Hạ Long, Công ty Đóng tàu Phà Rừng, Công ty CNTT Dung Quất – đó cũng chính là các doanh nghiệp lớn, mới được đầu tư của ngành
Nhìn chung các đơn vị lớn tiến hành đổi mới công nghệ và thiết bị mạnh
mẽ hơn, các đơn vị nhỏ chủ yếu thực hiện việc nâng cấp, nâng cao năng lực, mở rộng nhà máy, các dự án đầu tư sớm đã đạt yêu cầu, nhưng các dự án đầu tư sau này và dự án của các đơn vị nhỏ thì chưa hoàn thành Các đơn vị có đầu tư vào thiết bị, công nghệ đều tự đánh giá là có hiệu quả Tuy vậy, có thể nói đây là đánh giá định tính, để có thể xác định chính xác hiệu quả đầu tư thì cần phải khảo sát thực tế và đánh giá định lượng, phân tích chi tiết để thấy được đầu tư như thế nào
là hiệu quả (ngoài ra còn các yếu tố ảnh hưởng khác như quản lý, thị trường, lựa chọn công nghệ, v.v….xem phụ lục)
Về trình độ công nghệ, về cơ bản mục tiêu năng lực đóng mới đến năm 2010 đã được thực hiện:
- Năng lực đóng mới các phương tiện thủy nội địa: có hàng loạt doanh nghiệp thực hiện được
- Năng lực đóng mới tàu công trình: một số doanh nghiệp thực hiện được
- Nhìn chung đáp ứng được việc đóng tàu đánh bắt hải sản, nhưng chủ yếu các doanh nghiệp có qui mô nhỏ mới thực hiện
- Các doanh nghiệp đều đóng tàu biển, thực hiện tốt Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg (đóng tàu biển trọng tải dưới 15.000 DWT): thực tế một số doanh nghiệp đã đóng được tàu biển trọng tải tới 34.000 DWT, 53.000 DWT; có những doanh nghiệp đủ năng lực công nghệ đóng tàu cỡ lớn hơn (tàu bách hóa đến 70.000 DWT, tàu dầu đến 300.000 DWT, tàu chở ô tô đến 4.900 xe, v.v , xem phụ lục)
Bảng thống kê tài sản cố định của các đơn vị đóng tàu (xem phụ lục 15) chủ yếu thuộc VINASHIN tại thời điểm 31/12/2009 Thống kê cho thấy các đơn
vị có giá trị tài sản cố định khá lớn (và trong phạm vi toàn Tập đoàn thì chiếm khoảng 50% tổng tài sản hiện có), trong đó nhiều đơn vị đầu tư vào nhà xưởng làm việc với giá trị lớn hơn đầu tư vào trang thiết bị (trừ một số đơn vị đã có cơ
sở vật chất – kỹ thuật từ trước như Bạch Đằng, Hạ Long và các đơn vị đóng tàu nhỏ chỉ tiến hành đổi mới trang thiết bị là chủ yếu)
Bảng thống kê giá trị các dây chuyền gia công sản phẩm của các đơn vị đóng tàu chủ yếu thuộc VINASHIN (xem phụ lục 15) trong các giai đoạn trước
2003 và từ 2003-2009 Số liệu này cho thấy trong giai đoạn 2003-2009 nhiều doanh nghiệp đã đầu tư lớn cho các dây chuyền, thiết bị mới, trong đó điển hình
là TCTy CNTT Nam Triệu, Công ty Đóng tàu Hạ Long, Công ty Đóng tàu Phà Rừng, Công ty CNTT Dung Quất – đó cũng chính là các doanh nghiệp lớn, mới được đầu tư của ngành
Bảng tổng hợp thông tin cơ bản tình hình đầu tư đổi mới công nghệ, thiết
bị tại các nhà máy đóng tàu thuộc VINASHIN (xem phụ lục 15) trong giai đoạn
Trang 252003-2009 Có thể thấy các đơn vị lớn trong ngành đều tập trung hoàn thiện, phát triển cơ sở công nghệ, thiết bị đóng tàu, một số triển khai sản xuất, chế tạo vật liệu và thiết bị phục vụ ngành đóng tàu Nhìn chung các đơn vị lớn tiến hành đổi mới công nghệ và thiết bị mạnh mẽ hơn, các đơn vị nhỏ chủ yếu thực hiện việc nâng cấp, nâng cao năng lực, mở rộng nhà máy, các dự án đầu tư sớm đã đạt yêu cầu, nhưng các dự án đầu tư sau này và dự án của các đơn vị nhỏ thì chưa hoàn thành Bảng 12 cho thấy các đơn vị có đầu tư vào thiết bị, công nghệ đều tự đánh giá là có hiệu quả Tuy vậy, có thể nói đây là đánh giá định tính, để có thể xác định chính xác hiệu quả đầu tư thì cần phải khảo sát thực tế và đánh giá định lượng, phân tích chi tiết để thấy được đầu tư như thế nào là hiệu quả (ngoài ra còn các yếu tố ảnh hưởng khác như quản lý, thị trường, lựa chọn công nghệ, v.v….)
Bảng thống kê tổng mức đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, thiết bị phòng thí nghiệm, công nghệ tin học tại các đơn vị đóng tàu chủ yếu của VINASHIN (xem phụ lục 15) Có thể thấy rằng việc đầu tư tương xứng với qui mô của các đơn vị: các đơn vị lớn (trừ đơn vị chưa báo cáo) đều đầu tư lớn (hàng trăm tỉ VNĐ), các đơn vị nhỏ đầu tư ít hơn (từ vài trăm triệu đến hàng chục tỉ VNĐ)
Về trình độ công nghệ:
Bảng trình bày thống kê năng lực đóng các loại tàu thủy chủ yếu (theo Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg) của các doanh nghiệp đóng tàu thủy yếu thuộc VINASHIN (xem phụ lục 15) Có thể thấy về cơ bản mục tiêu năng lực đóng mới đến năm 2010 đã được thực hiện:
- Năng lực đóng mới các phương tiện thủy nội địa: có hàng loạt doanh nghiệp thực hiện được
- Năng lực đóng mới tàu công trình: một số doanh nghiệp thực hiện được Nhìn chung đáp ứng được việc đóng tàu đánh bắt hải sản, nhưng chủ yếu các doanh nghiệp có qui mô nhỏ mới thực hiện
- Các doanh nghiệp đều đóng tàu biển, thực hiện tốt Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg (đóng tàu biển trọng tải dưới 15.000 DWT): thực tế một số doanh nghiệp đã đóng được tàu biển trọng tải tới 34.000 DWT, 53.000 DWT; có những doanh nghiệp đủ năng lực công nghệ đóng tàu
cỡ lớn hơn (tàu bách hóa đến 70.000 DWT, tàu dầu đến 300.000 DWT, tàu chở ô tô đến 4.900 xe, v.v )
Không có đơn vị nào tự đánh giá có trình độ công nghệ ở mức độ lạc hậu
so với khu vực, còn 03 đơn vị ở mức lạc hậu so với thế giới Ngược lại, có đến 5/15 (33,33%) số các đơn vị tự đánh giá có trình độ công nghệ ở mức tiên tiến của khu vực và 3/15 (20%) số các đơn vị tự đánh giá có trình độ công nghệ ở mức tiên tiến của thế giới Ở khía cạnh nào đó, đây là một kết quả rất đáng khích
lệ, bởi vì nhiều đơn vị tự tin về năng lực công nghệ của mình
Về đào tạo nhân lực:
Trang 26Hiện nay VINASHIN có lực lượng cán bộ khá lớn, với tổng số khoảng 70.000 lao động, trong đó có 50.000 đã qua đào tạo, đặc biệt là lực lượng 5.000 công nhân có chứng chỉ nghề quốc tế Về phân bổ trình độ, VINASHIN có 77 người có trình độ trên đại học, 7.290 kỹ sư, 4.663 cử nhân, 3.105 cao đẳng, trung cấp hoạt động trong 14 đơn vị sự nghiệp (01 Viện KH-CN và 13 trường cao đẳng, dạy nghề với tổng số 630 lao động), 17 đơn vị tư vấn, thiết kế (với tổng số
850 lao động) và một số cơ quan quản lý
Thống kê lao động tại các đơn vị đóng tàu chủ yếu thuộc VINASHIN được nêu trong Bảng dưới Nhìn chung, tại các nhà máy đóng tàu thì số lượng công nhân kỹ thuật là chủ yếu, cán bộ có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng 10% tổng số lao động Riêng Viện KHCN tàu thủy có số lượng cán bộ với trình độ đại học trở lên chiếm hơn 60%, phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp nghiên cứu, thiết kế và tư vấn
Về chất lượng đào tạo nhân lực, có thể thấy cùng với việc tăng số lượng (cán bộ kỹ thuật – công nghệ và công nhân có tay nghề), chất lượng đội ngũ cũng
đã được nâng lên đáng kể, các nhà máy đóng tàu đều có phòng kỹ thuật, các doanh nghiệp lớn có trung tâm thiết kế- công nghệ; lực lượng công nhân kỹ thuật
có chứng chỉ của nước ngoài cũng rất nhiều nên mới đảm nhận được công việc theo yêu cầu nghiêm ngặt của giám sát và đăng kiểm quốc tế
Về phát triển công nghiệp phụ trợ và khả năng nội địa hóa:
Công nghiệp phụ trợ (CNPT) đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững và cạnh tranh thành công của ngành CNTT Việt Nam, chính vì vậy, nhà nước và VINASHIN đã và đang tích cực đầu tư nhiều mặt cho lĩnh vực này, trong đó có công tác nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, đầu tư sản xuất, chế tạo nhiều loại thiết bị và vật liệu
Đối với CNTT, thép tấm đóng tàu, động cơ thủy, thiết bị trên boong, thiết
bị nghi khí hàng hải, nội thất tàu thủy là các lĩnh vực chính quyết định đến giá thành và chất lượng của con tàu
- Sản xuất thép tấm đóng tàu: hiện có Công ty CP thép Cửu long – Vinashin (tại Hải phòng) đã đầu tư sản xuất thép tấm đóng tàu khổ nhỏ; Công ty TNHH 1TV CNTT Cái Lân đã và đang đầu tư sản xuất thép tấm đóng tàu khổ lớn hơn, với công suất (mở rộng) đến 1tr.T/năm
- Lắp ráp các động cơ thủy: VINASHIN rất chú trọng việc nội địa hóa động cơ thủy vì thông thường thời gian đặt hàng động cơ thủy từ nước ngoài kéo dài khoảng 2-3 năm, và việc sản xuất thành công động cơ thủy kéo theo sự phát triển của nhiều ngành, nghề khác
+ Hiện nay TCTy CNTT Bạch Đằng đã lắp ráp thành công động cơ Mitsubishi công suất đến 8.400 CV (6.230 KW) lắp xuống tàu 22.500 DWT (dự kiến lắp ráp diesel thủy trong dải công suất 2.600 – 23.500 KW)
+ TCTy CNTT Bạch đằng cũng đã đầu tư lắp ráp động cơ thủy MAN B-W (lắp ráp, chế tạo diesel thủy thấp tốc, công suất cỡ trung - lớn, chất lượng cao (nhất thế giới);
Trang 27+ Lắp ráp, chế tạo diesel thủy trung tốc, công suất cỡ nhỏ, chất lượng tốt theo licience của hãng ISSOTA FRACHINI (Ý) tại KCN An Hồng (Hải Phòng)
+ Lắp ráp, chế tạo diesel trung – cao tốc, công suất cỡ nhỏ - trung, chất lượng tốt phục vụ cả đường thủy (tàu đánh cá, tàu sông, máy phát điện cho các loại tàu), đường bộ (máy kéo), nông nghiệp, v.v… theo chuyển giao công nghệ của hãng YANMAR (Nhật Bản) tại Nhơn Trạch (Đồng Nai)
- Chế tạo các thiết bị boong tại Bạch Đằng, Nam Triệu, Hạ Long, CNTT Sài Gòn, KCN tàu thủy Lai Vu và một số doanh nghiệp khác
- Chế tạo, lắp ráp các thiết bị điện, điện tử, nghi khí hàng hải tại Bạch Đằng, Hạ Long, Công ty Cơ khí – Điện – Điện tử tàu thủy (VINAMAREL) và một số doanh nghiệp khác
- Sản xuất vật liệu và trang thiết bị nội thất tại Công ty CP CNTT Shinec (Hải phòng, KCN tàu thủy Lai Vu)
- Sản xuất các dây chuyền chế tạo, lắp ráp phân đoạn phẳng, dây chuyền
xử lý tôn vỏ tàu thủy tại Công ty CP Cơ khí chính xác Vinashin (VINASHINA)
- Sản xuất vật liệu và thiết bị hàn tại Nam Triệu; sứ lót hàn tại Công ty CP
Kỹ thuật Vinashin (VE) ở Hà Nội, v.v…
Đánh giá chung của các doanh nghiệp đóng tàu chủ yếu của VINASHIN
về tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm chính được nêu tại Bảng dưới Như vậy, có thể đưa
ra một số nhận xét sau: - Nhìn chung chuyên ngành cơ khí đóng tàu chưa đạt được mục tiêu theo quyết định số 186/2002/QĐ-TTg – chưa đảm bảo nâng tỉ lệ nội địa hóa lên 60% đối với sản phẩm đóng mới
- Đối với các đơn vị đóng tàu xuất khẩu (điển hình là: Tổng Cty CNTT Nam Triệu, Tổng Cty CNTT Bạch Đằng, Công ty đóng tàu Hạ Long, Công ty đóng tàu Phà Rừng), tỉ lệ nội địa hóa thấp hơn các đơn vị đóng tàu cho khách hàng trong nước (đóng các tàu nhỏ là chính), và các đơn vị mới được thành lập (như Công ty CNTT Dung Quất) thì tỉ lệ nội địa hóa càng thấp Điều này phù hợp thực tế là việc đóng tàu cho các chủ tàu nước ngoài thường đòi hỏi nghiêm nặt nên nhiều chủng loại vật tư, thiết bị được sản xuất trong nước rất khó được chủ tàu hoặc đăng kiểm nước ngoài chấp thuận so với chủ tàu trong nước Các doanh nghiệp mới được thành lập thì điều kiện vật chất và năng lực công nghệ (liên quan đến nội địa hóa) còn chưa có (mục tiêu đầu tiên là đóng mới tàu thủy) nên khả năng nội địa hóa rất hạn chế
1.4- Tình hình xuất, nhập khẩu công nghệ, thiết bị toàn ngành cơ khí
1.4.1.Động thái tăng trưởng giá trị xuất khẩu máy, thiết bị và cơ cấu
Bảng 10 Động thái tăng trưởng giá trị xuất khẩu máy, thiết bị và cơ cấu
Đơn vị: Triệu USD
Chỉ tiêu 2000 2005 2008 2009 Dự báo 2010 2001-
Trang 28Nguồn: Xử lý Niên giám thống kê năm 2009
1.4.2- Động thái tăng trưởng giá trị nhập khẩu máy và thiết bị
Bảng 11 Động thái tăng trưởng giá trị nhập khẩu máy và thiết bị
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Xử lý Niên giám thống kê năm 2009, * Bao gồm cả máy tính,linh
kiện điện tử
Trong những năm vừa qua VINAHSIN đã xuất khẩu nhiều sản phẩm, trong
đó ngoài sản phẩm chủ yếu là tàu thủy còn có một số sản phẩm công nghiệp khác
như: nội thất (xuất sang Châu Âu, Singapore, v.v…), thiết bị điện tử, điều khiển
(xuất sang Singapore), thép tấm đóng tàu, … Tuy vậy, việc xuất khẩu các sản
phẩm khác còn rất hạn chế (chưa lớn về số lượng, giá trị, chưa ổn định) nên phần
này trình bày và phân tích chủ yếu tình hình xuất khẩu sản phẩm tàu thủy đóng
mới trong giai đoạn vừa qua
Giai đoạn 2000-2003 có xuất khẩu Tàu, nhưng kết quả còn rất nhỏ (và qui
mô ngành thực tế cũng rất nhỏ với tổng trọng tải tàu bàn giao được là 31.150
DWT), bắt đầu từ năm 2003, đặc biệt từ 2005 thì cơ khí đóng tàu có sự tăng
trưởng nhanh hơn, xuất khẩu tàu biển gia tăng cả về giá trị lẫn tỉ lệ % (đến năm
2008 đạt tỉ lệ xuất khẩu 71,59%) Điều đó một mặt cho thấy sự phát triển ngành
đóng tàu thế giới nói chung và định hướng đóng tàu xuất khẩu của VINASHIN
nói riêng
Trang 29Về nhập khẩu công nghệ và thiết bị đóng tàu, như trên đã trình bày, với xuất phát điểm lạc hậu (so với thế giới từ 50-70 năm) thì việc nhập khẩu công nghệ trong chuyên ngành cơ khí đóng tàu là một tất yếu; và ngay cả các công nghệ, thiết bị đã được nghiên cứu, sản xuất thử và chế tạo thành công trong nước
thì cũng trên cơ sở học tập, chuyển giao từ các nước có ngành đóng tàu phát triển
1.5- Đánh giá chung: mạnh, yếu của Cơ khí Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 Những kết quả đạt được:
Nhìn chung, ngành cơ khí trong thời gian gần đây đã chú trọng đầu tư đổi mới thiết bị, ứng dụng công nghệ tiên tiến Các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư
hệ thống thiết bị gia công cơ khí hiện đại như: trung tâm gia công CNC, máy tiện CNC, máy mài CNC, máy cắt dây, máy xung, máy đo 3 chiều… và ứng dụng phần mềm chuyên dụng trong thiết kế, gia công chế tạo Các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền sản xuất ứng dụng công nghệ tự động tự động hoá của các nước có nền công nghiệp tiên tiến như: dây chuyền tẩy rửa; dây chuyền sơn; dây chuyền đánh bóng; dây chuyền mạ, dây chuyền hàn; dây chuyền đúc…
đã làm thay đổi căn bản trình độ năng lực và công nghệ toàn ngành cơ khí, do đó một số doanh nghiệp đã nâng cao năng lực sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của
sản phẩm
Cơ khí có được những thành tựu trên là do từ năm 2000 đến nay, Nhà nước
đã có những cơ chế, chính sách thúc đẩy ngành cơ khí phát triển Đó là Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến 2010, tầm nhìn 2020 ưu tiên phát triển tám nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm Đồng thời, Chính phủ cũng có hàng loạt các cơ chế chính sách hỗ trợ về vay vốn, thuế, chỉ định thầu cho các DN tham gia sản xuất các sản phẩm cơ khí trọng điểm
Sản phẩm cơ khí trọng điểm gồm thiết bị đồng bộ, máy động lực, cơ khí phục vụ nông lâm nghiệp, máy công cụ, thiết bị điện, cơ khí ô tô - giao thông vận tải, đã bước đầu khẳng định vị trí, chiếm lĩnh thị trường thay vì phải nhập khẩu như trước đây Tính từ năm 2000 đến nay, nhất là 3 năm gần đây ngành cơ khí luôn có tốc độ tăng trưởng khá (Xem các bảng phần trên)
Những mặt còn hạn chế:
- Sản phẩm cơ khí chủ yếu là hàng gia công, có giá trị kinh tế thấp, sản xuất
ở các nhà máy cũ, cũng chỉ được đầu tư ở mức khiêm tốn Chưa hình thành một
số ngành mũi nhọn trong chế tạo cơ khí Chưa có những nhà máy cơ khí chế tạo được trang bị đồng bộ dây chuyền tiên tiến Đây là căn bệnh “thiếu vốn đầu tư”
đã mắc từ hơn 20 năm do không được Nhà nước quan tâm Phần lớn thiết bị máy móc, nguyên liệu phải nhập từ bên ngoài, công nghiệp phụ trợ lại yếu kém, sản xuất thép thì quá nhỏ bé và chỉ là thép xây dựng, thiếu nguồn vật liệu cho ngành cơ khí
- Thiếu lực lượng nghiên cứu phát triển, trước hết là lực lượng tư vấn, thiết
kế công nghệ và thiết kế chế tạo Thiếu hẳn các chuyên gia đầu ngành cho lĩnh vực cơ khí chế tạo dạng công trình sư, tổng công trình sư
Trang 30- Thiếu lực lượng công nhân lành nghề, đã qua đào tạo, thực trạng những thợ cả cơ khí ngày càng mai một do phải bươn trải, mưu sinh Một thời gian, ngành học cơ khí không thu hút được học sinh do triển vọng vất vả tìm kiếm việc làm khi tốt nghiệp Một mặt giáo trình đào tạo tại các trường lại quá lạc hậu
so với trình độ công nghệ hiện nay nên sinh viên ra trường phải đào tạo thêm mới đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp có thiết bị mới
- Quản lý thị trường yếu kém, đặc biệt không xây dựng được tiêu chuẩn kỹ thuật để bảo vệ sản phẩm trong nước, mặc sức hàng cơ khí chất lượng thấp, giá rẻ tràn vào thị trường trong nước, làm cho giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp
cơ khí trong nước phải cạnh tranh quyết liệt
- Nguồn tài chính của Nhà nước dành cho việc đầu tư một số dự án chế tạo
cơ khí quan trọng chưa được thực hiện
Nhìn chung công nghiệp cơ khí chế tạo nước ta mới đạt trình độ trung bình
về gia công kết cấu thép, thiết bị phi tiêu chuẩn, chế tạo các máy công cụ, máy động lực, máy canh tác và máy chế biến nông sản cỡ nhỏ Mới đây Tập đoàn DOOSAN Hàn Quốc đầu tư 1 nhà máy cơ khí với vốn 300 triệu USD trên diện tích ~ 100 ha ở khu công nghiệp Dung Quất cũng chủ yếu chế tạo dàn ống phục
vụ cho lò hơi nhiệt điện, máy lọc nước biển, các bồn thép siêu trường, siêu trọng
và một số cần cẩu cảng Các máy chính chủ yếu là cắt, uốn, ghép, hàn của dạng sản phẩm kết cấu thép
Ngành cơ khí Việt Nam hiện vẫn chưa có các cơ sở công nghiệp có thiết bị công nghệ tiên tiến đủ khả năng thiết kế, chế tạo máy, thiết bị công nghệ cao đủ sức cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế
Do việc đầu tư phân tán nhỏ lẻ, không đồng bộ, lại khép kín trong các doanh nghiệp, đặc biệt trong các Tập đoàn và các tổng công ty lớn, rất khó hợp tác kết hợp cho nên sản xuất các sản phẩm có chi phí cao, khả năng cạnh tranh thấp Công tác xây dựng quy hoạch phát triển cụ thể của 08 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm thiếu đôn đốc chỉ đạo của Bộ chức năng nên chưa làm được bao nhiêu, thiếu nhiều ngành hàng chưa có quy hoạch như: thiết bị, máy canh tác nông nghiệp, máy công cụ, máy xây dựng,… Mặt khác có quy hoạch được duyệt thì khi chỉ đạo thực hiện lại sai lệch lớn hầu như không bám sát với quy hoạch
mà tự ý phê duyệt nhiều dự án cho các địa phương, điển hình là việc thực hiện quy hoạch của ngành ô tô
Việc đầu tư cho công nghiệp phụ trợ và sản xuất các phôi đúc rèn chưa có chính sách cụ thể, lại không có đầu ra nên tỷ lệ nội địa hóa cho công nghiệp chế
tạo cơ khí còn thấp
Đánh giá sâu về khả năng sinh lời của ngành cơ khí, có thể xem xét một
số chỉ tiêu Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh khác nhau Trong điều kiện số liệu thống kê chưa đầy đủ; Chúng ta có thể đưa ra các chỉ tiêu sau: (1) Hiệu suất kinh doanh bằng doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp theo ngành trên vốn sản xuất kinh doanh (bình quân năm) của các doanh nghiệp (2) Hiệu suất gia tăng bằng giá trị gia tăng (VA) trên vốn sản xuất kinh doanh bình
Trang 31quân của các doanh nghiệp (3) Hiệu suất sử dụng tài sản và vốn đầu tư bằng doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp theo ngành trên Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm (4) Hiệu suất sử dụng vốn bằng VA trên Giá trị tài sản cố định
và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm
Số liệu thu thập để xem xét, phân tích được thực hiện từ năm 2000 đến năm
2008, mà chủ yếu đến năm 2007 Điều này thể hiện tính khả thi của thống kê có được và mặt khác cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành chưa tính đến các yếu
tố của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Nghĩa là năng lực cạnh tranh ngành cơ khí được xét ở điều kiện nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam không có các biến động lớn
Chỉ tiêu (1) Hiệu suất kinh doanh thể hiện ở bảng sau
Bảng 12: Hệ số doanh thu trên vốn kinh doanh
Xe có động cơ, rơ móc 0.943 1.008 1.129 1.541 7.27 Phương tiện Vận tải 1.254 0.934 1.102 1.079 -2.12
Chỉ tiêu (1) Hiệu suất kinh doanh trong bảng trên cho thấy tỷ suất doanh thu trên vốn của ngành cơ khí rất thấp, riêng sản xuất phương tiện vận tải khác,
mà chủ yếu là đóng tàu còn có sự thay đổi âm
Chỉ tiêu (2) Hiệu suất gia tăng thể hiện ở bảng sau
Bảng 13: Hệ số VA trên vốn kinh doanh
Trang 32Chỉ tiêu (2) trong bảng trên cho thấy hệ số VA trên vốn kinh doanh thay
đổi âm trong toàn bộ ngành cơ khí
Chỉ tiêu (3) Hiệu suất sử dụng tài sản và vốn đầu tư thể hiện ở bảng sau
Bảng 14: Hệ số doanh thu trên tài sản cố định và vốn dài hạn
Ngành 2000 2005 2006 2007 bình quân Thay đổi
%/năm
Sản phẩm từ Kim loại 1.346 2.551 2.543 2.637 10.08 Máy móc thiết bị khác 1.818 2.405 2.538 2.210 2.83 Máy móc và thiết bị điện 1.815 3.090 4.228 3.763 10.98 Dụng cụ y tế/chính xác 1.098 1.796 1.901 3.324 17.14
Xe có động cơ, rơ móc 1.711 2.459 2.711 3.702 11.66 Phương tiện vận tải khác 2.403 2.548 2.455 2.346 -0.34
Chỉ tiêu (3) trong bảng trên cho thấy hệ số doanh thu trên vốn của các phân ngành cơ khí thay đổi theo chiều hướng dương, cao hơn mức bình quân của các doanh nghiệp cả nước; Riêng phân ngành sản xuất phương tiện vận tải khác mà chủ yếu là tàu thủy có chỉ tiêu 3a thay đổi âm, kéo theo sự thay đổi âm của toàn
ngành
Chỉ tiêu (4) Hiệu suất sử dụng vốn thể hiện ở bảng sau
Hiệu suất sử dụng vốn bằng VA trên Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài
chính dài hạn của các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm
Trang 33Từ các con số trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cơ
khí Việt Nam rất thấp; Phần lớn các chỉ tiêu đều đi xuống Hội nhập kinh tế quốc
tế tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển, nhưng bên cạnh đó cũng
đặt ra cho các các doanh nghiệp trong nước trước những thách thức, mà cụ thể là
sức ép mất đơn hàng, mất việc làm buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại phải tự
nâng cao sức cạnh tranh của mình Trước hết là tăng năng suất lao động; Tiếp
đến là giảm chi phí sản xuất kinh doanh; Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh;
Tăng tỷ suất doanh thu và giá trị gia tăng trên vốn
Nguyên nhân của những hạn chế và cách khắc phục:
Nguyên nhân của những tồn tại trên là do quán triệt thực hiện Kết luận 25
cuả Bộ Chính trị, Quyết định 186 của Thủ tướng chưa đầy đủ; Nhận thức về vai
trò, định hướng phát triển công nghiệp cơ khí, về hỗ trợ cho cơ khí trong nước …
còn khác nhau; Cơ chế, chính sách còn vướng mắc; Các ban, ngành phối hợp
chưa chặt chẽ …
Chính phủ nên sắp xếp lại khối doanh nghiệp cơ khí thuộc sở hữu Nhà
nước để tạo sức mạnh liên kết, hợp tác đầu tư cho toàn ngành thay vì để phân tán
như hiện nay; Đẩy mạnh hơn nữa vai trò của Hiệp hội và củng cố Cơ quan quản
lý Nhà nước về cơ khí nhằm gắn kết hơn nữa quá trình hợp tác sản xuất của các
doanh nghiệp cơ khí trong nước
Chính phủ cần có cơ chế chính sách đồng bộ về việc xây dựng thị trường,
hỗ trợ về tín dụng, tài chính và bảo vệ thị trường trong nước một cách có hiệu
quả
Mặc dầu trong nhiều nghị quyết của Đảng nói về phát triển công nghiệp
nặng, trong đó chủ yếu phát triển ngành cơ khí mà mới nhất là báo cáo Phương
hướng nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xã hội 5 năm 2006-2010 của Đại hội X có
ghi: “Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, chế tác, công nghệ cao, công
nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp quốc phòng, góp
phần xây dựng nền tảng cho 1 nước công nghiệp và nâng cao khả năng tự chủ
của nền kinh tế”, Nhưng thực tế chỉ đạo việc đầu tư phát triển của các Bộ, ngành
Trang 34quản lý Nhà nước đối với Cơ khí còn thiếu tập trung, thiếu nhất quán nên thực tế ngành cơ khí chưa được hỗ trợ là bao khi bước vào hội nhập
Đối với các DN cơ khí vấn đề liên danh, hợp tác sản xuất theo đúng chủ
trương chuyên môn hóa sâu, hợp tác hóa rộng là hết sức cần thiết Các doanh nghiệp trong nước cần liên kết, liên doanh với các hãng, tập đoàn cơ khí lớn trên thế giới để tiếp nhận công nghệ và tiêu chuẩn hoá sản phẩm
Các doanh nghiệp cơ khí cần đổi mới về nhận thức cạnh tranh, phải coi nó như là động lực phát triển của doanh nghiệp và phát triển ngành, đảm bảo lợi ích quốc gia và các lợi ích khác Tự mỗi doanh nghiệp, muốn duy trì hoạt động của mình, cũng cần phải đưa ra những tiêu chuẩn Tiêu chuẩn trở thành công cụ quản
lý và là căn cứ để người lao động thực hiện Tiêu chuẩn giúp doanh nghiệp phát huy khả năng sáng tạo, tính cần cù, chăm chỉ của nhân viên, tăng cường cải tiến dịch vụ chăm sóc khách hàng; phát triển hợp tác trong các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, khoa học công nghệ Đấy là những tiêu chí để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Để nhận biết vị trí và lợi thế của mình, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam không có con đường nào khác là phải hình thành và phát triển lối tư duy toàn cầu; chủ động giao lưu văn hóa, trao đổi kiến thức quản lý; Hợp tác và hòa nhập với cộng đồng doanh nghiệp chế tạo trên thế giới
Các doanh nghiệp trong ngành cần phát huy các nhân tố bên trong (Nội sinh) đó là: - Quy mô hoạt động của doanh nghiệp; - Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp; - Xây dựng và bảo vệ thương hiệu; - Công tác nghiên cứu thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu; - Năng lực quản lý và điều hành; - Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới; - Trình độ công nghệ và Nguồn nhân lực Đồng thời tận dụng tối đa các nhân tố bên ngoài (ngoại sinh); Cụ thể là tác động của thể chế kinh tế và sự hợp tác, phân công lao động trên phạm vi cả nước,
cả khu vực và toàn cầu
Các doanh nghiệp cơ khí cần tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu; Chỉ khi nào là một mắt xích trong chuỗi sản xuất đó, doanh nghiệp mới có thể tồn tại lâu dài và thực sự phát triển bền vững
Nhìn chung: Ngành Cơ khí Việt Nam có điểm yếu là thường làm “trọn gói” tất cả các công đoạn, nên đầu tư bị dàn trải, hiệu quả thấp, sản phẩm rất khó có khả năng cạnh tranh Thời gian qua ngành đã tập trung phát triển hiệu quả một số chuyên ngành, sản phẩm cơ khí trọng điểm, từng bước đưa ngành phát triển Tuy vậy, trình độ kỹ thuật của ngành Cơ khí vẫn chỉ được xếp dưới mức trung bình; Lĩnh vực chế tạo phôi và công nghiệp phụ trợ nói chung chưa được đầu tư đúng mức Một điểm yếu khác của ngành cơ khí Việt Nam (vốn Nhà nước) là các cơ sở sản xuất nằm rải rác ở các Bộ ngành, địa phương Việc đầu tư khép kín, công nghệ cũ, lạc hậu lại bị chia tách, cát cứ theo chỉ đạo của các cấp liên quan và thiếu sự hợp tác giữa các đơn vị Nếu không sớm tập trung sức mạnh chuyên ngành và có chính sách bảo vệ thị trường, việc cạnh tranh giữ đơn hàng sẽ không thực hiện được
Trang 35Công nghiệp cơ khí Việt Nam gần đây đạt được những kết quả nêu trên do 03 nguyên nhân chính, đó là:
* Sự quan tâm và quyết tâm chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Tấn Dũng
trong giai đoạn 2002-2005 với tư cách là phó Thủ tướng thường trực và là Trưởng ban chỉ đạo chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm của Chính phủ
* Sự quyết tâm nỗ lực phấn đấu của các doanh nghiệp sản xuất cơ khí thuộc các
thành phần kinh tế trong nước
* Tinh thần hợp tác cùng có lợi của các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam thông qua
hoạt động tích cực và chủ động của Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam, mái nhà chung của công nghiệp cơ khí
Thay mặt Chính phủ, phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đánh giá:
“Trong thời gian qua, ngành cơ khí đã có nhiều cố gắng, nỗ lực vươn lên, tạo
sự chuyển biến bước đầu ở một số lĩnh vực như: Cơ khí đóng tầu, cơ khí chế tạo và cung cấp thiết bị toàn bộ, cơ khí xây dựng, cơ khí giao thông, cơ khí nông nghiệp, cơ khí năng lượng mỏ, cơ khí chế tạo thiết bị và vật liệu điện,… Nhiều doanh nghiệp sản xuất cơ khí đã từng bước đổi mới, nâng cao khả năng thiết kế, năng lực thiết bị và công nghệ, trình độ quản lý và điều hành nên đã hoàn thành việc đảm nhiệm vai trò tổng thầu EPC; đóng mới tầu biển, ô tô chở khách; chế tạo nhiều chủng loại thiết bị cung cấp cho các dự án lớn, trong điểm thủy điện, xi măng, giất, mía đường,… Những kết quả đạt được của ngành Cơ khí đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước.”
Trang 36
CHƯƠNG II: Tổng hợp thực trạng và đánh giá tình hình thực hiện phát triển 08 chuyên ngành và nhóm sản phẩm cơ khí quan trọng, xác định theo quyết định 186/TTg về định hướng chiến lược phát triển của các nhóm sản phẩm, các chính sách và giải pháp hỗ trợ ngành cơ khí phát triển căn cứ theo quy hoạch phát triển của
chính phủ
Ngày 26/12/2002 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới 2020, trong đó nêu rõ “Cơ khí là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước”
186/2002/QĐ-Với quan điểm phát triển là “Tập trung phát triển một số chuyên ngành, sản phẩm cơ khí trọng điểm nhằm khai thác, phát huy tốt nhất tiềm năng (tài nguyên, nguồn nhân lực) để đáp ứng các yêu cầu cơ bản của công cuộc phát triển đất nước”, chuyên ngành cơ khí đóng tàu thủy được xác định là một trong 08 chuyên ngành tập trung, ưu tiên phát triển
2.1- Thực trạng ngành cơ khí qua xem xét chủ yếu ở 08 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm theo QĐ186
cơ khí ôtô 1-5 và xe máy công trình), dây chuyền thiết bị chế biến nông sản (Viện nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy NN) và các Tổng công ty cơ khí đang dần từng bước tham gia tổng thầu chế tạo và lắp đặt thiết bị cho nhà máy xi măng, thiết bị cho các nhà máy nhiệt điện và thủy điện và bước đầu tham gia chế tạo giàn khoan dầu trên biển
Tham gia thiết kế và chế tạo: Viện nghiên cứu cơ khí, các doanh nghiệp thành viên của các Tổng công ty xây dựng công nghiệp, Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam, Tổng công ty cơ khí xây dựng, Tổng công ty Cơ điện nông nghiệp và thuỷ lợi, xí nghiệp cơ khí Quang Trung Ninh Bình, cơ khí Hồng Nam đã tích cực đầu tư, đi sâu vào nghiên cứu thiết kế thiết bị cơ khí thủy công, thiết bị xi măng và các dây chuyền thiết bị công nghệ chế biến nông lâm thủy sản loại nhỏ và vừa, các loại cầu trục, cổng trục, thiết bị nâng chuyển, đã giải quyết được phần lớn các nhu cầu về thiết bị nâng chuyển cỡ lớn mà từ trước đến nay các nhà đầu tư vẫn phải nhập ngoại (cầu trục
Trang 37180t, 200T, 250T, và 500T, đáp ứng được phần lớn nhu cầu trong nước Ngoài ra Cty TNHH Công nghiệp nặng DOOSAN Việt Nam cũng đã xuất khẩu cầu trục container sang Indonexia
Cần thấy rõ tiến bộ của Cơ khí Việt Nam trong vài năm gần đây, mô hình
nhận thầu EPC đang được hình thành đã giúp cho các Tổng công ty mạnh trong nước tự khẳng định mình và học hỏi được phương thức quản lý điều hành các dự
án lớn, có quyền thuê tư vấn, chuyên gia nước ngoài cùng hợp tác làm việc và quan trọng hơn nữa qua thực hiện tổng thầu EPC các Tổng công ty trong nước phát huy được sức mạnh tổng hợp về nhân lực, vật lực và tích lũy tài chính, kinh nghiệm tổ chức thực hiện công trình để dần hội nhập khu vực và quốc tế Có thể nêu lên:
-Tổng công ty Lắp máy Việt Nam: là đơn vị được thực hiện nhiều công trình theo hình thức EPC, hiện Tổng công ty hoàn thành công trình EPC Uông Bí
mở rộng, hoàn thành dự án EPC nhà máy điện Chu trình hỗn hợp Cà Mâu, đang triển khai thực hiện dự án Nhà máy nhiệt điện Nhơn Trạch Đồng thời Tổng công
ty đang triển khai thực hiện làm tổng thầu: Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1, xi măng Sông Thao, xi măng Đô lương
-Các Tổng công ty Máy và thiết bị công nghiệp, TCTy xây dựng công nghiệp Việt Nam, TCTy Lắp máy VN, TCTy Cơ khí Xây dựng, TCTy Cơ điện nông nghiệp và Thuỷ lợi, Viện Nghiên cứu cơ khí đã tham gia tổ hợp EPC cho việc thiết kế, mua sắm, chế tạo và cung cấp lắp đặt thiết bị cơ khí thuỷ công và các thiết bị, kết cấu thép cho các dự án xây dựng nhà máy thuỷ điện như: Thủy điện Sơn La, A Vương, Buôn kướp, Bản Vẽ, Bản Chát và nhiều dự án có tỷ lệ nội địa hóa cao như Xi măng Quang Sơn, xi măng Sông Thao
2.1.2/2.1.3- Máy động lực và Cơ khí phục vụ nông – lâm – ngư nghiệp và công nghiệp chế biến
Đối với ngành chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp phải kể đến đơn
vị chủ lực là Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Tổng Công ty Máy động lực và Máy Nông nghiệp (VEAM) đang chỉ đạo các đơn vị thành viên thực hiện sản xuất và đầu tư để đủ năng lực chế tạo máy động lực, máy nông nghiệp và chế tạo các loại động cơ Diezel, máy cầy, máy kéo và các loại phụ tùng, phụ kiện cho xe máy, ôtô Các doanh nghiệp chế tạo máy nông nghiệp đã cung cấp hàng ngàn máy cầy, máy kéo cho các tỉnh miền núi, đồng bằng Bắc bộ
và Nam bộ, tham gia tích cực chương trình xoá đói giảm nghèo các tỉnh biên giới
Cơ sở vật chất và đội ngũ CBCNV của các doanh nghiệp ngày càng phát triển, có được như hiện tại là kết qủa của sự đầu tư trong nhiều năm qua của Nhà nước cho công nghiệp chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp
Các thành viên VEAM đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp như:
-Công ty Diezel Sông Công (DISOCO - Thái Nguyên), Công ty Phụ tùng máy số 1 (FUTU 1 - Thái Nguyên), Công ty Phụ tùng máy số 2 NAKYCO (TP Hồ Chí Minh), Công ty Động cơ và Máy Nông nghiệp miền Nam (SVEAM)
Trang 38Sản phẩm động cơ Diessel cỡ nhỏ xuất khẩu sang các nước Trung Đông, các nước ASEAN,v v
Qua nhiều năm tham gia và nghiên cứu thị trường Động cơ và máy Nông nghiệp, Công ty SVEAM đã tạo được thương hiệu và khả năng cung ứng các sản phẩm của Công ty cho thị trường trong nước từ Lạng sơn cho đến Cà Mau với Doanh số khoảng 300 tỷ/năm (chiếm 60%) và thị trường xuất khẩu khoảng 12 triệu USD (chiếm 40%) bao gồm các nước: Srilanca, Philippine, Mã lai, Singapore, Indonesia, Iran, UAE, Ấn Độ, Yemen, Myanmar, Nhật Bản, Panama, Campuchia, Lào Điều này khẳng định chất lượng sản phẩm của SVEAM ổn định
và tạo sự yên tâm cho người dùng
Các sản phẩm khẳng định thế mạnh của sản phẩm Động cơ và máy Nông nghiệp trên thị trường hiện nay bao gồm:
- Động cơ công suất dưới 30 mã lực:
Với loại sản phẩm này thì ở Việt Nam hiện nay chỉ còn duy nhất Công ty TNHH MTV Động cơ và máy Nông nghiệp (SVEAM) là đủ khả năng sản xuất
và cung cấp cho thị trường sản phẩm có mức chất lượng cao, được kiểm soát chặt chẽ với tỷ lệ nội địa hóa trên 90%
- Máy phát điện:
Hiện nay SVEAM chiếm lĩnh thị trường Máy phát điện với dãy công suất
từ 02 đến 15KW gắn với Động cơ Diesel do chất lượng Động cơ tốt và giá cả phù hợp
- Máy xay xát:
Bao gồm các loại máy xay lúa và chà trắng có công suất từ 700 kg đến 1.000 kg/ giờ Sản phẩm này là thế mạnh của SVEAM trên thị trường hơn 20 năm qua
- Máy gặt xếp dãy:
Khi thị trường máy gặt đập liên hợp chưa phát triển đủ mạnh thì máy gặt xếp dãy vẫn còn nhu cầu Hiện nay SVEAM vẫn đang cung cấp sản phẩm này cho thị trường trong nước
- Máy gặt đập liên hợp:
Với loại máy gặt đập liên hợp có chiều dài lưỡi cắt 1,2m thì SVEAM đang sản xuất với tỷ lệ nội địa hóa trên 90% Tuy nhiên, với những đồng lúa rộng lớn thì người dân có nhu cầu loại máy lớn hơn với chiều dài lưỡi cắt từ 1,6m đến 2m Việc này SVEAM có thể hợp tác với đối tác Trung Quốc cung cấp OEM và từng bứơc nội địa hoá nếu được Chính phủ tạo điều kiện cho thị trường phát triển lâu dài
- Bên cạnh những sản phẩm kể trên, những sản phẩm SVEAM đang có thế mạnh
về chất lượng và có khả năng cung ứng đầy đủ cho nhu cầu thị trường hiện nay, SVEAM cũng đang tích cực cung cấp thêm các loại sản phẩm khác phục vụ cho ngành nông nghiệp như: Máy cày, máy xới tay, máy cấy, máy phun thuốc trừ sâu, Bơm nước, Hộp giảm tốc dùng cho nuôi tôm, máy cắt cỏ…
Một trong những yếu tố thành công của sản phẩm động cơ và máy nông nghiệp trong việc nâng cao thị phần từ 5% lên 25% như hiện nay là Doanh
Trang 39nghiệp sản xuất trong nước có chính sách bảo hành rõ ràng cùng với những dịch
vụ sau bán hàng được triển khai đều đặn hàng năm:
1 Bảo hành sản phẩm từ 06 tháng đến 01 năm tùy theo loại sản phẩm
2 Việc bảo hành cho người tiêu dùng thông qua mạng lưới hệ thống Đại lý của Doanh nghiệp (SVEAM) gồm 120 Đại lý chính từ Nam ra Bắc Các nhân viên bảo hành của Đại lý đều được huấn luyện tại Doanh nghiệp theo các khóa học ngắn hạn từ 07 đến 10 ngày hàng năm Sau khi học xong được Doanh nghiệp cấp giấy chứng nhận
3 Bên cạnh đó SVEAM cũng phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam thường xuyên tổ chức các lớp học trong năm để huấn luyện cho bà con nông dân ở tất cả các Tỉnh, Thành hiểu rõ cách sử dụng sản phẩm của Công ty một cách tốt nhất và có khả năng tự sữa chữa những hư hỏng nhỏ
4 Hàng năm SVEAM có tổ chức từ 01 đến 02 lần sữa chữa lưu động ở mỗi địa phương cho bà con nông dân tại các Tỉnh kéo dài từ 07 đến 10 ngày
5 Một trong những yếu tố quan trọng nhất tạo sự yên tâm cho bà con Nông
dân khi sử dụng sản phẩm của SVEAM là cung ứng đủ phụ tùng thay thế Bên cạnh hệ thống Đại lý vừa cung cấp sản phẩm và phụ tùng, Doanh
nghiệp chọn 01 nhà phân phối chuyên cung cấp phụ tùng trong cả nước để
bổ sung nhu cầu của người tiêu dùng
Cơ sở vật chất và đội ngũ CBCNV của các doanh nghiệp ngày càng phát triển,
có được như hiện tại là kết qủa của sự đầu tư trong nhiều năm qua của Nhà nước cho công nghiệp chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp
Trong bối cảnh phục hồi kinh tế sau những biến động không ổn định năm
2009, các sản phẩm máy Nông nghiệp đã có được sự nhìn nhận mới Hầu hết người lao động nông nghiệp đã nhận thức rõ ràng để tăng năng suất, tăng sản lượng nông sản nhất thiết phải đưa vào sử dụng các máy móc, thiết bị cơ khí Các công ty sản xuất máy nông nghiệp tại các nước có nền sản xuất tiên tiến cũng có các kế hoạch mang tính chiến lược, lâu dài tại thị trường sản xuất cung ứng máy nông nghiệp Việt Nam, ngoài SVEAM, nhà máy tại Bình Dương của công ty Kubota Nhật Bản với tổng kế hoạch đầu tư 80 triệu USD, giai đoạn đầu đã đầu tư
và khai thác 11 tr.USD với các sản phẩm chính là máy kéo bốn bánh và máy gặt đập liên hợp Đối mặt với khó khăn thách thức, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp thành viên sản xuất máy Nông nghiệp của Tổng công ty máy Động lực và máy Nông nghiệp (VEAM) cũng có các kế hoạch thích ứng để tồn tại và phát triển Như tinh thần của nghị quyết NQ18/NQ-CP các hoạt động sản xuất và cung ứng máy của VEAM cũng bám theo các nội dung:
Trong năm 2009 và tiếp sang năm 2010 Chính phủ đã có các chính sách kích cầu hỗ trợ lãi suất vay mua máy nông nghiệp (497 QĐ- TTg và 2214 QĐ- TTg) nhưng vì còn nhiều vướng mắc từ tuyên truyền, nguồn vốn, dư nợ tín dụng, các thủ tục vay v.v nên người nông dân cũng chưa có nguồn tài chính để mua máy Cho đến nay các công ty thành viên của VEAM đã triển khai cung cấp máy nông nghiệp theo tinh thần của hai quyết định trên tại các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận, Ninh Thuận.v.v Với số tiền xấp xỉ 40 tỷ Tuy dòng xe tải nhỏ
Trang 40của VEAM mới đưa ra thị trường nhằm thay thế xe công nông nhưng cũng có
nhiều khách hàng quan tâm vì từ trước đến nay các sản phẩm của VEAM được
đánh giá tốt về chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và mức độ thân thiện với
khách hàng Thời gian qua VEAM đã bỏ một nguồn kinh phí không nhỏ để triển
khai các hội nghị và tập huấn sử dụng máy Nông nghiệp cho các đối tượng là
nông dân trong cả nước, Hầu hết các Hội chợ triển lãm chính về sản phẩm máy
Nông nghiệp trên cả nước đều có mặt sản phẩm của VEAM
- Với những thuận lợi là các quyết sách của chính phủ trong việc cho nông
dân vay vốn và hỗ trợ lãi suất là hành lang pháp lý tạo thị trường trong khắp các
miền trong cả nước, VEAM kết hợp với Hội nông dân Việt Nam, các tổ chức tín
dụng để thực hiện tiếp tục bán máy nông nghiệp sản xuất trong nước với phương
châm đồng hành cùng nhà nông
- Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm và đa dạng kênh phân phối để cạnh tranh
- Nhanh chóng đưa các nguồn lực mới đầu tư vào hoạt động như: Nhà máy
Ôtô VEAM, công ty Đúc số 1 để tạo năng lực sản xuất cạnh tranh về số lượng
Một số công ty thành viên của Tổng công ty VEAM đã đầu tư chế tạo phụ
tùng cho động cơ Diezel
7 Phụ tùng động cơ các loại : D6, D8, RV125, EV2400, M28V;
Phụ tùng máy kéo &máy nông nghiệp tấn 2.700
- Trục khuỷu, tay biên, trục cam động cơ các loại Bộ 40.000
- Phụ tùng máy kéo & máy nông nghiệp Tấn 300