Luận văn : Đổi mới và phát triển HTX NN ở huyện Gia lâm theo luật HTX năm 2003
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bước vào cơ chế thị trường trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế nhất là saukhi gia nhập WTO, hộ nông dân Việt Nam phải đối đầu với nhiều đối thủ sản xuấtkinh doanh mạnh Đó là các hàng hoá nông sản nhập khẩu và cạnh tranh trên thịtrường xuất khẩu của nông dân các nước phát triển hơn, có tổ chức rất tốt về quy
mô, về trình độ hợp tác Trong khi 50% giá trị sản xuất nông nghiệp của Việt Namdành cho xuất khẩu thì tình trạng đơn thương độc mã hiện nay không cho phép các
hộ tiểu nông cạnh tranh nổi trong sản xuất, thương thuyết nổi trong mua bán, tranhthủ được về chính sách Phải nói rằng, hơn lúc nào hết, người nông dân cần có tổchức thực sự của mình, được tổ chức tốt từ trên xuống dưới do họ bầu ra và thực sựquản lý, giúp cho họ vốn, tiêu thụ sản phẩm và kỹ thuật sản xuất tiên tiến,… Đóchính là các HTX NN
Đảng và nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt đối với khu vực kinh tế tập thể
và HTX, thể hiện rõ trong nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, X và Nghị quyết số
13 Hội nghị Ban chấp hhành trung ương 5 khóa IX Đã tạo dựng khung pháp lý vànhững nguyên tắc cơ bản cho sự phát triển của HTX trong điều kiện mới, Nhà nước
đã ban hành Luật HTX năm 1996, và bổ sung sửa đổi vào năm 2003 Chính phủ đãban hành các nghị định hướng dẫn Luật; các Bộ ngành có liên quan đã ban hành cácthông tư cụ thể hóa những quy định của các nghị định
Sau năm 5 thực hiện Luật HTX, kinh tế HTX trên địa bàn huyện Gia lâm vẫngiữ được vai trò là chỗ dựa kinh tế hộ phát triển, góp phần ổn định chính trị ở địaphương Tuy nhiên hoạt động của HTX, nhất là các HTX DVNN trên địa bàn đãbộc lộ không ít những khó khăn, tồn tại, việc thực hiện Luật HTX sửa đổi, Luật kếtoán thống kê còn hạn chế, hoạt động kinh doanh dịch vụ còn nhiều khó khăn, hiệuquả kinh tế thấp
Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng khoá IX và
Đề án 17/ĐA-TU của Thành uỷ Hà Nội về “tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng caohiệu quả kinh tế tập thể”; Kế hoạch số 33/KH-UB ngày 01/6/2005 của UBND
Trang 2Thành phố Hà Nội về “Phát triển khu vực kinh tế tập thể của Thành phố Hà Nội 5năm 2006-2010”, để các HTX dịch vụ làm tốt vai trò chỗ dựa cho kinh tế hộ pháttriển việc xây dựng Đề án “Củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX dịch vụtrong giai đoạn 2006-2010” nhằm: đánh giá thực trạng hoạt động của các HTXDVNN trên địa bàn huyện Gia Lâm hiện tại qua đó thấy được những thuận lợi,những khó khăn vướng mắc của các HTX; đề xuất các giải pháp khắc phục để tiếptục đổi mới và phát triển HTX NN
Dựa vào thực tiễn của quá trình thực tập và khả năng hiểu biết về HTX Trongthời gian thực tập, nghiên cứu tại huyện Gia lâm và Sở Nông nghiệp & PTNT Hànội, em đã chọn chuyên đề:
“Đổi mới và phát triển HTX NN ở huyện Gia lâm theo luật HTX năm 2003”
2 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm, vai trò của HTX
Đánh giá thực trạng đổi mới và phát triển ở các HTX NN huyện Gia Lâm
Trên cơ sở đánh giá, phân tích rõ hiện trạng đổi mới và phát triển của các HTX hiệntại để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTXhuyện Gia Lâm nói riêng và của các HTX trên toàn quốc nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề cơ bản về tiếp tục đổi mới và phát triển HTX
NN theo Luật HTX năm 2003
Phạm vi nghiên cứu:
-Về không gian: trên địa bàn huyện Gia lâm
-Về thời gian: Giai đoạn 1996-2007
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung như:
- Phương pháp duy vật biện chứng,
- Phương pháp phân tích tổng hợp: số liệu sau khi được thu thập sẽ sử dụng cácphép toán thống kê: số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân để so sánh và rút ra kếtluận
Trang 3- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: phỏng vấn trực tiếp 5 chủ nhiệm của 5 HTX:HTX DVNN Dương Quang, HTX DVNN Đông Dư, HTX DVNN Kiêu kỵ, HTXDVNN Dương Xá, HTX KDTH Cổ Bi.
- Phương pháp duy vật lịch sử tổng hợp; một số phương pháp đặc thù như điều tra
xã hội học
5 Kết cấu chuyên đề
* Phần mở đầu
* Phần nội dung: chuyên đề gồm có 4 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về HTX NN
Chương 2: Đổi mới và phát triển HTX NN theo Luật HTX năm 2003 ở huyện Gialâm
Chương 3: Định hướng và các giải pháp thúc đẩy quá trình đổi mới và phát triểnHTX NN trong thời gian tới
* Phần kết luận và kiến nghị
Trang 4CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HTX NN
Điều 1 trong Luật HTX năm 2003 ghi: “HTX là tổ chức kinh tế tự chủ donhững người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sứclập ra theo quy định của Pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xãviên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các loại hoạt động sản xuất kinhdoanh, dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước
- Khái niệm HTX NN:
Nếu phân loại HTX theo ngành kinh tế, ta có các HTX Nông nghiệp, HTXCông nghiệp, HTX Thương mại, HTX Tín dụng (Quỹ tín dụng)… Trong phạm vi
đề tài, chúng ta chỉ nghiên cứu về HTX NN
HTX NN là những HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng do đặc điểmnông nghiệp thường gắn liền với nông thôn Vì vậy những hoạt động của HTX NNkhông chỉ gói gọn trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn mở rộng sang các lĩnh vực
Trang 5khác để phục vụ nhu cầu dân cư trên địa bàn Đối tượng phục vụ của những hoạtđộng này cũng chính là xã viên HTX, dân cư trong khu vực Từ những vấn đề đãtrình bày ở trên, có thể định nghĩa HTX NN như sau:
HTX NN là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật HTX để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn.
2 Những đặc điểm cơ bản của HTX kiểu mới ở Việt Nam
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về HTX, cũng như sự khác nhau về cơ chế
tổ chức, phương thức hoạt động v.v…của các mô hình HTX ở các nước trên thếgiới, song từ các khái niệm trên đây có thể rút ra những đặc trưng sau đây của HTXNN:
Một là, HTX kiểu mới là tổ chức kinh tế tự chủ của những người lao động có
nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định củapháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhauthực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ và cải thiệnđời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước HTX có tư cách phápnhân, có tổ chức chặt chẽ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về các hoạt độngcủa mình và được đối xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác
Hai là, cơ sở thành lập của các HTX là dựa vào việc cùng góp vốn của các
thành viên và quyền làm chủ hoàn toàn bình đẳng giữa các xã viên theo nguyên tắcmỗi xã viên một phiếu biểu quyết không phân biệt lượng vốn góp ít hay nhiều Khigia nhập HTX, mỗi xã viên bắt buộc phải góp vốn theo quy định của Điều lệ, vốngóp có thể nhiều hơn mức tối thiểu, nhưng không được vượt quá 30% tổng số vốnĐiều lệ của HTX
Trang 6Cùng với vốn góp của xã viên, vốn hoạt động của HTX còn bao gồm vốnđược tích luỹ trong quá trình hoạt động và các nguồn vốn khác, như giá trị tài sảnđược cho, biếu tặng v.v
Phần vốn góp của xã viên thuộc sở hữu của từng thành viên Các nguồn vốnkhác thuộc sở hữu chung của HTX, quyền sử dụng toàn bộ tài sản thuộc về HTX.Sau khi làm song nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được phân phối như sau: thanhtoán các khoản bù lỗ; trích lập các quỹ hợp tác xã; chia lãi theo vốn góp và công sứcđóng góp của xã viên có tính đến mức độ sử dụng dịch vụ của HTX
Ba là, mục đích kinh doanh của HTX trước hết là làm dịch vụ cho xã viên, đáp
ứng đủ và kịp thời số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời cũng phải tuân theonguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách thực hiện mức giá và lãixuất nội bộ thấp hơn giá thị trường Khi thành lập HTX cần phải có điều lệ, phương
án sản xuất - kinh doanh cụ thể có tính khả thi, được đại hội xã viên thông qua và cơquan có trách nhiệm phê duyệt
Bốn là, Khi xây dựng các HTX kiểu mới phải đảm bảo 5 nguyên tắc cơ bản
sau: Tự nguyện gia nhập và ra HTX; Quản lý dân chủ và bình đẳng; Tự chịu tráchnhiệm và cùng có lợi; Chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của xã viên và sự phát triểncủa HTX; Hợp tác và phát triển cộng đồng
Năm là, HTX là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những xã viên thực sự
có nhu cầu, có mong muốn không lệ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở nhữngdịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lý kinh doanh Như vậy trong mỗi thôn, mỗi
xã có thể tồn tại nhiều loại hình HTX có nội dung kinh doanh khác nhau, có sốlượng xã viên không như nhau, trong đó một số nông hộ, trang trại đồng thời là xãviên của một số HTX
Sáu là, nông hộ, trang trại, xã viên vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong HTX vừa
là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động kinh doanh và hạch toán độc lập Do vậy, quan hệgiữa HTX và xã viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ vừa là quan hệ gữa haiđơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập Cơ chế liên kết của HTX cần phảnánh được mối quan hệ phức tạp đó Quan hệ giữa HTX và xã viên được xây dựng
Trang 7chủ yếu trên cơ sở quan hệ kinh tế Nó được xác lập từ nhu cầu phát triển sản xuất,tăng thu nhập của các thành viên HTX HTX tôn trọng quyền độc lập tự chủ kinh tếcủa xã viên Trong HTX NN, xã viên là hộ, trang trại gia đình, hoặc đại diện hộ, đó
là những đơn vị kinh tế tự chủ tham gia vào HTX với trách nhiệm, nghĩa vụ và lợiích theo Điều lệ quy định Sự hình thành và phát triển HTX NN không phá vỡ tínhđộc lập tự chủ của kinh tế hộ, trang trại gia đình Nó có tác dụng tạo điều kiện pháttriển tăng thu nhập cho kinh tế của các hộ xã viên Trên cơ sở đó mà thúc đẩy kinh
tế của các HTX
Bảy là, từ những đặc trưng trên có thể rút ra đặc trưng bản chất của HTX là:
HTX là tổ chức kinh tế liên kết cơ sở của các nông hộ, nông trại và các cá nhânmang tính chất vừa tương trợ giúp đỡ, vừa kinh doanh
3 Phân loại
Từ các tiêu thức phân loại khác nhau đã hình thành nhiều loại hình HTX vớinhững đặc điểm về nội dung hoạt động, cơ cấu tổ chức, vai trò tác dụng, và tên gọikhác nhau tương ứng với những điều kiện cụ thể của từng loại hình HTX
Ở nhiều nước, người ta thường phân loại HTX theo mục đích, chức năng hoạtđộng, theo đặc điểm về quy mô, tính chất và hình thức pháp lý Trong điều kiệnhiện nay ở Việt Nam, để phân loại HTX, thường căn cứ vào: chức năng hoạt động,tính chất trình độ xã hội hoá, quy mô và đặc điểm hình thành HTX Theo cách phânloại đó thì ở nước ta có các loại hình HTX sau:
- HTX DV bao gồm ba loại: HTX dịch vụ từng khâu, HTX DVTH
đa chức năng và HTX DV“đơn mục đích” hay HTX “chuyên ngành”
+ HTX DV từng khâu còn gọi là HTX dịch vụ chuyên khâu có nội dung hoạt
động tập chung ở từng lĩnh vực trong quá trình sản xuất hoặc từng khâu công việctrong quá trình sản xuất và phục vụ cho sản xuất Thí dụ, HTX tín dụng, HTX muabán, HTX dịch vụ đầu vào, HTX dịch vụ đầu ra, HTX chuyên dịch vụ về tưới tiêu,HTX chuyên phòng trừ sâu bệnh v.v
+ HTX DVTH đa chức năng có nội dung hoạt động đa dạng, gồm nhiều khâu
dịch vụ cho sản xuất, cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm (đầu ra), dịch vụ
Trang 8giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu,v.v Tuỳ thuộc đặc điểm, điều kiện, trình độphát triển sản xuất và tập quán ở từng vùng mà nhu cầu của nông hộ đối với từngloại hình dịch vụ có khác nhau Thí dụ, ở những vùng đồng bằng trồng lúa nước,HTX có thể thực hiện những khâu dịch vụ sau: xây dựng, điều hành kế hoạch, bố trí
cơ cấu mùa vụ, lịch thời vụ sản xuất, cung ứng vật tư, giống, tưới tiêu theo quy trình
kỹ thuật thâm canh, phòng trừ sâu bệnh, bảo về các sản phẩm ngoài đồng ruộng đểtránh hao hụt Với những vùng có mức bình quân ruộng đất và mức độ cơ giới hoácao, nông hộ cần thêm khâu dịch vụ làm đất, thu hoạch, sửa chữa cơ khí, vậnchuyển sản phẩm đến nơi tiêu thụ v v
+ HTX dịch vụ "đơn mục đích" hay HTX "chuyên ngành" HTX loại này
được hình thành từ nhu cầu của các hộ thành viên cùng sản xuất - kinh doanh mộtloại hàng hoá đặc trưng, hoặc cùng làm một nghề giống nhau (HTX trồng rừng,HTX trồng mía, HTX trồng chè v.v ) HTX thực hiện các khâu dịch vụ của kinh tế
hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ vậnchuyển và tiêu thụ sản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan hệ với cơ sở chế biến,ngân hàng v.v
- HTX sản xuất kết hợp dịch vụ
HTX loại này có đặc điểm: nội dung hoạt động sản xuất là chủ yếu, dịch vụ là kếthợp Mô hình HTX loại này phù hợp trong các ngành tiểu thủ công nghiệp, xâydựng, nghề đánh cá, nghề làm muối ( trừ ngành trồng trọt và chăn nuôi)
Ở một số nơi, HTX được hình thành trong quá trình chuyển đổi HTX kiểu cũtheo Luật HTX năm 1996, tuy mang tên HTX NN nhưng về bản chất chúng là HTXdịch vụ đơn thuần, hoặc HTX dịch vụ kết hợp sản xuất mở mang ngành nghề Cùngvới kinh tế HTX, kinh tế nông hộ được duy trì với tư cách là những đơn vị thànhviên của HTX
- HTX sản xuất - kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện
Đặc điểm cơ bản của mô hình HTX loại này là:
Trang 9+ Cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lý và chế độ hạch toán,kiểm kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc của HTX kiểu mới và tương tự một
"doanh nghiệp" tập thể
+ Sở hữu tài sản trong HTX gồm hai phần: sở hữu tập thể và sở hữu cổ phần
Xã viên HTX tham gia lao động trong HTX được hưởng lương theo nguyên tắcphân phối theo lao động và hưởng lãi cổ phần (ngoài phúc lợi tập thể của HTX).+ HTX hoạt động sản xuất - kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm phát triểnkinh tế HTX và đem lại lợi ích cho xã viên
+ HTX loại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, khaithác, sản xuất vật liệu xây dựng, nuôi trồng thuỷ sản, nghề làm muối, đánh cá
Ở các địa phương, mô hình HTX kiểu này thường gặp trên địa bàn thị trấn, thị
xã, các vùng ven sông, ven biển, những nơi phù hợp với nghề khai thác tài nguyên
và ở nhiều nơi khác khi có đủ điều kiện cần thiết
4 Vai trò, tính tất yếu khách quan tồn tại và phát triển của HTX NN
a Vai trò của việc tồn tại và phát triển của các HTX NN:
Từ mục đích và các nguyên tắc thành lập các HTX và HTXNN, tạo ra nhữngđiều kiện để chúng có vai trò rất to lớn đến sự phát triển của các thành viên và nôngnghiệp nông thôn Các vai trò của HTXNN nói chung, ở Việt Nam nói riêng đượcthể hiện sau:
- Hỗ trợ kinh tế hộ nông dân và các thành viên khác phát triển: Sự xuất hiện,
tồn tại và phát triển của HTX là một tất yếu khách quan Những hộ nông dân cá thểkhông thể không liên kết lại trước những diễn biến phức tạp, bất ngờ của điều kiện tựnhiên; trước sự chèn ép của các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực cung ứng vật tư kỹthuật và tiêu thụ sản phẩm… Sự liên kết tự nhiên đó đã gắn bó những người sản xuấtnhỏ trong các tổ chức HTX tùy theo yêu cầu sản xuất của họ
Tuy nhiên, HTX NN không chỉ hỗ trợ kinh tế hộ nông dân trên cơ sở các tínhchất của nó mà còn là trung gian tiếp nhận sự hỗ trợ của nhà nước đối với nông dân.Việc hỗ trợ của nhà nước đối với người nông dân thông qua tổ chức này rất đadạng, có thể là các khoản đầu tư hoặc các cơ chế chính sách, định hướng của nhà
Trang 10nước đối với khu vực này Về cơ chế, chính sách, định hướng, nhà nước có thểthông qua HTX để điều tiết giá trên thị trường từ đó hỗ trợ người nông dân… Vềđầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, mỗi nước có những chính sách khác nhau vàphương thức khác nhau đa dạng và phong phú ở nhiều nước HTX NN luôn là một
tổ chức thích hợp để thực hiện các hoạt động này Nhà nước có thể đầu tư các hệthống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật khác phục vụ cho sự phát triển củanông nghiệp, nông thôn như hệ thống điện, hệ thống kênh mương… và giao choHTX NN khai thác, sử dụng để phát triển kinh tế cũng như phục vụ dân sinh trênđịa bàn
- Phát triển kinh tế của HTX NN, góp phần vào việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta: Phát triển kinh tế là mục tiêu mà mọi tổ chức kinh tế
đều hướng tới HTX NN cũng là một tổ chức kinh tế nên cũng phải hướng tới mụctiêu này Như ta đã biết, mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp luôn là tìmkiếm lợi nhuận để bù đắp chi phí sản xuất, để tồn tại và phát triển Nếu không có lợinhuận, doanh nghiệp không thể trả công cho người lao động, duy trì việc làm lâudài của họ, cũng như không thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ lâu dài cho khách hàng
và cộng đồng
Việc hoạt động vì mục đích lợi nhuận không hề mâu thuẫn với mục tiêu tươngtrợ xã viên của HTX Bởi vì lợi nhuận ở đây là phương tiện, động cơ để HTX có thể
hỗ trợ, tương trợ cho xã viên của mình một cách lâu dài, toàn diện và tốt hơn
Như vậy sự phát triển kinh tế HTX là một tất yếu, là một điều kiện để duy trì
và phát triển bản thân các HTX Mặt khác, là một chủ thể của nền kinh tế, sự pháttriển kinh tế HTX còn góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế nông nghiệp
và nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay
b Tính tất yếu khách quan của việc hình thành HTX NN:
Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, HTX NN kiểu cũ ra đời vớimục tiêu phát triển kinh tế tập thể của chính bản thân mỗi HTX và thay thế căn bảnhoạt động kinh tế của mỗi nông hộ, nhằm nâng cao mức sống vật chất tinh thần củamỗi xã viên Tuy nhiên, HTX NN kiểu cũ được hình thành dựa trên cơ sở tập thể
Trang 11hóa quyền sở hữu ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của các nông hộ và do đó
đã xóa bỏ tư cách chủ thể kinh doanh của mỗi nông hộ, biến người lao động trongnông hộ trở thành người lao động bộ phận của một đơn vị tổ chức lao động hợp tácduy nhất là HTX NN: giống như một xí nghiệp công nghiệp, thậm chí còn biến mỗi
xã viên thành người lao động làm thuê cho HTX Và trong điều kiện kinh tế nước ta
cơ bản là sản xuất nhỏ, đặc biệt là sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường
ở nước ta thì đa số các HTX NN kiểu cũ đã không thích ứng được cũng như khôngthể phát huy hết tiềm năng và hiệu quả kinh tế của mình Đó là một tất yếu kháchquan hợp quy luật Ở những nơi sản xuất nông nghiệp còn mang tính tự cung, tự cấpchưa sản sinh ra những con người biết làm ăn trong cơ chế thị trường dẫn đến Đảng,Chính Quyền, các đoàn thể cấp huyện và xã đã giúp đỡ thành lập các tổ hợp tác đadạng Và trong thời điểm này, mục tiêu của người nông dân là tối đa hóa lợi ích,chứ không phải là tối đa hóa lợi nhuận nên nhu cầu hợp tác của họ chủ yếu là khâuđầu vào, với quy mô nhỏ bé Do đó các hình thức hợp tác Các tổ hợp tác thườngđơn giản, thực hiện từng dịch vụ riêng lẻ hoặc là một số khâu dịch vụ đầu vào vớiquy mô nhỏ bé trong khuôn khổ xóm, ấp, thực hiện dứt điểm từng công việc trongtừng thời gian ngắn theo yêu cầu thời vụ sản xuất, các quan hệ kinh tế, tài chính,tiền tệ phát sinh không liên tục và ít phát sinh Vì thế các tổ hợp tác chưa cần tưcách pháp nhân cũng như chưa cần một đạo luật riêng điều chỉnh chúng Tuy nhiênkhi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ thì mục tiêu của người dân là tối đahoá lợi nhuận nên nhu cầu hợp tác của họ ở đầu ra đã nảy sinh và ngày càng bứcxúc, trên quy mô ngày càng lớn như chế biến nông sản, tiêu thụ sản phẩm trên thịtrường cả trong và ngoài nước Đồng thời nhu cầu hợp tác đầu vào cũng tăng theo,nhất là về vốn kinh doanh và vật tư sản xuất Vì thế lúc đầu tổ hợp tác còn vươnglên thực hiện một số công việc đầu ra cho kinh tế hộ nhưng khi quy mô chế biến vàtiêu thụ sản phẩm, cung ứng tín dụng và vật tư trở nên quá lớn, các quan hệ kinh tế,tài chính trở nên ngày càng phức tạp, trải qua một không gian rộng lớn với nhiềuloại thị trường khác nhau, thì các tổ hợp tác sẽ không đủ khả năng đáp ứng đượcnhu cầu quản lý kinh tế tập thể Chính vì thế mà HTX NN kiểu mới có tư cách pháp
Trang 12nhân sẽ được thành lập từ các tổ hợp tác và hoạt động không phụ thuộc vào ranhgiới hành chính – lãnh thổ địa phương và hơn thế nữa HTX NN kiểu mới còn có thểhoạt động trên quy mô toàn quốc và ra thế giới Sự ra đời của HTX NN được thểhiện ở 2 khía cạnh sau:
- HTX NN kiểu mới ra đời không xem mục tiêu lợi nhuận là tối thượng mà HTXnông nghiệp xem sự phát triển và hiệu quả của kinh tế nông hộ trong cơ chế thịtrường là mục tiêu tối thượng
- Tuy đặt mục tiêu cao nhất là chăm lo cho xã viên nhưng không vì thế mà HTXquên đi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình Trên cơ sở hoạt động có lời, sau khi
đã trừ đi lợi tức cổ phần cho các xã viên, phần trích quỹ còn lại HTX dùng để thamgia xây dựng cộng đồng, và tham gia phúc lợi xã hội
II Luật HTX và sự đổi mới tư duy về HTX NN ở Việt Nam
1 Quá trình hình thành và phát triển của HTXNN ở Việt Nam
Ở Việt Nam, HTX, chủ yếu là HTX NN được bắt đầu xây dựng từ tháng8/1955, tức sau khi Nghị Quyết TW 8 (khoá II) ra đời, Nghị quyết này chủ trươngxây dựng thí điểm các HTX từ năm 1955 đến nay, phong trào HTX ở Việt Nam cóthể chia ra làm 2 giai đoạn chính:
a Giai đoạn 1: từ năm 1955 đến năm 1986
- Ở giai đoạn này, nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế tập thể, mà nồngcốt là HTX, Nghị quyết TW lần thứ 14 (khoá II) tháng 11/1958 Đảng ta xác định:
“phong trào HTX ở nước ta mới xây dựng, vì vậy phải đi từ thấp đến cao” Quanđiểm này thể hiện rõ trong tư tưởng của Bác Hồ về hợp tác hóa nông nghiệp vàđược đăng tải ở nhiều tác phẩm trong Hồ Chí Minh toàn tập
- Trong 2 thập kỷ 60-70 của thế kỷ XX, phong trào xây dựng HTX ở Miền Bắcnước ta trở nên rầm rộ Tuy chúng đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hộimiền Bắc và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giải phóng ở Miền Nam Song, nhìnchung trong giai đoạn này, phong trào HTX và những hoạt động của nó đã bộc lộnhiều khuyết điểm khó có thể khắc phục được
Trang 13- Từ sau 1975, đất nước thống nhất, ở miền Nam bắt tay vào xây dựng HTX vàcũng lập lại những bài học khuyết điểm tương tự như việc xây dựng HTX ở miềnBắc vào những năm 1960.
b Giai đoạn 2: từ năm 1986 đến nay
- Từ năm 1986 đến nay, các HTX ở nước ta được đổi mới về địa vị pháp lý, chứcnăng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động theo cơ chế thị trường
- Cơ sở pháp lý cho sự thay đổi nói trên là sự ra đời của Nghị quyết Đại Hội Đảnglần Thứ VI năm 1986 Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định: “Phát triển nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần trong các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.Kinh tế HTX, được khẳng định cùng với nền kinh tế Nhà nước trở thành nền tảngcủa nền kinh tế, đồng thời thừa nhận sự tồn tại của kinh tế HTX phải đi đôi với sựphát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao, HTX là bộ phậnnồng cốt của kinh tế hợp tác” Từ quan điểm nêu trên có thể rút ra các đặc điểm sau:
· Cần nhận thức rõ kinh tế hợp tác là yêu cầu và xu thế tất yếu khách quan trongquá trình phát triển của đất nước và nhận thức sâu sắc vai trò của kinh tế hợp táccũng như việc xác định rõ mục đích xây dựng và phát triển HTX
· Cần xem nhiệm vụ tổ chức lại sản xuất, xây dựng và giúp đỡ HTX là tráchnhiệm của nhà nước, nhưng chủ yếu là thông qua các đoàn thế quần chúng, đặc biệt
là hội nông dân, trong đó quyết định là hệ thống chính trị cấp huyện, xã
- Đặc biệt từ khi luật HTX ban hành năm 1996 và có hiệu lực thi hành01/01/1997, phong trào HTX ở Việt Nam mới thực sự có những thay đổi về chất màngười ta thường gọi là HTX kiểu mới
- Nhìn chung, giai đoạn từ năm 1986 đến nay phong trào HTX ở Việt Nam có một
số điểm tiến bộ cần lưu ý là:
Trang 14· Quản lý, điều chỉnh tổ chức hoạt động của HTX bằng công cụ pháp luật.
2 Sự cần thiết phải đổi mới và phát triển HTX NN theo Luật HTX 2003
Luật HTX 2003 là sự kế tiếp của Luật HTX đã được ban hành lần đầu tiênnăm 1996, và nó có hai mục tiêu chính:
- Củng cố, kiện toàn các hợp tác xã vốn được thành lập từ trong thời kì kinh
tế kế hoạch hóa tập trung còn sót lại hiện nay, cụ thể là chuyển đổi các HTX nàysang hình thức “HTX kiểu mới”
- Xây dựng một khung thể chế nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế hợp tác
đa dạng đang ngày càng phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, đặcbiệt là các tổ chức kinh tế hợp tác do người dân thành lập dưới nhiều hình thức vàcấp độ khác nhau trong mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội
Các HTX “kiểu cũ” ở đây là những hợp tác xã được thành lập và còn sót lại
từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung Do đặc điểm hoạt động, những HTX cònlại chủ yếu là các HTX NN, còn các loại hình hợp tác xã khác (hợp tác xã tín dụng,hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã thương mại, v.v…) hầu hết đều đã tan
rã Kể từ sau khi kinh tế gia đình chính thức được tái thừa nhận về mặt pháp lý(quan trọng nhất là với Nghị quyết 10 năm 1988 và sau đó là Luật đất đai 1993,2003), thì cơ sở kinh tế-xã hội của các HTX này gần như không còn gì và vai tròcủa chúng cũng bị suy giảm về cơ bản Những hợp tác xã này có hai xu hướng biếnđổi:
- Tiếp tục đi vào sa sút và đi đến giải thể;
- Một số khác vì nhiều lý do, cả tích cực (cải tiến tổ chức, quản lý, năng lựcsản xuất kinh doanh, v.v ) lẫn tiêu cực (tồn đọng trong giải quyết nợ vốn, tài sảnvới xã viên và nhà nước, v.v ) thì vẫn tiếp tục tồn tại
Cả về lý luận và thực tiễn, kinh tế hợp tác và HTX là sản phẩm tất yếu củanền sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá phát triển, sự cạnh tranh trong kinh tế thịtrường gay gắt buộc những người lao động riêng lẻ, hộ cá thể, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ phải liên kết, hợp tác với nhau mới có thể tồn tại và phát triển
Trang 15Ở nước ta, trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, nông dân ngày càng
có nhu cầu tham gia các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao, từ các tổ hợp tácđến HTX, doanh nghiệp nhỏ Các HTX từng bước phát huy vai trò không thể thiếucủa mình trong phát triển kinh tế xã hội
Sau khi Luật HTX năm 1996 được đưa vào thực hiện, nhiều HTX đã thể hiệnđược các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và phát triển HTX như: tinh giảm bộmáy quản lý, phát huy vai trò tự chủ - dân chủ nội bộ, xác định địa vị chính đáng,quyền và nghĩa vụ của xã viên đã xuất hiện một số mô hình hiệu quả Công tác quản
lý trong HTX từng bước được củng cố và hoàn thiện, quản lý tài chính đã khắc phụctốt những yếu kém, trì trệ trước đây; phân định rõ chức năng quản lý kinh tế củaHTX với chức năng quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã; phân loại và xácđịnh được danh mục tài sản dùng chung cho cộng đồng để chuyển cho xã, phườngquản lý
Nội dung hoạt động của HTX được sắp xếp lại theo hướng nâng cao hiệu quả
và mở rộng dịch vụ, xoá bỏ những hoạt động kém hiệu quả, ít tác dụng đối với kinh
tế hộ trên cơ sở tôn trọng tính tự chủ của kinh tế hộ Có tới 84,7% trong tổng số3.245 hộ được phỏng vấn cho rằng HTX hoạt động khá hơn trước khi chuyển đổi,
có 73% ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ của HTX tốt hơn và 84,2% cho là giádịch vụ bằng và thấp hơn so với tư nhân Một số HTX khi thành lập có điểm xuấtphát thấp từ độc canh lúa, nay đã trở thành HTX sản xuất - kinh doanh tổng hợp, cóvốn, quỹ tập thể lớn, tổ chức được nhiều ngành nghề mới, còn hình thành các xínghiệp trực thuộc Đây là hướng đi mới, năng động, biết tổ chức các hình thức kinhdoanh phù hợp, hiệu quả, phát huy thế mạnh của sở hữu tập thể Một số HTX đã tổchức được các hoạt động khuyến nông, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đưa giống mới
có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ vào sản xuất; tổ chức chế biến làm dịch
vụ đầu ra, dịch vụ tín dụng nội bộ… góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng caohiệu quả sản xuất cho hộ xã viên Những mặt tích cực như đã nêu là rất quan trọng,nhưng chưa phổ biến Quá trình đổi mới và phát triển của HTX còn gặp nhiều khókhăn, còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém; tốc độ chuyển đổi chậm, chưa tương xứng
Trang 16với yêu cầu phát triển của sức sản xuất Nhìn tổng thể, hệ thống HTX NN vào thờiđiểm hiện nay còn nhỏ bé, chưa đáp ứng kịp sự phát triển kinh tế hàng hoá của kinh
tế hộ ở nhiều vùng, chưa phát huy đầy đủ tính ưu việt của hình thức kinh tế tập thể.Một số HTX chuyển đổi và thành lập mới còn mang tính hình thức, chưa có sựchuyển biến về nội dung và hiệu quả hoạt động Nhiều xã viên không làm đơn vàoHTX, không đóng thêm cổ phần; thậm chí chỉ là sự phân bổ giá trị tài sản của HTX
cũ, chưa xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các quan hệ vềquản lý không thay đổi so với trước Công nợ trong HTX, nhất là HTX chuyển đổichưa được xử lý, làm cản trở sự phát triển HTX Do đó cần phải tiếp tục đổi mới vàphát triển HTX NN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nôngnghiệp trong thời gian tới
3 Nội dung cơ bản của Luật HTX năm 2003 và một số điểm mới của luật HTX năm 2003 so với luật HTX năm 1996
3.1 Một số nội dung chính của Luật HTX 2003
Luật HTX năm 2003 bao gồm 10 chương, 52 điều Đây là những quy định cơ bảnnhất nhằm điều tiết hoạt động của các loại hình HTX trong nền kinh tế thị trườngđồng thời hướng dẫn một số HTX chuyển đổi theo Luật mới
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tựchủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốntích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật
3.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX
Trang 17- Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định củaLuật này, tán thành Ðiều lệ hợp tác xã đều có quyền gia nhập hợp tác xã; xã viên cóquyền ra hợp tác xã theo quy định của Ðiều lệ hợp tác xã;
- Dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra,giám sát hợp tác xã và có quyền ngang nhau trong biểu quyết; thực hiện công khaiphương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quyđịnh trong Ðiều lệ hợp tác xã;
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: hợp tác xã tự chủ và tự chịu tráchnhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh; tự quyết định về phân phối thunhập
Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của hợp tác xã,lãi được trích một phần vào các quỹ của hợp tác xã, một phần chia theo vốn góp vàcông sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụngdịch vụ của hợp tác xã;
- Hợp tác và phát triển cộng đồng: xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần xâydựng tập thể và hợp tác với nhau trong hợp tác xã, trong cộng đồng xã hội; hợp tácgiữa các hợp tác xã trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật
3.1.3 Ðiều lệ hợp tác xã
1 Mỗi hợp tác xã có Ðiều lệ riêng Ðiều lệ hợp tác xã phải phù hợp với các quyđịnh của Luật này và các quy định khác của pháp luật
2 Ðiều lệ hợp tác xã có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên hợp tác xã, biểu tượng của hợp tác xã (nếu có);
b) Ðịa chỉ trụ sở chính của hợp tác xã;
c) Ngành, nghề sản xuất, kinh doanh;
d) Các quy định về đối tượng, điều kiện, thủ tục gia nhập hợp tác xã và ra hợp tác
xã của xã viên;
đ) Các quy định về quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của xã viên;
e) Nguyên tắc và đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;
g) Vốn điều lệ của hợp tác xã;
Trang 18h) Vốn góp tối thiểu: mức góp, hình thức góp, thời hạn góp và điều kiện trả lại vốngóp của xã viên;
i) Thẩm quyền và phương thức huy động vốn;
k) Nguyên tắc trả công, xử lý các khoản lỗ; chia lãi theo vốn góp, theo công sứcđóng góp của xã viên và theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã; trích lập,quản lý và sử dụng các quỹ của hợp tác xã;
l) Thể thức quản lý, sử dụng, bảo toàn và xử lý phần tài sản chung, vốn tích lũy củahợp tác xã khi hợp tác xã đang hoạt động và khi hợp tác xã giải thể;
m) Cơ cấu tổ chức quản lý hợp tác xã; chức năng, quyền, nhiệm vụ và trách nhiệmcủa Ban quản trị, Trưởng Ban quản trị, Chủ nhiệm hợp tác xã, Ban kiểm soát,Trưởng Ban kiểm soát và các bộ phận giúp việc cho hợp tác xã;
n) Người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã;
o) Thể thức tiến hành Ðại hội và thông qua quyết định của Ðại hội xã viên;
p) Chế độ xử lý vi phạm Ðiều lệ hợp tác xã và nguyên tắc giải quyết tranh chấp nộibộ;
q) Thể thức sửa đổi Ðiều lệ hợp tác xã;
r) Các quy định khác do Ðại hội xã viên tự quyết định nhưng không trái với quyđịnh của pháp luật
3 Khi sửa đổi Ðiều lệ hợp tác xã, hợp tác xã phải gửi Ðiều lệ sửa đổi có kèm theobiên bản của Ðại hội xã viên đến cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh cho hợp tác xã
4 Chính phủ ban hành Mẫu hướng dẫn xây dựng Ðiều lệ hợp tác xã nông nghiệp,quỹ tín dụng nhân dân và hợp tác xã phi nông nghiệp
3.1.4 Ðiều kiện trở thành xã viên
1 Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,
có góp vốn, góp sức, tán thành Ðiều lệ hợp tác xã, tự nguyện xin gia nhập hợp tác
xã có thể trở thành xã viên
Cán bộ, công chức được tham gia hợp tác xã với tư cách là xã viên theo quy địnhcủa Ðiều lệ hợp tác xã nhưng không được trực tiếp quản lý và điều hành hợp tác xã
Trang 192 Hộ gia đình, pháp nhân có thể trở thành xã viên theo quy định của Ðiều lệ hợp tác
xã Khi tham gia hợp tác xã, hộ gia đình, pháp nhân phải cử người đại diện có đủđiều kiện như đối với cá nhân tham gia
3 Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có thể là xã viên của nhiều hợp tác xã trongtrường hợp Ðiều lệ hợp tác xã không cấm
3.1.5 Nội dung của Ðại hội xã viên
Ðại hội xã viên thảo luận và quyết định những vấn đề sau đây:
1 Quy định tiêu chuẩn xã viên khi tham gia hợp tác xã;
2 Báo cáo tình hình sản xuất, kinh doanh trong năm của hợp tác xã, báo cáo hoạtđộng của Ban quản trị và của Ban kiểm soát;
3 Báo cáo công khai tài chính, dự kiến phân phối thu nhập và xử lý lỗ, các khoảnnợ;
4 Phương hướng, kế hoạch sản xuất, kinh doanh;
5 Vốn tối thiểu; tăng, giảm vốn điều lệ; thẩm quyền và phương thức huy động vốn;
6 Xác định giá trị tài sản chung của hợp tác xã theo quy định tại khoản 3 Ðiều 35Luật này;
7 Phân phối lãi theo vốn góp, công sức đóng góp và mức độ sử dụng dịch vụ củacác xã viên; các quỹ của hợp tác xã;
8 Thành lập riêng hay không thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hànhhợp tác xã theo quy định tại điểm c khoản 3 Ðiều 11 Luật này;
9 Bầu, bãi miễn Ban quản trị, Trưởng Ban quản trị, Ban kiểm soát, Trưởng Bankiểm soát;
10 Thông qua việc kết nạp xã viên mới và cho xã viên ra hợp tác xã; quyết địnhkhai trừ xã viên;
11 Tổ chức lại, giải thể hợp tác xã;
12 Sửa đổi Ðiều lệ, Nội quy hợp tác xã;
13 Mức tiền công, tiền lương và tiền thưởng cho Trưởng Ban quản trị và các thànhviên khác của Ban quản trị, Chủ nhiệm và các Phó chủ nhiệm hợp tác xã, Trưởng
Trang 20Ban kiểm soát, các thành viên khác của Ban kiểm soát và các chức danh khác củahợp tác xã;
14 Các đối tượng được hợp tác xã đóng bảo hiểm xã hội theo chính sách bảo hiểm
xã hội bắt buộc của Nhà nước;
15 Những vấn đề khác do Ban quản trị, Ban kiểm soát hoặc có ít nhất một phần batổng số xã viên đề nghị
3.1.6 Hợp tác xã thành lập một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành
1 Ban quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
a) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Phó chủ nhiệm hợp tác xã theo đề nghị của Chủ nhiệmhợp tác xã;
b) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê kế toán trưởng (nếuhợp tác xã có chức danh này);
c) Quyết định cơ cấu tổ chức các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ của hợp tác xã;d) Tổ chức thực hiện nghị quyết của Ðại hội xã viên;
đ) Chuẩn bị báo cáo về kế hoạch sản xuất, kinh doanh, huy động vốn và phân phốilãi của hợp tác xã, báo cáo hoạt động của Ban quản trị trình Ðại hội xã viên;
e) Chuẩn bị chương trình nghị sự của Ðại hội xã viên và triệu tập Ðại hội xã viên;g) Ðánh giá kết quả sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã; duyệt báo cáo quyết toántài chính để trình Ðại hội xã viên;
h) Tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã quy định tại Ðiều 6 vàÐiều 7 của Luật này;
i) Xét kết nạp xã viên mới và giải quyết việc xã viên ra hợp tác xã (trừ trường hợpkhai trừ xã viên) và báo cáo để Ðại hội xã viên thông qua;
k) Ðại diện chủ sở hữu tài sản của hợp tác xã và doanh nghiệp trực thuộc trongtrường hợp hợp tác xã có doanh nghiệp;
l) Kiểm tra, đánh giá công việc của Chủ nhiệm và các Phó chủ nhiệm hợp tác xãtheo các quyết định của Ban quản trị;
m) Chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước Ðại hội xã viên và trướcpháp luật;
Trang 21n) Các quyền và nhiệm vụ khác do Ðiều lệ hợp tác xã quy định.
2 Chủ nhiệm hợp tác xã có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
a) Ðại diện hợp tác xã theo pháp luật;
b) Thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh và điều hành các công việc hàng ngàycủa hợp tác xã;
c) Tổ chức thực hiện các quyết định của Ban quản trị hợp tác xã;
d) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, phân công các chức danh trong Ban quản trị hợp tác xã,trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Ðại hội xã viên và Ban quản trị hợp tác xã;đ) Ký kết các hợp đồng nhân danh hợp tác xã;
e) Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Ban quản trị hợp tác xã;
g) Ðề nghị với Ban quản trị về phương án bố trí cơ cấu tổ chức hợp tác xã;
h) Tuyển dụng lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Ban quản trị hợp tácxã;
i) Các quyền khác được quy định tại Ðiều lệ hợp tác xã, nghị quyết của Ðại hội xãviên;
k) Chịu trách nhiệm trước Ðại hội xã viên và Ban quản trị về công việc được giao;Khi vắng mặt, Chủ nhiệm ủy quyền cho một Phó chủ nhiệm hoặc một thành viênBan quản trị điều hành công việc của hợp tác xã
3.1.7 Hợp tác xã thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành
1 Ban quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
a) Bổ nhiệm, miễn nhiệm, thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê Chủ nhiệm hợp tác xãtheo nghị quyết của Ðại hội xã viên;
b) Bổ nhiệm, miễn nhiệm các Phó chủ nhiệm hợp tác xã theo đề nghị của Chủnhiệm hợp tác xã
Ngoài các quyền và nhiệm vụ trên đây, Ban quản trị hợp tác xã còn có các quyền,nhiệm vụ quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 Ðiều 27 củaLuật này
2 Trưởng Ban quản trị hợp tác xã có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
a) Ðại diện hợp tác xã theo pháp luật;
Trang 22b) Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Ban quản trị;
c) Triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Ban quản trị, Ðại hội xã viên;
d) Chịu trách nhiệm trước Ðại hội xã viên và Ban quản trị về công việc được giao; đ) Ký các quyết định của Ðại hội xã viên và Ban quản trị;
e) Các quyền và nhiệm vụ khác do Ðiều lệ hợp tác xã quy định
3 Chủ nhiệm hợp tác xã có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
a) Thực hiện kế hoạch hoạt động sản xuất, kinh doanh và điều hành các công việchàng ngày của hợp tác xã;
b) Tổ chức thực hiện các quyết định của Ban quản trị hợp tác xã;
c) Ký kết các hợp đồng nhân danh hợp tác xã do Ban quản trị hợp tác xã ủy quyền;d) Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Ban quản trị hợp tác xã;
đ) Ðề nghị với Ban quản trị về phương án bố trí cơ cấu tổ chức hợp tác xã;
e) Tuyển dụng lao động theo ủy quyền của Ban quản trị hợp tác xã;
g) Các quyền khác được quy định tại Ðiều lệ hợp tác xã, nghị quyết của Ðại hội xãviên hoặc theo hợp đồng ký kết với Ban quản trị hợp tác xã
Khi vắng mặt, Chủ nhiệm ủy quyền cho một Phó chủ nhiệm điều hành công việccủa hợp tác xã
Trường hợp Chủ nhiệm hợp tác xã là xã viên hoặc thành viên Ban quản trị hợp tác
xã thì ngoài việc phải thực hiện đầy đủ các quyền và nhiệm vụ của Chủ nhiệm hợptác xã theo quy định của Ðiều này, phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của xãviên hoặc thành viên Ban quản trị hợp tác xã
Trường hợp Chủ nhiệm hợp tác xã được thuê thì phải thực hiện đầy đủ các quyền vànhiệm vụ của Chủ nhiệm hợp tác xã quy định tại Ðiều này và tại hợp đồng thuê Chủnhiệm hợp tác xã Chủ nhiệm hợp tác xã được tham gia các cuộc họp của Ban quảntrị và Ðại hội xã viên nhưng không được quyền biểu quyết và không được hưởngcác quyền khác của xã viên, thành viên Ban quản trị hợp tác xã
3.1.8 Ban kiểm soát
1 Ban kiểm soát là bộ máy giám sát và kiểm tra mọi hoạt động của hợp tác xã theođúng pháp luật và Ðiều lệ hợp tác xã
Trang 232 Ban kiểm soát do Ðại hội xã viên bầu trực tiếp Số lượng thành viên Ban kiểmsoát do Ðiều lệ hợp tác xã quy định; hợp tác xã có ít xã viên có thể chỉ bầu mộtkiểm soát viên.
3 Tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm soát như tiêu chuẩn thành viên Ban quản trị.Thành viên Ban kiểm soát không được đồng thời là thành viên Ban quản trị, kế toántrưởng, thủ quỹ của hợp tác xã và không phải là cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị,
Mức vốn góp tối thiểu được điều chỉnh theo quyết định của Ðại hội xã viên
2 Xã viên được trả lại vốn góp trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d
và đ khoản 1 Ðiều 20 của Luật này
Việc trả lại vốn góp của xã viên căn cứ vào thực trạng tài chính của hợp tác xã tạithời điểm trả lại vốn sau khi hợp tác xã đã quyết toán năm và đã giải quyết xong cácquyền lợi, nghĩa vụ về kinh tế của xã viên đối với hợp tác xã Hình thức, thời hạntrả lại vốn góp cho xã viên do Ðiều lệ hợp tác xã quy định
Trang 24với điều kiện cụ thể của từng hợp tác xã Tỷ lệ cụ thể trích lập các quỹ do Ðại hội
xã, các nguồn vốn do Nhà nước trợ cấp, quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân trongnước và ngoài nước
3.1.13 Xử lý tài sản và vốn của hợp tác xã khi giải thể
1 Khi giải thể, hợp tác xã không chia cho xã viên vốn và tài sản chung do Nhà nướctrợ cấp mà chuyển giao cho chính quyền địa phương quản lý
Ðối với vốn và tài sản chung của hợp tác xã được hình thành từ các nguồn vốn vàcông sức của xã viên, quà biếu, tặng của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoàinước thì do Ðại hội xã viên quyết định
2 Vốn góp của xã viên bằng giá trị quyền sử dụng đất và đất do Nhà nước giao chohợp tác xã sử dụng được xử lý theo quy định của pháp luật về đất đai
3 Sau khi thanh toán hết các khoản nợ và các chi phí cho việc giải thể hợp tác xã,việc xử lý tài sản, vốn, quỹ khác còn lại của hợp tác xã được thực hiện theo quyđịnh tại Ðiều này, các quy định khác của pháp luật có liên quan và Ðiều lệ hợp tácxã
3.1.14 Phân phối lãi
1 Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của hợp tác xã được phân phối nhưsau:
Trang 25a) Trả bù các khoản lỗ của năm trước (nếu có) theo quy định của pháp luật về thuế; b) Trích lập quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng và các quỹ khác của hợp tác xã;chia lãi cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp của xã viên và phần còn lạichia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã.
2 Căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh nhu cầu tích luỹ để phát triển
hợp tác xã, Ðại hội xã viên quyết định cụ thể tỷ lệ phân phối lãi hàng năm vào cáckhoản mục quy định tại điểm b khoản 1 Ðiều này
3.1.15 Xử lý các khoản lỗ
Lỗ phát sinh trong năm của hợp tác xã được trừ vào khoản thu từ tiền đền bù, bồithường của cá nhân, tổ chức có liên quan; nếu chưa đủ thì bù đắp bằng quỹ dựphòng; nếu vẫn chưa đủ thì số lỗ còn lại được chuyển sang năm sau theo quy địnhcủa pháp luật về thuế
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn thanh toán nợ và thanh lý cáchợp đồng, cơ quan đăng ký kinh doanh nhận đơn phải ra thông báo chấp thuận hoặckhông chấp thuận việc xin giải thể của hợp tác xã
Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được thông báo chấp thuận việc xingiải thể của cơ quan đăng ký kinh doanh, hợp tác xã phải xử lý vốn, tài sản theo quyđịnh tại Ðiều 36 của Luật này, thanh toán các khoản chi phí cho việc giải thể, trảvốn góp và giải quyết các quyền lợi cho xã viên theo quy định của Ðiều lệ hợp tácxã;
2 Giải thể bắt buộc:
Trang 26Ủy ban nhân dân nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có quyền quyết địnhbuộc giải thể đối với hợp tác xã khi có một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau thời hạn mười hai tháng, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh mà hợp tác xã không tiến hành hoạt động;
b) Hợp tác xã ngừng hoạt động trong mười hai tháng liền;
c) Trong thời hạn mười tám tháng liền, hợp tác xã không tổ chức được Ðại hội xãviên thường kỳ mà không có lý do chính đáng;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật;
3 Ủy ban nhân dân ra quyết định giải thể lập Hội đồng giải thể và chỉ định Chủ tịchHội đồng để tổ chức việc giải thể hợp tác xã
Hội đồng giải thể hợp tác xã phải đăng báo địa phương nơi hợp tác xã hoạt độngtrong ba số liên tiếp về quyết định giải thể hợp tác xã; thông báo trình tự, thủ tục,thời hạn thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng, xử lý vốn, tài sản theo quy định tại Ðiều
36 của Luật này, trả vốn góp và giải quyết các quyền lợi khác có liên quan của xãviên theo quy định của Ðiều lệ hợp tác xã
Thời hạn thanh toán nợ, thanh lý các hợp đồng tối đa là một trăm tám mươi ngày,
kể từ ngày đăng báo lần thứ nhất;
4 Kể từ ngày hợp tác xã nhận được thông báo giải thể, cơ quan đăng ký kinh doanh
đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải thu hồi giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh và xóa tên hợp tác xã trong sổ đăng ký kinh doanh; hợp tác xã phải nộpngay con dấu cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
5 Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Ủy ban nhân dân về việc giảithể hợp tác xã thì hợp tác xã có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩmquyền hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật
3.2 Một số điểm mới
Luật HTX sửa đổi đã được thông qua tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Khóa XIvào tháng 11 năm 2003 có một số điểm mới sau:
3.2.1 Định nghĩa HTX: Một trong những nội dung mới, quan trọng trong Luật sửa
đổi là định nghĩa về HTX Trong Luật năm 1996 HTX được định nghĩa là "tổ chức
Trang 27kinh tế tự chủ", nhưng tổng kết 6 năm thi hành luật cho thấy các HTX, nhất là HTXtrong lĩnh vực Nông nghiệp vẫn đang còn bị các cơ quan quản lý Nhà nước xemnhư các tổ chức vừa là công cụ của chính quyền cơ sở (xã, phường), vừa là tổ chứcnặng tính xã hội, có nghĩa vụ phục vụ chính quyền và cộng đồng theo ý muốn chủquan của họ Đồng thời bản thân các xã viên HTX vẫn chưa coi HTX là của chínhmình và do chính họ lập ra, từ đó dẫn đến họ vẫn chưa thực sự là chủ HTX, chưa cóđộng lực cùng nhau xây dựng phát triển HTX Mặt khác, tính tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về kinh tế, tinh thần tự lực nâng cao khả năng cạnh tranh của các HTX trongnền kinh tế thị trường rất hạn chế Kết quả là sau một thời gian hoạt động theo LuậtHTX bên cạnh một bộ phận HTX đã phát triển tốt trong điều kiện mới, vẫn còn sốđông HTX chưa phát huy được khả năng, sức mạnh tập thể của các xã viên trongHTX, do đó vẫn còn yếu kém, phụ thuộc vào sự chỉ đạo của chính quyền và bị hànhchính hoá trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, không thích ứng được với cơ chếthị trường đang đòi hỏi ngày một khắt khe hơn đối với HTX về tính tự chủ tronghoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của nó
Để khắc phục tình trạng này, Luật HTX (sửa đổi) đã quy định: "Hợp tác xã là tổ
chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật" Theo định nghĩa này
HTX được tổ chức theo nguyên tắc riêng về tính tự nguyện, dân chủ và bình đẳng
về lợi ích và trách nhiệm của mỗi đối tượng tham gia HTX, đồng thời làm rõ bảnchất HTX là một loại hình doanh nghiệp, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vềcác nghĩa vụ tài chính của mình và bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp kháctrong qua trình hoạt động Như vậy sẽ tạo ra cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nướcđối với HTX và chính các xã viên HTX đổi mới nhận thức về loại hình tổ chức kinh
tế này, xoá bỏ tư tưởng coi HTX nặng nề về tổ chức xã hội, là bộ phận, là cánh taycủa bộ máy công quyền (nhất là đối với các cấp chính quyền huyện, xã ở nông thôn
Trang 28trong quan hệ với HTX NN), làm cho HTX phụ thuộc vàp sự bao cấp của Nhà nước
và không được tự chủ và bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác trong quatrình hoạt động của nó
Định nghĩa mới về HTX còn xác định rõ điều kiện tồn tại và phát triển củaHTX là HTX phải biết tự khẳng định mình là tổ chức kinh tế tự chủ, biết hoạt độngnhanh nhạy, khôn ngoan như các doanh nghiệp, biết cạnh tranh để tồn tại trong cơchế thị trường HTX muốn phát triển ngày một lớn mạnh về kinh tế, có sức hấp dẫnngày một cao đối với xã viên của nó, thì hợp tác xã phải ngày càng tham gia sâurộng vào thị trường, vào các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, vào tìmkiếm các nguồn lực để phát triển
3.2.2 Mở rộng đối tượng được tham gia xã viên HTX: Luật HTX năm 1996 quy
định đối tượng tham gia HTX chỉ là “ những người lao động”, như vậy có phần hạnchế các đối tượng khác như các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và cán bộ, công chứccũng muốn tham gia đóng góp phát triển HTX, trong khi bản chất của loại hình tổchức kinh tế này là mang tính xã hội cao và mở rộng đối với việc tham gia của cácchủ thể trong xã hội Vì vậy Luật HTX (sửa đổi) đã quy định vấn đề này theo hướng
mở rộng đói tượng tham gia HTX, bao gồm cả cá nhân, pháp nhân và cán bộ côngchức Theo quy định này HTX có thể kết nạp xã viên là những người lao động, cácpháp nhân ( các tổ chức kinh tế, xã hội có tư cách pháp nhân), các hộ gia đình và cảnhững cán bộ, công chức đang làm việc trong các cơ quan hành chính và cơ quan sựnghiệp
Tuy nhiên, để làm rõ việc tham gia của từng loại đối tượng Luật ( sửa đổi) quy định:
Hộ gia đình, pháp nhân khi tham gia phải cử người đại diện cụ thể có đủ điều kiện,tiêu chuẩn như đối với cá nhân theo Điều lệ của HTX; đối với cán bộ, công chứcđang làm việc, nếu tham gia HTX thì chỉ với tư cách là xã viên bình thường, khôngtrực tiếp tham gia quản lý và điều hành HTX
3.2.3 Quyền, nghĩa vụ của HTX:
Quyền của HTX: để tạo sự bình đẳng cho HTX như đối với các loại hình doanhnghiệp, Luật HTX ( sửa đổi) quy định HTX được: lựa chọn các ngành, nghề kinh
Trang 29doanh mà pháp luật không cấm; tự quyết định hình thức, cơ cấu tổ chức sản xuất,kinh doanh của HTX; thuê lao động; quyết định việc phân phối thu nhập, xử lý cáckhoản lỗ; vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác; từ chối yêu cầu của các
tổ chức, cá nhân trái với quy định của pháp luật…
Nghĩa vụ của HTX: Luật sửa đổi quy định rõ các nghĩa vụ mà HTX phải thựchiện đúng quy định của pháp luật về: kế toán, thống kê và kiểm toán; nộp thuế vàthực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm
về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốnkhác của HTX theo quy định của pháp luật; thực hiện các nghĩa vụ đối với xã viên
và người lao động cho HTX; đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho xã viên và ngườilao động làm việc thường xuyên cho HTX; giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, nâng caotrình độ hiểu biết của xã viên, cung cấp thông tin để xã viên tích cực tham gia xâydựng HTX…
3.2.4 Quyền, nghĩa vụ của xã viên HTX:
Quyền của xã viên: Được hưởng lãi chia theo vốn góp, công sức đóng góp vàtheo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX; được hưởng các phúc lợi của HTX; đượcHTX thực hiện các cam kết kinh tế; được tham gia đại hội, hội nghị xã viên HTX vàbàn bạc, biểu quyết các công việc của HTX; được ứng cử, bầu cử vào Ban quản trị,chủ nhiệm, ban kiểm soát và các chức danh khác của HTX;…
Nghĩa vụ của xã viên: Khi tham gia HTX xã viên phải: góp vốn theo quy địnhcủa Điều lệ HTX nhưng không được vượt quá 30% vốn điều lệ HTX; chấp hànhĐiều lệ, nội quy, các quyết định của HTX; thực hiện các cam kết kinh tế với HTX;cùng chịu trách nhiệm với HTX về các khoản nợ, rủi ro, thiệt hại của HTX trongphạm vi vốn góp của mình; bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho HTX theo quyđịnh của Điều lệ…
3.2.5 Tổ chức bộ máy HTX:
Đại hội xã viên: Đại hội xã viên có quyền quyết định cao nhất của HTX Tại Đạihội xã viên, xã viên sẽ thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của HTXnhư: xây dựng tiêu chuẩn xã viên khi tham gia HTX; phương hướng, kế hoạch sản
Trang 30xuất, kinh doanh của HTX; xác định vốn tối thiểu, tăng, giảm vốn điều lệ và cáchthức huy động vốn; xác định giá trị tài sản chung của HTX; phương hướng phânphối lãi theo vốn góp, công sức đóng góp và theo mức độ sử dụng dịch vụ của xãviên, xác định các quỹ và tỷ lệ cụ thể trích lập các quỹ của HTX; thành lập riênghay không thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành HTX; bầu, bãi miễnBan quản trị, Trưởng ban quản trị, Ban kiểm soát, Trưởng ban kiểm soát; mức tiềncông, tiền lương, tiền thưởng cho các chức danh chủ chốt của HTX; các đối tượngđược HTX đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tùy theo khả năng của HTX; sửa đổiĐiều lệ, Nội quy HTX.
Luật HTX (sửa đổi) đã quy định cơ cấu tổ chức của các HTX Các HTX có thểchỉ tổ chức 1 bộ máy vừa quản lý vừa điều hành, cũng có thể tổ chức riêng bộ máyquản lý và bộ máy điều hành và có quyền thuê người điều hành tùy theo điều kiện,nhu cầu của mình Cụ thể:
Đối với HTX chỉ tổ chức 1 bộ máy vừa quản lý vừa điều hành:
- Ban quản trị HTX có quyền và nhiệm vụ như sau: Bổ nhiệm, miễn nhiệm phó chủnhiệm HTX theo đề nghị của Chủ nhiệm HTX; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, thuê hoặcchấm dứt hợp đồng thuê kế toán trưởng (nếu HTX có chức danh này); quyết định cơcấu tổ chức các bộ phận nghiệp vụ chuyên môn chủa HTX; tổ chức thực hiện nghịquyết của Đại hội xã viên; chuẩn bị báo cáo về kế hoạch sản xuất, kinh doanh, huyđộng vốn và phân phối lãi của HTX, báo cáo hoạt động của Ban quản trị trình Đạihội xã viên; chuẩn bị chương trình nghị sự của Đại hội xã viên và triệu tập Đại hội
xã viên; đánh giá kết quả sản xuất, kinh doanh của HTX; duyệt báo cáo quyết toántài chính để trình Đại hội xã viên; tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ củaHTX; xét kết nạp xã viên mới và giải quyết việc xã viên ra HTX (trừ trường hợpkhai trừ) và báo cáo để Đại hội xã viên thông qua; đại diện chủ sở hữu tài sản củaHTX và doanh nghiệp trực thuộc nếu HTX có doanh nghiệp; kiểm tra, đánh giácông việc của Ban quản trị chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước Đạihội xã viên và trước pháp luật
Trang 31- Chủ nhiệm HTX là người đứng đầu Ban quản trị vừa thực hiện chức năng quản lývừa thực hiện hiện chức năng điều hành với các quyền và nhiệm vụ sau: Đại diệnHTX theo pháp luật; thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh và điều hành các côngviệc hàng ngày của HTX; tổ chức thực hiện các quyết định của Ban quản trị HTX;trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Đại hội xã viên và Ban quản trị HTX; kýkết các hợp đồng nhân danh HTX;trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lênBan quản trị HTX; đề nghị với Ban quản trị về phương án bố trí cơ cấu tổ chứcHTX; tuyển dụng lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Ban quản trịHTX; các quyền khac được quy định tại Điều lệ HTX, nghị quyết của Đại hội xãviên; chịu trách nhiệm trước Đại hội xã viên và Ban quản trị về công việc đượcgiao; khi vắng mặt, Chủ nhiệm HTX ủy quyền cho Phó chủ nhiệm hoặc một thànhviên Ban quản trị HTX điều hành công việc của HTX.
Đối với HTX tổ chức riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành:
- Ban quản trị ngoài việc thực hiện những quyền và nhiệm vụ như Ban quản trị đốivới trường hợp HTX chỉ tổ chức một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành, còn cóquyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê Chủ nhiệm HTXtheo nghị quyết Đại hội xã viên
- Trưởng ban quản trị là người đứng đầu Ban quản trị với các quyền và nhiệm vụ:đại diện HTX theo pháp luật; lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Ban quảntrị; triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Ban quản trị và Đại hội xã viên; ký cácquyết định của Đại hội xã viên và Ban quản trị; chịu trách nhiệm trước Đại hội xãviên và Ban quản trị về công việc được giao; các quyền, nhiệm vụ khác do Điều lệHTX quy định
- Chủ nhiệm là người đứng đầu bộ máy điều hành có các quyền và nhiệm vụ sau:Thực hiện kế hoạch hoạt động sản xuất, kinh doanh và điều hành các công việchàng ngày của HTX; tổ chức thực hiện các quyết định của Ban quản trị; ký kết cáchợp đồng nhân danh HTX do Ban quản trị HTX ủy quyền; trình báo cáo quyết toántài chính hàng năm lên Ban quản trị; đề nghị với Ban quản trị về phương án bố trí
cơ cấu tổ chức HTX; tuyển dụng lao động theo ủy quyền của Ban quản trị; các
Trang 32quyền khác được quy định trong Điều lệ, nghị quyết của Đại hội xã viên và hợpđồng ký kết với Ban quản trị.
Ban kiểm soát: Các HTX đều phải thành lập Ban kiểm soát để thực hiện việc kiểmtra, giám sát mọi hoạt động của HTX theo quy định của Điều lệ, nội quy, nghị quyếtcủa HTX và theo đúng pháp luật Vai trò của Ban kiểm soát trong các HTX là rấtlớn Nó đảm bảo cho tính rõ ràng minh bạch và sự lành mạnh của HTX
Quỹ của HTX: HTX bắt buộc phải lập 2 quỹ, đó là quỹ phát triển sản xuất và quỹ
dự phòng Việc có lập các quỹ khác hay không do HTX tự quyết định phù hợp vớiđiều kiện và nhu cầu của HTX
Tài sản chung của HTX: Luật HTX (sửa đổi) quy định rõ trong HTX hình thành bộphận tài sản chung, bao gồm các công trình phục vụ sản xuất, phúc lợi xã hội củacộng đồng dân cư Các công trình này được hình thành từ quỹ phát triển sản xuất,quỹ phúc lợi của HTX và có thể từ nguồn vốn do Nhà nước trợ cấp, quà biếu, tặngcủa các tổ chức và cá nhân Luật cũng quy định cụ thể việc giải quyết các tài sảnnày trong trường hợp giải thể HTX
Phân phối lãi: Luật HTX (sửa đổi) đã quy định cho phép HTX trả bù các khoản lỗcủa năm trước khi thực hiện việc đóng thuế theo quy định của pháp luật về thuế.Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế, lãi của HTX được dành để trích lập quỹ,trong đó ưu tiên việc trích lập vào các quỹ phát triển sản xuất và quỹ dự phòng Sốlãi còn lại sẽ được phân chia cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp và theomức độ sử dụng dịch vụ
Tổ chức lại, giải thể HTX: Luật HTX (sửa đổi) đã quy định rõ thủ tục, quy trìnhthực hiện việc tổ chức lại HTX trong từng trường hợp khi HTX muốn sáp nhập, hợpnhất, chia, tách hoặc giả thể Điều này tạo thuận lợi cho các HTX trong việc tổ chứcHTX cho hợp lý phù hợp với những biến đổi của tình hình kinh tế trong và ngoàinước
3 Quá trình đổi mới và phát triển của HTXNN theo Luật 2003 ở Việt nam
3.1 Về nhận thức
Trang 33Hiện nay nhận thức về kinh tế hợp tác và HTX vẫn chưa có sự thống nhất Một
bộ phận không nhỏ cán bộ nhà nước vẫn chưa hiểu đúng về bản chất và nguyên tắc
tổ chức, hoạt động của mô hình HTX kiểu mới, dẫn đến vừa coi thường vừa canthiệp không đúng vào quyền tự chủ, tự quyết của từng HTX Bản thân những thànhviên tham gia HTX cũng chưa nhận thức hết các mặt trách nhiệm xây dựng và pháttriển tổ chức kinh tế này Phần đông các xã viên chỉ thấy lợi ích, đòi hỏi nhiều màquên đi trách nhiệm phải đóng góp để cho tổ chức kinh tế hợp tác và HTX mà họtham gia không ngừng lớn mạnh về kinh tế, trên cơ sở đó mới đem lại lợi ích lớnhơn cho chính mình Trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, HTX
NN kiểu cũ ra đời với mục tiêu phát triển kinh tế tập thể của chính bản thân mỗiHTX và thay thế căn bản hoạt động kinh tế của mỗi nông hộ, nhằm nâng cao mứcsống vật chất tinh thần của mỗi xã viên Tuy nhiên, HTX NN kiểu cũ được hìnhthành dựa trên cơ sở tập thể hóa quyền sở hữu ruộng đất và các tư liệu sản xuất kháccủa các nông hộ và do đó đã xóa bỏ tư cách chủ thể kinh doanh của mỗi nông hộ,biến người lao động trong nông hộ trở thành người lao động bộ phận của một đơn vị
tổ chức lao động hợp tác duy nhất là HTX NN: giống như một xí nghiệp côngnghiệp, thậm chí còn biến mỗi xã viên thành người lao động làm thuê cho HTX Vàtrong điều kiện kinh tế nước ta cơ bản là sản xuất nhỏ, đặc biệt là sự hình thành vàphát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta thì đa số các HTX NN kiểu cũ đã khôngthích ứng được cũng như không thể phát huy hết tiềm năng và hiệu quả kinh tế củamình Đó là một tất yếu khách quan hợp quy luật Ở những nơi sản xuất nôngnghiệp còn mang tính tự cung, tự cấp chưa sản sinh ra những con người biết làm ăntrong cơ chế thị trường dẫn đến Đảng, Chính Quyền, các đoàn thể cấp huyện và xã
đã giúp đỡ thành lập các tổ hợp tác đa dạng Và trong thời điểm này, mục tiêu củangười nông dân là tối đa hóa lợi ích, chứ không phải là tối đa hóa lợi nhuận nên nhucầu hợp tác của họ chủ yếu là khâu đầu vào, với quy mô nhỏ bé Do đó các hìnhthức hợp tác Các tổ hợp tác thường đơn giản, thực hiện từng dịch vụ riêng lẻ hoặc
là một số khâu dịch vụ đầu vào với quy mô nhỏ bé trong khuôn khổ xóm, ấp, thựchiện dứt điểm từng công việc trong từng thời gian ngắn theo yêu cầu thời vụ sản
Trang 34xuất, các quan hệ kinh tế, tài chính, tiền tệ phát sinh không liên tục và ít phát sinh.
Vì thế các tổ hợp tác chưa cần tư cách pháp nhân cũng như chưa cần một đạo luậtriêng điều chỉnh chúng Tuy nhiên khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ thìmục tiêu của người dân là tối đa hoá lợi nhuận nên nhu cầu hợp tác của họ ở đầu ra
đã nảy sinh và ngày càng bức xúc, trên quy mô ngày càng lớn như chế biến nôngsản, tiêu thụ sản phẩm trên thị trường cả trong và ngoài nước Đồng thời nhu cầuhợp tác đầu vào cũng tăng theo, nhất là về vốn kinh doanh và vật tư sản xuất Vì thếlúc đầu tổ hợp tác còn vương lên thực hiện một số công việc đầu ra cho kinh tế hộnhưng khi quy mô chế biến và tiêu thụ sản phẩm, cung ứng tín dụng và vật tư trởnên quá lớn, các quan hệ kinh tế, tài chính trở nên ngày càng phức tạp, trải qua mộtkhông gian rộng lớn với nhiều loại thị trường khác nhau, thì các tổ hợp tác sẽ không
đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu quản lý kinh tế tập thể Chính vì thế mà HTX
NN kiểu mới có tư cách pháp nhân sẽ được thành lập từ các tổ hợp tác và hoạt độngkhông phụ thuộc vào ranh giới hành chính – lãnh thổ địa phương và hơn thế nữaHTX NN kiểu mới còn có thể hoạt động trên quy mô toàn quốc và ra thế giới Sự rađời của HTX NN được thể hiện ở 2 khía cạnh sau:
- HTX NN kiểu mới ra đời không xem mục tiêu lợi nhuận là tối thượng mà HTXnông nghiệp xem sự phát triển và hiệu quả của kinh tế nông hộ trong cơ chế thịtrường là mục tiêu tối thượng
- Tuy đặt mục tiêu cao nhất là chăm lo cho xã viên nhưng không vì thế mà HTXquên đi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình Trên cơ sở hoạt động có lời, sau khi
đã trừ đi lợi tức cổ phần cho các xã viên, phần trích quỹ còn lại HTX dùng để thamgia xây dựng cộng đồng, và tham gia phúc lợi xã hội Như vậy, xét về mặt kinh tế ,Gia lâm là một huyện có nền nông nghiệp mạnh, do đó việc thành lập các HTX NNtrong giai đoạn này là thật sự cần thiết để tập trung sức mạnh hướng tới công nghiệphoá, hiện đại hoá nông thôn ở Gia Lâm
3.2 Về tổ chức thực hiện Luật
Luật HTX ra đời trong điều kiện đất nước đang chuyển từ cơ chế tập trung, baocấp sang cơ chế thị trương có sự quản lý của Nhà nước, đã tạo khung pháp lý thống
Trang 35nhất và bình đẳng cho khu vực kinh tế hợp tác xã tự quyền tự chủ tự quyết tronghoạt động Tuy nhiên, muốn đưa luật vào cuộc sống thì phải tuyên truyền luật mộtcách đầy đủ tới từng người xã viên HTX, nhưng việc tập huấn, tuyên truyền, phổbiến Luật HTX chưa được thực hiện tốt Công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biếnLuật chỉ mới được thực hiện trong phạm vi bó hẹp một số cán bộ Đảng, chínhquyền và một số cán bộ HTX Việc đưa các nội dung, tư tưởng của Luật đến vớimỗi xã viên HTX, với mỗi người dân không được quan tâm đúng mức, vì vậy cònmột bộ phận xã viên vẫn chưa thực sự hiểu về mô hình HTX kiểu mới, vẫn bị nhầmlẫn với mô hình HTX kiểu cũ Việc chuyển đổi HTX cũ cũng vì vậy mà mang tínhhình thức Chúng ta đã cho chuyển đổi cả các HTX yếu kém, chưa đủ điều kiện chínmuồi; chưa xử lý chưa dứt điểm các vấn đề tồn đọng của HTX cũ Chính sự tồn tạicủa các HTX yếu kém này đã là nguyên nhân lớn gây ra những cách hiểu sai vềkinh tế hợp tác và HTX và làm cho tính không hiệu quả của khu vực kinh tế nàyvẫn đeo bám.
3.3 Buông lỏng quản lý nhà nước, thiếu hỗ trợ giúp đỡ HTX sau chuyển đổi
Việc tiếp tục xử lý các tồn đọng và hỗ trợ các HTX về định hướng phát triển,
tổ chức quản lý nội bộ sau chuyển đổi là công việc rất quan trọng những đã chưađược coi trọng vì cho rằng chuyển đổi xong là xong Điều này làm cho khu vựckinh tế hợp tác và HTX sau 6 năm thực hiện Luật vẫn chưa có được những bướcphát triển đáng kể về chất và chưa khẳng định được vị trí, vai trò của mình trongquá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân Hạn chế lớn nhất trong quản lý nhànước đối với khu vực HTX là chúng ta vẫn chưa xác định được liều lượng tác độngtrong quản lý nhà nước đối với khu vực này Có thời kỳ chúng ta quá thắt chặt quản
lý nhà nước đối với HTX, làm cho khu vực này trở nên bị hành chính hoá trong cácquan hệ, kể cả quan hệ trong nội bộ HTX Khi chúng ta nhận thức được rằng Nhànước không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động nội bộ của HTX thì sự quản lý củaNhà nước đối với khu vực này đã giảm đi Song sự giảm đi quá nhiều này lại làmcho vai trò quản lý nhà nước bị buông lỏng, khu vực HTX không có nơi để tìm sựgiúp đỡ, hướng dẫn khi cần thiết Ngay trong một thời kỳ, nhận thức về vai trò quản
Trang 36lý nhà nước của các cán bộ cũng khác nhau Nơi can thiệp quá sâu vào hoạt độngcủa HTX, nơi lại buông lỏng để cho khu vực này tự bươn chải Dẫn đến, cơ quanquản lý nhà nước lại không nắm rõ được tình hình phát triển của khu vực kinh tếnày gây ra nhiều khó khăn trong việc phân tích, đánh giá và đưa ra các chính sáchphù hợp Đối với các HTX vấn đề lớn đặt ra hiện nay là sự yếu kém về nội lực kinh
tế, về định hướng phát triển và tổ chức quản lý nội bộ của bản thân các HTX mangtính phổ biến Phần lớn HTX chưa phát huy được ưu thế của sức mạnh tập thể, chưabiết sử dụng sức mạnh tập thể để tìm ra tài năng và đào thải những các nhân tiêucực, vì vậy hiệu quả hoạt động của HTX thấp, động lực của từng thành viên thamgia chưa được khơi Nhiều HTX chưa có hướng sản xuất, kinh doanh lâu dài Hoạtđộng của đa số các HTX hiện nay chỉ mang tính ngắn hạn Hầu hết các HTX chưa
có sự tìm hiểu và nắm bắt nhu cầu của thị trường, sản xuất, kinh doanh vẫn dựa trênnhững cái mình đã có, mà không chú trọng đến việc xác định mình nên sản xuất,kinh doanh cái gì để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho HTX Một hạn chế rấtlớn của khu vực HTX đó là trình độ, năng lực hạn chế của cán bộ quản lý HTX.Hạn chế này có nguyên nhân sâu xa: HTX chưa thu hút và huy động được cácnguồn lực về con người, về vốn Đây có thể chính là một cái vòng luẩn quẩn trongviệc phát triển của khu vực HTX, đặc biệt là các HTX thời gian qua
3.4 Triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước đối với HTX
Trong quá trình phát triển HTX, Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi chokhu vực này Tuy nhiên, các chính sách ưu đãi này hoặc không được hướng dẫntriển khai hoặc nếu có thì chưa phù hợp, hoặc trên thực tế không có đối tượng đượchưởng lợi chẳng hạn như vấn đề về đất đai: Nhà nước quy định HTX được giaohoặc cho thuê đất nhưng lại không có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí như thế nàothì được giao, như thế nào thì được cho thuê Việc miễn, giảm tiền thuê đất choHTX tuy được Bộ Tài chính hướng dẫn nhưng trên thực tế khi các HTX chưa đượcthuê đất thì không thể được miễn, giảm tiền thuê đất Chính sách về thuế ưu đãi chocác HTX ở vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng dân tộc nhưng trên thực tế khithực hiện Luật ở những nơi này hầu như đã không còn tồn tại các HTX nữa Nhiều
Trang 37chính sách đáng lẽ sẽ có tác động rất lớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế hợptác và HTX nếu được thực hiện đúng theo tinh thần, tư tưởng của chính sách đề ra,như chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho HTX, chính sách về vay vốn tíndụng, chính sách bảo hiểm xã hội cho xã viên và cán bộ quản lý HTX Tuy nhiên,các chính sách này thiếu các hướng dẫn cụ thể vì vậy trên thực tế đã không triểnkhai được Như vậy, có thể thấy rằng, về mặt tư tưởng, chính sách thì khu vực HTXđược hưởng khá nhiều ưu đãi nhưng trên thực tế lại không có gì cả Đây cũng làmột nguyên nhân gây ra những đánh giá sai lệch về khu vực kinh tế này của không
ít người Họ cho rằng, kinh tế hợp tác và HTX được hưởng rất nhiều ưu đãi, hỗ trợcủa Nhà nước nhưng lại hoạt động không có hiệu quả, còn thành phần kinh tế dândoanh không có sự ưu đãi nào của Nhà nước nhưng hoạt động đã đem lại hiệu quảđáng kể trong phát triển kinh tế đất nước Và cũng từ đó, những người này phủ nhậnvai trò, vị trí của khu vực kinh tế này Chúng ta cũng nên nhìn nhận một cách kháchquan rằng, không giống như khu vực dân doanh, khu vực kinh tế hợp tác và HTX đã
bị sức ép tâm lý nặng nề do mô hình HTX cũ để lại Và cho đến nay, mặc cảm về
mô hình HTX nói chung vẫn còn in đậm trong suy nghĩ của nhiều người đã là cảntrở lớn cho kinh tế hợp tác và HTX phát triển
III Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả đổi mới và phát triển các HTX NN theo luật HTX năm 2003
1 Số lượng HTX: Đây là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi về
mặt lượng (tăng hoặc giảm) của các HTX qua các năm Qua đó cho ta biết được tìnhhình đổi mới và phát triển của các HTX nhiều hay ít, nhanh hay chậm Đây là chỉtiêu về hiệu quả kinh tế Bao gồm: số lượng HTX chuyển đổi từ mô hình HTX cũ,
số HTX thành lập mới theo Luật HTX 2003
2 Về cán bộ quản lý và xã viên HTX : chỉ tiêu này cho biết số lượng và cơ
cấu cán bộ quản lý và xã viên HTX tham gia vào các loại hình HTX biến động quacác năm: số lượng và trình độ các chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, số lượng xã viên…Qua chỉ tiêu này cho ta biết được năng lực và trình độ quản lý, nghiệp vụ chuyênmôn của các cán bộ, xã viên để hoạt động sản xuất kinh doanh của các HTX tốt
Trang 38hơn Đồng thời đánh giá được hiệu quả xã hội của các HTX như là tăng việc làmcho một số lao động tại địa phương.
3 Về vốn quỹ, công nợ đất đai: phản ánh tình hình tài sản, tài chính của các
HTX bao gồm:
- Đất đai: số lượng đất đai phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa HTX tăng hay giảm,cơ cấu đất đai
- Tổng vốn: bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn UBND nhận để giao cho, vốn điều
lệ, vốn tích lũy từ sau khi chuyển đổi, UBND giao cho thuê HTX mới, chuyển từHTX vốn vay, vốn từ NSNH hoặc vốn lưu động, vốn cố định Đánh giá quá trình sửdụng vốn của các HTX có mở rộng được sản xuất kinh doanh hay không, có bị thấtthoát, lãng phí không
- Tổng quỹ: bao gồm quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi, quỹ dự phòng
- Nợ phải thu: bao gồm nợ phải thu của HTX cũ, của xã viên HTX, phải thukhác
- Nợ phải trả: bao gồm nợ phải trả của HTX cũ, nợ phát sinh mới, nợ khác,
nợ xin nhà nước xóa
4 Kết quả sản xuất kinh doanh dịch vụ của HTXNN: chỉ tiêu này phản ánh
doanh thu và doanh thu thuần sau khi đã trừ đi các khoản chi phí Đồng thời phảnánh, HTX hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi có lãi và ngược lại Baogồm các chỉ tiêu: Doanh thu, Tổng chi, Lãi, Lỗ
5 Phân phối lãi và thu nhập của xã viên: đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ
đảm bảo lợi ích của HTX và xã viên có thu nhập và giải quyết được việc làm Chỉtiêu này vừa phản ánh hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
IV Kinh nghiệm về đổi mới và phát triển HTXNN ở một số địa phương của Việt Nam.
1 Giới thiệu HTX: HTX Thống nhất, Xã Trung văn, huyện Từ liêm tiền
thân là một HTX thuần nông, thành lập từ năm 1959, được chuyển đổi theo LuậtHTX ngày 15/8/1998
Trang 39Kinh doanh dịch vụ tổng hợp gồm: sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủysản và các dịch vụ khác.
Xã viên HTX được tổ chức theo mô hình đại diện hộ, mỗi hộ cử 1 ngườitham gia xã viên HTX Số người tham gia HTX hiện có 672 hộ xã viên với 2300nhân khẩu nông nghiệp trong đó có 1012 lao động trong độ tuổi
Vốn góp xã viên: 100% xã viên tham gia đóng đủ vốn điều lệ 200.000 đ/ xã viên.Vốn điều lệ của HTX khi chuyển đổi tháng 5/1998 là 494 triệu đồng, đến tháng12/2003 tổng vốn tài sản của HTX đã có 4757 triệu đồng
Cơ cấu tổ chức: Ban quản trị HTX có 3 người (1 Chủ nhiệm và 2 phó Chủnhiệm) Ban kiểm soát có 3 người ( 1 trưởng ban và 2 ủy viên), bộ phận nghiệp vụ
có 6 người
Số người tham gia lao động quản lý điều hành được hưởng lương tại các tổdịch vụ là 92 người
Diện tích đất canh tác của HTX là: 62.38 ha trong đó diện tích 2 lúa (sửa đổi)
xã viên) là 35.75 ha, diện tích vườn quả 3.7 ha, diện tích nuôi trồng thủy sản:21.5ha
Do đặc điểm HTX Thống nhất nằm trên địa bàn xã ven đô trên trục đườngquốc lộ 6, trên địa bàn có nhiều cơ quan đơn vị đóng trụ sở, những năm gần đâyđang trong quá trình đô thị hóa nhanh, đời sống xã viên nói riêng và của nhân dânnói chung có được cải thiện nâng cao Đây là những điều kiện thuận lợi để HTX mởmang phát triển kinh doanh các ngành nghề dịch vụ nhưng mặt khác nó cũng cónhững khó khăn như môi trường kinh doanh bị cạnh tranh khốc liệt, diện tích đấtđai ngày càng thu hẹp: từ 200 ha chỉ còn 60 ha, mất độ dân cư rất đông đúc, xã viênthiếu việc làm và thiếu ngành nghề phụ để phát triển kinh tế hộ gia đình, cải thiệnnâng cao đời sống
Nhận thức và nắm bắt được những khó khăn, thuận lợi trên nên sau khichuyển đổi, Ban quản trị HTX đã tích cực mạnh dạn đầu tư, mở mang phát triển cácngành nghề dịch vụ, từ 4 khâu dịch vụ sau khoán 10 đến nay đã hình thành 14 dịch
vụ gồm: 8 dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp và 6 dịch vụ phục vụ cho sinh hoạt đời
Trang 40sống của xã viên, các dịch vụ đã phát huy được hiệu quả và hỗ trợ đắc lực cho kinh
tế hộ gia đình phát triển, phục vụ tốt cho đời sống xã viên và cộng đồng tạo đượchàng trăm việc làm cho xã viên đồng thời đem lại nguồn lời kinh tế rất lớn choHTX
Cơ cấu tổ chức quản lý điều hành của HTX
Với nhiệm vụ tổ chức quản lý điều hành 14 loại hình dịch vụ bảo toàn vàphát triển vốn tài sản, mở mang phát triển các ngành nghề kinh doanh dịch vụ, việcphân công nhiệm vụ trong HTX được tổ chức chặt chẽ đồng bộ, từ BQT đến BKStới các cán bộ nghiệp vụ, các nhân viên tổ đội dịch vụ,…đảm bảo tính công khaidân chủ, trách nhiệm rõ ràng, tính thống nhất tự chủ, khả năng phối hợp tương trợ,phat huy tối đa tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn và hiệu quả công việc
* Ban quản trị gồm 3 người:
- Chủ nhiệm: phụ trách bao quát chung toàn bộ các hoạt động của HTX
- 1 phó chủ nhiệm phụ trách các dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
- 1 phó chủ nhiệm phụ trách các dịch vụ khác và việc phát triển các ngành nghề
* Ban kiểm soát gồm 1 trưởng ban và 2 ủy viên có trách nhiệm kiểm tra giám sáttoàn bộ các hoạt động của HTX phối hợp cùng BQT phụ trách kiêm nghiệm từ 1đến 2 ngành nghề dịch vụ
* Bộ phận cán bộ nghiệp vụ gồm 6 người có nhiệm vụ thực hiện các nghiệp vụchuyên môn đồng thời trực tiếp phụ trách một số ngành nghề dịch vụ
* Các tổ đội dịch vụ khác do HTX chọn cử các xã viên có trình độ năng lực phốihợp cùng các cán bộ HTX phụ trách quản lý
Công tác quản lý điều hành các hoạt đông sản xuất kinh doanh dịch vụ của HTXNN
- Dịch vụ khuyến nông, bảo vệ thực vật: gồm 4 người chia 2 tổ HTX tíchcực vận động tuyên truyền khuyến khích xã viên cấy trồng 100% diện tích, khắcphục hỗ trợ thiên tai địch họa, giống lúa, phân bón… cụ thể như hỗ trợ 1000 đ/kgthóc giống, 5 kg đạm urê/ sào, hỗ trợ phục hồi diện tích bỏ hoang 30.000 đ/ sào, dọn
cỏ, phun diệt cỏ, phối hợp theo hướng dẫn của chi cục bảo vệ thực vật huyện Từ