Các định hướng chiến lược Quản lý Tổng hợp Vùng bờ QLTHVB vịnh Hạ Long ...25 Cơ sở xây dựng Chiến lược...25 Nhu cầu của địa phương ...25 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế...25 Những cản
Trang 1Bộ khoa học và công nghệ
Đề tài 17/2004/HĐ-ĐTNĐT Hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ theo Nghị định thư
Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ
vịnh Hạ Long, Quảng Ninh
Cơ quan chủ trì
Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản
Báo cáo chuyên đề
Xác định các định hướng chiến lược Quản Lý Tổng Hợp Vùng Bờ
VịNH Hạ LONG - QUảNG NINH
Người thực hiện:
ThS Đào Thị Thuỷ Trung tâm Khảo sát Nghiên cứu Tư vấn Môi trường biển
(Viện Cơ học)
7507-11
08/9/2009
Dự thảo 1
Trang 2Mục lục
Danh sách bảng 1
Danh sách Hình 1
Các thuật ngữ 2
Giới thiệu 4
1 Tổng quan về vùng bờ Hạ Long 8
Vị trí và các đặc điểm hành chính: 8
Đặc điểm tự nhiên, KTXH 10
Khí tượng thuỷ văn 10
Địa hình 11
Dân số và cơ sở hạ tầng 11
Cơ cấu sử dụng đất 12
Cơ cấu phát triển kinh tế 12
2 Các vấn đề/ đe doạ đối với vùng bờ Hạ Long 13
Gia tăng tải lượng các chất ô nhiễm đến môi trường biển và ven bờ 14
Mất các sinh cảnh quan trọng, đặc biệt là rừng và các hệ sinh thái biển 16
Suy giảm nguồn lợi hải sản 18
Gia tăng bồi lắng ở các khu vực cửa sông, ven biển, khu vực cảng; 19
Gia tăng sự cố môi trường: sự cố tràn dầu, xói lở bờ sông và bờ biển 19
Thiếu nước sạch cho dân cư, tưới tiêu và các hoạt động khác 21
Suy giảm chất lượng nước biển ven bờ 21
Các vấn đề về thể chế 22
3 Các định hướng chiến lược Quản lý Tổng hợp Vùng bờ (QLTHVB) vịnh Hạ Long 25
Cơ sở xây dựng Chiến lược 25
Nhu cầu của địa phương 25
Kinh nghiệm trong nước và quốc tế 25
Những cản trở thách thức đối với QLTHVB: 26
Các thoả thuận quốc tế quan trọng liên quan đến quản lý môi trường vùng ven bờ 26
Các văn bản pháp lý và chính sách quan trọng liên quan đến quản lý môi trường vùng bờ ở cấp Quốc gia 27
Trang 3Các chương trình, văn bản pháp lý liên quan đến quản lý vùng ven bờ của
Thành phố Hạ Long 28
Mục tiêu chiến lược 29
Các hợp phần chiến lược, nguyên tắc và các chương trình hành động 30
Hợp phần 1 Tuyên truyền, giáo dục, đào tạo 30
Hợp phần 2: Ngăn ngừa, giảm thiểu 31
Hợp phần 3: Bảo vệ, phục hồi 32
Hợp phần 4: Bảo tồn 33
Hợp phần 5: Phát triển 33
Hợp phần 6: Tăng cường thể chế quản lý 34
4 Phân công thực hiện Chiến lược 35
5 Tiêu chí sử dụng để giám sát, đánh giá việc thực hiện Chiến lược 36
6 Cơ chế giám sát đánh giá báo cáo 37
Tài liệu tham khảo 39
Trang 4Danh sách bảng
Tên bảng Trang Bảng 1 Dân số và mật độ dân số vùng bờ vịnh Hạ Long 11
Bảng 2 Dự báo về nguồn nhân lực đến năm 2010 12
Bảng 3: Sản lượng khai thác cá nổi và cá đáy của khu vực vịnh
Bảng 6 Dầu mỡ trong nước và trầm tích tại trạm Cửa Lục
Hình 4 Cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh 2001-2004 13
Hình 5 Tỷ lệ tổng thải lượng TSS, BOD vào vịnh Bãi Cháy và
Hạ Long
16
Hình 6 Suy giảm diện tích RNM của Quảng Ninh 16
Hình 7 Suy giảm số loài và độ phủ của san hô Hạ Long 17
Hình 8 Nồng độ kẽm trong nước biển vịnh Bãi Cháy 22
Hình 9 Xu hướng tăng TSS theo thời gian trong nước biển 22
Trang 5Các thuật ngữ
Dưới đây là một số khái niệm quan trọng liên quan đến QLTHVB được sử
dụng trong Dự thảo Chiến lược QLTHVB vịnh Hạ Long:
nơi có sự tương tác đáng kể giữa chúng Trong thực tế quản lý, vùng bờ được xác định một cách tương đối, tùy thuộc vào mục đích và năng lực quản lý và để đơn giản hóa, nó thường được xác định theo ranh giới hành chính
Tài nguyên
vùng bờ
Là những tài nguyên thuộc vùng đất hoặc biển của vùng bờ; các giá trị về kinh tế, môi trường, giải trí, văn hoá, thẩm mỹ, của chúng được nhân lên do chúng nằm trong vùng bờ
Quản lý tổng
hợp
Là một phương thức quản lý nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong
sử dụng các nguồn lực, trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các ngành
và các bên liên quan khác nhau Nó được thiết kế để khắc phục tính phân tán trong cách tiếp cận quản lý đơn ngành, theo lãnh thổ, tập trung vào giải quyết các mâu thuẫn sử dụng đa ngành,
lý tiến triển liên tục, nhằm đạt được sự phát triển bền vững
Trang 6Vựng bờ được hiểu một cỏch tương đối là
vựng hỗn hợp đất ven biển và biển ven bờ,
nơi hai thành phần này cú tương tỏc mạnh
với nhau
Về mặt tự nhiờn vựng bờ được đặc trưng bởi
cỏc quỏ trỡnh động lực và sinh thỏi phức tạp,
cú liờn quan chặt chẽ với nhau Về mặt kinh
tế xó hội, vựng bờ là nơi diến ra cỏc hoạt
động khai thỏc, sử dụng tăng cường cho cỏc
mục tiờu dõn sinh và phỏt triển kinh tế Chớnh
vỡ vậy, mối quan tõm và cỏc vấn đề tại vựng
bờ đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với những vựng khỏc
Vựng bờ cú thể được chọn khỏc nhau tuỳ theo mục tiờu của cỏc chương trỡnh, hoạt
động cụ thể với cỏc định hướng khỏc nhau, như nghiờn cứu một lĩnh vực chuyờn
ngành hay quản lý một ngành kinh tế
Trong thực tế quản lý, vựng bờ được xỏc định dựa trờn bốn yếu tố chớnh là:
• Vấn đề và nhu cầu quản lý
• Tớnh vẹn toàn và tầm quan trọng của đối tượng quản lý
• Biờn giới hành chớnh và cỏc ranh giới mang tớnh phỏp lý
• Năng lực quản lý của chớnh quyền
Tất cả cỏc yếu tố trờn được xem xột trong một thời đoạn nhất định, đặt ra cho một
chương trỡnh, dự ỏn, kế hoạch hay chiến lược QLTHVB Như vậy khỏi niệm vựng
bờ cú tớnh mở, nghĩa là nú sẽ thay đổi theo vấn đề, cỏc ràng buộc phỏp lý, cũng
như mối quan tõm và năng lực quản lý của chớnh quyền
Môi trường lục địa
Hoạt động của con người
Môi trường biển
Vùng bờ
về mặt
tự nhiên Vùng bờ cần quản lý
Môi trường lục địa
Hoạt động của con người
Môi trường biển
Vùng bờ
về mặt
tự nhiên Vùng bờ cần quản lý
Trang 7Giới thiệu
Chương trình Nghị sự 21 được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất
về Môi trường và Phát triển Rio de Janero 1992 đã coi QLTHVB như một mô hình
thích hợp đối với sự phát triển bền vững và khuyến khích các quốc gia có biển áp
dụng Từ đó đến nay nhiều quốc gia và vùng bờ trên thế giới đã thực sự triển khai
các chương trình QLTHVB vào thực tế và đạt được nhiều kết quả quý giá Hội
nghị thượng đỉnh Johanesbourg 2002 một lần nữa khẳng định tầm quan trọng và
nhu cầu thiết thực của QLTHVB
Quản lý tổng hợp vùng bờ hướng tới việc sử dụng tài nguyên, môi trường và
phát triển bền vững các vùng bờ, thông qua việc tìm kiếm và áp dụng các giải pháp
giải quyết mâu thuẫn sử dụng mang tính cạnh tranh về tài nguyên
Trên thế giới, QLTHVB đã và đang được triển khai ở tất cả các châu lục, tại
nhiều quốc gia và vùng bờ khác nhau Nhiều chương trình/dự án QLTHVB đã
được triển khai bởi các tổ chức quốc tế như UNEP, IMO, UNDP, ADB, World Bank, và các quốc gia, nhất là những quốc gia tiên phong trong lĩnh vực này như
Hà Lan, Mỹ, Nhật, Singapore, Trung Quốc và Philippines
Ở Việt Nam, QLTHVB đang ngày càng được quan tâm và chấp nhận trong
quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng bờ Đặc biệt, QLTHVB đã bước đầu
áp dụng thử nghiệm và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ tại một số địa phương
ven biển, như:
• Nam Định, Thừa Thiên Huế, Bà Rịa Vũng Tàu trong Dự án Việt Nam - Hà
Lan về Quản lý Tổng hợp Dải ven bờ (2000-2005),
• Đà Nẵng trong Dự án Điểm trình diễn về Quản lý Tổng hợp Vùng bờ
PEMSEA/ICM Đà Nẵng (2000-2005),
• Quảng Nam trong Dự án Điểm song song về Quản lý Tổng hợp Vùng bờ
PEMSEA/ICM Quảng Nam (2005-2006) và Dự án QLTHVB trong khuôn khổ Bộ Tài nguyên Môi trường (2003-2007)
• Quảng Ninh trong Dự án hợp tác Việt-Mỹ về “Tăng cường năng lực
QLTHVB phía Tây vịnh Bắc Bộ” (2003-2004)
Trong tương lai không xa, QLTHVB trong khuôn khổ dự án Việt Nam – Hà
Lan - Thụy Điển sẽ được áp dụng và mở rộng ra 9 tỉnh (bao gồm Nam Định, Nghệ
Trang 8Bà Rịa - Vũng Tàu) Dự án dự kiến triển khai vào cuối 2006 có sự phối hợp chặt
chẽ với dự án đầu tư Cải thiện đời sống cộng đồng ven biển của Bộ KH&ĐT
Ngày 04/2/2004, Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 494/VPCP-KG giao Bộ TN&MT làm cơ quan đầu mối của Việt Nam để chủ trì phối hợp với các
Bộ, ngành có liên quan và các chính quyền địa phương ven biển tổ chức thực hiện
“Chiến lược Phát triển bền vững các vùng biển Đông á”, đã được 12 nước thành
viên của Chương trình Khu vực PEMSEA phê chuẩn và cam kết triển khai tại cuộc
họp Bộ trưởng các nước Khu vực ngày 12/12/2003, Putrajaya, Malaysia
Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang
xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ các tài liệu quan trọng liên quan đến tài
nguyên, môi trường biển và ven bờ:
• Chiến lược phát triển kinh tế biển và ven biển Việt Nam đến năm 2020;
• Đề án tổng thể điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển
Ảnh hưởng của các chương trình dự án QLTHVB, đặc biệt là Dự án QLTHVB tại Đà Nẵng và Dự án VNICZM đến các hoạt động quản lý tài nguyên
và môi trường biển và ven biển ngày càng mạnh và nhiều tỉnh ven biển mong muốn được áp dụng QLTHVB tại địa phương mình Nhiều bộ, ngành liên quan cũng đã nhận thấy vai trò của QLTHVB trong phát triển ngành mình, đặc biệt
trong việc điều chỉnh các quy hoạch, kế hoạch, lồng ghép bảo tồn tài nguyên và
bảo vệ môi trường theo mô hình tổng hợp, nhằm giảm thiểu các bất cập nảy sinh
trong sử dụng đa ngành, đa mục tiêu
Một trong những hoạt động quan trọng của QLTHVB là xây dựng Chiến
lược QLTHVB, trong đó đưa ra các mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu
dài cho việc sử dụng, quản lý tài nguyên và môi trường vùng bờ, hướng tới phát
triển bền vững
Nhiều chiến lược hoặc kế hoạch mang tính chiến lược về QLTHĐB đã được
xây dựng cho nhiều khu vực, quốc gia, địa phương khác nhau trên thế giới Những
văn bản này đã được công bố rộng rãi và trở thành định hướng quan trọng cho các
hoạt động khai thác, bảo vệ, bảo tồn, phục hồi và phát triển các tài nguyên, môi
trường của khu vực, quốc gia, vùng đó
Chiến lược QLTHVB vịnh Hạ Long được xây dựng trong khuôn khổ đề tài
của Bộ Thuỷ sản, đưa ra các mục tiêu đến 2020 về QLTHVB của Vịnh và đề xuất
Trang 9các nhiệm vụ/kế hoạch chiến lược, nội dung cụ thể để đạt được các mục tiêu đó
Chiến lược tập trung vào việc bảo vệ, bảo tồn, duy trì và phục hồi các nguồn tài
nguyên, môi trường, phục vụ phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hạ Long Chiến lược cũng thể hiện các quan tâm lâu dài hơn, thông qua những định hướng
và tầm nhìn cho tương lai xa Cách tiếp cận và quá trình xây dựng Chiến lược được
minh hoạ trên hình 1 và hình 2
Hình 1 Cách tiếp cận xây dựng Chiến lược QLTHVB vịnh Hạ Long
Chiến lược được xây dựng với sự tham gia đóng góp tích cực của nhiều
chuyên gia và đại diện các bộ, ngành, cơ quan liên quan, bản thảo Chiến lược được
điều chỉnh thông qua một quá trình tham vấn rộng rãi với các bên liên quan Bước
tiếp theo, bản thảo chiến lược này sẽ được hoàn thiện và phê chuẩn bởi UBND Thành phố Hạ Long và là cơ sở để các ngành và các bên liên quan thực hiện
Cũng như mọi chiến lược hay kế hoạch khác, chiến lược QLTHVB vịnh Hạ
Long có thể được cập nhật, điều chỉnh tại những thời điểm nhất định, ví dụ vào
các thời điểm mà các sở, ngành liên quan xây dựng kế hoạch 5 năm của ngành
Các hợp phần của Chiến lược tiêu cụ thể Các mục
thể
CT hành động
Trang 10Hình 2 Quá trình xây dựng chiến lược QLTHVB vịnh Hạ Long
Héi th¶o c¸c bªn liªn quan më réng
Ph¸c th¶o CL
Hoµn thiÖn CL
Phª chuÈn CL Ban §P ®a ngµnh
Häp Ch gia Thu thËp
sè liÖu
Trang 111 Tổng quan về vùng bờ Hạ Long
Vị trí và các đặc điểm hành chính:
Vùng bờ vịnh Hạ Long thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, nằm ở phía Đông
Bắc của Việt Nam, trải dài từ 1060 đến 1080 Kinh độ Đông và từ 200 đến 21045’ Vĩ
độ Bắc, có bờ biển dài hơn 50km và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ
Vùng bờ vịnh Hạ Long về phía biển bao gồm vịnh Bãi Cháy - là một vịnh
nửa kín, nối với vịnh Hạ Long qua eo Cửa Lục và toàn bộ vịnh Hạ Long Về phía
đất liền, vùng bờ bao gồm toàn bộ thành phố Hạ Long với các thị trấn lớn là Bãi
Cháy và Hòn Gai (Hình 3)
Hình 3 Vùng bờ vịnh Hạ Long
Trang 12Thành phố Hạ Long là thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh, cách thủ đô Hà Nội
160 km về phía đông bắc, phía bắc và phía tây thành phố giáp huyện Hoành Bồ,
phía đông giáp thị xã Cẩm phả, phía nam giáp vịnh Hạ Long
Thành phố có diện tích tự nhiên là 12.285 ha, trải dài ven bờ biển Eo biển
Cửa Lục chia Thành phố thành hai khu vực đông và tây là Bãi Cháy và Hòn Gai,
hiện phải dùng phà nối đôi bờ của Thành phố Trong tương lai, cầu Bãi Cháy sẽ
được xây dựng để đảm bảo giao thông thông suốt cho Thành phố và toàn tỉnh
Quảng Ninh cũng như cho khu vực phía Bắc Ðảo Tuần Châu là đảo lớn nhất nằm
trong vịnh Hạ Long, đã có đường giao thông nối với đất liền
Ngày 27/12/1993, Thủ tướng Chính Phủ ra nghị định 102 NÐ/CP đổi thị xã
Hòn Gai thành Thành phố Hạ Long Ðến nay thành phố có 18 đơn vị hành chính
cơ sở, gồm 16 phường (Bạch Ðằng, Hòn Gai, Yết Kiêu, Hồng Hải, Hà Khẩu, Cao
Xanh, Hồng Hà, Hà Trung, Giếng Ðáy, Bãi Cháy, Cao Thắng, Hà Phong, Hà
Khánh, Hà Khẩu, Hà Tu, Trần Hưng Ðạo) và 2 xã Hùng Thắng và Tuần Châu
Về phía biển, ngoài các đảo lớn như Tuần Châu, Hang Trai, Cống Đỏ, Ba
Hòn, vùng bờ vịnh Hạ Long còn có hàng nghìn đảo lớn nhỏ khác có tổng diện tích
khoảng gần 600 nghìn km2, tạo cho vùng biển vịnh Hạ Long có phong cảnh vô
cùng hấp dẫn có một không hai trên thế giới Do vậy, vịnh Hạ Long đã được công
nhận là Di sản Thiên nhiên của Thế giới từ 1994
Giáp ranh của vùng bờ vịnh Hạ Long là thị trấn Cẩm Phả với nhiều hoạt
động sôi động như khai thác than, vận tải biển và thuong mại, đồng thời cũng là
khu vực đô thị đông dân cư, do vậy mà có nhiều ảnh hưởng đến môi trường của
vịnh Các huyện Hoành Bồ và Yên Hưng cũng có nhiều hoạt động ảnh hưởng đến
môi trường vùng bờ vịnh Hạ Long do tính chất xuyên biên giới, đặc biệt là các hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản trên các lưu vực sông
Trới, Diễn Vọng, Vũ Oai,… mang tải lượng các chất ô nhiễm và đất xói mòn xuống các vùng nước ven biển của vịnh Bãi Cháy và vịnh Hạ Long
Giao thông đường bộ và thuỷ trong vùng bờ vịnh Hạ Long rất phát triển và
thuận tiện Có thể dễ dàng tiếp cận đến vùng bờ Thành phố Hạ Long nằm trên
dải hành lang công nghiệp trục đường 18, có hệ thống đường bộ (18A, 18B,
đường 10, đường 279, đường 4) và đường sắt (Hà Nội-Kép-Bãi Cháy) khá thuận
lợi, cho phép thành phố giao lưu với thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, các
tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực cửa khẩu
biên giới với Trung Quốc Đặc biệt, Thành phố có các tuyến đường biển, đường
sông và một số cảng biển lớn (cảng nước sâu Cái Lân, Xăng dầu B12, cảng than
Trang 13Hòn Gai, cảng nam Cầu Trắng và các bến tàu thuỷ) tạo điều kiện thuận lợi cho
Hạ Long giao lưu với các tỉnh bạn và các nước khác trong khu vực và quốc tế
bằng đường thuỷ
Thành phố Hạ Long còn có những bãi đỗ cho sân bay trực thăng và thuỷ
phi cơ, đảm bảo đưa đón khách du lịch từ Hà Nội hoặc các tỉnh thành khác tới Bãi
Cháy một cách nhanh chóng và thuận tiện
Đặc điểm tự nhiên, KTXH
Khí tượng thuỷ văn
Vùng bờ vịnh Hạ Long nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai
mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, mùa hè nóng Các tháng có lượng mưa nhiều nhất từ
tháng 5 đến tháng 9 (mùa mưa) và các tháng có lượng mưa ít nhất từ tháng 10 đến
tháng 12 (mùa khô) Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm dao động trong khoảng 200C- 270C Tổng lượng mưa trung bình hàng năm là 1.685,4 mm và đạt
giá trị trung bình tháng cao nhất vào tháng 7 là 390,9 mm, thấp nhất vào tháng 12
là 28,1 mm Số ngày mưa trung bình trong năm là 118,9 ngày
Hệ thống sông ngòi trong vùng thường có độ dốc khá lớn theo hướng Tây
Bắc và Đông Bắc chảy vào vịnh Bãi Cháy và vịnh Hạ Long Các con sông chính
gồm Trới, Míp, Man, Vũ Oai, Diễn Vọng và Mông Dương Diện tích lưu vực các
con sông này khoảng 2.250km2 Mỗi khi có mưa lũ, lượng đất đá bị bào mòn từ
vùng đất nông nghiệp, rừng và các khu khai thác than trên thượng nguồn theo các
dòng chảy sông thoát xuống biển, làm gia tăng các chất ô nhiễm và chất rắn lơ
lửng vào vịnh Bãi Cháy và vịnh Hạ Long
Hàng năm, vào tháng 6 đến tháng 10, trong vùng thường có lốc, áp thấp
nhiệt đới và bão đổ bộ vào Vùng biển Quảng Ninh mỗi năm trung bình chịu ảnh
hưởng của 5 đến 6 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, thường xảy ra vào tháng 8, 9 Tính
từ 1954 đến 2001 (47 năm) có cả thảy 53 cơn bão đổ bộ vào vùng biển Quảng
Ninh Trong số đó, có 15 cơn bão lớn (cường độ từ 30mb trở lên), thường gây ra
lụt lội và thiệt hại về người và tài sản cho nhân dân ở vùng ven biển
Thủy triều khu vực Quảng Ninh chủ yếu là nhật triều đều (khoảng 25 ngày)
Biên độ triều vùng này thuộc loại lớn nhất nước ta, đạt từ 3,5 - 4,1 m vào kỳ nước
cường Khi triều lên xuống, chất lượng nước của hai vịnh Bãi Cháy và Hạ Long
ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau, đặc biệt là độ đục và chất rắn lơ lửng là
hai thông số rất được quan tâm khi đánh giá chất lượng nước của hai vịnh này
Trang 14Địa hình
Dải ven bờ vịnh Hạ Long về phía Bắc và phía Tây có nhiều đồi núi thấp với
độ cao chỉ khoảng dưới 200m Dải đất hẹp ven bờ vịnh là vùng đất phát triển các
khu đô thị, công nghiệp và cảng biển Rừng ngập mặn (RNM) phân bố chủ yếu ở
vùng ven bờ vịnh Bãi Cháy, chiếm khoảng 29% diện tích đất ngập nước của vịnh
này Loài cây phát triển chủ yếu là sú, vẹt cao không quá 3m, có tác dụng chắn
sóng tốt, “bẫy phù sa” từ sông ra và là nơi sinh cư của nhiều loài thuỷ sản Các bãi
triều cao và bãi triều thấp có hoặc không có thực vật ngập mặn phân bố dọc theo
đường bờ biển Trong vịnh Hạ Long có nhiều đảo núi đá, trên bề mặt phủ lớp thực
vật dày và nhiều hang động với nhũ thạch đẹp, tạo cảnh quan quyến rũ
Do có địa hình chủ yếu là đồi núi và dốc như vậy, cùng với các hoạt động từ
thượng nguồn như khai thác than làm mất lớp phủ thực vật, nên hàng năm, nhất là
vào mùa mưa, lượng đất đá rửa trôi theo nước mưa tràn xuống vùng nước ven biển
rất lớn, làm gia tăng đáng kể hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước
Dân số và cơ sở hạ tầng
Dân số thành phố Hạ Long hiện nay là 193.575 người (tính đến 31 tháng 12
năm 2004) Chi tiết về diện tích, dân số và mật độ dân số của vùng bờ được cho
Mật độ dân số (người/km2)
Thành phố Hạ Long 208,7 193.575 925
Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Ninh 2004
Tốc độ tăng dân số trong vài năm trở lại đây là 2,68%/năm ở thành phố Hạ
Long Mật độ dân số quá lớn so với mật độ trung bình cả tỉnh và tỷ lệ dân số thành
thị chiếm trên 95% cho thấy quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế thị trường có
sức hút rất lớn tại khu vực này
Cư dân chủ yếu của vùng bờ vịnh Hạ Long là người Việt (Kinh) Những
người dân chài có quê gốc ở đây đều là người các huyện khác và của các tỉnh khác
đến làm ăn sinh sống, đông nhất là từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ
Trang 15Khi chưa có hoạt động khai thác mỏ, đây là vùng dân cư thưa thớt, chủ yếu
làm nghề chài lưới Sau này, khi có hoạt động khai thác than vào thời kỳ Pháp
thuộc, mới phát triển nghề khai thác mỏ và thị trấn mỏ Hòn Gai được hình thành và
mở rộng về phía tây, thêm các xã Thành Công, Tuần Châu, các thôn Cái Dăm, Cái
Lân, Ðồng Mang, Giếng Ðáy,… Ngày nay, các hoạt động dịch vụ và công nghiệp
rất phát triển bao gồm dịch vụ du lịch, thương mại, giao thông vận tải, vận hành
các khu công nghiệp đã thu hút nhiều nhân lực của vùng bờ
Bảng 2 Dự báo về nguồn nhân lực đến năm 2010 (người )
Tổng số 165.211 184.000 209.000 279.700
Lao động trong độ tuổi lao động 94.886 105.800 119.000 160.000
Kết quả dự báo cho thấy, nguồn nhân lực của thành phố rất dồi dào, đến năm
2010, thành phố cần phải tạo ra trên 6 vạn việc làm (chưa kể đến việc giải quyết
việc làm cho lao động dôi dư do khai thác than bị thu hẹp dần và các doanh nghiệp
ứng dụng công nghệ mới), đây vừa là mặt thuận lợi vừa là khó khăn cho thành phố
Cơ cấu sử dụng đất
Đất dùng cho nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, chỉ khoảng 2-8%, chủ yếu dùng
cho trồng lúa hoặc cây ăn quả lâu năm Đất ở và đất đặc dụng chiếm khoảng 43% ở
Hạ Long, chủ yếu được sử dụng cho xây dựng, vận tải, tưới tiêu, dân cư đô thị và
khai thác khoáng sản Còn lại là đất rừng và đất không sử dụng Trong những năm
gần đây, tốc độ đô thị hoá và phát triển kinh tế tăng nhanh, cơ cấu sử dụng đất
cũng chuyển dịch theo hướng giảm diện tích đất rừng và đất nông nghiệp, tăng
diện tích đất ở, đất cho các khu công nghiệp, cảng và khai thác khoáng sản
Cơ cấu phát triển kinh tế
Từ 2001 đến 2004, tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức 12-13%, cơ cấu kinh
tế dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giảm tỷ trọng phát triển
ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỷ trọng phát triển công nghiệp và xây dựng
cơ bản Hình 4 chỉ ra cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh trong những năm gần đây
Hình 4 Cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh 2001-2004
Trang 169.2 52.3 38.5
8.6 52.1 39.2
8.7 53 38.4
8.3 54.2 37.5
Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Ninh 2004
2 Các vấn đề/ đe doạ đối với vùng bờ Hạ Long
Vùng bờ vịnh Hạ Long là nơi có nhiều hệ sinh thái nhạy cảm với các tác
động của tự nhiên và con người
Về tự nhiên: Vùng ven biển là nơi chịu thiệt hại nhiều nhất do bão, nước
dâng trong bão và thuỷ triều cao, có thể tàn phá nhà cửa, ruộng vườn và cơ sở hạ
tầng Ngoài ra vùng ven biển cũng tiềm ẩn nguy cơ gió lốc, vòi rồng và sóng thần
Ước tính sóng thần có thể đạt đến độ cao cực đại là 4m Khi có sóng thần, chiều
rộng của dải đất ngập nước tính từ bờ biển và dải đất thấp ven biển phải chịu ảnh
hưởng có thể đạt đến 40 km, tức là toàn bộ vùng bờ vịnh Hạ Long, trong đó vùng
nhạy cảm nhất với sóng thần, bão là các đảo ngoài vịnh Hạ Long
Mặc dù vậy, hiện tại đa số dân sống ở vùng ven biển làm nghề nông nghiệp,
đánh bắt cá và nuôi trồng thuỷ sản (50% tại các xã ven biển) Họ là những người
sống chủ yếu nhờ vào nguồn lợi của biển và cũng là những người phải chịu tổn
thương nhiều nhất do các thảm hoạ thiên nhiên liên quan đến biển như bão biển,
ngập lụt, xói lở,
Do vậy, việc nghiên cứu và đưa ra các biện pháp phòng chống và giảm nhẹ
thiệt hại do thiên tai đối với vùng bờ là vô cùng cần thiết
Trang 17Về con người: Đây là vùng bờ có đa dạng các loại hình hoạt động kinh tế -
xã hội, đan xen của nhiều ngành và của nhiều thành phần kinh tế khác nhau Những đe doạ/vấn đề đã được nhận diện đối với vùng bờ vịnh Hạ Long bao gồm:
• Gia tăng tải lượng các chất ô nhiễm đến môi trường biển và ven bờ;
• Mất các sinh cảnh quan trọng, suy thoái các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài
nguyên rừng và đa dạng sinh học biển;
• Suy giảm nguồn lợi hải sản;
• Gia tăng bồi lắng ở các khu vực cửa sông, ven biển, khu vực cảng;
• Gia tăng sự cố môi trường: sự cố tràn dầu, xói lở bờ sông và bờ biển;
• Suy giảm chất lượng nước mặt, nước biển ven bờ
Gia tăng tải lượng các chất ô nhiễm đến môi trường biển và ven bờ
Các chất ô nhiễm vào môi trường biển chủ yếu từ nước thải, rác thải do sinh
hoạt của dân cư trong các khu đô thị đông đúc của Hòn Gai và Bãi Cháy, hoạt
động của các nhà máy, cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp và tàu thuyền
vận tải hàng hoá và khách du lịch
Trong mấy năm gần đây, do sức ép dân số và tốc độ tăng dân số nhanh, đặc
biệt ở các khu vực tập trung dân cư sát bờ biển của Thành phố Hạ Long làm gia
tăng lượng chất thải trong điều kiện cơ sở hạ tầng còn yếu kém Cho đến nay, lượng nước thải mới chỉ thu gom và xử lý được là 2500m3/ngày, lượng nước thải
chưa qua xử lý được thải trực tiếp vào môi trường biển hoặc vào sông hay hệ thống
cống rãnh rồi chảy ra biển Các chất ô nhiễm chính trong dòng nước thải sinh hoạt
bao gồm: BOD, COD, SS, T-N, T-P, dầu thải và các chất hữu cơ
Đây là nguồn ô nhiễm quan trọng, gây tác động lớn đến môi trường Ngoài
ra, còn lượng nước thải từ các khu dân du cư sống trên các thuyền bè, sinh hoạt của
thuỷ thủ và dân sống trên các đảo
Chất thải rắn sinh hoạt cũng là nguồn đáng kể gây ô nhiễm môi trường, tỷ lệ
thu gom chất thải tại đô thị chỉ đạt khoảng 60-70%, tại nông thôn đạt 40-50% Việc
thu gom chất thải chưa được thực hiện ở các đảo Chất thải của các vùng đó chủ
yếu do dân cư tập trung tại vườn rồi đốt hoặc ủ làm phân bón gây ô nhiễm môi trường
Chất thải từ hoạt động khai thác mỏ có thể coi là đáng kể nhất của ngành
công nghiệp Năm 2004, khoảng 115 triệu tấn đất, đá đã thải vào môi trường Khối
lượng đất đá khổng lồ này cùng với nước thải từ quá trình sàng tuyển than gây các
tác động sau:
Trang 18• Suy giảm chất lượng nước mặt do gia tăng độ đục, chất rắn lơ lửng, kim loại
nặng
• Gây ô nhiễm trầm tích đáy
• Suy giảm các hệ sinh thái quan trọng như rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi tôm
cá
• Gây ô nhiễm không khí do bụi và ồn ở các vùng khai thác và vùng lân cận
• Bồi lấp trong các lưu vực sông, vùng ven biển
Các hoạt động của ngành du lịch hiện tại và trong tương lai cũng đóng góp
đáng kể vào tải lượng ô nhiễm Chất thải rắn, lỏng từ hoạt động du lịch trên biển
mới chỉ thu gom đạt 70-80%, do kinh phí hoạt động còn hạn chế, tàu thu gom rác
chưa đáp ứng nhu cầu Trong tương lai khi lượng khách đạt hơn 1 triệu/năm, ngành
du lịch cần đầu tư vào hệ thống thu gom chất thải từ các tàu thuyền du lịch và trên
các đảo
Hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản cũng có tiềm năng gây gia tăng
các chất ô nhiễm, đặc biệt các chất hữu cơ, thuốc kháng sinh từ các vùng nuôi thâm
canh, bán thâm canh và nuôi lồng bè trên biển và dầu thải từ tàu thuyền đánh bắt
gần bờ và xa bờ đang ngày càng phát triển
Hoạt động nạo vét và đổ bùn thải xuống biển: Mỗi năm tổng lượng bùn thải
đổ ra vùng nước biển lân cận vịnh Hạ Long lên đến 3 triệu m3, trong số đó, chủ yếu
là bùn nạo vét từ các cảng sông và cảng biển Số lượng bùn cát này là các tác nhân
có thể gây đục, ô nhiễm nước và lan truyền sang khu vực vịnh Hạ Long
Bảng 4 Ước tính tổng thải lượng chất ô nhiễm trong vùng bờ vịnh Hạ Long (kg/ngày)
Sinh hoạt Du lịch Công
nghiệp
Nuôi trồng thuỷ sản
Trang 19Hình 5 Tỷ lệ tổng thải lượng TSS, BOD vào vịnh Bãi Cháy và Hạ Long
Mất các sinh cảnh quan trọng, đặc biệt là rừng và các hệ sinh thái biển
Vùng bờ Hạ Long có diện
tích đồi núi và rừng chiếm tỷ lệ
lớn, nhưng rừng tự nhiên của Hạ
Long đã bị suy giảm mạnh về
diện tích và chất lượng: hiện nay
các khu rừng nguyên sinh, kể cả
rừng Ba Mùn cũng bị khai thác
cạn kiệt Sự chuyển đổi từ đất
rừng giàu sang đất rừng trung
bình và nghèo, từ đất cây gỗ tạp
sang đất cây bụi và cỏ, từ
đất cây bụi và cỏ sang đất
biển Nhưng do chưa nhận
thức được giá trị và vai trò
20.00 30.00 40.00 50.00
Ngµn ha
Hình 6 Suy giảm diện tích RNM của Quảng Ninh
Trang 20đổi mục đích sử dụng sang nuôi
trồng thuỷ sản, xây dựng khu dân
cư đô thị, đất nông nghiệp hoặc
xây dựng các công trình hạ tầng
hoặc khu công nghiệp
Sinh cảnh rạn san hô có
năng suất sinh học cao và là nơi
cư trú của nhiều loài hải sản quý
hiếm, nhưng cũng bị suy giảm về
độ phủ, thành phần loài và diện
tích Nguyên nhân xác định được là do sự khai thác, đánh bắt thuỷ sản chưa hợp lý,
sử dụng các công cụ đánh bắt có tính huỷ diệt như mìn, xung điện và các loại lưới
rê, lưới vét, thả neo trên vùng
rạn Ngoài ra, việc khai thác
hang Đầu Gỗ và đảo Tuần
Châu là nơi phân bố chính của
thềm cỏ biển ở Vịnh Hạ Long,
nhưng diện tích của chúng đã bị
thu hẹp đáng kể Hiện nay, cỏ
biển phân bố ở phía nam Vịnh
Hạ Long, dọc bờ đảo Hang
Trai, Đầu Bê, Cống Đỏ, Bo
Hung và Cống Tây
Các tác nhân ảnh hưởng
tiềm tàng đến cỏ biển bao gồm
sự sa lắng trầm tích và sự
chuyển đổi các vùng có cỏ biển thành nơi nuôi trồng thuỷ sản, lấn biển làm khu du
Sù suy gi¶m sè loµi san h« trªn vÞnh H¹ Long
29
48 30
22
35
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Cèng L¸ Ba Tr¸i §µo Hang Trai Cèng §á Cäc ChÌo
Cèng L¸ Ba Tr¸i §µo Hang Trai Cèng §á Cäc ChÌo
Tr−íc n¨m 1998 N¨m 2003
Dù ®o¸n n¨m 2010 Hình 7 Suy giảm số loài và độ phủ của san hô Hạ Long
Trang 21lịch Cỏ biển cung cấp sinh cảnh và là nơi nuôi dưỡng động vật biển, cung cấp vật
chất làm ổn định, bảo vệ bờ biển tránh xói mòn Mất các thảm cỏ biển sẽ gây suy
giảm nguồn lợi thuỷ sản và mất các chức năng bảo vệ bờ biển
Sự suy giảm các sinh cảnh quan trọng trong vùng bờ Hạ Long cũng kéo theo
sự suy giảm về đa dạng sinh học do mất các loài sống trong các sinh cảnh đó Một
số loài quý hiếm như bò biển, cá heo, đã từng xuất hiện trong vùng biển vịnh Hạ
Long, đến nay gần như không còn thấy nữa Một số loài cây dược liệu quý trong
rừng tự nhiên và rừng ngập mặn cũng bị mất
Suy giảm nguồn lợi hải sản
Mặc dù sản lượng khai thác hải sản tăng qua các năm, nhưng việc khai thác,
đánh bắt thuỷ hải sản vẫn chủ yếu tập trung ở vùng gần bờ Có thể thấy sự cạn kiệt
nguồn lợi hải sản thông qua các chỉ thị như tỷ lệ hải sản chưa đến tuổi trưởng thành
tăng cao trong tổng số hải sản đánh bắt được; suy giảm loài cá có giá trị kinh tế
như họ cá Hồng, cá Sạo và cá Phèn; nguy cơ tuyệt chủng một số loài quý như tôm
hùm, cá mòi, bào ngư bầu dục và suy giảm sản lượng đánh bắt khi sử dụng cùng
loại công cụ, Ở các vùng ven bờ vịnh Hạ Long với độ sâu từ 0-20m đã bị khai
thác quá mức, việc khai thác hiện nay chỉ có thể gia tăng ở các vùng nước sâu trên
20m, đặc biệt là các vùng nước sâu trên 50m
Các nguyên nhân suy giảm nguồn lợi hải sản đã xác định được là do:
• Sự bùng nổ của các phương tiện đánh bắt có động cơ nhỏ ở các vùng ven bờ,
Tàu khai thác gần bờ chiếm tới 97%, công nghệ lạc hậu, khai thác thiếu chọn
lọc, năng suất thấp Mật độ tàu khai thác tập trung cao tới 30-50 tàu/km2,
trình độ dân trí thấp
• Sử dụng các loại dụng cụ đánh bắt có tính huỷ diệt, ảnh hưởng lớn đến khả
năng phục hồi nguồn lợi, như dùng chất nổ, xung điện để đánh bắt và dùng
các loại lưới có mắt dày để bắt cả những cá thể chưa đạt độ trưởng thành
• Mất các sinh cảnh nuôi dưỡng nguồn lợi thuỷ sản như rừng ngập mặn, rạn
san hô, thảm cỏ biển, bãi triều,…
• Ô nhiễm môi trường nước: suy giảm nồng độ DO ở một số vùng nước nông
ven bờ, gia tăng kim loại nặng (Kẽm, Chì, Cadimi ), chất rắn lơ lửng, dầu
mỡ và thuốc trừ sâu trong nước cũng là các tác nhân có khả năng gây rủi ro
cho nguồn lợi hải sản trong vịnh