Theo điều 2 Quyết định số 556/QĐ-KTNN ngày 11/07/2006 của Tổng Kiểm toán Nhà nước về Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Kiểm toán Nhà nước quy định“ ...Khi tiến hành kiểm toán, đoàn k
Trang 1ngo¹i tÖ cña nhµ n−íc
7543
02/11/2009
Hµ néi - 2007
Trang 2Mở Đầu
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Dự trữ ngoại hối nhà nuớc là tài sản của nhà nước, bao gồm ngoại tệ và vàng, thuộc sở hữu quốc gia thường được giao cho Ngân hàng Trung ương (ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước, sau đây viết tắt là NHNN) quản lý để thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo thanh toán quốc tế
Ngân hàng Trung ương với trách nhiệm là cơ quan quản lý tiền tệ phải hoàn thành những mục tiêu được qui định theo pháp luật của mỗi nước Các nguyên tắc cơ bản của quản lý dự trữ ngoại hối của Nhà nước mà các Ngân hàng Trung ương phải linh hoạt trong thực hiện là an toàn, sinh lời, đảm bảo khả năng thanh toán Ba nguyên tắc này là nền tảng xác định phương pháp quản lý dự trữ cũng như mức độ rủi ro có thể chấp nhận được bao gồm rủi ro: địa lý; lãi suất, tỷ giá, cơ chế theo dõi và kiểm soát đầu tư thích hợp, các cách thức giảm thiểu những rủi ro Hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối linh hoạt được tiến hành dưới dạng chuyển đổi đồng tiền kết hợp với đầu tư hoặc đầu tư vào các công cụ trên một số thị trường vốn và thị trường tiền tệ có lựa chọn, theo những định hướng quản lý đầu tư thận trọng
Trong điều kiện kinh tế quốc tế đang phát triển theo xu hướng mở cửa và hội nhập, không thể có một quốc gia nào phát triển một cách đơn
độc, khép kín, mà đòi hỏi phải mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới; mở rộng đầu tư; hợp tác kinh tế Dự trữ ngoại hối luôn phải có đủ các loại ngoại tệ đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế thoả mãn nhu cầu nhập khẩu, phục vụ sản xuất và tiêu dùng Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối còn được coi như một trong những cơ sở cho việc phát hành tiền và được sử dụng như là một lực lượng để can thiệp và điều tiết thị trường tiền tệ theo những mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô yêu cầu quản lý dự trữ ngoại hối
có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế Vì vậy, việc nghiên cứu
nội dung, trình tự và phương thức kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ của Nhà nước là cần thiết; nhằm tiết kiệm nguồn lực của kiểm toán, đồng thời
đưa ra kết luận, kiến nghị khách quan đối với hoạt động quản lý dự trữ ngoại
tệ của nhà nước
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trang 3- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về dự trữ ngoại tệ;
- Đánh giá thực trạng quản lý ngoại tệ của nhà nước;
- Đánh giá thực trạng kiểm toán dự trữ ngoại tệ của Kiểm toán Nhà nước;
- Đề xuất nội dung, trình tự, phuơng thức kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ của Nhà nước;
3.Phạm vi đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Dự trữ ngoại hối nhà nuớc là tài sản của nhà nước, bao gồm ngoại tệ tiền mặt; số dư ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ở nước ngoài; hối phiếu và các giấy chứng nhận của chính phủ, các tổ chức tài chính tiền tệ, ngân hàng quốc tế phát hành hoặc bảo lãnh; vàng tiêu chuẩn quốc tế; các loại ngoại hối khác của Nhà nước Ngoại tệ chiếm tỷ lệ rất lớn (trên 95% trong dự trữ ngoại hối nhà nước), tỷ giá biến động hàng ngày; vàng chiếm tỷ trọng nhỏ, mặt khác nhiều năm nay NHNN không dùng vàng can thiệp thị trường mà chủ yếu cho phép các doanh nghiệp nhập khẩu để cung ứng nhu cầu thị trường Hàng năm để xác nhận Báo cáo tài chính của NHNN, Kiểm toán Nhà nước phải đánh giá được các hoạt động
trong dự trữ ngoại tệ của NHNN Vì vậy đề tài tập trung nghiên cứu công tác kiểm toán dự trữ ngoại tệ nhà nước tại NHNN do Kiểm toán Nhà nước thực hiện
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động kiểm toán quản lý dự trữ ngoại tệ của NHNN (loại trừ các khoản chi tiêu đặc biệt của Nhà nước, do bản thân NHNN cũng không có hồ sơ tài liệu về các khoản chi tiêu này mà chỉ chuyển tiền cho các Bộ qua Bộ Tài chính theo lệnh của Chính phủ)
4.Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thẩm vấn, điều tra và các phương pháp đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả; sử dụng số liệu thực tế để nhận xét, đánh giá thực trạng Từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị có tính khả thi
Trang 4về phương thức kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ trong một cuộc kiểm toán dự trữ ngoại tệ của Nhà nước
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết hợp kiểm toán báo cáo tài
chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ trong cuộc kiểm toán Dự trữ ngoại tệ của nhà nước do Kiểm toán Nhà nước thực hiện
Chương 2 : Định hướng và giải pháp kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm
toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ của Nhà nước do Kiểm toán Nhà nước thực hiện
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán Dự trữ ngoại tệ của nhà nước do Kiểm
toán Nhà nước thực hiện
1 Cơ sở lý luận quản lý dự trữ ngoại tệ của nhà nước
1.1 Khái niệm về quản lý dự trữ ngoại tệ
Dự trữ ngoại hối nhà nước theo Pháp lệnh Ngoại hối số UBTVQH11 ngày 13 tháng 12 năm 2005 là tài sản của nhà nước, bao gồm ngoại
28/2005/PL-tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có giá và các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài thuộc sở hữu quốc gia thường được giao cho Ngân hàng Trung
ương (ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước, sau đây viết tắt là NHNN) quản lý để thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo thanh toán quốc tế
Điều 3 Phỏp lệnh ngoại hối nêu rõ: Nhà nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chớnh sỏch quản lý ngoại hối nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ớch hợp phỏp cho tổ chức, cỏ nhõn tham gia hoạt động ngoại hối, gúp phần thỳc đẩy phỏt triển kinh tế; thực hiện mục tiờu của chớnh sỏch tiền tệ quốc gia, nõng cao tớnh chuyển đổi của Đồng Việt Nam; thực hiện mục tiờu trờn lónh thổ Việt Nam chỉ sử dụng Đồng Việt Nam; thực hiện cỏc cam kết của Cộng hoà
xó hội chủ nghĩa Việt Nam trong lộ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường
Trang 5hiệu lực quản lý nhà nước về ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt Nam
Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trỳ, người khụng cư trỳ trong giao dịch vóng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trờn lónh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và cỏc giao dịch khỏc liờn quan đến ngoại hối
Tại Điều 5 về ỏp dụng phỏp luật về ngoại hối, điều ước quốc tế, phỏp luật
nước ngoài, tập quỏn quốc tế
- Hoạt động ngoại hối phải tuõn theo quy định tại Phỏp lệnh này và cỏc quy định khỏc của phỏp luật cú liờn quan
- Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viờn cú quy định khỏc với quy định của Phỏp lệnh này thỡ ỏp dụng quy định của điều ước quốc tế đú
- Trường hợp hoạt động ngoại hối mà phỏp luật Việt Nam chưa cú quy định thỡ cỏc bờn cú thể thoả thuận ỏp dụng phỏp luật nước ngoài, tập quỏn quốc tế nếu việc ỏp dụng phỏp luật nước ngoài, tập quỏn quốc tế đú khụng trỏi với những nguyờn tắc cơ bản của phỏp luật Việt Nam
Dự trữ ngoại hối nhà nước là tài sản thuộc sở hữu nhà nước được thể hiện thể hiện trong bảng cõn đối tiền tệ của Ngõn hàng Nhà nước Việt Nam Dự trữ ngoại hối nhà nước bao gồm: ngoại tệ tiền mặt, số dư ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ở nước ngoài; hối phiếu và các giấy nhận nợ của nước ngoài bằng ngoại tệ; các chứng khoán nợ do Chính phủ, ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ hoặc ngân hàng quốc tế phát hành, bảo lãnh; vàng tiêu chuẩn quốc tế
1.2 Đăc điểm hoạt động của Dự trữ ngoại tệ nhà nước
Dự trữ ngoại hối là các loại ngoại tệ và kim loại do Ngân hàng Trung ương (NHTW) của các quốc gia nắm giữ Đú là tài sản của nhà nước được cất trữ bằng các loại ngoại tệ khác nhau Trong điều kiện kinh tế phát triển theo xu hướng mở cửa và hội nhập, không một quốc gia nào có thể hoạt động một cách đơn độc, khép kín mà đòi hỏi phải mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Do
đó, dự trữ ngoại hối là phương tiện đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế nhằm thoả mãn nhu cầu nhập khẩu, mở rộng đầu tư, hợp tác kinh tế với nước ngoài Bên cạnh đó dự trữ ngoại hối còn là cơ sở cho việc phát hành tiền và được sử dụng như một lực lượng để can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm điều tiết tỷ giá Như vậy, dự trữ ngoại hối có vai trò quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế
Trang 6Quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước chủ yếu bao gồm: (1) Ngoại tệ tiền mặt; (2) Số dư ngoại tệ trªn tài khoản tiền gửi ở nước ngoài; (3) Hối phiếu và c¸c giấy chứng nhận nợ của chÝnh phủ, c¸c tổ chức tài chÝnh tiền tệ hoặc ng©n hàng quốc
tế ph¸t hành, bảo l·nh; (4) Vàng tiªu chuẩn quốc tế; (5) C¸c loại ngoại hối kh¸c của nhà nước Quỹ dự trữ ngoại hối được h×nh thành từ hai nguồn chÝnh:
- Từ các hoạt động xuất khẩu, khi xuất khẩu tăng có thặng dư trong cán cân thương mại thì nguồn thu bằng ngoại tệ sẽ hình thành nên quỹ dự trữ ngoại hối
- Do luồng vốn di chuyển vào trong nước dưới dạng kiều hối, đầu tư, vay
nợ làm tăng thu trong cán cân thanh toán quốc tế
Tuy nhiên, không phải toàn bộ luồng ngoại hối chảy vào trong nước đều được tập trung vào quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước mà có một phần đáng kể được lưu hành trong các tầng lớp dân cư, trôi nổi trên thị trường Vì thế các hoạt động thu hút ngoại hối để tăng quỹ dự trữ ngoại hối của Nhà nước và điều chỉnh cơ cấu dự trữ là hết sức quan trọng Theo quy định pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, dự trữ ngoại hối thường được giao cho NHTW quản lý để thực hiện chính sách tiền tệ và thanh toán quốc tế Mục đích cơ bản của việc quản lý dự trữ ngoại hối là nhằm tạo điều kiện cho NHTW có khả năng tác động vào tỷ giá giữa đồng bản tệ và các ngoại tệ thông qua việc can thiệp vào thị trường ngoại hối
Các nước khác nhau có động lực khác nhau trong việc xây dựng qui mô
dự trữ Các nhà kinh tế học đã chỉ ra những nhân tố có tác động đến việc xây dựng qui mô dự trữ ngoại hối bao gồm: nhu cầu giao dịch, nhu cầu dự phòng và can thiệp, nhu cầu tài sản hay đầu tư đối với nguồn dự trữ ngoại hối
Việc xác định qui mô của dự trữ ngoại hối là bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào nhu cầu của mỗi nước Nếu chỉ đảm bảo các nhu cầu giao dịch thông thường thì các NHTW thường xác định mức dự trữ ngoại hối tương đương một số tuần nhập khẩu nhất định Trong trường hợp NHTW muốn theo đuổi chính sách tỷ giá cố định thì đòi hỏi phải có một qui mô dự trữ lớn hơn nhiều Với cơ chế tỷ giá mang tính cố định, nếu không có lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn để can thiệp kịp thời, tỷ giá hối đoái trở nên biến động, không đảm bảo cho NHTW ổn định tỷ giá
1.2.2 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước
Để đo lường quy mô dự trữ ngoại hối của một quốc gia, xác định mức dự trữ đó là đủ hay còn thiếu, người ta sử dụng một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/Giá trị 1 tuần nhập khẩu trong năm kÕ ho¹ch Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thanh toán của quốc gia nhằm tài trợ cho nhu cầu nhập khẩu sắp đến Thông thường hiện nay, dự trữ của một quốc gia đáp ứng được 12-14 tuần nhập khẩu thì được đánh giá là đủ
- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/Nợ ngắn hạn nước ngoài
Trang 7Chỉ tiêu này chủ yếu được dùng để đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn và chống
đỡ đối với các cuộc tấn công tiền tệ hoặc đối với việc rút vốn ào ạt ra khỏi một quốc gia
- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/mức cung tiền rộng M2
nghiên cứu thì tỷ số dự trữ trên M2 lại không có mối tương quan cao với tỷ số dự trữ so với nợ ngắn hạn Do đó, một tỷ lệ dự trữ so với M2 cao hay thấp không nhất thiết phải dẫn đến sự biến động tương ứng trong tỷ lệ dự trữ so với nợ Tỷ lệ DTNH/M2 có tầm quan trọng đặc biệt ở những quốc gia có khả năng thất thoát vốn trong nước do hệ thống ngân hàng quá yếu kém hoặc chính sách điều hành tỷ giá cứng nhắc theo kiểu cố định
1.2.3.Qui mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam
Chủ trương nới lỏng quản lý ngoại hối được thể hiện trong Nghị định 63/1998/NĐ-CP và gần đây nhất là Pháp lệnh Ngoại hối mới được ban hành và
có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2006 kết hợp với việc điều hành ngày càng có hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã tạo nên sự tiến triển trong công tác quản lý ngoại hối nói chung và dự trữ ngoại hối nói riêng
Trong những năm qua, khối lượng dự trữ ngoại hối nhà nước của Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh Từ năm 1999 đến nay, khối lượng dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng đáng kể, dự trữ ngoại hối năm 2005 tăng gấp 3 lần so với năm 1999 Nếu như trong những năm trước 2004 dự trữ ngoại hối đáp ứng được khoảng trên dưới 8 tuần nhập khẩu thì đến năm 2004 đã đạt 9 tuần nhập khẩu và sang năm 2005, mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam đáp ứng được 10 tuần nhập khẩu (đồ thị 1)
Đồ thị 1:Khối lượng DTNH Việt Nam 1999 - 2005
2700
3387 3692
5620 6314 7730
3030
8.3 7.2 8.9 9
10 8.9
14 Tu
?N nh
?nh/ khÈu
?
Trang 8Theo thống kê, khả năng trả nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay là khả quan qua các số liệu về nợ nước ngoài/GDP, nợ nước ngoài/nguồn thu từ xuất khẩu Các tỷ lệ này đều đạt mức an toàn cao Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP ở mức 50% được gọi là cao trong khi tỷ lệ này ở Việt Nam dao động ở mức < 35% Vì vậy, nguồn dự trữ ngoại hối của nước ta hiện nay so với
nợ là ở mức tương đối an toàn và liên tục được cải thiện qua các năm Năm 2004,
tỷ lệ dự trữ ngoại hối/nợ ngắn hạn đến hạn đã ở mức 716%, là mức an toàn và cao hơn nhiều so với mức 593% của Trung Quốc, quốc gia có dự trữ ngoại hối vào hàng lớn nhất thế giới Do vậy, xét trên phương diện đảm bảo nhu cầu thanh toán nợ, dự trữ ngoại hối Việt Nam có thể nói là đáp ứng được Tuy nhiên, đạt được điều này là do Việt Nam đang thực hiện kiểm soát chặt chẽ luồng vốn ngắn hạn, đồng thời vay nợ ngắn hạn chủ yếu là hình thức nhập hàng L/C trả chậm Do vậy rủi ro rút vốn ngắn hạn đột ngột không đặt ra thách thức cho việc sử dụng dự trữ ngoại hối để đáp ứng nhu cầu này (đồ thị 2)
2000 2001 2002 2003 2004 2005
D T N H /
N ? ng?n h?n (% )
Nguồn: Vietnam 2005 Article IV Consultation - IMF January 2006
Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/M2 của Việt Nam biến động không theo một xu hướng nhưng nhìn chung đảm bảo tỷ lệ theo thông lệ quốc tế (đồ thị 3) Năm
2003, tỷ lệ này ở mức cao (21,4%) do dự trữ ngoại hối tăng mạnh so với năm trước (tăng 52%) trong khi mức cung tiền chỉ tăng 20,5% Năm 2004 và 2005 chỉ tiêu này có giảm do tốc độ tăng dự trữ ngoại hối chậm lại và tốc độ tăng M2 cao hơn (năm 2004: 30,4; năm 2005: 23,4%) Đối với Việt Nam, nơi hoạt động của
hệ thống ngân hàng còn yếu kém và cơ chế tỷ giá chưa thật linh hoạt thì chỉ tiêu này cũng cần được tính đến
Đồ thị 3: Tỷ lệ DTNH/M2 2000 – 2005
Trang 9
21.4
20.6 20.2 17.3
18.3 19.7
0 5 10 15 20 25
M2/DTNH
Nguồn: IMF January 2006 , Vietnam 2005 Article IV Consultation và tính toán của tác giả
1.2.4 Các yếu tố làm tăng dự trữ ngoại hối
Thứ nhất, cán cân thanh toán quốc tế
- Kim ngạch xuất khẩu gia tăng
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng nhanh kéo theo
cả việc tăng của kim ngạch nhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu năm 2001 đạt 15,1
tỷ USD, tăng 4,5% so với năm 2000; trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,35 tỷ USD (tăng 9,3%) và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 3,75 tỷ USD (tăng 8%) Trong số 15 mặt hàng xuất khẩu chính yếu, có 12 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu 100 triệu USD trở lên, trong số đó có 4 mặt hàng
là dầu thô, thủy sản, dệt may, giày dép đạt từ 1,52 tỷ đến 3,17 tỷ USD
Bắt đầu từ năm 2003, xuất khẩu các năm đều tăng vượt trội Năm 2003 đạt mức 20149,3 triệu USD, tăng 19% so với năm 2002, tăng gấp 2,6 lần tốc độ tăng GDP nên tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt khá cao Đến năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đạt 26.504,2 triệu USD và đến năm 2005 đã lên đến 32.233 triệu USD Việt Nam tăng xuất khẩu cả về chất và lượng Thị trường xuất khẩu được mở rộng, với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá, Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với 221 nước và vùng lãnh thổ, xuất khẩu tới 119 nước Bên cạnh mở rộng về thị trường, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng gia tăng cả
về số lượng và chủng loại Trong những năm trước, kim ngạch xuất khẩu tăng hoàn toàn do khối lượng, từ năm 2003 trở đi, cả khối lượng xuất khẩu tăng và giá tăng là nguyên nhân khiến kim ngạch xuất khẩu tăng đáng kể Đặc biệt, xuất khẩu tăng nhờ sự tăng trưởng ở cả hai khu vực kinh tế trong nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tỷ lệ nhập siêu năm 2004, 2005 đã giảm so với năm trước (Xem bảng 1)
Trong quý I/2006, nguồn cung ngoại tệ của cả nền kinh tế tương đối dồi dào so với cầu ngoại tệ (cung ngoại tệ đạt 12,5 tỷ USD, cầu ngoại tệ đạt 10,4 tỷ USD và dư cung ngoại tệ vào khoảng 2 tỷ USD) Quan hệ cung cầu ngoại tệ khả quan chủ yếu là do cán cân thương mại được cải thiện đáng kể so với cùng kỳ
Trang 10năm trước (xuất khẩu hàng hoỏ tăng mạnh, 25% so với cựng kỳ năm trước, trong khi nhập khẩu tăng trưởng chậm, chỉ ở mức 5,7% so với cựng kỳ năm trước Xuất khẩu quý I/2006 đạt 8.910 triệu USD, cú sự vượt trội rừ nột về kim ngạch
do Việt Nam cú nhiều thuận lợi về thị trường, giỏ cả nờn nhiều mặt hàng chớnh
Nhập khẩu (triệu USD
Tốc độ tăng (%)
Nhập siêu (triệuUSD)
Tỷ lệ nhập siêu (%)
Nguồn: Thời báo Kinh tế - Kinh tế Việt Nam và Thế giới 2005 - 2006
Bước sang quý II năm 2006, cầu ngoại tệ tăng nhanh Mặc dự cầu ngoại tệ tăng nhanh hơn trong quý I/2006 do nhập khẩu hàng hoỏ đó gia tăng trở lại để phục vụ tăng đầu tư và phỏt triển kinh tế (4 thỏng đầu năm 2006 nhập khẩu tăng 8,8% so với cựng kỳ; 5 thỏng đầu năm tăng 13,7%; ước thực hiện 6 thỏng tăng 14% so với cựng kỳ năm ngoỏi) nhưng cung ngoại tệ vẫn tiếp tục tăng lờn nhờ xuất khẩu tăng trưởng vững chắc với tốc độ 26% của 6 thỏng đầu năm 2006 và
sự tăng lờn của cỏc nguồn thu khỏc Ước tớnh cả nền kinh tế vẫn cú dư cung ngoại tệ trong 6 thỏng đầu năm khoảng 2,2 tỷ USD, cao hơn mức dư 2 tỷ USD của quý I và cao hơn nhiều so với mức dư khoảng 700 triệu USD của 6 thỏng đầu năm 2005
Kinh tế tăng trưởng, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh nhưng đồng thời nhập khẩu cũng tăng Chớnh vỡ vậy, mặc dự về quy mụ dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng mạnh nhưng tớnh trờn tuần nhập khẩu vẫn ở mức thấp so với cỏc quốc gia trờn thế giới và trong khu vực
- Nguồn kiều hối tăng mạnh
Đồ thị 4: Kiều hối Việt Nam 1999 - 2005
Trang 11
400 950 1200
1757 1820
2100 2700 3200 3800
0 1000 2000 3000 4000
9
20 200 1
Ki?u h?i (tri?u USD)
Nguồn: Thời báo Kinh tế - Kinh tế Việt Nam và thế giới 2005 - 2006
Các quy định về quản lý ngoại hối thể hiện trong Nghị định 63/1999NĐ -
CP đến Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 đã từng bước tự do hoá các giao dịch vãng lai, đặc biệt là chính sách kiều hối ngày càng thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế Người nhận kiều hối không phải đóng thuế thu nhập, giá trị kiều hối chuyển về không hạn chế, các đơn vị chi trả kiều hối đưa tiền tới tận nhà cho người thụ hưởng cho phép thu hút lượng kiều hối chuyển về nước liên tục tăng nhanh Kiều hối hiện nay được chuyển về nước theo nhiều con đường như đường chính thức là chuyển tiền qua ngân hàng, qua các công ty chuyển tiền nhanh, qua các đại lý làm dịch vụ kiều hối; chuyển tiền tự do; tự mang vào khi nhập cảnh nên càng tạo điều kiện dễ dàng cho loại ngoại tệ này vào Việt Nam Đến năm
2004, 2005, lượng kiều hối thu hút được luôn đạt trên 3 tỷ USD, tăng gần gấp 10 lần so với năm 1997 Đây là nguồn quan trọng góp phần gia tăng dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong thời gian qua (đồ thị 4)
- Cán cân vốn tiếp tục bội thu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục gia tăng do môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện hơn, lợi thế về chi phí đầu tư như chi phí lao động, giá điện đang cạnh tranh với các nước trong khu vực Đặc biệt, việc hoàn thiện pháp luật theo yêu cầu gia nhập WTO phù hợp với luật quốc tế Trong giai đoạn 2001 - 2005, cam kết đầu tư FDI bình quân tại Việt Nam đạt trên 3 tỷ USD/năm, đặc biệt năm 2005 đạt 5,8 tỷ USD Cam kết nguồn vốn ODA cũng đạt bình quân gần 3 tỷ USD/năm Giải ngân ODA đạt trung bình khoảng 1,5 tỷ USD/năm (Xem bảng 2)
Đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu xuất hiện và có
sự mở rộng sang các nước Nga, Mỹ, Đức và các nước trong khu vực vào những lĩnh vực khai khoáng, chế biến nông sản, thương mại Tuy nhiên, so với luồng vốn FDI thu hút vào Việt Nam, đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài không đáng kể Đáng chú ý là thị trường chứng khoán Việt Nam đã khá sôi động, trong đó giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài vào chứng khoán do người cư trú Việt Nam phát hành cũng góp phần làm tăng cung ngoại tệ Cầu ngoại tệ cho
Trang 12các mục đích chi dịch vụ, chi thu nhập đầu tư vẫn tăng nhưng với tốc độ tăng không nhanh bằng tốc độ tăng của cung ngoại tệ
B¶ng 2: Cam kÕt vµ gi¶i ng©n vèn FDI vµ ODA víi ViÖt Nam
§¬n vÞ: tû USD
1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 FDI (cam kÕt) 2,264 2,695 3,230 2,963 3,145 4,222 5,814
ODA (cam kÕt) 2,1 2,4 2,4 2,5 2,839 2,9 3,44
ODA (gi¶i ng©n) 1,35 1,65 1,5 1,53 1,4 1,65 1,6
Nguån: Thêi b¸o kinh tÕ - Kinh tÕ ViÖt Nam 2001 - 2005
Mặc dù cán cân vãng lai vẫn trong tình trạng bội chi nhưng cán cân vốn trong những năm gần đây luôn bội thu dẫn đến cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam bội thu, là cơ sở để tăng dự trữ ngoại hối của Nhà nước (Xem bảng 3)
B¶ng 3: C¸n c©n thanh to¸n quèc tÕ cña ViÖt Nam
độ là 0,1% Từ ngày 1/7/2002, biên độ này được mở rộng ra là 0,25% NHNN Việt Nam sẽ can thiệp trên TTNTLNH để điều chỉnh tỷ giá trung tâm căn cứ mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô từng thời kì Về thực chất, đây chính là chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý không công bố trước tỷ giá nhưng có quy định biên độ hẹp Với cơ chế này, tỷ giá USD/VND được duy trì tương đối ổn định mặc dù giá vàng và đôla Mỹ trên thị trường quốc tế cũng như lãi suất cả trong và ngoài nước diễn biến khá phức tạp Cụ thể, tốc độ tăng tỷ giá năm 2000, 2001, 2002, 2003 là 3,4%, 3,8%, 2,1%, 2,2%, đến năm 2004 chỉ tăng 0,4% và năm 2005 cũng chỉ ở mức 0,79% (đồ thị 5)
Để duy trì sự ổn định, bên cạnh các nhân tố kinh tế, sự can thiệp của NHNN trên thị trường ngoại hối cũng góp phần quan trọng Thông qua nghiệp vụ của mình, NHNN thực hiện việc mua vào hay bán ra khi cần thiết, một mặt tăng
Trang 13cường quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia, mặt khác đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các NHTM và tác động gián tiếp đến tỷ giá trên thị trường NHNN thực hiện tốt vai trò là người mua bán cuối cùng trên TTNTLNH, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu, thanh toán cho các đối tác nước ngoài
và nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế Trong năm 2004, NHNN đã mua vào được khoảng 1871 triệu USD, bán ra 1671 triệu USD đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu xăng dầu, chuyển đổi ngoại tệ của Chính phủ Sự ổn định tỷ giá USD/VND có lợi cho cả xuất khẩu và nhập khẩu, hạn chế sự di chuyển từ VND sang USD của các doanh nghiệp và dân cư Dự trữ ngoại hối của nhà nước, quĩ bình ổn tỷ giá được tăng cường
Nguån: Thêi b¸o Kinh tÕ – Kinh tÕ ViÖt Nam vµ ThÕ giíi 2005 - 2006
1.2.5 Giải pháp tăng cường dự trữ ngoại hối Nhà nước
Mặc dù dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong những năm qua đã tăng lên đáng kể nhưng so với các nước khác và nhu cầu của nền kinh tế thì vẫn còn rất khiêm tốn (tính đến tháng 6 năm 2006, 8 nước có dự trữ ngoại hối lớn nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Đài Loan, Hàn Quốc, ấn Độ, Singapo, Hồng Kông lần lượt là 941; 864; 263; 260; 224; 162; 128; 126 tỷ USD Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đáp ứng được tới 11 tháng nhập khẩu và Hàn Quốc là hơn 9 tháng) Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu và yêu cầu thanh toán các khoản nợ nước ngoài ngày càng lớn đã đặt ra yêu cầu gia tăng
dự trữ ngoại hối Thêm nữa, với cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay của Việt Nam, trước mắt dự trữ ngoại hối vẫn giữ một vai trò quan trọng để điều tiết tỷ giá Dự trữ ngoại hối cũng cần đủ mạnh để đối phó với những âm mưu kích động, những yếu tố đầu cơ trên thị trường Chúng ta đã thấy rõ điều nay qua trường hợp của Thái Lan trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 Các giải pháp cã thÓ để tăng cường quỹ dự trữ ngoại hối:
Thứ nhất, cải thiện cán cân thương mại và kiểm soát cán cân vãng lai: Xuất nhập khẩu là thước đo quan trọng về mức độ mở cửa của nền kinh tế, đồng thời nó cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến quy mô dự trữ ngoại hối của quốc gia đó
Trang 14Một quốc gia có cán cân thương mại càng thặng dư thì khả năng tích luỹ ngoại hối càng cao Do vậy, cần có một cơ chế đồng bộ nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, mở rộng quan hệ thương mại với nước ngoài, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế để qua đó thúc đẩy trao đổi thương mại với các quốc gia Đồng thời, NHNN cần thường xuyên kiểm soát được sự biến động của cán cân vãng lai làm cơ sở cho các quyết định dự trữ cũng như can thiệp trên thị trường
Thứ hai, có các biện pháp thu hút thêm nguồn vốn đầu tư nước ngoài: Luồng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thời gian qua có sự gia tăng đáng kể, các tổ chức nước ngoài đã cam kết đầu tư vào Việt Nam với số tiền ngày càng cao, qua đó khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế Nhưng trên thực tế,
số vốn giải ngân trên số vốn cam kết vẫn ở mức thấp, nguồn vốn ODA giải ngân hàng năm chỉ đạt khoảng 50% cam kết Do đó, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hành lang pháp lý nhằm trước mắt tạo sự tin tưởng với các nhà đầu tư để giải ngân theo cam kết và sau đó tiếp tục thu hút thêm các nguồn vốn vào Việt Nam, góp phần mở rộng quy mô dự trữ ngoại hối
Thứ ba, tăng cường thu hút ngoại tệ về NHNN: Ngoại tệ chảy vào nước ta xuất phát từ nhiều nguồn và hoạt động khác nhau, bao gồm kiều hối, ngoại tệ do
cá nhân mang từ nước ngoài về, nguồn ngoại tệ do khách du lịch nước ngoài chi trả tại Việt Nam, tiền lương của người Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp nước ngoài Trong đó, kiều hối là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất Với chính sách tự do hoá các giao dịch vãng lai, nguồn kiều hối chảy về nước liên tục gia tăng qua các năm Tuy nhiên để khai thác tối đa nguồn ngoại tệ này, chúng ta cần tạo niềm tin cho kiều bào về sự ổn định kinh tế chính trị xã hội trong nước để họ yên tâm chuyển tiền về nước; Cơ quan hải quan cần kiểm soát chặt chẽ hơn nguồn kiều hối lậu chảy về; NHNN khuyến khích các NHTM mua để tăng nguồn kiều hối thu hút vào ngân hàng và bán cho NHNN
Tuy nhiên, không phải cứ dự trữ càng nhiều ngoại hối càng tốt Việc tích luỹ quá nhiều ngoại hối có thể làm phát sinh thêm nhiều loại chi phí Mặc dù thiệt hại từ việc mở rộng dự trữ ngoại hối của Việt Nam là chưa thể hiện nhưng NHNN Việt Nam cần phải có tính toán cụ thể để xác định khối lượng dự trữ ngoại hối vừa đảm bảo đủ lớn, an toàn, vừa tạo hiệu quả cao cho nền kinh tế Bên cạnh đó, cơ chế điều hành tỷ giá cũng cần linh hoạt hơn để có thể điều chuyển quĩ bình ổn tỷ giá và giá vàng sang quĩ dự trữ ngoại hối, đáp ứng nhu cầu thanh toán và trả nợ
Thứ tư, hiện nay số ngoại tệ thu được từ xuất khẩu dầu thô của Nhà nước vẫn do Bộ Tài chính quản lý và sử dụng, mà chưa tập trung vào NHNN để cân đối với nhu cầu ngo¹i tệ của nền kinh tế Trong khi nguồn ngoại tệ thu được từ xuất khẩu dầu thô tập trung vào Bộ Tài chính, cßn hệ thống ngân hàng phải chi ngọai tệ để nhập khẩu xăng dầu là một nghịch lý đang tồn tại, làm cho nguồn
Trang 15ngoại tệ bị phõn tỏn, Dự trữ ngoại hối Nhà nước thấp, giảm thiểu lực can thiệp thị trường nếu cú rủi ro lớn Từ thực tế trờn, cần thiết tập trung quản lý ngoại tệ vào một đầu mối là NHNN, tạo điều kiện cho NHNN thực hiện tốt chức năng quản lý
và điều hành thị trường ngoại tệ, cú điều kiện tăng cường dự trữ ngoại tệ của Nhà nước, tạo điều kiện cho NHNN sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ một cỏch linh hoạt, cũn Bộ Tài chớnh chỉ kiểm tra việc quản lý dự trữ ngoại tệ của NHNN đỳng như qui định tại Nghị định số 86/1999/NĐ-CP và Phỏp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 Cũng theo Nghị định này, dự trữ ngoại hối chủ yếu
được sử dụng để đầu tư ở nước ngoài để sãn sàng can thiệp thị trường ngoại hối trong nước và bù đắp thiếu hụt cán cân thanh toán khi cần thiết Trong quan hệ với ngân sách dự trữ ngoại hối chỉ được tạm ứng trong năm ngân sách khi có quyết định của Chính phủ và phải hoàn trả trong năm ngân sách đó Tuy nhiên,
để tăng dự trữ ngoại hối thì cần nghiên cứu và thử nghiệm các hoạt động đầu tư của dự trữ ngoại hối trên thị trường quốc tế như cho vay chứng từ có giá, Swap lãi suất và tỷ giá, để tăng tỷ lệ sinh lời cho dự trữ nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc
an toàn và thanh khoản
1.2.6 Cơ cấu dự trữ ngoại hối
Quản lý dự trữ ngoại hối gồm hai nội dung cơ bản là quản lý quy mô dự trữ ngoại hối, quản lý cơ cấu ngoại hối, trong đó: cơ cấu dự trữ ngoại hối là chỉ tiêu hiệu quả đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực của Dự trữ ngoại hối nhà nước Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 86 /1999/NĐ-CP ngày 30/8/1999 của Chính phủ Việc xác định cơ cấu Dự trữ ngoại hối nhà nước đòi hỏi phải đảm bảo: tỷ lệ từng loại ngoại tệ trong thanh toán xuất, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ; tỷ lệ ngoại tệ vay, trả nợ nước ngoài; dự báo xu hướng biến động của từng loại ngoại tệ; tỷ trọng của từng loại ngoại tệ trong dự trữ quốc tế và thanh toán thanh toán quốc tế của các nước trên thế giới
Theo quy định tỷ lệ từng loại ngoại tệ trong thanh toán xuất, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, tỷ lệ ngoại tệ vay, trả nợ nước ngoài, tỷ trọng của từng loại ngoại tệ trong dự trữ quốc tế và thanh toán thanh toán quốc tế của các nước trên thế giới; các tỷ lệ trên xuất phát từ yêu cầu có đủ ngoại tệ đảm bảo có đủ ngoại tệ
để đáp ứng các nhu cầu thanh toán quốc tế Dự báo xu hướng biến động của từng loại ngoại tệ để quyết định cơ cấu dự trữ ngoại hối vừa có ý nghĩa đảm bảo quy mô của mỗi loại ngoại tê trong Dự trữ ngoại hối, vừa đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm và hiệu lực trong quản lý dự trữ ngoại hối
Trang 161.3 Thực trạng quản lý dự trữ ngoại tệ của nhà nước
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện việc quản lý dự trữ ngoại hối theo quy
định tại NĐ số 86/1999/NĐ-CP, Thống đốc NHNN ban hành QĐ số NHNN và các Quyết định điều hành quản ly Dự trữ ngoại hối nhà nước năm 2005 Tuy nhiên, trong quá trình quản lý còn thiếu các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện phù hợp với diễn biến tình hình thực tế, cụ thể:
đầu tư để đưa tỷ lệ các loại ngoại tệ trong dự trữ phù hợp với cơ cấu đã được duyệt, như GBP: cuối năm 2004 số dư: 328 triệu, cuối năm 2005 có số dư: 527 triệu; cần dự trữ tăng trong kỳ là 199 triệu (a) Như vậy Giám đốc Sở Giao dịch -NHNN phải cân bằng các hoạt động mua, bán, đầu tư và chỉ được mua tăng số lượng tối đa 199 triệu GBP cho Dự trữ
2 Theo Quyết định số 425/2005/QĐ-NHNN mức phán quyết của Giám đốc
Sở Giao dịch đối với các khoản đầu tư tương đương dưới 30 triệu USD, chưa quy
định giới hạn tổng giá trị đầu tư trong một ngày Vì vậy tháng 4 và 5/2005 Sở Giao Dịch đã mua vào trên 300 triệu GBP; Hậu quả là suốt 7 tháng cuôi năm chỉ lo bán ra
để đảm bảo mức đự trữ GBP được duyệt
tư khả thi trình Thống đốc qua Trưởng ban điều hành phê duyệt, để đảm bảo thực hiện đúng 03 nguyên tắc quản lý dự trữ ngoại hối Chưa có quy định thưởng, phạt kết hợp khuyến khích bằng lợi ích vật chất; nên chưa có tác dụng thúc đẩy lao động sáng tạo của người lao động
4 Thị trường ngoại hối trong và ngoài nước luôn có biến động, đặc biệt năm 2005 Đồng Việt Nam lên giá so với một số ngoại tệ mạnh có trong Dự trữ ngoại hối nhà nước như GBP, EUR, JPY NHNN chưa có quy định mức độ biến
động tỷ giá của thị trường để đề xuất phuơng án điều chỉnh cơ cấu Quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước
trong dự trữ để điều chỉnh kịp thời cơ cấu Dự trữ ngoại hối Từ cuối tháng 5/2005
tỷ giá một số ngoại tệ giảm đến tháng 12/2005; USD chiếm tỷ trọng 74,28% tổng Dự trữ, tăng giá so với đầu năm là 0,86%; EUR chiếm tỷ trọng 13,37% tổng
Dự trữ, giảm giá so với đầu năm là 12,29% Nếu dự báo chính xác quý 4/2005 có thể điều chỉnh tỷ lệ cơ cấu Dự trữ ngoại hối nhà nước theo hướng có lợi
Trang 176 Các Vụ có liên quan, Sở giao dịch và Ban điều hành dự trữ ngoại hối nhà nước chưa có sự phối kết hợp cao từ khâu tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và dự báo để xây dựng, quyết định và thực hiện cơ cấu quỹ dự trữ ngoại hối sát tình hình hơn
7 Thống đốc, Ban Điều hành quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước và các thành viên Ban điều hành chưa kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo sát sao và yêu cầu Sở
Giao dịch tuân thủ việc: xây dựng phuơng án đầu tư dự trữ Dự trữ ngoại hối nhà nước trình Trưởng ban điều hành, quy dịnh tại Khoản 2, Điều 7 QĐ số 653/2001/QĐ-NHNN; trong trường hợp có biến động trên thị trường ngoại hối trong và ngoài nước, Sở Giao dịch có nhiệm vụ báo cáo Trưởng ban điều hành, có thông báo gửi Vụ quản lý ngoại hối để xem xét, đề xuất phương án
điều chỉnh cơ cấu Quỹ dự trữ ngoại hối trình Thống đốc quyết định theo quy
định theo Khoản 4, Điều 8 QĐ số 653/2001/QĐ-NHNN; khi việc chuyển đổi các
khoản đầu tư không đảm bảo được những nguyên tắc về quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước quy định tại Điều 4 NĐ số 86/1999/NĐ-CP của Chính phủ Giám đốc SGD chưa báo cáo Trưởng Ban Điều hành quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước và đề xuất phương án xử lý”, theo Điều 2 các Quyết định: số 01/2005/QĐ-NHNN, số 03/QĐ-NHNN, số 18/QĐ-NHNN, và QĐ số 19/QĐ-NHNN)
8 Quỹ Bình ổn tỷ giá và giá vàng vượt mức quy định, tuy có nguyên nhân khách quan; nhưng NHNN chưa kịp thời chuyển sang Quỹ Dự trữ (cuối tháng 2 vượt 39,4%; cuối tháng 9 vượt 30,7%)
9 Mua ngoại tệ vượt tỷ lệ cơ cấu Theo Quyết định: số 01/QĐ-NHNN.Tm ngày 3/2/2005 về cơ cấu Quỹ Dự trữ ngoại hối 6 tháng đầu năm 2005; Quyết định
số 03/QĐ-NHNN.Tm ngày 3/2/2005 về cơ cấu Quỹ Bình ổn tỷ giá và giá vàng 6 tháng đầu năm; Quyết định số 18/QĐ-NHNN.Tm ngày 31/8/2005 về cơ cấu Quỹ Bình ổn tỷ giá và giá vàng 6 tháng cuối năm và Quyết định số 19/QĐ-NHNN.Tm ngày 31/8/2005 về cơ cấu Quỹ Dự trữ 6 tháng cuối năm của Thống đốc NHNN; theo quy định tại các Quyết định trên, cơ cấu Dự trữ ngoại hối Nhà nước được quản lý trong kỳ dự trữ ( trong 6 tháng) Tính tỷ lệ cơ cấu Dự trữ theo tháng, năm
2005 Sở Giao dịch mua EUR,GBP để vượt cơ cấu 08 tháng, làm Dự trữ ngoại hối Nhà nước giảm: 76.571 triệu đồng
10 Hiệu quả đầu tư mua, bán ngoại tệ trên thị trường quốc tế làm dự trữ ngoại hối nhà nước giảm giá trị 44.546.774,12 USD,
11 Biện pháp phòng ngữa rủi ro trong hoạt động Dự trữ còn hạn chế
Trang 182 Hoạt động kiểm toán quản lý dự trữ ngoại tệ
2.1 Yêu cầu của quản lý dự trữ ngoại tệ
- Điều 4 Nghị định số 86/1999/NĐ-CP ngày 30/8/1999 của Chính phủ, yêu cầu quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước theo nguyên tắc: “ Bảo toàn dự trữ; bảo
đảm khả năng sẵn sàng thanh toán, đáp ứng các nhu cầu ngoại hối khi cần thiết; sinh lời thông qua các nghiệp vụ đầu tư”
“Bảo toàn” được hiểu là “ Bảo đảm an toàn dự trữ ngoại hối nhà nước theo nguyên tệ hoặc hiện kim” có nghĩa rằng số lượng mỗi loại ngoại tệ, hoặc vàng luôn được kiểm đếm đầy đủ trong suốt thời gian dự trữ Số lượng ngoại tệ dự trữ chỉ có thể thay đổi theo các nguyên nhân cơ học do người có thẩm quyền quyết
định như một loại ngoại tệ tăng khi mua vào, giảm khi bán ra và Số dư ngoại tệ cuối kỳ bằng số dư ngoại tệ đầu kỳ cộng số mua ngoại tệ trong kỳ trừ số bán ngoại tệ trong kỳ
“Bảo đảm khả năng sẵn sàng thanh toán, đáp ứng nhu cầu ngoại hối khi cần thiết” có nghĩa rằng Dự trữ ngoại tệ của nhà nước luôn đảm bảo nhu cầu về ngoại tệ của người cư trú, người không cư trú, chi tiêu của Chính phủ bằng ngoại
- Điều 5 Nghị định số 86/1999/NĐ-CP ngày 30/8/1999 của Chính phủ quy
định “ Dự trữ ngoại hối nhà nước được lập thành hai quỹ: Quỹ dự trữ ngoại hối; Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng”
Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng là một phần dự trữ ngoại tệ nhà nước được duy trì để phục vụ việc can thiệp hàng ngày trên Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việc lựa chọn đồng tiền trong Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng dựa trên nguyên tắc phải đảm bảo tính thanh khoản cao khi cần thiết có thể sử dụng được ngay
Quỹ dự trữ ngoại hối chiếm tỷ trọng lớn trong tổng Dự trữ ngoại hối nhà nước được sử dụng để đầu tư thường vào các chứng khoán nợ trung hạn ít rủi ro
và cũng có tính thanh khoản cao
Trang 19- Điều 9 Nghị định số 86/1999/NĐ-CP ngày 30/8/1999 của Chính phủ quy
định “ Cơ cấu của quỹ Dự trữ ngoại hối được xác định trên cơ sở: tỷ trọng các loại ngoại tệ sử dụng trong thanh toán, xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam; tỷ trọng các loại ngoại tệ vay trả nợ nước ngoài của Việt Nam; Dự báo
xu hướng biến động của từng loại ngoại tệ và vàng; tỷ trọng của từng loại ngoại tệ trong dự trữ quốc tế và thanh toán quốc tế của các nước trên thế giới” Như vậy từng loại ngoại tệ trong Dự trữ ngoại hỗi của nhà nước luôn phải tuân thủ một cơ cấu khách quan sao cho chúng vừa đảm bảo phù hợp tỷ lệ của chính nó trên tổng các loại ngoại tệ sử dụng để thanh toán, xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ; vay trả nợ nước ngoài; xu hướng biến động của từng loại ngoại tệ; thông lệ về tỷ lệ của từng loại ngoại tệ trên tổng dự trữ và thanh toán quốc tế của các nước trên thế giới
- Trong kinh doanh cũng như dự trữ ngoại tệ, yêu cầu đặt ra đối với nhà quản lý là phải quan tâm đến ngoại tệ có khả năng chuyển đổi nhanh (ngoại tệ mạnh); tỷ giá (giá của mỗi loại ngoại tệ so với các ngoại tệ khác tại mỗi thời
điểm) của mỗi loại ngoại tệ trên thị trường Để xử dụng hữu hiệu công cụ tỷ giá trong quản lý dự trữ ngoại tệ, người quản lý theo dõi diễn biến hoạt động đầu tư
và nắm chắc các nguyên nhân dẫn đến biến động của thị trường để điều chỉnh tiêu chuẩn, hạn mức và tỷ lệ đầu tư cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo
an toàn và hiệu quả trong quá trình đầu tư
-Trong kinh doanh cũng như dự trữ ngoại tệ, người quản lý muốn nắm giữ một lượng ngoại tệ nhằm đón cơ hội thu được lợi nhuận hoặc thanh toán chi trả trong tương lai; việc nắm giữ lượng ngoại tệ đó, người quản lý phải đứng trước sự lựa chọn; đồng thời họ phải trả phí cơ hội của việc lưu giữ dự trữ ngoại tệ Phí cơ hội của lưu giữ dự trữ ngoại tệ khá cao, chẳng hạn như nếu tỷ lệ dự trữ yêu cầu của một quốc gia đang phát triển là 20% GDP và lãi suất chiết khấu phí rủi ro là 5%, đây là mức lãi suất mà World Bank thường dùng để đánh giá phí cơ hội do lưu giữ ngoại hối, thì phí cơ hội mất đi tương đương 1% GDP hàng năm Vì vậy vấn đề quan trọng trong chiến lược quản lý dự trữ ngoại tệ của một quốc gia là phải nghiên cứu chi phí cơ hội để dự kiến mức dự trữ ngoại hối tối ưu nhất sao cho dự trữ được nhiều ngoại tệ với chi phí thấp nhất
Tóm lại quản lý dự trữ phải thực hiện năm yêu cầu: Một là bảo toàn dự trữ; Hai là đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế; ba là sinh lời thông qua các nghiệp
vụ đầu tư; Bốn là làm chủ thị trường ngoại hối kịp thời điều chỉnh hình thức, tiêu
Trang 20cơ hội thấp nhất cho việc đạt mức dự trữ theo yêu cầu của nền kinh tế Với các yêu cầu về quản lý dự trữ đặt ra, cuộc kiểm toán phải đánh giá nhà quản lý có thực hiện đúng yêu cầu, và đạt hiệu quả
2.2 Yêu cầu của kiểm toán quản lý dự trữ ngoại tệ
Điều 48 Luật Ngân hàng Nhà nước đã nêu rõ báo cáo tài chính của Ngân hàng Nhà nước phải được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán và xác nhận, như vậy Ngân hàng Nhà nước là đơn vị kiểm toán thường niên của Kiểm toán Nhà nước Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 86/1999/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm
1999 về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước“ Thu nhập và các chi phí phát sinh trong quá trình quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước được hạch toán vào thu nhập và chi phí nghiệp vụ ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước’’ Luật và Nghị định quy
định hàng năm Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ kiểm toán Dự trữ ngoại hối nhà nước- các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính của NHNN, trong dó có chỉ tiêu về Dự trữ ngoại hối phải được Kiểm toán Nhà nước xác nhận mới có giá trị pháp lý
Theo Điều 7 Luật Kiểm toán nhà nước “ Nguyên tắc hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là: 1 “ Độc lập và chỉ tuân theo Pháp luật’’;“ Trung thực, khách quan’’ Theo điều 2 Quyết định số 556/QĐ-KTNN ngày 11/07/2006 của Tổng Kiểm toán Nhà nước về Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Kiểm toán Nhà nước quy định“ Khi tiến hành kiểm toán, đoàn kiểm toán và các thành viên của đoàn kiểm toán phải tuân thủ Luật kiểm toán nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan, hệ thống chuẩn mực, quy trình và các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm toán đã thực hiện’’
-Để cuộc kiểm toán đạt hiệu quả, Đoàn kiểm toán phải thực hiện tốt các yêu cầu đặt ra đối với cuộc kiểm toán, không chỉ tuân thủ các yêu cầu chung về
đảm bảo nguyên tắc“ trung thực’’,“ khách quan’’,“ độc lập và chỉ tuân thủ pháp luật’’; mà còn phải xuất phát từ chính số liệu, phương pháp chuyên môn nghiệp
vụ, thực tế tuân thủ pháp luật và sử dụng nguồn lực của NHNN về quản lý Dự trữ ngoại tệ của NHNN tập hợp bằng chứng kiểm toán để đưa ra nhận xét, kết luận, kiến nghị“ Độc lập’’,“Khách quan’’ Một số yêu cầu khách quan cơ bản trong kiểm toán Dự trữ ngoại tệ, gồm:
-Đánh giá được số lượng mỗi loại ngoại tệ, hối phiếu, giấy nhận nợ, chứng khoán nợ luôn được kiểm đếm về thời gian, không gian, đối tác đầu tư, lãi suất
được hưởng và phí phải trả Các hoạt động này có được ghi chép trung thực trên báo cáo tài chính của NHNN hay không? các bằng chứng này là cơ sở để đánh giá việc thực hiện nguyên tắc bảo toàn dự trữ;
Trang 21-Đánh giá việc xây dựng Tổng mức dự trữ ngoại tệ và cơ cấu dự trữ ngoại
+ Xác định Tổng mưc dự trữ ngoại tệ tỷ lệ dự trữ giữa các loại ngoại tệ; tỷ
lệ đầu tư ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; lưa chọn hình thức và thời hạn đầu tư; lựa chọn đối tác để thực hiện đầu tư
- Đánh giá việc thực hiện cơ cấu Dự trữ có đáp ứng các yêu cầu: Một là bảo toàn dự trữ; Hai là đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế; ba là sinh lời thông qua các nghiệp vụ đầu tư
-Đánh giá tính tuân thủ các quy định trong quản lý Quỹ dự trữ ngoại hối; Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng”; việc điều chuyển giữa hai quỹ; sử dụng Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng can thiệp Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
- Đánh giá tính tuân thủ sử dụng công cụ tỷ giá trong suốt quá trình quản
lý dự trữ ngoại tệ, các tài liệu phân tích nguyên nhân dẫn đến biến động của thị trường về tỷ giá ngoại tệ trên thế giới và trong nước và các tác động đến đông Việt Nam
- Đánh giá tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả trong việc sử dụng ngoại hối của Nhà nuớc
2.3 ý nghĩa của việc kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt
động, kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ của nhà nước do Kiểm toán Nhà nước thực hiện
Điều 4 - Luật Kiểm toán Nhà nước quy định các loại hình kiểm toán Tuy nhiên khó có thể thực hiện cả ba loại hình kiểm toán trong một cuộckiểm toán; vì vậy việc kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ ( trong một cuộc kiểm toán) có ý nghĩa
khai thác tối đa tính ưu việt của mỗi loại hình kiểm toán
2.31 Kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ cho phép cuộc kiểm toán đảm bảo tính
độc lập khách quan
Trang 22- Dự trữ ngoại tệ có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế đất nước, Dự trữ ngoại tệ đảm bảo cho việc thanh toán quốc tế, điều hoà lưu thông tiền tệ, thúc đẩy sản xuất phát triển; các biến động của tiền tệ ( giá cả các đồng tiền) trong và ngoài nước có tác động không nhỏ đến sản xuất, tiêu dùng và tâm lý nhân dân; tiền tệ ổn định có tác dụng khuyến khích sản xuất phát triển và ngược lại Theo thông lệ quốc tế khối lượng dự trữ ngoại tệ luôn tương ứng từ 12 đến 14 tuần nhập khẩu; đây là khối tài sản lớn, trước biến động của thị trường cũng có thể làm
dự trữ ngoại tệ tăng hoặc giảm hàng trăm triệu USD Vì vậy cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính dự trữ ngoại tệ có vị trí hết sức quan trọng; đòi hỏi phải tuân thủ đầy
đủ hệ thống chuẩn mực, quy tình, phuơng pháp kiểm toán và Quy chế tổ chức và hoạt động của đoàn kiểm toán Nhà nước để đưa ra được kết luận kiến nghị độc lập và khách quan về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng dự trữ ngoại tệ của nhà nước
- Xét mỗi quan hệ nội tại về chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán ngay trong cuộc kiểm toán ta thấy:
+ Dù tiến hành cuộc kiểm toán theo loại hình kiểm toán nào bao giờ cũng phải bắt đầu từ việc xác định thông tin tài chính và các ghi chép kế toán để đánh giá báo cáo tài chính có được phản ánh trung thực và tuân thủ quy phạm pháp luật
về kế toán, tài chính hay không;
luật về kê toán, tài chính; nhưng không đón trúng xu hướng biến động của thị trường ngoại tệ quốc tế theo hướng đem lại hiệu quả cho dự trữ ngoại hối, thì nguồn lực bị lãng phí Ví dụ: giả sử như mức Dự trữ ngoại tệ chính phủ giao cho NHNN thực hiện là 7,7 tỷ USD thì phí cơ hội theo thông lệ quốc tế là 385 triệu USD; như vậy nếu NHNN dự trữ đủ 7,7 tỷ thì sẽ lãng phí nguồn lực và kém hiệu quả Kiểm toán viên phải kết hợp phuơng pháp của các loại hình kiểm toán mới xác định được nguồn lực đầu vào; đánh giá việc tuân thủ pháp luật trong hoạt
động Dự trữ ngoại tệ; đồng thời kiểm toán tính tiết kiệm, hiệu lực và hiệu quả; từ
đó chỉ ra các bằng chứng khách quan trong việc sử dụng nguồn lực trong quản lý
Trang 23hay khâu quản lý dự trữ ngoại tệ trước biến động của thi trường; từ đó mới có cơ
sở đưa ra kết luận khách quan
2.3.2 Kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ giúp tiết kiệm nguồn lực kiểm toán
-Hình thức Kiểm toán báo cáo tài chính-Kiểm toán tuân thủ-Kiểm toán hoạt động, trong một cuộc kiểm toán có mỗi quan hệ biện chứng với nhau; trong một cuộc kiểm toán khó mà tách chúng ra khỏi nhau bởi áp dụng hình thức kiểm toán này luôn là tiền đề cho hình thức kiểm toán kia và ngược lại Ngay trong mỗi bước của cuộc kiểm toán ví dụ bước chuẩn bị kiểm toán và bước thực hiện kiểm toán thì đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN trong hoạt động dự trữ ngoại tệ luôn diễn ra ở cả hai bước kiểm toán; ngược lại sau khi thực hiện kiểm toán thì chính kết quả kiểm toán lại một lần nữa xác định tính hiệu lực và hiệu quả của kiểm soát nội bộ của NHNN trong hoạt động Dự trữ ngoại hối của NHNN Vì vậy việc tổ chức thực hiện kiểm toán Dự trữ ngoại tệ của Kiểm toán Nhà nước phải kết hợp cả ba hình thức Kiểm toán báo cáo tài chính-Kiểm toán tuân thủ-Kiểm toán hoạt động; đồng thời việc kết hợp phải được thực hiện ở cả các bước của cuộc kiểm toán và ngay từ bước chuẩn bị kiểm toán Việc kết hợp các loại hình kiểm toán có ý nghĩa tiết kiệm thời gian và lực lượng kiểm toán
tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ, kết luận kiểm toán thể hiện tính khoa học, tính thuyết phục
Trong cuộc kiểm toán dự trữ ngoại tệ nếu không kết hợp các phương pháp của loại hình kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính với nhau sẽ không thuyết phục Ví dụ, giả sử như đầu năm dự trữ ngoại tệ của nhà nước có hai loại tiền 3,5 triệu GBP và 3,5 triệu EUR , trong năm không tăng và không sử dụng dự trữ; Trong năm có biến động tỷ giá GBP tăng giá 20%
và EUR giảm giá 30% thì người ta vẫn lập luận: cuối năm vẫn còn 3,5 triệu GBP
và 3,5 triệu EUR cộng lãi tiền gửi của chúng theo ba nguyên tắc của dự trữ vẫn bảo toàn theo nguyên tệ, có sinh lời chính là số lãi tiền gửi của chúng Nếu chỉ sử dụng phương pháp kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ, chúng ta sẽ không đưa ra được kết luận thuyết phục về tính kém hiệu quả trong quản lý dự trữ ngoại tệ như đã nêu trên Với phương pháp kiểm toán hoạt động, Đoàn kiểm toán thống nhất được (thoả thuận tiêu chí đánh giá) với NHNN dùng đồng USD để
Trang 24đánh giá đự trữ ngoại tệ đầu năm và cuối năm sẽ lượng hoá được việc kém hiệu quả do không điều chỉnh dự trữ EUR khi chúng xuống gia
- Kiểm toán nguồn tiền cung ứng trong năm để mua ngoại tệ cho dự trữ;
- Kiểm toán ngoại tệ tiền mặt; số dư ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ở nước ngoài; hối phiếu và các giấy chứng nhận nợ của chính phủ, các tổ chức tài chính tiền tệ hoặc ngân hàng quốc tế phát hành, bảo lãnh;
- Kiểm toán nghiệp vụ thu lãi tiền gửi, trả phí cho ngân hàng nước ngoài
2.4.1.2 Nội dung của kiểm toán hoạt động quản lý dự trữ ngoại tệ
Điều 39 - Luật Kiểm toán Nhà nước đã quy định rõ nội dung kiểm toán hoạt động “Tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động; Việc bảo đảm, quản lý và sử dụng các nguồn lực; Hệ thống kiểm soát nội bộ; Các chương trình
dự án; các hoạt động của đơn vị được kiểm toán; Tác động của môi trường bên ngoài đối với tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của đơn vị được kiểm toán.” Đối với cuộc kiểm toán dự trữ ngoại tệ nhà nước, các nội dụng chủ yếu gồm:
- Kiểm toán chỉ tiêu xây dựng tổng mức dự trữ ngoại tệ nhà nước, trong đó kiểm toán các căn cứ xác định tỷ lệ các loại ngoại tệ trong xuất nhập khẩu hàng hoá, vay trả nợ ;
+ Kiểm toán các chỉ tiêu xác định tuần nhập khẩu hàng hoá;
- Kiểm toán thực hiện cơ cấu dự trữ ngoại tệ theo ngày, tháng, 6 tháng bao gồm các cân đối sau:
+ Thời hạn đầu tư dưới một năm, từ 1 đến 3 năm, trên ba năm;
+ Hình thức đầu tư: Giấy tờ có giá, tiền gửi có kỳ hạn, uỷ thác đầu tư
Trang 25- Kiểm toán việc sử dụng nguồn lực của dự trữ ngoại hối nhà nước; thực chất là điều chỉnh cơ cấu dự trữ ngoại hối khi có biến động của thi trường tiền tệ
mỗi đồng tiền, do tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước làm cho giá cả kỳ phiếu, trái phiếu của các Chính phủ đó biến động theo Đoàn kiểm toán phải kiểm tra xác nhận việc điều chỉnh cơ cấu dự trữ ngoại hối nhà nước của NHNN
2.4.1.3.Nội dung của kiểm toán tuân thủ quản lý dự trữ ngoại tê
Tại Điều 38 - Luật Kiểm toán Nhà nước đã quy định rõ nội dung kiểm toán tuân thủ “ Tình hình chấp hành Luật ngân sách nhà nước, Luật kế toán, các luật thuế và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; Tình hình chấp hành các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ cấu các quỹ dự trữ ngoại tệ trong quản lý dự trự ngoại tệ nhà nước; Tình hình chấp hành nội quy, quy chế của
đơn vị được kiểm toán.” Đối với cuộc kiểm toán dự trữ ngoại tệ nhà nước, các nội dụng chủ yếu gồm:
- Kiểm toán việc tuân thủ Luật Ngân hàng nhà nước về quản lý dự trữ ngoại tệ của nhà nước;
- Kiểm toán việc tuân thủ Nghị định của chính phủ về quản lý dự trữ ngoại
2.4.2.1 Trình tự của kiểm toán báo cáo tài chính quản lý dự trữ ngoại tệ
Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước gắn với chính sách vĩ mô của nền kinh tế đất nước; đặc biệt là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ của nhà nước, NHNN vừa có chức năng quản lý nhà nước vừa có nhiệm vụ điều tiết các hoạt
động cung cầu tiền tệ Để đánh giá khách quan các hoạt động của NHNN theo quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật kiểm toán Nhà nước, đòi hỏi phải
có Quy trình kiểm toán Kiểm toán Ngân hàng Nhà nước những năm qua trên cơ
sở Quyết định số 03/1999/QĐ-KTNN ngày 6/10/1999 về Quy trình kiểm toán Nhà nước, Quyết định số 04/1999/QĐ-KTNN ngày 22/10/1999 về Quy trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nước và Quyết định số 06/1999/QĐ-KTNN ngày 24/12/1999 về Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán nhà nước của Tổng Kiểm toán Nhà nước; các cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính của NHNN hàng năm mới đạt kết quả nhất định, so với yêu cầu còn có những hạn chế Cuộc kiểm toán báo cáo tài chính NHNN hàng năm đều thực hiện qua bốn bước của Quy trình kiểm toán
Trang 26việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Từ năm 2004 trở về trước cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính của NHNN chưa thực sự quan tâm đến kiểm toán dự trữ như đã nêu tại điểm 1.2.3.1 đề tài này Để cuộc kiểm toán đạt kết quả, Đoàn kiểm toán phải nắm chắc Chức năng, nhiệm vụ quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước của NHNN- Quy trình của kiểm soát nội bộ của NHNN về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, chế độ lý tài chính và hạch toán kế toán - lựa chọn phương pháp kiểm tra chi tiết tài khoản và chứng từ; Nắm chắc quy định về ghi chép kế toán bằng
Đồng Việt Nam, nguyên tệ và đánh giá chênh lệch tỷ giá đối với ngoại tệ kinh doanh và ngoại tệ dự trữ trên cơ sở đó đưa ra kết luận, kiến nghi khách quan về
kết quả hoạt động tài chính của dự trữ ngoại hối
2.4.2.2 Trình tự của kiểm toán hoạt động quản lý dự trữ ngoại tệ
Kiểm toán hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước đều thực hiện qua bốn bước của Quy trình kiểm toán là: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập và gửi báo cáo kiểm toán, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán Mục tiêu kiểm toán là những hướng đích mà hoạt động của một cuộc kiểm toán cần đạt được Việc xác định rõ ràng, đúng đắn mục tiêu kiểm toán là cơ sở cho chủ thể kiểm toán xác định đối tượng, phạm vi, phương pháp, trình tự kiểm toán Các mục tiêu của kiểm toán hoạt động đều phản ánh sự liên hệ với một trong ba nội dung hoặc kết hợp cả ba nội dung là: tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực của hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhà nuớc
Để cuộc kiểm toán đạt hiệu quả, đoàn kiểm toán phải tuân thủ bốn bước của quy trình kiểm toán với các nội dung cơ bản sau:
- Quy trình quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước - Quy trình kiểm soát dự trữ ngoại hối nhà nước;
- Quá trình quản lý và sử dụng nguồn lực;
- Xây dựng và thống nhất tiêu chuẩn đánh giá về: tình kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực của hoạt động;
- Kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực của hoạt
động; kiểm tra, đánh giá trách nhiệm của người quản lý trong quản lý và sử dụng các nguồn lực của đơn vị; kiểm tra, đánh giá hệ thống các thông tin quản lý và hiệu năng của bộ máy quản lý Trong những mục tiêu trên, mục tiêu kiểm tra,
đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực của hoạt động thường được xác
định là mục tiêu trọng tâm
Trang 272.4.2.3.Trình tự của kiểm toán tuân thủ quản lý dự trữ ngoại tệ
Trình tự của cuộc kiểm toán tuân thủ quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước
đều phải tuân thủ bốn bước của quy trình kiểm toán:
- Thu thập và nghiên cứu thông lệ quốc tế về quản lý dự trữ ngoại hối của các nước; đánh giá của IMF về dự trữ ngoại hối, điều hành chính sách tiền tệ của các nước trên thế giới và Việt Nam;
- Thu thập các quy định pháp luật về quản lý dự trữ ngoại hối của nhà nước;
- Thu thập các thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN về quản
Dự trữ ngoại hối nhà nước là khối tài sản lớn của nhà nước, dự trữ ngoại hối nhà nước tương đương 15% thu nhập quốc dân giao cho NHNN quản lý và sử dụng; vì vậy hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của nhà nước Để cuộc kiểm toán đạt kết quả, phải tuân theo trình tự kết hợp:
- Kiểm toán để kiểm tra, đánh giá, xác nhận, tính trung thực của các ghi chép kế toán của dự trữ ngoại hối;
- Kiểm toán để kiểm tra, đánh giá, xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà NHNN phải thực hiện trong quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước;
Trang 28- Kiểm toán để kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý sử dụng nguồn lực của dự trữ ngoại hối nhà nước
2.4.3.2 Kiểm toán dự trữ ngoại tệ nhà nước kiểm tra phát hiện các hành vi không tuân thủ pháp luật gây ảnh hưởng đến báo cáo tài chính dự trữ ngoại
tệ
Khi phát hiện ra những thông tin liên quan đến hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định, kiểm toán viên phải tìm hiểu rõ tính chất của hành vi, hoàn cảnh phát sinh hành vi và những thông tin liên quan để đánh giá ảnh hưởng
có thể có đến báo cáo tài chính Kiểm tra hậu quả có thể xảy ra về tài chính đối với dự trữ ngoại hối nhà nước, mức độ ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính
2.4.3.3 Kiểm toán các thời điểm nhạy cảm trong quá trình quản lý dự trữ ngoại tệ
Vào các thời điểm thị trường ngoại tệ trong nước và quốc tế có biến động,
Đoàn kiểm toán cần kiểm tra phát hiện kịp thời các hành vị không tuân thủ pháp luật và việc sử dụng nguồn lực tác động đến báo cáo tài chính dự trữ ngoại hối nhà nước về các mặt:
- Các ghi chép kế toán có phản ánh trung thực khách quan;
- Việc sử dụng nguồn lực có đem lại hiệu quả cho dự trữ ngoại hối nhà nước
2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến cuộc kiểm toán quản lý dự trữ ngoại tệ 2.5.1 Những bất cập về chính sách chế độ của nhà nước
Nghị định số 86/1999/NĐ-CP ngày 30/8/1999 của Chính phủ về quản lý
Trang 29thi trường ngoại tệ trong và ngoài nước biến động để đánh giá tính hiệu quả của
dự trữ ngoại hối;
- Nguồn vốn còn yếu tố chưa rõ ràng như tiền gửi và tiền gửi bắt buộc của các ngân hàng thương mại bằng ngoại tệ, thuộc hay không thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước;
- Chi phí cơ hội cho việc nắm giữ một khối lượng lớn ngoại tệ cho dự trữ ngoại hối nhà nước;
- Khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông hàng năm dành để mua ngoại tệ tăng dự trữ ngoại hối nhà nước để đảm bảo tăng dự trữ ngoại hối nhà nước đồng thời ổn định giá cả thị trường
2.5.2 Nhận thức của Ngân hàng Nhà nước về cuộc kiểm toán toàn diện về quản lý dự trữ ngoại tệ
Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng của các ngân hàng Kiểm toán toán diện về quản lý dự trự ngoại hối nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quản
lý vĩ mô nền kinh tế Ngân hàng Nhà nước thấy được ý nghĩa về cuộc kiểm toán quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước
Tuy nhiên để phục vụ kiểm toán thì việc được cung cấp các tài liệu, số liệu
về dự trữ ngoại hối nhà nước được còn gặp các khó khăn do các nguyên nhân:
- Mọi tài liệu về dự trữ ngoại hối nhà nước được coi là tuyệt mật, ngay cả các vụ chức năng có liên quan đến dự trữ ngoại hối nhà nước cũng chỉ được biết phần việc mình làm; cũng chính vì nguyên nhân này mà năm 2005 có nhiều ý kiến khác nhau về dự trữ ngoại hối nhà nước ngay trong NHNN;
- Do toàn bộ số liệu, tài liệu là tuyệt mật nên việc cung cấp chúng cho
2.5.3 Năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ kiểm toán viên
vụ ngân hàng, để khi thực hiện kiểm toán không có tình trạng kiểm toán viên đưa
ra các câu hỏi không đáng có
Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, KTV phải có kiến thức về hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật áp dụng đối với NHNN, khi cần thiết tham khảo ý kiến các chuyên gia pháp luật, các tổ chức ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong các tình huống phức tạp để có thể đưa ra các ý kiến đánh giá đúng các trường hợp không tuân thủ pháp
Trang 30động cụ thể Hiểu biết chính sách tiền tệ, chiến lược phát triển của Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể đặc biệt đối với các lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu Yêu cầu Kiểm toán viên phải hiểu biết sâu rộng về nghiệp vụ ngoại hối, cụ thể:
a Kiểm toán viên phải nắm bắt được: NHNN đã áp dụng hay chưa các
biện pháp và thủ tục nhằm ngăn ngừa, phát hiện những hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định, gồm:
- Nắm bắt kịp thời yêu cầu của pháp luật và các quy định liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Nhà nước và có các biện pháp để thực hiện những yêu cầu đó;
- Thiết lập và vận hành một hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp và hiệu quả;
- Xây dựng và thực hiện các quy tắc trong hoạt động quản lý ngoại hối, có biện pháp theo dõi, khen thưởng, kỷ luật kịp thời;
- Sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật, kể cả dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán
để thực hiện đúng các yêu cầu của pháp luật và các quy định;
- Tổ chức bộ phận kiểm tra kiểm toán nội bộ phù hợp với quy mô và yêu cầu của quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước;
- Lưu trữ đầy đủ các văn bản pháp luật và các quy định liên quan mà đơn
vị phải tuân thủ và những tài liệu có liên quan đến các vụ tranh chấp, kiện tụng
b Kiểm toán viên phải hiểu biết tổng thể về pháp luật và các quy định có
liên quan đến quản lý dự trữ ngoại hối, để làm được điều đó kiểm toán viên áp dụng những biện pháp sau đây:
- Sử dụng các kiến thức hiện có liên quan đến hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối của ngân hàng Nhà nước;
- Yêu cầu NHNN và các đơn vị thuộc và trực thuộc cung cấp và giải trình
về những qui định và thủ tục nội bộ của đơn vị liên quan đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định;
- Trao đổi với lãnh đạo đơn vị về pháp luật và các quy định có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính;
- Xem xét các qui định và thủ tục giải quyết cụ thể của đơn vị khi xảy ra tranh chấp hoặc xử phạt;
c Dựa trên những hiểu biết tổng thể về pháp luật và các quy định liên quan
đến hoạt động quản lý dự trữ ngại hối nhà nước, kiểm toán viên phải tiến hành các thủ tục cần thiết để xác định hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy
Trang 31định liên quan đến quá trình lập báo cáo tài chính, đặc biệt phải chú ý đến các thủ tục sau:
- Trao đổi với người đứng đầu đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý dự trữ ngoại hối về việc tuân thủ pháp luật và các quy định;
- Trao đổi với các cơ quan chức năng có liên quan
d Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về
việc không tuân thủ pháp luật và các quy định của đơn vị làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính Kiểm toán viên phải có những hiểu biết đầy đủ về pháp luật và các quy định nhằm mục đích xem xét tính tuân thủ pháp luật và các qui định khi kiểm toán cơ sở dữ liệu liên quan đến các thông tin trên báo cáo tài chính
e Khi những văn bản pháp luật và các quy định liên quan đến hoạt động
quản lý dự trữ ngoại hối có thay đổi trong từng giai đoạn, kiểm toán viên phải xem xét tính tuân thủ những quy định này trong quan hệ phù hợp về mặt thời gian với việc lập báo cáo tài chính
f Khi phát hiện ra những thông tin liên quan đến hành vi không tuân thủ
pháp luật và các quy định, kiểm toán viên phải tìm hiểu rõ tính chất của hành vi, hoàn cảnh phát sinh hành vi và những thông tin liên quan để đánh giá ảnh hưởng
có thể có đến báo cáo tài chính
g Khi xét thấy các hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định có
ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải xem xét đến:
- Khả năng xảy ra hậu quả về tài chính, thậm chí dẫn đến rủi ro buộc NHNN phải ngừng hoạt động mua vào hoặc bán ra loại ngoại tệ nào đó;
- Sự cần thiết phải giải trình hậu quả về tài chính trong phần Thuyết minh báo cáo tài chính;
- Mức độ ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính
h Khi có nghi ngờ hoặc khi đã phát hiện có hành vi không tuân thủ pháp
luật và các quy định, kiểm toán viên phải ghi lại và lưu hồ sơ kiểm toán những phát hiện đó và thảo luận với người đứng đầu của đơn vị được giao quản lý dự trữ ngoại tệ Hồ sơ lưu bao gồm bản trích sao chứng từ, sổ kế toán, biên bản họp và các tài liệu khác có liên quan
2.6 Thực trạng kiểm toán quản lý dự trữ ngoại tệ của nhà nước
2.6.1.Thực trạng kiểm toán quản lý dự trữ ngoại tệ của nhà nước
Trong 6 năm từ 1999 đến 2004 Kiểm toán Nhà nước kiểm toán Báo cáo tài
Trang 32nước, đây là một chuyên đề rất quan trọng trong kế hoạch kiểm toán Nhưng các cuộc kiểm toán mới chỉ dừng lại ở việc kiểm toán số dư các tài khoản ngoại tệ gửi tại nước ngoài (trong đó có tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn); số dư về đầu tư
và quyền đòi nợ nước ngoài (trong đó xác định cụ thể số dư chứng khoán của các chính phủ, chứng khoán của các tổ chức quốc tế) Kết quả kiểm toán mới chỉ thể hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của NHNN, và kết hợp với một phần kiểm toán tính tuân thủ các qui định của pháp luật trong quản lý dự trữ ngoại hối; chưa thực
sự quan tâm tới kiểm toán hoạt động thể hiện ở tính kinh tế, tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực thuộc Dự trữ ngoại hối của Nhà nước Trong quá trình thực hiện kiểm toán của KTNN mới chỉ thực hiện đối chiếu số dư của các tài khoản tiền gửi, đầu tư ngoại tệ tại nước ngoài, tính lãi mà Dự trữ ngoại hối được hưởng thông qua các chứng từ phát sinh, sao kê tài khoản, sổ kế toán chi tiết, tổng hợp và số liệu trên cân đối kế toán của NHNN; Trong kiểm toán báo cáo tài chính chưa thực hiện xác nhận số dư tài khoản tại các đối tác nước ngoài, hoàn toàn thừa nhận các ghi chép kế toán của NHNN trên cơ sở các chứng từ tài liệu phía ngân hàng nước ngoài gửi cho NHNN Các nội dung mà cuộc kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán Nhà nước chưa thực hiện:
- Qui mụ dự trữ ngoại hối của Việt Nam:
+ Nguồn hình thành Quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước;
+ Cỏc chỉ tiờu cơ bản đỏnh giỏ quy mụ dự trữ ngoại hối nhà nước
Cỏc yếu tố làm tăng dự trữ ngoại hối;
+ Giải phỏp tăng cường dự trữ ngoại hối Nhà nước trong năm kiểm toán;
- Cơ cấu dự trữ ngoại hối:
+ Tỷ lệ từng loại ngoại tệ trong thanh toán xuất, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ;
+ Tỷ lệ ngoại tệ vay, trả nợ nước ngoài;
+ Dự báo xu hướng biến động của từng loại ngoại tệ;
+ Tỷ trọng của từng loại ngoại tệ trong dự trữ quốc tế và thanh toán thanh toán quốc tế của các nước trên thế giới;
Trang 33- Các quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động Dự trữ ngoại hối nhà nước còn những vấn đề chưa rõ ràng, khó thực hiện; qua nhiều năm kiểm toán nhưng Kiểm toán Nhà nước cũng chưa có kiến nghị:
+ Không có quy định đồng tiền dùng để đánh giá dự trữ ngoại hối nhà nước;
+ Không có quy định cụ thể về phương án đầu tư khả thi được duyệt và tổ chức thực hiện;
+ Không có quy định giới hạn tổng giá trị đầu tư trong một ngày của Giám
đốc Sở Giao dịch; giới hạn tổng giá trị đầu tư trong một ngày của giao dịch viên;
- Có nhiều rủi ro trong hoạt động quản lý ngoại hối nhà nước, nhưng cuộc kiểm toán chưa đánh giá đẩy đủ rủi ro trong hoạt động kiểm toán, cụ thể như:
+ Rủi ro tín dụng khi bên đối tác trong giao dịch không có khả năng thực hiện cam kết;
+ Rủi ro thanh khoản khi không có đủ tài sản “lỏng” hoặc khi kỳ hạn của tài sản Có và tài sản Nợ không khớp nhau;
+ Rủi ro thị trường, bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro của các loại tiền tệ khi những thay đổi về tỷ giá hoặc về lãi suất ảnh hưởng tiêu cực tới danh mục và giá trị đầu tư của ngân hàng;
+ Những rủi ro khác có thể xảy ra trong hoạt động của NHNN do Ban lãnh
đạo, điều hành xa rời hoặc không nắm bắt được các chính sách kinh doanh và các quyết định quản lý không đúng đắn được đưa ra bởi các báo cáo không chính xác, thông tin không đầy đủ, nhân viên không có kỹ năng hoặc không được đào tạo
đầy đủ Hỏng hóc của hệ thống máy tính cũng có thể ngăn cản khả năng giám sát
và kiểm soát rủi ro thị trường của Ban lãnh đạo;
+ Rủi ro của hệ thống thanh toán NHNN có sử dụng mạng Hội viễn thông tài chính liên ngân hàng quốc tế (SWIFT) để chuyển tiền Đây là một hệ thống mạng thông tin điện tử được một số ngân hàng sử dụng để chuyển vốn sang các ngân hàng đại lý của mình Một số lượng tiền lớn chuyển qua hệ thống này dưới dạng gửi và nhận các giao dịch có giá trị Rủi ro chính liên quan đến SWIFT là sự mất mát tài chính, hoặc là do lỗi giao dịch (gửi số lượng tiền sai hoặc gửi đến tài
Trang 34khoản sai) hoặc là do lừa đảo (ví dụ: thông qua sự truy nhập không đúng, công tác kiểm soát tách biệt hoặc công tác bảo vệ không chặt chẽ) Những rủi ro khác
có liên quan bao gồm rủi ro mất mát tài chính thông qua việc giao chậm do lỗi của hệ thống hoặc do một thảm họa nào đó;
+ Ngoài các rủi ro trên đã nêu ra còn có các rủi ro tồn tại trong thực thể của đối tượng được kiểm toán đó là rủi ro trong hoạt động của NHNN Rủi ro từ
hệ thống phần mềm máy tính, tính hoàn thiện và bảo mật của hệ thống phần mềm
đã được bảo đảm không NHNN thường tham gia vào các giao dịch lớn, cả về số lượng và giá trị tiền (ngoại tệ và nội tệ) Từ đó đặt ra yêu cầu phải có một hệ thống kế toán tốt và tổ chức công tác kiểm soát nội bộ chặt chẽ, với đội ngũ cán
bộ tinh thông nghề nghiệp và chủ yếu sử dụng phương pháp xử lý dữ liệu trên mạng máy vi tính Về phương pháp xử lý dữ liệu trên mạng máy vi tính: Trước
đây, nói chung các nghiệp vụ đều có chứng từ gốc để minh chứng, và hầu hết các kết quả của quá trình xử lý đều được in ra Như vậy, đầu vào, đầu ra, cùng phần lớn quá trình xử lý là rõ ràng đối với người sử dụng và các KTV Với khối lượng dữ kiện ngày một lớn hơn và phức tạp hơn thì điều này không còn thực tế nữa Sự phát triển của hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, trên thực tế đã nâng cao rất nhiều năng lực kiểm soát của ngân hàng, và ngược lại, điều này đang làm nảy sinh nhiều loại rủi ro khác xuất phát từ lỗi của máy tính và gian lận máy tính gây nên
ở đầu vào, các nghiệp vụ kinh tế có thể được nhập trực tiếp vào máy tính thông qua thiết bị đầu cuối, những bút toán này có thể không dựa trên các chứng từ gốc Trong trường hợp này, dữ kiện nhập vào hệ thống không thể rõ ràng đối với kiểm toán viên Hầu hết các quá trình xử lý của Computer đều có tính nội bộ và đều không thể thấy được một cách trực tiếp, không có bằng chứng rõ rệt về sự thực thi Dấu vết nghiệp vụ là quá trình tập hợp các chứng từ gốc và sổ kế toán để đối chiếu ngược các bút toán với nguồn và ngược lại Vì thế, khi một hệ thống được
xử lý bằng máy tính, các chứng từ gốc có thể bị loại trừ và dữ kiện có thể được lưu trữ dưới dạng chỉ đọc được bằng máy Các báo cáo có thể được lập bằng máy tính mà không có dấu vết nghiệp vụ rõ ràng có liên quan đến nghiệp vụ cá biệt
2.6.2 Nguyên nhân của những hạn chế trong kiểm toán quản lý dự trữ ngoại
tệ của Nhà nước
Trang 35Hoạt động và tình hình quản lý Dự trữ ngoại tệ được coi là lĩnh vực tuyệt mật; nhiều năm liền chỉ có Lãnh đạo đoàn hoặc Tổ trưởng tổ Kiểm toán mới được nghiên cứu các quyết định và tài liều về hoạt động của Dự trữ ngoại tệ nhà nước
Đoàn kiểm toán không thực hiện kiểm toán việc xây dựng các chỉ tiêu tổng mức
và cơ cấu Dự trữ ngoại tệ của Nhà nước; từ đó chỉ ghi nhận số liệu về hoạt động
Dự trữ ngoại tệ nhà nước, ngoại trừ chỉ tiêu thu lãi từ hoạt đồng đầu tư và tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài; theo đó chỉ tiêu thu lãi từ hoạt đồng đầu tư và tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài cũng chưa chính xác Vì thế thời gian thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của NHNN trong đó kiểm toán Dự trữ ngoại tệ nhà nước rất ngắn, thường chỉ mười lăm ngày theo lịch
Quản lý Dự trữ ngoại tệ là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, nó quyết định
ổn định tiền tệ quốc gia; vì thế thông tin về quản lý dự trữ ngoại tệ trong và ngoài nước rất ít, hiếm có kiểm toán viên nghiên cứu và hiểu sâu về quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước
Từ năm 1999 đến năm 2003; năm năm liền Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của NHNN, trong đó có xác nhận số liệu và tình hình hoạt động quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước; tuy nhiên, Kiểm toán nhà nước vẫn chưa có Quy trình riêng và chuẩn mực cụ thể về kiểm toán Dự trữ ngoại tệ nhà nước
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, NHNN là đối tượng kiểm toán thường niên của Kiểm toán Nhà nước, tuy nhiên do quan điểm quan trọng hoá hoạt động kiểm toán quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước chỉ bố trí một vài kiểm toán viên chuyên kiểm hoạt động quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước Thậm chí, năm năm liền thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của NHNN, chỉ có Kiểm toán trưởng
và một vài kiểm toán viên được biết kế hoạch, tổ chức thực hiện kiểm toán và kết quả kiểm toán; Phó kiểm toán trưởng không được tham gia bất luận vấn đề nào trong cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính của NHNN
Nhận thức NHNN trong đó có hoạt động quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước
là đối tượng kiểm toán hàng năm, nhưng bước chuẩn bị kiểm toán chưa coi trọng; khi tiến hành kiểm toán Dự trữ ngoại tệ, lại bị vướng vào thời gian và khả năng chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm toán viên
Hàng năm hoạt động quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước luôn được Bộ Tài chính và Vụ Tổng kiểm soát NHNN thực hiện kiểm toán, tuy nhiên ; việc thẩm
định và sử dụng kết quả kiểm toán của các đoàn trên chưa theo hướng đánh giá
Trang 36các cuộc kiểm tra này còn những vấn đề gì chứa đựng rủi ro mà Đoàn kiểm toán nhà nước phải tiếp tục kiểm tra để đưa ra kết luận, kiến nghị độc lập khách quan
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và xác định rủi ro kiểm toán quản lý
dự trữ ngoại tệ nhà nước còn hạn chế, nhất là đánh giá tính đầy đủ hiệu lực trong
hệ thống văn bản quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước của NHNN
Các kiểm toán viên chưa xác định đầy đủ các rủi ro trong hoạt động kiểm toán quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước
hoạt động quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước, Kiểm toán viên lâu năm có chút ít kinh nghiệm, chưa tự rèn luyện phấn đấu liên tục để theo kịp những đổi mới của thị trường tiền tệ thế giới và tốc độ hiện đại hoá quản lý Dự trữ ngoại tệ nhà nước; Thiếu khả năng quản lý và hướng dẫn đối với lực lượng kiểm toán viên trẻ nên lực lượng kiểm toán vừa yếu vừa thiếu
Công tác đào tạo lực lượng Kiểm toán viên về kiểm toán hoạt động quản lý
Dự trữ ngoại tệ nhà nước chưa được chú trọng, thiếu giáo viên giảng dạy về quản
kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ
trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ của Nhà nước
2.1 Nguyên tắc, định hướng kết hợp kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ trong kiểm toán dự trữ ngoại tệ của Nhà nước do Kiểm toán Nhà nước thực hiện
2.1.1 Nguyên tắc của việc kết hợp kiểm
Để cuộc kiểm toán dự trữ ngoại hối nhà nước đạt kết quả tốt, đoàn kiểm toán phải tuân thủ các nguyên tắc:
Trang 37a/ Đánh giá đúng đắn, chính xác hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN trong quản lý hoạt động dự trữ ngoại hối của Nhà nuớc
Lịch sử phát triển của hệ thống tài chính đã chứng minh một thực tế rằng các ngân hàng luôn đối diện với các rủi ro Sự an toàn và lành mạnh trong hoạt
động của NHNN có ý nghĩa vô cùng quan trọng không những đối với bản thân của NHNN mà còn đối với cả hệ thống tài chính quốc gia Chính vì vậy, việc phải thiết lập chức năng phát hiện và phòng ngừa những rủi ro trong hoạt động của NHNN là nhu cầu cần thiết, quan trọng không chỉ của riêng NHNN mà của các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng giám sát ngân hàng như Bộ Tài chính, Thanh tra Nhà nước
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là một công việc không thể thiếu trong quy trình kiểm toán với bất kỳ hình thức nào dù là kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thu hay kiểm toán BCTC đều phải thực hiện Việc kiểm tra, xem xét và
đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ và KTNB của bất kỳ một đối tượng kiểm toán nào đều có tác dụng rất tích cực, cho phép các tổ chức kiểm toán bên ngoài khi thực hiện kiểm toán có thể đánh giá tính trọng yếu
và rủi ro kiểm toán Qua đó giảm bớt được rủi ro sau kiểm toán và nâng cao được chất lượng của cuộc kiểm toán Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN cần đuợc tiến hành ngay từ khâu khảo sát lập kế hoạch kiểm toán; tuy nhiên trong quá trình kiểm toán đoàn kiểm toán vẫn phải chỉ đạo tiếp tục đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, thu thập các bằng chứng để khẳng định cơ sở mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi, quy mô của cuộc kiểm toán Kết quả kiểm toán thể hiện việc đánh giá những trọng yếu rủi ro trong hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN
a.1/ Hệ thống kiểm soát nội bộ của NHNN
Cơ cấu hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) của NHNN có thể phân chia thành 2 nhóm cấu thành sau đây:
Thứ nhất, môi trường kiểm soát: là toàn bộ mô hình tổ chức, các chủ
trương, cơ chế chính sách, biện pháp và các quy định về các quy trình nghiệp vụ của NHNN, thường bao gồm: Luật NHNN; mô hình tổ chức và hoạt động NHNN; các cơ chế, chính sách, các quy định nghiệp vụ về tiền tệ, ngân hàng, tài chính, kế
Trang 38Thứ hai, hệ thống tổ chức và hoạt động KSNB của NHNN, gồm: Hệ thống
kiểm soát hoạt động nội bộ và kiểm toán nội bộ
- Về mục tiêu của việc xây dựng hệ thống kiểm soát hoạt động nội bộ NHNN: + Mục tiêu hoạt động: phải đạt được hiệu quả trong hoạt động
+ Mục tiêu thông tin: phải có được một hệ thống sổ sách, hồ sơ, báo cáo tài chính và báo cáo hoạt động đầy đủ, chính xác và kịp thời để cung cấp cho các cấp quản lý, điều hành, các bộ phận, cá nhân có liên quan trong NHNN
+ Mục tiêu tuân thủ: mọi nghiệp vụ và hoạt động trong hệ thống NHNN phải tuân thủ theo quy định trong các pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển và quy trình nghiệp vụ của nhà nước và các cấp lãnh đạo quản lý, điều hành của NHNN ban hành
- Về tiêu chí để xây dựng hệ thống kiểm soát hoạt động nội bộ của NHNN: + Ban lãnh đạo NHNN chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển và các chính sách lớn của ngành ngân hàng; chịu trách nhiệm nắm bắt những rủi ro chủ yếu của ngân hàng; thiết lập các giới hạn rủi ro; thiết lập và duy trì một cơ cấu tổ chức trong đó phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và mối quan hệ thông tin; quy định các chính sách kiểm soát phù hợp và thường xuyên giám sát hệ thống KSNB để đảm bảo tính đầy
đủ và hiệu quả
+ Thiết lập và duy trì một cơ chế nhằm tăng cường kỷ cương, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên nghiệp vụ đều phải tự kiểm soát và chịu sự kiểm soát của người khác
+ Một hệ thống KSNB phải có đủ khả năng để phát hiện kịp thời và đánh giá chính xác các rủi ro trọng yếu và rủi ro có thể phát sinh có thể gây ra tiêu cực tới kết quả hoạt động của NHNN
+ Các hoạt động kiểm soát là một bộ phận nội tại của các hoạt động ngân hàng Hệ thống này phải có cơ cấu phù hợp và phải phân định rõ các hoạt động kiểm soát tại các cấp trong hệ thống NHNN
Trang 39+ Hệ thống KSNB có hiệu quả, đòi hỏi có hệ thống thông tin về tài chính, cơ chế điều hành và tính tuân thủ phải đầy đủ, chính xác; thông tin về diễn biến
và điều kiện thị trường bên ngoài có liên quan đến hoạt động ngân hàng phải được cung cấp đầy đủ, kịp thời
a.2/ Hệ thống kiểm toán nội bộ của NHNN
Vai trò của bộ phận kiểm toán nội bộ (KTNB) của NHNN là:
+ Kiểm tra tính thống nhất của hệ thống kế toán trong việc lập các báo cáo chính xác và đáng tin cậy
+ Đánh giá sự phù hợp của công tác kiểm soát nội bộ
+ Kiểm tra sự tuân thủ các chính sách, quy trình và quy định của ngân hàng + Đánh giá hiệu suất, tính kinh tế, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực Việc đánh giá KTNB thường là một phần trong quá trình kiểm toán của
đoàn Nhà nước để tránh rủi ro kiểm toán và đảm bảo hiệu quả của hệ thống KTNB của NHNN
Để đánh giá chức năng kiểm toán bội bộ của NHNN, KTNN cần tập trung vào các lĩnh vực sau:
- Năng lực của những kiểm toán viên nội bộ
Nhân viên làm trong bộ phận KTNB cần có:
+ Bằng cấp về chuyên ngành ngân hàng, tài chính, và có kiến thức về kế toán ngân hàng
+ Kinh nghiệm về kiểm toán
+ Kỹ năng về kỹ thuật phù hợp với các trách nhiệm được giao
+ Khả năng giao tiếp bao gồm cả khả năng nói và viết
Kỹ năng về kỹ thuật có thể được thể hiện thông qua việc sử dụng các câu hỏi về kiểm soát nội bộ và các bảng câu hỏi khác nhằm mục đích thu thập thông tin, và các kỹ thuật khác như kiểm tra, theo dõi các hoạt động, và lập chương trình máy tính
Trang 40Các kiểm toán viên của KTNN cần đánh giá trình độ học vấn và kinh nghiệm mà một ngân hàng yêu cầu đối với các cán bộ kiểm toán của mình và chương trình đào tạo hiện tại KTNN cần phải được đánh giá các cán bộ làm công việc KTNB về hiểu rõ mục tiêu kiểm toán và các quy trình do cán bộ kiểm toán thực hiện KTNN cũng cần đánh giá sự đầy đủ của chương trình và báo cáo KTNB (chất lượng của kiểm toán) và của việc thông tin các kết quả kiểm toán lên Ban lãnh đạo
- Sự độc lập của những kiểm toán viên nội bộ
Để thực hiện chức năng kiểm toán có hiệu quả, các kiểm toán viên nội bộ cần phải được làm việc độc lập Thông thường, vị trí của kiểm toán viên trong hệ thống kiểm toán nội bộ và vị trí của những người được nhận báo cáo là phải biết
và thừa nhận sự độc lập của cán bộ kiểm toán Công tác KTNB cần được độc lập với ban điều hành dự trữ ngoại hối và phải được báo cáo trực tiếp lên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Các cán bộ kiểm toán nội bộ có đủ thẩm quyền cần thiết để thực hiện công việc của mình, bao gồm việc cung cấp các báo cáo và truy cập vào các thông tin cần thiết
- Sự đầy đủ của chương trình KTNB
Sự đầy đủ của chương trình kiểm toán nội bộ có thể được đánh giá từ: + Quy mô và tần số của công việc kiểm toán
+ Tài liệu về công việc đã được thực hiện
+ Nội dung của chương trình kiểm toán
+ Các kết luận đạt được và các báo cáo được ban hành
Quy mô của chương trình KTNB cần được xây dựng nội dung kiểm toán
đầy đủ để đạt được các mục tiêu kiểm toán Về tần suất hoạt động của kiểm toán nội bộ đòi hỏi phải thực hiện đồng thời với hoạt động quản lý dự trữ ngoại hối, nhằm kịp thời phát hiện những vấn đề bất cập và kịp thời chỉnh sửa đảm bảo an toàn cho dự trữ ngoại hối nhà nước