1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra các chuyên đề nghiên cứu

653 843 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra
Trường học Học Viện Khoa Học và Công Nghệ Miền Trung - https://www.hcm.vn
Chuyên ngành Khoa học Môi trường và Tài nguyên
Thể loại Chuyên đề nghiên cứu
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 653
Dung lượng 19,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quảng Nam là một tỉnh ven biển miền Trung, một trong những vùng kinh tế trọng điểm, có bờ biển dài 125 km thông ra biển qua 2 cửa là cửa Đại Thị xã Hội An và cửa An Hoà huyện Núi Thành v

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG

TẬP HỢP BÁO CÁO CÁC CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG

NHÓM CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 3

TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

CHUYÊN ĐỀ:

Tæng quan t×nh h×nh kinh tÕ - x∙ héi - m«I tr−êng

- v¨n ho¸ t¹i khu vùc NGHI£N CøU

Thực hiện trong khuôn khổ Đề tài

“Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường

phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra”

Hà Nội, 2008

Trang 4

I Mở đầu: 2

II Đặc điểm kinh tế - xã hội: 3

1 Vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên và hiện trạng phát triển 3

2 Diện tích tự nhiên và dân số 4

3 Giá trị văn hoá lịch sử 5

4 Tài nguyên thiên nhiên 5

III Điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam 8

1 Đặc điểm vùng bờ 8

2 Các kiểu địa hình của cụm đảo Cù Lao Chàm 9

3 Khí tượng thuỷ văn 12

VI Tài nguyên sinh vật biển: 19

1 Đa dạng hệ sinh thái (HST) 19

2 Nguồn lợi thuỷ sinh vùng ven biển Quảng Nam 21

3 Đa dạng sinh học đảo Cù Lao Chàm 27

V Kết luận và kiến nghị: 31

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 5

Quảng Nam là một tỉnh ven biển miền Trung, một trong những vùng kinh

tế trọng điểm, có bờ biển dài 125 km thông ra biển qua 2 cửa là cửa Đại (Thị xã Hội An) và cửa An Hoà (huyện Núi Thành) với ngư trường rộng hơn 40.000km2

và cụm đảo Cù Lao Chàm Tuy có diện tích tự nhiên nhỏ, nhưng có vị thế quan trọng và những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cụ thể như bờ biền dài với các bãi cát trắng, nước trong rất giá trị cho phát triền du lịch nghỉ dưỡng, đảo Cù Lao Chàm với giá trị cao về bảo tồn đa dạng sinh học, sinh cảnh và phát triển du lịch sinh thái v.v Đảo Cù Lao Chàm thuộc thị xã Hội An tỉnh Quảng Nam, nắm ở toạ độ địa lý 15057" N và 108031", cao tuyệt đối 517 m, dài nhất 6,6 km, rộng nhất 3,2 km, diện tích đảo 13,5 km và nằm cách bờ khoảng

15 hải lí Xung quanh đảo Cù Lao Chàm có 4 đảo nhỏ là Hòn la, Hòn Giai, Hòn

Mồ và Hòn Tài hợp lại thành quần đảo Cù Lao Chàm Nằm ở vùng thuộc đới cận xích đạo, thuộc loại mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô nhưng không quá lạnh là những điều kiện thuận lợi cho khu hệ động thực vật phát triển quanh năm Cù Lao Chàm có nhiều thắng cảnh đẹp, nhiều loài hải đặc sản có giá trị kinh tế, xuất khâu và phục vụ du lịch

Tuy nhiên, gần đây, ô nhiễm dầu tràn ảnh hưởng từ Hà Tĩnh đến Cà Mâu vả tại nhiều đảo như Cù lao Chàm, Côn Đảo Theo thống kê của Cục Môi trường (Bộ KHCN&MT), từ năm 1987 đến nay đã xảy ra hơn 90 vụ dầu tràn tại các vùng sông và biển ven bờ của nước ta, gây thiệt hại to lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu dài cho môi trường Khi xảy ra sự cố dầu tràn trên nước hoặc trên đất, khả năng triền khai ứng cứu nhanh có vai trò đặc biệt quan trọng để loại

bỏ hoàn toàn hay giảm thiều tối đa những hậu quả nghiêm trọng và lâu dài mà sự

cố dầu tràn có thể gây ra Chính vì vậy, nghiên cứu để khắc phục và phòng ngừa những tác động của sự cố tràn dầu gây ra sẽ bảo tồn và phát triển những giá trị của

hệ sinh thái các vùng biển tỉnh Quảng Nam

Trang 6

1 Vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên và hiện trạng phát triển

Quảng Nam được tái lập từ tháng 1 năm 1997, được tách ra từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng; phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp tỉnh Kontum

Tỉnh Quảng Nam có 17 đơn vị hành chính (gồm 15 huyện, thành phố Hội An

và thành phố Tam Kỳ) Diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Nam là 10.408,78 km2, dân số 1.454.324 người (thống kê năm 2004), chiếm khoảng 3,1% với diện tích tự nhiên và 1,8% dân số so với cả nước Tỉnh Quảng Nam có tài nguyên phong phú

và đa dạng Trong lòng đất có nhiều loại khoáng sản có giá trị: các mỏ kim loại, vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, than v.v Các mỏ nhiên liệu hoá thạch than đá, đặc biệt

có nguồn nguyên liệu phóng xạ Uranium, vật liệu xây dựng (cát, thuỷ tinh, pha lê

và các khoáng sản khác) Quảng Nam có thảm rừng tốt với nhiều loại gỗ quý, có đường bờ biển dài với nhiều bãi tắm sạch đẹp, có các di tích lịch sử văn hoá, các

di sản văn hoá thế giới - nguồn tài nguyên quý cho du lịch, có nguồn lao động dồi dào và các làng nghề truyền thống Tất cả những điều đó tạo cho Quảng Nam lợi thế trong phát triển

• Tình hình phát triển kinh tế - Xã hội tỉnh Quảng Nam

Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm 10,4% trong đó năm 2005 gần 12,5% ước đạt gấp 1,64 lần so với năm 2000 GDP bình quân đầu người của tỉnh Quảng Nam năm 2005 là 380 USD Trong cơ cấu kinh tế ngành nông, tâm, thuỷ sản chiếm gần 31%, ngành công nghiệp và xây dựng 34%, ngành dịch vụ 35%

Về nông nghiệp: Tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng bình quân năm gần 4,1%, đã chuyển đổi một số cây trồng, vật nuôi, mô hình sản xuất có hiệu quả, nhiều mô hình canh tác đạt giá trị 30-50 triệu đồng /ha/năm Các loại cây có giá trị kinh tế cao như quế, sâm Ngọc Linh, dược liệu v.v ngày càng được phát triển Tổng đàn gia súc ổn định và tăng trưởng đều hàng năm, bò lai suất chiếm trên 23% tổng đàn bò, tỉ trọng giá thành ngành chăn nuôi có xu hướng tăng (25,7% năm 1997 lên 30,5% năm 2006)

Về thuỷ sản: Năm 2005, sản lượng hải sản khai thác đạt 47.000 tấn tăng 19%

so với năm 2001 Tàu thuyền có công suất trên 90CV là 100 chiếc Về nuôi trồng năm 2005 đạt diện tích 7.30/ha, tăng 37% so với năm 2001, sản lượng thu hoạch là

Trang 7

2005 đạt 25 triệu USD, tăng bình quân trong năm là 41%

2 Diện tích tự nhiên và dân số

Vùng bờ Quảng Nam có diện tích đất tự nhiên 1.582,90km2, diện tích quần

đảo Cù Lao Chàm 233,5 km2 (không tính xã đảo Tân Hiệp), diện tích vùng biển

ven bờ 1490 km2 (tính ra độ sâu 30m) hoặc 1800 km2 (tính ra độ sâu 50m) Vùng

bờ có 98 xã/ phường/thị trấn, trong đó có 14 xã/ phường ven biển và 1 xã đảo

(thuộc cụm đảo Cù Lao Chàm), các xã/phường còn lại nằm trên vùng đồng bằng

và trung du của lưu vực các hệ thống sông Thu Bồn, Vu Gia và Tam Kỳ

Bảng 1 Thống kê diện tích, dân số trong vùng bờ tỉnh Quảng Nam

(Nguồn Báo cáo kết quả tổng hợp dự án năm 2006 của Viện Hải Dương Học Nha

Trang - Viện KH &CN VN)

(km 2 )

Dân số (người)

Số xã, phường

2 TX Hội An (kể cả xã đảo Tân Hiệp,

thuộc cụm đảo Cù Lao Chàm)

Dân số vùng bờ tỉnh Quảng Nam là 836.195 người, chiếm 57% dân số toàn

tỉnh, mật độ trung bình 528 người /km2 Điều này gây áp lực lớn đến tài nguyên

môi trường, đồng thời đòi hỏi nhiều nỗ lực trong việc gái quyết công ăn việc làm,

cải thiện sinh kế của cộng đồng

Trang 8

- Vùng bờ Quảng Nam với văn hoá cổ Chămpa giàu bản sắc, góp phần tạo nên nét văn hoá đặc sắc của miền Trung Nơi đây có những hoạt động văn hoá dân gian truyền thống như hát Tuồng, hát hò khoan, hát bài chòi, bả trao, hát lý đậm đà, Các lễ hội cồng chiêng, đâm trâu và đàn nước Xơ đăng, thu hút khách du lịch bốn phương Nơi có nhiều danh lam thắng cảnh, với những di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như những ngôi đền cổ kính của khu thánh địa Mỹ Sơn, kinh thành Trà Kiệu, tháp chàm Bằng An, Chiến Đàn, Khuông Mỹ với nết kiến trúc đặc sắc có một không hai của người Chăm Phố Cổ Hội An, một trong những đô thị cổ nhất của Đông Á, cho đến nay vẫn giữ được nguyên vẹn và đã được UNESCO công nhận là

di sản văn hoá thế giới

- Vùng bờ Quảng Nam còn là nơi ghi lại được nhiều chiến công anh hùng của nhân dân xứ Quảng với địa đạo Kỳ Anh, căn cứ Núi Thành, Chu Lai, chiến khu Hòn Tàu, Bồ Bồ, Cấm Dơi… những địa danh đã đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam, trở thành các điểm di tích lịch sử, thu hút khách du lịch và tạo nên giá trị quý giá cho vùng bờ

4 Tài nguyên thiên nhiên

- Đất vùng đồng bằng, gồm 3 kiểu là, đồng bằng xen gò, đồng bằng cao và đồng bằng thấp Tiềm năng chính của vùng này là lớp thổ nhưỡng màu mỡ thích hợp cho nhiều loại cây trồng nông nghiệp, là nơi cung cấp lượng thực, thực phẩm chủ yếu cho đối bờ Quảng Nam Một thách thức không nhỏ cho vùng này là hay bị úng ngập vào mùa mưa

- Đất ngập nước thường xuyên và theo mùa, có cả nước lợ và nước ngọt, vùng có diện tích 225,62km2, chiếm 13,88% tổng diện tích phần đất liền của đội

Trang 9

Trường Giang, hạ du sông Tam Kỳ và vũng An Hoà

- Đất vùng cồn cát và đất cát, gồm hai kiểu là cồn cát cũ và cồn cát mới, có diện tích tổng cộng 231,87 km2, chiếm 14,27% tổng diện tích phần đất liền của đới

bờ, độ cao thay đổi trong khoảng 8- 10m

- Đất vùng đô thị gồm 2 kiểu đô thị là thành phố và thị xã, có diện tích tổng cộng khoảng 54,65 km2, chiếm 3,36% tổng diện tích phần đất liền của đội bờ Tiềm năng chính của vùng là kinh tế, văn hoá, thương mại, dịch vụ, du lịch v.v

• Tài nguyên nước:

Vùng biển ven bờ với diện tích 1.800 km2 (tính độ sâu 50m nước vào bờ) Nơi đây có nhiều bãi biển thoải, sạch đẹp, chất lượng nước biển phần lớn diện tích còn tốt, rất phù hợp cho tổ chức du lịch biển Vùng nước biển ven bờ với ngư trường khai thác rộng trên 40.000km2, tạo ra tiềm năng nuôi trồng và đánh bắt hải sản cho khu vực này Vùng bờ Quảng Nam có các cửa sông lớn (cửa Đại và cửa

An Hoà) là nơi thuận tiện cho giao thông thuỷ, phát triển cảng và hạ tầng dịch vụ cảng, nơi trú đậu tàu thuyền v.v

Quảng Nam nằm trên hạ lưu của 9 con sông với tổng chiều dài sông trên 900

km2, diện tích lưu vực lớn (sông Vu Gia: 5500 km2, Thu Bồn 3350 km2, Tam Kỳ

800 km2 v.v Tài nguyên nước vùng này khá phong phú, cung cấp nước cho tưới tiêu, sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động khác

• Tài nguyên rừng:

Thảm thực vật ở vùng bờ Quảng Nam nói chung chịu sự chi phối chủ yếu bởi các yếu tố nhiệt và ẩm, địa hình, lớp phủ thổ nhưỡng, tác động nhân sinh Chúng có sự phân hoá theo hướng từ tây sang đông Về phía Tây, trên dải gò đồi núi thấp, chủ yếu là thảm thực vật cây lùm bụi thứ sinh lẫn ít cây gỗ tạp, xen với các khoảnh, đám rừng trồng Rừng phi lao phòng hộ được trồng nhau trên dải cồn cát sát biển

Tại vùng cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng của triều còn thảm thực vật ngập mặn: dừa nước (Nypa fructicans), bần trắng (Sonneratia alba), Mắm biển (Avicennia marina), mắm trắng (A alba), Đước đôi (Rhizophora apiculata), Giá (Excoecaria agallocha) v.v Hiện tại cây dừa nước phân bố rải rác với quy mô tua vài hecta đến vài chục hecta, chủ yếu ở Cẩm Thanh (Hội An) khoảng 20 ha, ở

Trang 10

ở Núi Thành Hội An, ước tính còn khoảng 90 ha RNM ở vùng bờ Quảng Nam Vùng bờ Quảng Nam cón có 15 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó cụm đảo Cù Lao Chàm có 560 ha, rừng nguyên sinh với nhiều loài quý hiếm

• Khoáng sản:

- Cát trắng: Được phân bố rộng khắp vùng, chiều dài tới 60 khi, chiều rộng

có nơi đến 3-5 khi Trữ lượng dự báo đạt được 300 triệu tấn, thị trường xuất khẩu Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore

- Khoáng sản titan - inmenit: phân bố ngay trên mặt dọc theo đối bờ biển suốt từ Điện Dương (huyện Điện Bàn) đến cửa Lở, Tam Hải (huyện Núi Thành),

có nơi chiều rộng dài quặng đạt 2-5km và nằm lẫn trong tầng cát trắng Trữ lượng quặng thuộc khu vực Cửa Đại, Duy Vinh và Duy Xuyên được xác định là 100.000 tấn, hiện có hai khu vực đang khai thác

- Than bùn tập trung ở một số khu vực như ở Bình Phục (huyện Thăng Bình), Tam Phú (Tam Kỳ) và Cẩm Hà (Hội An) Trữ lượng khảo sát vào khoảng 130.000m3

• Tài nguyên thuỷ sinh:

Tài nguyên thuỷ sinh ở vùng bờ Quảng Nam khá đa dạng về chủng loại, nhưng số lượng của phần lớn các chủng loại có khả năng khai thác hiện nay là không lớn Chúng đã và đang chịu sức ép lớn về khai thác, phần lớn nguồn lợi thuỷ sinh có giá trị kinh tế lớn hiện nay đang suy giảm nhanh về số lượng

- Sinh vật phù du có 174 loài thực vật phù du và 178 loài độ vật phù du, mật

độ của chúng ở mức thấp hơn so với mặt bằng chung của các tỉnh miền Trung Chúng là cơ sở thức ăn và nguồn giống thuỷ sản quan trọng trong các thuỷ vực

- Thảm cỏ biển với 7 loài, phân bố rải rác hầu hết khắp các vùng nước ven bờ (từ Cù Lao Chàm khoảng 500ha, hạ lưu sông Thu Bồn vài chục ha, đến vũng An Hoà (huyện Núi Thành) khoảng vài trăm ha Rạn san hô phân bố ở mũi Bàn Than (Núi Thành) và Cù Lao Chàm Riêng khu vực cụm đảo Cù Lao Chàm có trên 150ha rạn san hô có độ phủ cao (>35%), đã phát hiện 135 vài san hô Nguồn lợi hải sạn trên rạn cũng rất phong phú, với trên 200 loài cá rạn, 4 loạn tôm hùm, 84 loài nhuyễn thể v.v

Trang 11

thù của vùng bờ biển nhiệt đới, ngoài giá trị cung cấp thực phẩm có giá trị cao, chúng có vai trò quan trọng về mặt môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như phục hồi và gia tăng sản lượng thuỷ sản trong vùng bờ

Vùng bờ Quảng Nam hàng năm cung cấp trên 45.000 tấn thuỷ sản các loại Trong đó có hơn 30 loài cá có giá trị kinh tế (trong tổng số trên 500 loài); 5 loài mực có giá trị cao (trong số 20 loài); 6 loài tôm có giá trị cao (trong số 24 loại tôm),… trong số loại kể trên, nguồn lợi hải đặc sản chính tồn tại ở vùng biển này

là tôm hùm (Palinuridae), Cua Huỳnh Đế (Portunidae), cua bể (Xanthidae), Ốc Cửu Khổng (haliottdae), Ốc Đụn (Trochidae), Ốc Mặt trăng (Acmaeidae), Ốc Bàn tay (Strombidae), Ốc Sứ (Cypraeidae), Trai (Pinnidae), Cá Mú (Seranidae), Cá Hồng (Lutjanidae), Cá Ngựa (Hypocampus)…

Vùng bờ Quảng Nam còn có hàng nghìn ha mặt nước và bãi triều, có tiềm năng sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản, đó là các vùng nước cửa sông Trường Giang 5.000 ha, cửa An Hoà và Cửa Lở hơn 1.000 ha, vùng nước rộng lớn bao quanh các đảo và trong các vũng vịnh ven biển Cùng với hoạt động đánh bắt hải sản, nuôi trồng cũng là nguồn cung cấp tôm xuất khẩu quan trọng của tỉnh, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của vùng bờ, đặc biệt là đóng góp vào sự thay đổi sinh kế

III Điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam

1 Đặc điểm vùng bờ

• Khí hậu:

Khí hậu Quảng Nam có tính chất nhiệt đới gió mùa Vào mùa đông, do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc thường gây rét lạnh, nhiệt độ có lúc xuống đến 140C, thậm chí có đợt nhiệt độ trung bình ngày chỉ đạt 150C Vào mùa hè thường rất nóng, nhiệt độ cao nhất có thể lên trên 350C, nhiệt độ trung bình tháng tại Tam Kỳ dao động từ 20-300C Mưa chủ yếu xảy ra từ cuối tháng IX đến III năm sau Lượng mưa hàng năm của tỉnh Quảng Nam biến đổi từ 2.000 - 4.000 mm, vùng ven biển có lượng mưa trung bình từ 2.000-2.400 mm

Gió và bão thường hay có lũ lụt vào mùa mưa, đặc biệt vào những tháng có lượng mưa cao (từ tháng X đến XII) Hướng gió thịnh hành ở tỉnh Quảng Nam là gió mùa và bị địa hình chi phối Tốc độ gió trung bình các tháng ở vùng đồng bằng

Trang 12

ngập 1ụt Trong những năm gần đây đi kèm với bão thường có những trận lũ quét làm thiệt hại rất lớn về người và tài sản Những vùng thường hay bị lũ lụt nặng là

hạ lưu sông Thu Bồn, Vu Gia, Tam Kỳ, điển hình là thị xã Hội An và các khu vực ven sông ở hạ lưu sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ

• Thuỷ văn:

Nhiệt độ nước biển tại tầng mặt, giá trị trung bình cho vùng bờ là 26,10C Chênh lệch nhiệt độ giữa nước ven bờ và nước ngoài khơi là 2-30C Độ mặn nước biển trung bình là 28-30%o, cao nhất là 34%o vào thời kỳ mùa khô Tại các vùng cửa sông thấp nhất là 14%o vào mùa mưa lũ

Thuỷ triều ở các vùng bờ biển tỉnh Quảng Nam là bán nhật triều không đều Biên độ triều trung bình dao động từ 0,8-1,2m, lớn nhất là 1,5m Biên độ triều có

sự thay đổi rõ rệt theo một chu kỳ triều nhất định trong một tháng

Sóng gió vào mùa gió Đông bắc thường có độ cao <0,9m và đạt độ cao 0,3 - 0,5m vào mùa gió Đông nam Sóng lừng tương đối phù hợp với sóng gió và thường có độ cao từ 1,9 - 3,8 m

Dòng chảy chịu ảnh hưởng trực tiếp của dòng chảy Tây vịnh Bắc Bộ Vào mùa Đông, dòng có hướng từ phía Bắc xuống phía Nam với tốc độ có khi đạt tới 50-70cm/s Vào mùa hè có hướng ngược lại, với tốc độ có khi đạt tới 30-60cm/s

2 Các kiểu địa hình của cụm đảo Cù Lao Chàm

Theo kết quả nghiên cứu của Đề tài KC.09-12, nhóm tác giả nghiên cứu và lập bản đồ địa mạo tiến hành theo nguyên tắc nguồn gốc - lịch sử Các kết quả nghiên cứu được đã cho thấy, đảo Cù Lao Chàm có sự tồn tại của 21 dạng địa hình

có nguồn gốc và tuổi khác nhau được thể hiện trên bản đồ địa mạo (hình l)

• Địa hình do quá trình bóc mòn tổng hợp:

Quá trình bóc mòn tổng hợp có quy luật chung là sự giật lùi và thoái hoá của sườn, đồng thời tạo ra ở chân sườn một bề mặt nghiêng thoải tương ứng với mỗi gốc xâm thực cơ sở Sản phẩm của quá trình này là các bề mặt san bằng và bề mặt sườn với độ cao và độ dốc khác nhau Trong phạm vi Cù Lao Chàm và các hòn đảo nhỏ xung quanh phân bố các dạng địa hình bóc mòn sau:

- Nhóm các bề mặt san bằng

Trang 13

trung khá đầy đủ các yếu tố trên nên sườn đổ lở là nét đặc trưng quan trọng của

vùng này Các sườn đổ lở phân bố rộng rãi nhất ở phía sườn đông bắc của đảo, đó

là các sườn có độ dốc trên 350, nhiều nơi là những vách dốc đứng Lớp phủ thực

vật trên các sườn này thưa thớt, nhiều nơi lộ trơ đá gốc rắn chắc (hình 2.2.2)

- Sườn bóc mòn tổng hợp

• Địa hình dòng chảy:

Trên phạm vi đảo Cù Lao Chàm, nhóm địa hình nguồn gốc dòng chảy chủ

yếu là các dạng địa hình do dòng chảy tạm thời

Trang 14

• Địa hình nguồn gốc biển:

Các dạng địa hình do biển chiếm diện tích chủ yếu trên các khu vực của cung bờ lõm của đảo, gồm các thành tạo thềm biển và bãi biển thuộc các thế hệ khác nhau.Bề mặt bãi biển Holocen muộn là các bãi biển, một dạng địa hình đặc trưng và tại Cù Lao Chàm có nhiều nét độc đáo

• Địa hình nhân sinh

Địa hình nhân sinh thường gắn về vị trí không gian với những thành tạo tự nhiên xác định, song chính chúng lại là một trong ba nhân tố có tính quyết định tới

Trang 15

vụ quy hoạch lãnh thổ Trong phạm vi đảo Cù Lao Chàm, nhóm nguồn gốc này gồm các bề mặt tích tụ đo đào đất từ âu thuyền (hình 2.2.3), các công trình đường giao thông và các đập chắn nước xung quanh núi Hòn Biền

3 Khí tượng thuỷ văn

3.1 Các đặc trưng khí hậu

Vùng biển trung Trung Bộ trong đó có nhóm đảo Cù Lao Chàm thuộc á miền khí hậu phía n am, nhiệt đới gió mùa không có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt trong năm không quá 100C (6-7,60C), mùa mưa ở đây (từ tháng IX XII) đến muộn hơn hai tháng so với miền khí hậu phía bắc

Từ chuỗi số liệu quan trắc liên tục 18 năm tại các trạm khí tượng thuỷ văn đảo Lý Sơn (cách Cù Lao Chàm khoảng 60 tìm về phía đông nam, cách bờ biển Quảng Ngãi hơn 40 khô và Đà Nẵng, đã tiến hành tính toán các đặc trưng khí hậu của các yếu tố nhiệt và ẩm đại diện cho nền nhiệt và ẩm khu vực biển ven bờ trung Trung Bộ (bảng 2)

Bảng 2 Đặc trưng nhiệt ẩm trung bình các tháng trong năm tại trạm đảo Lý Sơn

Trang 16

khi ở vịnh Bắc Bộ giá trị này chỉ đạt 22-22,90C Nhiệt độ không khí trung bình các tháng XII, I và II thấp nhất và tháng VI, VII, VIII cao nhất trong năm, giá trị thấp nhất trung bình không dưới 21,70C (tháng I) và cao nhất trung bình không vượt quá 32,60C (tháng VII) bảng 2.2.1

Trên vùng biển nghiên cứu, số giờ nắng của phần lớn các tháng trong năm luôn lớn hơn 100 giờ, đi kèm là lượng mưa khá dồi dào 2360mm/năm, tập trung trong các tháng IX, X, XI và XII chiếm hơn 85% Cường độ mưa trong thời gian này khá lớn làm gia tăng sự xói mòn đất và sạt lở đất đá nghiêm trọng trên các sườn núi Trong phạm vi đảo Cù Lao Chàm có diện tích không lớn, lượng mưa tuy cao nhưng phân bố không đều trong năm dẫn đến tình trạng thừa nước vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô nóng Các tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng II (53 mm), tháng VI (70 mm) và tháng VII (61 mm) Thời gian từ tháng I đến tháng VIII ít mưa và khí hậu trên vùng nghiên cựu lúc này khá thuận lợi cho các hoạt động kinh tế du lịch Thực tế nguồn nước suối trên đảo Cù Lao Chàm có thể cung cấp đủ cho dân cư nếu biết cách quản lý tốt, trong đó có một số suối nước chính chảy quanh năm

Nước ngầm được tích luỹ dưới các lớp trầm tích cát sỏi ở độ sâu trên 30-40m tại các đứt gãy kiến tạo có thể dự đoán là phong phú, cả trên đảo Cù Lao Chàm và trên đảo Lý Sơn

Tốc độ gió trung bình tại Lý Sơn là 4,3 m/s Các tháng có tốc độ gió thấp là twf tháng V đến tháng IX (< 3,5 m/s) và các tháng có tốc độ gió lớn là X, XI, XII (>5m/s), là thời kỳ chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc (bảng 3) Tốc độ gió cực

đại ở vùng biển nghiên cứu có thể đạt tới 34 m/s Theo số liệu thốt 18 năm thì hầu

hết các tháng đều xuất hiện tốc độ gió lớn hơn 10 m/s, đặc biệt là các tháng mùa

gió đông bắc với tốc độ gió cực đại đạt trên 30 m/s Do đảo Cù Lao Chàm có địa

hình cao chắn hướng đông bắc và bắc là sườn vách dựng đứng nên đã hạn chế sự tác động của gió mùa đông bắc đến sự phát triển của thế giới sinh vật và các hoạt động kinh tế -xã hội của đảo tập trung ở sườn thoải phía nam và tây nam Gió mùa đông bắc ảnh hưởng đến vùng nghiên cứu từ tháng X đến tháng II năm sau Rõ ràng vùng nghiên cứu có chế độ khí hậu khác với chế độ khí hậu của Đà Nẵng được che chắn bới dãy Bạch Mã

Trang 17

khá ôn hoà Như chúng ta đã biết, biển được xem như cỗ máy điều hoà chế độ

nhiệt Biển tích luỹ nhiệt vào ban ngày và mùa hè, toả nhiệt vào ban đêm và mùa đông Do đó chúng ta luôn cảm thấy dễ chịu khi đến với biển, đặc biệt với các đảo

Theo số liệu nhiệt độ quan trắc trong nhiều năm cho thấy: nhiệt độ tối cao trên biển bao giờ cũng thấp hơn trên đất liền 1 -40C và nhiệt độ tối thấp lại luôn cao hơn trên đất liền 1-40C, tốc độ gió trên biển luôn luôn lớn hơn trên đất liền và hầu

như không có thời kỳ lặng gió

Xứ nhiệt đới thường xuất hiện các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông,

áp thấp nhiệt đới và bão Dông thường xảy ra vào tháng 9 với tần suất 8 - 15 ngày

trong tháng So với các khu vực ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, ở khu vực Đà

Nẵng - Quảng Ngãi tần suất xuất hiện bão thường ít hơn và muộn hơn Ở đây bão xuất hiện vào tháng X, tháng XI với tần suất 3 năm mới có một cơn bão, nhưng lũ

lụt lại xảy ra thường năm

Từ những kết quả nghiên cứu chế độ khí hậu được trình bày trên đây có thể

cho phép rút ra kết luận là: Khí hậu vùng biển Cù Lao Chàm - Lý Sơn Hội An -

Đà Nẵng quanh năm ấm áp, không quá khô và không quá ẩm, thích nghi với cơ

thể con người và sự phát triển của thảm thực vật

Trang 18

• Đặc điểm nhiệt muối lớp nước mặt vùng nước xung quanh đảo:

Theo các số liệu của 2 đợt khảo sát tại nó nước xung quanh đảo Cù Lao Chàm do đề tài thực hiện (tháng 5 năm 2002 và tháng 3 năm 2003) thấy rằng các yếu tố thuỷ văn, thuỷ hoá khu vực này chủ yếu mang tính biển khơi Điều này thể hiện đặc biệt rõ đối với trị số pa, luôn đạt giá trị trên 8,0, đa phần biến đổi trong khoảng hẹp 8,15 đến 8,4 và khá ổn định, thể hiện tính chất kiềm yếu của nước biển Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của thuỷ sinh vật xung quanh Cù Lao Chàm trong điều kiện trung bình khí hậu, ngay cả trong mùa mưa

Mặc dù các đợt khảo sát thực hiện trong mùa chuyển tiếp từ đông sang hè, song nhiệt độ lớp nước mặt vùng nước xung quanh Cù Lao Chàm thường không thấp dưới 250C, ba phần trên 260C và tương đối ổn định, chênh lệch nhiệt độ giữa các khu vực chỉ trong khoảng trên dưới 10C Tính biển khơi cũng thể hiện khá rõ đối với độ muối, với giá trị biến đổi trong khoảng 32-34%o, trung bình 33,5%o

• Dao động mực nước và thủy triều:

Đặc trung nhiều năm của mực nước ven biển Quảng Nam - Quảng Ngãi được xác định theo số liệu quan trắc của trạm Sơn Trà (108013'E; 16006'N) đại diện cho vùng biển nghiên cứu Bảng 3’ thể hiện các đặc trưng trung bình tháng, trung bình năm, trung bình cao nhất, trung bình thấp nhất, các giá trị cao nhất tuyệt đối và thấp nhất tuyệt đối của mực nước tại trạm Sơn Trà

Bảng 3’ Các đặc trưng mực nước (cm) trạm Sơn Trà so với mực "0"

Trang 19

chất dao động mùa khá rõ Từ tháng IX đến tháng I năm sau, mực nước trung bình

tháng luôn cao hơn giá trị trung bình năm (>92cm), đạt cao nhất vào tháng X,

tháng XI (=120cm) Ngược lại từ tháng II đến đầu tháng IX, mực nước trung bình

tháng luôn thấp hơn giá trị trung bình năm, thấp nhất 77cm vào tháng VII Như

vậy biên độ chênh lệch mực nước trung bình trong dao động mùa đạt 42cm Hình

3.7 thể hiện biến đổi mực nước thực đo từng giờ tại đảo Cù Lao Chàm trong thời

gian từ 18h00 ngày 26-4- 2002 đến 6h00 ngày 1 -5-2002, giá trị mực nước thể

hiện bằng mét so với "0" hải đồ

Thủy triều ven biển Quảng Nam - Quảng Ngãi là kết quả của quá trình lan

truyền sóng triều từ ngoài khơi, phụ thuộc vào địa hình đáy và hình thế đường bờ

Vùng biển này có địa hình đáy biển thay đổi không phức tạp lắm, các đường đẳng

sâu hầu như song song với đường bờ và dải nước nông khá hẹp Tính chất thủy

triều ở đây được đánh giá theo chỉ tiêu D uvanhin hoặc chỉ tiêu phân loại triều của

CEM 2001 - EM 1110-2-1100 Đặc tính chung của thủy triều tại khu vực nghiên

cứu là bán nhật triều không đều Theo tài liệu thống kê nhiều năm, độ lệch trung

bình thấp nhất đã được xác đinh là 114cm Bảng 4 dưới đây đưa ra kết quả tính

các hằng số điều hoà của các sóng chính tại trạm Sơn Trà

Bảng 4 Giá trị biên độ và góc vị đặc trưng các phân triều trạm Sơn Trà

Để đánh giá chế độ sóng của khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã xem xét một

số đặc trưng chủ yếu của chế độ sóng khu vực ngoài khơi của vùng biển, đó là tần

suất sóng theo độ cao và hướng, giá trị cực đại của sóng theo các chu kỳ lặp khác

nhau

Phân bố sóng theo độ cao và hướng tại khu vực ngoài khơi vùng biển Quảng

Trang 20

điển hình cho 2 mùa Như vậy, chế độ sóng của khu vực này mang đặc tính của loại sóng gió chiếm ưu thế Sóng hướng đông -bắc thịnh hành từ tháng X đến tháng IV năm sau, hoàn toàn ổn định và chiếm gần 75% tổng số quan trắc trong tháng XII Về cuối mùa đông, tần suất hướng sóng đông bắc giảm và chuyển dần sang hướng đông Trong các tháng mùa hè, từ tháng VI đến tháng VIII, sóng hướng tây -nam chiếm ưu thế, đạt 61% vào tháng VII và ổn định hơn so với tần suất gió tây -nam Vào cuối mùa, sóng chuyển dần sang hướng nam Sóng lớn có

độ cao từ 6m trở lên có thể xuất hiện trong 3 tháng XI, XII và I trong đó tháng XII thường quan trắc thấy sóng cao nhất trong năm

Như vậy, tuỳ thuộc vào thời gian, vị trí, địa hình và hình thế đường bờ khu vực, dòng chảy sẽ mang đặc tính hỗn hợp hoặc đặc tính của một loại dòng chảy đã nêu, phân bố dòng chảy tổng hợp (hướng và tốc độ) theo không gian sẽ rất phức tạp Vì vậy, nếu chỉ dựa vào các số liệu thực đo tại các trạm quan trắc hải văn phân tán trong không gian và rời rạc trong các khoảng thời gian, chúng ta không thể có được những thông tin đầy đủ về chế độ thủy động lực của khu vực nghiên cứu Cách tốt nhất trong trường hợp này là sử dụng phương pháp mô hình toán Mục tiếp sau đây là những kết quả nghiên cứu của đề tài KC.09-12 theo hướng này

Trang 21

Chế độ thuỷ động lực vùng biển cụm đảo Cù Lao Chàm liên quan chặt chẽ với các trường khí tượng trên biển khu vực trung Trung Bộ - Quảng Nam -Đà Nẵng - Quảng Ngãi, trong đó chế độ dòng chảy, dao động mực nước là cơ sở khoa học cho việc xác định các chỉ tiêu công nghệ phục vụ xây dựng các công trình ven biển và ven đảo

Các nhà khoa học thuộc đề tài KC -09- 12 đã giải một bài toán và các kết quả tính toán được có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

- Dòng chảy trong khu vực nghiên cứu là kết quả tổng hợp của ba loại dòng triều, dòng chảy gió và dòng chảy mật độ do tồn tại sự biến động của mực nước, tác động của gió trên bề mặt và hiện tượng biến động mật độ nước do thay đổi độ muối khi nước ngọt từ hệ thống sông Thu Bồn đổ vào khu vực

- Chế độ hoàn lưu vùng nghiên cứu mang tính chất mùa rõ rệt, đó là hoàn lưu mùa gió đông bắc và hoàn lưu mùa gió tây nam

Trong tháng VII đại diện cho mùa khô dòng chảy lớp nước mặt đạt tới giá trị 0,12 m/s, hướng bắc -tây bắc dọc bờ là chủ đạo Ở ngoài khơi dòng chảy có cùng hướng từ mặt tới đáy trong khi ở vùng nước gần bờ từ An Hoà tới Cửa Đại và từ Cửa Đại tới Sơn Trà dòng chảy tầng đáy có hướng áp bờ Các xoáy nhỏ thường xuất hiện ở các khu vực có địa hình phức tạp như cụm đảo Cù Lao Chàm, mũi đất nhô Sơn Trà, An Hoà Phân bố độ muối thể hiện trên các hình này cho thấy khối nước sông với độ muối thấp tập trung ở tầng mặt Tại khu vực cửa sông, lưỡi nước nhạt tầng mặt có bán kính khoảng 14km phát triển theo hướng bắc, ở tầng đáy nó phát triển đều sang cả hai phía cửa Cửa Đại và ép vào sát bờ Dòng thăng và dòng giáng xuất hiện rõ nét tại fron nước ngọt trước cửa sông, chúng còn xuất hiện ở các khu vực địa hình đáy phức tạp tập trung xung quanh cụm đảo Cù Lao Chàm

Rõ ràng khu vực biển xung quanh cụm đảo Cù Lao Chàm hầu như không chịu ảnh hưởng của nước lục địa trong mùa khô

Trong tháng XII đại diện cho mùa mưa, dòng chảy lớp nước mặt đạt tới giá trị 0,21 m/s, hướng nam - đông nam, xu thế ngược chiều v ới hoàn lưu mùa khô Trong vùng ảnh hưởng của fron nước ngọt trước của sông, dòng chảy tại bề mặt

có vận tốc lớn đạt giá trị 0,33m/s Các xoáy nhỏ xuất hiện ở các khu vực có địa hình phức tạp như cụm đảo Cù Lao Chàm, mũi đất nhô như Sơn Trà và ở các sườn

Trang 22

với độ muối thấp khi đổ ra biển tập trung ở tầng nước mặt, lưỡi nước nhạt ở vùng cửa sông phát triển với bán kính vào khoảng 1 sum nhưng kéo dài về hướng nam khoảng 25km Tại tầng giữa và tầng đáy lưỡi nước này phát triển kéo dài về phía nam Cửa Đại và chỉ tập trung ở vùng sát bờ Như vậy dòng nước từ lục địa đổ ra biển trong mùa mưa có xu thế vận chuyển xuống phía nam, không tác động trực tiếp đến khu vực biển xung quanh cụm đảo Cù Lao Chàm

Kết quả tính dòng thẳng đứng trong hai mùa được thể hiện, trên hình 3.15 cho thấy trong miền nghiên cứu tồn tại khu vực nước chìm trước fron nước ngọt cửa sông Thu Bồn trong cả hai mùa và khu vực nước trồi tập trung quanh khu vực đảo Cù Lao Chàm, nguyên nhân chính do ảnh hưởng của địa hình đáy Khu vực nước trồi thường tồn tại ở phía sau sườn đón gió của các đảo, vận tốc dòng thăng cực đại đạt 3.10-5 m/s Vào mùa gió đông bắc, vận tốc dòng giáng cực đại đạt 2.10-5m/s tại tầng mặt khu vực Cửa Đại Trên chế độ chung của vùng biển nghiên cứu, trường dòng chảy và nhiệt muối khu vực biển Cù Lao Chàm chịu tác động mạnh của địa hình đáy và các mũi nhô xung quanh đảo Bởi vậy, trên lộ trình giao thông,

du lịch và các hoạt động kinh tế phải có các phao tiêu chỉ dẫn nhằm đảm bảo an toàn cho du khách

III Tài nguyên sinh vật biển

1 Đa dạng hệ sinh thái (HST)

Các chuyến khảo sát bằng tàu Nesmeyanov do Viện Địa Lí Thái Bình Dương Viễn Đông Nga tiến hành vào những năm 1987, 1989 đã tiến hành khảo sát các điều kiện tự nhiên, động lực, địa chất, thực vật trên cạn, cá biển nhưng lại không chú ý đến các nguồn lợi động vật ven đảo Trong chương trình hợp tác với tổ chức WWF (1994), Võ Sĩ Tuấn và cộng sự đã có những đóng góp đáng kể vào việc đánh giá tiềm năng bảo tồn ở khu vực này

Nhằm đánh giá một cách đầy đủ nhất về tiềm năng nguồn lợi đặc hải sản của khu vực đảo Cù Lao Chàm, Đề tài nhánh KC 09-12-01, do Viện Tài nguyên và Môi trường Biển thực hiện đã tiến hành khảo sát toàn diện về các loài đặc sản ở độ sâu 20 m nước đến sát bờ các đảo vào năm 2002 Kết quả khảo sát đã đánh giá

Trang 23

Gần đây nhất, một dự án "Áp dụng bước 3, 4, 5 mô hình quản lý tổng hợp đối bờ cho tỉnh Quảng Nam" do Cục BVMT chủ trì và tập thể các nhà khoa học của Viện Hải dương Học Nha Trang (thuộc Viện KH &CN Việt Nam) thực hiện năm 2006 đã nghiên cứu kiểm kê, đánh giá lại toàn bộ nguồn lợi tài nguyên sinh vật của vùng đồi bờ tỉnh Quảng Nam Chúng tôi xin được tập hợp và trích dẫn trong phần báo cáo này

Vùng biển ven bờ và các đảo có phần đảo nổi và phần đất ngập nước rộng lớn bao quanh chân đảo từ vùng triều dấn vùng dưới triều Phần đảo nổi có thảm thực vật rừng che phủ còn phần đất ngập nước bao gồm một tổ hợp các hệ sinh thái (HST) khác nhau

- Hệ sinh thái rừng nhiệt đới: Rừng thường xanh che phủ từ 98% đến 100%

diện tích đảo nổi của hầu hết các đảo trong khu vực Cấu trúc của các âm xã động vật, thực vật trong rừng với số lượng loài phong phú khoảng gần 265 loài thực vật thuộc 85 họ đã được phát hiện vào những năm 90 Rừng thường phân tầng, tầng thấp nhất là các trảng cỏ tiếp theo là cây bụi, tầng cao nhất là các cây thân gỗ

- HST rừng ngập mặn (RNM): Thường kém phát triển quần xã TVNM chỉ

là các cây bụi như Sơn Cúc, Cói, Vòi voi, dây Tơ Xanh, rau muống Biến, Hải Tiến, sài Hồ.v.v

- Hệ sinh thái vùng triều: Bao quanh các đảo với diện tích rất khác nhau,

chia thành hai tiểu hệ - hệ sinh thái bãi triều đá và hệ sinh thái bãi cát

- Bãi triều đá: Hình thành trên các bãi đá với kích thước tảng 1000 - 2000

mm và lớn hơn, xen kẽ giữa các bãi tảng là các bãi cuội -sỏi-sạn (Md = 1 -1000 mm) phân bố chủ yếu ở trong các cung lõm hoặc trong các máng trũng sâu Các bãi triều đá phân bố ở phía đông bắc đảo Cù Lao Chàm và ở hầu hết xung quanh các đảo nhỏ còn lại, là nơi phân bố của của hệ sinh vật vùng triều rạn đáy Đáng chú ý những loài đặc sản quí hiếm như ốc vú nàng, vú sao, ốc nhảy, ốc mắt, ốc hương… đều phân bố chủ yếu ở các bãi đá kiểu này ở nơi hướng sóng

- Bãi triều cát: Chất đáy chủ yếu là cát nhỏ, cát trung, phân bố chủ yếu ở các

cung lõm của đảo Cù Lao Chàm Bãi triều có loại chất đáy này rất phù hợp cho sự phân bố của quần xã đáy mềm Có thể tìm thấy các loài thuộc họ cua bơi

(Portunidae), họ tôm he (Peneidae), tôm gõ mõ (Alpheidae) hoặc các loài vùng

Trang 24

hến (Peryglipta puerpera) v.v

- Hệ sinh thái rạn san hô: Rạn san hô là một dạng đặc thù của vùng biển

nhiệt đới và cũng rất điển hình ở các đảo vùng Cù Lao Chàm Hầu hết các đảo đều

có các rạn san hô phân bố Theo kết quả nghiên cứu của Võ Sĩ Tuấn thì ở hầu hết các đảo đều có rạn san hô phân bố Một trong những đặc điểm nổi bật ở khu vực này tỷ lệ giũa san hô cứng và san hô mềm không chênh lệch nhau quá nhiều (San

hô cứng chiếm từ 17,3% - 24,9%, san hô mềm từ 13,5 - 20,7%)

Sinh vật sống kèm theo vùng rạn khá phong phú bao gồm đại diện của các nhóm rong biển, trai, ốc, cầu gai và hải sâm Đáng chú ý hầu hết các loài động vật vùng rạn đều là các đối tượng kinh tế chủ yếu của vùng đảo như tôm hùm cầu gai gai ngắn, hải sâm đen, hải sâm trắng, ốc nón, trai tai tượng, bàn mai, trai ngọc.v.v

- Hệ sinh thái cỏ biển: Thảm cỏ biển với 7 loài, phân bố rải rác hầu khắp

vùng nước ven bờ (từ Cù Lao Chàm khoảng 50ha, hạ lưu sông Thu Bồn vài chục

ha đến vũng An Hoà - huyện Núi Thành khoảng vài trăm ha, có thể đến 1000ha) Các thảm cỏ biển bao phủ hầu hết các vùng nước nông, các cồn, gò, từ mực triều thấp đến sâu 1 -2m, ngoại trừ các lạch sâu ở vũng An Hoà Tại đây có 3 loài cỏ biển ưu thế đã được tìm thấy là cỏ Hẹ 3 răng, cỏ Lươn Nhật Bản và cỏ Xoan tròn Trong thảm cỏ biển thường gặp Hải sâm và Bàn mai

Hệ sinh thái cỏ biển và rạn san hô là một trong những hệ sinh thái đặc thù của vùng bờ biển nhiệt đới và của tỉnh Quảng Nam, ngoài giá trị cung cấp thực phẩm có giá trị cao, chúng có vai trò quan trọng về mặt môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như phục hồi và gia tăng sản lượn thuỷ sản trong vùng

bờ

2 Nguồn lợi thuỷ sinh vùng ven biển Quảng Nam

2.1 Nguồn lợi thuỷ sinh có giá trị sinh thái (Đa dạng loài)

Đây là các nhóm thuỷ sinh vật có giá trị sinh thái cơ bản trong các thuỷ vực

hệ sinh thái ven biển (như chúng là cơ sở thức ăn, đảm bảo sự cân bằng trong chu trình dinh dưỡng thuỷ vực)

• Thực vật phù du:

Xác định được 174 loài thuộc 52 chi, 25 họ, 5 ngành, trong đó tảo khuê có 40

Trang 25

7 triệu tế bào/m3, trong đó tảo silíc chiếm 68,3%

• Động vật phu du (ĐVPD):

Xác định được 178 loài ĐVPD, thuộc 14 nhóm chủ yếu ở vùng nước ven bờ biển tỉnh Quảng Nam Trong số đó, nhóm Chân Mái chèo (Cơpepoda) 94 loài, Thuỷ mẫu (Hydromedusae) 15 loài, Chân cánh và Chân khác (Heteropoda/pteropoda) 14 loài, Thuỷ mẫu ống (Siphonophora) 12 loài, Có bao

(Tunicata) 11 loài, Hàm Tơ (Chaetognatha) 9 loài, Đa số là các loài sống ở vùng

ven biển nhiệt đới, có kích thước cá thể nhỏ, các loài thuộc nhóm sống ở nước mặn và nước lợ khá phổ biến

Mật độ và khối lượng trung bình của ĐVPD là 92-2423 cá thể /m3 và 10,7 - 63,3 g/m3 (tương ứng với mọi lưới có kích cỡ 15 và 38) Trong đó Chân mái chèo 34- 1516 cá thể /m3, Hàm tơ 12- 112 cá thể /m3, ĐVPD thường phân bố tập trung ở khu vực xáo trộn giữa các khối nước - đó là khu vực cửa sông, cửa vũng Vịnh

Nếu so sánh với một số vùng ven biển nước ta, chúng tôi nhận thấy sinh vật lượng của ĐVPD được sử dụng làm cơ sở thức ăn cho thuỷ vực thuộc loại nghèo dinh dưỡng

• Động vật đáy (ĐVĐ):

Xác định 186 loài ĐVĐ (benthos) thuộc 125 giống và 95 họ trên toàn bộ vùng nước ven bờ biển tỉnh Quảng Nam Bao gồm giun nhiều tơ có trên 100 loài, Giáp xác 44 loài, Thân mềm 32 loài và Da gai 15 loài Trong số đó, chỉ có 3 loài thuộc họ tôm He (Penaeidae) là có giá trị thực phẩm đối với con người, còn lại phần lớn các loài là có giá trị làm thức ăn cho các động vật khác hoặc có giá trị sinh thái

Mật độ trung bình của ĐVĐ là 304 cá thể /m2, trong đó Giun nhiều tơ là 181

cá thể /m2, Giáp xác 95 cá thể /m2, Thân mềm Da gai là 7 cá thể /m2

Khối lượng trung bình của ĐVĐ là 2,9g/m2 Các vị trí có sinh vật lượng cao

là vùng An Hoà 16,4g/m2, bãi Rạng - 5,4g/m2, ngoài Cửa Đại - 4,8g/m2

• Rạn san hô:

Phát triển mạnh ở khu vực rạn Bàn Than - Mũi An Hoà (xã Tam Hải, huyện

Trang 26

225 loài cá rạn san hô và 2 loài Tôm Hùm, ngoài ra còn có các loài nhuyễn thể như ốc Bồng, ốc Đụn, ốc Cối v.v

Rạn san hô ở Cù Lao Chàm là khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao, độ phủ san hô phát triển tốt với 135 loài san hô thuộc 35 giống, trong đó có 6 loài đầu tiên ghi nhận ở Việt Nam Nguồn lợi rạn cũng rất phong phú với 202 loài cá rạn (thuộc 85 giống, 36 họ) và 4 loài tôm hùm, ngoài ra còn có 84 loài nhuyễn thể v.v

2.2 Nguồn lợi thuỷ sinh có giá trị thực phẩm

Dựa vào tổng quan các dữ liệu trước đây và dữ liệu đánh giá nhanh về nguồn lợi thuỷ sản ở các bến cá/ chợ cá trong năm 2006, chúng tôi đưa ra các nhận xét bổ sung về nguồn lợi thuỷ sinh như sau

• Rong biển:

Rong biển ở đội ven bờ Quảng Nam có đến 106 loài, 33 họ thuộc 4 ngành

rong (Cyanophyta, Chlorophyta, Phaeophyta, Rhodophyta) Tuy nhiên, số loài có

sinh khối lớn và có giá trị kinh tế không nhiều Phần lớn chúng phân bố ở các đầm phá vũng vịnh ven biển Hiện tại, tổng sản lượng khai thác tự nhiên của rong biển

là 50.000 - 100.000 tấn tươi thắm

- Rong câu chỉ vàng (Gracillarta vorrucose): phân bố nhiều nhất ở Cửa Đại,

Vũng An Hoà Sinh lượng bình quân 100-200 g/m2 Hàng năm ngư dân có thể khai thác tự nhiên 100-200 tấn tươi /năm Sinh trưởng cao nhất vào tháng 5, có thể đạt sản lượng nuôi 5kg/m2

- Rong bún (Enteromorphyta): Loại này phát triển quanh năm, dễ khai thác,

phân bố rộng khắp các đầm phá ven biển, sinh lượng bình quân đạt 300 - 500 g /m2, có thể khai thác tự nhiên 300-500 tấn tươi /năm Thường dùng làm thức ăn chăn nuôi và thức ăn nuôi cá rất tốt

- Rong Hệ (Diplanthera uninenves) và cỏ Hệ (Valisnerla gigantica): phân bố

trên diện tích đến vài trăm ha trong các vũng, vịnh, cửa sông, sinh lượng bình quân 400 - 800 g/m2, sản lượng tự nhiên đạt vài chục ngàn tấn /năm

• Động vật giáp xác

- Tôm các loại: Kết quả của các chuyến khảo sát năm 2006 của Viện hải

Trang 27

đội ven bờ tỉnh Quảng Nam Trong đó, có khoảng 7-8 loài có giá trị kinh tế và số lượng tương đối nhiều

+ Tôm sú, rảo đất, Bạc thẻ, Rằn, Rảo đầm, tôm đồng,… là các đối tượng có

sản lượng khai thác tự nhiên tương đối lớn Ngư trường khai thác chủ yếu trong đời ven bờ là các vụng, vịnh, ven biển - cửa sông

Sản lượng khai thác tự nhiên không tính sản lượng nuôi tôm của các loại tôm được ước tính khoảng 300 tấn /năm Trong số đó sản lượng khai thác nhóm tôm biển (chủ yếu họ tôm He) chỉ chiếm khoảng 200 tấn /năm

+ Các loài tôm hùm: Đây là nhóm tôm sống ở vùng biển có độ mặn cao,

nước trong và sinh sản ngoài khơi ấu trùng của chúng thường trôi nổi và trải qua giai đoạn sống ở vùng nước ven bờ (độ mặn thường lớn hơn 30%o)

Khảo sát ở đội ven bờ tỉnh Quảng Nam cho thấy mật độ ấu trùng tôm Hùm khá phong phú, nhưng mật độ tôm Hùm lớn và có kích thước thương phẩm hầu như đã bị khai thác cạn kiệt

+ Về nguồn lợi tôm biển sâu - tiềm năng lớn, nhưng không dễ dàng khai thác

Như chúng tôi đã trình bày ở những phần trên về nguồn lợi tôm sú bố mẹ, tôm Hùm thành thục và một số loại tôm khác (như tôm Tít, Vố, Mũ v.v.) tồn tại trong vùng nước sâu hơn 50 m Hiện tại chúng ta chưa có nhiều thông tin về nguồn lợi của chúng, nhưng cho dù tiềm năng nguồn lợi này là lớn và có giá trị kinh tế cao thì việc khai thác, sử dụng chúng vẫn là một thách thức lớn và không dễ dàng đối với Quảng Nam

- Ghẹ và Cua: Xác định được 4 loài ghẹ và 6 loài cua đang là đối tượng khai thác ở đội ven biển tỉnh Quảng Nam Ghẹ Cát phân bố rộng khắp, những sản lượng đánh bắt cao ở trong vùng cửa sông, vũng vịnh

Cua xanh (Scylla senata) là đối tượng có giá trị kinh tế cao được nuôi khá phổ biến trong các ao nuôi mặn lợ, phân bố rộng khắp vùng ven biên, nhất là vùng bãi triều có RNM Giai đoạn ấu trùng và trưởng thành thường sống ở vùng nước mặn lợ, nhưng đến giai đoạn thành thục sinh dục và sinh sản chúng thường di chuyển ra vùng nước mặn ven biển (độ mặn >30ppt)

Sản lượng khai thác tự nhiên ghẹ và cua các loại tương đối lớn, đứng hàng thứ 3 trong số các loài thuỷ hải sản khai thác tự nhiên trong đời ven bờ (sau cá và

Trang 28

• Động vật thân mềm (ĐVTM):

Xác định trên 30 loài ĐVTM (gồm nhóm Chân bụng, hai mảnh vỏ và Chân đầu) có giá trị kinh tế và là nhóm đối tượng khai thác chủ yếu trong vì năm gần đây ở đội ven bờ tỉnh Quảng Nam (xem bảng 8) Trong số đó, phần lớn các loài đang ở mức báo động về tình trạng khai thác và một số các loài đang có nguy cơ cạn kiệt trong đời ven bờ tỉnh Quảng Nam

Những loài có nguy cơ cạn kiệt là hầu hết các loài thuộc nhóm thân mềm sống trên nền đáy cứng (rạn đá và rạn san hô), như Bào ngư, ốc Đụn, ốc xà cừ, ốc Mặt trăng, ốc Hương, trai Tai tượng, v.v Nguyên nhân của sự cạn kiệt là sự khai thác quá mức, diện tích rạn san hô sống đang bị giảm

Những loài có số lượng tương đối khá và đang được khai thác là nhóm Thân mềm Hai mảnh vỏ, sống chủ yếu ở đáy mềm (như Hầu, Sò huyết, Nghêu dầu, Ngao dầu sọc đỉnh (Xìa Nâu), Phi v.v sản lượng khai thác tự nhiên của chúng khoảng 100-300 tấn /năm

Sản lượng khai thác nhóm chân đầu (Mực các loại) được ước tính là vài chục tấn /năm, những số liệu thống kê này rất khó xác định độ tin cậy, vì ngư dân đánh bắt mực khó phân biệt vùng nước ven bờ hoặc xa bờ

Trong số các loài và nhóm loài có giá trị kinh tế và số lượng tương đối nhiều

so với các loài khác ở đội ven bờ, chúng tôi ước tính chúng thuộc 4 nhóm cá sau:

- Nhóm cá nổi ven bờ; Chuồn, Trích, Cơm, Khế, Nục, Sòng, Bè, Cam v.v chúng là nhóm cá nổi thường sống ở vùng nước thuộc đội ven bờ, các loại nghề

Trang 29

- Nhóm cá đáy và gần đáy: Mối, Hố, Tráp, Phèn, Sạo, Trác, Bơn, Chim v.v chúng thường sống ở lớp nước đáy hoặc gần đáy ở đới ven bờ Trong đó nhiều loài

là đặc sản có giá trị xuất khẩu cao (như Hồng, Mú v.v.) đã bị khai thác cạn kiệt

- Nhóm cá nước lợ ven đầm phá, cửa sông: Măng, Đối, Móm, Dìa, Chình, v.v Phần lớn các loài trong nhóm cá này, ngoài giá trị thực phẩm, chúng còn là đối tượng nuôi trong các ao hồ nước lợ ven biển, nhiều loài trong chúng có giá trị thực phẩm cao

- Nhóm cá nước ngọt - lợ: Đó là các loài cá sống trong sông và các vùng xáo trộn giữa các nước ngọt của các sông lớn và nước lợ từ biển Chủ yếu là các loài thuộc họ cá Chép (cá Lúi, Ngựa Nam, Ngựa Núi, Diệc,v.v.) cá Trê, Chuối, Lươn, Chạch, v.v

Kết quả khảo sát cá vùng khơi và biển sâu cho thấy ngoài các loài cá thường gặp ở đội ven bờ (như cá Khế, Trích, Chuồn, Mối, Hố, Phèn, Tráp, Sạo, Trác, Bơn, Chim, Bò v.v.) Chúng tôi xác định được khoảng 52 loài cá có giá trị kinh tế ở vùng khơi và sâu Cho đến nay, các thông tin và hiểu biết về tài nguyên biển nói chung và nguồn lợi cá ở vùng biển khơi và sâu còn rất hạn chế, bởi vậy, chúng tôi chỉ đưa ra những rất liệu ban đầu về chúng như sau;

- Nhóm cá biển sâu (độ sâu >50m): Đây là những loài cá sống ở lớp nước đáy và gần đáy của vùng nước sâu hoặc trên các rạn ngầm cách mặt biển 60 - 126m ở vùng khơi miền Trung (theo kết quả đánh lưới của tàu Liên Xô, vào năm

1987 - 1989) Bọn chúng thuộc họ cá Hồng, Mú, Bò, Lượng, Sạo, Thu, Hố (Promethichthys prometheus); cả Thu Bạc (Rexea solandri), cá Tía Vây sợi (Pristipomoides filamentosus), cá Tía Răng nhọn (PA typus), cá Mú Vây đen

(Mycteroperca rubra), cá Tráp Đỏ (Pagrus major)

- Nhóm cá nổi biển khơi: Thu, Ngừ, Cờ, Mập, Nhám, Nục heo đây là nhóm

cá nổi di cư có giá trị kinh tế xuất khẩu cao, là đối tượng đánh bắt cửa các loại nghề khai thác xa bờ (như câu Ngừ, câu Mập, rê khơi, vây khơi) Hiện tại, sản lượng đánh bắt của nhóm cá nổi này biến động rất lớn, khoảng vài chục đến vài trăm tấn /năm

• Các nguồn lợi sinh vật khác:

+ Chim biển: Chim biển ở Quảng Nam có thể thống kê theo 3 nhóm sinh

Trang 30

- Nhóm chim biển thực thụ: Nhóm này trên địa bàn tỉnh Quảng Nam chủ yếu xuất hiện di trú vào mùa đông, như Hải âu (Procellana leucomenaela), Báo bão (Puffinus sp ), Mòng bể đầu trắng (Larus kamtchatschensis), Nhạn xám (Chridonias hybnda), Nhạn đen (Chridonia leucoptera), Nhạn chân nâu (Stema anaethetus anaethetus), Nhạn đỏ (Stema sumtra sumatra), Nhạn đầu xám (Anous stolidus pileatus)…

- Nhóm chim chỉ làm tổ trên đảo: Trong các loài chim chỉ làm tổ trên đảo thì chim Yến Hàng (Collocalia fuciphaga germani Oust) là loài chim có ý nghĩa kinh

tế lớn và được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống hơn

- Nhóm chim ven bờ: Nhóm chim này có kích thước nhỏ, sống dọc ven biển

và các cửa sông, chủ yếu là di trú vào mùa đông, như Choi choi á châu, Choi choi lưng hung, Choắt mỏ cong lớn, Choắt lớn, Rẽ khoang cổ, Rẽ bụng nâu, Rẽ trán trắng, Rẽ lưng nâu, Rẽ mỏ to…

- Ngoài ra còn có 3 loài thường trú là Choi choi biển, Choắt bụng vàng, Cà kheo

+ Nguồn lợi bò sát và thú biển: Cho đến nay chúng ta có rất ít thông tin về

thú biển Chỉ biết có khoảng 5 - 7 loài rắn biển đang được khai thác và sử dụng làm dược liệu và thuốc chữa bệnh theo phương thức thủ công

3 Đa dạng sinh học đảo Cù Lao Chàm

Riêng đối với vùng biển ven bờ đảo Cù Lao Chàm gồm các hệ sinh thái vùng triều

và hệ sinh thái rạn san hô với sự đa dạng và phong phú các loài, giống sinh vật biển

3.1 Hệ sinh thái vùng triều

Bãi triều đá hình thành trên các bãi đá được cấu tạo từ các đá gianh đã bị phong hoá với kích thước tảng 1000-2000mm và lớn hơn Xen kẽ giữa các tảng là các cuội - sỏi-sạn (Md= 1-1000mm) phân bố chủ yếu ở các cung lõm hoặc trong các máng trũng sâu Các bãi triều đá phân bố ở phía đông bắc đảo Cù Lao Chàm

và ở hầu hết xung quanh các đảo nhỏ còn lại, là nơi phân bố của hệ sinh vật vùng triều rạn đá Đáng chú ý những loài đặc sản quý hiếm như ốc vú nàng, vú sao, ốc nhảy, ốc mắt, ốc hương đều phân bố chủ yếu ở nơi hướng sóng của các bãi đá kiểu này

Trang 31

cung lõm của đảo Cù Lao Chàm Bãi triều có loại chất đáy này rất phù hợp cho sự

phân bố của quần xã đáy mềm Có thể tìm thấy các loài thuộc họ cua bơi, họ tôm

he, tôm gõ mõ hoặc các loài vùng triều vùi mình trong nền đáy như ngao, gọ, hến

3.2 Hệ sinh thái rạn san hô

Rạn san hô là hệ sinh thái đặc thù của vtìlg biến nhiệt đới và cũng rất điển

hình ở các đảo vùng Cù Lao Chàm Theo kết quả nghiên cứu của Võ Sĩ Tuấn,

Phạm Viết Tích và nnk thì ở hầu hết các đảo đều có các rạn san hô phân bố Tỷ lệ

giữa san hô cứng và san hô mềm có sự khác nhau theo mỗi mặt cắt, song nhìn

chung, độ phủ của rạn san hô là khá cao

Quần xã sinh vật sống trong rạn khá phong phú, bao gồm đại diện của các

nhóm rong biển, trai, ốc, cầu gai, hải sâm Đáng chú ý là hầu hết các các loài động

vật vùng rạn đều là các đối tượng kinh tế chủ yếu của vùng đảo như tôm hùm, cầu

gai gai ngắn, hải sâm trắng, ốc trai, trai tai tượng, bàn mai, trai ngọc

Trang 32

3.3 Sự đa dạng loài, giống sinh vật biển Cù Lao Chàm

Kết quả nghiên cứu từ năm 1994 trở lại đây đã tập hợp được một danh mục gồm 947 loài sinh vật sống trên vùng nước quanh các đảo Trọng số các loài sinh vật biển, cá biển sống trên rạn san hô có 178 loài thuộc 8 giống, 32 họ, rong biển

có 122 loài, thực vật phù du 215 loài, động vật phù du 87 loài, san hô 134 loài thuộc 40 giống, thân mềm 144 loài, giáp xác 25 loài, da gai 21 loài, giun 21 loài Kết quả tính toán cho thấy chỉ số đa dạng thành phần loài ở đây khá cao: đối với động vật đáy giá trị này biến đổi trong khoảng 2,7-4,5, trung bình 3,3, các giá trị tương ứng đối với động vật phù du là 2,7-3, 5 và 2,8, với thực vật phù du là 1,3-3,

5 và 3, 6 Các giá trị khá cao của chỉ số đa dạng sinh học như trên biểu hiện một môi trường thuận lợi để xây dựng các khu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nuôi trồng thuỷ sản Các kết quả ngiên cứu về chỉ số đa dạng của cá, san hô ở đây cũng đều cao hơn so với một số khu vực ở vùng biển phía bắc Việt Nam

3.4 Hiện trạng tiềm năng hải đặc sản Cù Lao Chàm

Cho đến nay đã thống kê dược 50 loài cá kinh tế thuộc vùng biển Quảng Nam - Đà Nẵng Cá tầng mặt được coi là nhóm quan trọng nhất, mỗi năm có thể đánh bắt tới 50000 tấn Ngoài nhóm cá, đã phát hiện được khoảng trên 70 loài động vật không xương sống có giá trị kinh tế, trong đó có nhiều loài có thể coi là hải đặc sản của khu vực

• Nguồn lợi thân mềm:

Thân mềm là nhóm quan trọng trong cấu trúc nguồn lợi động vật đáy ở các đảo Cho đến nay, đã thống kê được 56 loài thân mềm có giá trị kinh tế và quý hiếm, trong đó nhóm ốc lớp một mảnh vỏ có hơn 20 loài, lớp hai mảnh vỏ 34 loài, lớp chân đầu 3 loài

Lớp một mảnh vỏ gồm 20 loài có giá trị kinh tế, chia thành 3 nhóm chính là:

- Nhóm quý hiếm gồm 5 loài, trong đó có 2 loài thuộc nhóm ốc nón, phân bố chủ yếu ở rạn san hô hoặc các khe đá dưới triều

- Nhóm loài làm thực phẩm gồm 20 loài ốc có giá trị dinh dưỡng cao như ốc

vú nàng, ốc mắt, ốc nhảy phân bố từ vùng triều thấp tới vùng dưới triều Các bãi

Trang 33

có giá trị cao về dinh dưỡng và xuất khẩu

- Nhóm làm đồ mỹ nghệ là các loài ốc có hình thù khác lạ, màu sắc đẹp, được nhân dân khai thác lấy thịt ăn, vỏ được đánh bóng làm đồ mỹ nghệ

Lớp 2 mảnh vỏ có tới 34 loài có giá trị kinh tế, chủ yếu tập trung ở các họ trai ngọc, trai tai tượng, sò, ngao, điệp quạt Họ trai ngọc có 5 loài phân bố trong khu vực đảo Cù Lao Chàm và lân cận, chúng đang là đối tượng được ghi trong sách Đỏ Việt Nam, đòi hỏi phải có biện pháp bảo vệ nghiê ngặt Họ trai tai tượng

có 3 loài (ở toàn vùng biển Việt Nam có 6 loài) Họ sò có 5 là phân bố ở các bãi đá

và rạn san hô Họ ngao có số loài có giá trị kinh tế cao nhất so với các họ khác của lớp hai mảnh vỏ Họ bàn mai có 3 loài, đều là những loài có kích thước lớn, sống chủ yếu trong các rạn san hô, nơi có các loại nền đáy cứng Họ điệp quạt mới phát hiện được 2 loài, phân bố ở xung quanh hầu hết các đảo

• Nguồn lợi giáp xác:

Cho tới nay đã thống kê được trên 11 loài có giá trị kinh tế sống ở vùng nước quanh đảo Cù Lao Chàm, tập trung ở hai nhóm chính là nhóm tôm he (3 loài) và nhóm tôm hùm biển (4 loài)

• Nguồn lợi da gai:

Hiện nay mới chỉ phát hiện được 4 loài thuộc hải sâm đen, hải sâm vú trắng, dưa chuột biển và sao biển cánh dày

Từ những điều đã trình bày trên có thể nhận thấy tài nguyên sinh vật khu vực đảo Cù Lao Chàm khá phong phú, gồm nhiều giống loài quý hiếm và có giá trị kinh tế Đây cũng là một trong những nơi của Việt Nam mà các tài nguyên sinh vật còn được bảo tồn tốt Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu nhằm đưa ra các chính sách và giải pháp để quản lý, phát huy những giá trị vốn có của đảo

Về trữ lượng, hiện chưa có được những đánh giá chính xác vì chúng rất phân tán, song từ các số liệu khảo sát của địa phương và của đề tài thực hiện trong năm 2002 và

2003 có thể khẳng định trữ lượng không lớn, nhưng giá trị kinh tế cao Khai thác với mục đích xuất khẩu hoặc kinh doanh trên thương trường sẽ gây tổn thất lớn đến tính đa dạng sinh học và suy thoái môi trường Chúng tôi cho rằng đặc hải sản biển Cù Lao Chàm có hàm lượng dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon và giá trị thương phẩm số lớn gấp nhiều lần nếu được chế biến thành các món ăn truyền thống của đảo theo phương thức xuất khẩu tại chỗ cho mục tiêu phát triển kinh tế du lịch, đem lại lợi ích cho cộng đồng cư dân

Trang 34

Những kết quả trình bày trên có thể nhận xét một số đặc điểm cơ bản về tài nguyên và môi trường khu vực nghiên cứu như sau:

- Vùng bờ tỉnh Quảng Nam có diện tích tự nhiên nhỏ (chiếm khoảng 15% diện tích đất toàn tỉnh), nhưng dân cư đông đúc (chiếm 57% dân cư toàn tỉnh), nhưng có vị thế quan trọng và những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đái hoá

- Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng bờ Quảng Nam còn

là cầu nối giữa hai khu kinh tế năng động: Thành phố Đà Nẵng và khu kinh tế Dung Quất, tạo nên vị thế quan trọng mà ít nơi của miền Trung có được Vùng bờ Quảng Nam rất thuận lợi về giao thông, có cả đương hàng không, đường sắt, đường biển và đường bộ, với quốc lộ xuyên Việt, cảng biển Kỳ Hà và sân bay quốc tế Chu Lai, nằm trong hành lang giao thông Đông - Tây của khu vực Đông Nam Á Ngoài ra, vùng bờ Quảng Nam nằm giữa các cảng lớn của miền Trung là Dung Quất và Đà Nẵng, rất thuận lợi trong việc trung chuyển hàng hoá trong nước

và quốc tế

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của miền Trung, khai thác tiềm năng biển và ven biển, phát triển các ngành kinh tế liên quan đến vùng bờ, được đặc biệt quan tâm đối với cả vùng Do đó, vùng bờ của Quảng Nam sẽ có nhịp độ phát triển kinh tế cao hơn nhiều so với mức trung bình của tỉnh

- Tập trung các đô thị lớn (thành phố Tam Kỳ, thành phố Hội An) và khu công nghiệp mạnh (khu kinh tế mở Chu lai, khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc)

- Nơi tập trung và thu hút nhiều dự án / chương trình đầu tư phát triển công

nghiệp, du lịch dịch vụ, như quy hoạch khu kinh tế mở Chu Lai, nâng cấp cảng Kỳ

Hà và sân bay quốc tế Chu Lai, khu du ực ven biển Hội An, ven bờ biển huyện

Thăng Bình,

- Các di tích văn hoá quan trọng như phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, có

Trang 35

- Hạ lưu của các hệ thống sông lớn, giàu tài nguyên đất ngập nước, cung cấp nước ngọt, phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, bãi trú đậu tàu thuyền, du lịch sinh thái và dân sinh

- Bờ biển dài và bãi cát trắng, nước trong, rất giá trị cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển Vùng biển ven bờ rộng với hai cửa sông lớn, là tiềm năng cho phát triển ngành khai thác hải sản xa bờ

- Đảo Cù Lao Chàm với giá trị cao về bảo tồn đa dạng sinh học, sinh cảnh và phát triển du lịch sinh thái Nhiều loại khoáng sản vùng bờ (cát pha lê, than v.v.) Địa hình địa mạo, điều kiện tự nhiên là tiềm năng phát triển kinh tế nhưng cũng thể hiện nguy cơ bị tác động của sự cố tràn dầu vào vùng biển của khu vực này

Trang 36

1 Nguyễn Thị Phương Hoa, Nguyễn Mạnh Thắng, 2007 Phương pháp

điều tra, đánh giá ảnh hưởng của các sự cố tràn dầu tới chất lượng môi trường trầm tích trong các hệ sinh thái ven bờ, ven đảo Báo cáo chuyên đề Lưu trữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển

2 Phan Nguyên Hong, 1994 Sinh thái thảm thực vật ngập mặn Việt Nam

Luận án Phó Tiến sỹ Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

3 Phan Nguyên Hong, Mai Sỹ Tuấn, Đặc điểm sinh thái vùng rừng ngập

mặn ven biền Việt Nam Báo cáo khoa học Hội nghị khoa học toàn quốc về biển lần thứ 3 - Hiện trạng và phương hướng quản lý

4 Nguyễn hoàng Nghĩa 1999 Bảo tồn đa dạng sinh học NXB Nông

nghiệp

5 Bùi Đức Nhuận, 2001 Về quy hoạch tổng thể phát triền hệ thống cảng

biển đến năm 2010 Tạp chí biển No 3-2001

6 Niên giám thống kê Quảng Nam năm 2005 Chi Cục Thông kê Quảng

Nam

7 Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Nhật Thi 1993-1997 Danh mục cá biển

Việt

8 Nguyễn Thị Thu, 2005 Nguồn giống tôm, cua, cá trên thảm cỏ biến vùng

biển ven bờ và ven đảo Bình Thuận Báo cáo chuyên đề năm 2005

9 Nguyễn Thị Thu, 2005 Nguồn giống tôm, cua, cá trên thảm cỏ biển vùng

nước quanh đảo Phú Quốc Báo cáo chuyên đề năm 2006

10 Catriona M.O M, Peter J R., 2002 Towards a more ecologically

relevant assessment of the impact of heavy metals on the photosynthesis of the seagrass, Zostera capricomi Marine Pollution Bulletin Vol 45 loo-l06pp Elsevier Publisher

11 English, S., Wilkinson, C & B aker, V 1997 Survey M anual for

Tropical Marine Resources 2nd Edition Australian Institute ofManne Science 390pp

12 Eschmeyer W N, 1998 Catalog of F ishes S pecial pul'lication No 1 of

the Center for Biodiversity Research and Information Califomia Academy of Sciences vols 1-3, p 1-2905

Trang 37

TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ CễNG NGHỆ MễI TRƯỜNG

CHUYấN ĐỀ:

Phân tích và đánh giá tổng hợp thiệt hại kinh tế tài nguyên môI trường và hst biển do ảnh hưởng

dầu tràn

Thực hiện trong khuụn khổ Đề tài

“Nghiờn cứu, xõy dựng phương phỏp lượng giỏ kinh tế tài nguyờn và mụi trường

phục vụ cụng tỏc đỏnh giỏ thiệt hại do sự cố tràn dầu gõy ra”

Hà Nội, 2008

Trang 38

I Mở đầu 2

II Cách tiếp cận lượng giá và phương pháp nghiên cứu thực địa: 2 2.1 Cách tiếp cận lượng giá 2

2 1 1 Giá trị sử dụng trực tiếp 3 2.1.2 Giá trị sử dụng gián tiếp 4 2.1.3 Giá trị phi sử dụng 4

2.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa 5

2.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp 5

2 2 2 Đối tượng nghiên cứu 5

2 2 3 Bảng hỏi 6

2 2 4 Phương án chọn mẫu và điều tra 7

2 2 5 Kết quả điều tra 9 2.2.6 Một số điều chỉnh trong quá trình điều tra chính thức 10 2.2.7 Sản phẩm thu được sau điều tra chính thức 11 2.2.8 Phương pháp phân tích số 1iệu 11

III Kết luận và kiến nghị 12

Trang 39

Là một tỉnh ven biển miền Trung, Quảng Nam có bờ biển dài hơn 120km và

2 cửa biển lớn: Cửa Đại và Kỳ Hà Đây là một bờ biển đẹp, thoai thoải và các cửa biển thông ra biển Đông được xem là thế mạnh, tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế biển Đặc biệt, trong những năm gần đây, các dự án du lịch biển được đầu

tư và đi vào hoạt động đã góp phần thay đổi diện mạo mới ở các vùng cát ven biển Song từ đầu năm 2007, một lượng lớn dầu đã trôi dạt vào vùng biển Quảng Nam Dầu tràn trôi nổi trên mặt nước theo dòng chảy mặt, sóng, gió, dòng triều trôi dạt vào vùng biển ven bờ, bám vào đất đá, trên bãi triều, bám lên các kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ quan, gây ra mùi khó chịu đối với du khách khi tham quan du lịch, tắm mát trên các khu vực danh lam thắng cảnh các bãi tắm Do vậy làm giảm doanh thu của ngành du lịch ở ven biển Mặt khác, dầu tràn còn gây thiệt hại tài nguyên môi trường và các hệ sinh thái biển v.v Hiện nay dầu loang là một trong những thảm hoạ môi trường do các vụ đắm tàu, các sự cố khai thác, vận chuyển dầu gây ra, trong đó hoạt động tàu thuyền trong cảng cũng là một trong những nguồn gây loang dầu quan trọng trên biển

II Cách tiếp cận lượng giá và phương pháp nghiên cứu thực địa

2.1 Cách tiếp cận lượng giá

Ô nhiễm dầu có tác động đa chiều và phức tạp Để lượng giá thiệt hại do ô nhiễm môi trường đòi hỏi phải có một đánh giá về tổng giá trị kinh tế (TEV) của

hệ sinh thái

Tổng giá trị kinh tế (TEV) được khái quát bằng công thức sau:

TEV = UV + NUV - (DUV + IUV + OV) + (BV + EXV)

trong đó:

- UV (Use values) là giá trị sử dụng

- DUV (Direct use values) giá trị sử dụng trực tiếp

- IUV (Indirect use values) giá trị sử dụng gián tiếp

Trang 40

- NUV (Nonuse values) giá trị phi sử dụng

- BV (Bequest values) giá trị tuỳ thuộc hay giá trị để lại

- EXV (Existen values) giá trị tồn tại

2 1 1 Giá trị sử dụng trực tiếp

Đối với hệ sinh thái ven biển Quảng Nam, cụ thể là khu vực Cù Lao Chàm , Cửa Đại giá trị sử dụng trực tiếp là giá trị thu được từ sản lượng thủy, hải sản (cá, tôm, cua, ốc ngao, vẹm) và giá trị du lịch, tương ứng với nó là việc sử dụng các phương pháp thay đổi năng suất và phương pháp chi phí du lịch để lượng giá Tuy nhiên, việc sử dụng các phương pháp này đòi hỏi phải có cơ sở dữ liệu về sản lượng, năng suất cây con, tổng giá trị du lịch ngay trước và sau khi có sự cố tràn dầu xảy ra

Đối với các hàng hoá, sản phẩm từ hệ sinh thái, các dữ liệu đầu vào cần thiết cho phương pháp thay đổi năng suất là:

- Năng suất lâm, thuỷ, hải sản, thực phẩm, phân bón, thuốc chữa bệnh và năng lượng (ví dụ năng suất nuôi tôm/ha, lúa/ha ) trước khi và sau khi xảy sự cố tràn dầu

- Phạm vi, diện tích của nhóm giá trị lâm, thuỷ, hải sản, thực phẩm, phân bón, thuốc chữa bệnh và năng lượng bị tác động của dầu tràn

- Thời gian tác động của tràn dầu tại khu vực nghiên cứu

- Giá trị thị trường (giá tham khảo) của nhóm giá trị sử dụng trực tiếp Tuy nhiên, đối với nghiên cứu này, hơn nửa t ông tin đầu vào kể trên là không thu thập được, do thời điểm khảo sát (tháng 031200~r khá xa so với thời điểm xảy

ra dầu tràn (tháng 01/2007) Vì vậy, phương pháp đánh giá có sự tham gia (Participatory Environmental Assessment) được sử dụng, thông qua việc hỏi trực tiếp người dân xem thu nhập của họ bị giảm bao nhiêu phần trăm và trong thời gian là bao nhiêu lâu do có sự cố tràn dầu xảy ra Từ đó, yêu cầu đặt ra là phải bóc tách được những đối tượng nào chịu tác động từ tràn dầu có thu nhập giảm, để đánh giá được tổng thiệt hại (do thu nhập giảm) đối với toàn bộ khu vực dưới tác động của tràn dầu

Ngày đăng: 16/04/2014, 22:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 1.1. Sơ đồ Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái biển (Trang 147)
Hình 1. Sự thay đổi chiều cao tán và diện tích phiến lá cỏ Z.japonica - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 1. Sự thay đổi chiều cao tán và diện tích phiến lá cỏ Z.japonica (Trang 359)
Hình 3. Sự thay đổi khối lượng trên và tỷ lệ khối lượng trên và dưới mặt đất của cỏ - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 3. Sự thay đổi khối lượng trên và tỷ lệ khối lượng trên và dưới mặt đất của cỏ (Trang 361)
Bảng 7 thể hiện tổng lượng dịch vụ-hecta theo các năm bị mất đi của san hô cứng. - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Bảng 7 thể hiện tổng lượng dịch vụ-hecta theo các năm bị mất đi của san hô cứng (Trang 407)
Hình 3. Bờ biển Thừa Thiên Huế - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 3. Bờ biển Thừa Thiên Huế (Trang 416)
Hình 4. Bờ biển Quảng-bình - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 4. Bờ biển Quảng-bình (Trang 416)
Hình 5. Bờ biển Quảng-nam - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 5. Bờ biển Quảng-nam (Trang 417)
Hình 6. Vài đảo và đá ngầm quần đảo Hoàng Sa - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 6. Vài đảo và đá ngầm quần đảo Hoàng Sa (Trang 418)
Hình 7. Vài đảo và đá ngầm quần đảo Trường Sa - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 7. Vài đảo và đá ngầm quần đảo Trường Sa (Trang 418)
Hình 1. Thu mẫu nguồn giống trên bãi triều và rừng ngập mặn. - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 1. Thu mẫu nguồn giống trên bãi triều và rừng ngập mặn (Trang 460)
Hình 2. Sơ đồ các điểm khảo sát - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 2. Sơ đồ các điểm khảo sát (Trang 480)
Hình 1. Hàm lượng (%) các cấp hạt của cát trung - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 1. Hàm lượng (%) các cấp hạt của cát trung (Trang 531)
Hình 2. Hàm lượng (%) các cấp hạt của cát nhỏ - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 2. Hàm lượng (%) các cấp hạt của cát nhỏ (Trang 532)
Hình 4. Hàm lượng (%) các cấp hạt của bùn bột nhỏ  2.2.2. Đặc điểm môi trường trầm tích - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 4. Hàm lượng (%) các cấp hạt của bùn bột nhỏ 2.2.2. Đặc điểm môi trường trầm tích (Trang 534)
Hình 3. Biến động khối lượng và mật độ ĐVĐ khu vực Cửa Đại - Nghiên cứu, xây dựng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên và môi trường phục vụ công tác đánh giá thiệt hại do sự cố tràn dầu gây ra   các chuyên đề nghiên cứu
Hình 3. Biến động khối lượng và mật độ ĐVĐ khu vực Cửa Đại (Trang 611)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w