1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đình hướng và giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động của dịch vụ kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính tại trung tâm khoa học và bồi dưỡng cán bộ kiểm toán nhà nước

103 573 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đình hướng và giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động của dịch vụ kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính tại trung tâm khoa học và bồi dưỡng cán bộ kiểm toán nhà nước
Tác giả Nguyễn Thanh Mai, Nguyễn Tuấn Nam, Nguyễn Bích Thủy
Trường học Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ Kiểm toán Nhà nước
Chuyên ngành Quản trị tài chính, Kiểm toán và Kế toán
Thể loại Báo cáo khoa học cấp cơ sở
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 609,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu để đưa ra được những định hướng, hình thức tổ chức, phương pháp và giải pháp tổ chức các dịch vụ đào tạo, tư vấn về kế toán, kiểm toán và quản trị tài

Trang 1

Kiểm toán nhà nước Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ

Báo cáo tổng kết

đề tài khoa học cấp cơ sở

Đề tài: định hướng và giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính tại Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ Kiểm toán Nhà nước

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thanh Mai

Trang 2

Kiểm toán nhà nước

Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ

Báo cáo chi tiết

đề tài khoa học cấp cơ sở

Đề tài: định hướng và giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính tại Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ Kiểm toán Nhà nước

Cơ quan chủ trì: trung tâm khoa học và bồi dưỡng cán bộ kiểm toán nhà nước

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thanh Mai

Trưởng phòng Thông tin khoa học

Trang 3

danh môc tõ viÕt t¾t

Trang 4

Mục lục

Tt Tiêu đề Trang

Mở đầu 1 Chương1 Những vấn đề lý luận về hoạt động DV và DV

kế toán, kiểm toán và QTTC

3

1.1 Khái niệm và phân loại dịch vụ 3

1.1.1 Khái niệm về hoạt động dịch vụ 3 1.1.2 Phân loại hoạt động dịch vụ 5

1.2 DV kế toán, kiểm toán, QTTC và những quy định

của về tổ chức hoạt động các DV này trên thị trường

9

1.2.1 Một số vấn đề lý luận về DV kế toán, kiểm toán và

QTTC

9

1.2.2 Một số quy định hiện nay về hoạt động kinh doanh DV

kế toán, kiểm toán và QTTC

2.2 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong tổ

chức phát triển các DV kế toán, kiểm toán và QTTC tại Trung tâm KH và BDCB

39

2.3 Mục tiêu, định hướng về nội dung hoạt động DV kế

toán, kiểm toán và QTTC tại Trung tâm KH và BDCB

49

Trang 5

TT Tiêu đề Trang 2.4 Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển hoạt

động DV kế toán, kiểm toán và QTTC tại Trung tâm KH và BDCB

56

2.4.1 Xây dựng bộ máy tổ chức, cơ chế hoạt động và chế độ

tài chính tại Trung tâm KH và BDCB phù hợp với yêu cầu tự chủ, tự chịu trách nhiệm của ĐVSN công lập theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ

56

2.4.2 Đẩy mạnh quảng cáo và xúc tiến thị trường cho các loại

hình DV kế toán, kiểm toán và QTTC của Trung tâm

Trang 6

đề tài khoa học cấp cơ sở

Định hướng và giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính của Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nước

Mở đầu

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Kiểm toán Nhà nước có chức năng nghiên cứu khoa học và đào tạo bồi dưõng cán

bộ, công chức, kiểm toán viên cho KTNN Từ ngày thành lập đến nay, Trung tâm

đã đóng góp rất lớn cho quá trình phát triển và triển khai hoạt động của KTNN Hiện nay, Trung tâm có một đội ngũ nghiên cứu khoa học và giáo viên kiêm chức

được đào tạo đầy đủ, trong đó lực lượng trẻ chiếm đa số, năng động, linh hoạt Tuy nhiên do những khó khăn, hạn chế nhất định cả về khách quan lẫn chủ quan, lực lương này chưa phát huy được hết năng lực và nhiệt tình công tác Trong khi đó nhu cầu về dịch vụ đào tạo và tư vấn về kế toán, kiểm toán, quản trị tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đang rất lớn Trong quá trình thực hiện cải cách hành chính, Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách cho phép các ĐVSN phát triển các dịch vụ, mở rộng thêm nguồn thu, cải thiện thu nhập cho cán bộ – công chức và tự trang trải một phần hoặc toàn bộ chi phí thường xuyên Tại KTNN, Quyết định 115/QĐ-KTNN ngày 01 tháng 3 năm 2003 của Tổng Kiểm toán Nhà nước cũng đã cho phép Trung tâm KH và BDCB tổ chức các lớp đào tạo bồi dưỡng về kiểm toán cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu; cung cấp các dịch vụ tư vấn về kế toán, kiểm toán cho các tổ chức ngoài KTNN theo quy định của Pháp luật và của Tổng Kiểm toán Nhà nước Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu để đưa ra được những định hướng, hình thức tổ chức, phương pháp và giải pháp tổ chức các dịch vụ đào tạo, tư vấn về kế toán, kiểm toán

và quản trị tài chính tại Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nước là rất cần thiết nhằm khai thác tối đa năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học và giáo viên kiêm chức của đơn vị, tạo nguồn thu cho Trung tâm, tạo môi trường để rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, cải thiện đời sống cho cán bô - viên chức, góp phần hoàn thành

nhiệm vụ chuyên môn, Vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học “Định hướng và giải

pháp tổ chức thực hiện các hoạt động DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính của Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nước” có ý nghĩa cả về mặt lý luận

lẫn thực tiễn trong giai đoạn hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về DV, DV kiểm toán, kế toán và quản

Trang 7

- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển các hình thức DV ở các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập hiện hay;

- Phân tích thực trạng hoạt động và đánh giá điều kiện, năng lực tổ chức thực hiện các DV kiểm toán, kế toán và tài chính của Trung tâm KH và BDCB;

- Xác định mục tiêu, định hướng và xây dựng giải pháp, phương thức tổ chức thực hiện các DV kiểm toán, kế toán và tài chính tại Trung tâm KH và BDCB

3 Đối tượng nghiên cứu:

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DV kế toán, kiểm toán và quản trị tài chính tại các ĐVSN khoa học và đào tạo công lập nói chung và Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nước nói riêng;

- Nội dung, hình thức và giải pháp tổ chức thực hiện các DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính tại Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nước

4 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào các DV đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao kiến thức, cập nhật chính sách chế độ và tư vấn về kiểm toán nội bộ và quản trị tài chính;

- Thực trạng hoạt động DV chủ yếu được nghiên cứu và khảo sát trong thời gian kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 10/01/2002

về chế độ tài chính áp dụng cho các ĐVSN có thu cho đến nay

- Định hướng và giải pháp phát triển DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính tại Trung tâm KH và BDCB cho giai đoạn đến năm 2010

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp biện chứng

- Phương pháp thống kê, khảo sát và phỏng vấn

- Phương pháp tổng hợp, phân tích

- Phương pháp suy luận và diễn giải

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động dịch vụ và dịch vụ kiểm toán, kế toán

và quản trị tài chính;

Chương 2: Thực trạng hoạt động và định hướng, giải pháp tổ chức phát triển dịch vụ kế toán, kiểm toán và quản trị tài chính tại Trung tâm KH và BDCB Kiểm

toán Nhà nước

Trang 8

Chương 1

Cơ sở lý luận về hoạt động Dịch Vụ và Dịch Vụ

kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính

1.1.1 Khái niệm về hoạt động dich vụ

Điểm khác biệt cơ bản giữa SX hàng hoá với SX tự cung tự cấp đó là xuất hiện

sự trao đổi, mua bán, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng các loại phương tiện, vật dụng, tài sản, sức lao động, giữa người này qua người khác, giữa vùng này qua vùng khác, giữa quốc gia này qua quốc gia khác SX hàng hoá càng phát triển càng

đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại nguyên nhiên vật liệu, công cụ, máy móc, phương tiện và trải qua nhiều quá trình, công đoạn SX khác nhau Đó chính là cơ sở cho sự

ra đời cho hàng loạt các DV cung ứng các yếu tố đầu vào và đầu ra cho các quá trình sản xuất hàng hoá Đồng thời, SX hàng hoá phát triển đã thúc đẩy nhanh tốc

độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhu cầu cho tiêu dùng và sinh hoạt ngày càng phong phú, đòi hỏi quá trình lưu thông, trao đổi, mua bán ngày càng phức tạp, cường độ thực hiện ngày càng cao Một người, một chủ thể kinh tế, thậm chí một quốc gia khó có thể SX đầy đủ các loại hàng hoá, vật dụng đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, đồng thời cũng không tự mình phục vụ cho tất cả nhu cầu về sản xuất kinh doanh, nhu cầu về đời sống và sinh hoạt được, hoặc có thể SX nhưng không hiệu quả, có thể tự phục vụ nhưng không thoả mãn nhu cầu và chi phí cao Trong quá trình đó, xuất hiện một loạt các hoạt

động của các chủ thể khác nhằm cung cấp nhân lực, thu gom và cung ứng nguyên nhiên vật liệu, cung cấp phương tiện, công nghệ, cung ứng vốn, cung cấp mặt bằng

SX, cung cấp thông tin, tư vấn về kỹ thuật, nghiệp vụ và quản lý, đại lý tiêu thụ hàng hoá, đáp ứng các nhu cầu về tiêu dùng và sinh hoạt, các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần Các hoạt động lấy việc hỗ trợ, cung ứng, thỏa mãn cho quá trình SX, lưu thông hàng hoá, lấy việc đáp ứng các nhu cầu về đời sống vật chất và

tinh thần này để KD và thu lợi nhuận, đó chính là những DV Như vậy DV ra đời là

do yêu cầu của sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao, là kết quả của phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh

Tuy nhiên để đưa ra một định nghĩa trọn vẹn đầy đủ là rất khó, đặc biệt khi

mà công nghệ thông tin ngày càng phát triển làm cho những cách hiểu truyền thống trong nhiều trường hợp cũng không còn chính xác Tuỳ theo, từng giai đoạn

phát triển mà DV có những cách hiểu khác nhau

Trang 9

Khi nghiên cứu về "Phương thức SX Tư bản chủ nghĩa", C.Mác cho rằng: "DV

là con đẻ của nền kinh tế SX hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh,

đòi hỏi mọi sự lưu thông, trôi chảy, thông suốt, liên tục để thõa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì DV phát triển" [1]

Vào cuối thế kỷ 20, DV đã trở thành một trong những ngành quan trọng và có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về nó Dưới đây là hai khái niệm về DV được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng: DV là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của

chúng không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể Hoạt động DV bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung DV không chỉ bao gồm những lĩnh vực truyền thống như: vận tải, du lịch, thương mại ngân hàng, bưu điện, bảo hiểm, truyền thông liên lạc mà DV còn lan tỏa đến khu vực rất mới như: bảo vệ môi trường, DV văn hóa, DV hành chính, tư vấn pháp luật, tư vấn tình cảm [1]

Theo nghĩa hẹp: DV là một công việc cho người khác hay cộng đồng, là một

việc mà hiệu quả của nó đáp ứng nhu cầu nào đó của con người như: vận chuyển, cung ứng nước, đón tiếp, sữa chữa và bảo dưỡng các thiết bị máy móc hay công trình [1]

Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu trong nước cũng đã đề

cập nhiều về DV Trong sách tham khảo "Giải thích thuật ngữ Kinh tế đối ngoại

KD" của Nguyễn Thế Kỷ - Phạm Mạnh Khôi định nghĩa DV như sau: DV

(Services) là kết quả của hoạt động SX mà không đem lại một sản phẩm vật chất, nhưng đem lại một lợi ích có giá trị kinh tế: thương mại, săn sóc sức khỏe, du lịch, quản trị hành chính v.v về phương diện kinh tế, người ta thường nói sự SX ra hàng hóa và DV [7] hay: "DV là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo

ra các sản phẩm không tồn tại dưới hình thái vật chất, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu SX và đời sống sinh hoạt của con người" [7]

Luật thương mại được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 không quy định về dịch vụ nhưng giải thích rõ về hoạt động “Cung ứng dịch vụ” là hoạt động thương mại, theo đó một bên (bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận Như vậy cho đến nay trên thế giới cũng như ở trong nước đã có nhiều quan

điểm và có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về DV, tuy chưa có một quan điểm

Trang 10

hoàn toàn thống nhất và một định nghĩa chuẩn về chúng, nhưng về cơ bản các quan

điểm và định nghĩa trên đều có những điểm chung thể hiện những đặc trưng của

DV như sau:

- DV là hoạt động của các chủ thể nhằm làm thoã mãn nhu cầu của các chủ

thể khác như cộng đồng, chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp, gia đình, cá nhân về giáo dục, văn hoá, âm nhạc, y tế, giải trí, cung cấp vốn, phương tiện, tư vấn pháp luật, quản lý kinh tế, tài chính, quản lý doanh nghiệp, gia đình

- Hoạt động DV do một hoặc nhiều chủ thể tổ chức và cung ứng theo yêu cầu của một chủ thể hoặc nhiều chủ thể khác Việc cung ứng DV được thực hiện theo

sự thoả thuận bình đẳng giữa các bên về số lượng, chất lượng, giá cả, thời gian,

điều kiện cung cấp và tuân thủ theo quy định của pháp luật tại từng quốc gia

- Sản phẩm của DV không tồn tại dưới một hình thái cụ thể, nhưng đều là kết quả của lao động và sáng tạo của con người, tức là kết tinh của hàng hoá sức lao

động và nó cũng bị điều tiết bởi quy luật cung cầu, lợi nhuận và cạnh tranh

- Sự không thể phân chia trong quá trình tiêu thụ và SX: tức là việc SX và tiêu thụ phải diễn ra đồng thời

- Sản phẩm DV không lưu trữ và mang vác được

Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, đây chỉ là những đặc trưng mang tính tương

đối, dựa vào đó mà chúng ta có thể phân biệt giữa hầu hết các DV với hàng hoá, song với sự tiến bộ ngày nay của công nghệ thông tin thì nhiều DV cũng có thể lưu trữ và mang vác được Ví dụ: bài giảng của một Giáo sư có thể lưu trữ được cả hình

ảnh giọng nói trên một đĩa CD vi tính mà có thể rất nhiều sinh viên được nghe giảng lại ở bất kỳ nơi nào

1.1.2.1 Cách phân loại của Liên Hợp Quốc

Năm 1997, tại phiên họp thứ 29 Uỷ ban Thống kê của Liên Hợp Quốc đã

thông qua cách phân loại sản phẩm theo CPC phiên bản 1.0 (Central Product Classification vesion 1.0) Theo đó các sản phẩm hàng hoá DV có thể chia ra làm

10 ngành chính, 71 phân ngành, 294 nhóm, 1162 loại và tới 2093 tiểu loại ngành SX&DV Theo CPC thì DV được đưa vào từ ngành thứ 5 đến ngành thứ 9 và có tới

29 phân ngành DV, 101 nhóm, 401 loại DV và 917 tiểu loại DV [2]

1.1.2.2 Phân loại DV của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Ban Thư ký của WTO đã chia "các DV" thành 12 ngành, bao gồm:

- Ngành I - các DV kinh doanh;

Trang 11

- Ngành III - các DV xây dựng và kỹ thuật dân dụng;

12 ngành DV này lại được chia tiếp thành 155 phân ngành khác nhau

Trong đó DV kế toán, kiểm toán nằm ở tiểu mục b (DV tính toán, kế toán, kiểm toán), thuộc mục A (DV chuyên ngành), chuyên ngành I (DV kinh doanh) Trong ngành VII (DV tài chính) mục B (DV ngân hàng và DV tài chính khác)

có 2 loại dịch vụ: DV ở tiểu mục k (DV tư vấn và tài chính phụ khác bao gồm diễn giải và phân tích số dư tài khoản, nghiên cứu đầu tư trực tiếp và gián tiếp ) và DV

ở tiểu mục l (cung cấp và chuyển tiếp thông tin tài chính và các phần mềm liên quan do các nhà cung cấp làm và các DV tài chính khác ) có thể được xem là DV tư vấn quản trị tài chính.[2]

1.1.2.3 Phân loại DV của Tổng cục Thống kê Việt Nam

Theo nghị định 75/CP ngày 27 - 10 - 1993 của chính phủ và Quyết định số

143 - TCTK/PPCD ngày 22 - 12 - 1993 của T.C Thống kê, hệ thống ngành cấp I của nước ta hiện nay gồm 20 ngành Trong đó 6 ngành đầu thuộc các lĩnh vực SX, còn 14 ngành còn lại thuộc lĩnh vực kinh tế DV, 4 ngành cấp I thuộc lĩnh vực kinh

tế DV mang các mã số từ G đến V theo vần chữ cái tiếng Việt

G - Thương nghiệp, sữa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân

Trang 12

M - Quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc;

N - Giáo dục và đào tạo;

O - Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội;

P- Hoạt động văn hoá thể thao;

Q - Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội;

T - Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng;

U - Hoạt động làm thuê công việc gia đình trong các hộ tư nhân;

V - Hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế [20]

Theo cách phân loại này các DV các dịch vụ kế toán, kiểm toán, tư vấn quản trị tài chính thuộc mục J (Dịch vụ tài chính, tín dụng)

Trên đây là những cách phân loại DV được sử dụng phổ biến và được chính thức hóa trong công tác thống kê, quản lý, trong đàm phán và hợp tác đầu tư trong nước và quốc tế Tuy nhiên các cách phân loại này vẫn chưa hoàn toàn thống thất với nhau, đặc biệt cách phân loại DV của các tổ chức trong nước còn khác xa với các phân loại của Liên hợp quốc và WTO, đó là một trong những vấn đề cấp bách

mà các tổ chức, các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan quản lý phải gấp rút

điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu của quá trinh hội nhập và toàn cầu hoá

Ngoài các cách phân loại trên, trong thực tế còn có một số cách phân loại

khác của những ngành, những cơ quan cụ thể phù hợp với cách thức tác động, điều chỉnh và quản lý các hoạt động DV như sau:

- Phân loại theo giai đoạn bán hàng, giao hàng:

+ Dịch vụ trước bán hàng: dịch vụ thu gom hàng hóa, dịch vụ quảng cáo, dịch

vụ xúc tiến thị trường, dịch vụ đóng gói…;

+ Dịch vụ trong quá trình bán hàng: Dịch vụ vận chuyển, dịch vụ giao hàng, dịch vụ thanh toán…;

+ Dịch vụ sau bán hàng: Dịch vụ bảo hành, dịch vụ sữa chữa…;

- Phân loại theo chủ thể thực hiện:

+ Chủ thể là cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội;

+ Chủ thể là các doanh nghiệp;

+ Chủ thể là các hộ gia đình, cá nhân…;

- Phân loại theo tính chất và ngành nghề hoạt động:

+ Dịch vụ đào tạo, giáo dục;

+ Dịch vụ y tê;

+ Dịch vụ tư vấn;

Trang 13

+ Dich vụ khoa học và công nghệ…

- Phân loại theo mục tiêu hoạt động

+ Dịch vụ công: Đây là những dịch vụ được tổ chức hoạt động và cung ứng

không vì mục đích lợi nhuận mà nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức, các cơ quan trong khu vực công; cải thiện điều kiện sống và nâng cao trình độ dân trí, văn hoá, sức khoẻ cho cộng dồng, bảo vệ và cải tạo môi trường…Đối tượng phục vụ là các cơ quan tổ chức của Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, xã hội; cộng đồng dân cư…như DV y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường, DV cây xanh, DV văn hoá, DV kiểm tra, giám định, DV khoa học, DV bồi dưỡng cán bộ…Tổ chức cung ứng và thực hiện các DV này ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là

do các tổ chức, các ĐVSN của Nhà nước Kinh phí hoạt động do Ngân sách Nhà nước bảo đảm Một số DV khác được cung ứng từ các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, tổ chức nhân đạo và tự nguyện trong nước và nước ngoài

Dịch vụ Kinh doanh: Đây là những DV được tổ chức và cung ứng vì mục tiêu

lợi nhuận, ngành nghề rất phong phú và đa dạng (Theo phân loại của WTO có đến

155 phân ngành DV khác nhau) Đối tượng phục vụ lại rất rộng từ thị trường trong nước đến thị trường nước ngoài, từ các tổ chức, cơ quan của Nhà nước đến cộng

đồng dân cư và doanh nghiệp…Tuy nhiên chủ thể tổ chức thực hiện lại là các doanh nghiệp, các hộ tư nhân có đăng ký kinh doanh và nộp thuế theo pháp luật của Việt Nam và trên địa bàn của Việt Nam (các ngành nghề cho phép DN nước ngoài cung ứng thì phải thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hoặc các chi nhánh có đăng ký kinh doanh)

Với phạm vi, mục tiêu và đối tượng nghiên cứu của Đề tài này, loại dịch vụ

được nghiên cứu là dịch vụ kinh doanh, nhưng chủ thể tổ chức thực hiện và cung ứng lại là tổ chức sự nghiệp công lập được thành lập để cung ứng dịch vụ công Vì vậy cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ cả về cơ sở pháp lý lẫn các điều kiện thực tiễn để các giải pháp đưa ra là có tính khả thi

Vấn đề cụ thể cần giải quyết ở đây là:

- Trung tâm KH và BDCB là một ĐVSN công lập nhưng được thực hiện và cung ứng các dịch vụ kinh doanh và nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ này, Trung tâm được chủ động sử dụng để phát triển hoạt động sự nghiệp và nâng cao thu nhập cho cán bộ – viên chức của mình

- Trong các loại hình dịch vụ kế toán, kiểm toán và tài chính, Trung tâm KH

và BDCB KTNN có khả năng và được tổ chức cung ứng những loại dịch vụ nào và trong phạm vi nào

- Với những dịch vụ kế toán, kiểm toán và tài chính trên, Trung tâm KH và BDCB KTNN lựa chọn định hướng phát triển và giải pháp tổ chức thực hiện và cung ứng như thế nào là khả thi và có hiệu quả

Trang 14

1.2 dv kế toán, kiểm toán, qTTC và những quy định về tổ chức hoạt động các dv này trên thị trường hiện nay

1.2.1 Một số vấn đề lý luận về DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài

chính

1.2.1.1 Dịch vụ Kiểm toán

Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng

nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin và các chuẩn mực đã xây dựng [16]

Phân loại theo loại hình kiểm toán, có kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ

và kiểm toán hoạt động

- Kiểm toán báo cáo tài chính (Audit of Financial Statemans)

Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra và xác nhận tính trung thực và tính hợp lý của báo cáo tài chính cũng như xem xét báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực kế toán và các yêu cầu của pháp luật hay không

ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, công việc kiểm toán báo cáo tài chính thường do các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện để phục vụ các nhà quản

lý, Chính phủ, các ngân hàng và chủ đầu tư, cho người bán và khách hàng

- Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit)

Kiểm toán tuân thủ là hoạt động kiểm toán để xem xét bên được kiểm toán có tuân thủ các thủ tục, nguyên tắc, quy chế mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước đã đề ra hay không Vì thế, kiểm toán tuân thủ còn được gọi là kiểm toán tính quy tắc (Regularity Audit)

- Kiểm toán hoạt động (Operational Audit)

Kiểm toán hoạt động là hoạt động kiểm toán để xem xét và đánh giá tính hiệu lực và tính hiệu quả của một đơn vị: tính hiệu lực là khả năng hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu của một đơn vị; tính hiệu quả là việc đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất

Trong kiểm toán hoạt động, việc kiểm tra thường có nội dung rất rộng, vượt ra ngoài phạm vi công tác tài chính kế toán và liên quan tới nhiều lĩnh vực Vì vậy, các kiểm toán viên trong kiểm toán hoạt động phải sử dụng rất nhiều kỹ năng khác nhau: Kế toán, tài chính, kinh tế, khoa học kỹ thuật “sản phẩm” của kiểm toán hoạt động là một bản báo cáo cho người quản lý về kết quả kiểm toán và những ý kiến đề xuất cải tiến hoạt động [16]

Phân loại theo hình thức tổ chức kiểm toán: Có Kiểm toán Nhà nước, Kiểm

toán độc lập, Kiểm toán nội bộ

- Kiểm toán Nhà nước (State Audit)

Trang 15

Kiểm toán Nhà nước là hoạt động kiểm toán do các cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan chuyên môn của Nhà nước chuyên trách tiến hành các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ tại các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước Ngoài ra, Kiểm toán Nhà nước còn thực hiện kiểm toán hoạt động

để đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của các đơn vị nói trên [16]

Về mô hình tổ chức, trên thế giới, cơ quan Kiểm toán Nhà nước có thể trực thuộc Chính phủ (cơ quan hành pháp), Quốc hội (cơ quan lập pháp), Toà án (cơ quan tư pháp) hoặc hoạt động độc lập chỉ tuân theo pháp luật

ở Việt Nam, KTNN được thành lập theo Nghị định 70/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan Nhà nước, các ĐVSN, đơn vị kinh tế Nhà nước và đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do NSNN cấp KTNN thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước khi trình Hội đồng nhân dân và Tổng quyết toán NSNN trước khi trình Quốc hội KTNN cũng thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán của các Bộ, các cơ quan thuộc Quốc hội, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các ĐVSN công, các

đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí nhà nước; báo cáo quyết toán của các chương trình, các dự án, các công trình đầu tư của Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước

Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 11/8/2003 của Chính phủ mở rộng thêm chức năng, nhiệm vụ của KTNN: Ngoài chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng

đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các cấp và báo cáo Tổng quyết toán NSNN KTNN còn có chức năng kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế trong việc quản lý, sử dụng NSNN và tài sản công

Hiện nay, Luật Kiểm toán đã được Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm

2006 quy định Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính Nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật [6]

Mục đích hoạt động kiểm toán của KTNN là nhằm thực hiện việc kiểm tra, kiểm sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của Nhà nước

Nhiệm vụ cơ bản của KTNN là tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm và thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thường

Trang 16

vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ và các nhiệm vụ khác

Như vậy, với mục đích hoạt động và nhiệm vụ của KTNN được quy định theo Luật Kiểm toán, tuy KTNN là một cơ quan chuyên môn nhưng hoạt động kiểm toán của KTNN thuộc về hoạt động quản lý của Nhà nước (kiểm tra, kiểm sát là một khâu của hoạt động quản lý) không phải là những hoạt động dịch vụ Kinh phí

để bảo đảm cho hoạt động của KTNN là từ nguồn của NSNN, do KTNN lập dự toán và đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định Hoạt động kiểm toán của KTNN hoàn toàn không phải là những hoạt động nhằm để thu phí từ các đơn vị đ-

ược kiểm toán như hoạt động kiểm toán độc lập

Tóm lại, cả về tính chất lẫn mục tiêu hoạt động, hoạt động kiểm toán của

KTNN dù là kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán trước hay kiểm toán sau đều không phải là hoạt động dịch vụ mà thuộc

về hoạt động quản lý của Nhà nước (ở các nước kinh tế thị trường phát triển, khi

mà quản lý nhà nước được xem như là những dịch vụ công thì hoạt động kiểm toán

của KTNN cũng là dịch vụ công)

Tuy nhiên, những hoạt động phục vụ và hỗ trợ cho hoạt động kiểm toán của

KTNN lại có thể được tổ chức thực hiện và cung ứng theo các hình thức dịch vụ Ví

dụ: hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm cả nghiên cứu lý luận, nghiên cứu ứng

dụng và triển khai; hoạt động đào tạo bồi dưỡng kiểm toán viên; cung cấp thông tin…đều có thể tổ chức theo phương thức đặt hàng, ký hợp đồng cung ứng trên cơ

sở đấu thầu và thỏa thuận của các bên Chủ thể tổ chức thực hiện và cung ứng các hoạt động này có thể là các ĐVSN của KTNN nhưng cũng có thể là các đơn vị, cá nhân bên ngoài Ngược lại, các ĐVSN của KTNN cũng có thể tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân ngoài KTNN nếu có nhu cầu

Ngoài ra theo mục 16 điều 15 của Luật Kiểm toán, KTNN còn có nhiệm vụ chỉ đạo và hướng dẫn chuyên môn nghiệp cụ cho kiểm toán nội bộ của các đơn vị,

tổ chức, doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng NSNN Các đơn vị trực thuộc KTNN tổ chức các hoạt động này đều có thể thu phí tư vấn, hướng dẫn và bồi dưỡng nghiệp vụ từ các đơn vị, tổ chức và doanh nghiệp theo hợp đồng thỏa thuận Hoạt động này cũng có thể được xem là hoạt động dịch vụ

- Kiểm toán độc lập (Independent Audit)

Kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán do các kiểm toán viên độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp tiến hành Thực chất, kiểm toán độc lập

là các hình thức DV được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Các kiểm toán viên độc lập là đội ngũ chuyên nghiệp, có đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, phải trải qua các

Trang 17

Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính Ngoài ra, tuỳ thuộc và yêu cầu của khách hàng, kiểm toán viên độc lập còn

có thể thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hoặc tiến hành các dịch

vụ tư vấn tài chính kế toán khác[16]

ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, DV kiểm toán độc lập rất phổ biến ở Việt Nam, quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân được ban hành theo Nghị định 07/CP ngày 29 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ Nghị

định này đã nêu định nghĩa về kiểm toán độc lập: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác định của Kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu của các đơn vị này” và Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 điều chỉnh lại “ Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp và tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này” [11]

Như vậy, kiểm toán độc lập thực chất là một loại hình DV được thực hiện trên cơ sở tự nguyện và theo thỏa thuận của tổ chức kiểm toán độc lập với các đơn vị

được kiểm toán (khách hàng) Người trả tiền cho các DV là đơn vị được kiểm toán

- Kiểm toán nội bộ (Internal Audit)

Kiểm toán nội bộ là các hoạt động kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành

Lĩnh vực chủ yếu của kiểm toán nội bộ là kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của hoạt động trong đơn vị Bên cạnh đó, các kiểm toán viên nội bộ cũng tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ để xem xét việc chấp hành các quy chế, chính sách trong nội bộ đơn vị

Về mặt tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ thường trực thuộc Giám đốc và báo cáo trực tiếp cho Giám đốc ở những công ty lớn, các tập đoàn kinh tế, bộ phân kiểm toán nội bộ có thể trực thuộc Hội đồng quản trị để đảm bảo hoạt động được hữu hiệu [16]

Như vậy, kiểm toán nội bộ là một hình thức DV tự phục vụ của một tổ chức Mục tiêu của việc kiểm toán nội bộ là hổ trợ các thành viên của tổ chức đó thực hiện hiệu quả những trách nhiệm của mình

Tóm lại, qua phân tích các hình thức tổ chức hoạt động kiểm toán có thể

khẳng định các hoạt động kiểm toán độc lập chính là DV kiểm toán

Ngoài ra có thể xem các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hoạt động

nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, hoạt động cung cấp thông tin, hoạt

động tư vấn và hướng dẫn nghiệp vụ, hoạt động cung cấp chuyên gia thẩm định kỹ

Trang 18

thuật, thẩm định giá…trong lĩnh vực kiểm toán cũng là những hoạt động dịch vụ kiểm toán

ở một khía cạnh khác, khi một số đơn vị, doanh nghiệp, dự án chưa có bộ phận kiểm toán nội bộ hoặc bộ phân kiểm toán nội bộ chưa đủ năng lực để tiến hành hoạt động kiểm toán theo yêu cầu của chính bản thân đơn vị, doanh nghiệp Trong trường hợp này, đơn vị hoặc doanh nghiệp có thể thuê những chuyên gia và những tổ chức tư vấn tiến hành các hoạt động kiểm toán nội bộ để tư vấn cho chính bản thân doanh nghiệp hoặc đào tạo bồi dưỡng hướng dẫn nghiệp vụ cho bộ phận kiểm toán nội bộ của mình Đó cũng chính là những hoạt động DV Có thể xem các DV này là DV tư vấn về kiểm toán nội bộ

1.2.1.2 Dịch vụ kế toán

Theo Luật kế toán ngày 10 tháng 1 năm 2004:

“Kế toán” là viêc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin

kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động

“Kế toán tài chính” là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp

thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết

định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán

“Kế toán quản trị” là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin

kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ

đơn vị kế toán

“Hành nghề kế toán” là hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán của doanh

nghiệp cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện thực hiện dịch vụ kế toán [5] Dịch vụ kế toán là một loại hình dịch vụ tài chính – kế toán nảy sinh từ thực tiễn hoạt động kế toán nhằm đáp ứng một số nhu cầu sau:

- Đánh giá mức độ chính xác, trung thực của các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán của một chủ thể nhất định phục vụ cho các mục tiêu về đầu tư, sản xuất kinh doanh và làm nghĩa vụ với Ngân sách nhà nước (đầu tư vốn, vay vốn, tham gia liên doanh, nộp thuế )

- Tư vấn đối với việc tổ chức và vận hành bộ máy kế toán của một chủ thể nhất định sao cho có hiệu quả cao nhất, phù hợp với quy định của pháp luật [18]

Các hoạt động đáp ứng những nhu cầu trên là các loại dịch vụ có liên quan

đến hoạt động kế toán hay còn gọi là các dịch vụ kế toán

Với quan điểm này có thể liệt kê một số dịch vụ kế toán sau:

- Dịch vụ kiểm toán, đánh giá báo cáo tài chính, báo cáo kế toán…

- Cung cấp nhân viên kế toán và kế toán trưởng làm thuê cho các đơn vị, doanh nghiệp

Trang 19

- Đào tạo kế toán, kế toán trưởng, bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, phổ biến và hướng dẫn thực hành các chuẩn mực kế toán, các chế độ chính sách mới về kế toán, tài chính…

- Tư vấn cho các đơn vị doanh nghiệp, dự án tổ chức xây dựng, điều hành và quản lý bộ máy kế toán; tư vấn và hỗ trợ bộ phận kế toán của các đơn vị ghi chép

sổ sách kế toán, cấp nhật chứng từ, hạch toán kế toán, khai báo và quyết toán thuế, lập báo cáo tài chính, quyết toán các dự án đầu tư…

1.2.1.3 Dịch vụ quản trị tài chính

Trong hoạt động kinh doanh để có thể tồn tại, cạnh tranh và phát triển trong cơ chế thị trường, Doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đến những vấn đề lớn sau:

- Doanh nghiệp đưa ra quyết định đầu tư nào trong nhiều cơ hội đầu tư

- Doanh nghiệp chọn nguồn tài trợ nào cho nhu cầu vốn đầu tư đã được chọn

- Doanh nghiệp cơ cấu và sử dụng tài sản, nguồn vốn của mình như thế nào để

có hiệu quả nhất

- Doanh nghiệp nên thực hiện chính sách phân phối lợi nhuận như thế nào để vừa bảo đảm khả năng tái sản xuất mở rộng, bảo đảm an toàn về tài chính vừa nâng cao thu nhập và tạo động lực phấn đấu cho đội ngũ nhân lực của mình

Các vấn đề trên đều liên quan đến việc sử dụng đồng tiền, việc huy động các nguồn vốn bảo đảm cho nhu cầu và cơ hội kinh doanh, việc thực hiện chính sách phân chia kết quả kinh doanh hợp lý và đúng hướng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các quyết định đầu tư và tìm nguồn tài trợ Những hoạt động nhằm

đạt được mục đích trên chính là quản trị tài chính doanh nghiệp

Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp là nhằm:

- Đảm bảo sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn vốn của doanh nghiệp và các nguồn tài trợ, nhằm tìm cơ hội đầu tư tốt nhất, quyết định đầu tư vào các dự án có

tỷ lệ hoàn vốn và hiệu quả cao; quyết định thời hạn sử dụng những tài sản hiện có

và nhu cầu thay thế bổ sung tài sản mới

- Nhằm phân tích tài chính doanh nghiệp, tìm điểm mạnh và điểm yếu về hoạt

động tài chính của doanh nghiệp, quyết định tăng vốn và đầu tư hợp lý

- Nhằm thiết lập các kế hoạch tài chính, đảm bảo cho tài sản của doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả

- Nhằm giám sát và hướng dẫn các hoạt động chi tiêu phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp

Tuy nhiên không phải bất cứ một doanh nghiệp cũng có đầy đủ các bộ phận

nhân lực để thực hiện việc theo dõi, thu nhập thông tin, quản lý, hạch toán, phân tích, tổng hợp, vạch kế hoạch và tham mưu cho Giám đốc đưa ra những quyết định tốt nhất cho các vấn đề tài chính này, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường đã hình thành các doanh nghiệp, tổ chức và cá

Trang 20

nhân chuyên cung cấp nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp trực tiếp phụ trách các vấn đề này hoặc cung ứng các dịch vụ tư vấn này cho các doanh nghiệp và các chủ đầu tư, đó chính là dịch vụ quản trị tài chính doanh nghiệp

Như vậy, trên thị trường hiện hay, dịch vụ quản trị tài chính doanh nghiệp có

- Cho thuê các giám đốc tài chính, giám đốc quản lý tài chính…

2, Cung cấp các dịch vụ tư vấn về quản trị tài chính cho doanh nghiệp:

- Tư vấn về phân tích và đánh giá các vấn đề tài chính cho doanh nghiệp;

- Tư vấn về đầu tư tài chính;

- Tư vấn về quản lý tài chính;

đồng bộ Về DV kế toán, kiểm toán, quản trị tài chính hiện nay có một số văn bản luật và dưới luật điều chỉnh như sau:

1.2.2.1 Hoạt động kinh doanh DV kế toán

Hiện nay, kinh doanh DV kế toán được điều chỉnh chủ yếu bằng Luật Kế toán Luật Kế toán quy định về điều kiện và tiêu chuẩn hành nghề kế toán như sau:

Điều 55 chương IV quy định về điều kiện hành nghề kế toán:

- Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật có quyền hành nghề kế toán

- Tổ chức kinh doanh DV kế toán phải thành lập doanh nghiệp DV kế toán theo quy định của pháp luật Người quản lý doanh nghiệp DV kế toán phải có chứng chỉ hành nghề kế toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy

định tại điều 57 của Luật này

- Cá nhân hành nghề kế toán phải có chứng chỉ hành nghề kế toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định tại điều 57 của Luật này và phải có

Trang 21

Điều 56 chương IV quy định về thuê làm kế toán, kế toán trởng

- Đơn vị kế toán được ký hợp đồng với doanh nghiệp DV kế toán hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh DV kế toán để thuê làm kế toán hoặc thuê làm kế toán trưởng theo quy định của pháp luật

Điều 57 chương IV quy định về chứng chỉ hành nghề kế toán

Công dân Việt Nam được cấp chứng chỉ hành nghề kế toán phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau:

- Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật…;

- Có chuyên môn, nghiệp vụ về tài chính, kế toán từ trình độ đại học trở lên và thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán từ năm năm trở lên;

- Đạt kỳ thi tuyển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức [5]

* Quyết định số 43/2004/QĐ-BTC ngày 26/4/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành “Quy chế về tổ chức bồi dưỡng và cấp chứng chỉ kế toán trưởng” quy định những đơn vị sau được quyền tổ chức khóa học bồi dưỡng kế toán trưởng:

- Học viện tài chính, các trường cao đẳng kinh tế, tài chính, kế toán thuộc Bộ Tài chính;

- Các học viện, các trường đại học và cao đẳng có chuyên ngành đào tạo về tài chính, kế toán, kiểm toán;

- Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam;

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các tổng công ty và Sở Tài chính các tỉnh được kết hợp với các đơn vị được quy định trên để tổ chức các khóa bồi dưỡng kế toán trưởng cho Bộ, ngành, địa phương

Các đơn vị được quyền tổ chức khóa học bồi dưỡng kế toán trưởng được cấp Chứng chỉ bồi dưỡng kế toán trưởng…

1.2.2.2 Hoạt động kinh doanh DV kiểm toán

Như mục 1.2.1.1 đã đề cập trong 3 hình thức tổ chức hoạt động kiểm toán hiện nay ở Việt Nam về cơ bản chỉ có hoạt động kiểm toán độc lập đúng tính chất

là các hoạt động dịch vụ

Hiện nay, tổ chức và hoạt động kiểm toán độc lập được quy định trong Nghị

định 105/NĐ-CP/2004 của Chính phủ:

Điều 13 Chương II Nghị định 105/NĐ-CP/2004 quy định về tiêu chuẩn Kiểm

toán viên (kiểm toán viên trong kiểm toán độc lập):

- Kiểm toán viên phải có các tiêu chuẩn sau:

- Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật…;

- Có bằng cử nhân chuyên ngành Kinh tế – Tài chính – Ngân hàng hoặc chuyên ngành Kế toán – Kiểm toán và thời gian công tác thực tế về tài chính, kế

Trang 22

toán từ 5 năm trở lên hoặc thời gian làm trợ lý kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm toán

từ 4 năm trở lên;

- Có chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp

- Những người có chứng chỉ chuyên gia kế toán hoặc chứng chỉ kế toán, kiểm toán do tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế về kế toán, kiểm toán cấp, được

Bộ Tài chính thừa nhận thì phải đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật kinh tế, tài chính,

kế toán Việt Nam do Bộ Tài chính tổ chức và được Bộ trưởng Bộ tài chính cấp chứng chỉ kiểm toán viên thì được công nhận là kiểm toán viên

Điều 14 chơng II quy định điều kiện của kiểm toán viên hành nghề:

- Người Việt Nam có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là kiểm toán viên hành nghề và được đăng ký hành nghề kiểm toán độc lập

- Có đủ tiêu chuẩn kiểm toán viên;

- Có hợp đồng làm việc trong một doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật…

Điều 20 chương III quy định về doanh nghiệp kiểm toán:

Doanh nghiệp kiểm toán được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật theo các hình thức: Công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam…

nghiệp kiểm toán:

- Doanh nghiệp kiểm toán chỉ được thành lập khi có ít nhất 3 kiểm toán viên

có chứng chỉ hành nghề kiểm toán, trong đó ít nhất có một trong những người quản

lý doanh nghiệp kiểm toán phải là kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề

- Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp kiểm toán phải thường xuyên đảm bảo có ít nhất 3 kiểm toán viên hành nghề Sau 6 tháng liên tục doanh nghiệp kiểm toán không bảo đảm điều kiện này thì phải ngừng cung cấp dịch vụ kiểm toán [11]

* Thông tư số 64/2004/TT-BTC ngày 29 tháng 6 năm 2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 105/2004/NĐ-CP có một số điểm

đáng chú ý sau:

- Đơn vi được kiểm toán có quyền chọn doanh nghiệp kiểm toán và chọn kiểm toán viên có đủ điều kiện hành nghề tại Việt Nam theo quy định của Nghị định 105/2004/NĐ-CP để ký hợp đồng cung cấp dịch vụ kiểm toán, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

- Đơn vị được kiểm toán không được chọn các doanh nghiệp kiểm toán đang hoạt động nhưng không có đủ 3 kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán không đủ điều kiện hoạt động kiểm toán, hoặc kiểm toán viên không có trong danh sách đăng lý hành nghề được Bộ Tài chính xác nhận để ký hợp đồng cung cấp dịch

Trang 23

- Doanh nghiệp kiểm toán chỉ được cung cấp dịch vụ kiểm toán khi: Có đủ

điều kiện hành nghề kiểm toán; có danh sách kiểm toán viên đăng ký hành nghề có xác nhận của Bộ Tài chính…

1.2.2.3 Hoạt động kinh doanh DV tài chính quản trị

Nh phần 1.2.1.3 đã đề cập DV quản trị tài chính là bao gồm DV cung cấp chuyên gia về quản trị tài chính và DV tư vấn về quản trị tài chính Hiện nay chưa

có văn bản pháp quy nào điều chỉnh về hoạt động DV cung cấp chuyên gia về quản trị tài chính nhưng DV tư vấn về quản trị tài chính là một trong những loại hình DV tư vấn và nó được điều chỉnh bởi Nghị định 87/2002/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt

động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn

- Có trụ sở và phương tiện làm việc

- Có ít nhất là 02 người có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 của điều này

2 Đối với cá nhân:

- Có trình độ cao đẳng, đại học trở lên thuộc lĩnh vực hành nghề tư vấn hoặc

có chứng chỉ hành nghề tư vấn trong trường hợp pháp luật có quy định;

- Có tư cách đạo đức tốt;

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

- Không ở trong tình trạng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị

áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực hành nghề tư vấn;

- Phải hoạt động trong một tổ chức tư vấn nhất định

3 Cán bộ, công chức được phép tham gia cung ứng dịch vụ tư vấn trong trường hợp sự tham gia đó không trái với pháp lệnh công chức

học và công nghệ hoặc các tổ chức khác có từ 2 người trở lên có trình độ từ đại học hoặc cao đẳng về kinh tế, tài chính là có thể tổ chức các DV về quản trị tài chính

1.3 một số vấn đề về cơ chế tự chủ và hoạt động dv của các

ĐVSN NCKH và Đào Tạo công lập

1.3.1 Tổng quan về hoạt động của ĐVSN NCKH và đào tạo công lập

Các ĐV NCKH và đào tạo công lập là những ĐVSN công lập được thành lập một cách độc lập, hoặc trực thuộc các bộ ngành, các địa phương Hoạt động của các đơn vị này là tổ chức thực hiện, quản lý các hoạt động khoa học như nghiên cứu khoa học cơ bản; nghiên cứu lý luận, thực tiễn và chiến lược phát triển của nền

Trang 24

kinh tế, của các ngành các cấp và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao kiến thức cho cán bộ – công chức, viên chức trong ngành của mình

Kế hoạch và nhiệm vụ hoạt động của các đơn vị này hoàn toàn do Nhà nước hoặc do các ngành, các cấp chủ quản giao sau khi đã đăng ký và được Bộ Khoa học

và Công nghệ hoặc Bộ Nội vụ chấp nhận

Biên chế của các đơn vị này do các ngành, các bộ chủ quản phân bổ trên cơ sở thống nhất với Bộ nội vụ

Trong thời kỳ bao cấp và kế hoạch hóa tập trung trước đây, các đơn vị dù có hay không có nguồn thu sự nghiệp, toàn bộ kinh phí hoạt động bao gồm cả kinh phí thường xuyên và không thường xuyên đều do NSNN cấp theo kế hoạch của Bộ chủ quản sau khi được sự chấp thuận của Bộ Tài chính Các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đều phải nộp vào NSNN Lương và các chế độ khác được hưởng theo quy

định của Nhà nước

Các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập là nơi tập trung nhiều cán bộ khoa học

có trình độ cao, đồng thời được Nhà nước đầu tư nhiều trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với quy mô khá lớn và tương đối hiện đại Trong những năm qua, các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập đã có đóng góp đáng kể vào phục vụ công tác quản lý nhà nước, nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo bồi dưỡng cán bộ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tê – xã hội của đất nước Tuy nhiên cũng còn nhiều

ĐVSN NCKH và đào tạo công lập hoạt động kém hiệu quả, chưa thực sự làm đúng chức năng của mình và chưa phát huy được những tiềm năng về đội ngũ khoa học

và cơ sở vật chất hiện có Nhìn chung các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập chưa

có được sự phát triển tương xứng với sự đầu tư của nhà nước và chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu hướng phát triển kinh tế tri thức trên thế giới

Có thể thấy rõ một số mặt hạn chế của các các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập như sau:

vị hoặc nhu cầu dịch vụ của xã hội và có nguồn để trả lương nhưng phải chờ cơ

Trang 25

đào tạo công lập, không tạo được đông lực và sức ép đối với cán bộ khoa học, công nghệ vươn lên trong công tác

b Về tổ chức hoạt động NCKH, đào tạo và các hoạt động sự nghiệp khác

Kế hoạch hoạt động hàng năm của các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập do cơ quan chủ quản phê duyệt, quyết định Điều này đã không phát huy được tính tích cực chủ động các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập, vì vậy đã kìm hảm sự phát triển năng động và sáng tạo của các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập Cơ chế bao cấp đã tạo thói quen thụ động, trông chờ và ỷ lại của các ĐVSN NCKH và

đào tạo công lập Tuy nhiên trên thực tế, nhiều các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập đã phá rào tự quyết định làm DV để tạo điều kiện tăng thu nhập cho cán bộ – viên chức trong đơn vị Đây là một thực tế bức xúc đồi hỏi phải đổi mới cơ chế hoạt động của các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập

c Chế độ tài chính của các các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập

Trước khi có chính sách về tự chủ tài chính, tự chủ hoạt động của Nhà nước,

về cơ bản kinh phí hoạt động của các các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập do NSNN cấp, nhưng số lượng kinh phí rất hạn chế Một số đơn vị khác có thêm nguồn thu sự nghiệp nhưng cơ chế chi tiêu bị ràng buộc bởi các quy định chặt chẽ theo các khoản thu chi ngân sách cố định và cứng nhắc Kinh phí cuối năm không chi tiêu hết phải trả lại cho NSNN Trong khi đó thực trạng tiền lương theo quy

định của Nhà nước lại rất thấp, hoàn toàn bất cập với nhu cầu thực tế của bản thân

và gia đình cán bộ – công chức Tình trạng này một mặt không khuyến khích các các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập chủ động khai thác, tận dụng hết nguồn thu

sự nghiệp để cải thiện thu nhập cho cán bộ – viên chức, tăng kinh phí hoạt động khoa học Mặt khác lại không khuyến khích các ĐVSN NCKH và ĐT công lập tiết kiệm chi tiêu, giảm gánh nặng cho NSNN

1.3.2 Cơ chế tự chủ tài chính và điều kiện phát triển hoạt động dịch vụ

của các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập

Để tháo gỡ và khắc phục một phần những vướng mắc của các ĐVSN nói chung và ĐVSN NCKH và đào tạo công lập nói riêng, tạo cơ sở pháp lý và khuyến khích các đơn vị tiết kiệm chi, mở rộng các nguồn thu sự nghiệp bao gồm cả các hoạt động dịch vụ, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp quy như sau:

1.3.2.1 Nghị định 10/NĐ-CP/2002 của Chính phủ về chế độ tự chủ tài chính áp dụng cho các ĐVSN có thu

A, Một số nội dung liên quan đến cơ chế tự chủ về tài chính và khuyến khích

hoạt động dịch vụ như sau:

- Các ĐVSN có thu được tự chủ về tài chính, được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do NSNN đối

Trang 26

với ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí theo định kỳ 3 năm và hàng năm được tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định

- Các ĐVSN có thu được vay tín dụng ngân hàng hoặc Quỹ hỗ trợ quốc gia để

mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức sản xuất cung ứng dịch vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật

- ĐVSN có thu quản lý, sử dụng tài sản theo quy định đối với đơn vị hành chính sự nghiệp Đối với tài sản cố định sử dụng vào sản xuất, cung ứng dịch vụ

đơn vị thực hiện khấu hao thu hồi vốn theo chế độ áp dụng cho doanh nghiệp Nhà nước Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu do thanh lý tài sản thuộc nguồn NSNN được để lại đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị của đơn vị

- ĐVSN có thu được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu chi của hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ; mở tài khoản tại kho bạc để phản ánh khoản kinh phí thuộc NSNN

- ĐVSN có thu được sử dụng số biên chế được cấp có thẩm quyền giao, sắp xếp và quản lý lao động phù hợp với chức năng nhiệm vụ của đơn vị theo pháp lệnh công chức và chủ trương tinh giảm biên chế của Nhà nước

- ĐVSN có thu được thực hiện chế độ hợp đồng theo quy định của bộ luật lao

động, thực hiện theo quy định hiện hành và những quy định của nghị định này

- ĐVSN hoạt động sản xuất, cung ứng DV có thu chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ với NSNN và được quyền lợi về miễn giảm thuế theo quy định hiện hành

Nguồn thu của ĐVSN công lập theo nghị định 10/CP ngoài nguồn NSNN cấp

cho những hạng mục kinh phí như: Kinh phí hoạt động thường xuyên (đối với ĐV

tự bảo đảm một phần chi phí); kinh phí thực hiện các đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp ngành…; kinh phí thanh toán cho các ĐV để thực hiện các nhiệm vụ của nhà

nước đặt hàng…; vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục

vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm; vốn đối ứng cho các dự

án được cấp có thẩm quyền phê duyệt

ĐVSN còn được thu từ những nguồn thu sự nghiệp sau:

- Phần được để lại từ số phí, lệ phí thuộc NSNN do đơn vị thu theo quy định Mức thu phí, lệ phí và tỷ lệ nguồn thu được để lại ĐV sử dụng theo quy định của Nhà nước

- Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng DV, mức thu các hoạt động này do thủ trưởng ĐV quyết định theo nguyên tắc bảo đảm đảm bù đắp chi phí và có tích lũy

- Các nguồn thu sự nghiệp khác theo quy định của Pháp luật (nếu có)

- Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật như viên trợ, vay nợ, quà biếu, tặng (nếu có)

Trang 27

Về chi: Ngoài những hạng mục chi theo quy định của Nhà nước như: Chi hoat

động thường xuyên theo chức năng nhiệm vụ…; chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, ngành và cơ sở; chương trình mục tiêu quốc gia…; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quy định; chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định; chi đầu tư phát triển gồm chi

đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị, chi thực hiện các dự án đầu tư

theo quy định…ĐVSN còn được chi cho các hoạt động SX và DV theo hợp đồng

thỏa thuận

- Đồng thời Nghị định cũng quy định thủ trưởng các ĐVSN được quyết định mức chi quản lý, chi nghiệp vụ cao hơn định mức chi do Nhà nước quy định theo nội dung và hiệu quả công việc trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng

Đặc biệt để khuyến khích ĐVSN tăng thu giảm chi, thực hiện tinh giảm biên chế, tạo điều kiện tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm

vụ được giao, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách, Nghị định quy định thủ trưởng ĐVSN được xác định quỹ tiền lương, tiền công của đơn vị như sau:

- Đối với ĐVSN có thu tự bảo đảm chi phí: hệ số điều chỉnh tăng thêm mức lương tối thiểu không quá 2,5 lần so với mức tiền lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định

- Đối với ĐVSN có thu bảo đảm một phần chi phí: hệ số điều chỉnh tăng thêm mức lương tối thiểu không quá 2 lần so với mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định

- Trong phạm vi tổng quỹ tiền lương, tiền công được xác định theo mức trên, sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn và được công khai trong đơn vị, thủ trưởng đơn vị quyết định việc chi trả tiền lương, tiền công theo chất lượng và hiệu quả công việc trên nguyên tắc người nào, bộ phận nào có thành tích, có đóng góp làm tăng thu, tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thì được trả tiền lương, tiền công cao hơn

- ĐVSN có thu hàng năm sau khi trang trải toàn bộ chi phí hoạt động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với NSNN theo quy định của pháp luật; số chênh lệch giữa phần thu (sau khi loại trừ kinh phí nghiên cứu khoa học, chương trình mục tiêu quốc gia; các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; kinh phí tinh giản biên chế; vốn đầu tư xây dựng cơ bản; vốn đối ứng của ngân sách nhà nước; vốn vay, viện trợ) và phần chi tương ứng, đơn vị được trích lập 3 quỹ như một doanh nghiệp nhà nước và trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp sau khi đã trích lập 3 quỹ nêu trên

ĐVSN được sử dụng các quỹ vào những mục đích sau:

- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để bảo đảm thu nhập cho người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút

Trang 28

- Quỹ khen thưởng được dùng để khen thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể cá nhân theo kết quả công tác và thành tích đóng góp Thủ trưởng ĐVSN quyết định việc chi quỹ khen thưởng sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn đơn vị

Quỹ phúc lợi dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động kể cả những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức Chi thêm cho người lao động trong biên chế khi thực hiện giảm biên chế Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng quỹ phúc lợi khi thống nhất với tổ chức công đoàn

Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt

động sự nghiệp; bổ sung vốn đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm máy móc thiết bị, nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; trợ giúp đào tạo thêm;

đào tạo, huấn luyện nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ, viên chức trong đơn vị Việc sử dụng quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp vào các mục đích trên do Thủ trưởng ĐVSN quyết định theo quy định của pháp luật

B, Đánh giá những tác động tích cực và những hạn chế của Nghị định

10/2002/NĐ-CP đến phát triển hoạt động sự nghiệp và DV của các ĐVSN công lập

Từ khi Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ được ban hành, hoạt động của các ĐVSN mà cụ thể là các ĐVSN có thu đã có những chuyển biến tích cực sau:

Thứ nhất, các ĐVSN có thu đã chủ động mở rộng và đa dạng hóa các hình

thức dịch vụ:

Các ĐVSN có thu khi chuyển sang thực hiện Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ đã được tự chủ về tài chính, đại bộ phận được khoán kinh phí phần ngân sách cấp, đồng thời tích cực khai thác các nguồn thu sự nghiệp,

mở rộng và đa dạng hoá các hình thức DV, được chủ động sử dụng các nguồn kinh phí tuỳ theo yêu cầu hoạt động của đơn vị, bảo đảm chi tiêu có hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quy chi tiêu nội bộ do đơn vị tự xây dựng Kết quả cho thấy tình hình tài chính của các ĐVSN có thu đã được cải thiện trên một số mặt sau:

Đã khai thác, mở rộng được hoạt động dịch vụ để tăng nguồn thu sự nghiệp: + Sau khi được giao quyền tự chủ về tài chính, các đơn vị đã chủ động và tích cực khai thác nguồn thu: các trường đào tạo đã tổ chức nhiều hình thức đào tạo như: đào tạo chính quy, không chính quy; đào tạo tập trung và đào tạo từ xa; tổ chức liên kết đào tạo với nước ngoài, mời chuyên gia nước ngoài vào mở lớp đào tạo hoặc gửi đi đào tạo tại nước ngoài; các ĐVSN khoa học thực hiện nghiên cứu ứng dụng triển khai; thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học với đơn vị trong

và ngoài nước; triển khai loại hình chuyển giao công nghệ, đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh

Trang 29

Về tiết kiệm chi: Đồng thời với việc tăng thu, khai thác nguồn thu, các ĐVSN

đã áp dụng giải pháp tích cực để tiết kiệm chi, như xây dựng quy trình giải quyết công việc hợp lý, xây dựng các tiêu chuẩn định mức chi phí, định mức tiêu hao nguyên vật liệu hợp lý hơn Việc xây dựng và ban hành quy chế chi tiêu nội bộ đã tạo điều kiện cho các ĐVSN chủ động sử dụng kinh phí sát với nhu cầu công việc

từ đó đã thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tạo nguồn tăng thu nhập cho người lao

động

Thứ hai: Tăng thêm thu nhập cho người lao động

Các ĐVSN có thu khi chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ, ngoài việc bảo đảm tiền lương cơ bản theo cấp bậc chức vụ do Nhà nước quy định; các đơn vị đều đã có nguồn thu nhập tăng thêm cho người lao động tuy còn ở mức khác nhau tuỳ theo khả năng thu, tiết kiệm và kết quả tài chính trong năm của đơn vị

Việc trả thu nhập tăng thêm đã từng bước giải quyết khó khăn về đời sống cho người lao động trong khi khả năng ngân sách chưa giải quyết được

Việc trả thu nhập tăng thêm về cơ bản đã thực hiện nguyên tắc người nào có thành tích cao hơn sẽ được trả thu nhập tăng thêm cao hơn Ví dụ như: Trường Cao

đẳng Công nghiệp Hà Nội trả thu nhập tăng thêm cao nhất là 6.500.000 đồng/ người/ tháng gấp 7,2 lần lương cấp bậc, chức vụ bình quân Trường Đại học Kinh tế quốc dân có mức trả cho cá nhân cao nhất là 6.029.000đồng/người/tháng, gấp 7 lần lương cấp bậc chức vụ

Mặt khác các đơn vị cũng đã tạo được nguồn để thực hiện chế độ tiền lương mới: Chỉ tính riêng các ĐVSN do Trung ương quản lý trong đợt thực hiện cải cách tiền lương năm 2003 khi có quyết định nâng mức lương tối thiểu từ 210.000

đồng/tháng lên 290.000 đồng/ tháng, kinh phí cần thiết để thực hiện chế độ tiền lương mới là 361 tỷ đồng nhưng các ĐVSN đã tự bảo đảm từ nguồn thu của mình

được 336,4 tỷ đồng (chiếm 93,2%), NSNN chỉ phải bổ sung thêm 24,6 tỷ đồng

Thứ ba: Việc giao quyền tự chủ cho ĐVSN có thu là bước quan trọng nhằm

phân biệt rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính và ĐVSN, đã làm thay

đổi phương thức quản lý đối với ĐVSN Một số biểu hiện cụ thể như sau:

- Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002, các Bộ và các địa phương đã rà soát lại chức năng nhiệm vụ của các ĐVSN Phân biệt cơ quan hành chính có chức năng quản lý nhà nước, ĐVSN có chức năng cung cấp dịch vụ công, từ đó đưa ra cơ chế quản lý phù hợp với từng lĩnh vực, xoá bỏ tình trạng “hành chính hoá” các hoạt động sự nghiệp

- Các cơ quan quản lý nhà nước đã có sự thay đổi theo hướng giao quyền tự chủ về quản lý biên chế, lao động, hoạt động chuyên môn, quản lý tài chính cho

Trang 30

ĐVSN, từng bước thực hiện không làm thay và không can thiệp sâu vào hoạt động nội bộ của đơn vị

- Đã cho phép các ĐVSN có thu được quyết định các mức thu SX và DV theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ; được xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, được quyết định một số mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nước quy định cho phù hợp với đặc thù của đơn vị

Thứ tư: Việc giao quyền tự chủ cho ĐVSN có thu đã thúc đẩy ĐVSN sắp xếp

tổ chức bộ máy, biên chế và thực hiện hợp đồng lao động theo hướng tinh gọn, hiệu

quả: Để nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ, các ĐVSN được chủ động xây dựng

phương án tổ chức theo hướng tinh gọn, giảm những phòng ban có chức năng trùng lặp, chồng chéo; xây dựng cơ cấu, tiêu chuẩn chức danh, nhằm nâng cao trình độ

về chuyên môn, ngoại ngữ tin học cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức Chủ

động ký kết các hợp đồng lao động phù hợp với khối lượng công việc và khả năng nguồn tài chính, giảm áp lực về biên chế, tháo gỡ khó khăn cho đơn vị có nhu cầu

lao động lớn nhưng được giao biên chế thấp

Thứ năm: Việc giao quyền tự chủ về tài chính cho các ĐVSN có thu đã góp

phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sự nghiệp công:

Cơ chế tự chủ đối với ĐVSN đã nâng cao trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị trong việc tổ chức công việc, sử dụng lao động và các nguồn tài chính của đơn vị, cơ chế tự chủ về tài chính đã tạo môi trường và động lực nâng cao chất lượng các hoạt động sự nghiệp ngày càng tốt hơn, chất lượng cung ứng các dịch vụ, đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng cao Báo cáo đầy đủ kết quả tài chính với Nhà nước; hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng lập hai hệ thống sổ sách, dấu nguồn thu, lập báo cáo tài chính với Nhà nước không đày đủ như trước đây

Các ĐVSN có thu thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính đã khuyến khích hỗ trợ kinh phí cho cán bộ, viên chức học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thông qua việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ để mọi người cùng tham gia thực hiện, công khai trả thu nhập tăng thêm cho người lao động

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, Nghị định 10/2002/NĐ-CP

ngày 16/01/2002 của Chính phủ vẫn còn một số hạn chế như sau:

- Thứ nhất, Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ mới

quy định cơ chế tự chủ đối với ĐVSN có thu, qua triển khai thực hiện cho thấy các

đơn vị có nguồn thu lớn đều hưởng ứng tích cực chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính để phát huy được những khả năng và lợi thế của mình (Lợi thế về mặt bằng, tài sản, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực có sẵn, lợi thế về nguồn thu sự nghiệp lớn như: thu phí, lệ phí, viện phí, học phí do nhà nước quy định ) để tăng thu nhập

Trang 31

hoặc không có lợi thế về phát triển DV thì không muốn chuyển đổi theo cơ chế mới vì còn e ngại số kinh phí ngân sách bảo đảm sẽ bị cắt giảm, số thu nhập không giải quyết được mục tiêu nâng cao thu nhập cho người lao động;

- Thứ hai, Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ mới

quy định cơ chế tự chủ về tài chính, còn tự chủ về tổ chức sắp xếp nhiệm vụ; tự chủ

về sắp xếp bộ máy, biên chế và lao động chưa được quy định cụ thể; chưa có quy

định về phân cấp thẩm quyền thành lập các tổ chức trực thuộc ĐVSN, chưa cho phép đơn vị được cử cán bộ, viên chức đi học tập khảo sát trong nước và nước ngoài cũng như việc mời các chuyên gia trong và ngoài nước đến hợp tác nghiên cứu trao đổi giảng dạy; Thủ trưởng ĐVSN chưa có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm,

điều động kỷ luật cán bộ công chức thuộc đơn vị quản lý nên các ĐVSN chưa phát huy được quyền tự chủ thực sự trong hoạt động của mình Vì vậy, việc thực hiện cơ chế tự chủ riêng về tài chính chưa đủ điều kiện để đơn vị thực hiện một cách đầy

đủ, thực sự quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; chưa tạo đủ động lực để thúc đẩy phần lớn các ĐVSN, đặc biệt là các ĐVSN chưa có nguồn thu sự nghiệp, phát huy nội lực phát triển các hoạt động DV tăng thêm nguồn thu cho đơn vị, cải thiện đời sống cho cán bộ – viên chức, tiết kiệm cho NSNN

Để khắc phục được những hạn chế của Nghị định 10/2002/NĐ-CP, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của của ĐVSN công lập:

1.3.2.2 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy

định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ may, biên chế và tài chính đối với ĐVSN công lập

* Phạm vi đối tượng điều chỉnh:

Nghị định này quy định quyền tự chủ, tự chịu trấch nhiệm về thực hiện nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các ĐVSN công lập (gọi tắt là

ĐVSN) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập

Đơn vị thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm…phải là đơn vị dự toán

độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của luật kế toán…

* Mục tiêu thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm…

- Trao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm…cho ĐVSN trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động

Trang 32

- Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy

động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN

- Phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với ĐVSN với cơ chế quản lý nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước

Và một số mục tiêu khác

* Nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm…

- Hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ

được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị

-Thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật

- Thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản

lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quy định của mình; đồng thời tự chịu kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quỳên

- Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật

* Một số điểm cơ bản về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và điều kiện phát

triển hoạt động DV của các ĐVSN công lập

I Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và sử dụng cán bộ, viên chức, người lao động

a Về tổ chức bộ máy: ĐVSN được thành lập, sáp nhập và giải thể các tổ

chức sự nghiệp trực thuộc để hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ

được giao; phù hợp với phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy và biên chế và tự đảm bảo kinh phí hoạt động (trừ những ĐVSN

mà pháp luật quy định thẩm quyền này thuộc về Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,

Bộ trưởng bộ quản lý ngành, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh)

b Về biên chế và sử dụng cán bộ, viên chức người lao động

- Đối với ĐVSN tự bảo đảm chi phí hoạt động, được tự quyết định biên chế

Đối với ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và ĐVSN do NSNN bảo

đảm toàn bộ chi phí hoạt động, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, nhu cầu công việc thực tế, định mức chỉ tiêu biên chế và khả năng tài chính của đơn vị, Thủ trưởng đơn vị xây dựng kế hoạch biên chế hành năm gửi cơ quan chủ quản trực tiếp

để tổng hợp giải quyết theo thẩm quyền

- Thủ trưởng đơn vị được quyết định ký hợp đồng thuê, khoán công việc đối với những công việc không cần thiết bố trí biên chế thường xuyên; ký hợp đồng và các hình thức hợp tác khác với chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước để

đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị

Trang 33

- Các ĐVSN trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quyết định mời chuyên gia nước ngoài đến làm việc chuyên môn, quyết định cử viên chức của đơn

vị đi công tác, học tập ở nước ngoài để nâng cao trình độ chuyên môn, được các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục xuất, nhập cảnh theo quy định của pháp luật

II Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ

Đơn vị sự nghiệp thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xác

định nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động gồm

a Đối với nhiệm vụ Nhà nước giao hoặc đặt hàng, đơn vị được chủ động quyết định các biện pháp thực hiện để đảm bảo chất lượng, tiến độ

b Đối với các hoạt động khác, đơn vị được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

III Tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính

- ĐVSN có các hoạt động dịch vụ phải đăng ký, kê khai, nộp đủ các loại thuế

và các khoản khác (nếu có), được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật

- ĐVSN có hoạt động dịch vụ được vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật

- Đơn vị thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại ĐVSN Đối với tài sản cố

định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Số tiền trích khấu hao tài sản cố

định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN đơn vị được để lại bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

Để quy định quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính phù hợp với nguồn thu sự nghiệp với từng loại đơn vị, Nghị định đã quy định cách phân loại và tiêu chí phân loại ĐVSN Về cơ bản có ba loại ĐVSN: ĐVSN tự bảo đảm chi phí hoạt

động; ĐVSN tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động; ĐVSN có nguồn thu sự nghiệp thấp và ĐVSN không có nguồn thu, kính phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động gọi chung là

ĐVSN do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động (vì Trung tâm KH và BDCB là một ĐVSN chưa có nguồn th sự nghiệp nên trong phần sau chỉ đề cập tới loại

ĐVSN do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)

Trang 34

Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với ĐVSN do NSNN bảo

đảm toàn bộ kinh phí hoạt động

(1) Nguồn tài chính

a Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, gồm:

- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ

được giao; được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán

được cấp có thẩm quyền giao

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải tổ chức khoa học và công nghệ);

- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ viên chức;

- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao;

- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);

- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;

-Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Kinh phí khác( nếu có);

b Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp gồm:

- Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật;

- Thu từ hoạt động dịch vụ;

- Thu khác (nếu có);

c Nguồn viện trợ tài trợ, quà biếu, tặng cho theo quy định của pháp luật

d Nguồn khác theo quy định của pháp luật (nếu có)

(2) Nội dung chi

a Chi thường xuyên gồm:

- Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao;

- Chi hoạt động phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí;

- Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả cấc khoản chi thực hiện nghĩa vụ với NSNN, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định chi trả vốn, trả lãi, tiền vay theo quy định của pháp luật);

b Chi không thường xuyên, gồm:

- Chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ;

Trang 35

- Chi thực hiên chương trình mục tiêu quốc gia;

- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài;

- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

- Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);

- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố

định thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ ngoài nước;

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật (nếu có)

(3) Tự chủ về các khoản thu, mức thu

- Đối với ĐVSN được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ theo mức thu, đối tượng thu do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền quy định

- Đối với những hoạt động DV theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ

(4) Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính

Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên theo quy định Nghị định này, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Căn cứ tính chất công việc thủ trưởng đơn vị được quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc

Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa mới tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật và quy định tại Nghị định này

(5) Tiền lương, tiền công, thu nhập và sử dụng kinh phí tiết kiệm được từ

khoản chênh lệch thu lớn hơn chi

- ĐVSN phải bảo đảm chi trả tiền lương cho người lao động theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định;

- Nhà nước khuyến khích ĐVSN tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giản biên chế, tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện nghĩa vụ đầy đủ với NSNN

- Hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần kinh phí tiết kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi của hoạt động dịch vụ (nếu có) đơn vị được sử dụng theo trình tự sau:

+ Chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy định

Trang 36

+ Chi khen thưởng cho tập thể cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng cụ thể do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

+ Chi phúc lợi trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức, chi thêm cho người lao động trong biên chế Mức chi cụ thể do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị + Chi tăng cường cơ sở vật chất của đơn vị

+ Đối với ĐVSN xét thấy khả năng tiết kiệm kinh phí không ổn định, có thể lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để bảo đảm thu nhập ổn định cho người lao

động

- Việc chi trả thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc: Người nào có hiệu suất công tác cao, đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi được trả nhiều hơn Thủ trưởng đơn vị chi trả thu nhập theo quy chế chi tiêu của đơn vị

- Khi Nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu; khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế độ Nhà nước quy định

được bảo đảm từ các nguồn theo quy định của Chính phủ để bảo đảm mức tiền lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định

Quy định chung: ĐVSN không được chi trả thu nhập tăng thêm từ các nguồn

kinh phí do NSNN để thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ viên chức; thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; thực hiện các nhiệm vụ và nhiệm vụ

đột xuất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao; thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có); vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm; vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp

có thẩm quyền phê duyệt và các kinh phí khác (nếu có) Các khoản kinh phí này nếu thực hiện không hết phải chuyển tiếp sang năm sau thực hiện

III Một số điểm cơ bản về lập, chấp hành dự toán thu chi của ĐVSN

Việc lập dự toán, chấp hành dự toán thu chi NSNN đối với các ĐVSN thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và quy định của Luật này

(1) Lập dự toán của ĐVSN

- ĐVSN lập dự toán của năm đầu thời kỳ ổn định phân loại ĐVSN

- ĐVSN lập dự toán 2 năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định phân loại ĐVSN (2) Giao dự toán và thực hiện dự toán

a Giao dự toán thu, chi

- Bộ chủ quản (đối với ĐVSN trực thuộc trung ương); cơ quan chủ quản địa

Trang 37

ngân sách năm đầu thời kỳ ổn định phân loại cho ĐVSN, trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp

- Hàng năm trong thời kỳ ổn định phân loại ĐVSN, cơ quan chủ quản quyết

định giao dự toán thu chi cho ĐVSN Trong đó kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên theo mức năm liền kề và kinh phí tăng thêm hoặc giảm theo quy định của cấp có thẩm quyền trong phạm vi dự toán thu chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp

b Thực hiện dự toán thu, chi

- Đối với kinh phí chi hoạt động thường xuyên trong quá trình thực hiện, đơn

vị được điều chỉnh các nội dung chi, các nhóm mục chi trong dự toán chi được cấp

có thẩm quyền giao cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị Kết thúc năm ngân sách, kinh phí do ngân sách chi hoạt động thường xuyên và các khoản thu sự nghiệp chưa sử dụng hết, đơn vị được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng

- Đối với kinh phí chi cho hoạt động không thường xuyên thực hiện theo quy

định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn hiện hành

IV Trách nhiệm của Thủ trưởng ĐVSN và Bộ trưởng các Bộ và UBND

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

a Thủ trưởng ĐVSN

Để thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm, Thủ trưởng ĐVSN phải xây dựng phương án thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định tại Nghị định này và báo cáo cơ quan cấp trên

Xây dựng và thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính

Và một số công việc khác liên quan đến việc sử dụng cán bộ, viên chức; hạch toán kế toán, thống kê, quản lý tài sản; thực hiện quy chế dân chủ, công khai tài chính…

b Trách nhiệm của các Bộ trưởng, cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh…

- Quy định chức năng nhiệm vụ đối với ĐVSN trực thuộc

- Quyết định giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với ĐVSN trực thuộc

- Phê duyệt kế hoạch biên chế đối với ĐVSN tự bảo đảm một phân chi phí hoạt động, ĐVSN do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động

- Quy định phân cấp về quyền tự chủ, tự chịu về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính làm căn cứ cho các ĐVSN thực hiện

- Xây dựng ban hành các tiêu chuẩn, định mức chi, định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá các sản phẩm nhà nước đặt hàng theo quy định

Trang 38

- Xây dựng tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao

đối với ĐVSN…

Ngoài ra, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày

05 tháng 9 năm 2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Đối tượng áp dụng của Nghị định là các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghê, tổ chức dịch

vụ khoa học và công nghệ có tư cách pháp nhân, có con đấu và tài khoản riêng, do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập

Về cơ bản, mục tiêu, nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập là tương tự Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của của ĐVSN công lập Tuy nhiên về nội dung thu, nội dung chi, Nghị định này quy định phù hợp với

đặc thù hoạt động khoa học và công nghệ

Tóm lại, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy

định quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho các ĐVSN và Nghị định CP/2005 quy định quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng đã tháo gỡ rất nhiều cho các ĐVSN và các tổ chức khoa học và công nghệ công lập so với Nghị định 10/2002/NĐ-CP trong phát triển hoạt động sự

115/NĐ-nghiệp, hoạt động DV và nâng cao thu nhập cho người lao động Thứ nhất, không

những chỉ có những ĐVSN có thu mới được thực hiện cơ chế tự chủ và phát triển hoạt động DV mà cả những ĐVSN chưa có nguồn thu sự nghiệp hoặc nguồn thu sự nghiệp thấp cũng được thực hiện cơ chế tự chủ và phát triển hoạt động DV để nâng

cao thu nhập cho người lao động; thứ hai, ĐVSN không những được thực hiện tự

chủ về tài chính mà còn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về bộ máy tổ chức, biên chế và

quyền sử dụng cán bộ, viên chức, người lao động; thứ ba, ĐVSN nếu thực hiện tự

chủ về tài chính được quyền chủ động trả thu nhập tăng thêm cho người lao động

mà không bị giới hạn ở mức quy định như Nghị định 10/2002/NĐ-CP ĐVSN chưa

có nguồn thu sự nghiệp tuy được NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, nhưng nếu tiết kiệm chi và có thu nhập tăng thêm từ hoạt động dịch vụ, thủ trưởng ĐVSN

có thể quyết định trả tăng thêm thu nhập cho người lao động bằng 2 lần so với lương tối thiểu do Nhà nước quy định

Với những quy định này của Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 115/2006/NĐ-CP, quyền quyết định của Thủ trưởng ĐVSN là rất lớn, tuy nhiên trách nhiệm cũng rất nặng nề, đặc biệt là đối với những ĐVSN chưa có hoặc có nguồn thu sự nghiệp không đáng kể Trong thời gian tới, để hoàn thành tốt nhiệm

vụ chuyên môn, nâng cao thu nhập cho người lao động, định hướng phát triển hoạt

động và hoạt động DV của ĐVSN là như thế nào, sắp xếp bộ máy tổ chức ra sao,

Trang 39

chi ra sao đó là những vấn đề mà Thủ trưởng ĐVSN phải trực tiếp và chủ động giải quyết mà không thể trông chờ hoặc đỗ lỗi cho cơ chế chính sách như thời gian

2.1.1 Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức

Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nước, được thành lập theo quyết định

số 142/TTg/ ngày10/03/1997 của Thủ tướng Chính phủ

Điều 1 quy định địa vị pháp lý của Trung tâm KH và BDCB:

Thành lập Trung tâm KH và BDCB trực thuộc Kiểm toán Nhà nước

Trung tâm KH và BDCB là một ĐVSN có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do ngân sách cấp

Điều 2 quy định chức năng nhiệm vụ:

Trung tâm KH và BDCB có chức năng sau đây:

- Nghiên cứu khoa học về kiểm toán

- Thông tin khoa học về kiểm toán

- Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán viên nhà nước

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng Kiểm toán Nhà nước giao

Tổng kiểm toán Nhà nước quy định nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm sau khi có văn bản thỏa thuận của Bộ trưởng, Trưởng ban Tổ chức – Cán bộ của Chính phủ (Nay là Bộ Nội vụ)

Sau khi có quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ, Trung tâm KH và BDCB đã được thành lập và bước vào hoạt động Trung tâm KH và BDCB đã cung cấp lực lượng nghiên cứu viên chủ yếu cho hoạt động nghiên cứu khoa học của KTNN và lực lượng giảng viên kiểm chức tham gia các chương trình giảng dạy,

đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức về kiểm toán, kế toán, tài chính cho các lớp trong và ngoài KTNN Trung tâm KH và BDCB còn thực hiện chức năng quản

lý khoa học, quản lý đào tạo của KTNN và đóng vai trò Văn phòng thường trực của Hội đồng Khoa học ngành và từng bước chuyên môn hoá công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo bồi dưỡng cán bộ của KTNN

Như vậy, có thể nói rằng hoạt động của Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nước sau khi được thành lập theo quyết định số 142/TTg ngày 10/03/1997 của

Trang 40

Thủ tướng Chính phủ đã đa dạng hơn rất nhiều so với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, thông tin khoa học về kiểm toán và bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán viên nhà nước Thực trạng này đòi hỏi phải có những văn bản pháp quy quy định đầy đủ và chi tiết hơn về chức năng nhiệm vụ của Trung tâm KH và BDCB, đồng thời phù hợp hơn với tình hình thực tế và định hướng chiến lược phát triển của Kiểm toán Nhà nước Vì vậy, ngày 01 tháng 3 năm 2004, Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 115/QĐ-KTNN quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm KH và BDCB như sau:

Điều 1 – Vị trí và chức năng

1 Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nước là đơn vị trực thuộc KTNN có chức năng giúp Tổng Kiểm toán nhà nước quản lý và tổ chức công tác nghiên cứu khoa học trong toàn ngành, tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

2 Trung tâm KH và BDCB có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng,

được mở tài khoản tại các ngân hàng và Kho bạc Nhà nước Trung tâm KH và BDCB

được KTNN cấp kinh phí hoạt động hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật

3 Trung tâm KH và BDCB có trụ sở đặt tại Hà Nội Tùy theo nhiệm vụ của từng thời kỳ, sẽ thành lập các chi nhánh tại các địa phương sau khi có sự đồng ý của Tổng Kiểm toán Nhà nước và theo quy định của pháp luật

Điều 2 - Nhiệm vụ và quyền hạn

1 Trong công tác quản lý và tổ chức công tác nghiên cứu khoa học, Trung tâm KH và BDCB có các nhiệm vụ sau:

a Xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học hàng năm của toàn ngành trình Tổng Kiểm toán Nhà nước

b Nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm toán và các ngành khoa học có liên quan đến kiểm toán làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển, cơ chế chính sách về kiểm toán; tham gia xây dựng quy trình, chuẩn mực kiểm toán trước hết là lĩnh vực Kiểm toán Nhà nước

c Nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học kiểm toán trong nước và trên thế giới vào thực tiễn hoạt động KTNN Việt Nam

d Thu nhận và cung cấp những thông tin chọn lọc phục vụ cho nghiên cứu khoa học, quản lý và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm toán trong từng giai đoạn đ Thu thập, xử lý thông tin khoa học, thư viện, kho tư liệu khoa học kiểm toán (bao gồm cả khâu thủ thư và biên dịch tài liệu)

e Chủ trì soạn thảo các văn bản về quản lý khoa học trình Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành

Ngày đăng: 16/04/2014, 22:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình DV kế toán, kiểm toán và QTTC của Trung tâm - Đình hướng và giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động của dịch vụ kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính tại trung tâm khoa học và bồi dưỡng cán bộ kiểm toán nhà nước
nh DV kế toán, kiểm toán và QTTC của Trung tâm (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w