Chiến lược phát triển cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 đã đề ra những mục tiêu định hướng cho một số chuyên ngành và nhóm sản phẩm cơ khí quan trọng, trong đó ngành chế tạo má
Trang 1ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG NGHIỆP
Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Đơn vị chủ trì: Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp Chủ nhiệm đề tài: Thạc sỹ Trần Đức Trung
7732
27/02/2010
Hà Nội, tháng 12/2009
Trang 2ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG NGHIỆP
Đơn vị chủ trì thực hiện Chủ nhiệm đề tài Viện trưởng
TS Nguyễn Tường Vân ThS Trần Đức Trung
Hà Nội, tháng 12/2009
Trang 3Danh sách những người thực hiện chính của đề tài
STT Họ và tên Học vị,
Học hàm
Cơ quan
1 Nguyễn Tường Vân Tiến sỹ Viện nghiên cứu thiết kế chế
tạo máy nông nghiệp
2 Đỗ Mai Trang Thạc sỹ Viện nghiên cứu thiết kế chế
tạo máy nông nghiệp
3 Phan Đức Chiến Kỹ sư Viện nghiên cứu thiết kế chế
tạo máy nông nghiệp
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I NHU CẦU ĐỐI VỚI SẢN PHẨM MÁY ĐỘNG LỰC VÀ
I Tình hình tiêu thụ sản phẩm máy động lực và máy nông
II Nhu cầu trong nước đối với sản phẩm máy động lực và máy
nông nghiệp
5
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ
VÀ CHẾ TẠO MÁY ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG NGHIỆP
9
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MÁY ĐỘNG LỰC VÀ MÁY
NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
20
I Cơ sở hạ tầng và vấn đề phát triển cơ giới hóa nông nghiệp 20
II Tình hình trang bị máy động lực, máy nông nghiệp 21
CHƯƠNG IV DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG MÁY ĐỘNG LỰC VÀ MÁY
NÔNG NGHIỆP
31
I Phương hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn 31
II Vấn đề trang bị máy móc cho nông nghiệp 32
III Dự báo thị trường Máy động lực và Máy nông nghiệp 36
III.1 Thị trừơng trong nước 36
III.1.1 Khả năng đầu tư mua sắm của nông dân 36
III.1.2 Nhu cầu trang bị máy móc cho sản xuất 36
III.1.3 Thiết bị nhập khẩu 37
CHƯƠNG V TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH SẢN XUẤT MÁY
ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG NGHIỆP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
39
I TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH SẢN XUẤT MÁY ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN
Trang 5II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CỦA CÁC NƯỚC
ĐÔNG NAM Á
48
CHƯƠNG VI CÁC CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 53
II Các chính sách và giải pháp phát triển 54
Trang 6Đánh giá thực trạng nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp
MỞ ĐẦU
Phát triển toàn diện và bền vững nông nghiệp, nông dân và nông thôn
là vấn đề chiến lược có vị trí và vai trò quan trọng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với nhiều nước trên thế giới hiện nay, đặc biệt là đối với Việt Nam - một nước nông nghiệp, đại bộ phận dân cư sống ở nông thôn
Thực hiện Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5 đã ban hành Nghị quyết 15-NQ/T.Ư này 18-3-2002 về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010, khi nói về “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - thành tựu và giải pháp” Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu: “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm
vụ chiến lược, có tầm quan trọng đặc biệt hàng đầu của toàn Ðảng, toàn dân
ta, cả trước mắt cũng như lâu dài Không thể đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại trong khi chưa thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Và đây cũng là khát vọng chính đáng của đông đảo đồng bào ta ở nông thôn và của cả dân tộc ta Các
bộ, ngành, các địa phương phải đề cao trách nhiệm của mình, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đạt kết quả cao nhất để góp phần tích cực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng đại này của đất nước”
Chiến lược phát triển cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 đã
đề ra những mục tiêu định hướng cho một số chuyên ngành và nhóm sản phẩm cơ khí quan trọng, trong đó ngành chế tạo máy động lực sẽ trở thành lĩnh vực công nghiệp mạnh thông qua các chương trình, dự án đầu tư chiều sâu, hiện đại hoá thiết bị và công nghệ, nâng cao năng lực chế tạo, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Ngành chế tạo máy nông nghiệp sẽ đủ mạnh để sản xuất máy canh tác, máy chế biến và thiết bị bảo quản các sản phẩm nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, từng bước xuất khẩu Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) nêu rõ: “Phát triển công nghiệp sản xuất máy móc, thiết bị và công cụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn… Ưu tiên hiện đại hoá cơ sở sản xuất, đầu tư nghiên cứu, chế tạo, cải tiến các loại máy móc, thiết bị phù hợp với điều kiện Việt Nam… Có chính sách khuyến khích tốt việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chú trọng công nghệ tự động hoá và công nghệ vật liệu mới để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm công nghiệp, cùng với chính sách hỗ trợ để nông dân và cơ sở mua máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất…” và nghị quyết hội nghị lần thứ
Trang 7Đánh giá thực trạng nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp
bẩy Ban chấp hành trung ương khóa X bàn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trong phương hướng kế hoạch 5 năm 2006-2010 trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng xác định nhiệm vụ của công nghiệp là phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các chuyên ngành có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động như chế biến nông - lâm - thuỷ sản, máy nông nghiệp, phương tiện giao thông
Máy động lực - thiết bị chuyển đổi năng lượng cơ bản (nhiệt năng, thuỷ năng, năng lượng gió ) thành động năng, cùng với máy nông nghiệp - đối tượng của cơ khí hoá sản xuất nông nghiệp - đóng vai trò quyết định tạo ra năng suất lao động cao, đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, góp phần nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Với tầm quan trọng và tính cấp bách như vậy, Viện Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp được giao nhiệm vụ thực hiện đề tài
"Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển ngành chế tạo các loại máy động lực và máy nông nghiệp " Phạm vi của đề tài này nhằm đề xuất
chính sách, giải pháp phát triển sản xuất ngành trên cơ sở điều tra khảo sát đánh giá thực trạng nghiên cứu thiết kế, chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp (Lĩnh vực chế biến đã có đề tài đánh giá riêng, trong nội dung đề tài này chỉ đề cập tới một số vấn đề có liên quan) cũng như nhu cầu thực tế và dự báo nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước và kinh nghiệm phát triển ngành của một số nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 8CHƯƠNG I NHU CẦU ĐỐI VỚI SẢN PHẨM MÁY ĐỘNG LỰC VÀ
MÁY NÔNG NGHIỆP
I Tình hình tiêu thụ sản phẩm máy động lực và máy nông nghiệp trên thế giới
Theo số liệu tổng hợp năm 2000 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, từ báo cáo điều tra 147 quốc gia, tổng số máy kéo (tractor) tại các nước này là 25.680.124 cái, bình quân mỗi nước 173.514,35 cái Tính chung mỗi triệu dân có 6.498,2 máy kéo Phân bố số lượng máy kéo rất không đều, đứng đầu danh sách là Mỹ với 4.800.000 cái, tiếp theo là Nhật Bản: 2.028.000, Italia: 1.750.000, Ấn Độ: 1.525.000, Trung Quốc: 841.073 máy kéo Trong số các quốc gia Đông Nam Á, Thái Lan xếp thứ 22 với 220.000 cái, Việt Nam thứ 29 (162.746), Inđônexia thứ 46 (70.000), Malaixia thứ 55 (43.300), Philipin thứ 75 (11.500), Myanmar thứ 77 (11.000), Campuchia thứ 115 (1.855) và Lào thứ 122 (1.080) Nếu xếp theo thứ tự về số lượng máy kéo trên 1 triệu dân thì đứng đầu danh sách là Slovenia với 56.781,7 cái Các nước thuộc Bắc và Nam Âu có mật độ rất cao, ~22.000 máy/1triệu dân, Mỹ chỉ đứng thứ 21 (16.230,8) và Nhật Bản thứ 23 (15.916,2) Trong số các quốc gia Đông Nam Á, Thái Lan xếp thứ 56 với 3.427,54 cái/1 triệu dân, Việt Nam thứ 69 (1.948,21), Malaixia thứ 72 (1.807,71), Inđônêxia thứ 102 (289,287), Myanmar thứ 105 (234,057), Lào thứ 114 (173,717), Philipin thứ 121 (130,895) và Campuchia thứ 130 (136,037)
Tài liệu của Trung tâm Cơ điện và Máy nông nghiệp khu vực Châu Á Thái Bình Dương (APCAEM) cũng đưa ra thống kê như sau:
Năm Châu Á Thế giới Tỷ lệ châu Á/thế giới (%)
kê khoảng 25.888.400 máy kéo (tractor) được sử dụng trên toàn thế giới với
Trang 9mật độ trung bình 0,59 máy kéo trên 100 ha đất nông nghiệp; 1,88 máy kéo
trên 100 ha đất dành cho trồng trọt (cao nhất tại Ailen với 130 cái/100 ha)
Số lượng máy kéo
(nghìn cái)
Cái /100 ha đất nông nghiệp
Cái/100 ha đất trồng trọt
Các nước phát triển có cỡ trang trại trung
bình 100 ha (Canađa, Mỹ, úc, Niu Dilan
42,91 4,54
54,23 8,92 Các nước Trung Âu và Đông Âu 3.482,1 2,73 3,80
Các nước Châu á thuộc Liên Xô cũ 444,1 0,16 1,08
Các nước Đông Nam á
và quần đảo Thái Bình Dương 2.763,4 0,26 0,70
Các nước Trung Cận Đông
Các nước châu Phi thuộc khu vực Sahara 161,6 0,02 0,12
Các nước châu Mỹ Latinh 1.587,5 0,21 1,19
Tăng trưởng máy kéo trên thế giới thời kỳ 1970-1980 là 3%/năm, sản
lượng ~6 triệu cái Thời kỳ 1981-1990 sản lượng giảm còn 3 triệu cái Thời
kỳ 1991-2000 sản lượng đạt 5 triệu cái, trong đó riêng giai đoạn 1996-2000 số
lượng máy kéo thêm 4 triệu cái, tăng trưởng gần 1,85%/năm
Mức độ trang bị động lực ở 5 nước kinh tế phát triển nhất như bảng sau :
Châu Á, một khu vực kinh tế nông nghiệp lạc hậu người đông đất ít,
canh tác lúa nước là chủ yếu, nhìn chung từ giữa thế kỷ 20 đến nay mới bắt
đầu đi lên công nghiệp hoá Qui mô ruộng đất của các nông trại và hộ nông
Trang 10dân ở châu Á tương đối nhỏ (Indonexia - 0,77 ha, Sri Lanca - 0,79 ha, Đài Loan - 1,08 ha, Hàn Quốc - 1,2 ha, Ấn Độ - 2 ha, Thái Lan - 4,5 ha) cũng ảnh hưởng đến đầu tư, trang bị, sử dụng máy động lực và máy nông nghiệp Tuy nhiên, 30 năm trở lại đây, mức độ cơ giới hoá các khâu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp Châu Á ngày càng nâng cao do nhanh chóng tăng số máy kéo và máy nông nghiệp, trong khi tại các nước kinh tế phát triển ở Châu Âu, Bắc Mỹ số lượng máy kéo sử dụng không tăng hoặc tăng chậm
Trên thế giới hiện có khoảng 4.200 nhà sản xuất, trong đó Mỹ có gần
440 hãng; Nhật Bản, Vương quốc liên hiệp Anh, Ấn Độ và Italia có hơn 300; Đức, Pháp, Đan Mạch và Trung Quốc hơn 200; Hàn Quốc 164; Banglades 155; Philipine 150; Canađa 100; Indonexia 44; Iran 38; Thái Lan 37; Sri Lanca 35; Pakistan 23 Doanh số bán ra của 11 hãng máy nông nghiệp hàng đầu mang tính xuyên quốc gia chiếm 70% tổng lượng bán ra trên thị trường
Buôn bán máy móc nông nghiệp của thế giới ước tính đạt 20÷30 tỷ USD trong mười năm liền (chiếm gần 25% tổng lượng buôn bán sản phẩm giữa các nước) nhưng gần đây đã có phần giảm sút Để đối phó, các hãng Âu,
Mỹ tăng cường đa dạng hoá sản phẩm và chuyển giao sản xuất máy động lực, máy nông nghiệp sang các nước tiêu thụ Ví dụ Nhà máy máy kéo Massey - Ferguson chế tạo loại máy kéo cỡ dưới 100 mã lực của Anh và Pháp chuyển sản xuất sang Trung Quốc; Hãng sản xuất máy gặt đập liên hợp Internatinonal
ở Pháp, Tây Đức và Anh chuyển sang lắp ráp tại New Zealand, Australia, Mexico; Hãng J.I.Case của Anh chuyên sản xuất máy kéo nhỏ đồng thời chế tạo cả dây chuyền lắp ráp máy kéo 40÷90 mã lực Hãng Ford bán phần lớn máy kéo cho Bắc Mỹ từ châu âu (Pháp, Bỉ, Anh)
II Nhu cầu trong nước đối với sản phẩm máy động lực và máy nông nghiệp
Cơ khí hóa có ý nghĩa mang tính quyết định đối với hiệu quả toàn bộ các khâu sản xuất nông nghiệp từ canh tác tới thu hoạch, góp phần tăng năng suất, cây trồng, tăng vụ, nâng cao giá trị kinh tế các loại nông - lâm - thuỷ sản Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc phát triển ngành chế tạo máy động lực, máy nông nghiệp là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của ngành nông nghiệp Việt Nam Ngay từ sau Hoà bình lập lại (1954) và cả trong chiến tranh, quá trình cơ khí hoá, cơ giới hóa nông nghiệp ở nước ta đã từng bước phát triển Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (4/1988) đã thật sự cởi trói cho đầu tư sản xuất nông nghiệp đối với mọi thành phần kinh tế, các loại máy động lực, máy
Trang 11nông nghiệp được tăng cường sử dụng Thời kỳ đầu, máy ngoại nhập vào tràn lan (máy động lực Trung Quốc giá rẻ chất lượng thấp; máy động lực của Hàn Quốc, Đài Loan chất lượng ở mức trung bình nhưng giá hợp lý; máy second - hand của Nhật chất lượng tốt, giá vừa phải) Mặc dù còn rất nhiều khó khăn
do bước vào cơ chế thị trường một cách bị động, thiếu vốn đầu tư… nhưng ngành chế tạo máy động lực, máy nông nghiệp trong nước đã dần dần vươn lên, đảm bảo một phần yêu cầu của thị trường Hội nghị Trung Ương 5 khoá
IX đã một lần nữa khẳng định và yêu cầu đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn, trách nhiệm này được đặt chủ yếu lên ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp, trong đó các doanh nghiệp nhà nước luôn đóng vai trò chủ đạo Trong nhiều năm, Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp (VEAM - Bộ Công Thương), Tổng công ty Cơ điện xây dựng nông nghiệp, thủy lợi (Bộ Nông nghiệp & PTNT) đã tập trung sản xuất các loại máy móc cơ bản cho nông nghiệp như máy động lực, máy bơm nước, máy móc làm đất, xe vận chuyển nông thôn, máy gặt lúa rải hàng, máy gặt đập liên hợp, máy xay xát nhỏ và rulô máy xay xát, một số thiết bị và dây chuyền chế biến nông sản, phụ tùng động cơ, hộp số thủy cho thuyền vận tải nhỏ, bình bơm thuốc trừ sâu… Tổng công ty Máy và Thiết bị công nghiệp (MIE) tham gia chế tạo nhiều loại thiết bị nhà máy đường công suất đến 3.000 tấn mía/ngày, có khả năng chế tạo bơm lưu lượng đến 36.000 m3/h… Tổng công ty Thiết bị kỹ thuật điện mỗi năm đã sản xuất khoảng 60.000 động cơ điện các loại để phục vụ các ngành kinh tế bao gồm cả ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp - nông thôn Ngoài ra, các cơ quan nghiên cứu như Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI), Viện Nghiên cứu Thiết kế Chế tạo Máy nông nghiệp, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, Viện Công nghệ… đã thiết kế, chế tạo và cung cấp nhiều thiết bị và dây chuyền chế biến nông sản khác như máy phân loại hạt cà phê theo màu sắc; máy nghiền, trộn, phân loại hạt ngũ cốc… Các dây chuyền xử lý hạt giống cây lương thực, chế biến thức ăn chăn nuôi, chế tạo tinh bột sắn, chè, chế biến cà phê, dây chuyền sản xuất ván ép… với chất lượng cao, giá rẻ được tiêu thụ nhanh Máy động lực và máy nông nghiệp của Việt Nam vẫn tiêu thụ mạnh tại thị trường nội địa
so với các sản phẩm cùng loại nhập từ Trung Quốc, dù Việt Nam đang trong giai đoạn giảm thuế nhập khẩu để hội nhập AFTA và WTO, chiếm trên 25% thị phần trong nước Sản phẩm của ngành còn xuất khẩu với doanh số ngày càng tăng
Những năm gần đây, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tham gia tích cực hơn vào sản xuất máy móc để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thị
Trang 12trường, mặc dù chủ yếu vẫn là mua linh kiện để lắp ráp Thống kê giá trị sản
xuất 10 sản phẩm chủ yếu ngành máy động lực và máy nông nghiệp cho thấy
nếu năm 2000 tỷ trọng của doanh nghiệp khối ngoài quốc doanh chỉ chiếm
38,63% tổng số thì đến năm 2002 đã là 55,25% và năm 2005 là 61,24% Các
chỉ số tương tự của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 0,56%, 3,28% và 4,46% Động cơ diesel và máy kéo nhỏ là những sản phẩm được
tập trung đầu tư nhất và có mức tăng mạnh nhất
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, khi Việt Nam gia nhập WTO thì thách thức đối với nông nghiệp nói chung nhiều hơn là cơ hội Nền sản xuất
hàng hoá trong nông nghiệp chỉ có thể thực hiện được khi trang bị đủ máy móc, vì vậy nhiệm vụ của ngành máy động lực và máy nông nghiệp càng trở
nên nặng nề Tuy nhiên có thể khẳng định rằng, vượt qua những khó khăn,
ngành cơ khí chế tạo máy động lực, máy nông nghiệp với sự cố gắng nỗ lực
của doanh nghiệp, cùng cơ chế phù hợp của Nhà nước, đã từng bước lấy lại vị
trí xứng đáng trong sự phát triển của ngành công nghiệp, phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và sẽ góp phần quan trọng trong việc
thực hiện mục tiêu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020
Căn cứ định hướng phát triển kinh tế xã hội cả nước và mục tiêu đặt ra cho sản xuất nông nghiệp, dự báo nhu cầu trang bị một số loại máy động lực,
máy nông nghiệp chủ yếu như sau:
Nhu cầu trang bị máy động lực và máy nông nghiệp cả nước
§¬n vÞ: chiÕc Loại thiết bị Năm 2010 Năm 2015
Máy tuốt lúa có động cơ 975.000 1.070.000
Bơm thuốc trừ sâu 1.300.000 1.600.000
Máy sục khí, quạt nước các loại 256.300 379.000
Máy chế biến thức ăn gia súc 59.000 83.000
Máy chế biến thức ăn thủy sản 21.800 43.000
Trang 13Máy chế biến khác 200.000 295.000
Nguồn:Xử lý từ số liệu dự báo của Bộ NN&PTNT 2006
III Kết luận Chương I
Từ kết quả thống kê và các nghiên cứu nói trên rút ra một số kết luận sau:
1 Mức độ trang bị các máy động lực và máy nông nghiệp tại các nước phát triển càng ngày càng tăng, trong khi sản xuất máy động lực và máy nông nghiệp đang dần chuyển tới các nền kinh tế đang phát triển ;
2 Nhu cầu trang bị máy động lực và máy nông nghiệp cả nước giai đoạn từ nay tới năm 2015, tầm nhìn 2020 là rất lớn, đặc biệt đây là giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đặt ra nhu cầu trang bị máy động lực và máy nông nghiệp cho các ngành kinh
tế quốc dân, trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản đặt ra nhu cầu rất lớn và cấp bách đòi hỏi phải có chính sách đúng đắn
để phát triển sản xuất đáp ứng nhu cầu thực tế
Trang 14CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO
MÁY ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG NGHIỆP
I Tình hình nghiên cứu, thiết kế
Trong những thập niên 80 trở về trước, phục vụ cho cơ chế kế hoạch hoá tập trung, rất nhiều viện nghiên cứu trực thuộc các Bộ được thành lập, trong đó lĩnh vực nghiên cứu thiết kế chế tạo máy động lực và máy nông nghiệp có Viện Công cụ và Cơ giới hóa nông nghiệp (trực thuộc Bộ Nông nghiệp – nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) và Viện Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp (trực thuộc Bộ Cơ khí và Luyện kim – nay
là Bộ Công Thương) Cách tổ chức này phù hợp với đặc điểm yêu cầu trong nền kinh tế kế hoạch hóa và cũng đã đạt được những thành tựu nhất định
Đến thời kỳ đổi mới, để phù hợp với nền kinh tế điều tiết theo cơ chế thị trường có sự định hướng của Nhà nước, các Viện nghiên cứu có sự sắp xếp lại tuỳ theo đặc điểm của mỗi Bộ Viện Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp, trước đây trực thuộc Bộ Cơ khí và Luyện kim nay trở thành thành viên của Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp
Viện Công cụ và Cơ giới hóa nông nghiệp và hiện nay là Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch vẫn là đơn vị nghiên cứu khoa học
về lĩnh vực máy móc cơ giới hoá nông nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có biên chế, quỹ lương và các kinh phí đầu tư phát triển
ổn định nên ngoài việc thực hiện các nội dung nghiên cứu ngắn hạn, còn có điều kiện thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn có tính chiến lược từ nguồn kinh phí đầu tư ổn định hàng năm của Nhà nước
Viện Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp sau khi trở thành thành viên của Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp, hoạt động theo cơ chế tự trang trải về tài chính, tự lo việc làm, quỹ lương và các nguồn kinh phí duy trì hoạt động của Viện đã gặp không ít khó khăn trong cơ chế thị trường đầy biến động và có cả sự cạnh tranh không lành mạnh Mặc dù vậy, Viện cũng đã gặt hái không ít thành tựu, đặc biệt trong lĩnh vực thiết kế, chế tạo các dây chuyền thiết bị đồng bộ cho thức ăn chăn nuôi, sản xuất tinh bột sắn , tận dụng nguồn kinh phí ít ỏi từ các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ hàng năm, từng bước ổn định và phát triển Tuy nhiên, từ chỗ thiếu nguồn kinh phí ổn định để duy trì hoạt động của bộ máy, để đầu tư nghiên cứu dài hơi theo định hướng chiến lược nên các vấn đề nghiên cứu có tính chiến lược của ngành đã không thực hiện được Đây là vấn đề cần có sự quan tâm của
Trang 15Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong giai đoạn CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn và thực hiện chính sách tam nông của Đảng
Ngoài các Viện nghiên cứu kể trên trong thời gian gần đây còn có các
cơ quan nghiên cứu khác trong lĩnh vực cơ khí (Viện Nghiên cứu cơ khí - NARIME, Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp - IMI Holding, Viện Công nghệ, các khoa cơ khí thuộc đại học kỹ thuật, đại học nông nghiệp ) và cả ngoài ngành cơ khí (Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long) cũng tích cực tham gia giải quyết những vấn đề về trang bị cơ khí, tự động hoá cho sản xuất nông nghiệp và chế biến nông lâm sản
Kết quả của công tác nghiên cứu triển khai, nghiên cứu ứng dụng của các tổ chức nghiên cứu khoa học nói trên đã cho ra đời nhiều dây chuyền thiết
bị đồng bộ trong lĩnh vực chế biến nông sản, chế biến thức ăn chăn nuôi, sấy bảo quản thay thế nhập ngoại với giá thành hợp lý Nhiều loại máy móc có tính năng hoạt động phù hợp hơn với điều kiện sản xuất thực tế của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam như máy kéo nhỏ, thiết bị làm đất, sấy nông sản, máy tẽ ngô, các loại máy chăm sóc mía, thu hoạch lúa, ngô, lạc (có sự tham gia của cả tư nhân) đã được ứng dụng trong thực tế sản xuất Tuy nhiên, hầu hết các loại sản phẩm thường mới ở dạng đơn chiếc hoặc loạt nhỏ do đầu tư cho nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm chưa đồng bộ
II Tình hình sản xuất, lắp ráp
II.1 CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT (Xem Phụ lục 2)
II.1.1 Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp (Bộ Công Thương)
Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp (VEAM) được thành lập năm 1990 Lĩnh vực chính của VEAM là nghiên cứu phát triển, sản xuất
và kinh doanh các trang thiết bị động lực, thiết bị và máy nông nghiệp, máy kéo, ô tô, xe máy và phụ tùng, các phương tiện giao thông vận tải thuỷ bộ và các trang thiết bị cơ khí khác VEAM cũng là đối tác Việt Nam của nhiều liên doanh với nước ngoài trong các dự án lắp ráp và sản xuất ô tô, xe máy và các sản phẩm cơ khí tại Việt Nam
Từ khi thành lập đến nay, VEAM luôn là nhà sản xuất chủ lực về máy động lực và máy nông nghiệp Giai đoạn 1993-1999, sau khi củng cố bộ máy
và đứng vững trước sự cạnh tranh ồ ạt của máy Trung Quốc nhập lậu và máy
cũ Đài Loan, Tổng công ty đã bắt đầu khẳng định vị thế, liên doanh với nước ngoài, mua lixăng của các hãng có uy tín lớn trên thế giới, thuê chuyên gia huấn luyện tại chỗ Bằng cách làm này đã tạo ra chuyển biến vượt bậc về trình
độ đúc chính xác, rèn khuôn đúc áp lực, nhiệt luyện điều khiển bán tự động,
Trang 16gia công cơ khí chính xác cao Năm 1999, doanh thu của VEAM đạt 479 tỷ VNĐ, trong đó động cơ diesel 6-18 mã lực chiếm 15% thị trường nội địa, máy xát gạo chiếm 80% và hộp số cơ khí nhỏ chiếm 70% Giá trị xuất khẩu sang các nước ASEAN và Irak là 3 triệu USD Năm 2001, doanh thu vượt 1.000 tỷ đồng, xuất khẩu trên 10 triệu USD Cho đến năm 2004, VEAM và các đơn vị thành viên chỉ giới hạn sản xuất kinh doanh trong ngành động lực nhỏ, máy nông nghiệp Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của Tcty đạt
636 tỷ đồng, tăng 11,97%, tổng doanh thu đạt 1342,2 tỷ đồng, tăng 7,71% so với năm trước Ngoại trừ động cơ đốt trong và hộp số do chịu tác động mạnh của thị trường có dấu hiệu sụt giảm, các sản phẩm khác đều có sự tăng trưởng tương đối ổn định Giai đoạn 2001-2005, giá trị tổng sản lượng bình quân (theo giá cố định năm 1994) đạt 498,2 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16,6% một năm Nếu so sánh với giai đoạn 1995-2000, giá trị sản xuất bình quân đã tăng gấp 2 lần
Các đơn vị thành viên đã thể hiện tính năng động trong việc chuyển hướng bám sát nhu cầu thị trường, một mặt tập trung vào sản xuất nội địa trên
cơ sở tiềm năng thế mạnh sẵn có, mặt khác tăng cường tìm kiếm các nhà cung cấp nước ngoài để giảm bớt áp lực cạnh tranh trên thị trường nội địa, giảm giá thành Sản phẩm của VEAM từng bước giành lại thị trường nội địa, đẩy lùi hàng ngoại cùng loại
Tổng công ty đã cung cấp ra thị trường hàng nghìn máy cày loại 2 bánh, 4 bánh, máy phay đất, máy gặt lúa, máy bơm nước, xe vận chuyển nông thôn có kiểu dáng và tính năng sử dụng phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của ngành nông nghiệp, được người tiêu dùng chấp nhận Các dây chuyền thiết bị chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến tinh bột đều có mức tăng trưởng khá Năm 2006, bơm nước các loại đạt hơn 28.000 chiếc, vòng bi các loại đạt gần 4 triệu vòng, tăng 14%; động cơ đốt trong gần 23.000 chiếc, tăng 11% so với năm 2005 Tháng 1 năm 2007, giá trị sản lượng của Tổng công ty tiếp tục tăng, đặc biệt sản lượng động cơ diesel tăng 35% so với cùng kỳ năm trước
VEAM đã lập Phòng nghiên cứu thuộc Tổng công ty và một Trung tâm nghiên cứu thử nghiệm động cơ tại KCN Từ Sơn, Bắc Ninh, tiếp tục đầu tư
mở rộng công suất các nhà máy hiện có, triển khai xây dựng các nhà máy mới
để sản xuất động cơ đốt trong với sản lượng lớn, công suất 100 mã lực trở lên, động cơ thuỷ phục vụ đánh bắt cá xa bờ; đầu tư sản xuất xe tải nhỏ, máy kéo
4 bánh công suất lớn; tăng sản lượng và đa dạng hoá các loại máy làm đất,
Trang 17máy chăm sóc, thu hoạch, chế biến bảo quản nông sản và các dây chuyền chế biến thức ăn gia súc
Sau 5 năm phối hợp cùng Hội Nông dân Việt Nam và gần 30 Uỷ ban nhân dân các tỉnh thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn mua máy nông nghiệp do Việt Nam sản xuất, VEAM đã cung cấp tới tay bà con nông dân trên 8000 máy kéo và hơn 1.800 thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ, hải sản, tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật và sửa chữa máy móc thiết bị cho hơn 100.000 hộ dân, góp phần đẩy nhanh tiến trình
cơ giới hoá nông nghiệp, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
VEAM cũng không ngừng tìm tòi, mở rộng thị trường sang các nước khu vực (Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Sri Lanca, ấn Độ), châu Phi (Madagascar, Ghana), Trung Cận Đông (Iran) và châu Mỹ (Panama, Chile, Canada) Giá trị xuất khẩu năm 2005 đạt 9,55 triệu USD tăng 25,7%
so với năm 2004 Kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạt hơn 10 triệu USD
Đến nay VEAM đã có số vốn Nhà nước trên 2.000 tỷ đồng, không tính giá trị tài sản nằm trong các liên doanh chưa đăng ký vào vốn pháp định Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, định hướng của VEAM phù hợp với nhu cầu tăng nhanh của kinh tế trang trại, nông nghiệp, ngư nghiệp, phát triển bền vững, đảm bảo nhiệm vụ chính trị, tiếp tục giữ vị trí quan trọng trong phát triển ngành tại Việt Nam
Các sản phẩm và dịch vụ chính của VEAM:
- Động cơ xăng và động cơ diesel 5-80 mã lực
- Máy kéo 2 bánh BS8-10-12 lắp phay đất 0,4-0,6m, cày, bánh lồng, rơ -moóc
- Máy kéo 4 bánh BS20 lắp phay đất 1,3m, cày, bánh lồng, rơ -moóc
- Xe vận chuyển nông thôn 1,5 tấn
- Máy gặt lúa, máy tuốt lúa, máy tẽ ngô, máy sấy thóc, máy vò chè
- Máy sục khí nuôi tôm, chế biến cà phê, chế biến thức ăn chăn nuôi
- Máy xay xát gạo 500-2000 kg lúa /giờ, giàn xay xát gạo 24 tấn /ngày
- Các dây chuyền chế biến thức ăn gia súc quy mô đến 20 T/h, chế biến tinh bột sắn 50-100 T/ngày
- Máy phát điện 2-500 kVA
- Bơm thuốc trừ sâu 12 lít và 16 lít
Trang 18- Ru lô cao su sử dụng cho máy xay xát các loại
- Phụ tùng ô tô, xe máy, máy kéo, động cơ, máy nông nghiệp
Các đơn vị sản xuất và cơ cấu sản phẩm:
- Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Diesel Sông Công (DISOCO), thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Sản xuất động cơ diesel (6-
130 mã lực), các loại động cơ diesel thuỷ (55-80 mã lực), động cơ xăng (IM350-8 mã lực), đồng thời cung cấp phụ tùng cho sản xuất các loại động cơ cho các đơn vị thành viên khác của VEAM Được trang bị dây chuyền đồng
bộ lắp ráp động cơ Diesel, lắp ráp động cơ xăng nhiều thiết bị và công nghệ đặc biệt như máy búa 2T, 10T, máy dập 1600T, máy đúc áp lực 400T, 1100T, các dây chuyền đúc liên tục, gia công séc măng từ phôi rời, dây chuyền gia công các loại tay biên, trục khuỷu, trục cam, công đoạn sản xuất bơm cao áp
và vòi phun
- Công ty TNHH một thành viên Phụ tùng máy số 1 (FUTU1), thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Các sản phẩm chính là xilanh, piston, xéc măng và linh kiện động cơ, hộp số máy thuỷ, hộp số máy kéo, cuốc bàn, máy vò chè, máy cắt lúa rải hàng CRH 1.2 lắp động cơ xăng Honda 5,5 mã lực, máy cày lắp động cơ Diesel 6-8 mã lực, vòi tưới phun, phụ tùng xe máy,
ô tô Công ty được trang bị các dây chuyền công nghệ đúc gang, đúc thép, đúc đồng, đúc nhôm, rèn dập, nhiệt luyện, gia công cơ khí với các thiết bị hiện đại, có độ chính xác cao
- Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Máy kéo và Máy nông nghiệp, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây Các sản phẩm phục vụ nông nghiệp gồm máy kéo nhỏ 2 bánh, máy kéo 4 bánh, máy kéo chuyên dùng vận chuyển (lái bằng vô lăng, sức chở 1500kg), máy cấy, bơm thuốc trừ sâu, máy tuốt lúa, bơm nước, máy tẽ ngô, máy tách hạt lúa, hộp số khuấy nước nuôi tôm, hộp số lắp trên ghe thuyền nhỏ, phụ tùng khác phục vụ sửa chữa máy nông nghiệp
- Công ty Động cơ và máy nông nghiệp miền Nam (Vikyno- Vinappro) Được sáp nhập từ Công ty Máy nông nghiệp miền Nam (Vikyno)
và Công ty chế tạo động cơ (Vinappro), khu công nghiệp Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai Các sản phẩm chính là động cơ Diesel từ 6 đến 12,5 mã lực theo công nghệ của hãng KUBOTA (Nhật Bản), Diesel theo kiểu Yanmar từ 6 đến
23 mã lực, máy phát điện từ 2 đến 500kVA, máy xay xát 700-1000 kg lúa/giờ, máy cày tay K120, máy phát điện 1,5-250 kVA, máy bơm nước, ru lô cao su các loại
- Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Cơ khí Trần Hưng Đạo Công ty đang đầu tư xây mới cơ sở sản xuất tại khu công nghiệp Tiên Sơn,
Trang 19Bắc Ninh, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2007 Sản phẩm chủ yếu là động
cơ Diesel và hộp số các loại, đại tu, tân trang máy kéo
Các đơn vị thành viên khác thuộc VEAM:
- Công ty Cổ phần NAKYCO, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh
- Công ty Đúc số 1 (FOUNDCO), quận 11, thành phố Hồ Chí Minh
- Công ty vật tư và thiết bị toàn bộ (MATEXIM), thị trấn Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, Hà Nội
- Công ty Cổ phần Cơ khí Phổ Yên (FOMECO), thị trấn Bãi Bông, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên
- Công ty Cổ phần Cơ khí Cổ Loa (COLOAMEC), thị trấn Đông Anh,, huyện Đông Anh, Hà Nội
- Công ty Cổ phần Cơ khí chính xác số 1, quận Thanh Xuân, Hà Nội
- Công ty cơ khí Vinh, thành phố Vinh, Nghệ An
- Viện Nghiên cứu Thiết kế Chế tạo Máy nông nghiệp (RIAM), quận Thanh Xuân, Hà Nội
- Viện Công nghệ (RITM), quận Đống Đa, Hà Nội
II.1.2 Các Công ty khác trong nước sản xuất, lắp ráp máy động lực và máy nông nghiệp
Ngoài VEAM với các loại động cơ và máy nông nghiệp được sản xuất mang tính công nghiệp, một số đơn vị khác chủ yếu sản xuất dạng lắp ráp CKD với động cơ, hộp số nhập khẩu (như Công ty Cơ khí Thái Bình hàng năm sản xuất khoảng 2.000 máy kéo tay, Công ty cơ khí Nam Hồng - Hà Nội khoảng 400 chiếc, Cơ khí An Giang, Long An, Đồng Tháp tham gia chế tạo máy gặt rải hàng và máy gặt đập liên hợp trong đó hộp số mua của VEAM hoặc nhập khẩu ) Máy gặt lúa xếp dãy dải hàng, gặt đập liên hợp cũng được một số tư nhân tự cải tiến trên cơ sở các mẫu máy nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước (Cơ sở Chín Nghĩa - Long An; Cơ sở Huỳnh Văn út - Đồng Tháp;
Cơ sở Nguyễn Kim Chính - Bình Định; Cơ sở Phạm Văn Nghĩa - An Giang;
DN tư nhân Hoàng Thắng, Cơ sở Năm Sanh - Cần Thơ )
- Máy bơm do các doanh nghiệp trong nước sản xuất đã phủ kín dải cột
áp từ 2,5-10 m với các cấp lưu lượng khác nhau (đến trên 13.000 m3/h) Đã sản xuất tuốc-bin từ 5-1.000 kW phục vụ các trạm thuỷ điện
- Chế tạo các dây chuyền sản xuất cao su mủ khô đến 6.000 tấn /năm đạt chất lượng, bảo đảm tự trang bị trong ngành đến 80% nhu cầu (chỉ phải nhập máy ép kiện, lò sấy); tham gia chế tạo nhiều chủng loại thiết bị, phụ tùng cho các nhà máy đường (gồm cả nâng cấp, mở rộng và xây mới) như trục lô ép, cầu trục, băng tải, các thiết bị công nghệ chế luyện, các loại bơm, lò hơi đốt bã mía công suất 10 T/h, một số thiết bị trong hệ thống xử lý nước thải; dây chuyền
Trang 20thiết bị xay xát công suất đến 50 tấn lúa/ngày với chất lượng tốt; cung cấp
100% máy xay xát, máy nghiền thức ăn gia súc cỡ nhỏ cho nông thôn, các dây
chuyền chế biến thức ăn gia súc có điều khiển định lượng tự động đến 20
T/giờ; chế tạo và cung cấp máy chọn hạt, máy phân loại, máy đánh bóng; hầu
hết các dây chuyền ươm tơ cỡ 5-30 tấn tơ /năm là do các doanh nghiệp sản xuất
máy động lực, máy nông nghiệp trong nước chế tạo theo mẫu của nước ngoài
(chỉ nhập khẩu các dây chuyền ươm tơ tự động công suất lớn 100-180 tấn
tơ/năm); các loại thiết bị sơ chế cà phê theo phương pháp ướt công suất 0,75 -3
tấn/h kèm theo hệ thống sấy theo mẫu nước ngoài, các dây chuyền thiết bị công
suất 0,8-1,2 tấn/h làm việc theo chế độ liên hoàn; các loại thiết bị cưa xẻ và
mộc sơ chế, tinh chế như cưa vòng đẩy, cưa đĩa, máy bào ba bốn mặt, máy soi,
máy khoan, máy phay, máy tiện, máy phục vụ sản xuất ván ghép thanh, máy ép
dùng sản xuất ván nhân tạo; một số loại thiết bị lẻ phục vụ thay thế, nâng cấp
các nhà máy chế biến chè đen hiện có; tự thiết kế và chế tạo được dây chuyền
hoàn chỉnh chế biến chè đen công suất 13 tấn búp tươi/ngày, các loại máy sao,
vò chè cỡ nhỏ và đang nghiên cứu các mẫu của nước ngoài để chế tạo hệ thống
thiết bị chế biến chè xanh; dây chuyền sản xuất tinh bột sắn 50-100 T/ngày,
thiết bị sấy, thiết bị đóng gói tinh bột sắn; máy bơm, máy sục khí, máy lạnh để
phục vụ chế biến, bảo quản hải sản; máy chế biến hạt điều, máy chiết xuất
nước quả, máy chế biến bột quả, máy cô đặc nước quả, máy chế biến mứt quả,
thiết bị bảo quản hoa quả; máy ép dầu thô, tinh luyện dầu dừa, thiết bị phụ trợ
và phụ tùng cho các dây chuyền sản xuất shortening, gluxerin, acit béo, dây
chuyền sản xuất dầu cám; thiết bị tẩm sấy, chế biến sợi thuốc lá, thiết bị phụ trợ
và phụ tùng thay thế cho dây chuyền quấn điếu và đóng bao thuốc lá; thiết bị
phụ trợ và phụ tùng cho dây chuyền thiết bị chế biến sữa tươi, sữa chua, sữa
đậu nành, sữa bột
MỘT SỐ LOẠI SẢN PHẨM CHỦ YẾU GIAI ĐOẠN 2000-2005
Đơn vị 2000 2004 2005
Nông cụ cầm tay 1000 cái 15.918 20.756 21.549
Máy bơm nông nghiệp Cái 3.496 10.038 11.440
Bơm thuốc trừ sâu 1000 cái 70,4 52,7 54,0
Máy kéo và xe vận chuyển Cái 1.932 8.607 9.415
Phụ tùng máy kéo Tấn - 3.772 4.000
Máy tuốt lúa có động cơ Cái 11.877 17.571 18.853
Máy tuốt lúa không có động cơ Cái 7.061 10.903 11.605
Máy xay xát Cái 12.484 5.749 6.480
Trang 21Máy lau bóng gạo cỡ nhỏ Cái - 4.300 9.200
Động cơ điện cho nông nghiệp Cái 9.000 25.000 36.000
Phụ tùng động cơ điện Tấn - 1.100 1.096
Động cơ diessel Cái 30.329 182.443 145.450
Phụ tùng động cơ nổ Tấn - 422 386
Máy chế biến thức ăn gia súc Cái - 4.768 7.604
Máy chế biến khác Cái - 4.108 3.327
Phụ tùng máy chế biến TÊn - 2.448 3.317
Nguồn: Số liệu thống kê và Báo cáo điều tra doanh nghiệp đến 2005
Đến nay, gần 100% máy nông nghiệp đi theo máy kéo và các máy công
tác tĩnh đã do cơ khí trong nước cung cấp Máy kéo 4 bánh loại nhỏ đang
được đưa vào chương trình sản xuất thử nghiệm Đã nghiên cứu thành công
máy liên hợp thu hoạch lạc, máy liên hợp thu hoạch ngô, máy tuốt và băm lá
mía
Từ năm 2006 trở về trước, hưởng ứng chính sách nội địa hoá sản xuất
của Chính phủ, nhiều công ty thuộc mọi thành phần kinh tế đã đầu tư sản xuất
các sản phẩm thuộc lĩnh vực máy động lực và máy nông nghiệp Tính đến
cuối năm 2003, trên cả nước có 19 công ty thuộc các thành phần kinh tế tham
gia sản xuất, lắp ráp loại động cơ dưới hình thức nhập khẩu bộ linh kiện
không đồng bộ từ nước ngoài theo chính sách ưu đãi thuế theo tỷ lệ nội địa
hoá (trong đó có 03 công ty thuộc VEAM) thể hiện ở bảng sau:
CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT, LẮP RÁP DIESEL THEO CHÍNH SÁCH NỘI
ĐỊA HOÁ SẢN XUẤT
TT Tên Công ty Địa chỉ lắp ráp, sản xuất
Đăng ký
SX LR
từ năm
Ghi chú
1 Cty LD VIKOTRADE 36 Lê Lợi, Q.1, Tp HCM 2000
2 Cty Diesel Sông Công Tx Sông Công, Thái Nguyên,
2001
4 Cty TNHH Nam 91 Nguyễn Thái Học, Hà Nội 2001
Trang 22Cường
5 Cty Cơ khí Trần Hưng
Đạo
114 Mai Hắc Đế, Hà Nội Đt: 9762737 Fax: 9762172
7 Cty TNHH Nam Tiến Tổ 3, Cụm 5, Phường Khương
Đình, Thanh Xuân, Hà Nội
2001
8 Cty TNHH Đầu tư Phát
triển sản xuất Quảng
13 Cty TNHH máy nông
nghiệp Việt Trung
128 Trần Hưng Đạo, thị trấn Kẻ Sặt, Bình Giang, Hải Dương
máy Miền Nam
404 Điện Biên Phu, Q Thanh Khê, Tp Đà Nẵng
2002
16 Cty Thiết bị phụ tùng
cơ điện nông nghiệp
102 Trường Chinh, Hà Nội 2002
17 Cty VIKYNO (VEAM) Biên Hoà, Đồng Nai 2002 thuộc
VEAM
18 Cty TNHH
SX-DV-TM Thanh Bình Nam
146B/1B Văn Thánh Bắc, đường D3 P.25 Q Bình Thạnh, HCM
ra thị trường số lượng 132.169 động cơ diesel các loại, cụ thể như sau:
TÌNH HÌNH LẮP RÁP VÀ TIÊU THỤ DIESEL THEO CHÍNH SÁCH NỘI ĐỊA HOÁ
Trang 23III Kết luận Chương II
Kết quả nghiên cứu Chương II cho thấy một số vấn đề sau đây:
1 Hoạt động nghiên cứu phát triển chuyên ngành máy động lực và máy nông nghiệp trong thời gian vừa qua mặc dù đã có nhiều cố gắng và đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tế sản xuất, đời sống Nhiều sản phẩm do ta sản xuất có mẫu mã kém hấp dẫn, tính năng
kỹ thuật lạc hậu, vận hành thiếu ổn định, giá cả không có khả năng cạnh tranh Nghiên cứu phát triển thiếu tính chuyên nghiệp và không có chiến lược
Ở đây có nguyên nhân của việc tổ chức, vận hành của cơ chế, các đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới hoạt động khoa học công nghệ chưa triệt để, chưa quyết liệt, thậm chí chậm chạp Một thời gian dài như vậy không những không tạo thêm nguồn lực trong công tác nghiên cứu khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển sản phẩm mà còn làm “chảy máu chất xám”, một bộ phận không
Trang 24nhỏ các nhà khoa học, các kỹ sư có kinh nghiệm trong lĩnh vực này phải chuyển sang làm các công việc khác
2 Rất nhiều nhà đầu tư sản xuất nhưng rất nhỏ lẻ, phân tán, sản xuất theo kiểu thời vụ Rất ít, thậm chí gần như không có các nhà đầu tư nước ngoài vào sản xuất các sản phẩm trong lĩnh vực này Tổng Công ty Máy Động lực và Máy nông nghiệp là Tổng Công ty lớn, có truyền thống trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh các sản phẩm máy động lực và máy nông nghiệp nhưng chưa làm tốt vai trò dẫn dắt phát triển ngành, thậm chí nhiều công ty thành viên ở tình trạng sản xuất cầm chừng, sản phẩm không có thị trường do sức cạnh tranh thấp như Công ty Cơ khí Trần Hưng Đạo, Công ty Máy kéo và Máy nông nghiệp Hà Tây, Công ty Vinapro (nay đã sáp nhập vào với Vikynô)
Các kết quả nêu trên đòi hỏi Nhà nước phải có cách nhìn thực sự khách quan, nghiêm túc để có chính sách hợp lý mới có thể đạt được mục tiêu CNH-HĐH vào năm 2020, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Trang 25CHƯƠNG III THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MÁY ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG
NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
I Cơ sở hạ tầng và vấn đề phát triển cơ giới hóa nông nghiệp
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới trải trên nhiều vĩ độ có thể sản xuất nông nghiệp quanh năm, trồng được 2÷4 vụ các cây trồng ngắn ngày, đặc biệt là cây có hạt ngũ cốc, cây công nghiệp, cây ăn quả cũng có điều kiện phát triển tốt Diện tích đất nông nghiệp là 9,53 triệu ha (~29% đất tự nhiên); đất lâm nghiệp 12,42 triệu ha (~37,7%), còn khoảng 8,87 triệu ha đất chưa sử dụng Dân số ở khu vực nông thôn ở nước ta (năm 2005) là 60,8 triệu người bằng 74,1% dân số cả nước Lao động trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp là 36,7 triệu người Nông dân Việt Nam cần cù, sáng tạo, có khả năng ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật Việc tăng tỷ lệ cơ giới hoá trong nông nghiệp cho đến nay bị hạn chế chủ yếu do sản xuất nhỏ manh mún và nông dân Việt Nam còn nghèo, không có tiền để mua sắm thiết bị đảm bảo chất lượng Dự báo của Liên Hiệp Quốc năm 1998 cho thấy tới năm 2020, vẫn còn 60% dân số Việt Nam sống ở nông thôn với thu nhập bình quân đầu người thấp
Chủ trương “dồn điền, đổi thửa” bắt đầu mang lại những chuyển biến đáng kể, bình quân mỗi hộ trước đây sử dụng khoảng 8÷18 thửa/ha, nay chỉ còn 3,5÷4 thửa/ha Hộ nông dân ổn định sản xuất, quy mô thửa ruộng tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi hơn để sử dụng máy động lực, máy nông nghiệp Bình quân số hộ/máy giảm đáng kể (khoảng 3,5 lần) Tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất, đập lúa, bơm nước… tăng nhanh Năm 2003, Việt Nam được Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đánh giá là có tỷ lệ đất nông nghiệp được thủy lợi hóa cao nhất trong khu vực Đông Nam Á (31,19%), gần gấp 5 lần mức bình quân chung (6,64%) So với các nước khác trong khu vực, Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ sử dụng máy móc canh tác vào loại khá Theo số liệu của FAO đầu năm 2004, bình quân cứ 332,4 lao động nông nghiệp của Việt Nam có một máy cày và cứ 233,5 lao động nông nghiệp Việt Nam có một máy gặt - đập (các con số tương ứng tại các nước có nền nông nghiệp tương đối cạnh tranh với Việt Nam như Thái Lan là 132 và 418; Inđônêxia là 975,6 và 279,6) Tuy nhiên, tỷ lệ máy chế biến thì lại quá thấp, chưa đáp ứng nhu cầu Chương trình giao thông trong 5 năm đã đầu tư hơn 20.000 tỷ đồng (nhân dân đóng góp 36% và 200 triệu ngày công) Cuối năm
2005, hơn 97% số xã có đường ô tô đến được trung tâm Chương trình điện
đã hòa lưới 100% số huyện, 95% số xã, gần 95% số hộ dân nông thôn có
Trang 26điện sử dụng Chương trình thuỷ lợi đã đưa 76 công trình qui mô lớn vào sử dụng, kiên cố hóa kênh mương đạt trên 20% tổng số kênh mương cần kiên
Vận chuyển
Lâm nghiệp
Tổng cộng
3) Tưới tiêu:
Đến cuối năm 2005, cả nước đã xây dựng hơn 1.800 trạm bơm điện và 2.000 trạm biến thế điện với tổng công suất lắp đặt là 450 MW Số lượng máy bơm nước được trang bị là: 3.912.733 cái, trong đó máy bơm nông nghiệp 1.595.000 cái, dùng trong nuôi trồng thủy sản 92.500 cái Tổng công suất lưu lượng bơm nước đến cuối 2006 là 65 triệu m3/h Diện tích đất trồng lúa được
tưới tiêu chủ động trên cả nước đạt 80%
4) Gieo hạt:
Đã cải tiến từ mẫu máy gieo lúa theo hàng của IRRI, chế tạo và chuyển giao vào sản xuất hơn 50.000 công cụ gieo lúa theo hàng
Trang 275) Cấy lúa:
Viện Cơ điện nông nghiệp & Công nghệ sau thu hoạch (Bộ Nông nghiệp & PTNT) sau khi thử nghiệm đã chuyển mẫu máy cấy sang Công ty Máy kéo và Máy nông nghiệp (thành viên của VEAM) để chế tạo và bước đầu đã có sản phẩm thương mại, được nhiều địa phương đặt hàng Tuy nhiên, muốn mở rộng diện áp dụng cần có kế hoạch phối hợp các bên vì vấn đề kỹ thuật liên quan đến công nghệ làm mạ và trồng lúa
7) Tuốt đập lúa:
Mức độ trang bị máy đập tuốt lúa tại các vùng trên cả nước năm 2003
có thể tham khảo trong bảng dưới đây (bình quân công suất máy ở Đồng bằng sông Cửu Long cao hơn):
ĐB Sông Hồng
Đông Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung
bộ
Duyên hải miền Trung
Tây nguyên
Đông Nam
bộ
ĐB sông Cửu Long
Số máy
đập (cái) 264.186 141.074 1.457 123.889 22.467 2.616 3.861 40.297
Trang 288) Thu hoạch ngô:
Đã có trên 1.000 máy tẽ ngô dùng động cơ và hàng vạn dụng cụ tẽ ngô quay tay, thỏa mãn được yêu cầu của nông dân Mẫu máy liên hợp thu hoạch ngô đã được thử nghiệm thành công
9) Vận tải nông thôn:
Năm 2004, số xe vận chuyển nông thôn ước tính hơn 119.000 cái trong
đó có khoảng 68.000 xe công nông đầu ngang Vùng nhiều sông rạch Đồng bằng sông Cửu Long trang bị gần 350.000 thuyền vận tải và đánh bắt thuỷ
Các loại máy kéo xích được nhập từ nước ngoài như D75, 100,
T-130, Volga TL-45, T-54B; Komatsu D-65A được dùng để san ủi bậc thang,
xử lý thực bì, làm đường ranh cản lửa Máy kéo MTZ-50/52, Kubota-125 dùng kéo móc vận chuyển, làm đất Viện Khoa học lâm nghiệp, Nhà máy Cơ khí lâm nghiệp đã nghiên cứu, thiết kế cày ngầm CN-1/2 đảm bảo độ cày sâu
từ 30-45 cm và cày ngầm CN-3 độ cày sâu gần 70 cm Với sự ra đời của vùng nguyên liệu giấy ở 6 tỉnh miền núi trung du phía Bắc, được sự giúp đỡ của Thụy Điển, nhiều loại máy làm đất trồng rừng được thử nghiệm và áp dụng như máy kéo bánh hơi bốn bánh Volvo T-65, Volvo T-184, Kockum 82, Krabat, máy kéo xích với máy đào Akenman H-9, Lokomo T-325C, T-340C, máy cuốc bánh hơi Massey Ferguson MF 50B; máy ủi Komatsu D53A-15, D85A-12, D80A-12, Bofor BS-19
Việc làm đất thủ công ở các hộ tư nhân còn khá phổ biến Một số chủ trang trại có vốn đã mua và áp dụng máy kéo cỡ nhỏ vạn năng nhập ngoại như Đông Phong, Công Nông 7, DFH-170/180 (của Trung Quốc), Kubota, Yanma, Shibaura (Nhật Bản), máy kéo Bông Sen của Việt Nam Những máy nói trên chủ yếu làm đất nông nghiệp và làm đất trồng cây nông lâm kết hợp
Trang 29Trong khâu tạo cây giống ở các lâm trường đã thực hiện cơ giới hóa khâu
làm đất 80%, vận chuyển 90%, tưới nước 60÷80% Trong việc chăm sóc
rừng trồng, tỷ lệ cơ giới hóa khâu phun thuốc đạt 70÷80% Cơ giới hóa khâu
khai thác chiếm tỉ lệ 60÷70%, vận chuyển gỗ đạt tỉ lệ 80% Đến năm 2005,
ngành lâm nghiệp có khoảng trên 30.000 máy cưa có động cơ, 200 máy kéo
xích kéo gỗ chuyên dùng, gần 380 xe chuyên dùng chở gỗ và hàng trăm xe
cẩu các loại, cải tiến thành công khoảng 650 xe GMC (Mỹ) thành xe REO
dùng để chuyển gỗ cây
11) Chế biến nông sản:
Đến năm 2004, cả nước đã có 252.129 cơ sở chế biến nông - lâm - thuỷ
sản, 17 nhà máy chế biến bột mì công suất 600.000 t/năm, tiêu dùng nội địa
Mức độ đầu tư các loại máy chế biến
Máy chế biến thức ăn gia súc, cái 4367
Bình quân cái/100 hộ 0,033
Bình quân cái/100 hộ 0,368
Nguồn: Tổng Cục thống kê, 2004
Năm 2005, sản lượng lúa cả nước đạt 35,8 triệu tấn, xuất khẩu 5,25 triệu
tấn gạo với kim ngạch 1,4 tỷ USD Năng lực xay xát do các Tổng Công ty
lương thực quản lý chiếm khoảng 15÷20% tổng lượng cần xay xát Phía Bắc
và miền Trung chủ yếu gồm các cơ sở xay xát nhỏ, năng lực khoảng 10 triệu
tấn thóc/năm, trình độ công nghệ nói chung là lạc hậu, phục vụ nội tiêu là
chính Nam Bộ có nhiều nhà máy hiện đại, công nghệ mới, công suất lớn
300-600 tấn thóc/ca Những năm gần đây, một số cơ sở đã trang bị thêm thiết bị
đánh bóng, tách màu phân loại gạo phục vụ xuất khẩu
12) Chế biến đường mía:
Vụ mía 2005-2006, diện tích mía cây là 266.000 ha, sản lượng 14,7
triệu tấn Sản xuất được 0,75 triệu tấn đường, trong đó lượng mía ép công
nghiệp tại 37 nhà máy là 8,5 triệu tấn (đạt 69,1% tổng công suất ép), số còn
lại do gần 4.300 cơ sở thủ công (công suất ép 1,5÷5 tấn mía/h) chế biến
13) Cà phê:
Tổng lượng cà phê được chế biến năm 2005 là 767.000 tấn, xuất khẩu
đạt 500 triệu USD Có khoảng hơn một nửa số lượng cà phê được chế biến
qui mô hộ (hoặc liên hộ), công nghệ chế biến giản đơn, thiết bị nhiều kiểu cỡ,
thiếu sân phơi, thiếu máy sấy… Số còn lại phân bổ ở nông trường quốc
Trang 30doanh, công ty tư nhân với qui mô vừa, tập trung nhiều ở Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Đồng Nai, Quảng Trị, năng suất chế biến từ 3÷4 t/h, công nghệ khá tiên tiến, trong đó có 14 dây chuyền thiết bị nhập từ nước ngoài (cơ giới hóa gần 70% số lượng công việc) Cả nước có 5 nhà máy sản xuất cà phê hòa tan, tổng công suất 6.500 t/năm (Vinamilk và Thái Hoà 2.000 t/năm, Vinacafe Biên Hòa 900-1.000 T/năm, Nestlé 1.000 T/năm, Trung Nguyên 400-500 T/năm)
14) Cao su:
Năm 2005, diện tích cao su cả nước là 480.200 ha, sản lượng 468.600 T
Đã có 70 nhà máy chế biến cao su công suất 500-20.000 T/năm, hai công đoạn là sơ chế cao su nguyên liệu (dạng khối - cao su cốm và Latex - mủ cao
su thiên nhiên cô đặc) và sản xuất cao su thành phẩm (lốp, xăm, đế giày, cao
su kỹ thuật) Sản phẩm mủ cao su chủ yếu cung cấp cho thị trường nước ngoài, năm 2005 toàn quốc đã chế biến được trên 500.000 tấn, xuất khẩu đạt trên 800 triệu USD
15) Hạt điều:
Năm 2005, diện tích trồng điều đạt 350.000 ha, diện tích cho thu hoạch
là 224.000 ha, sản lượng hạt 238.400 tấn Tổng công suất chế biến điều thô đạt trên 674.000 T/năm tại 219 cơ sở, trong đó có 13 cơ sở với công suất thiết
kế trên 10.000 T/năm, khoảng 50 xưởng sản xuất nhỏ do hộ gia đình quản lý
Đã xuất khẩu 108.700 tấn điều nhân đạt 501,5 triệu USD, chủ yếu cho thị trường Mỹ, Trung Quốc, Nga và Đông âu Dây chuyền chế biến hoàn toàn do Việt Nam sản xuất, chi phí năng lượng riêng khá thấp do khâu tách vỏ cứng
và bóc vỏ lụa còn làm thủ công Các khâu công nghệ khác đã được cơ khí hoá nhưng mức độ hiện đại còn hạn chế
16) Rau quả:
Năm 2005, diện tích trồng rau đạt 635.000 ha, sản lượng 9,64 triệu tấn Diện tích cây ăn quả đạt 767.100 ha, sản lượng 6,5 triệu tấn Hiện có 60 cơ sở chế biến rau quả với công nghệ hiện đại và khoảng 40 cơ sở chế biến công nghệ tiên tiến khác với tổng công suất trên 313.000 tsp/năm (Doanh nghiệp Nhà nước chiếm 48%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh 16%, còn lại là doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài) Ngoài ra, còn hơn một vạn cơ sở chế biến qui
mô nhỏ
17) Chế biến thịt, sữa:
Cả nước có 22 cơ sở chế biến thịt xuất khẩu, một số cơ sở ở thành phố
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình Dương được đầu tư công nghệ, thiết bị hiện đại, đảm bảo chất lượng Ngoài ra còn hàng nghìn lò mổ tư nhân Về tổng thể
Trang 31công nghệ chế biến thịt còn giản đơn, sản phẩm chưa đa dạng, giá xuất khẩu
thịt của nước ta còn thấp hơn thị trường của thế giới (thường đạt khoảng
50÷60%)
Sản lượng sữa tươi năm 2005 đã đạt 142 triệu lít, tuy nhiên ngành sữa
vẫn phải nhập một số lượng lớn sữa bột để hoàn nguyên Thiết bị công nghệ
chế biến sữa đã đạt tới trình độ hiện đại Các công ty sữa như Vinamilk,
Nestle, Cô gái Hà Lan đang tăng cường đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng mạnh về số lượng và chất lượng
18) Thức ăn chăn nuôi:
Chăn nuôi trở thành sản xuất hàng hóa, nhu cầu thức ăn chăn nuôi ngày
càng tăng đồng thời là lĩnh vực thu lợi nhuận cao, do đó thu hút nhiều đầu tư
Từ phía nước ngoài là Cargill, AFC (Mỹ), Biomin (áo), Hàn Quốc, Đài Loan,
Trung Quốc, Confeed (Indonesia), CP group (Thái Lan), Proconco (Pháp)
Các thành phần kinh tế trong nước cũng đầu tư nhiều dây chuyền chế biến
thức ăn chăn nuôi đồng bộ hiện đại kể cả nhập từ nước ngoài, xây dựng
thương hiệu uy tín bằng chất lượng, giá cả như Thức ăn gia súc VINA,
AFIMEX (An Giang), Tấn Lợi (Bến Tre), VIC (Hải Phòng), Bình Minh (Tiền
Giang), An Phú (TP Hồ Chí Minh), Hà Việt (Hà Nội), An Khánh (do Tổng
công ty Chăn nuôi quản lý)… Một số dây chuyền, công suất 5.000÷10.000
t/năm sản xuất trong nước do Viện Cơ điện NN & CNSTH, Viện Thiết kế
máy nông nghiệp, Công ty Quang Minh… chế tạo có giá thành hạ Các dây
chuyền lớn của nước ngoài 100.000÷200.000 t/năm, tuy hoàn chỉnh về công
nghệ nhưng giá rất cao Đến nay, sản lượng thức ăn công nghiệp đạt trên 4
triệu tấn thức ăn hỗn hợp; nửa triệu tấn thức ăn đậm đặc và thức ăn hỗn hợp
qui đổi là 4,5 triệu tấn, chiếm khoảng 40% trong tổng số thức ăn sử dụng
cho chăn nuôi (chỉ tiêu này bình quân trên thế giới là 48%, ở nước công
nghiệp phát triển 80÷90%)
CƠ SỞ SẢN XUẤT PHÂN THEO CÔNG SUẤT THIẾT KẾ
Cỡ công suất, tấn/năm
Số lượng (cơ sở) Tỷ lệ (%) Số lượng (cơ sở) Tỷ lệ (%)
Trang 32chế biến thức ăn chăn nuôi sau 20 năm "Đổi mới", 2005 19) Chế biến chè:
Năm 2005 tại các vùng trồng chè tập trung có gần 240 cơ sở chế biến, công suất từ 3 tấn búp tươi/ngày trở lên, công suất 800÷2.000 t.s.p/năm; 5 doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài công suất 50÷500 t.s.p/năm Một số nhà máy sử dụng công nghệ - thiết bị chế biến chè đen của Liên Xô trước đây nay
đã lạc hậu, do thiếu vốn nên chưa kịp bổ sung Ngoài ra, còn khoảng một vạn
cơ sở chế biến thủ công nửa cơ giới qui mô gia đình, công suất một vài trăm
kg búp tươi/ngày Tổng công suất chế biến chè các loại ~600.000 tấn búp tươi/năm Sản lượng chè búp khô đạt 160.000 tấn (trong đó tiêu thụ nội địa 25% tổng sản lượng) Xuất khẩu phần lớn là chè đen, khoảng 71.000 tấn với kim ngạch đạt trên 100 triệu USD Nhìn chung, công nghiệp chế biến chè của nước ta trong thời gian qua tuy đáp ứng được sản lượng nhưng chưa đầu tư chiều sâu và thiếu đồng bộ để nâng cao chất lượng và đa dạng hoá sản phẩm Sản phẩm chè còn ở dạng sơ chế, thiếu chủng loại cao cấp nên giá trị gia tăng thấp, hiệu quả chế biến chưa cao Chè chế biến thủ công chất lượng rất thấp, không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm
20) Bảo quản nông sản:
Tổng tích lượng kho bảo quản lương thực tập trung hiện có khoảng 1 triệu tấn, riêng hệ thống kho ở miền Nam tổng tích lượng khoảng 800.000 tấn Hiệu suất sử dụng còn thấp Hệ thống kho được xây dựng ở Tổng công ty Lương thực miền Bắc, xilô chứa và kho bảo quản lương thực thuộc hệ thống
dự trữ quốc gia còn rất khiêm tốn, công nghệ thiết bị còn lạc hậu, cần được nâng cấp, cải tạo Trên 80% số lượng lương thực được bảo quản trong hơn 10 triệu hộ nông dân, do thiếu phương tiện, thiếu kiến thức nên tổn thất còn khá cao
Bảo quản rau, quả hiện nay chủ yếu vẫn dùng kho lạnh nhưng lượng nhỏ
Sấy nông sản:
Tính đến cuối 2005, cả nước trang bị hơn 7.000 máy sấy lúa, cùng với hàng chục nghìn máy sấy trong các dây chuyền chế biến nông - lâm - thủy sản
21) Chế biến gỗ và lâm sản:
Diện tích rừng trồng khoảng 2 triệu ha, sản lượng gỗ khai thác hàng năm cho chế biến khoảng 2 triệu m3 (nhập khẩu thêm 3-4 triệu m3) Sản lương tre nứa khai thác hàng năm khoảng 1 triệu tấn, đủ nhu cầu chế biến Riêng song mây hàng năm phải nhập khảng 20.000 T
Trang 33Cả nước có trên 1.200 doanh nghiệp với gần 100.000 máy cưa xẻ gỗ, công suất chế biến ~2 triệu m3 gỗ qui tròn/năm Các cơ sở liên doanh với nước ngoài (hoặc vốn 100% của nước ngoài) được trang bị công nghệ và máy móc hiện đại, chất lượng sản phẩm cao Xuất khẩu sản phẩm gỗ năm 2005 đạt 1,52 tỷ USD
Hiện nay, cả nước có 6 nhà máy ván dăm, ván sợi và 12 nhà máy ván dán được xây dựng từ những năm 1960÷1970, thiết bị công nghệ đã lạc hậu Riêng 9 nhà máy ván ghép thanh, 4 nhà máy ván ghép tre luồng, 5 dây chuyền dăm mảnh và 50 cơ sở chế biến song mây được xây dựng vào những năm
1990 công nghệ và thiết bị đạt mức trung bình tiên tiến, sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu sang Nhật, Đài Loan Đã xây dựng nhà máy ván sợi Gia Lai thiết
bị công nghệ tiên tiến của Thụy Điển công suất 54.000 m3 s.p/năm, nhà máy ván dăm Thái Nguyên công suất 16.500 m3 s.p/năm và nhà máy ván sợi Thái Hoà - Nghệ An liên doanh với Trung Quốc công suất 150.000 m3 s.p/năm, nhà máy ván sợi Hoành Bồ - Quảng Ninh công suất 3.000 m3 s.p/năm
22) Sản xuất ở các làng nghề thủ công:
Số làng nghề thủ công là 2.017 làng (chiếm 2,5% tổng số làng), số người tham gia vào sản xuất khoảng 1,35 triệu người
Hiện tại, đã có hơn 40% sản phẩm ngành nghề nông thôn được xuất khẩu đến thị trường của 100 nước trên thế giới Số hộ và cơ sở sản xuất nghề nông thôn ở khu vực nông thôn đang ngày càng tăng với tốc độ tăng bình quân hàng năm từ 8-10%/năm
Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu vẫn mang tính tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậu và các thiết bị máy móc cũ kỹ Trên 80% số cơ sở không đủ vốn đầu tư để đổi mới kỹ thuật
23) Trang bị máy động lực, máy nông nghiệp cho các trang trại
Trang trại đã phát triển từ lâu trên thế giới, là hình thức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp ở Việt Nam hơn 10 năm qua, các trang trại đã hình thành và phát triển về số lượng, qui mô, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, là hướng đi có tiềm năng lớn
Số liệu điều tra 61.017 trang trại (năm 2001) cho thấy mức độ trang bị động lực và máy nông nghiệp cho các trang trại ở Việt Nam còn rất thấp
SỐ TRANG TRẠI PHÂN THEO CÁC LOẠI HÌNH
Số lượng trang trại qua các năm, trang trại
1999 2001 2004 2005
Trang 34Tổng số 45.803 61.017 110.832 119.586
Trang trại trồng cây hàng năm 1.374 21.754 32.759 34.224
Trang trại trồng cây lâu năm 13.717 16.578 22.759 22.332
Trang trại chăn nuôi 1.664 1.761 9.967 13.651
Trang trại nuôi trồng thủy sản 8.095 17.061 35.424 35.648
Trang trại kinh doanh tổng hợp - 2.249 9.721 -
Trồng cây lâu năm
Chăn nuôi
Lâm nghiệp
Nuôi trồng thủy sản
SXKD tổng hợp
Máy kéo 18,52 24,83 15,59 7,21 6,3 2,25 13,3
Xe vận tải 1,2 0,89 1,71 4,15 1,5 0,35 4,33 Tàu, thuyền v/t 21,15 31,83 0,7 1,14 6,89 32,73 7,19
Động cơ tĩnh tại 22 27,18 20,06 6,93 7,25 20,89 17,23
Máy phát điện 8,57 2,11 6,38 16,98 18,53 14,9 25,36
Máy gặt lúa 0,26 0,39 0,15 0,45 0,18 0,14 0,44
Máy tuốt lúa 7,14 16,82 0,87 2,04 3,84 1,29 10,45
Máy sấy lúa 1,13 2,47 0,4 1,08 0,12 0,19 1,52
Trang 35III Kết luận Chương III
Chương III cho chúng ta cái nhìn tổng thể, toàn diện việc sử dụng trang
bị máy động lực và máy nông nghiệp trong hầu hết các ngành kinh tế Vấn đề này phải được đánh giá biện chứng trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính của bộ phận nông thôn, nông dân của nước ta hiện nay Cái nhìn đó một mặt cho chúng ta thấy rõ bức tranh của thực trạng, trên cơ sở đó mà hoạch định lộ trình, bước đi cho công tác phát triển thiết kế
và sản xuất các sản phẩm máy động lực và máy nông nghiệp Một ví dụ rất cụ thể có thể nêu ra đây là: trong một thời gian dài, máy kéo vận chuyển VC-12
do VEAM chế tạo đã đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, xây dựng , và cho tới nay có thể nói vẫn chưa có sản phẩm thay thế được Nhưng do nhiều lý do, trong đó có vấn đề “không quản
lý được thì chúng ta cấm” đã gây ra rất nhiều khó khăn cho sản xuất của nông dân, nông thôn vô hình chung tạo ra sự lãng phí không đáng có cho toàn xã hội Cung cấp một cách nhìn, đó cũng là vấn đề rất quan trọng để chúng ta có thể lựa chọn đường đi phù hợp
ĐẦU TƯ MÁY MÓC, TRANG BỊ PHÂN THEO VÙNG SẢN XUẤT VÀ CẢ NƯỚC
Nguån: Tæng côc Thèng kª, 2003
Trang 36CHƯƠNG IV
DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG MÁY ĐỘNG LỰC VÀ MÁY NÔNG NGHIỆP
I Phương hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn
Mục tiêu mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra như sau:
- Tăng sản lượng ở mức hợp lý để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia,
có dự trữ, đảm bảo thức ăn chăn nuôi và xuất khẩu 3-4 triệu tấn/năm; coi trọng chất lượng, tăng sản lượng gạo chất lượng cao cho xuất khẩu; phát triển mạnh cây ngô để làm thức ăn chăn nuôi Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 4-4,5%/ năm; tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn mức bình quân của cả nước
- Tập trung trồng rừng sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm,
để đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho nền kinh tế
- Phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản đồng bộ bảo đảm tăng trưởng bền vững, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển đảo ổn định khai thác ven bờ gắn với phát triển nuôi ở biển Phát triển mạnh khai thác xa
bờ
- Đẩy mạnh liên kết công - nông nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất Phát triển đa dạng ngành nghề phi nông nghiệp, nhất là những ngành có giá trị gia tăng và giá trị xuất khẩu cao, tạo việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn
- Đến năm 2010, bình quân trang bị động lực cả nước đạt 1,6 mã lực/ha (năm 2005 là 0,6 mã lực/ha), tỷ lệ cơ giới hoá khâu làm đất đạt 70%-75% (năm 2005 là 55%)
- Khâu thu hoạch, tuốt đập lúa: Tỷ lệ cơ giới hóa khâu thu hoạch năm
2010 đạt 35%, năm 2020 là 75% diện tích trồng lúa cả nước
- Khâu phơi sấy và làm sạch lúa: Thời kỳ đến năm 2010: bảo đảm năng lực sấy kết hợp làm sạch của cả nước trên 10 triệu tấn vào năm 2010 Sản lượng lúa hè thu cơ bản được sấy bằng máy Thời kỳ 2011-2020: Tiếp tục khuyến khích đầu tư nâng tổng khối lượng lúa được sấy kết hợp làm sạch bằng máy của cả nước lên trên 20 triệu tấn vào năm 2020; trong đó 100%
Trang 37khối lượng lúa hàng hóa chế biến gạo xuất khẩu được sấy bằng máy với công
nghệ tiên tiến, một số công đoạn được tự động hóa
- Khâu bảo quản: Đưa tỷ lệ cơ giới hóa các hoạt động trong khâu bảo quản
lúa, gạo tại các công ty kinh doanh gạo xuất khẩu lên 40% vào năm 2010, tăng
lên 80% vào năm 2020 với 20% được tự động hóa Đảm bảo đủ năng lực xuất
khẩu trên 5 triệu tấn gạo/năm Trên 90% lượng ngô hàng hóa, trên 70% sản
lượng đậu tương và lạc hàng hóa được bảo quản trong hệ thống kho hiện đại
- Đẩy mạnh nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy móc thiết bị và dây chuyền
công nghệ sau thu hoạch lúa gạo, ngô, đậu tương và lạc với chất lượng và
hiệu suất hoạt động cao, giá thành hạ Năm 2010 tỷ lệ tự động hoá ở hầu hết
các cơ sở sản xuất, chế biến gạo đạt 5-10% Đến năm 2020, tỷ lệ này đạt 20%
tại các cơ sở phục vụ nội tiêu và trên 30% tại các cơ sở phục vụ xuất khẩu
Đối với ngô, mục tiêu là tỷ lệ cơ giới hóa khâu thu hoạch năm 2015 đạt 40%
và năm 2020 đạt 70% tổng diện tích ngô hàng hóa; tỷ lệ cơ giới hóa khâu bóc
bẹ, tẽ hạt ngô đạt 80% sản lượng
- Năng lực sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp đạt 6,0-6,5 triệu tấn
vào năm 2010 và 11-12 triệu tấn vào năm 2020
II Vấn đề trang bị máy móc cho nông nghiệp
Giai đoạn từ nay đến năm 2020, Nhà nước đã có định hướng chuyển
dịch cơ cấu của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ
Ngành nghề nông thôn phát triển, nông dân chuyển dần sang các lĩnh vực
khác, sản xuất nông nghiệp tập trung hơn đòi hỏi công nghiệp phải tăng
cường trang bị máy móc cơ giới, đảm bảo chương trình lương thực - thực
phẩm quốc gia, tăng đầu tư chiều sâu cho công nghiệp chế biến, tăng giá trị
xuất khẩu nông sản
CHỈ TIÊU DỰ BÁO VỀ TỶ LÊ CƠ GIỚI HOÁ KHÂU CANH TÁC VÀ THU HOẠCH
- Cây lâu năm, cây ăn quả 60-65 66-75 76-100
* Khâu gieo trồng, cấy
- Cây lâu năm, cây ăn quả 35-40 41-50 51-70
* Khâu chăm sóc
Trang 38- Cây lâu năm, cây ăn quả 80-100 100 100
* Khâu tưới, tiêu nước
- Cây lâu năm, cây ăn quả 75-80 81-86 87-100
* Khâu thu hoạch
- Cây lâu năm, cây ăn quả 10-20 21-35 36-60
Hạng mục cơ giới hoá 2006-2010 2011-2015 2016-2020
* Khâu gieo trồng, cấy
- Cây lâu năm, cây ăn quả 20-25 26-35 36-45
* Khâu chăm sóc
- Cây lâu năm, cây ăn quả 80-100 100 100
* Khâu tưới, tiêu nước
- Cây lâu năm, cây ăn quả 25-35 36-45 46-60
* Khâu thu hoạch
- Cây lâu năm, cây ăn quả 20-30 31-40 41-60
* Khâu gieo trồng, cấy
- Cây lâu năm, cây ăn quả 15-20 20-25 35-50
* Khâu chăm sóc
- Cây lâu năm, cây ăn quả 30-35 36-40 41-50
* Khâu tưới, tiêu nước
- Cây lâu năm, cây ăn quả 10-20 21-30 31-40
* Khâu thu hoạch
Trang 39- Cây lâu năm, cây ăn quả 30-40 41-50 51-60
* Khâu gieo trồng, cấy
- Cây lâu năm, cây ăn quả 20-30 31-40 41-45
Hạng mục cơ giới hoá 2006-2010 2011-2015 2016-2020
* Khâu chăm sóc
- Cây lâu năm, cây ăn quả 40-50 51-65 66-76
* Khâu tưới, tiêu nước
- Cây lâu năm, cây ăn quả 40-50 51-60 61-70
* Khâu thu hoạch
- Cây lâu năm, cây ăn quả 40-45 46-52 53-60
* Khâu gieo trồng, cấy
- Cây lâu năm, cây ăn quả 20-30 31-40 41-45
* Khâu chăm sóc
- Cây lâu năm, cây ăn quả 35-45 46-55 56-65
* Khâu tưới, tiêu nước
- Cây lâu năm, cây ăn quả 31-35 36-45 46-52
* Khâu thu hoạch
Trang 40* Khâu gieo trồng, cấy
- Cây lâu năm, cây ăn quả 25-30 31-40 41-50
* Khâu chăm sóc
- Cây lâu năm, cây ăn quả 40-50 51-60 61-75
* Khâu tưới, tiêu nước
- Cây lâu năm, cây ăn quả 10-20 21-31 32-45
Hạng mục cơ giới hoá 2006-2010 2011-2015 2016-2020
* Khâu thu hoạch
- Cây lâu năm, cây ăn quả 46-55 56-65 66-80
* Khâu gieo trồng, cấy
- Cây lâu năm, cây ăn quả 30-40 41-50 51-60
* Khâu chăm sóc
- Cây hàng năm 40-60 61-70 71-90
- Cây lâu năm, cây ăn quả 40-50 51-60 61-70
* Khâu tưới, tiêu nước
- Cây lâu năm, cây ăn quả 15-30 31-45 46-60
* Khâu thu hoạch
- Cây lâu năm, cây ăn quả 70-75 76-85 86-100
* Khâu gieo trồng, cấy
- Cây lâu năm, cây ăn quả 30-40 41-50 51-60
* Khâu chăm sóc