Do đó, đòi hỏi phải có giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của
Trang 17390
08/6/2009
Hµ Néi - 2008
Trang 2Nh÷ng ng−êi tham gia
Trang 3Chính sách Chính sách tiền tệ Chính sách tài khoá
Chính sách kinh tế Doanh nghiệp Doanh nghiệp Nhà nước
Dự trữ bắt buộc
Đầu tư trực tiếp nước ngoài Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Chương trình Hỗ trợ Quốc tế Ngân hàng thương mại Ngân sách Nhà nước Người tiêu dùng Nghiệp vụ Thị trường mở Nghiệp vụ Hoán đổi ngoại tệ
Tổ chức tín dụng
Đô la Mỹ Thuế giá trị gia tăng
Đồng Việt Nam Ngân hàng Thế giới
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 4Trang
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng và thực thi chính
1.1 Khái niệm, chu trình chính sách kinh tế vĩ mô, phân loại xây
dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước 13 1.2 Đặc điểm, mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở
1.3 Nội dung đánh giá việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ
Chương 2: thực trạng xây dựng và thực thi chính sách
2.1 Xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước qua
2.2 Đánh giá chung về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và thực
thi chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước ở
3.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế ảnh hưởng tới việc xây dựng và
thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam 116 3.2 Mục tiêu hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
3.3 Giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
Trang 5Hình 1.4 Truyền tải tác động của công cụ CSTT tới mục tiêu cuối cùng 44
Hình 1.5 Tác động lan truyền của việc tăng cung tiền tới lãi suất,
Hình 1.7 Tác động của chính sách kích cầu theo lý thuyết cổ điển 48
Hình 1.9 Phân tích chi phí - lợi ích của thuế nhập khẩu ở một nước nhỏ 50
Hình 1.10 Quá trình ảnh hưởng của CSTT và CSTK đối với GDP và
mức giá cả (time lags)
54
Hình 2.1 Quy trình xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia của Việt Nam 75
Hình 2.2 Mức độ hoàn thiện chính sách của VN so với mức TB của
các nước thu nhập thấp IDA, 1999
86
Hình 2.3 Quy trình xây dựng chính sách truyền thống ở Việt Nam 93
Hình 2.4 Mức độ hoàn thiện chính sách của Việt Nam: 2004 so
với 1998
100
Hình 3.1 Đề xuất quy trình xây dựng CSTK và CSTM ở Việt Nam 127
Hình 3.3 Quy trình xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô 131
Trang 6danh môc c¸c b¶ng
Trang
B¶ng 2.1 Mét sè môc tiªu kinh tÕ vÜ m« cña ViÖt Nam (1991 - 2000) 66
B¶ng 2.6 Mét sè môc tiªu kinh tÕ vÜ m« cña ViÖt Nam 2002 - 2007 88
B¶ng 2.7 Mét sè môc tiªu kinh tÕ vÜ m« vµ kÕt qu¶ thùc hiÖn cña
ViÖt Nam (2001 - 2007)
100
Trang 7Mở Đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã đi qua 20 năm đổi mới một cách ấn tượng với nhiều thành tựu quan trọng Nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách chắc chắn Với tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 7%/ năm trong thập kỷ qua, Việt Nam cũng đã lập được những kỷ lục về giảm nghèo Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã khẳng định mức độ tiến bộ mà chúng ta đã đạt được trong 20 năm Có được những kết quả đó, không thể không nói tới những tiến bộ vượt bậc trong xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong 20 năm qua Giờ đây, đất nước đang bước sang một thời kỳ mới – thời kỳ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân Bên cạnh những vận hội mới, chúng ta cũng đang đứng trước nhiều thách mới Chúng ta không thể chỉ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao mà không quan tâm tới chất lượng tăng trưởng Chúng ta cũng không thể mặc nhiên cho rằng tốc
độ tăng trưởng cao của nền kinh tế có thể duy trì được mãi Cạnh tranh giữa các nước ngày càng trở nên quyết liệt, trong khi nguồn lực cho tăng trưởng không tăng cùng chiều với tăng trưởng Hơn nữa, tăng trưởng cao không đồng nghĩa với tăng trưởng có chất lượng và cũng không có nghĩa Việt Nam sẽ chắc chắn đi vào
đúng quỹ đạo trở thành quốc gia phát triển Nếu chúng ta quản lý kinh tế vĩ mô không tốt, không có chiến lược phát triển đúng đắn, không có chính sách phù hợp, mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình vào năm 2010 và trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, mà chúng ta đang theo đuổi, khó trở thành hiện thực Việt Nam sẽ khó khăn hơn trong việc bắt kịp các nước khác trong khu vực Mặt khác, trong trường hợp những mục tiêu trên là khả thi, khi đó, nền kinh tế của chúng ta sẽ ngày càng trở nên phức tạp, ngày càng có nhiều sự khác biệt giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp dân cư, nhiều rủi ro hơn, nhiều vấn đề phức tạp phải giải quyết hơn Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải có năng lực xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô để có thể quản lý được nền kinh tế phức tạp đó Một điểm nữa, gia nhập WTO không có nghĩa là đất nước sẽ tự “cất cánh” Điều cần thiết để Việt Nam có thể hội nhập thành công là cần có yếu tố nội lực Trong đó, việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước là một trong những yếu tố nội lực quan trọng để quản lý một nền kinh tế ngày càng phức tạp, trong một môi trường thế giới đầy biến động và cạnh tranh
Trang 8gay gắt Xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô là một trong những nhân
tố quan trọng cho phép Nhà nước có thể kiểm soát đối với quá trình hội nhập,
đối phó với những khó khăn nghiêm trọng khi xảy ra
Mặc dù việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong thời gian qua đã có nhiều tiến bộ và đã đạt được những thành công quan trọng, nhưng vấn đề này còn hạn chế trên nhiều mặt Do đó, đòi hỏi phải có giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ mới, để có thể đạt được những mục tiêu mà chúng ta mong đợi, sớm đưa đất nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm
2020 Điều đó cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có sự nghiên cứu một cách sâu
sắc, có hệ thống và khoa học vấn đề xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam Thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu hy vọng
đóng góp phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu đó
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù công cuộc đổi mới của Việt Nam đã trải qua 20 năm, việc xây dựng
và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam đã đạt được những bước tiến khá dài, nhưng việc nghiên cứu xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều Đây
là một vấn đề phức tạp và có phạm vi rất rộng Theo nghiên cứu của chúng tôi, cho
đến nay chưa có công trình nào tập trung đi sâu nghiên cứu chỉ duy về vấn đề này Trong nhiều công trình của các tác giả nước ngoài, các báo cáo của các tổ chức quốc tế ở Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WTO), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB),…mặc dù vấn đề quản lý kinh tế vĩ mô của Việt Nam nói riêng, đổi mới kinh tế của Việt Nam nói chung ở các thời kỳ khác nhau của công cuộc đổi mới, đã
được nghiên cứu một cách sâu sắc bởi các tác giả khác nhau, nhưng cũng chưa thấy
có công trình nào đánh giá về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam một cách đầy đủ Tuy vậy, chúng tôi cũng đã có được một số phân tích đánh giá về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam qua một số thời kỳ, từ 1986 trở lại đây, nằm rải rác trong các công trình nghiên cứu về kinh tế Việt Nam của các tác giả trong nước và ngoài nước Qua các công trình đó, chúng tôi có thể rút ra nhiều vấn đề hữu ích cho việc nghiên cứu đề tài này
Trang 9Sau đây, chúng tôi xin được giới thiệu một số công trình đáng chú ý trong rất nhiều công trình mà chúng tôi đã nghiên cứu Nghiên cứu các công trình liên quan đến đề tài của các tác giả trong nước và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy, các công trình đó tập trung nghiên cứu ở hai nhóm chủ đề:
2.1 Các công trình nghiên cứu kinh tế vĩ mô và đánh giá chính sách kinh
tế vĩ mô của Việt Nam
Các công trình thuộc nhóm này chủ yếu tập trung phân tích ở hai khía cạnh
lớn, liên quan đến đề tài Một là, phân tích những vấn đề kinh tế vĩ mô của Việt Nam ở nhiều thời kỳ khác nhau Hai là, phân tích, đánh giá các chính sách kinh tế
vĩ mô của Việt Nam qua các thời kỳ, như chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, chính sách thương mại, chính sách đầu tư, các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Tuy nhiên, các đánh giá về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam chưa được thể hiện đậm nét và mới dừng ở mức độ chung nhất trong các phân tích của các tác giả Chúng chưa đủ sâu sắc và chưa được trình bày một cách có hệ thống Song, các kết quả nghiên cứu của các công trình này về chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, cho chúng ta có nhiều góc nhìn về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt nam Sau đây là một
số công trình tiêu biểu thuộc nhóm này Các công trình này có thể đề cập tới nhiều nội dung, nhưng chúng tôi chỉ giới thiệu tóm lược những nội dung chính liên quan đến đề tài này
- Phòng Tổng hợp Quốc gia – Vụ Khu vực 1 – Khu vực Đông á và Thái
Bình Dương, (1995), Việt Nam: Báo cáo kinh tế về CNH và chính sách công nghiệp (Tài liệu của Ngân hàng Thế giới), NXB Thế giới, H
Trong tài liệu này, các nhà nghiên cứu đã tập trung phân tích các hoạt động kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ 1986 đến 1994 Các chính sách ở đây, được phân tích dưới giác độ tạo môi trường cho các doanh nghiệp tư nhân phát triển Ngoài
ra, tài liệu này cũng xem xét một số vấn đề khác, như cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước, CNH vùng và phát triển nông thôn, ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp…ở đây, vấn đề quản lý kinh tế vĩ mô nói chung, xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước nói riêng chưa được đề cập tới một cách
rõ nét
- Báo cáo kinh tế không chính thức của Ngân hàng Thế giới – Hội nghị
nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, Hà Nội, ngày 14 - 15 / 12/1999, “Việt Nam chuẩn bị cất cánh? Làm thế nào Việt Nam có thể tham gia toàn diện vào quá trình phục hồi của Đông á?”
Trang 10Trong công trình này, các tác giả đề cập nhiều vấn đề đáng quan tâm như tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong thời gian từ 1997 -1999 (tăng trưởng kinh tế, đầu tư, xuất nhập khẩu, tỷ giá, lạm phát, thu chi ngân sách, các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng, thất nghiệp ở thành thị, nông thôn); đánh giá tình hình khu vực kinh tế tư nhân; triển vọng trung hạn và tài trợ từ bên ngoài; những khuyến nghị cải cách chính sách để tăng trưởng cao hơn Báo cáo cũng
đánh giá động thái chính sách của Chính phủ trong giai đoạn này, trong đó nhận
định rằng Chính phủ đã theo đuổi chính sách kinh tế thận trọng nhằm ưu tiên ổn
định kinh tế vĩ mô thay vì những chính sách nhằm đạt mức tăng trưởng cao hơn
- Brian Van Arkadie và Raymond Mallon (2004), “Việt Nam - Con hổ
đang chuyển mình -, NXB Thống kê
Các tác giả đã phân tích quá trình cải cách của Việt Nam một cách hệ thống, từ trước khi thống nhất đất nước đến thời kỳ đổi mới, được khởi xướng năm 1986 và cho tới 2003 Bằng cách phân tích chặt chẽ, logic và sâu sắc, các tác giả đã cho thấy những thành công cũng như hạn chế của quá trình xây dựng các thể chế quản lý kinh tế vĩ mô, những đổi mới chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam qua các thời kỳ Đặc biệt, xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Việt Nam trong quá trình cải cách, đổi mới cũng được các tác giả phân tích ở đây
Đồng thời, các tác giả còn đưa ra những khuyến nghị chính sách cho Việt Nam nhằm tăng trưởng cao hơn và công bằng hơn Tuy nhiên, những đánh giá về xây dựng
và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô mới ở mức độ chung nhất, chưa được đánh giá một cách cụ thể trên từng khâu của chu trình chính sách kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, các vấn đề được phân tích khảo sát mới dừng ở năm 2003
- Diễn đàn phát triển Việt Nam, GS.TS Nguyễn Văn Thường (chủ biên)
(2005), “Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: những rào cản cần phải vượt qua”,
- Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), (2001), nhóm các báo cáo về kinh tế Việt Nam trong từng năm, từ năm 1998 tới 2006
- Kinh tế Việt Nam 1998; Kinh tế Việt Nam 1999; Kinh tế Việt Nam 2000; Kinh tế Việt Nam 2001; Kinh tế Việt Nam 2002; Kinh tế Việt Nam 2003, Kinh tế Việt Nam 2004; Kinh tế Việt Nam 2005; Kinh tế Việt Nam 2006
Trang 11Đây là các báo cáo hàng năm về kinh tế Việt Nam do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thực hiện Nội dung các báo cáo này gồm các phân tích kinh tế của năm nghiên cứu, như bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước, tình hình kinh tế vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, đầu tư, xuất nhập khẩu hàng hoá, lạm phát, tỉ giá, cán cân thanh toán quốc tế), các điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô (chủ yếu đề cập tới chính sách tài chính, chính sách tiền
tệ, thu chi ngân sách, điều chỉnh lãi suất…), kết quả tác động của các chính sách thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Tuy vậy, việc phân tích, đánh giá các chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam chưa được thể hiện rõ nét trong các báo cáo này, các vấn đề về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô chưa thấy được
đề cập ở đây
- Ngân hàng Thế giới (12/2006), Báo cáo phát triển Việt Nam 2007: Hướng đến tầm cao mới , www.vdic.org.vn
Bản báo cáo có những đánh giá cụ thể những tiến bộ trong cách thức lập
kế hoạch của Việt Nam, những ưu điểm trong kế hoạch mới, những tiến bộ mà Việt Nam đạt được trong thời kỳ 2001 -2005 thông qua các tiêu chuẩn đánh giá
là tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ giảm nghèo, các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Bản báo cáo còn đưa ra những phân tích, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu trong các lĩnh vực cải cách, trong cải cách chính sách kinh tế vĩ mô Hơn nữa, những vấn đề về chính sách cần phải thực hiện trong chặng đường phía trước,
được đề xuất trong báo cáo, là những giải pháp quan trọng giúp Việt Nam thực hiện những mục tiêu mà mình đang theo đuổi
Có thể nói, đây là một trong số ít những công trình có đề cập tới chất lượng chính sách kinh tế vĩ mô, đánh giá quy trình xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam, mà chúng tôi được tiếp cận Tuy nhiên, những phân tích đó
mới chỉ thực hiện cho một số chính sách trong thời gian gần đây và cũng chưa thật đầy đủ các khía cạnh của xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam
- Phạm Đỗ Chí và Phạm Quang Diệu (2005), Kinh tế Việt Nam: Từ đổi mới đến hội nhập, http://hoithao.viet-studies.org/2005_Chidieu_1.pdf
Các tác giả đã xác định vị trí của Việt Nam trong tiến trình phát triển khi
so sánh Việt Nam với các nước trong khu vực thông qua các chỉ tiêu như GDP bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế, năng suất lao động…Quá trình đổi mới và những kết quả của công cuộc đổi mới mà Việt Nam đạt được qua 20 năm cũng
được phân tích một cách hệ thống Đặc biệt, những kết quả trong đổi mới chính sách, thể chế được khái quát khá rõ trong bài viết này Đáng chú ý, các tác giả đã
Trang 12chỉ ra những vấn đề cốt lõi cần cải thiện để có thể hội nhập nhanh chóng và hiệu quả hơn Đó là điều tiết vĩ mô, đầu tư, sức cạnh tranh của nền kinh tế và môi trường đầu tư, cải cách cơ cấu Trong đó, điều tiết kinh tế vĩ mô đang nổi lên như một vấn đề tiên quyết để phát triển ổn định và bền vững Như vậy, trong bài viết này, các tác giả cũng chưa đề cập tới xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam, chưa có đánh giá các chính sách kinh tế vĩ mô của Việt nam qua các thời kỳ, từ 1986 tới nay
Ngoài ra, có thể thống kê được rất nhiều công trình khác có cùng chủ đề như các công trình vừa nêu trên đây
- Đo chất lượng của chính phủ: Việt Nam đứng ở đâu? www
vietnamnet.com.vn, ngày 8-10-2006
- Vietnam: Country Assistance Strategy of the World Bank Group 1999 -2002 (Việt Nam: Chiến lược hỗ trợ quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới giai đoạn 1999 -2002), Tài liệu của Ngân hàng Thế giới
- Vietnam: A Progress Report on the Country Assistance Strategy of the
World Bank Group 1999 -2002 (Việt Nam: Báo cáo tiến triển Chiến lược hỗ trợ
quốc gia giai đoạn 1999 -2002 ), Tài liệu của Ngân hàng Thế giới
- Việt Nam: Chiến lược hỗ trợ quốc gia của Nhóm Ngân hàng Thế giới- giai đoạn 2003 -2006), Tài liệu của Ngân hàng Thế giới
- Báo cáo tiến triển Chiến lược hỗ trợ quốc gia giai đoạn 2003 -2006, Tài
liệu của Ngân hàng Thế giới
- Nguyễn Văn Thường, Lê Du Phong(2006), Tổng kết kinh tế Việt Nam
2001 - 2006, NXB Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, H
- Lê Xuân Sang (2003), Chính sách kích cầu của Việt Nam sau 4 năm nhìn lại: thành công hạn chế và một số gợi ý chính sách, Tạp chí Nghiên cứu
Kinh tế số 6-7, tr.3, 42
- Võ Hùng Dũng, (200), Kinh tế Việt Nam: Phân tích từ tổng cầu, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế số 11, tr.3
- Phạm Đỗ Chí, Trần Nam Bình, Vũ Quang Việt, (2002), Những vấn đề kinh tế Việt Nam: Thử thách của hội nhập, NXB Thành phố Hồ Chí Minh,
Trung tâm Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương, Thời báo Kinh tế Sài gòn
- UNDP – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, (2001), Việt Nam hướng tới 2010, Nxb
Chính trị Quốc gia, H, (Tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược Phát
triển kinh tế - xã hội của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam)
Trang 13- Hội nghị Nhóm Tư vấn các Nhà Tài trợ Việt Nam, (2004), Báo cáo phát triển Việt Nam 2005: Quản lý và điều hành, Hà Nội, 12/2004
- Hội nghị Nhóm Tư vấn các Nhà Tài trợ Việt Nam, (2002), Báo cáo phát triển Việt Nam 2003: Việt Nam thực hiện cam kết, Hà nội
- Võ Đại Lược (2005), Những vấn đề phát triển ở Việt Nam – giải pháp,
Thời đại mới – Tạp chí Nghiên cứu và thảo luận số 6, tháng 11/2005
- Lại Ngọc Hải, (2004), Tăng trưởng kinh tế: Một vài dấu hiệu đáng suy ngẫm, Tạp chí Cộng sản số 60
- Standard và Poor’s về hệ số tín nhiệm quốc gia với Việt Nam,
www.Viet.vietnamebasy.us (website của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ)
- Ari Kokko- Mario Zejan, (1996), Việt Nam chặng đườc tiếp theo của cải cách, Nxb Chính trị Quốc gia, H
- Ngân hàng thế giới (1998)," Việt Nam vượt lên thử thách", Báo cáo kinh tế,
Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, 7 - 8/12, Hà Nội
- Ngân hàng thế giới, ADB, UNDP (2000)," Việt Nam 2010 - Tiến vào
thế kỷ 21- Các trụ cột của sự phát triển", Báo cáo phát triển Việt Nam 2001, Hội
nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam, từ ngày 14 - 15/12, Hà Nội
2.2 Các công trình nghiên cứu riêng về từng chính sách kinh tế vĩ mô
Các chính sách kinh tế vĩ mô được nghiên cứu trong các công trình này là chính sách tiền tệ, chính sách tài chính, chính sách thương mại và chính sách đầu tư Do sự liên quan chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính, giữa chính sách thương mại và chính sách đầu tư nên các chính sách này thường được nghiên cứu hoặc độc lập với nhau hoặc nghiên cứu kết hợp với nhau, theo hai nhóm như sau:
* Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách tài chính, chính sách tiền tệ
Các công trình này tập trung nghiên cứu sự điều hành, tác động của chính sách tài chính, chính sách tiền tệ và sự phối hợp hai chính sách đó trong thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô ở Việt Nam qua nhiều thời kỳ Dưới đây là một
số công trình trong rất nhiều công trình thuộc nhóm này
- Hoàng Thị thuý Ngọc, (2004), Chính sách tài chính, tiền tệ trong quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí CN và Khoa học
công nghệ, số 10/2004, tr.18
- Nguyễn Hồng Phong, (2005), Chính sách tài chính - tiền tệ với mục tiêu cân bằng kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam qua 20 năm đổi mới, Tạp chí Công nghệ kỳ 1, tháng 12/2005
Trang 14-.Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, (2007), Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc điều chỉnh chính sách tài khoá Việt Nam sau khi gia nhập
Tổ chức Thương mại Thế giới, Hà Nội, Đề tài khoa học cấp bộ
- Việt Nam: Quản lý tốt hơn nguồn lực Nhà nước - Đánh giá chi tiêu công 2000 (hai phần), Báo cáo của Nhóm công tác chung giữa Chính phủ Việt
Nam và các nhà tài trợ về đánh giá chi tiêu công, tháng 12/2000
- Việt Nam: Đánh giá trách nhiệm tài chính quốc gia, Báo cáo của Ngân
Hàng thế giới với sự cộng tác của các cơ quan Chính phủ Việt Nam, tháng
- Lê Đức Thuý (bài trả lời phỏng vấn của phóng viên Vietnamnet - Hồng
Phúc ghi)(2005), Ngân hàng Nhà nước không bất lực trước giá cả,
www.vietnamnet.com.vn, cập nhật ngày 14/1/2005
- Hồng Phúc, (2003), Ngân hàng Nhà nước lúng túng trong quản lý thị trường ngoại hối, www.vietnamnet.com.vn, cập nhật 29/10/2003
- Vũ Quang Việt, (2004), Lạm phát ở Việt Nam hiện nay và sự cần nhìn nhận lại lý thuyết tiền tệ, Thời đại mới- tạp chí nghiên cứu và thảo luận số 3,
Trang 15* Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách thương mại, chính sách đầu tư của Việt Nam
ở đây, các tác giả đã phân tích, đánh giá quá trình đổi mới chính sách thương mại của Việt Nam qua các thời kỳ, từ thời kỳ Việt Nam chủ động cải cách chính sách thương mại theo hướng thị trường, tự do hoá thương mại (1986 -1995) tới thời
kỳ thực hiện các cam kết quốc tế, chuẩn bị gia nhập WTO (1996 - 2006) Bên cạnh những đánh giá đó, các tác giả còn đưa ra những khuyến nghị cần phải cải cách trong chính sách thương mại của Việt Nam, nhằm thực hiện được các mục tiêu của chính sách thương mại ở từng thời kỳ khác nhau Đối với chính sách đầu tư, có một
số công trình cũng đề cập tới những vấn đề tương tự như các bài về chính sách thương mại Tuy nhiên, những công trình viết riêng về chính sách đầu tư không nhiều như các công trình nghiên cứu về chính sách thương mại Hơn nữa, trong nhiều công trình, chính sách thương mại và chính sách đầu tư được nghiên cứu chung trong sự kết hợp chặt chẽ của hai chính sách này Sau đây là một số công trình tiêu biểu
- Ari Kokko, (1997), Quản lý quá trình chuyển sang chế độ thương mại
tự do: Chính sách thương mại của Việt Nam cho thế kỷ XXI, Nxb Chính trị
- Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế – xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và
Đầu tư), Kinh tế Việt Nam nhìn từ bên ngoài, Hà Nội, 3/2005
- Oxfam quốc tế (10/2004), Gia nhập WTO- Liệu Việt Nam có giành được
những điều kiện có lợi cho phát triển?
- Phạm Văn Thuyết - Nguyễn Thanh Hà (2001), Môi trường Quy chế và dịch vụ hỗ trợ phát triển xuất khẩu, Hội nghị tư vấn của Ngân hàng thế giới về
xuất khẩu của Việt Nam: Chính sách và triển vọng, Hà Nội
- Trần Hữu Dũng,(1996), Thương mại và công nghiệp hoá: một cách-
- Trịnh Thị ái Hoa: "Có lợi gì khi dùng hạn ngạch để bảo hộ sản xuất trong nước", Thương mại, (17), tr 5-7
- Trịnh Thị ái Hoa: “Hạn ngạch xuất khẩu gạo và vấn đề bảo đảm cân đối lương thực của Việt Nam”, Nghiên cứu Kinh tế, số 325 (6), tr 39 – 42
Trang 16Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù đã giải quyết nhiều vấn đề cốt lõi của kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, đã đề cập tới một số khía cạnh về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam, nhưng các công trình nói trên còn để trống nhiều mặt trong nghiên cứu xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô Đặc biệt là vấn đề xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
từ khi đổi mới đến nay, chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và
có cơ sở khoa học, còn nhiều vấn đề về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam còn bỏ ngỏ Chẳng hạn như vấn đề đánh giá việc phân tích dự báo tình hình trong nước và thế giới trước khi xác định mục tiêu quản
lý vĩ mô, việc thực hiện quy trình xây dựng chính sách, việc tổ chức thực hiện chính sách, phối hợp, đánh giá chính sách
Đó là những vấn đề cần được nghiên cứu đầy đủ hơn trong các công trình nghiên cứu tiếp theo Đề tài này cũng sẽ góp phần thực hiện những nghiên cứu đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số khái niệm được sử dụng trong đề tài như kinh tế vĩ mô, chính sách kinh tế vĩ mô, xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước; một số cách tiếp cận khi nghiên cứu đề tài
- Phân tích đặc điểm và mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam
- Trình bày và phân tích các nội dung và tiêu chí đánh giá xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
- Phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
- Phân tích mục tiêu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam
Trang 174 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xây dựng và thực thi chính sách kinh
tế vĩ mô ở Việt Nam Các chính sách kinh tế vĩ mô được xem xét ở đây bao gồm chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá (hay chính sách ngân sách), chính sách thương mại quốc tế (hay chính sách ngoại thương) Đó là các chính sách tác
động tới tổng cầu của nền kinh tế
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Về nội dung: đề tài nghiên cứu xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam Mặt khác, chủ thể xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô là Nhà nước được nghiên cứu ở đây, chỉ gồm Chính phủ và các bộ liên quan tới kinh tế vĩ mô, như Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhà nước… Hơn nữa, chi tiêu của Chính phủ trong chính sách tài khoá có chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư Do đó, chính sách
đầu tư được nghiên cứu trong đề tài này là chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước ở đây, chính sách đầu tư đối với khu vực tư nhân không được nghiên cứu
+ Về thời gian, vấn đề nghiên cứu sẽ được xem xét trong khoảng thời gian
từ 1986 tới năm 2008, trong đó, đề tài sẽ ưu tiên tập trung nghiên cứu ở thời kỳ
1991 - 2000 và 2001- 2008
5 Phương pháp nghiên cứu và phương pháp tiếp cận
- Về phương pháp luận chung: Đề tài coi phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp duy vật lịch sử là cơ sở của phương pháp luận chung trong nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết vấn đề
- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: cùng với phương pháp trừu tượng hoá, là
phương pháp thường được sử dụng trong khoa học xã hội và kinh tế nói riêng, đề tài sẽ chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết vổ tổng kết thực tiễn; phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp; phương pháp hệ thống, so sánh thống kê; phương pháp phỏng vấn chuyên gia; tham vấn các nhà khoa học, các chuyên gia thông qua tổ chức hội thảo
Về phương pháp tiếp cận, đề tài nghiên cứu xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước theo các giai đoạn trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô kinh tế vĩ mô Cụ thể, đề tài nghiên cứu giai đoạn xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Việc nghiên cứu bắt đầu từ dự báo, xác định mục tiêu, đến xây dựng các giải pháp chính sách kinh tế vĩ mô, việc phối hợp, điều hoà chính sách, kiểm tra,
Trang 18giám sát việc thực thi chính sách, đánh giá, điều chỉnh, hoàn thiện chính sách ở
đây cần nói thêm là, việc thực hiện các bước trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô cũng chính việc Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý của mình trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận, đề tài góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về xây dựng
và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, vai trò xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Đề tài xác định và luận giải một số đặc điểm của việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam
Về thực tiễn, đề tài phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam, đề xuất năm nhóm giải pháp nâng cao năng lực xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ mới, thời kỳ phát triển kinh tế lên một tầm cao mới, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn và có giá trị tham khảo đối với các nhà quản lý kinh tế vĩ mô, những người làm công tác cán bộ, những người nghiên cứu, giảng dạy và quan tâm tới lĩnh vực này Chúng tôi hy vọng rằng, những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào việc nhận thức rõ hơn về xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam, đồng thời, với những đề xuất giải pháp, nếu được vận dụng vào thực tiễn sẽ góp phần hoàn thiện việc xây dựng
và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ mới
7 Kết cấu của đề tài
Thực hiện những nội dung trên, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài
được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 19Chương 1 Cơ sở lý luận về xây dựng và thực thi chính sách
kinh tế vĩ mô của nhà nước ở Việt Nam
Nội dung chương này gồm: a) Xác định khái niệm xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô cũng như quy trình xây dựng và thực thi các chính sách này; b) Phân tích các đặc điểm của việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
vĩ mô ở Việt Nam, đồng thời xác định các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô
ở Việt Nam; c) Nội dung đánh giá việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế
Khi nói đến kinh tế vĩ mô là muốn nói tới kinh tế của quốc gia Kinh tế của một quốc gia có thể nhìn ở các góc độ khác nhau ở một góc độ này, nền kinh tế của một quốc gia được xem xét như một thể thống nhất với nhiều ngành kinh tế, nhiều lĩnh vực kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau Chẳng hạn, trong một nền kinh tế có các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Trong các ngành đó lại có nhiều phân ngành khác nhau Chẳng hạn trong ngành dịch vụ có các phân ngành tài chính - tiền tệ, thương mại, du lịch…ở góc độ này, kinh tế vĩ mô được coi là hệ thống các ngành kinh tế quốc dân của một nước
ở góc độ khác, nền kinh tế của quốc gia được xem xét như một tổng thể với ba tác nhân chính là doanh nghiệp, hộ gia đình và chính phủ Các tác nhân này quan hệ với phần còn lại của thế giới (khu vực nước ngoài) thông qua hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hoá Các doanh nghiệp của nền kinh tế thuộc khu vực sản xuất và cung ứng các loại hàng hoá của nền kinh tế đó Đồng thời, họ cũng
là người mua các hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Đó
là hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Trong nền kinh tế đó, các hộ gia đình
Trang 20thuộc khu vực tiêu dùng hàng hoá Tác nhân quan trọng thứ ba trong nền kinh tế
là chính phủ Chính phủ cũng là người tham gia mua hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế Chính phủ thuộc khu vực công của nền kinh tế Trong khi đó, các doanh nghiệp và các hộ gia đình thuộc khu vực tư nhân của nền kinh tế Nói đến kinh tế
vĩ mô là nói đến hoạt động của ba tác nhân đó Các hộ gia đình sẽ giành bao nhiêu thu nhập của mình cho tiêu dùng hàng hoá dịch vụ và họ sẽ tiết kiệm bao nhiêu trong thu nhập của họ Doanh nghiệp sẽ đầu tư cho sản xuất kinh doanh bao nhiêu? Chính phủ thu và chi ngân sách nhà nước như thế nào? Cuối cùng, ba tác nhân đó mua bán hàng hoá với phần còn lại của thế giới như thế nào?
Khối lượng hàng hoá, dịch vụ mà các tác nhân đó sử dụng trong một thời
kỳ nhất định, ứng với mức giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế đã cho được xác định là tổng cầu của nền kinh tế Trong khi đó, khối lượng hàng hoá, dịch vụ tính bằng tiền do các doanh nghiệp trong nền kinh tế sản xuất và bán ra trên thị trường trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng sản xuất và chi phí đã cho gọi là tổng cung của nền kinh tế
Tổng cầu, tổng cung, sản lượng (hay thu nhập của nền kinh tế) cùng với lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế, … là những vấn đề chung của cả nền kinh tế, đó là những vấn đề kinh tế vĩ mô của một quốc gia
Khái niệm kinh tế vĩ mô trong đề tài này được tiếp cận theo cách thứ hai
Để quản lý kinh tế vĩ mô, Nhà nước sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô
để tác động vào nền kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô…
Chính sách kinh tế vĩ mô cũng có thể xem xét trên nhiều phương diện khác nhau ở đây, chính sách kinh tế vĩ mô được hiểu là những quyết định của Nhà nước tác động với tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế
Chủ thể xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô là Nhà nước
Nhà nước được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới, “Nhà nước, theo nghĩa rộng, là một tập hợp các thể chế nắm giữ những phương tiện cưỡng chế hợp pháp, thi hành trên một vùng lãnh thổ
được xác định và người dân sống trên lãnh thổ đó được đề cập như một xã hội Nhà nước độc quyền ra quy định trong phạm vi lãnh thổ của nó, thông qua phương tiện thi hành của một chính phủ có tổ chức” [1; tr.34]
Theo Frank Ellis, nhà kinh tế học người Anh, “Nhà nước được định nghĩa như tập hợp toàn bộ các thể chế công cộng chịu trách nhiệm về hành chính và thực thi các quyết sách” [2; tr.24]
Trang 21Theo quan niệm của Việt Nam, Nhà nước là hệ thống các cơ quan công quyền từ Trung ương tới cơ sở Đó là các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp các cấp Do vậy, Nhà nước bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ với các bộ chức năng, Uỷ ban nhân dân các cấp, Toà án, Viện kiểm sát nhân dân các cấp…
Thuật ngữ “chính phủ” (hay “chính quyền”) cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau, được dùng với những mục đích khác nhau trong những bối cảnh khác nhau Chính phủ hay chính quyền theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới,
“có thể đề cập tới quá trình cai trị, tới việc thi hành quyền lực Nó cũng có thể nói tới sự tồn tại của quá trình đó hoặc tới điều kiện “thống trị có trật tự” “Chính quyền” thường có nghĩa là những người nắm giữ các vị trí quyền lực trong một nhà nước Cuối cùng, từ này dùng để chỉ hành vi, phương pháp hay chế độ cai trị trong một xã hội: chỉ cơ cấu và sự sắp xếp các cơ quan và cách mà nó ảnh hưởng
họ là các cấp chính quyền thực thi quyền lực trên phạm vi từng địa phương
Chính phủ có thể thay đổi nhưng Nhà nước thường tồn tại lâu dài hơn về quy mô, phạm vi trong một thời kỳ lịch sử dài
Mặc dù cần phải có sự phân biệt này, song chúng ta cũng có thể sử dụng
từ Nhà nước và chính phủ một cách thông thường, đôi khi có thể dùng Nhà nước thay cho Chính phủ
Trong đề tài này, chủ thể xây dựng và tổ chức thực thi chính sách kinh tế
vĩ mô chủ yếu là Chính phủ và các bộ chức năng liên quan đến lĩnh vực kinh tế
vĩ mô và chúng tôi sử dụng từ Nhà nước thay cho từ Chính phủ
Trang 22Đối tượng tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô là nền kinh tế quốc dân với hai yếu tố chính là tổng cung và tổng cầu cùng với các vấn đề kinh tế vĩ mô khác như tỷ giá, cán cân thanh toán, thất nghiệp, lạm phát…
Mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô (hay còn gọi là mục tiêu kinh tế vĩ mô)
là một hệ thống rất nhiều mục tiêu: Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể; mục tiêu trung gian, mục tiêu cuối cùng, (mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô sẽ được bàn kĩ hơn ở mục 1.2.2.)
Các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm các công cụ của chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá, chính sách thương mại và đầu tư, chính sách thu nhập việc làm Sử dụng các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, Nhà nước ban hành các quy định pháp lý về cách thức, biện pháp tác động và cơ chế thực thi, phối hợp các công cụ chính sách đó để tác động tới các vấn đề kinh tế vĩ mô Các công cụ đó là lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, lãi suất cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở, thuế quan và các biện pháp phi thuế quan, thuế nội địa, chi tiêu của chính phủ,… Các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô còn có thể là chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế của Nhà nước, … Đó là những công cụ tác động tới tổng cung dài hạn của nền kinh tế
Xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước là quá trình Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý của mình trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô
Khi xem xét khái niệm này, có sáu điểm cần chú ý
Thứ nhất, chu trình chính sách kinh tế vĩ mô là một chuỗi các bước, các
công việc quản lý được, được thực hiện khi xây dựng và thực thi chính sách kinh
tế vĩ mô Chu trình chính sách kinh tế vĩ mô còn được sử dụng bởi nhiều thuật ngữ khác như quy trình chính sách kinh tế vĩ mô, quy trình xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô Sau đây, chúng tôi sử dụng thuật ngữ chu trình chính sách kinh tế vĩ mô trong các nội dung nghiên cứu của đề tài
Thứ hai, mỗi chu trình chính sách kinh tế vĩ mô có một số xác định các bước,
các công việc cần phải thực hiện Có nhiều cách xác định, sắp xếp các bước, các công việc trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô Nội dung mỗi bước trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô cũng được tiếp cận, xem xét theo nhiều cách khác nhau Vấn đề này sẽ được bàn sâu hơn trong tiểu mục 1.1.2.1
Thứ ba, mỗi bước trong chu trình chính sách gồm nhiều khâu, nhiều việc
cụ thể Các khâu trong bước hoạch định chính sách được thực hiện theo trình
Trang 23tự xác định Đó là quy trình hoạch định chính sách Các thuật ngữ quy trình xây dựng chính sách, quy trình thiết kế chính sách hay quy trình làm chính sách đều
có chung nội hàm với thuật ngữ quy trình hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô Nội dung này sẽ được phân tích kỹ hơn trong tiểu mục 1.1.2.2
Thứ tư, sản phẩm (hay kết quả) của một chu trình chính sách là một chính
sách được xây dựng và thực thi Hệ quả là một hay một số mục tiêu của chính sách được thực hiện, đối tượng mà chính sách tác động được thay đổi Hiệu quả của một chính sách kinh tế vĩ mô phục thuộc vào chu trình chính sách kinh tế vĩ mô đã được thực hiện như thế nào
Sản phẩm của quy trình hoạch định chính sách là một chính sách được soạn thảo, được phê chuẩn Chất lượng chính sách, chính sách đúng hay sai… phụ thuộc rất nhiều vào quy trình hoạch định chính sách Nếu quy trình hoạch
định chính sách không hợp lý sẽ dẫn đế một chính sách quan liêu được xây dựng Khi đó, cho dù tổ chức thực hiện chính sách đó tốt bao nhiêu chính sách
đó cũng khó đi vào cuộc sống, thậm chí có thể gây tác dụng ngược
Thứ năm, trong quá trình thực hiện chu trình chính sách kinh tế vĩ mô,
Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý của mình Đó là chức năng dự báo, chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ chức, chức năng kiểm tra, chức năng đánh giá, chức năng điều hoà phối hợp
Như vậy, có thể thấy rằng, xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô
là quá trình rất phức tạp gồm nhiểu bước, nhiều khâu, có quan hệ chặt chẽ với nhau mà Nhà nước phải thực hiện, qua đó, Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý của mình
Những phân tích dưới đây sẽ trình bày rõ hơn nội dung của chu trình chính sách kinh tế vĩ mô và quy trình hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô
1.1.2 Chu trình chính sách kinh tế vĩ mô và quy trình hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô
1.1.2.1 Chu trình chính sách kinh tế vĩ mô
Chính sách kinh tế vĩ mô thuộc các chính sách công Chu trình chính sách công, theo đó, chu trình chính sách kinh tế vĩ mô được xem xét theo nhiều cách khác nhau
Khi nghiên cứu chính sách công của Hoa Kỳ trong giai đoạn 1935 - 2001,
tác giả Lê Vinh Danh xác định chu trình chính sách công gồm 4 bước: xác định
Trang 24vấn đề chính sách và nghiên cứu chính sách; hoạch định chính sách; tổ chức thực thi chính sách; phân tích đánh giá điều chỉnh chính sách
Trong chương trình đào tạo lãnh đạo chính trị của trường Đại học Portland (Mỹ), chu trình chính sách công được xác định gồm hai bước (hay hai giai đoạn)
là hình thành chính sách và thực hiện chính sách [4] Nói là hai bước nhưng thực chất các khâu thực hiện của hai bước này cũng tương tự như bốn bước mà tác giả
Lê Vinh Danh đã trình bày trong nghiên cứu nói trên
Tuy nhiên, trong chương trình đào tạo chính sách công do ADB hỗ trợ cho Việt Nam, chu trình chính sách công cũng được xác định gồm 4 bước nhưng nội dung có khác đôi chút Bốn bước đó là lập kế hoạch chiến lược; hoạch định và phân bổ nguồn lực; thực hiện chiến lược và đánh giá
ở Việt Nam, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về chu trình chính sách công, công nghệ làm chính sách công Tác giả Nguyễn Sỹ Dũng có cách tiếp cận chu trình chính sách công theo một cách khác Theo ông, quy trình chính sách công (hay chu trình chính sách công) gồm hai công đoạn: công đoạn kỹ thuật của chính sách và công đoạn chính trị của chính sách Công đoạn kỹ thuật của chính sách lại gồm ba bước: i) Nhận biết vấn đề; ii) Nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của vấn đề
và đề ra giải pháp (giải pháp chính là chính sách) để giải quyết vấn đề; iii) Phân tích chính sách về giải pháp đã được đề ra Công đoạn chính trị của chính sách là công
đoạn mà trong đó các vấn đề và giải pháp được đưa ra trình chính phủ xem xét Nếu chính phủ phê chuẩn thì chính sách được bắt đầu soạn thảo “Trường hợp ngược lại, nếu chính phủ không phê chuẩn chính sách thì mọi chuyện có thể chấm dứt tại đó hoặc một chính sách mới phù hợp hơn phải được đề ra” [5]
ở đây, tác giả Nguyễn Sỹ Dũng mới xét quy trình chính sách ở bước đầu
là nghiên cứu sơ bộ và trình chính phủ phê chuẩn
Trong khi đó, PGS TS Võ Kim Sơn (Học viện Hành chính Quốc gia) coi quy trình (chu trình) chính sách được chia thành 5 giai đoạn (hay năm bước) Đó
là giai đoạn xác định vấn đề chính sách; nghiên cứu chính sách; quyết định chính sách hay lựa chọn chính sách; thực hiện chính sách; và phân tích đánh giá để chấm dứt hay tiếp tục chính sách [6]
Như vậy, có thể thấy rằng, chu trình chính sách công được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Có chính sách công giải quyết một hay một vài vấn đề
Trang 25kinh tế - xã hội nảy sinh Sau đó, chính sách được chấm dứt khi những vấn đề đó
đã được giải quyết hoặc không tồn tại nữa Tuy nhiên, có những chính sách công phải giải quyết cả những vấn đề nảy sinh trong ngắn hạn và giải quyết cả về những vấn đề dài hạn Chính kinh tế vĩ mô là một trong những chính sách như vậy Chính sách kinh tế vĩ mô là chính sách công nhưng nó có những điểm khác biệt với những chính sách công khác
Các chính sách kinh tế vĩ mô tác động tới tất cả mọi thành viên trong xã hội và nó được sử dụng trong các nền kinh tế thị trường Chúng không không thể phát huy tác dụng trong các nền kinh tế phi thị trường Nó cần thiết cho mọi nền kinh tế thị trường ở mọi thời kỳ: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Trong khi đó, nhiều chính sách công khác có thể được sử dụng ở mọi quốc gia, như các chính sách xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng, Do đó, chu trình chính sách kinh tế vĩ mô có điểm chung nhưng cũng có những điểm khác biệt với chu trình chính sách công khác Nghiên cứu chu trình chính sách công của các tác giả trong nước và quốc tế, đồng thời nghiên cứu chu trình chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam trên thực tế cũng như của một số nước trên thế giới, chúng tôi thấy rằng, chu
trình chính sách kinh tế vĩ mô gồm bốn bước Một là nghiên cứu ban đầu; hai là hoạch định chính sách; ba là tổ chức thực hiện chính sách; và bốn là phân tích,
đánh giá chính sách (1)
Bước một là nghiên cứu ban đầu Bước này bao gồm việc dự báo, xác định
vấn đề chính sách và nghiên cứu chính sách
Dự báo trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô là việc phán đoán trước toàn bộ hoạt động kinh tế vĩ mô của quốc gia có thể xảy ra trong tương lai, trên cơ sở các số liệu dữ liệu được phân tích, tổng hợp một cách khoa học Dự báo là cơ sở để xây dựng các kịch bản chính sách kinh tế vĩ mô, các khung khổ chính sách kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Dự báo kinh tế vĩ mô luôn hàm ý ”tính bất ổn” và “thay đổi” Điều này là hiển nhiên vì các biến số của các mô hình dự báo là từ thông tin, mà thông tin thì luôn xuất hiện mới và bất ngờ Điều quan trọng hàng đầu của dự báo chính là nhận diện hàng trăm, hàng nghìn những biến số có khả năng xảy ra Để sau đó, nếu như các biến số
(1) Những nội dung ở dưới đây được phân tích dựa chủ yếu theo tài liệu [3]
Trang 26nào xuất hiện lệch so với kịch bản thì cách phản ứng ngay tức thời phải là gì Thiết lập cơ chế phản ứng với những bất ngờ là điều quan trọng của dự báo
Khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn với độ phức tạp ngày càng tăng, dự báo càng giữ vai trò quan trọng đối với việc hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô
Dự báo là khâu không thể thiếu được trong xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Hiện nay, có nhiều mô hình dự báo được áp dụng để dự báo cho hoạch
định chính sách kinh tế vĩ mô Chẳng hạn mô hình kinh tế lượng I/O, mô hình tối
ưu hoá, mô hình nhân tố ,……
Dự báo chỉ ra các khả năng có thể xảy ra cho nền kinh tế Dự báo dù có tốt
đến đâu cũng khó có thể chỉ ra được chính xác, đầy đủ mọi vấn đề sẽ nảy sinh ra trong tương lai Trên thực tế, có rất nhiều vấn đề nảy sinh nằm ngoài dự báo, ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế vĩ mô, tới các tác nhân trong nền kinh tế Các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô còn phải thường xuyên xem xét xác
định các vấn đề chính sách và nghiên cứu chính sách để ban hành các chính sách, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh
Thế nào là vấn đề chính sách? Trong hoạt động kinh tế vĩ mô có rất nhiều vấn đề nảy sinh Giá một số mặt hàng lên cao, hàng nhập khẩu tràn vào thị trường trong nước, một số doanh nghiệp kêu ca về thuế cao, người lao động phàn nàn mức lương thấp… Song, trên thế, chỉ có một số vấn đề mới trở thành vấn đề chính sách
và cần được chính phủ nghiên cứu, ban hành chính sách để giải quyết
Những vấn đề như thế nào được coi là vấn đề chính sách? Các tác giả cuốn
Sổ tay chính sách công(úc) cho rằng, những vấn đề có sự vận động hành lang của một nhóm lợi ích, hoặc được những chiến dịch vận động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hoặc sự thất bại liên tiếp của các chính sách nhằm thực hiện mục tiêu đã đặt ra mới có thể thu hút được sự chú ý của những nhà hoạch định chính sách và mới có thể trở thành các vấn đề chính sách Trong khi đó, theo tác giả Lê Vinh Danh (2001), những vấn đề chính sách cần phải thoả mãn các điều kiện sau: i) Đó là những vấn đề mang tính phổ biến; ii) Những vấn đề đó xảy ra đối với đa số; iii) Những vấn đề có tần suất lặp lại cao; iv) Những vấn đề đó gây thiệt hại nghiêm trọng cho cộng đồng và v) làm cho đa số phải lo lắng [3; tr.227] Trong năm điều kiện trên, điều kiện đầu tiên là điều kiện
Trang 27cần và bốn điều kiện sau là điều kiện đủ để có thể xác định một vấn đề nào đó là vấn đề chính sách, cần được nghiên cứu và giải quyết
Sau khi đã xác định được các vấn đề chính sách, việc tiếp theo là nghiên cứu sơ bộ các vấn đề đó để đưa chúng vào nghị trình
Việc nghiên cứu sơ bộ các vấn đề chính sách đã được lựa chọn đòi hỏi phải làm rõ những ý sau: Nội dung và nguyên nhân của những vấn đề chính sách; phạm vi ảnh hưởng của chúng và đối tượng mà chúng tác động; dự kiến những hệ quả tác động của những vấn đề đó nếu không có giải pháp kịp thời; nhu cầu, nguyện vọng của đối tượng; dự kiến một số giải pháp khả thi và phương thức thực hiện, công cụ và thời điểm thực hiện
“Nghị trình chính sách công là một danh mục tất cả những vấn đề xã hội
đã và đang phát sinh mà chính quyền sẽ phải nghiên cứu để có giải pháp cụ thể trong những thời gian xác định “[3; tr 215]
Nếu xét riêng đối với chính sách kinh tế vĩ mô, nghị trình chính sách kinh tế vĩ mô là danh sách những vấn đề về kinh tế vĩ mô đang nảy sinh cần phải giải quyết
Nếu các vấn đề chính sách được chính phủ phê chuẩn, chính sách sẽ được soạn thảo và sẽ được đưa vào thực hiện trong bước hai
Bước hai là hoạch định chính sách Bước này gồm năm khâu
Thứ nhất, xác định mục tiêu
Xác định mục tiêu là việc đầu tiên phải làm khi soạn thảo chính sách Khi xác định mục tiêu, cần xác định mục tiêu chính, mục tiêu phụ; mục tiêu trung gian, mục tiêu cuối cùng; mục tiêu kinh tế, mục tiêu chính trị,… Các chính sách kinh tế vĩ mô có một hệ mục tiêu chung, đồng thời, mỗi chính sách kinh tế vĩ mô lại có những mục tiêu riêng, đặc thù (mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô sẽ được trình bày đầy đủ hơn trong mục 1.2.2 của tiết 1.2) Mục tiêu được xác định càng
rõ thì chính sách càng chính xác Mục tiêu quá cụ thể sẽ không bao trùm được những vấn đề khó lượng hoá mà những người đặt ra mục tiêu muốn có Mục tiêu quá hẹp sẽ có thể chỉ có lợi cho một bộ phận nào đó mà các bộ phận khác không
được hưởng lợi gì Do đó, mục tiêu phải được lượng hoá, càng tập trung càng ít càng tốt Nếu xác định quá nhiều mục tiêu thì có thể dẫn tới tình trạng không thực hiện được đầy đủ các mục tiêu hoặc các mục tiêu không được thực hiện một
Trang 28cách tốt nhất do không đủ nguồn lực thực hiện hoặc do khả năng của chủ thể quản lý không đủ bao quát hết các mục tiêu
Các mục tiêu đã được xác định sẽ được sắp xếp thứ tự ưu tiên theo mức độ quan trọng, theo thời gian,…
Thứ hai, xây dựng giải pháp (chính là các chính sách)
Giải pháp là cách thức đi đến mục tiêu TS Lê Vinh Danh cho rằng, có bốn nguyên tắc cần quán triệt khi xây dựng giải pháp Đó là cần có thông tin đầy đủ; thông tin cân xứng; lý thuyết và kinh nghiệm cần được kết hợp khi xây dựng giải pháp; lợi ích và chi phí của giải pháp phải được xác định cụ thể và đầy đủ
Thứ ba, phân tích đánh giá từng giải pháp
Mỗi mục tiêu có thể có nhiều giải pháp Song, không phải các giải pháp
đều tốt như nhau Đánh giá từng giải pháp giúp chủ thể quyết định chính sách thấy được những lợi - hại khác nhau của các giải pháp cho một mục tiêu Từ đó,
họ có thể chọn được giải pháp tối ưu
Đánh giá giải pháp phải đưa ra kết luận bàng một hay nhiều khuyến nghị Những khuyến nghị đó cần phải có sự so sánh các phương án, các giải pháp Nếu các giải pháp đưa ra không chấp nhận được thì phải tìm kiếm thêm thông tin hoặc thay đổi, điều chỉnh một khía cạnh nào đó của giải pháp Do đó, những người đề ra giải pháp cần phải thực hiện các công việc một cách tuần tự, khoa học, khách quan để có thể đưa ra những giải pháp khả thi và có hiệu quả
Khi phân tích đánh giá chính sách, người ta thường sử dụng các công cụ phân tích như phân tích chi phí - lợi ích, phân tích hiệu quả và chi phí, phân tích chi phí cơ hội Đặc biệt phân tích kinh tế học vi mô thường được vận dụng nhiều trong phân tích chính sách kinh tế vĩ mô Việc phân tích, đánh giá giải pháp cần
được thực hiện một cách khách quan, các kết luận khuyến nghị cần mang tính trung lập
Thứ tư, sắp xếp giải pháp và lên kịch bản
Đây là khâu cuối cùng của việc soạn thảo Việc sắp xếp giải pháp và đưa vào kịch bản được thực hiện như thế nào phụ thuộc vào nguồn lực thực hiện, vào ngân sách, vào quan điểm chính trị, hay nói cách khác, nó có tính chuẩn tắc Chẳng hạn, có trường hợp, yêu cầu tối thiểu hoá chi phí được đề cao, trong khi lại có trường hợp tối đa hoá lợi ích được quan tâm hơn, cho dù phải chi phí tốn
Trang 29kém lớn Khi sắp xếp giải pháp, người soạn thảo chính sách thường phải thực hiện theo một trong các yêu cầu sau Một là yêu cầu chú trọng tối thiểu hóa chi phí; hai là yêu cầu ưu tiên tối đa hoá lợi ích; ba là yêu cầu chú ý lợi ích ròng; bốn
là quan tâm tới tỷ suất lợi ích
Khi các giải pháp được sắp xếp và được đưa vào kịch bản, điều đó cũng có nghĩa là việc hoạch định (soạn thảo) chính sách được hoàn tất
Khi các giải pháp đã được quyết định lựa chọn, chúng được đưa ra triển khai tổ chức thực hiện
Bước ba là tổ chức thực hiện chính sách
Việc đầu tiên cần thực hiện trong bước này là công bố quyết định chính sách Có nhiều hình thức công bố chính sách Có chính sách được công bố công khai như các chính sách thuế, chi tiêu của Chính phủ, chính sách hạn ngạch XNK, Trong khi đó, có chính sách không được công bố công khai, rộng rãi trong phạm vi rộng rãi mà chỉ được thông báo trong phạm vi hẹp Chẳng hạn, quyết định mua dự trữ ngoại tệ có thể chỉ được thông báo đối với các NHTM Tuy nhiên, quyết định mua bao nhiêu ngoại tệ có thể không được thông báo tới các NHTM và cho công chúng biết
Việc ban hành chính sách phải đúng lúc, kịp thời bởi lẽ giải pháp chính sách chỉ có giá trị và đạt hiệu quả cao khi nó được thực hiện đúng lúc
Việc thứ hai là dự kiến thời gian thực hiện chính sách, trong đó, có dự kiến cả thời gian chết, thời gian đệm, thời gian dự bị, thời gian nảy sinh từ các
Trang 30thông tin thường xuyên thay đổi Thời gian thực hiện chính sách phải được phân
bổ chi tiết, đảm bảo chính sách có thể được hoàn thành
Việc thứ ba là chuẩn bị đủ nguồn lực cần thiết, nhất là nguồn lực tài chính,
để thực hiện chính sách từ đầu cho đến khi kết thúc
Việc thứ tư là tổ chức thông tin về thực hiện chính sách một cách khoa học, hợp lý
Các chủ thể thực hiện chính sách ở các cấp và đối tượng của chính sách
đều phải thống nhất trong cách hiểu chính sách đã được ban hành và nói cùng một tiếng nói trong khi thực hiện chính sách Việc tổ chức thông tin có thể được thực hiện theo chiều dọc, chiều ngang, trong đó, nên giảm tổ chức thông tin dọc, tăng thông tin ngang; tăng cường tiếp xúc vượt cấp; xử lý thông tin phản hồi và hạn chế việc che giấu thông tin
Việc thứ năm là xác định quy trình thực hiện cho mỗi chính sách trước khi
nó được ban hành và ngay trong khi chính sách được thực hiện
Việc thứ sáu là tổ chức phối hợp thực hiện chính sách giữa các bộ phận, các cá nhân một cách nhịp nhàng, ăn khớp
Tổ chức thực hiện chính sách là một bước rất quan trọng trong việc bảo
đảm những chính sách, đã được soạn thảo công phu, có thành công hay không,
có đi đúng mục tiêu hay bị bóp méo, bị làm sai lệch so với ý tưởng chính sách ban đầu
Bước bốn là đánh giá và điều chỉnh chính sách
Đánh giá tổng kết chính sách là so sánh kết quả thực hiện chính sách với mục tiêu xác định ban đầu để xác định mức độ thành công của chính sách, xác
định chính sách thành công đến đâu và thất bại đến đâu
Đánh giá chính sách còn được thực hiện ngay trong quá trình thực hiện chính sách Việc đánh giá này nhằm phát hiện những điểm không hợp lý trong chính sách đã được ban hành (trong khâu soạn thảo), phát hiện những sai lệch trong quá trình thực hiện chính sách, phát hiện những vấn đề mới phát sinh, nằm ngoài dự kiến Trên cơ sở đó, chủ thể chính sách có thể thực hiện những điều chỉnh chính sách cần thiết, bảo đảm củng cố giá trị chính sách, bảo đảm chính sách được thực hiện một cách có hiệu quả, củng cố được niềm tin của các đối tượng thực hiện chính sách và đối tượng chính sách, theo đó, việc đề ra chính sách tiếp theo sẽ tốt hơn
Trang 31Thực hiện đánh giá chính sách, những việc làm sau cần được tiến hành i) Thẩm định lại mục tiêu
Có những mục tiêu không rõ ràng, do vậy, trước khi thực hiện đánh giá, cần phải khẳng định lại mục tiêu cho rõ ràng, chuẩn xác
Đối chiếu mục tiêu do các bộ phận tự nhận thức và đang được thực hiện với mục tiêu ban đầu của chính sách cũng là việc cần làm trong bước này Mặt khác, người đánh giá chính sách còn cần xác định lại tính hợp lý của mục tiêu ban đầu Mục tiêu ban đầu đôi khi mang tính lý thuyết sách vở, do vậy, không thực tế và khả thi Đánh giá hiệu quả chính sách dựa trên cơ sở mục tiêu không khả thi là không hợp lý
ii) Xác định tiêu chuẩn đánh giá chính sách
Đây là một việc làm khó, bới lẽ, có nhiều vấn đề rất khó lượng hoá được Tuy nhiên, có một số cách được đề nghị sử dụng khi xây dựng khung tiêu chuẩn
đo lường trong đánh giá chính sách Các cách đó có thể là những phân tích lợi ích và chi phí, đã được thực hiện trong bước soạn thảo chính sách Đây sẽ là tiêu chuẩn đầu tiên Thứ hai, số liệu tình hình trước khi có chính sách Thứ ba, thái
độ của dân chúng Họ hoan nghênh, hưởng ứng, bàng quan lơ là, không quan tâm; hay phản đối quyết liệt là tiêu chí quan trọng có thể đánh giá chính xác chính sách được ban hành như thế nào Thứ tư, sử dụng phương pháp điều tra thông qua bảng hỏi đối với những đối tượng chính sách Thứ năm, dựa vào ý kiến của những người trực tiếp tham gia thực hiện chính sách
iii) Thống kê và đánh giá tác động của chính sách
Tiến hành thống kê để xác định tác động chính sách, nhà thống kê cần xác
định kết quả chính sách đã đạt được; phản ứng phụ của chính sách; tác động của chính sách tới các bên liên quan; dự kiến những tác động về sau của chính sách; thống kê tác động tinh thần của chính sách (những người thực thi chính sách, đối tượng chính sách); thống kê các ý kiến chống đối chính sách và lập bảng phân tích chính sách theo các nội dung trên
Khi đã thống kê xác định tiêu chuẩn đánh giá chính sách, nhà phân tích và thống kê tiến hành đánh giá chính sách Họ phải thực hiện việc đối chiếu kết quả thu được với kết quả mong muốn Kết luận của họ sẽ chỉ ra chính sách có nên tiếp tục hay dừng lại, chính sách nên được bổ sung, điểu chỉnh không Nếu điều chỉnh thì nên điều chỉnh như thế nào, điều chỉnh cái gì Nếu chính sách không
Trang 32cần điều chỉnh thì việc thực hiện chính sách phải điều chỉnh như thế nào Cuối cùng, chính sách thành công hay thất bại, mức độ thành công, thất bại đến đâu,
Những kết luận này có thể dẫn đến điều chỉnh hoặc không dẫn đến điều chỉnh Tuy nhiên, người ta thấy rằng , những kết luận có cơ sở đều dẫn đến điều chỉnh chính sách ít nhiều Những điều chỉnh chính sách có thể có sau khi có kết luận, đánh giá chính sách gồm:
- Tiếp tục duy trì chính sách
- Vừa thực hiện, vừa điều chỉnh
1.1.2.2 Quy trình hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô
Quy trình hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô là một tập hợp các bước
cần phải thực hiện và được sắp xếp theo một trình tự xác định, khi thiết kế chính sách kinh tế vĩ mô
Cũng giống với chu trình chính sách, quy trình hoạch định chính sách chỉ
ra các công việc phải thực hiện và thứ tự các công việc phải làm Tuy nhiên, chu trình chính sách chỉ ra thứ tự các bước phải thực hiện khi xây dựng chính sách và cả khi thực hiện chính sách Trong khi đó, quy trình xây dựng chính sách chỉ xác
định và chỉ rõ những bước phải làm khi xây dựng chính sách Đồng thời, quy trình xây dựng chính sách còn chỉ rõ chủ thể thực hiện ở mỗi khâu, mỗi bước trong quy trình đó
Nhìn chung, chu trình chính sách ở các nước như nhau, nhưng quy trình hoạch định chính sách ở mỗi nước có thể là khác nhau Các chính sách kinh tế vĩ mô có thể được hoạch định theo những quy trìng khác nhau Để hiểu rõ hơn về quy trình xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô nói riêng và quy trình xây dựng chính sách công nói chung, dưới đây, chúng tôi giới thiệu quy trình xây dựng chính sách công, trong đó có chính sách kinh tế vĩ mô ở một số nước
Trang 33* Quy trình hoạch định chính sách công ở mỹ (xem Hình 1.1)
- Viên chức làm chính sách ở các bộ tiểu bang (thu thập từ các tỉnh trên các phương tiên thông tin đại chúng, ý kiến
cử tri, đại diện của một nhóm lợi ích, tiếp xúc dân) các viện nghiên cứu tư nhân, nhà nước;
- Xác định vấn đề chính sách
- Viên chức làm chính sách ở các bộ tiểu bang (thu thập từ các tỉnh trên các phương tiên thông tin đại chúng, ý kiến
cử tri, đại diện của một nhóm lợi ích, tiếp xúc dân) các viện nghiên cứu tư nhân, nhà nước;
- Nghiên cứu sơ bộ và đề ra giải pháp
- Người đứng đầu Nhà nước (Tổng thống); Các uỷ ban của Quốc hội; hệ thống toàn án; các viên chức sắp xếp nghị trình; Bộ trưởng, Thương nghị sĩ; chuyên gia và trí thức; các nhóm lợi ích
- Đưa vấn đề vào nghị trình
- Lựa chọn giải pháp
Trang 34* Quy trình hoạch định chính sách công ở úc (xem Hình 1.2)
- Tham vấn bên trong, bên ngoài
- Chuyên gia làm chính sách của bộ
- Sơ thảo chính sách
- Chuyên gia làm chính sách của bộ
- Xây dựng chi tiết
- Chuyên gia làm chính sách của bộ
Trang 35* Quy trình làm chính sách công ở Nhật Bản (xem Hình 1.3)
Các công việc phải thực hiện để có sơ thảo chính sách cũng tương tự như ở
úc Tuy nhiên, quy trình tiếp theo được thực hiện như sau:
Hình 1.3 Quy trình xây dựng chính sách công ở Nhật Bản
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Như vậy, có thể thấy rằng, quy trình hoạch định chính sách công ở các nước được quy định rất chặt chẽ Nội dung các công việc trong hoạch định chính sách công ở các nước nói chung là giống nhau Đó là xác định vấn đề chính sách; nghiên cứu sơ bộ; đưa vấn đề chính sách vào nghị trình chính sách; nghiên cứu chính thức (nếu vấn đề chính sách được phê chuẩn); thẩm định chính sách, tham vấn chínhsách,
Tuy nhiên, các công việc đó được thực hiện theo các bước với trình tự khác nhau, tuỳ theo quy định của mỗi nước
Điểm đáng chú ý trong quy trình hoạch định chính sách ở các nước nói trên là việc thẩm định, phân tích, đánh phá chính sách được thực hiện nhiều lần
Các bước thực hiện
Chủ thể thực hiện
- Chuyên gia làm chính sách ở các bộ, ở Văn phòng Nội các và Ban thư ký Nội các.
+ Đình lại
- Bộ trưởng có tờ trình Thủ tướng và Nội các; Nội các biểu quyết
- Lựa chọn chính sách
- Quốc hội, Thủ tướng, Bộ trưởng,
- Phê chuẩn chính sách
Trang 36bởi các chủ thể khác nhau Mặt khác, các bên liên quan chính sách (chủ thể chính sách liên quan, đối tượng chính sách, đối tượng liên quan chính sách, ) rất được quan tâm, lấy ý kiến Điều đó tránh được sự quan liêu trong chính sách, bảo đảm chính sách được xây dựng một cách khoa học, phục vụ lợi ích của cả xã hội, của quốc gia, hạn chế được những chính sách chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích nào đó
1.1.3 Phân loại xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô
Có nhiều cách phân loại xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô Sau đây là ba cách trong những cách phân loại đó
* Phân loại xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô theo chủ thể quản lý: có hai loại
i) Xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ
ở đây, việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm xác
định các mục tiêu kinh tế vĩ mô, lựa chọn các công cụ chính sách để thực hiện mục tiêu xác, định phương thức sử dụng các công cụ chính sách, tổ chức triển khai thực thiện chính sách, phối hợp, phân tích đánh giá, điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô
ii) Xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của các bộ chuyên trách Khi xem xét việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của các
bộ, người ta có thể nghiên cứu việc xây dựng và thực thi chính tài khoá của Bộ Tài chính, xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, xây dựng và thực thi chính sách thương mại của Bộ Thương mại,
Ưu điểm của cách phân loại này là có thể đánh giá việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của từng chủ thể một cách cụ thể và có tính độc lập tương đối Việc nghiên cứu xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của của Chính phủ cho phép nhìn nhận chính sách kinh tế vĩ mô như một chỉnh thể Mặt khác, cách xem xét này được bổ sung bằng việc nghiên cứu xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của các bộ chuyên trách Theo đó, ta có thể thấy đặc trưng của việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi
bộ Tuy nhiên, nhược điểm của cách phân loại này là những phân tích đánh giá
dễ bị rời rạc hoặc trùng lắp
Trang 37* Phân loại xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô theo nhóm các chính sách kinh tễ vĩ mô: có 5 loại
i) Xây dựng và thực thi chính sách tài khoá
ii) Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ
iii) Xây dựng và thực thi chính sách thương mại
iv) Xây dựng và thực thi chính sách đầu tư
v) Xây dựng và thực thi chính sách thu nhập và việc làm
Cũng như cách phân loại thứ nhất, cách phân loại này có thể cho phép phân tích cụ thể việc xây dựng và thực thi từng chính sách kinh tế vĩ mô Theo
đó, các nội dung nghiên cứu sẽ được phân tích một cách sâu sắc hơn Tuy nhiên,
do việc phân tích đánh giá được thực hiện đối với từng chính sách kinh tế vĩ mô, nên cách phân loại này dễ dẫn đến sự rời rạc trong phân tích và khó thấy được sự phối hợp các chính sách trong xây dựng và thực thi chính sách của Nhà nước
* Phân loại theo giai đoạn trong chu trình chính sách kinh tế vĩ mô: có
hai giai đoạn
i) Giai đoạn xây dựng chính sách
- Xác định mục tiêu
- Soạn thảo, thiết kế chính sách
ii) Giai đoạn thực thi chính sách
Trang 38chức năng, nhưng việc phân tích, đánh giá cũng không thực hiện được một cách
cụ thể, riêng biệt đối với từng loại chủ thể như cách phân loại thứ nhất
Mỗi cách phân loại có ưu nhược điểm riêng khi nhấn mạnh vào một số khía cạnh được xem xét Đề tài này sẽ kết hợp cách phân loại thứ hai và thứ ba
để nghiên cứu Bởi lẽ, theo chúng tôi, đó là cách khả dĩ, cho phép thực hiện được mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2 Đặc điểm, mục tiêu chính sách kinh tế vi mô của Nhà nước ở Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô ở Việt Nam
ở mọi quốc gia, xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước được dựa trên cơ sở những đặc trưng của nền kinh tế Do đó, có thể nói đặc
điểm xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước ở Việt Nam mang đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam Dưới đây là những đặc điểm cơ bản của việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô được xét trong mối quan
hệ với đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam
1.2.1.1 Xây dựng và thực thi chính sách vĩ mô ở Việt Nam được thực hiện trong bối cảnh quan hệ và trong nước có nhiều biến động
Hệ thống kinh tế vĩ mô của một quốc gia được nghiên cứu với ba yếu tố
đầu vào quan trọng là các biến phi kinh tế, các nguồn lực và các chính sách kinh
tế vĩ mô Theo lý thuyết của John Mc Keynes, các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ được nghiên cứu, xem xét trong điều kiện các biến phi kinh tế và các nguồn lực là xác định Khi các yếu tố đầu vào khác ngoài yếu tố chính sách kinh
tế vĩ mô, thay đổi thì các chính sách kinh tế vĩ mô phải thay đổi theo
Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, các biến phi kinh tế tác động tới nền kinh Việt Nam có nhiều biến động lớn Biến động lớn nhất, quan trọng nhất tác
động mạnh tới nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới là
hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào khủng hoảng Cuối những năm 80
đầu những năm 90 của thế kỷ trước, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông
Âu tan rã, thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường theo những phương thức khác nhau Viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam bị giảm mạnh, nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng hết sức khó khăn
Trang 39Mặt khác, các cuộc chiến tranh và xung đột sắc tộc diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới có tác động tới nền kinh tế Việt Nam và tới viẹc xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô Cuộc chiến tranh vùng Vịnh (1991), chiến chanh ở Balkan do
Mỹ và nhiều nước Châu Âu phát động chống Nam Tư năm 1999, cuộc chiến tranh
ở Irắc nhằm lật đổ Tổng thống Sadam Husein năm 2003, đã làm thay đổi cục diện thế giới Thế giới chuyền từ hai cực sang đơn cực Trên trường quốc tế, Mỹ cố gắng
tỏ rõ sức mạnh của mình nhằm muốn chỉ huy thế giới, đe dọa các nước có tư tưởng chống Mỹ Thái độ và những những hành động của Mỹ đã khiến nhiều nước và nhiều lực lượng trên thể giới bất bình Đỉnh cao của thái độ bất bình và chống Mỹ là
vụ khủng bố ngày 11- 9 - 2001 xảy ra tại Mỹ Cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động sau đó, tấn công vào Afganistan (10/2001) càng làm cho nạn khủng bố quốc tế lan rộng trên thế giới Các vụ đánh bom ở Bali (Indonesia), năm 2002, ở Tây Ban Nha (2004), ở London (Anh), năm 2005, làm cho tình hình chính trị và kinh tế thế giới vốn đã bất ổn ngày càng bất ổn
Bên cạnh đó, thiên tai dịch bệnh liên tiếp xảy ra trên thế giới, như động
đất, sóng thần ở ấn Độ Dương (2004), dịch SARS ở Trung Quốc (2002) và lan rộng ra nhiều nước khác ở Châu á sau đó
Các biến phi kinh tế đó là tác động rất mạnh tới nền kinh tế thế giới và nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Chính phủ các nước lớn như Mỹ và nhiều nước khác phải chi phí nhiều hơn cho chiến tranh, cho cuộc chién chống khủng
bố và phòng chống khủng bố, cho phòng chống thiên tai, dịch bệnh,… Theo đó, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động hơn, ảnh hưởng đến nền kinh tế nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Hơn nữa, nền kinh tế Việt Nam còn chịu tác động của thiên tai lũ lụt, dịch bệnh ở trong nước Chẳng hạn, thiên tai, lũ lụt ở miền Trung, miền Bắc; hạn hán, rét đậm rét hại ở miền Bắc; dịch cúm gia cầm, dịch lợn tai xanh trong cả nước
Trong điều kiện đó, chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng như của các nước khác trên thế giới đều phải có những thay đổi, điều chỉnh Tuy nhiên,
điều đáng nhấn mạnh ở đây là khác với nhiều nước khác, Việt Nam phải xây dựng thực thi cuộc sống kinh tế vĩ mô trong điều kiện phải chuyển đổi nền kinh
tế với điểm xuất phát rất thấp, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trầm trọng Mặt khác, việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ chỗ có chỗ dựa là các nước xã hội chủ nghĩa, trong một thế giới hai cực, nhưng nay chuyển sang phải thực hiện trong điều kiện không còn chỗ dựa nào về vật chất và tinh thần, trong
Trang 40một thế giới một cực Thậm chí, Việt Nam còn ở vào vị thế bị cô lập do bị bao vây cấm vận kinh tế Đó là điểm đặc trưng đầu tiên của việc xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam
1.2.2.3 Xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô ở Việt Nam mang
đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi
Những biến động lớn trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới cùng với những khó khăn gay gắt của nền kinh tế vào những năm 80 của thế kỷ trước đã dẫn tới công cuộc đổi mới ở Việt Nam Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ mô hình kinh tế hoạch hóa tâp trung sang mô hình nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Sự chuyển đổi đó là một quá trình, trong đó những
đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch tập trung không thể được thay thế hoàn hảo ngay bởi những đặc trưng của nền kinh tế thị trường Trong điều kiện như vậy, chính sách kinh tế vĩ mô phải phù hợp với đặc điểm chuyển đổi của đối tượng
mà nó tác động Hơn nữa, ảnh hưởng dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa tập trung
đối với xã hội là khá sâu sắc Do đó, việc hoạch định và thực thi chính sách kinh
tế vĩ mô khó tránh khỏi những ảnh hưởng không mong muốn của cách thức xây dựng và thực thi chính sách theo kiểu cũ Người ban hành chính sách chưa dứt khoát hẳn với tư duy kế hoạch hóa tập trung, nhận thức và trình độ xây dựng,
điều hành chính sách kinh tế vĩ mô theo cơ chế thị trường còn hạn chế Những người thực thi và chấp hành chính sách cũng chưa thoát khỏi tâm lý, thói quen của kế hoạch hóa kiểu cũ Trong nhiều trường hợp, những người chấp hành chính sách muốn được bao cấp nhiều hơn, lâu hơn Họ có thể tác động tới việc xây dựng chính sách theo hướng bao cấp Mặt khác những cơ quan hoạch định và
điều hành chính sách cũng muốn cố gắng giữ quyền lực thông qua cơ chế xin - cho theo kiểu cũ
Những phân tích trên cho thấy việc xây dựng và thực thi chính sách kinh
tế vĩ mô không chỉ phụ thuộc vào tính chất chuyển đổi của bản thân đối tượng chính sách là nền kinh tế quốc dân mà còn là phụ thuộc nhiều vào nhận thức chủ quan của những người hoạch định và thực thi chính sách Bản thân việc xây dựng
và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô cũng có đặc điểm chuyển đổi Nó chứa
đựng cả những đặc trưng của kế hoạch hoá tập trung và cả những đặc trưng của
kế hoạch hóa theo kinh tế thị trường Những đặc trưng này sẽ thay đổi cùng với mức độ chuyển đổi của nền kinh tế Đồng thời, nó làm thay đổi cả tốc độ chuyển
đổi của nên kinh tế