Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề về nội dung, các yếu tố tác động và việc vận dụng công nghệ thông tin trong xác định rủi ro kiểm t
Trang 2Danh môc tõ viÕt t¾t
KTNN CN KiÓm to¸n Nhµ n−íc chuyªn ngµnh
KTNN KV KiÓm to¸n Nhµ n−íc khu vùc
INTOSAI Tæ chøc c¸c c¬ quan kiÓm to¸n tèi cao quèc tÕ
Trang 3Mở đầu Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về ứng dụng CNTT hỗ trợ
xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu
trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
1.1 KháI niệm và các nhân tố tác động đến rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.1.1 Khái niệm và phân loại rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.1.1.1 Rủi ro kiểm toán
1.1.1.2 Tính trọng yếu trong hoạt động kiểm toán – Trọng yếu kiểm toán
1.1.2 Các nhân tố tác động đến rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.1.2.1 Các nhân tố tác động đến rủi ro kiểm toán
1.1.2.2 Các nhân tố tác động đến trọng yếu kiểm toán
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán
1.2 Nội dung, tác dụng và TRìNH Tự xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
1.2.1 Nội dung, tác dụng xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
1.2.1.1 Nội dung xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán 1.2.1.2 Tác dụng của việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong hoạt động kiểm toán nhà nước
1.2.2 Trình tự xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.2.2.1 Tiêu thức xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.2.2.2 Trình tự xác định rủi ro kiểm toán
1.2.2.3 Trình tự xác định trọng yếu kiểm toán
Ước lượng ban đầu này có thể được thay đổi trong quá trình kiểm toán khi kiểm toán viên thu thập đầy đủ hơn những thông tin về đơn vị
Trang 41.2.3 Tổ chức quản lý việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
1.3 Một số phương pháp ứng dụng xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
1.3.1 Các phương pháp ứng dụng xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.3.1.1 Phương pháp phân tích rủi ro kiểm toán dạng tích
1.3.1.2 Phương pháp "Ma trận rủi ro" (Risk Matrix)
1.3.1 3 Phương pháp Monte Carlo trong đánh giá khả năng (xác suất sảy ra) rủi ro kiểm toán
1.3.1.4 Phương pháp đánh giá rủi ro dựa vào độ tin cậy kiểm toán 1.3.1.5 Phương pháp hệ chuyên gia áp dụng trong xác định rủi ro
và trọng yếu kiểm toán
1.3.1.6 Phương pháp lập luận mờ (Furry Logic) áp dụng trong xác
định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.3.1.7 Phương pháp đánh giá theo qui tắc cho điểm (Scoring Rules) áp dụng trong xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.3.2 Các phương pháp vận dụng rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.3.2.1 Phương pháp xác định quy mô mẫu kiểm toán theo biến số 1.3.2.2 Phương pháp phân bổ trọng yếu kiểm toán cho các bộ phận 1.3.2.3 Phương pháp ước tính mức sai phạm của tổng thể
1.4 Các nhân tố tác động và điều kiện ứng dụng Cntt hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong hoạt động kiểm toán của kiểm toán nhà nước
1.4.1 Môi trường và khả năng ứng dụng CNTT trong hoạt động kiểm toán
1.4.2 Phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán
1.4.3 Quản lý hoạt động kiểm toán
Chương 2 Thực trạng xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu
và thực trạng ứng dụng cntt của
Trang 5Kiểm toán nhà nước Việt Nam
2.1 Thực trạng xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán nhà nước Việt Nam
2.1.1 Khái quát về quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
2.1.1.1 Chuẩn bị kiểm toán
2.1.1.2 Thực hiện kiểm toán
2.1.1.3 Kết thúc và lập báo cáo kiểm toán
2.1.1.4 Kiểm tra đơn vị được kiểm toán thực hiện kiến nghị của
đoàn kiểm toán
2.1.2 Các quy định của Kiểm toán Nhà nước trong việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.1.2.1 Các quy định của Quy trình Kiểm toán Nhà nước
2.1.2.2 Các quy định của Hệ thống chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước
2.1.3 Xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong thực hiện các cuộc kiểm toán
2.1.3.1 Xác định và vận dụng rủi ro kiểm toán
2.1.3.2 Xác định và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.1.4 Tổ chức quản lý và chỉ đạo việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu của Kiểm toán Nhà nước
2.1.4.1 Quy định việc tổ chức quản lý và chỉ đạo việc xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.1.4.2 Tổ chức quản lý và chỉ đạo việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu trong thực hiện kiểm toán
2.1.5 Đánh giá những kết quả, hạn chế và nguyên nhân hạn chế
2.1.5.1 Những kết quả đạt được
2.1.5.2 Những hạn chế, yếu kém
2.1.5.3 Nguyên nhân hạn chế
Trang 62.2 thực trạng ứng dụng cntt trong hoạt động kiểm toán nhà nước
2.2.1 Trang thiết bị tin học, các CSDL và phần mềm tin học hỗ trợ kiểm toán
2.2.2 Nhận thức, trình độ, năng lực tin học của KTV và đội ngũ công chức chuyên trách CNTT
2.2.3 Tổ chức quản lý ứng dụng CNTT
2.3 Kinh nghiệm nước ngoài trong phát triển ứng dụng CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.3.1 Tình hình ứng dụng CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán
và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.3.1.1 Tại một số công ty kiểm toán
2.3.1.2 Tại các cơ quan Kiểm toán Nhà nước của các nước (SAI)
2.3.2 Mô hình ứng dụng CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán
và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.3.3 Giới thiệu một số phần mềm hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.3.3.1 Teammate của Price Waterhouse Coopers
2.3.3.2 Pentana Audit Woran System (PAWS) của Công ty Pentana 2.3.3.3 ESKORT của Công ty WM- Data
2.3.4 Phương pháp quản lý việc xác định rủi ro kiểm toán và và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.4 Những bài học rút ra từ việc ứng dụng CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
2.4.1 Năng lực CNTT là tiền đề công nghệ cho sự phát triển ứng dụng CNTT trong hoạt động kiểm toán
Trang 72.4.2 Hoàn thiện phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán trong đó chú trọng phương pháp xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán là cơ sở cho phát triển ứng dụng CNTT
2.4.3 Xây dựng và phát triển các phần mềm tin học hỗ trợ hoạt
động kiểm toán là nhân tố trực tiếp tác động đến hiệu quả của ứng dụng CNTT trong kiểm toán
2.4.4 Phát triển ứng dụng CNTT trong hoạt động kiểm toán nói chung và trong xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán đòi hỏi phải đổi mới quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động kiểm toán
Chương 3 phương hướng và giải pháp ứng dụng CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán nhà nước
3.1 Sự cần thiết và Phương hướng ứng dụng Công nghệ thông tin hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.1.1 Sự cần thiết ứng dụng CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.1.1.1 Yêu cầu của việc nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán
3.1.1.2 Yêu cầu của việc phát triển các chức năng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
3.1.1.3 Yêu cầu của việc mở rộng số lượng các cuộc kiểm toán
3.1.2 Phương hướng ứng dụng CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.1.2.1 Tổ chức triển khai xây dựng các phần mềm tin học hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
Trang 83.1.2.2 Hoàn thiện các yếu tố cơ sở cho ứng dụng CNTT hỗ trợ xác
định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.1.2.3 Xây dựng kế hoạch và lộ trình ứng dụng CNTT hỗ trợ xác
định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.2 Các giải pháp ứng dụng CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán
và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
3.2.1 Xác định các ứng dụng và các mô hình thông tin của phần mềm tin học hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
3.2.1.1 Các ứng dụng của phần mềm tin học
3.2.1.2 Các mô hình thông tin
3.2.2 Giải pháp thiết kế các chương trình ứng dụng phần mềm hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếu kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
3.2.2.2 Giải pháp thiết kế chương trình ứng dụng xác định trọng yếu kiểm toán
3.2.2.3 Giải pháp thiết kế chương trình ứng dụng xác định quy mô mẫu kiểm toán cho các bộ phận kiểm toán
3.2.2.4 Giải pháp thiết kế chương trình ứng dụng tư vấn và đánh giá sai phạm trong kiểm toán
3.2.3 Giải pháp xây dựng mức khung và hướng dẫn xác định về rủi ro và trọng yếu kiểm toán để hỗ trợ chỉ đạo kiểm toán viên trong thực hiện kiểm toán
3.2.3.1 Các phương án xây dựng mức khung rủi ro và trọng yếu kiểm toán
3.2.3.2 Xây dựng quy trình và phương pháp xác định rủi ro và trọng
yếu kiểm toán và vận dụng trong thực hiện kiểm toán
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện phương pháp nghiệp vụ, công tác quản
lý, giám sát, kiểm soát chất lượng kiểm toán trong điều kiện ứng dụng
Trang 9CNTT hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.2.4.1 Thống nhất quan điểm chỉ đạo kiểm toán dựa trên cơ sở xác
định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.2.4.2 Hoàn thiện hệ thống chuẩn mực và quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
3.2.4.3 Hoàn thiện việc phân công nhiệm vụ và quy trình kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.2.4.4 Tổ chức hệ thống thông tin kiểm toán phục vụ cho quản lý và soát xét chất lượng xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán
3.2.4.5 Chỉ đạo hoạt động và soát xét việc xác định rủi ro kiểm toán
và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong hoạt động kiểm toán nhà nước (hiện tại chủ yếu áp dụng đối với các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính)
3.3 Tổ chức xây dựng triển khai dự án xây dựng phần mềm tin học hỗ trợ xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
3.3.1 Mục tiêu của dự án
Trang 10Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rủi ro và trọng yếu kiểm toán là hai vấn đề cơ bản trong hoạt động kiểm toán Việc xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếu kiểm toán có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kiểm toán; nó là cơ sở xác
định phạm vi, đối tượng, quy mô và phương pháp chọn mẫu kiểm toán; bố trí thời gian và nhân lực kiểm toán; đồng thời, cũng là một cơ sở để đưa ra những nhận xét, kết luận kiểm toán một cách đúng đắn
Xác định đúng đắn rủi ro, trọng yếu kiểm toán và vận dụng một cách thích hợp trong hoạt động kiểm toán là cơ sở, điều kiện thực hiện cuộc kiểm toán một cách tiết kiệm và đạt chất lượng cao
Kiểm toán là một lĩnh vực hoạt động mới ở Việt Nam Việc nghiên cứu lý luận về kiểm toán ở Việt Nam tuy đã được Kiểm toán Nhà nước và một số cơ quan khoa học, trường đại học quan tâm, song vẫn còn không ít vấn đề lý luận về kiểm toán còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, luận giải một cách đầy đủ; trong đó, có vấn đề về xác định rủi ro kiểm toán
và vận dụng tính trọng yếu kiểm toán Mặt khác, trong thực tiễn, việc vận dụng lý luận về rủi ro và trọng yếu kiểm toán trong hoạt động kiểm toán nói chung và trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước nói riêng vẫn
là một vấn đề còn nhiều hạn chế cả về nhận thức, về quản lý, chỉ đạo và việc thực hiện nghiệp vụ trong các cuộc kiểm toán Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cấp bách của việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếu kiểm toán trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Hơn nữa, vấn đề xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán và sự vận dụng chúng trong hoạt động của Kiểm toán Nhà nước cần được nghiên cứu trong môi trường Kiểm toán Nhà nước đã và đang triển khai thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin để hiện đại hoá hoạt động Điều đó khẳng định
ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài: "ứng dụng công nghệ
thông tin để hỗ trợ việc xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu trong hoạt
động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước"
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được những mục tiêu chủ yếu sau:
- Hệ thống những vấn đề lý luận về rủi ro và trọng yếu kiểm toán (bao gồm: khái niệm, nội dụng, mối quan hệ, những nhân tố tác động, v.v.) và khả năng ứng dụng CNTT hỗ trợ việc xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếu động kiểm toán;
- Tổng kết kinh nghiệm trong và ngoài nước về việc ứng dụng CNTT
hỗ trợ xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếu kiểm toán; đánh giá thực trạng việc xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếukiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán Nhà nước;
- Xác định phương hướng và đề xuất mô hình, các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ việc xác định rủi ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếu kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề về nội dung, các yếu tố tác động và việc vận dụng công nghệ thông tin trong xác định rủi
ro kiểm toán và vận dụng tính trọng yếu kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán Nhà nước;
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định cả về lý luận và thực tiễn trong và ngoài nước của vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên, nội dung thực tiễn sẽ tập trung nghiên cứu trong hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán Nhà nước từ năm 1995 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu bao gồm các phương pháp luận về chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp nghiên cứu lý luận: khái quát hoá, tổng hợp, phân tích và phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát, mô hình hoá, v.v
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục; đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Trang 12- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về ứng dụng công nghệ
thông tin hỗ trợ xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu trong hoạt
động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
- Chương 2: Thực trạng xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu
và thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông
tin hỗ trợ xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán Nhà nước
Trang 13Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về ứng dụng CNTT hỗ trợ
xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu
trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
1.1 KháI niệm và các nhân tố tác động đến rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.1.1 Khái niệm và phân loại rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.1.1.1 Rủi ro kiểm toán
a Khái niệm
Trong hoạt động kiểm toán, bất kỳ cuộc kiểm toán nào cũng có những hạn chế tiềm tàng dẫn đến luôn tồn tại khả năng kiểm toán viên đưa ra những
ý kiến, nhận xét không thích hợp (hoặc sai lầm) về báo cáo được kiểm toán
Có thể chỉ ra những hạn chế đó từ những nguyên nhân: thực hiện kiểm toán trên mẫu để đưa ra kết luận cho tổng thể; các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán hướng đến sự thuyết phục nên chỉ được thực hiện ở giới hạn nhất định; nhận xét, kết luận kiểm toán phụ thuộc nhiều vào sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên, v.v
Theo Alvin A.Arens và James K.Loebbeck “Rủi ro kiểm toán là rủi ro
mà kiểm toán viên sẽ kết luận là báo cáo tài chính được trình bày trung thực
và do đó công bố một ý kiến chấp nhận hoàn toàn trong khi thực tế thì chúng
bị sai sót trọng yếu”.[11, tr.82]
Tương tự như vậy, trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400, định
nghĩa: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên (và Công ty kiểm toán)
đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính còn có những sai sót trọng yếu”.[5]
Như vậy, về thực chất rủi ro kiểm toán là khả năng mà kiểm toán viên
đưa ra những nhận xét, kết luận sai lầm về báo cáo (hoạt động) được kiểm toán
b Phân loại rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán thường được được tiếp cận theo phạm vi của rủi ro kiểm toán Theo phạm vi, rủi ro kiểm toán chia thành: rủi ro kiểm toán của
Trang 14tổng thể báo cáo và rủi ro kiểm toán bộ phận (một chỉ tiêu trên báo cáo) Cách phân chia này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn khi kiểm toán viên tiến hành phân tích rủi ro kiểm toán: cần quan tâm đánh giá rủi ro kiểm toán tổng thể và rủi ro kiểm toán của từng nội dung, chỉ tiêu kiểm toán Trong thực tế kiểm toán, rủi ro kiểm toán của tổng thể được tiếp cận ở 2 góc độ: rủi ro kiểm toán mong muốn (mức độ rủi ro mà kiểm toán viên có thể chấp nhận) thường được xác định chung cho toàn bộ báo cáo, thể hiện trong kế hoạch kiểm toán tổng thể (hay kế hoạch chiến lược) và rủi ro kiểm toán ước tính (mức độ rủi ro theo đánh giá thực tế của kiểm toán viên trong cuộc kiểm toán) Cách tiếp cận này đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của quản lý và thực hiện hoạt động kiểm toán
1.1.1.2 Tính trọng yếu trong hoạt động kiểm toán - Trọng yếu kiểm toán
a Khái niệm
Một trong những mục tiêu của hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng và kiểm toán nói chung là đưa ra sự đảm bảo hợp lý rằng các báo cáo (thông tin) được kiểm toán là trung thực Điều đó có nghĩa là kiểm toán viên chấp nhận trong báo cáo (các chỉ tiêu trong báo cáo) tồn tại những sai phạm mà với mức độ sai phạm này kiểm toán viên vẫn tin tưởng rằng nếu kết luận là báo cáo trung thực sẽ không ảnh hưởng đến những quyết định của những người sử dụng các thông tin đó Khi mức độ sai phạm vượt khỏi một giới hạn nhất định, kiểm toán viên sẽ không đưa ra đánh giá về sự trung thực của báo cáo được kiểm toán; sai phạm ở mức độ đó được coi là sai phạm trọng yếu Như vậy, trong kiểm toán tồn tại khái niệm trọng yếu, gọi là trọng yếu kiểm toán hay tính trọng yếu trong hoạt động kiểm toán Để phù hợp với cách gọi phổ biến trong các tài liệu về kiểm toán hiện nay, trong đề tài này
sẽ sử dụng thuật ngữ “trọng yếu kiểm toán” thay cho thuật ngữ “tính trọng
yếu trong hoạt động kiểm toán”
Theo nghĩa phổ thông, “trọng yếu” chỉ một vấn đề, một sự vật, hiện tượng rất quan trọng Tuy nhiên, trong những lĩnh vực khác nhau, “trọng yếu” có nội hàm cụ thể riêng Theo các nhà khoa học về kiểm toán và theo
Trang 15các hướng dẫn của INTOSAI, IFAC đều đề cập đến trọng yếu kiểm toán (hay tính trọng yếu kiểm toán), khi tiếp cận nó ở góc độ những sai phạm nghiêm trọng mà kiểm toán viên không thể bỏ qua khi đưa ra kết luận về sự trung
thực của các thông tin Theo Alvin A.Arens và James K.Loebbeck: “Một sai
phạm trong báo cáo tài chính có thể được xem là trọng yếu nếu sự hiểu biết
về sai phạm này sẽ ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng hợp lý các báo cáo đó”.[11, tr.46 ]
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam sử dụng định nghĩa về trọng yếu kiểm
toán của IFAC cũng khẳng định: “ (Tính) Trọng yếu kiểm toán là khái niệm
về tầm cỡ, bản chất của những sai phạm hoặc bỏ sót các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ hoặc từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể, nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc đưa ra kết luận sai lầm” [1, tr.89]
Như vậy, trọng yếu kiểm toán thực chất là giới hạn về quy mô hoặc
tính chất của sai phạm (gồm cả bỏ sót) của báo cáo hoặc một chỉ tiêu trên báo cáo được kiểm toán để kiểm toán viên đưa ra sự đảm bảo hợp lý rằng các thông tin là trung thực (hoặc không bị sai phạm nghiêm trọng)
b Phân loại trọng yếu kiểm toán
Cũng như đối với rủi ro kiểm toán, trong hoạt động kiểm toán, vấn đề trọng yếu thường được tiếp cận theo theo phạm vi của sai phạm Theo phạm
vi của sai phạm, trọng yếu kiểm toán chia thành trọng yếu tổng thể của báo cáo (báo cáo tài chính) và trọng yếu bộ phận (một chỉ tiêu trên báo cáo) Cách phân chia này xuất phát từ yêu cầu trong phân tích của người sử dụng thông tin cần quan tâm đến những sai phạm cả về mặt tổng thể và từng bộ phận của báo cáo Trong thực tiễn vận dụng trọng yếu kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định các loại trọng yếu kiểm toán trên cả trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán (trọng yếu kiểm toán kế hoạch) và trong giai đoạn thực hiên kiểm toán (điều chỉnh trọng yếu kiểm toán) Trọng yếu kiểm toán cũng được xem xét về mặt định tính (tính chất của sai phạm) và về mặt định lượng (phản
ánh bằng số tuyệt đối hoặc số tương đối của sai phạm)
Trang 161.1.2 Các nhân tố tác động đến rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.1.2.1 Các nhân tố tác động đến rủi ro kiểm toán
Rủi ro kiểm toán là khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán mà kiểm toán viên vẫn kết luận về sự trung thực hoặc hợp lý của nó Rủi ro kiểm toán được xác định ở mức độ hợp lý (tương đối) Rủi ro kiểm toán chịu sự tác động của 3 loại rủi ro sau:
- Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản
thân đối tượng kiểm toán khi chưa xét đến sự tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị và hoạt động kiểm toán Rủi ro tiềm tàng bắt nguồn từ môi
trường hoạt động của đơn vị (môi trường kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật, lĩnh vực hoạt động, ) và đặc điểm trong tổ chức, hoạt động của đơn vị (quy mô, cơ cấu tổ chức của đơn vị, quan điểm và sự liêm chính của nhà quản lý, sự phân chia quyền lực trong đơn vị, thực trạng tài chính và kết quả hoạt động của
đơn vị, v.v) Các yếu tố môi trường không thuận lợi sẽ ít có khả năng ngăn chặn được các sai phạm trọng yếu, rủi ro tiềm tàng sẽ lớn hay khả năng tiềm
ẩn những sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán sẽ lớn và ngược lại Tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên không thể kiểm soát được rủi ro tiềm tàng, song cần đánh giá nó trong hoạt động kiểm toán để định hướng cho việc phát hiện những sai phạm trọng yếu trong hoạt động của đơn vị
- Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
không phát hiện, ngăn chặn được những sai phạm trọng yếu khi chưa xét đến
sự tác động của hoạt động kiểm toán Rủi ro kiểm soát bắt nguồn từ những
hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị: thiếu hoàn thiện (chứa
đựng các yếu tố không hợp lý, không đồng bộ, v.v không tạo khả năng kiểm soát một cách có hiệu quả mọi hoạt động của đơn vị) hoặc thiếu hiệu lực (các quy định về kiểm soát nội bộ không được thực thi và tuân thủ đầy đủ, đồng bộ, ) Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị yếu kém thì khả năng tồn tại những sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán sẽ lớn và ngược lại Tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên không thể kiểm soát được rủi ro kiểm soát, song cần đánh giá nó trong hoạt động kiểm toán để định hướng cho việc phát hiện những sai phạm trọng yếu trong hoạt động của đơn vị
Trang 17- Rủi ro phát hiện là khả năng mà hoạt động kiểm toán không phát
hiện được những sai phạm trọng yếu Rủi ro phát hiện bắt nguồn từ những
hạn chế của hoạt động kiểm toán: chọn mẫu kiểm toán; giới hạn về thời gian, phạm vi kiểm toán; hạn chế về các phương pháp áp dụng trong thu thập bằng chứng kiểm toán; hạn chế về năng lực của kiểm toán viên, v.v Tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên có thể kiểm soát một cách hợp lý được rủi ro phát hiện; có thể giảm rủi ro phát hiện thông qua bố trí cơ cấu kiểm toán viên hợp
lý, mở rộng phạm vi, quy mô mẫu kiểm toán, bổ sung các phương pháp kiểm toán,
Ba nhân tố rủi ro trên có tác động ở những mức độ khác nhau đối với rủi ro kiểm toán của đối tượng kiểm toán và nó cũng tác động ở các mức độ khác nhau đối với các đơn vị khác nhau, tuỳ thuộc vào các yếu tố tác động
đến mỗi loại rủi ro trên Tuy nhiên, xét về xu hướng thì mỗi loại rủi ro trên
đều tác động theo hướng đồng thuận với rủi ro kiểm toán, được thể hiện theo mô hình toán sau:
Rủi ro kiểm toán = Rủi ro tiềm tàng x Rủi ro kiểm soát x Rủi ro phát
hiện
Việc xác định rủi ro kiểm toán và các loại rủi ro trên có thể được xác
định theo tính chất (định tính: cao, thấp, trung bình) hoặc theo số lượng (định lượng: 0,1; 0,2…; 0,9), tuỳ thuộc vào sự vận dụng của kiểm toán viên trong hoạt động kiểm toán
1.1.2.2 Các nhân tố tác động đến trọng yếu kiểm toán
Trọng yếu kiểm toán được xác định ở mức hợp lý (tương đối); mức trọng yếu kiểm toán chịu sự tác động của 3 nhóm nhân tố chủ yếu sau:
- Các yếu tố môi trường hoạt động của đơn vị: tình hình chung của nền
kinh tế (khủng hoảng, lạm phát hay ổn định, biến động); các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của đơn vị (Luật Ngân sách nhà nước, Luật
Kế toán, Luật Thống kê, Luật chống tham nhũng, Luật thuế, ); các chính sách và biện pháp của Chính phủ liên quan đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị (khuyến khích, hạn chế, )
Trang 18- Các yếu tố về đặc điểm của đơn vị: quy mô hoạt động của đơn vị
(tổng tài sản, vốn, doanh thu, chi phí, v.v); lĩnh vực hoạt động của đơn vị (vì lợi nhuận hay phi lợi nhuận v.v.); trạng thái hoạt động của đơn vị (mới hoạt
động hay đã ổn định, đang sinh lời hay thua lỗ); thị trường hoạt động của đơn
vị (cạnh tranh hay ít cạnh tranh, v.v)
- Sự quan tâm và mục đích của người sử dụng thông tin báo cáo: Nhà
nước, bản thân các nhà quản trị, các nhà đầu tư của đơn vị; các đối tác, khách hàng,…
Ba nhóm nhân tố trên đều tác động đến hoạt động của đơn vị, tác động
đến sự nhận định của kiểm toán viên và tổ chức kiểm toán về mức độ ảnh hưởng của quy mô các sai phạm đến những nhận định của những người sử dụng thông tin, đặc biệt là tác động đến quyết định của người quản lý đơn vị;
do vậy, khi xem xét, xác định trọng yếu kiểm toán cho tổng thể báo cáo hoặc cho từng nội dung, chỉ tiêu kiểm toán, kiểm toán viên đều cần phải xem xét,
đánh giá một cách toàn diện sự tác động của 3 nhóm nhân tố trên Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng, mỗi nhóm nhân tố tác động hoặc từng nhân tố trong các nhóm nhân tố đó cũng lại tác động không giống nhau đến việc xác định trọng yếu kiểm toán do vậy kiểm toán viên cần có sự phân tích sâu sắc từng nhóm khi xác định trọng yếu kiểm toán
Trọng yếu kiểm toán thường được kiểm toán viên xác định theo số lượng (định lượng) Song, cũng có trường hợp kiểm toán viên chỉ dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp của mình xác định theo tính chất một cách rất tương đối theo những tiêu thức nhất định
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán
Giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ thể hiện ở những xu hướng sau:
- Khi trọng yếu kiểm toán được xác định ở mức thấp nghĩa là những sai phạm trọng yếu có quy mô nhỏ, do vậy, khả năng mà kiểm toán viên đưa
ra kết luận sai lầm sẽ lớn, tức là rủi ro kiểm toán sẽ lớn hơn và ngược lại Tuy nhiên, việc xác định trọng yếu lại phải dựa trên việc phân tích đánh giá một cách khách quan những nhân tố tác động đến nó; do vậy, kiểm toán viên không thể tùy tiện dựa vào ý muốn chủ quan của mình để xác định mức trọng
Trang 19yếu cao bởi chính việc xác định mức trọng yếu cao thiếu căn cứ hợp lý lại làm tăng rủi ro kiểm toán
- Giữa các loại rủi ro tác động đến rủi ro kiểm toán và trọng yếu kiểm
toán lại có mối quan hệ riêng khác nhau: khi kiểm toán viên xác định rủi ro
mong muốn ở mức thấp (giả định rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát ở mức
độ trung bình) cũng có nghĩa là mong muốn độ tin cậy của việc đánh giá, xác nhận kiểm toán ở mức cao thì rủi ro phát hiện yêu cầu (cần đạt đ−ợc) ở mức thấp để đạt đ−ợc mức rủi ro mong muốn đó; do vậy, kiểm toán viên xác định
quy mô mẫu kiểm toán lớn và mức trọng yếu thấp và ng−ợc lại Khi kiểm
toán viên xác định rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát ở mức thấp (giả định rủi ro mong muốn ở mức trung bình) thì rủi ro phát hiện (đạt đ−ợc) ở mức cao, kiểm toán viên sẽ xác định quy mô mẫu kiểm toán nhỏ và sẽ chấp nhận mức trọng yếu thấp
Mối quan hệ giữa rủi ro và trọng yếu (và trên cơ sở đó có mối quan hệ với quy mô mẫu kiểm toán) là cơ sở cho việc xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu trong hoạt động kiểm toán
1.2 Nội dung, tác dụng và TRìNH Tự xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
1.2.1 Nội dung, tác dụng xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
1.2.1.1 Nội dung xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
Xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán thực chất bao gồm các hoạt động: xác định rủi ro, trọng yếu kiểm toán và vận dụng trọng yếu kiểm toán (dựa trên rủi ro kiểm toán) vào các hoạt động kiểm toán Trong chuẩn mực kiểm toán của mọi tổ chức kiểm toán đều có chuẩn mực về việc
xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán Việc xác định rủi ro và trọng yếu
kiểm toán là quá trình kiểm toán viên dựa trên những thông tin thu thập và phân tích về đối t−ợng kiểm toán và các yếu tố tác động đến nó để định rõ về mức độ (định l−ợng) hoặc cấp độ (định tính) của rủi ro kiểm toán và quy mô (định l−ợng) của trọng yếu kiểm toán Việc xác định rủi ro kiểm toán đ−ợc
thực hiện trong quá trình chuẩn bị, lập kế hoạch kiểm toán cho cuộc kiểm toán hoặc trong quá trình thực hiện kiểm toán sau khi đánh giá hệ thống kiểm
Trang 20soát nội bộ của đơn vị để phục vụ cho điều chỉnh kế hoạch kiểm toán Việc xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán là cơ sở cho vận dụng chúng trong tổ
chức thực hiện kiểm toán Vận dụng rủi ro và trọng yếu kiểm toán là các
hoạt động của kiểm toán viên dựa trên những kết quả của việc xác định rủi
ro và trọng yếu kiểm toán: xác định nội dung kiểm toán trọng yếu (trọng tâm, quan trọng); xác định quy mô mẫu và lựa chọn phương pháp chọn mẫu kiểm toán; xác định phạm vi và phương pháp kiểm toán; xác định mức sai phạm của tổng thể từ kết quả kiểm toán trên mẫu
Xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán được thực hiện trong cả 4 giai đoạn của quy trình kiểm toán
a Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Trong giai đoạn này kiểm toán viên phải tiến hành nghiên cứu tài liệu, khảo sát đơn vị, phân tích tình hình và lập kế hoạch kiểm toán (kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết); trong đó kiểm toán viên cần phải:
- Tiến hành đánh giá, phân tích để xác định rủi ro kiểm toán gồm: rủi
ro kiểm toán tổng thể của báo cáo (rủi ro kiểm toán mong muốn hoặc rủi ro kiểm toán ước tính từ thực tế) và rủi ro kiểm toán của bộ phận (chỉ tiêu, khoản mục) kiểm toán (trên cơ sở xác định rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát
và rủi ro phát hiện của từng chỉ tiêu, khoản mục để xác định rủi ro kiểm toán cho từng chỉ tiêu, khoản mục đó);
- Tiến hành đánh giá, phân tích để xác định trọng yếu kiểm toán của
tổng thể báo cáo ( xác định chỉ tiêu và mức trọng yếu kiểm toán) và trọng yếu kiểm toán bộ phận (phân bổ trọng yếu kiểm toán cho các chỉ tiêu, khoản
mục cần kiểm toán);
- Trên cơ sở xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán, kiểm toán viên lập
kế hoạch kiểm toán; trong đó, chú ý những vấn đề bị chi phối bởi rủi ro và trọng yếu kiểm toán: nội dung trọng tâm kiểm toán, số và chất lượng kiểm toán viên thực hiện kiểm toán; quy mô mẫu chọn; áp dụng các phương pháp kiểm toán cho từng bộ phận kiểm toán
b Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Giai đoạn này kiểm toán viên tiến hành các công việc theo kế hoạch, trong đó các công việc vận dụng rủi ro và trọng yếu kiểm toán, gồm:
Trang 21- Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để đánh lại rủi ro kiểm soát, từ
đó điều chỉnh lại rủi ro phát hiện; điều chỉnh lại mức trọng yếu kiểm toán;
- Trên cơ sở điều chỉnh lại mức rủi ro và trọng yếu kiểm toán (nếu có), kiểm toán viên điều chỉnh lại kế hoạch kiểm toán chi tiết;
- Thực hiện kiểm toán trên mẫu kiểm toán theo kế hoạch đã điều chỉnh; xác định sai phạm trên mẫu kiểm toán và ước tính sai phạm tổng thể của bộ phận kiểm toán;
- Trên cơ sở ước tính sai phạm tổng thể của từng bộ phận kiểm toán,
đưa ra những nhận xét, kết luận kiểm toán của từng bộ phận hoặc tiếp tục các thủ tục nghiệp vụ bổ sung để đưa ra nhận xét, kết luận
c Giai đoạn lập báo cáo kiểm toán
Trong giai đoạn này việc vận dụng mức rủi ro và trọng yếu kiểm toán của kiểm toán viên gồm:
- Kiểm tra, soát xét lại các bằng chứng kiểm toán, các nhận xét, kết luận của từng bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán; trong đó, chú trọng đến những bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán có rủi ro kiểm toán lớn (hoặc rủi ro phát hiện cần đạt
được nhỏ);
- Tổng hợp những sai phạm bộ phận để xác định những sai phạm tổng thể của báo cáo tài chính, so sánh với mức trọng yếu kiểm toán của tổng thể báo cáo để đưa ra những kết luận kiểm toán thích hợp
d Giai đoạn kiểm tra đơn vị thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán
Đây là hoạt động kiểm tra sau cùng của cuộc kiểm toán; do vậy, việc vận dụng mức rủi ro và trọng yếu trong hoạt động này chủ yếu để định hướng cho việc quyết định những đơn vị, nội dung cần kiểm tra tại hiện trường (thường đối với tổng thể hoặc bộ phận có rủi ro kiểm toán lớn hoặc đối với những nội dung, bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán đã được kết luận có sai phạm trọng yếu); đồng thời, trên cơ sở đó, kiểm toán viên xác định thời gian, nội dung, phương pháp kiểm tra thích hợp
1.2.1.2 Tác dụng của việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán trong hoạt động kiểm toán nhà nước
Trang 22Việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán là một trong những yêu cầu, điều kiện để đảm bảo hoạt động kiểm toán có hiệu quả; hoạt
động đó sẽ mang lại những tác dụng chủ yếu sau:
a Đối với nhận thức và tư duy kiểm toán
Vận dụng việc xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán mặc dù chỉ là những hoạt động nghiệp vụ trong hoạt động kiểm toán, song nó là cơ sở cho việc thay đổi nhận thức về hoạt động kiểm toán (chuyển đổi từ hoạt động mang nặng tính chất kiểm tra kế toán sang kiểm toán), từ đó định hướng
đúng đắn cho toàn bộ cuộc kiểm toán
Hiện nay, Kiểm toán Nhà nước chủ yếu đang thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính; do vậy, vận dụng xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán sẽ tạo cơ sở hợp lý cho việc thực hiện chọn mẫu kiểm toán và các nghiệp vụ khác
Như vậy, từ sự thúc đẩy của việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán sẽ tạo cơ sở cho sự nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm toán: từ kiểm toán theo quan niệm đơn giản là công tác kiểm tra tài liệu và số liệu kế toán (chủ yếu là kiểm tra tính tuân thủ) để chuyển sang kiểm toán với tính cách là một loại hoạt động nghề nghiệp có những nghiệp vụ đặc thù mang tính khoa học cao Mặt khác, với những yêu cầu trong xác định, vận dụng rủi
ro và trọng yếu kiểm toán, đòi hỏi kiểm toán viên không chỉ dừng lại xem xét, tìm kiếm những sai phạm chủ yếu về kế toán, tài chính mà phải phân tích, đánh giá một cách toàn diện về môi trường hoạt động, đặc điểm tình hình tổ chức, quản lý của đơn vị, Như vậy, đòi hỏi kiểm toán viên phải có tư duy của nhà quản lý kinh tế trong hoạt động kiểm toán Hơn nữa, cũng từ yêu cầu đó, thúc đẩy kiềm toán viên phải vận dụng thành thạo các phương pháp khoa học kinh tế: thống kê, toán… trong hoạt động kiểm toán; dẫn đến thúc đẩy tư duy logic chặt chẽ, thúc đẩy ứng dụng CNTT trong hoạt động kiểm toán
b Đối với quá trình thực hành kiểm toán
Việc xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán trong điều kiện thực tiễn hiện nay có tác dụng trực tiếp đến toàn bộ quá trình thực hành kiểm toán; cụ thể:
Trang 23- Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, việc khảo sát, phân tích thông tin và lập kế hoạch kiểm toán sẽ được chú trọng, chất lượng kế hoạch kiểm toán sẽ được nâng lên Trong điều kiện đó, kiểm toán viên chỉ có thể xây dựng được kế hoạch kiểm toán trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về môi trường hoạt động của đơn vị, khảo sát, tìm hiều, thu thập đủ các thông tin cần thiết
để đánh giá được hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị và các vấn đề liên quan để xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán một cách hợp lý Mặt khác, trên cơ sở đó đòi hỏi kiểm toán viên phải nâng cao năng lực phân tích, đánh giá, chuyển đổi từ lập kế hoạch hình thức sang kế hoạch có những căn cứ hợp
lý, từ đó chỉ đạo đúng đắn công tác thực hiện kiểm toán
- Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, với việc xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán sẽ giúp cho việc thực hiện kiểm toán tập trung vào những trọng tâm, trọng điểm kiểm toán (những nội dung kiểm toán có rủi ro cao); nâng cao năng lực phân tích, tìm nguyên nhân sai phạm, v.v, để đảm bảo tính thuyết phục của báo cáo kiểm toán; áp dụng phương pháp chọn mẫu thích hợp để giảm thiểu sự kiểm tra chi tiết đến mức thấp nhất, v.v, và trên cơ sở
đổi mới hoạt động kiểm toán đó sẽ đặt ra yêu cầu và tạo khả năng nâng cao năng lực vận dụng các phương pháp kiểm toán một cách hợp lý làm cơ sở
đảm bảo tính thuyết phục của những nhận xét, kết luận kiểm toán
- Trong giai đoạn lập báo cáo kiểm toán, trên cơ sở xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán, một mặt, tạo được cơ sở cung cấp các bằng chứng kiểm toán thuyết phục làm cơ sở cho những nhận xét, kết luận kiểm toán; mặt khác, trên cơ sở hình thành một cách hệ thống các bằng chứng kiểm toán, tạo
điều kiện cho hoạt động kiểm tra, soát xét lại bằng chứng kiểm toán một cách chặt chẽ; việc đưa ra nhận xét, kết luận, kiến nghị có căn cứ thuyết phục hơn (dựa trên trọng yếu kiểm toán và các bằng chứng kiểm toán tương ứng)
Đây là tác dụng quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực kiểm toán
Ngoài ra, trên cơ sở những vận dụng trên sẽ tạo điều kiện tuận lợi cho việc thực hiện giai đoạn kiểm tra đơn vị thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán một cách có hiệu quả trên cơ sở: một mặt, cần hướng việc kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm (xác định đơn vị cần kiểm tra hoặc nội dung kiểm tra trong đơn vị); mặt khác, trên cơ sở những kết luận, kiến nghị kiểm toán hợp
Trang 24lý, thuyết phục sẽ là điều kiện để đơn vị chấp nhận việc thực thi các kiến nghị kiểm toán một cách thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu lực kiểm toán và giảm thiểu chi phí kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán tại đơn vị
c Đối với hoạt động quản lý kiểm toán
Sự thay đổi trong tư duy và tổ chức thực hành kiểm toán đòi hỏi và dẫn
đến sự thay đổi trong hoạt động quản lý kiểm toán; cụ thể:
- Đặt ra yêu cầu cho hoạt động chỉ đạo việc vận dụng rủi ro và trọng yếu kiểm toán phải có sự thống nhất: về phương pháp, về việc hướng dẫn khung xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán, về việc xử lý, điều chỉnh rủi ro
và trọng yếu kiểm toán, về việc xác định quy mô mẫu kiểm toán, trọng tâm, trọng điểm kiểm toán dựa vào rủi ro kiểm toán Như vậy, nó tác động đến việc nâng cao chất lượng công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ kiểm toán của các cấp quản lý kiểm toán
- Tạo cơ sở cho hoạt động kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán có căn cứ hợp lý: quy trình và căn cứ xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán; cơ
sở xác định trọng tâm, trọng điểm và quy mô mẫu kiểm toán; căn cứ đưa ra nhận xét, kết luận kiểm toán, v.v Như vậy, hoạt động kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán phải tiếp cận với nội dung, chất lượng hoạt động kiểm toán; nâng cao trách nhiệm và tính thường xuyên trong kiểm tra, soát xét chất lượng kiểm toán; giảm thiểu tính hình thức, thiếu hiệu quả, tạo đầy đủ hơn những tiền đề để xây dựng những tiêu chí đánh giá chất lượng kiểm toán
- Đặt ra yêu cầu thiết thực cho đổi mới tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức đoàn, tổ kiểm toán Với sự đổi mới hoạt động quản lý và thực hiện kiểm toán do sự tác động của vận dụng xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán nó
đòi hỏi sự chuyên môn hoá cao hơn trong quản lý các đơn vị kiểm toán và thực hiện kiểm toán (đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc, có hệ thống, thường xuyên
về đơn vị được kiểm toán), từ đó đặt ra yêu cầu trong phân công chuyên môn hoá quản lý và thực hiện kiểm toán theo lĩnh vực hẹp (phân công theo từng lĩnh vực của đơn vị kiểm toán và theo khách thể - đơn vị được kiểm toán)
1.2.2 Trình tự xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.2.2.1 Tiêu thức xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
Trang 25a Tiêu thức xác định rủi ro kiểm toán
Trong hoạt động thực tiễn, việc xác định rủi ro kiểm toán được thực hiện theo 2 tiêu thức là định tính và định lượng
*Rủi ro kiểm toán định tính
Kiểm toán viên thường dựa trên quan điểm rằng dù kiểm toán có nỗ lực cao nhất trong nghiên cứu, khảo sát kiểm toán thì cũng không thể xác
định được các mức rủi ro một cách chính xác, phù hợp hoàn toàn với thực tế;
do vậy, không nhất thiết phải đánh giá rủi ro kiểm toán nói chung và từng bộ phận rủi ro của nó một cách chính xác; hơn nữa, cũng chính vì vậy, việc xác
định các loại rủi ro thường mang tính chủ quan cao Với quan điểm này, các kiểm toán viên thường đưa ra cách đánh giá rủi ro kiểm toán một cách khái quát và chủ quan một cách định tính: ‘‘thấp”, ‘‘trung bình”, ‘‘cao”
Mô hình vận dụng xác định rủi ro kiểm toán thường được thực hiện dựa trên cơ sở xác định trước rủi ro kiểm toán mong muốn.; đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát; từ đó kiểm toán viên thường lập bảng để xác
định rủi ro phát hiện
Ví dụ về bảng xác định rủi ro phát hiện:
Trường hợp Rủi ro kiểm toán
mong muốn
Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro kiểm soát
Rủi ro phát hiện
4 Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
5 Cao Thấp Trung bình Trung bình
(Theo mô hình này cần có một sơ đồ đầy đủ gồm 27 trường hợp)
Xác định rủi ro kiểm toán định tính thường được nhiều kiểm toán viên
áp dụng vì nó tương đối đơn giản và phụ thuộc vào kinh nghiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên Tuy nhiên, đây là mô hình mang tính chủ quan cao nên
độ sai lệch so với thực tiễn có thể là lớn; mặt khác, nó chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên nên dễ dẫn đến tác động tiêu cực,
Trang 26kiểm toán viên giảm thiểu việc nghiên cứu khảo sát đơn vị, kế hoạch kiểm toán có chất lượng thấp
*Rủi ro kiểm toán định lượng
Việc xác định các loại rủi ro kiểm toán mong nuốn, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát dựa trên việc nghiên cứu, phân tích đánh giá các nhân tố tác
động đến từng loại rủi ro và thực hiện theo phương pháp cho điểm từng nhân
tố (nhóm nhân tố); trên cơ sở đó tổng hợp lại để xác định từng mức rủi ro và tính rủi ro phát hiện
Thực chất việc xác định rủi ro kiểm toán định lượng là dựa trên những
đánh giá định tính Tuy nhiên, nó đòi hỏi sự đánh giá, xét đoán đến từng nhân tố và phân chia tác động của từng nhân tố đến từng loại rủi ro theo các mức điểm chi tiết hơn; do vậy nếu mô hình tính toán được xây dựng một cách khoa học sẽ có khả năng xác định các mức rủi ro gần với thực tế hơn Tuy nhiên, mô hình xác định rủi ro định lượng đòi hỏi một sự đầu tư lớn về thời gian khảo sát, phân tích, đánh giá của kiểm toán viên và việc phân tích, tính toán phức tạp Do vậy, để mô hình rủi ro định lượng mang lại hiệu quả cần có
sự hướng dẫn, chỉ đạo thống nhất của các tổ chức kiểm toán và cần có sự hỗ trợ của CNTT mới khả thi và mang lại hiệu quả
b Tiêu thức xác định trọng yếu kiểm toán
Trọng yếu trong kiểm toán có thể được xem xét, đánh giá cả về định tính và định lượng; Tuy nhiên, thông thường việc xác định trọng yếu trong kiểm toán làm cơ sở để đưa ra những nhận xét, kết luận thường được thực hiện theo phương pháp định lượng
*Trọng yếu kiểm toán định tính (chất lượng)
Xác định trọng yếu kiểm toán định tính thường được áp dụng trong việc đánh giá các bằng chứng kiểm toán trong những trường hợp mà bản chất của sai phạm mang tính hệ thống, nghiêm trọng:
- Những nghiệp vụ chứa đựng các gian lận: gian lận, tham ô nghiêm trọng;
- Những nghiệp vụ chứa đựng những sai phạm về nguyên tắc, quy tắc trong quản lý kinh tế, tài chính, kế toán, v.v: sai phạm về nguyên tắc quản lý nghiêm trọng;
Trang 27- Những sai phạm lặp lại nhiều lần trong hoạt động của đơn vị;
- Những sai phạm liên quan đến những vấn đề ‘‘nhạy cảm”, tác động xấu đến đơn vị: tham nhũng, hối lộ, v.v
Mặc dù mang yếu tố định tính, song khi xem xét vấn đề trọng yếu này kiểm toán viên cũng cần nhìn nhận vấn đề trên 2 góc độ:
- Mức độ sai phạm tác động đến báo cáo (ước tính, lượng hoá sai phạm
định tính) để xác định mức độ khác nhau của cùng một sai phạm trọng yếu
về định tính;
- Có sự phân loại các cấp độ khác nhau của cùng một sai phạm định tính dựa trên phân tích nguyên nhân sai phạm; tần suất của sai phạm; sự tác
động của sai phạm đến các mặt hoạt động, các chỉ tiêu khác của báo cáo, v,v,
Xác định trọng yếu định tính rất cần thiết trong hoạt động kiểm toán, song, tuy nhiên nó ít khi được sử dụng làm cơ cở cho việc đưa ra kết luận cho từng bộ phận, chỉ tiêu được kiểm toán
*Trọng yếu kiểm toán định lượng
Trọng yếu kiểm toán định lượng được áp dụng phổ biến trong kiểm toán và đối với cả tổng thể báo cáo tài chính và đối với từng bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán Trọng yếu kiểm toán xác định theo phương pháp định lượng được xác định cả bằng số tuyệt đối và số tương đối; được xác định cho cả số thừa (+) và số thiếu (-); thường được xác định cho cả mức tối thiểu và mức tối đa, khoảng nằm giữa tối thiểu và tối đa dựa vào xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên
Việc xác định trọng yếu kiểm toán thường dựa trên ý kiến đánh giá của kiểm toán viên về các vấn đề (các tổ chức kiểm toán có hướng dẫn mức khung): quan điểm của nhà quản trị về mức trọng yếu; rủi ro kiểm toán và mức trọng yếu kiểm toán của các năm trước; mục đích và sự quan tâm của những người có lợi ích đối với đơn vị và kinh nghiệm của kiểm toán viên
1.2.2.2 Trình tự xác định rủi ro kiểm toán
Xác định rủi ro kiểm toán được thực hiện trong quá trình lập kế hoạch
kiểm toán và phương pháp cơ bản xuất phát từ mô hình rủi ro phát hiện:
DR = AR/IR x CR (2)
Trong đó: DRlà rủi ro phát hiện; AR là rủi ro kiểm toán mong muốn
Trang 28IRlà rủi ro tiềm tàng; CR là rủi ro kiểm soát
a Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn
Rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định một cách chủ quan, đó là
sự chấp nhận của kiểm toán viên về khả năng đưa ra những nhận xét, kết luận sai lầm trong những điều kiện thực tiễn của cuộc kiểm toán Rủi ro kiểm toán mong muốn về nguyên tắc có thể nằm trong phạm vi từ 0 đến 1 (0% đến 100%), tương ứng với mong muốn cao nhất là không có rủi ro và thấp nhất là chắc chắn có rủi ro kiểm toán Trong thực tế các kiểm toán viên chấp nhận một mức rủi ro kiểm toán thấp một cách hợp lý (ví dụ 5%)
Việc xác định rủi ro kiểm toán mong muốn mặc dù được xác định một cách chủ quan của kiểm toán viên, song, trước khi đưa ra quyết định, kiểm toán viên cần phải có những nhận định về các vấn đề chủ yếu sau:
- Mức độ tin tưởng của những người có lợi ích liên quan đến đơn vị (từ bên ngoài: cơ quan nhà nước, khách hàng, cổ đông, ) Theo đó, thường có
xu hướng là: sự tin tưởng càng cao thì kiểm toán viên càng cần chấp nhận một mức rủi ro kiểm toán thấp và ngược lại Sự tin tưởng của những người có lợi ích liên quan từ bên ngoài thường chịu tác động của các yếu tố bên trong
đơn vị: quy mô và bản chất của công nợ, thực trạng tài chính của đơn vị, sự
ổn định và tăng trưởng trong kinh doanh
- Khả năng đơn vị sẽ gặp khó khăn tài chính khi báo cáo kiểm toán
được công bố (hay thực trạng tài chính của đơn vị); trường hợp này thường chú ý tới những đơn vị có khó khăn tài chính hoặc khó khăn trong kinh doanh Đối với các trường hợp này, kiểm toán viên thường chấp nhận một mức rủi ro kiểm toán thấp hơn để đảm bảo độ an toàn cao và ngược lại Trong trường hợp này kiểm toán viên cần xem xét đơn vị dựa trên những dấu hiệu theo các tiêu thức chủ yếu: khả năng tiền mặt; các khoản lãi (lỗ) năm trước; các công cụ tạo vốn; tính chất hoạt động của đơn vị; năng lực của nhà quản lý
Mặt khác, việc kiểm toán viên quyết định mức rủi ro kiểm toán mong muốn còn chịu sự tác động của những xu hướng sau:
Trang 29- Các kiểm toán viên có xu hướng đặt ra rủi ro kiểm toán mong muốn bằng nhau đối với các cuộc kiểm toán khác nhau (và thường ở mức tương đối thấp) để giảm thiểu những rủi ro cá biệt và giữ uy tín của tổ chức kiểm toán
- Các nhóm kiểm toán viên khác nhau cũng có xu hướng quyết định mức rủi ro kiểm toán mong muốn khác nhau do sự tác động của chi phí kiểm toán khác nhau, trình độ thành thạo khác nhau và quan điểm khác nhau về rủi
ro kiểm toán có thể chấp nhận được
Việc xác định rủi ro kiểm toán mong muốn được thực hiện trong giai
đoạn lập kế hoạch Kiểm toán viên thường xác định rủi ro kiểm toán mong muốn chung cho toàn bộ báo cáo và do vậy nó được áp dụng cho mọi bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán Việc làm này thường có sự thống nhất của các kiểm toán viên cùng thực hiện cuộc kiểm toán Tuy vậy, trong một số trường hợp, khi thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên có thể điều chỉnh mức rủi ro kiểm toán mong muốn của các bộ phận do tầm quan trọng, sự tác động của một chỉ tiêu kiểm toán cá biệt nào đó đối với người sử dụng thông tin
Như vậy, việc xác định rủi ro kiểm toán mong muốn thường dựa trên cơ sở định hướng của tổ chức kiểm toán (có thể xác định mức khung rủi ro kiểm toán mong muốn đẻ hướng dẫn chung trong tổ chức kiểm toán) và do sự thống nhất của các kiểm toán viên của cuộc kiểm toán Mức rủi ro kiểm toán mong muốn thường áp dụng chung cho toàn bộ các nội dung (khoản mục, chỉ tiêu) kiểm toán của cuộc kiểm toán.
Rủi ro kiểm toán mong muốn có thể được xác định theo phương pháp
định tính (cao, trung bình, thấp) hoặc lượng hoá bằng giá trị từ 0 đến 1
b Xác định rủi ro tiềm tàng
Xác định rủi ro tiềm tàng được thực hiện đối với từng bộ phận kiểm toán Rủi ro tiềm tàng được xác định ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán Rủi ro tiềm tàng được đánh giá và xác định với giả định là chưa xét đến
hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị và hoạt động kiểm toán
Xác định mức rủi ro tiềm tàng dựa trên cơ sở đánh giá về môi trường hoạt động của đơn vị và những yếu tố về tổ chức, quan điểm của nhà quản lý
đơn vị; trong đó các yếu tố chủ yếu bao gồm: môi trường xã hội, pháp luật và tính chất hoạt động; quan điểm, động cơ, sự liêm chính của nhà quản lý đơn
Trang 30vị; quan hệ giữa đơn vị với các bên liên quan (đối tác); các đặc điểm của bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán: quy mô, cấu tạo của tổng thể, các nghiệp vụ bất thường; và tính nhạy cảm đối với tham ô
Để đạt được sự hiểu biết và đánh giá trên, kiểm toán viên phải nghiên cứu khảo sát theo trình tự sau:
- Nhận diện và đánh giá các yếu tố môi trường xã hội và pháp luật liên quan đến bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán;
- Tiếp cận, đánh giá quan điểm, động cơ của nhà quản lý đối với bộ phận kiểm toán;
- Đánh giá những tác động (tích cực, tiêu cực) của các đơn vị có liên quan (đối tác);
- Đánh giá tính chất và những đặc điểm của đối tượng kiểm toán
Dựa trên sự kết hợp đánh giá về các yếu tố tác động đến rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết định về mức rủi ro tiềm tàng: cao (có thể gồm cao và rất cao); trung bình; thấp (có thể gồm thấp và rất thấp) hoặc lượng hoá bằng giá trị từ 0 đến 1
Cũng như mức rủi ro kiểm toán mong muốn, việc đánh giá mức rủi ro tiềm tàng cũng cần có sự hướng dẫn, chỉ đạo chung của tổ chức kiểm toán
c Xác định rủi ro kiểm soát
Xác định rủi ro kiểm soát được thực hiện đối với từng bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán Rủi ro kiểm soát được xác định ngay trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán và có thể được điều chỉnh trong khi thực hiện kiểm toán (sau khi nghiên cứu, đánh giá chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị) Rủi ro kiểm soát được đánh giá và xác định với giả định là chưa xét đến hoạt động kiểm toán
Xác định mức rủi ro kiểm soát dựa trên cơ sở sự đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ: về cơ cấu hệ thống kiểm soát nội bộ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện với từng bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán và ở cả 3 yếu tố của hệ thống kiểm soát nội bộ: môi trường kiểm soát, đặc biệt là quan điểm của nhà quản lý; hệ thống hạch toán, đặc biệt là hạch toán kế toán; và các thủ tục kiểm soát Cụ thể, quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát được thực hiện qua các bước:
Trang 31- Nhận diện các mục tiêu kiểm soát (gắn với bộ phận, chỉ tiêu kiểm toán);
- Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù gắn liền với bộ phận kiểm soát;
- Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của kiểm soát nội bộ (sự thiếu vắng của quá trình kiểm soát chủ yếu, khả năng sai phạm trọng yếu có thể xảy ra; khả năng của quá trình kiểm soát bù trừ)
Dựa trên sự kết hợp đánh giá về các yếu tố kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết định mức rủi ro: cao (có thể gồm cao và rất cao); trung bình; thấp (có thể gồm thấp và rất thấp) hoặc lượng hoá bằng giá trị từ 0 đến 1
Cũng như mức rủi ro tiềm tàng, việc đánh giá rủi ro kiểm soát cũng cần có sự hướng dẫn, chỉ đạo chung của tổ chức kiểm toán
d Xác định rủi ro phát hiện
Trên cơ sở xác định 3 loại rủi ro: rủi ro kiểm toán mong muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên sẽ xác định mức rủi ro phát hiện theo 2 phương pháp:
- Phương pháp định tính thực hiện thông qua lập bảng để kết luận về mức rủi ro phát hiện: cao (có thể gồm cao và rất cao); trung bình; và thấp (có thể gồm thấp và rất thấp)
- Phương pháp định lượng, dựa trên công thức tính rủi ro phát hiện theo công thức DR = AR/IR x CR
Cũng như các mức rủi ro khác đã trình bày ở trên, việc đánh giá mức rủi ro phát hiện cũng cần có sự hướng dẫn, chỉ đạo chung của tổ chức kiểm toán
Trên cơ sở xác định mức rủi ro phát hiện, kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết
định về quy mô mẫu chọn kiểm toán Giữa rủi ro phát hiện và quy mô mẫu kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch Nếu kiểm toán viên chấp nhận mức rủi
ro phát hiện thấp thì quy mô mẫu kiểm toán phải tăng lên và ngược lại
1.2.2.3 Trình tự xác định trọng yếu kiểm toán
Xác định trọng yếu kiểm toán (trong kiểm toán báo cáo tài chính) đựơc thực hiện theo các bước gồm: xác định trọng yếu cho tổng thể báo cáo và xác
định trọng yếu cho từng bộ phận, chỉ tiêu được kiểm toán
Trang 32Việc xác định mức trọng yếu kiểm toán (tổng thể hoặc bộ phận) theo mô hình định lượng thường căn cứ vào việc đánh giá của kiểm toán viên về những vấn đề chủ yếu sau đây:
- Mục đích và sự quan tâm của những người sử dụng thông tin;
- Quan điểm về trọng yếu kiểm toán của nhà quản lý;
- Quy mô của tổng thể xác định trọng yếu kiểm toán;
- Rủi ro kiểm toán mong muốn của đối tượng kiểm toán
- Môi trường hoạt động của đơn vị (môi trường pháp luật, kinh tế )
a Xác định trọng yếu kiểm toán tổng thể
Xác định trọng yếu kiểm toán tổng thể hay ước lượng sơ bộ về trọng
yếu kiểm toán của tổng thể báo cáo được thực hiện ngay trong giai đoạn lập
kế hoạch kiểm toán Thực chất công việc này là xác định mức tối đa sai phạm của báo cáo mà kiểm toán viên tin tưởng rằng ở mức đó có thể có sai phạm trong báo cáo nhưng chưa ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng thông tin
Ước lượng ban đầu này có thể được thay đổi trong quá trình kiểm toán khi kiểm toán viên thu thập đầy đủ hơn những thông tin về đơn vị
* Xác định chỉ tiêu cơ sở chotrọng yếu kiểm toán tổng thể
Hai báo cáo chủ yếu của báo cáo tài chính của đơn vị là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán Trong mỗi báo cáo đó có nhiều chỉ tiêu có tác động lẫn nhau và có mối quan hệ với nhau theo nhiều chiều (thuận hoặc nghịch) Do vậy, về thực chất không thể có một mức trọng yếu kiểm toán chung tổng thể cho báo cáo tài chính của đơn vị (với nghĩa đen gồm toàn bộ các chỉ tiêu, khoản mục của báo cáo), thay vào đó kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu của tổng thể báo cáo tài chính thông qua một hay một số chỉ tiêu tổng hợp, có tính độc lập cao, phản ánh hiện trạng hoạt động (tài chính) của đơn vị ở đây, xin giả định kiểm toán viên sẽ chú trọng đến bảng cân đối kế toán mà tạm không xét đến báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh Thông thường, các chỉ tiêu Tài sản ngắn hạn; Tài sản dài hạn; Nợ phải trả; Vốn chủ sở hữu được lựa chọn vì chúng là những chỉ tiêu
độc lập, phản ánh tổng hợp tình hình tài chính của đơn vị
Trang 33Việc chọn số lượng chỉ tiêu để xác định mức trọng yếu kiểm toán tổng thể chịu sự quyết định của phạm vi kiểm toán Ví dụ: khi cần thực hiện kiểm toán toàn diện báo cáo tài chính, kiểm toán viên cho thể chọn cả 4 chỉ tiêu trên; khi mục tiêu cuộc kiểm toán tập trung vào đánh giá năng lực về tài sản của doanh nghiệp, kiểm toán viên chọn chỉ tiêu tổng tài sản hoặc 2 chỉ tiêu: Tài sản ngắn hạn, Tài sản dài hạn
* Xác định mức trọng yếu kiểm toán tổng thể
Việc xác định mức trọng yếu kiểm toán tổng thể cần thực hiện một số nội dung công việc cụ thể sau:
- Kiểm toán viên căn cứ việc đánh giá các yếu tố tác động để xác định mức trọng yếu cho tổng thể, trong đó cần lưu ý rằng dù các đơn vị có những
đặc điểm hoạt động tương đồng nhưng quy mô của tổng thể khác nhau thì
mức trọng yếu (tính theo %) cũng khác nhau Với tổng thể có quy mô càng
lớn thì mức trọng yếu thường nhỏ hơn và ngược lại vì thông thường sự quan
tâm của người sử dụng thông tin nhiều hơn với những đơn vị có quy mô lớn
- Xác định mức trọng yếu kiểm toán tối đa và tối thiểu Như vậy, khi sai phạm ở mức tối thiểu trở xuống, kiểm toán viên tin tưởng rằng nó sẽ không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định của người sử dụng thông tin; sai phạm ở mức tối đa trở lên, kiểm toán viên sẽ đưa ra quyết định không chấp nhận báo cáo tài chính vì nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định của người sử dụng thông tin; sai phạm ở khoảng giữa, kiểm toán viên phải tiếp tục thực hiện các thủ tục kiểm toán và kinh nghiệm nghề nghiệp để đưa
ra kết luận cuối cùng
- Xác định mức trọng yếu kiểm toán “thừa” (+) và “thiếu” (-) Hai mức trọng yếu kiểm toán này có thể bằng nhau hoặc khác nhau về mặt giá trị tuyệt đối tuỳ theo đánh giá của kiểm toán viên về xu hướng sai phạm của chỉ tiêu đó
- Các mức trọng yếu kiểm toán tổng thể cũng có sự khác nhau đối với những chỉ tiêu cơ sở cho trọng yếu kiểm toán tổng thể khác nhau do mức độ quan tâm của người sử dụng thông tin đến các chỉ tiêu đó khác nhau
b Xác định trọng yếu kiểm toán cho từng bộ phận kiểm toán – trọng yếu kiểm toán bộ phận
Trang 34* Xác định các chỉ tiêu kiểm toán bộ phận
Xác định mức trọng yếu kiểm toán cho từng bộ phận thực chất là việc phân bổ ước lượng ban đầu về trọng yếu kiểm toán (số tuyệt đối) cho từng chỉ tiêu bộ phận của chỉ tiêu kiểm toán tổng thể Ví dụ chỉ tiêu tổng thể: Tổng tài sản; các chỉ tiêu bộ phận: Tiền; Phải thu của khách hàng; Hàng tồn kho; Tài sản lưu động khác; Tài sản cố định; hoặc chỉ tiêu tổng thể là Nợ ngắn hạn thì các chỉ tiêu bộ phận là: Phải trả nhà cung cấp; Nợ ngắn hạn khác; Thuế phải nộp; Cổ tức phải trả
* Xác định mức trọng yếu kiểm toán bộ phận
Mức trọng yếu kiểm toán tổng thể được phân bổ cho các bộ phận thường được các kiểm toán viên xem xét và xử lý phụ thuộc vào 3 vấn đề chủ yếu sau:
- Mức độ sai phạm (theo cả giá trị tuyệt đối và tương đối) ở các chỉ tiêu kiểm toán bộ phận là khác nhau vì khả năng sai phạm ở các chỉ tiêu chịu
sự tác động của các yếu tố khác nhau
- Phân bổ mức độ “thừa”, “thiếu” cho các chỉ tiêu bộ phận không giống nhau, phụ thuộc vào đánh giá của kiểm toán viên về xu hướng sai phạm trong chỉ tiêu bộ phận kiểm toán nên cùng một chỉ tiêu ở các đơn vị khác nhau, có thể mức phân bổ “thừa” và “thiếu” là khác nhau
- Chi phí cho kiểm toán (quy mô mẫu kiểm toán, thời gian kiểm toán,
áp dụng nhiều phương pháp trong kiểm toán ) khác nhau sẽ chi phối quyết
định của kiểm toán viên về mức trọng yếu kiểm toán khác nhau vì chi phí
kiểm toán càng cao tức kiểm toán viên chấp nhận quy mô mẫu kiểm toán lớn hoặc thời gian kiểm toán dài thì mức trọng yếu kiểm toán có xu hướng được chấp nhận càng thấp và ngược lại
Kiểm toán viên có thể dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp để ước lượng mức phân bổ hoặc dựa vào mô hình toán để phân bổ trọng yếu kiểm toán cho các bộ phận kiểm toán
Trang 351.2.3 Tổ chức quản lý việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
Việc xác định mức rủi ro và trọng yếu kiểm toán chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, đặc biệt là yếu tố chủ quan: sự đánh giá và kinh nghiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên Do vậy, mỗi tổ chức kiểm toán, đặc biệt là Kiểm toán Nhà nước (phạm vi, tính chất của các đơn vị
được kiểm toán rất đa dạng, phức tạp), để đảm bảo xác định đúng đắn và vận dụng rủi ro và trọng yếu kiểm toán mang lại hiệu quả cho hoạt động kiểm toán, tổ chức kiểm toán cần thực hiện quản lý hoạt động này với những nội dung chủ yếu sau:
- Thống nhất hướng dẫn phương pháp, trình tự xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán Đây là một nội dung quản lý quan trọng; trước hết vì bản thân vai trò của rủi ro và trọng yếu kiểm toán đối với hoạt động kiểm toán; mặt khác, việc xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố chủ quan của kiểm toán viên, do vậy, cần phải thống nhất hướng dẫn đảm bảo được những yêu cầu chung trong hoạt động này
- Tổ chức xây dựng các mức khung có tính hướng dẫn về mức rủi ro và trọng yếu kiểm toán Đây là hoạt động mà mọi tổ chức kiểm toán đều thực hiện Việc làm này càng có ý nghĩa quan trọng đối với Kiểm toán Nhà nước vì tính đa dạng về phạm vi, tính chất của các đơn vị được kiểm toán Việc nghiên cứu, xây dựng các mức khung về mức rủi ro và trọng yếu đối với từng nhóm đơn vị được kiểm toán (có tính chất, quy mô hoạt động tương đồng) sẽ
đảm bảo được tính khoa học trong xác định rủi ro và vận dụng tính trọng yếu trong hoạt động kiểm toán (bao gồm cả xác định cho tổng thể và những bộ phận kiểm toán chủ yếu của từng nhóm đơn vị được kiểm toán)
- Tổ chức xây dựng những chương trình ứng dụng tin học (phần mềm)
hỗ trợ cho việc xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán Vì rủi ro và trọng yếu kiểm toán chịu sự tác động nhiều chiều, ở các mức độ khác nhau và của rất nhiều yếu tố; do vậy, việc đánh giá, tính toán trở nên rất phức tạp Để tạo điều kiện cho việc xác định và vận dụng chúng vào hoạt động kiểm toán một cách hiệu quả và khả thi cần phải ứng dụng CNTT để hỗ trợ cho kiểm toán viên
Trang 36- Thực hiện việc kiểm tra, soát xét và quản lý việc xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán Đây là chức năng quản lý kiểm toán Những nội dung chủ yếu của hoạt động này là: giám sát hoạt động xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch, gồm toàn bộ quá trình thu thập, phân tích, đánh giá tình hình đơn vị và các yếu tố tác động để xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán; giám sát quá trình điều chỉnh mức rủi ro và trọng yếu kiểm toán; giám sát việc vận dụng rủi ro và trọng yếu trong quá trình thực hiện kiểm toán và kiểm tra đơn vị thực hiện kết luận kiến nghị kiểm toán; trong đó đặc biệt là hoạt động kiểm tra, soát xét bằng chứng kiểm toán và kiểm tra việc đưa ra kết luận, kiến nghị kiểm toán dựa trên vận dụng rủi ro và trọng yếu kiểm toán
Việc không ngừng nghiên cứu, hoàn thiện hướng dẫn chỉ đạo xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiêm toán để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán luôn là một yêu cầu đặt ra đối với hoạt động quản lý kiểm toán
1.3 Một số phương pháp ứng dụng xác định rủi ro và vận dụng trọng yếu kiểm toán
1.3.1 Các phương pháp ứng dụng xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
1.3.1.1 Phương pháp phân tích rủi ro kiểm toán dạng tích [18 tr.47]
Đây là phương pháp cơ bản được mọi tổ chức kiểm toán áp dụng và nó
cũng là cơ sở để phát triển các phương pháp xác định rủi ro khác Phương
pháp này dựa trên công thức xác định rủi ro kiểm toán (AR) trong quan hệ với các loại rủi ro: rủi ro tiềm tàng (IR), rủi ro kiểm soát (CR), rủi ro phát hiện (DR): AR = IR x CR x DR;
Trên cơ sở công thức trên, tuỳ yêu cầu công việc cụ thể KTV sẽ xây dựng những mô hình xác định rủi ro khác nhau:
- Mô hình xác định rủi ro phát hiện: DR= AR / (CRx IR)
- Mô hình xác định rủi ro kiểm toán mong muốn: AR*=IRxCRxDR Phương pháp phân tích rủi ro dạng tích được vận dụng ở các mô hình xác định rủi ro kiểm toán định lượng
1.3.1.2 Phương pháp "Ma trận rủi ro" (Risk Matrix) [23]
Ma trận rủi ro là một công cụ dùng trong quá trình đánh giá rủi ro kiểm toán Ma trận rủi ro là một bảng 2 chiều gồm có các hàng và cột trong
Trang 37đó mỗi hàng, mỗi cột biểu diễn giá trị của thuộc tính (tính chất) dựa trên việc việc xác định các yếu tố tác động đến rủi ro kiểm toán đẻ làm cơ sở cho xác
định rủi ro phát hiện Các mức rủi ro thường được xác định định tính: thấp, trung bình, cao, rất cao (ví dụ tại mục 1.2.2.1 ở phần trên)
1.3.1 3 Phương pháp Monte Carlo trong đánh giá khả năng (xác suất sảy ra) rủi ro kiểm toán [24]
Phương pháp Monte Carlo (MC) là kỹ thuật liên quan đến việc sử dụng các số ngẫu nhiên và xác suất dùng giải các bài toán trong thực tế Phương pháp MC cũng được dùng để giải các bài toán định tính thông qua việc lượng hóa bằng các giá trị xác suất (khả năng để xảy ra) Ví dụ mức rủi ro cao hoặc thấp trong hoạt động kiểm toán sẽ được đo bằng giá trị
Trong kiểm toán, việc xác định rủi ro kiểm toán cũng có thể sử dụng phương pháp MC Tùy theo mô hình được xây dựng, đầu vào của mô hình sẽ bao gồm các giá trị của các yếu tố ảnh hưởng đến mức rủi ro kiểm toán (với các mức rủi ro tương ứng) được xây dựng trước hoặc được hình thành dựa trên các kết quả thử nghiệm đã biết trước áp dụng phương pháp MC sẽ cho
đầu ra là mức rủi ro với một xác suất tương ứng
Như vậy phương pháp MC thực chất là phương pháp xác định khả năng (xác suất) xảy ra rủi ro kiểm toán (được tính toán) dựa trên khả năng xảy ra của các yếu tố đầu vào (các loại rủi ro)
1.3.1.4 Phương pháp đánh giá rủi ro dựa vào độ tin cậy kiểm toán [21]
Phương pháp này được thể hiện trong mô hình đánh giá rủi ro kiểm toán dựa trên độ tin cậy kiểm toán (gọi tắt là FAAM - Financial Audit
Assurance Model) Thực hiện phương pháp này dựa trên những quy tắc sau:
- Độ tin cậy kiểm toán là khái niệm ngược của khái niệm rủi ro kiểm toán; do vậy: Độ tin cậy = 1- Rủi ro; tương ứng với các khái niệm rủi ro, có các khái niệm: độ tin cậy kiểm toán mong muốn (TA); độ tin cậy tiềm tàng (IA); độ tin cậy kiểm soát (CA); độ tin cậy của thử nghiệm hay phát hiện (SA)
- Mô hình thực nghiệm xác định độ tin cậy thử nghiệm về nguyyên lý
tương tự mô hình xác định rủi ro phát hiện (để đảm bảo độ tin cậy mong muốn gần bằng 95% - tương ứng với mức rủi ro mong muốn gần bằng 5%)
được mô tả trong sơ đồ cây quyết định như sau:
Trang 38Đánh giá RR tiềm tàng đối với từng nội dung kiểm toán và toàn bộ bảng cân đối
Kiểm tra các giải pháp kiểm soát
Thành công
Có
Các giải pháp kiểm soát là tin cậy
Các giải pháp kiểm soát là tin cậy
Tập trung vào các thử nghiệm cơ
bản
Các thử nghiệm chi tiết có phạm vi nhỏ nhất
Tập trung vào các thử nghiệm cơ
bản
Các thử nghiệm chi tiết có phạm vi nhỏ nhất
Các thử nghiệm cơ bản chuẩn
Trang 391.3.1.5 Phương pháp hệ chuyên gia áp dụng trong xác định rủi ro
và trọng yếu kiểm toán [20]
Một hệ chuyên gia (Expert System) hay còn gọi là hệ cơ sở tri thức (Knowledge Based System) là một phần mềm máy tính mà trong đó những tri thức của một hoặc nhiều các chuyên gia giỏi về một lĩnh vực chuyên môn
được xây dựng kết hợp với cơ chế suy diễn logic nhằm giải quyết những vấn
đề thuộc lĩnh vực chuyên môn đó
Dạng thông thường của một hệ chuyên gia là một chương trình máy tính tạo nên một tập hợp các "luật" (qui tắc suy diễn) dùng để phân tích các thông tin đầu vào của một lớp xác định các bài toán và cho các lời giải hợp
lý
Hệ chuyên gia được xây dựng nhằm chuyển các tri thức, kinh nghiệm
có được của các chuyên gia giỏi và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn tới các thành viên khác
Các hệ chuyên gia thường được thiết kế cho một lĩnh vực ứng dụng cụ thể Hệ chuyên gia làm việc như một chuyên gia thực, có thể cung cấp các ý kiến tư vấn dựa trên kinh nghiệm của chuyên gia
Hệ chuyên gia có các thành phần cơ bản sau:
- Bộ giao tiếp ngôn ngữ tự nhiên;
Trong lĩnh vực kiểm toán, việc xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán
là một vấn đề khó và phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và năng lực xét đoán của kiểm toán viên Do vậy, việc xây dựng một hệ chuyên gia dùng cho lĩnh
Trang 40vực này là cần thiết Các kinh nghiệm, tri thức của các chuyên gia kiểm toán giỏi sẽ được xây dựng để trợ giúp cho các kiểm toán viên trong việc xác định các rủi ro và trọng yếu kiểm toán cũng như hướng dẫn các giải pháp nhằm giảm thiểu các rủi ro này
1.3.1.6 Phương pháp lập luận mờ (Furry Logic) áp dụng trong xác
định rủi ro và trọng yếu kiểm toán [25]
Được xây dựng dựa trên các khái niệm về tập mờ (Fuzzy Set) và các luật mờ dùng để giải quyết các bài toán thực tế liên quan đến các đầu vào không biết rõ, hoặc mơ hồ do thiếu thông tin hoặc khó xác định Khái niệm
"tập mờ" để chỉ tập hợp gồm các phần tử trong một tập hợp có độ xác định tương đối (xấp xỉ) dùng để mô tả những khái niệm tương đối như: khá tốt, rất tốt, khá thấp, v.v
Việc xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán dựa trên các xét đoán của kiểm toán viên Các xét đoán này mang tính gần đúng; do vậy đối với các kiểm toán viên mới cần phải có sự trợ giúp thông qua các tri thức của các kiểm toán viên lành nghề Việc xây dựng một hệ chuyên gia cùng với việc sử dụng phương pháp lập luận mờ được cài đặt trên máy tính sẽ là công cụ hữu ích trợ giúp cho các kiểm toán viên Trong hệ chuyên gia "mờ", cố vấn sẽ đưa
ra kết quả xét đoán của mình về trọng yếu (hoặc rủi ro) bằng một giá trị nằm giữa 0 và 1 Dựa trên các kết quả này, kiểm toán viên sẽ đưa ra kết luận của mình căn cứ theo xét đoán riêng của mình
Trong hệ chuyên gia mờ các luật đánh giá trọng yếu kiểm toán (hoặc rủi ro) là các luật gần đúng Giá trị đánh giá trọng yếu thông thường được chọn theo công thức:
Giá trị trọng yếu lựa chọn = Max ( giá trị trọng yếu của tất cả các luật)
1.3.1.7 Phương pháp đánh giá theo qui tắc cho điểm (Scoring Rules) áp dụng trong xác định rủi ro và trọng yếu kiểm toán [26]
Phương pháp đánh giá theo qui tắc cho điểm được sử dụng cho việc
đánh giá chất lượng của việc dự báo hoặc ước lượng các xác suất (số đo khả năng xảy ra) của các sự kiện bằng cách gán cho các sự kiện quan trắc một giá trị (điểm) bằng số, sau đó sử dụng các công thức thích hợp đánh giá độ tin cậy của giá trị dự báo