Bài viết này nhóm tập trung phân tích thực trạng của xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Nam Mỹ qua các năm, phân tích các nhân tố tác động chủ quan và khách quan đến những thay đổi đó
Trang 1Trần Kiều Hạnh
Lê Thị Hồng Nguyệt Dương Thị Phương Thảo
Đề tài:
MỸ LA TINH – THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN I : TÌNH HÌNH CÁC THỊ T RƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM .7
I Tổng quan tình hình các thị trường xuất khẩu của Việt Nam: 7
1 Thị trường Asean 9
2 Thị trường EU 10
3 Thị trường Hoa Kì 11
4 Thị trường Nhật Bản 12
5 Thị trường Trung Quốc : 13
6 Thị trường Úc: 13
7 Thị trường Châu Phi: 14
PHẦN II : TÌNH HÌNH XUẤT KHẨ U CỦA VIỆT NAM QUA THỊ T RƯỜNG MỸ LA TINH NÓI CHUNG
16 I Sơ lược về khu vực Mỹ La tinh: 16
1 Tổng quan : 16
2 Sơ lược về Kinh Tế - Chính Trị 18
3 Văn Hóa - Xã Hội: 20
II Đặc điểm thị trường Nam Mỹ nói chung : 21
III Nhu cầu của thị trường Nam Mỹ : 23
IV Một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất sang Nam Mỹ : 25
1 Quan hệ thươn g mại giữa Việt Nam và thị trường 25
Mỹ La Tinh nói chung: 25
2 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ Latinh: 26
3 Phân tích các nhân tố tác động : 37
V Một số mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nam Mỹ 43
PHẦN III : PHÂN TÍCH MỘT SỐ THỊ TRƯỜ NG CHỦ LỰC VÀ TIỀM NĂNG KHU VỰC MỸ LA TINH
46 I THỊ TRƯỜNG MEHICO: 47
1 Đặc điểm thị trường : 47
2 Nhu cầu thị trường : 50
3 Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mehico : 51
4 Các rào cản chính sách thương mại: 55
5 Các rào cản phi thuế quan : 58
II Thị trường Panama: 60
Trang 31 Tổng quan : 60
2 Đặc điểm thị trường: 62
3 Nhu cầu thị trường : 64
4 Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Cộng hòa Panama : 65
5 Các rào cản chính sách, thương mại: 70
III Thị trường Chile: 73
1 Đặc điểm thị trường: 73
2 Nhu cầu thị trường : 76
3 Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Chile : 77
4 Các rào cản chính sách thương mại 82
IV Thị trường Brazil: 94
1 Tổng quan về brazil 94
2 Nhu cầu thị trường: 100
3 Ngành hàng 103
4 Các rào cản thương mại, chính sách luật lệ 108
PHẦN IV PHÂN TÍCH MA TRẬ N SWOT .120
I Cơ hội 120
II Nguy cơ 122
III Điểm mạnh 124
IV Điểm yếu 126
PHẦN V GIẢI PHÁP 133
I Giải pháp chung : 133
II Kiến nghị đối với nhà nước: 135
1 Thúc đẩy quan hệ hợp tác sâu rộng và bền vững về nhiều lĩnh vực giữa chính phủ Việt Nam đối với các quốc gia thuộc châu Mỹ Latin: 135
2 Chính phủ Cần có chính sách khuyến khích hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam x uất khẩu sang thị trường Mỹ Latin: 136
III Giải pháp đối với doanh nghiệp : 138
1 Đẩy mạnh xúc tiến thương mại: 138
2 Nâng cao năng lực cập nhật thông tin: 139
3 Đa dạng hóa ngành hàng xuất khẩu 139
4 Xây dựng chiến lược thâm nhập phù hợp 140
5 Nâng cao năng lực của đội ngũ nhân sự của doanh nghiệp 141
6 Giải pháp nâng cao tính cạnh tranh về giá cả sản phẩm 141
7 Nhóm giải pháp về nâng cao thương hiệu: 142 KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Xuất khẩu hàng hoá là một hoạt động quan trọng trong thương mại quốc tế không những đem lại nguồn ngoại tệ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta mà còn là một trong những hoạt động tất yếu của quá trình quốc tế hoá, hội nhập khu vực và thế giới
Hiện nay, việc xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng và đa dạng hoá Trong đó Nam Mỹ là một trong những thị trường có tiềm năng lớn mà chúng ta đang nhắm tới Với tốc độ tăng trưởng được đánh giá là khá cao trên thế giới và chính sách kinh tế đối ngoại ngày càng hướng mạnh về phương Đông, trong đó có Việt Nam thì việc chọn Nam Mỹ là thị trường tiềm năng phát triển xuất khầu là một hướng đi đúng
trong tương lai Chính vì lý do đó, em đã chọn đề tài: “Nam Mỹ- một trong những
thị trường xuất khẩu của Việt Nam” với mục đích phân tích thực trạng và đề ra
những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này
Với phương pháp duy vật biện chứng, so sánh, tổng hợp phân tích, kết hợp những kết quả thống kê với sự vận dụng lý luận làm sáng tỏ các nhân tố tình hình thực tại và các nhân tố ảnh hưởng
Bài viết này nhóm tập trung phân tích thực trạng của xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Nam Mỹ qua các năm, phân tích các nhân tố tác động chủ quan
và khách quan đến những thay đổi đó, đồng thời thống kê các mặt hàng xuất khẩu chính vào thị trường này Bên cạnh đó, nhóm cũng tiến hành phân tích chi tiết bốn quốc gia tại Nam Mỹ mà Việt Nam xuất khẩu vào nhiều nhất bao gồm: Me xico, Cộng hòa Panama, Chile và Bra xin về tổng quan, nhu cầu, các mặt hàng nhập khẩu chính từ Việt Nam và các rào cản thuế quan và phi thuế quan Từ những phân tích đó nhóm sẽ đưa ra các biện pháp thích hợp để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang thị trường này
Trang 5Phần I - "Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 2004-2009
và 6 tháng đầu năm 2010
Trước khi bắt đầu phân tích sâu, người đọc cần có một cái nhìn tổng quan,
sơ lược nhất về tình hình các thị trường xuất khẩu của Việt Na m thông qua một vài số liệu và phân tích khái quát ở phần 1 này Mở đẩu phần phân tích này là một vài số liệu
về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua các nhóm thị trường chính Sau đó, nhóm tiến hành đi sâu vào thống kê phân tích tình hình xuất khẩu qua các năm của Việt Nam sang một số thị trường tiêu biểu Ngoài ra phần phân tích này còn cung cấp cho người đọc thông tin có thể dùng để so sánh số liệu xuất khẩu sang thị trường Nam Mỹ được phân tích ở phần tiếp theo
Phần II - "Tình hình xuất khẩu chung của Việt Nam sang thị trường Nam Mỹ"
Đây là một trong hai phần quan trọng nhất và có ý nghĩ thực tiễn cao nhất trong bài viết này Phần này có 3 ý lớn quan trọng nhất được phân tích Phần đầu tiên, nhóm nghiên cứu s ẽ đưa ra những thông tin tổng quan về khu vực Nam Mỹ như tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội tại khu vực này, làm tiền đề cho các phần phân tích tiếp theo Ngòai ra, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra những đặc điểm chủ yếu của thị trường Nam Mỹ bao gồm những thành tựu đã đạt được và một số hạn chế còn tồn tại cũng như nhu cầu của thị trường này Nội quan trọng và có tính thực tiễn cao trong phần hai này là quan hệ giữa Việt Nam và các quốc gia Nam Mỹ Nhóm thống
kê số liệu về tình hình xuất khẩu của Việt Na m qua cụ thể từng quốc gia Nam Mỹ qua các giai đoạn, các mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang các nước này, sau đó, tiến hành phân tích nhận xét và đưa ra các nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động đến thực trạng này Phần phân tích này có ý nghĩa quan trọng vì là nền tảng để đề ra giải pháp phát triển cho xuất khẩu Việt Na m sang thị trường này được phân tích ở phần 4
Phần III - "Tình hình xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam"
Trang 6Phần tiếp theo này nhóm tiến hành thống kê phân tích bốn quốc gia tại thị trường Nam Mỹ mà Việt Na m có kim ngạch xuất khẩu lớn là: Mexico, Panama, Chile
và Braxin Nhóm tiến hành hành phân tích theo các khía cạnh lớn là đặc điểm thị trường, nhu cầu thị trường, các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang thị trường đó và cuối cùng là các chính sách thuế thương mại và chính sách phi thuế quan được áp dụng tại các quốc gia này Phần phân tích này sẽ là thông tin rất hữu ích cho các doanh nghiệp đã và sắp xuất khẩu vào các thị trường tiềm năng này
Chương IV - "Phân tích ma tr ận SWOT"
Phần phân tích nảy nhóm sẽ đúc kết từ các phần trình bày phía trên để đưa
ra các yếu tố: cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh điểm yếu của các thị trường này, từ đó có hướng đề ra các giải pháp phù hợp để mở rộng thị phần tại Nam Mỹ sẽ được đề cập trong phần cuối cùng
Chương IV - "Giải pháp"
Thông qua việc đánh giá SWOT của hoạt động xuất khẩu hàng Việt Nam sang thị trường Nam Mỹ, nhóm nghiên cứu đưa ra những định hướng, mục tiêu phát triển trong tương lai bên cạnh những giải pháp cần thiết cho nhà nước và doanh nghiệp xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi xuất khẩu, khuyến khích các doanh nghiệp
mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm Việt Nam trên thế giới
Trang 7 Tháng 1/2006 Việt Nam thực hiện xong chương trình thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của Asian
Tháng 1/2007 Việt Na m chính thức là thành viên tổ chức thương mại thế giới Bên cạnh đó là rất nhiều những hiệp định thương mại s ong phương và đa phương khác được kí kết với các nước và khu vực như Asean, Nhật bản, EU Vì vậy mà có thể nói trong giai đọan này thị trường xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam phát triễn theo
cả chiều rộng lẫn chiều sâu Điển hình là các thị trường ngày càng được mở rộng ra khắp thế giới với cơ cấu các mặt hàng ngày càng đa dạng và kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm Trong đó Việt na m đã xây dựng được cho mình những thị trường xuất khẩu chủ lực có ý nghĩa chiến lược mà chính phủ luôn có sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt cũng như chính sách khuyến khích phát triển như Asean, EU, Mỹ, Nhật Bản Cụ thể tình hình xuất khẩu của nước ta với các thị trường chủ lực như sau:
Trang 8Bảng: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam qua một số thi trường chủ
lực trong giai đọan 2005-7tháng/ 2010
Trang 91 Thị trường Asean
Thị trường Asean: Tuy Việt Nam và các nước Asean có nhiều lợi thế tương
đồng, dẫn tới nhiều sản phẩm giống nhau như dầu thô, gạo, cao su, cà phê, nhưng nhờ có các chương trình hợp tác kinh tế và thương mại của khối mà họat động xuất nhập khẩu giữa Việt nam và các nước này vẫn được tăng cường và phát triển qua cácnăm Cụ thể là kim ngạch xuất khẩu của nước ta qua thị trường này ở năm
2005 chỉ là 5743,5 triệu đô la Mỹ chiếm 17,7% cơ cấu các thị trường, đến năm
2008 đã tăng gần gấp đôi với giá trị là 10337,7 triệu Đola Mỹ với tỷ trọng giảm còn 16,49% Qua năm 2009 thì do tình hình chung của suy thoái kinh tế kim ngạch giảm so với năm 2008 nhưng có dấu hiệu phục hồi tốt vào 2010 kh i 7 thág đầu năm Việt Na m đã xuất khẩu được 6200 triệu USD, và nếu chiều hướng tích cực này vẫn còn được giữ vững vào những tháng cuối năm, kim ngạch sẽ đạt được giá trị tương đương với giá trị năm 2008
Về cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu thì các nước Asean nhập khẩu hàng hóa từ
nước ta chủ yếu là nguyên liệu thô và sơ chế Trong 6 tháng đầu năm 2010, có thể thấy các mặt hàng xuất khẩu qua Asean chủ yếu là gạo, dầu thô và máy móc thiết bị phụ tùng, linh kiện điện tử, trong đó chỉ riêng hai mặt hàng là gạo và dầu thô đã chiếm đến gần 37% tổng kim ngạch Tuy nhiên, chỉ có 2 mặt hàng này đạt tốc độ tăng trưởng âm trong 6 tháng đầu năm 2020, các nhóm hàng còn lại đều đạt tốc độ tăng trưởng dương, thậm chí tăng mạnh như máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng tăng gấp hơn 2 lần, sắt thép tăng 2,4 lần; xăng dầu các loại tăng 53,3% so với cùng kỳ năm trước
Tóm lại, thị trường Asea là một thị trường có tiềm năng vô cùng lớn đối với nước
ta với vô số những cơ hội mang lại cho họat động xuất khẩu của việt Nam như: hàng hóa Việt Nam dưa vào những nước này sẽ chịu thuế thấp, các rào cản thuế quan và phi thuế quan s ẽ được bãi bỏ trong tương lai, nhiều sản phẩm xuất khẩu của Việt nam cần cho các nước như gạo, dầu thô
Tuy nhiên ở thị trường này vẫn còn tiếm tàng một số khó khăn đe dọa tới các doanh nghiệ p xuất khẩu Việt Nam như
Trang 10 Một bộ phận lớn các doanh nghiệp Việt nam còn yếu về sức cạnh tranh so vơí doanh nghiệp các nước Asean, nên nếu không tăng nhanh khả năng cạnh tranh thì hàng hóa Việt Nam không những s ẽ rất khó xuất sang các nước này mà còn khó tiêu thị được ở chính thị trường nội địa
Các nước Asean có lợi thế kinh tế tương tự nhau nên sản phẩm xuất khẩu có cơ cấu giống nhau
Những nhóm hàng xuất khẩu sang thị trường này chủ yếu là nguyên liệu thô và
sơ chế nên hàm lượng giá trị gia tăng chưa cao Mặt khác, những mặt hàng này sẽ từng bước được cắt giảm do nguồn nguyên liệu tự nhiên đang cạn kiệt dần cũng như việc thực hiện chính sách hạn chế tài nguyên xuất khẩu
2 Thị trường EU
Thị trường EU: Cũng giống với xu hướng tăng tích cực của kim ngạch xuất khẩu
qua thị trường Asean, Việt Na m xuất khẩu qua thị trường này vào năm 2005 chỉ là
5517 triệu USD, thấp hơn qua thị trường Asean Tuy nhiên với tốc độ tăng mạnh hơn vào những năm 2006-2008, kim ngạch xuất khẩu đã lên đến 10895 triệu USD vào năm 2008 chiế m 17.38% tỷ trọng vuợt qua tỷ trọng của các nước Asean Sau mức giảm nhẹ vào năm 2009 là 15175triệu USD thì đến năm 2010 đã có dấu hiệu hồi phục trờ lại với kim ngach đạt trong 7 tháng đầu năm khá cao là 5979 triệu USD chiế m tỷ trọng là 15.52% tổng kim ngạch các thị trường
Các mặt hàng Việt nam xuất khẩu qua EU khá đa dạng với giá trị ngày càng tăng cao như giày dép, dệt may, hải s ản, đồ gỗ, cà phê, thủ công mỹ nghệ, điện tự vi tính, sản phẩm nhựa, cao su, xe đạp Trong đó, EU tiếp tục là một trong những thị trường nước ngoài quan trọng nhất của mặt hàng giầy da và thủy sản Việt Nam với giá trị nhập khẩu giầy da đạt 1.9 tỉ đô la Mỹ và thủy sản đạt 1.1 tỉ đô la Mỹ trong năm 2009 EU cũng tiếp tục trở thành nhà nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ hai của Việt Nam (giá trị nhập khẩu hàng dệt may đạt 1.7 tỉ, g iảm 3.1% so với năm trước) Ngoài ra mặt hàng cà phê xuất
Trang 11khẩu cũng có giá trị ngày càng tăng và linh kiện điện tử thì tuy chỉ mới bắt đầu xuất qua
EU từ năm 2005 nhưng gía trị cũng tương đối cao và có chiều hướng tăng qua các năm
Tóm lại, EU là liên minh kinh tế lớn nhất tòan cầu và là khu vực có họat động
thương mại thịnh vượng nhất thế giới Vì vậy mà đây sẽ là một thi trường tiềm năng trong tương lai còn rất lớn với nhu cầu nhập khẩu và khả năng thanh tóan cao, nhu cầu hàng hóa là các mặt hàng chủ lực của nước và hơn hết là luôn giành nhiều ưu đãi cho Việt Na m Tuy nhiên, trong tưong lai, doanh nghiệp cũng sẽ gặp phải khá nhiều khó khăn khi xuất khẩu hàng vào thị trường này vớ những rào cản vể kĩ thuật quy định về chất lượng và vệ sinh an tòan cao cũng như sự cạnh tranh gay gắt từ những hàng hóa của Trung Quốc, các nước Động Âu và Asean
3 Thị trường Hoa Kì
Thị trường Hoa Kì: Đây là thị trường xuất khẩu chủ lực và quan trọng nhất của
nước ta với kim ngạch xuất khẩu luôn dẫn đầu qua các năm Vào năm 2005, giá trị xuất khẩu đạt 5924 triệu USD chiế m tỷ trọng lên đến 18,25% tổng kim ngạch và con số này tiếp tục gia tăng cả về giá trị lẫn tỷ trọng trong các năm tiếp theo Trong đó, tỷ trọng xuất khẩu vào Hoa kì đạt mức cao nhất vào năm 2007 với 20,8% ứng với giá trị là 10104,5 triệu USD Đặc biệt là trong năm 2009, trước tình hình khủng hỏang của kinh tế thế giới, giá trị kim ngạch xuất qua Mỹ chỉ giảm nhẹ
ớ mức 5310triệu USD s o với sự giảm sút nặng nề của một số các thị trường khác,
do đó, tỷ trọng của thi trường này tăng 0.9% so với 2008 đạt 19,9% Đến 2010 thì kim ngạch có sự phục hồi đạt 7658triệu USD và tỷ trọng vẫn là 19.9%
Các mặt hàng chủ lực Việt Na m xuất khẩu qua Mỹ bao gồm hàng may mặc, đồ gỗ, dày dép , dầu thô, thủy sản Trong đó, các mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất là dệt may, giày dép và thủy sản Tuy nhiên trong những năm gần đây, có sự xuất hiện của một số các mặt hàng có giá trị gia tăng kim ngạch xuất khẩu cao như máy vi tính, linh kiện điện
tử, một số mặt hàng nông sản như hạt điều, cà phê
Trang 12Tóm lại, nhìn chung, trong tương lai, Mỹ vẫn là một trong những thị trường đóng
vai trò vô cùng quan trọng trong vai trò là thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt nam ta với quy mô thị trường lớn rộng lớn, cần nhập khẩu nhiều hàng hóa về chủng loại cũng như số lượng Tuy nhiên, với hệ thống pháp luật và cơ chế quản lí hàng nhập khẫu rất phức tạp, đòi hỏi sự cạnh tranh khắc nghiệt và hàng rào bảo hộ thị trường nổi địa rất tinh
vi thì các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nổ lực hơn nữa trong việc nâng cao s ức cạnh tranh và mức độ a m hiểu thị trường mới có thể giữ vững và phát huy giá trị xuất khẩu trong tương lai
4 Thị trường Nhật Bản
Thị trường Nhật Bản: là thị trường đứng thứ tư trong số các thị trường có kim
ngạch nhập khẩu hàng hóa từ việt Nam cao nhất thế giới sau EU, Hoa Kì và Asean Cũng giống như các thị trường khác thì kim ngạch xuất khẩu qua Nhật Bản cũng gia tăng đều qua các năm với giá trị cao nhất đạt 8467,8triệu USD năm 2008, tăng 41275 tức là gần gấp đôi so với 2005 Đến năm 2009, thì kim ngạch có xu hướng giảm chỉ đạt 6291,8 triệu USD và phục hồi khá vào năm 2010 với giá trị 7 tháng đầu năm đạt 4753 triệu USD Xét về tỷ trọng thì tỷ trọng của thị trường này tăng giảm không đều qua các năm và đạt mức cao nhất vào năm 2008 là 13,5% , thấp nhật là 7 tháng đầu năm 2010 với 10,8%
Các mặt hàng xuất khẩu qua Nhật Bản bao gồm thủy sản, gỗ, hàng dệt may, dày dép, dây điện cáp điện, vi tính sản phẩm điện tử, linh kiện, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác.trong đó các loại hàng hóa có giá trị cao nhất là thủy sản, sản phẩm điện tử và máy móc thiết bị, dụng cụ, dệt may
Tóm lại, Nhật Bản là một nước không giàu tài nguyên thiên nhiên nên có nhu cầu
nhập khẩu rất lớn Do đó, trong giai đọan 2001-2010 đây là thị trường trọng điểm mà Chính phủ xác định để đưa nền kinh tế việt Nam hội nhập sâu vào khu vực và thế giới
Có thể nói, thị trường Nhật Bản còn rất rộng cửa cho sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam nhưng muốn thâm nhập mạnh vào thị trường này, sản phẩm xuất khẩu của Việ Nam phải
Trang 13mang tính cạnh tranh cao, nông sản, thuỷ sản phải bảo đản vệ s inh an tòan thực phẩm cao
5 Thị trường Trung Quốc :
Thị trường Trung Quốc: Đây là thị trường đứng thứ năm trong các thị trường
xuất khẩu chủ lực của nước ta với kim ngạch gia tăng khá đều qua các năm Từ mức 3228,1 triệu USD kim ngạch vào năm 2005, xuất khẩu sang Trung quốc đã tăng lên mức 4850,1triệu USD vào 2008 Tuy nhiên, tỷ trọng lại có xu hướng trái ngược với giá trị khi giảm từ 9,9% xuống chỉ còn 7.8% do tốc độ gia tăng thấp hơn so với các thị trường khác như Mỹ, Asean Đến năm 2009, khi mà kim ngạch xuất khẩu qua các thị trường khác đều giảm thì qua Trung Quốc lại tăng lên 4909triệu USD kéo theo s ự gia tăng của tỷ trọng đạt mức 8,6% Chiều hướng tích cực này tiếp tục được giữ vững qua dấu hiệu phục hồi rất tốt của kim ngạch 7 tháng đầu năm 2010
Có thể nói, hàng hóa xuất khẩu qua Trung Quốc rất đa dạng như cao s u, than đá, thủy sản, cà phê, dầu thô, rau quả, xăng dầu, gổ và sản phảm từ gỗ Trong đó, chiếm tỷ trong và giá trị cao là các mặt hàng than đá chiếm , dầu thô, máy vi tính, link kiện điện
tử
Tóm l ại, Trung Quốc là thị trường lớn và đầy tiềm năng đối với họat động thương
mại của Việt Nam, chẳng những gần việt Nam về vị trí lãnh thổ mà cón là thị trường lớn
có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới Tuy nhiên bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một số khó khăn như khả năng cạnh tranh của nột số mặt hàng công nghiệp của nước ta còn kém
so với hàng Trung Quốc, ít thông tin và rủi ra trong thanh tóan cao
6 Thị trường Úc:
Thị trường Úc: Thị trường này chiếm vị trí khá cao trong cá thị trường xuất khẩu
của Việt Nam với tỷ trọng dao động từ 4% -9% trong giai đọan 2005-2010 Cụ thể
là kim nạch đạt 2722,8triệu USD vào năm 2005 và tăng đều nhưng chậm vào
Trang 14những năm tiếp theo Đến năm 2008 thì đạt 4351,6 triệu USD và giảm gần một nui73a xuống còn 2276,7 triệu USD chiếm 4% tỷ trọng Qua 7 tháng đà6u năm
2010, có sự phục hồi chậm hơn so với các thị trường khác, do đó, tỷ trọng vẫn chỉ giữ ở mức 4,1%
Các mặt hàng xuất khẩu qua Uc khá đa dạng như hạt điều, thủy sản, cà phê, dầu thô, hàang dệt may, giày dép, sản phẩm từ gỗ, trong đó chiếm tỷu trọng cao nhất là dầu thô, thủy sản, hàt điều Các mặt hàng nước ta xuất qua Thị trường này lá đa dạng nhưng trị giá xuất thấp, chỉ có dầu thô đạt giá trị xuất cao , còn các mặt hàng khác khá thấp khi
so sánh tương quan với các thị trường khác
Tóm lại, Australia đang được xem là thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng cho các
doanh nghiệp, nhưng với kim ngạch xuất khẩu như hiện nay, chứng tỏ Việt Nam vẫn
chưa tận dụng được tiềm năng của thị trường này và một số mặt hàng vẫn đang còn bỏ ngỏ Đó là do Australia cũng là một thị trường kỹ tính, với những rào cản thương mại khắt khe và sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp đến từ nhiều nước khác nhau cũng như các công ty bản địa;Kênh cung cấp thông tin về thị trường Australia cũng rất hạn hẹp Do đó, nếu như các doanh nghiw65p Việt nam có thể khắc phục những khó khăn này trong tương lai thì đây s ẽ một trong những thị trường xuất khẩu rất lớn của Việt Nam trong tương lai
7 Thị trường Châu Phi:
Thị trường Châu Phi : Đây là một trong những thị trường mới nổi của Việt Nam
với giá trị kim ngạch xuất khẩu khá thấp vào những năm truớc 2007 và chỉ xoay quanh con số giá trị là 600-680 triệu USD Trong đó, kim ngạch đạt 647,5 năm
2005 và đến năm 2007 thì cũng chỉ tăng được 36 triệu USD so với 2005 Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu qua các nước Châu Phi có xu hướng tăng đột biến vào năm
2008 với mức tăng gấp khỏang 2 lần năm 2007, đạt mức 1327,7triệu USD nhưng
so sánh tương quan với các thị trường khác thì giá trị này vẫn còn rất thấp, chỉ chiếm tỷ trọng khỏang 2,1% Xuất khẩu vào Châu Phi vẫn tiếp tục tăng 232,3 triệu
Trang 15USD vào năm 2009 nhưng đến 7 tháng 2010 thì con số này lại trở về mức thấp của những năm trước 2007 do sự phục hồi kém về tình hình kinh tế của những nước ở khu vực này trong giai đọan khủng hỏang Tuy nhiên, nhìn chung, đây là thị trường khá tiềm năng đối với Việt Nam ta và sẽ tiếp tục là xu hướng mới trong tương lai
Về cơ cấu các mặt hàng thì Việt nam ta chủ yếu xuất sang Châu Phi các mặt hàng như gạo, cà phê, sản phẩm dệt may, giày dép các loại, sản phẩm điện tử, hạt tiêu, thuốc
lá, than đá và s ản phẩm chất dẻo Trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là gạo với tỷ trọng trên 30% tổng giá trị các mặt hàng xuất và tong vòng 5 năm tới thì gạo vẫn sẽ là mặt hàng xuất khẩu số một của ta do nhu cầu của Châu Phi về gạo cao trong khi nguồn cung hạn chế Tiếp theo là các mặt hàng như dệt may và cà phê; một số năm gần đây đã xuất khẩu thêm các sản phẩm như điện-điện tử, cơ khí, đồ nhựa, sản phẩm gỗ, xe máy và linh kiện, phụ tùng xe máy nhưng với giá trị không cao Đó là do các mặt hàng xuất khẩu của nước
ta hiện nay đang chịu s ự cạnh tranh quyết liệt từ phía các nước trong khu vực như Thái Lan, Malayxia, Ấn Độ và nhất là Trung Quốc
Tóm lại, Thị trường Châu Phi với dân số lớn, đều là những nước đang hoặc chậm
phát triển có nhu cầu nhập khẩu rất lớn nên sẽ là một trong những thị trường trọng yếu
của nướcta trong tương lai, thay thế cho một số các thị trường bão hòa về nhu cầu cũng như chịu s ự cạnh tranh quá gay gắt Tuy nhiên, để xuất khẩu tốt qua thị trường này thì các doanh nghiệp phải có năng lực tài chính mạnh vì khả năng thanh toán của các đối tác châu Phi kém, thường phải sử dụng hình thức trả chậm
Trang 16PHẦN II : TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM QUA THỊ TRƯỜNG MỸ LA
TINH NÓI CHUNG
I Sơ lược về khu vực Mỹ La tinh:
1 Tổng quan :
Mỹ Latinh là một phần của Châu Mỹ nơi mà các ngôn ngữ thuộc nhóm Rô man
được sử dụng một cách rộng rãi Đây cũng là nơi chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của nền văn hóa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
Với 33 quốc gia, 20,7 triệu km2 diện tích, hơn 581 triệu dân, giàu tài nguyên thiên nhiên, đa dạng về khí hậu và thổ nhưỡng, Mỹ Latinh không chỉ có vị trí địa - chính trị quan trọng trên bản đồ thế giới, mà còn có nhiều tiềm năng to lớn về kinh tế
Tuy chỉ chiếm hơn 8% dân số và 14,7% diện tích thế giới, nhưng Mỹ Latinh nắm giữ nhiều nguồn tài nguyên và khoáng s ản với trữ lượng lớn, kể cả những khoáng sản chiến lược như: tiềm năng thủy điện (35%), bạc (31%), đồng (28%), than đá (27%), dầu lửa (24%)…
Tốc độ tăng trưởng GDP của toàn khu vực đạt mức khá cao trong 5 năm liền từ
2004 đến 2008, bình quân 5,36% nă m; riêng năm 2008, GDP của toàn khu vực tăng
4,2%, đạt 4.267 tỷ USD, gấp 2 lần so với năm 2000 là 2.112 tỷ USD; xuất khẩu đạt 1.014
tỷ USD và nhập khẩu đạt 903,5 tỷ USD Với thành tích đó, Mỹ Latinh đã được LHQ
đánh giá “là một trong hai khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới thời
gian qua”
Trang 17Country GDP
(PPP)
(2010 estimates)
Billions
of USD
GDP per capita (PPP)
(2010 estimates)
USD
Income equality
(2000–
2010) Gini index
Poverty Index
(2009) HPI-1 %
Human Develop.
(2010) HDI
Quality
of life
(2010) Index
Real GDP growth
Trang 18nghèo đói Chỉ số phát triển con người, chỉ số thể hiện chất lượng cuộc sống., tốc độ gia tăng GDP Theo đó ta có thể thấy Argentina, Brazil, Chile, Bolivia, Comlombia , …là những nước phát triển nhất thuộc khu vực này
2 Sơ lược về Kinh Tế - Chính Trị
Một khu vực chỉ nổi tiếng với vỡ nợ, phá sản, phải phá giá tiền tệ và dựa vào trợ giúp của các nước giàu để cứu vớt nền kinh tế, bỗng Mỹ Latinh khiến các nước ở Bắc Bán cầu Tây phải ghen tị với tốc độ tăng trưởng trên 4,5%
Sau 6 năm tăng trưởng liên tục với mức tăng bình quân 5,36% năm, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới diễn ra từ cuối năm 2008, kinh tế các nước khu vực
Mỹ latinh bị tác động tiêu cực, sản xuất đình đốn, việc làm bị cắt giảm, tỷ lệ thất nghiệp cao tới 8,3 %/ năm Lạ m phát giảm từ 8,3 % trong năm 2008 xuống còn 4,5 % trong năm
2009 do giá cả thị trường quốc tế giảm, nhất là đối với các s ản phẩm nguyên vật liệu, hàng hoá thiết yếu và tiêu dùng gia đình Tỷ giá hối đoái một số đồng tiền địa phương tăng cao do tác động của các hoạt động kinh tế bị thu hẹp GDP toàn khu vực Mỹ La tinh chỉ đạt mức tăng trưởng âm 1,8 % trong năm 2009 Quy mô thương mại giả m sút do hoạt động kinh tế toàn cầu thu hẹp kéo theo nhu cầu ở các thị trường lớn như Mỹ- EU Nhật Bản bị giảm sút, giá sản phẩm cơ bản, nguyên nhiên vật liệu rơi giảm Hoạt động thu nhập từ dòng ngoại tệ bị đình đốn, du lịch thưa thớt, nhất là Mexico, Trung Mỹ và Caribe Dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn khu vực bị giảm tới 37% Việc cung ứng cho thị trường vốn vay và tín dụng ở khu vực tư nhân gặp không ít khó khăn, còn tín dụng ngân hàng khu vực Nhà nước gặp không ít xáo trộn, không đáp ứng hết nhu cầu
Từ cuối năm 2008 đến nay, do tác động của khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn
cầu, thiên tai và dịch bệnh, nhất là đại dịch cúm A/H1N1, kinh tế khu vực rơi vào suy thoái, tăng trưởng GDP năm 2009 dự báo sẽ âm 1,9% T rước thực trạng đó, Chính phủ các nước Mỹ Latinh đã áp dụng nhiều biện pháp mạnh mẽ với những gói kích cầu lớn đề khắc phục khó khăn, đưa đất nước từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng Ủy ban kinh tế
Trang 19Mỹ Latinh của Liên hợp quốc dự báo: “Mỹ Latinh s ẽ sớm thoát ra khỏi khủng hoảng và
có khả năng kinh tế khu vực sẽ tăng trưởng mạnh trở lại trong năm 2010 với mức tăng GDP khoảng 3,1%”
Đến nửa cuối năm 2009, kinh tế Mỹ La tinh có dấu hiệu phục hồi dần dần Các
chỉ số sản xuất công nghiệp và xuât khẩu có chiều hướng đi qua điểm đáy Hoạt động kinh tế và thương mại quốc tế đã thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ hàng hoá, nhu yếu phẩm, giá nâng cao dần, quy mô trao đổi thương mại mở rộng Một trong những nguyên nhân giúp kinh tế Mỹ la tinh kháng cự khá tốt với cuộc khủng hoảng, sớm hồi phục kinh tế hơn dự báo trước đây là do :
a) Các nước đầu tầu có quy mô GDP lớn như Brazil (37% GDP Mỹ la Tinh), Achentia, Colombia…đã đúc rút bài học kinh nghiệm từ các cuộc khủng khoảng tài chính quốc tế và khu vực trước đây, có đối sách ứng phó kịp thời
b) Một số chính phủ kịp thời điều chỉnh chính s ách vĩ mô hợp lý đối với các diễn biến của khủng hoảng nhằm ổn định hệ thống tài chính, tiền tệ, phát huy vài trò hệ thống ngân hàng trung ương đáp ứng nhu cầu cốt yếu của thị trường tài chính, hỗ trợ cho khu vực ngân hàng tư nhân vốn còn mỏng yếu nhằm tăng cường khả năng thanh toán, ổn đình tỷ giá hồi đoái
c) Đổi mới việc tiếp cận với nguồn vốn tài chính quôc tế, phục hồi thị trường chứng khoán, củng cố niềm tin các nhà đầu tư và khu vực sản xuất tư nhân
Năm 2010, trong khi Mỹ và châu Âu vẫn chìm trong thâm hụt khổng lồ, thì kinh
tế Mỹ Latinh đã bùng dậy, với sức mạnh đáng kinh ngạc Nhu cầu quặng sắt, nhôm và vàng của châu Á tăng mạnh, cùng chính sách kiể m soát thâm hụt và kiề m chế lạ m pháp ở mức thấp của một số quốc gia Mỹ Latinh, đã khuyến khích hoạt động đầu tư và tạo động lực tăng trưởng cho khu vực này
Trang 20Ngân hàng Thế giới (WB) và Ủy ban Kinh tế Mỹ Latinh & Caribe của Liên hợp quốc (CEPA L) đều đã nâng mức dự báo về tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ Latinh lên tới 4,5% trong năm 2010, gấp hai lần mức dự báo cho kinh tế Mỹ và 4 lần so với khu vực đồng euro, tăng 0,4% s o với con số đưa ra hồi tháng 12 năm ngoái Thâm hụt ngân sách của Mỹ Latinh năm 2010 dự đoán ở mức 2,3% GDP, so với 6,8% của Eurozone và 10,6% của Mỹ; trong khi tổng nợ công của khu vực cũng chỉ bằng một nửa so với châu Âu và
Mỹ
Trong 20 năm qua khu vực này đã có sự chuyển mình một cách toàn diện và sự
thay đổi vai trò kinh tế của Mỹ Latinh không phải là điều ngẫu nhiên Brazil là một minh chứng rõ ràng khi nước này nổi lên là một cường quốc công nghiệp và nông nghiệp, giúp khoảng 30 triệu dân thoát nghèo Brazil cũng đang trên đà đạt tốc độ tăng trưởng 7% trong năm nay Tuy nhiên, không riêng Brazil, đa số các nước Mỹ Latinh như Uruguay, Chile và Panama, Argentina, Boliv ia, Peru cũng đạt được thành tích này ở những mức độ khác nhau Họ có những cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững, đặc biệt là khía cạnh
ổn định chính trị và cải cách tài chính, đối phó tốt với khủng hoảng tài chính toàn cầu.Tăng trưởng của Mỹ Latinh đang thể hiện sự gắn kết với kinh tế châu Á, nơi Trung Quốc và các nền kinh tế khác đang tăng trưởng nhanh
3 Văn Hóa - Xã Hội:
Trong giáo dục, Mỹ Latinh có thể tự hào với thành tích về phổ cập tiểu học, xóa
mù chữ, tỷ lệ tốt nghiệp cấp ba và đỗ đại học ngày càng tăng Tuy nhiên, khu vực này vẫn đứng gần cuối bảng trong các cuộc kiểm tra theo tiêu chuẩn quốc tế
Gần như tất cả các nước Mỹ Latinh và Caribê đang trên con đường thực hiện Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trong cải thiện việc tiếp cận nguồn nước sạch, nhưng hàng triệu người vẫn đang phải chịu cảnh chỉ được dùng nước sạch vài tiếng mỗi ngày và trên 80% nước thải vẫn được xả trực tiếp ra sông hồ không qua xử lý
Mức độ phổ cập điện thoại di động tại khu vực này cũng đã đạt trên 90%, truy
cập internet cũng thuộc diện cao nhất thế giới các nước đang phát triển Nhiều thành phố
Trang 21lớn đã có hệ thống giao thông xe buýt nhanh Tuy nhiên, hệ thống cảng, đường sắt và
đường cao tốc vẫn hạn chế, làm tăng chi phí và cản trở việc xuất khẩu hàng hoá
Hệ thống năng lượng của Mỹ Latinh là một trong những hệ thống sạch nhất thế giới Thủy điện chiếm hơn 60% s ản lượng điện của Mỹ Latinh và đây cũng là khu vực sản xuất nhiên liệu sinh học hàng đầu Trong những năm gần đây, hạn hán nghiêm trọng
đã làm nhiều hồ chứa cạn nước, trong khí đó việc sản xuất nhiên liệu hoá thạch dậm chân tại chỗ, thậm chí còn giảm, ở Mexico và Venezuela
Xu hướng lệ thuộc nhiều vào xuất khẩu nguyên liệu và rủi ro của việc tăng quá nhanh thương mại với Trung Quốc và châu Á là một lo ngại đáng kể Thậm chí, có chuyên gia còn nói rằng, tác động của giá nguyên liệu vào các nền kinh tế Mỹ Latinh còn sâu s ắc hơn là hậu quả của việc kinh tế châu Âu phát triển chậm, euro mất giá, nhu cầu của Trung Quốc giảm và sức mua của thị trường Mỹ hay châu Âu không tăng Tất cả những yếu tố đó đều là những yếu tố rủi ro có thể diễn ra bất cứ thời điểm nào trong khu vực Mỹ Latinh Chẳng hạn, thu nhập từ xuất khẩu đồng của Chile tăng do giá nguyên liệu tăng, đã làm kinh tế nước này tăng trưởng tới 8,2% trong tháng 4/2010 Hay khai khoáng
ở Peru chỉ chiếm 8% hoạt động kinh tế, nhưng lại đóng góp tới một nửa tổng thu thuế
Tờ Financial T imes nhận xét rằng, nếu các nước Mỹ Latinh giải quyết được các vấn đề trên, thì sắp tới có thể sẽ là thập niên của khu vực này
II Đặc điể m thị trường Nam Mỹ nói chung :
Khu vực Mỹ Latinh có 33 quốc gia, GDP của toàn khu vực năm 2009 đạt 4.039,6
tỷ USD, chiếm 7% GDP toàn thế giới Thu nhập GDP bình quân đầu người đạt trên 7 ngàn USD/ năm
Điều kiện tự nhiên đất đai thuận lợi cho phát triển nông nghiệp chăn nuôi Nguồn tài nguyên, khoáng sản quý hiếm chiế m trữ lượng lớn như bạc, đồng, than đá, dầu lửa, niken, bô xít, thiếc, sắt, khí đốt, uranium Các nước Mỹ Latinh đã vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, là một trong những khu vực phát triển năng động nhất thế giới
Trang 22Tăng trưởng GDP của cả khu vực năm 2010 và 2011 lần lượt ước đạt 5,7% và 4%, cao hơn mức tăng chung của cả thế giới Một số nước có quy mô GDP lớn như Braxin đạt 1.571,9 tỷ USD, chiếm 38,8 % GDP toàn Mỹ Latinh; Mexico đạt 874,9 tỷ USD chiếm 21,6%; Veneduela đạt 326,4 tỷ USD, chiếm 8,0%; Argentina đạt 308,7 tỷ USD, chiế m 7,6%
Nền kinh tế Mỹ la tinh có viễn cảnh phát triển khá tốt, sẽ đạt mức tăng trưởng
GDP tới 4,1 % trong năm 2010 và còn ở mức cao hơn vào những năm tiếp theo Tuy nhiên họ phải đối mặt với không ít thách thức để duy trì mức tăng trưởng bền vững như thời kỳ trước khủng hoảng diễn ra Đa phần các nước Nam Mỹ có độ mở kinh tế rộng, quan hệ mật thiết với thị trường thế giới Các nước như Brasil, Chile, Achentina, Mexico Peru, Colombia chiếm tỷ trọng hơn 80% tổng GDP của toàn khu vực đã thực thi các biện pháp mạnh mẽ trong việc kích cầu nội địa Các nước này có thị trường nội địa tiềm năng lớn, coi là động lực chính phát triển kinh tế, đang đa dạng hoá thị trường đầu ra nhất là tăng cường quan hệ kinh tế với Châu Á, nhất là với Trung Quốc, sẽ có mức tăng trưởng kinh tế cao hơn các nước khác còn lại trong khu vực
Tuy nhiên, đa phần các nước khu vực Trung Mỹ và Caribe còn chưa đa dạng hoá cao độ các đối tác thương mại, cơ cấu sản xuất và xuất khẩu hàng còn tập trung nhiều vào các ngành chế tạo, thủ công, sử dụng nhiều lao động, sẽ gặp khó khăn trong bình ổn tài chính và tỷ gía hối đoái, mức tăng trưởng GDP sẽ chậm hơn Một số nước còn thâm hụt thương mại, dự trữ ngoại hối mỏng yếu, nợ nước ngoài tăng cao, các chỉ số y tế giáo dục
và phát triển chon người đang tụt dốc
Mặc dù còn phải đối phó với nhiều thách thức lớn như: nguy cơ bất ổn chính trị
vẫn tồn tại ở một số nước mà vụ đảo chính năm 2002 ở Venezuela và cuộc đảo chính quân s ự gần đây ở Honduras là một ví dụ; tính thiếu bền vững trong phát triển kinh tế vĩ
mô, nợ nước ngoài vẫn đứng ở mức cao (hơn 700 tỷ USD năm 2008), sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn, tình trạng nghèo đói và thất nghiệp (với tỷ lệ tương ứng gần 40% và 9,1%
Trang 23năm 2009), nạn bạo lực và buôn lậu ma túy… Mỹ Latinh tiếp tục là một khu vực phát
triển kinh tế năng động, một thị trường xuất khẩu, đầu tư lớn, hấp dẫn mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể và cần khai thác
III Nhu cầu của thị trường Nam Mỹ:
Trao đổi thương mại hai chiều của khu vực này với thế giới năm 2009 đạt gần 2 ngàn tỷ USD, chiếm 5,4% tổng giá trị thương mại thế giới, trong đó gía trị xuất khẩu đạt 704,1 tỷ USD, chiếm 5,7%, kim ngạch nhập khẩu đạt 695,4 tỷ USD, chiếm 5,4 % Điều
đó cho thấy như cầu nhập khẩu hàng hóa ở khu vực này cũng khá lớn
Điều đáng lưu ý là tuy một số nước Mỹ Latinh đã đạt trình độ khá cao trong lĩnh vực công nghiệp như sản xuất máy bay, khai thác, chế biến dầu khí, khai khoáng, thủy điện, công nghệ sinh học và năng lượng sinh học nhưng thị trường Mỹ Latinh có nhu cầu
nhập khẩu lớn, giá trị nhập khẩu tăng trung bình 17% / năm, chiếm 5,4 % tổng gía trị
nhập khẩu toàn thê giới, giá trị xuất khẩu tăng 18% /năm Các nước Mỹ Latinh có đặc điểm chung lấy mục tiêu phát triển kinh tế, công nghiệp hóa là nhiệm vụ trọng tâm, coi xuất khẩu là động lực phát triển kinh tế Trong chính sách kinh tế đối ngoại, các nước Mỹ Latinh ngày càng hướng mạnh về phương Đông, trong đó có Việt Nam là một trong
những cửa ngõ quan trọng để thâm nhập vào khu vực châu Á Hàng hóa trong điều kiện
sản xuất của Việt Nam hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của
Mỹ Latinh Hiện nay, các thị trường này có nhu cầu nhập khẩu lớn về hàng tiêu dùng như
may mặc, giày dép, mỹ nghệ và có khả năng cung cấp nhiều nguyên vật liệu như gỗ, nguyên phụ liệu dệt may
Nhìn chung, các nước Mỹ Latinh có thế mạnh trên nhiều lĩnh vực như:
Khai thác, chế biến dầu khí (Me xico, Venezuela, Bra zil);
Nhiệt điện, thuỷ điện, phong điện, điện hạt nhân (Brazil, Argentina);
Công nghệ sinh học (Cuba, Brazil);
Khai thác mỏ (Chile, Brazil, Mexico, Peru);
Trang 24 Hàng không (Brazil);
Công nghệ nuôi trồng và chế biến nông - lâ m - hải s ản (Colo mbia, Mexico, Pe ru…);
Du lịch (Bra zil, Me xico, Cuba…)
Thể thao (Brazil, Cuba, Argentina…)
Song song đó, Việt Nam có thể đáp ứng nhu cầu của thị trường các nước
Mỹ Latinh và tăng giá trị xuất khẩu của Việt Nam:
Khu vực về các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xá m cao
Xuất khẩu dịch vụ vận tải biển, cho thuê tàu, thuyền viên, viễn thông quốc tế hoặc nội địa với Cuba;
Dịch vụ cung cấp chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng lúa nước, cây công nghiệp…) với Venezuela, Nicaragua, Bolivia, Ecuador;
Xuất khẩu lao động nông nghiệp phục vụ vành đai s ản xuất rau, củ, quả ở Mexico cung cấp cho thị trường Mỹ;
Đánh bắt cá, sản xuất bột cá và dầu cá, nuôi trồng thủy, hải sản nước ngọt và nước mặn… với Pe ru, Chile, Venezuela, Ecuador…
Thị trường các nước Mỹ Latinh có xu thế rõ nét trong kinh tế đối ngoại là hướng
về châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam Và trên đây là một số ngành nghề lĩnh vực mà Việt Nam có thể đẩy mạnh phát triển để có nâng trị giá xuất khẩu của Việt Nam với khu vực Mỹ La tinh lên một trị số mới cao hơn Tuy nhiên, Việt Nam cũng nên quan tâm những lĩnh vực mà Mỹ la tinh có thế mạnh để từ đó có thể mở rộng quan hệ
giao thương giữa hai nước, tạo bước đệm cho xuất khẩu phát triển
Trang 25IV Một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất sang Nam Mỹ:
1 Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và thị trường
Mỹ La Tinh nói chung:
Phát triển quan hệ với Mỹ Latinh là một bộ phận trong đường lối đối ngoại hiện nay của Đảng và Nhà nước ta Chủ trương này cũng trùng hợp với chính sách của nhiều nước Mỹ Latinh hướng mạnh về Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam Đây
là điều kiện tiên quyết và hết sức thuận lợi cho phép tăng cường mạnh mẽ hơn nữa quan
hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhiều mặt giữa Việt Na m với Mỹ Latinh
Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 27/33 nước ở Mỹ Latinh; lập 7 Đại sứ
quán tại Cuba, Brazil, Argentina, Chile, Mexico, Panama và Venezuela Các nước này cũng đã thiết lập Đại sứ quán tại Hà Nội Ngoài ra, tại TP Hồ Chí Minh có các Tổng lãnh
sự quán của Cuba, Panama và Văn phòng Kinh tế - Thương mại Chile Các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao giữa Việt Na m và nhiều nước Mỹ Latinh như Cuba, Brazil, Argentina, Chile, Me xico, Peru… d iễn ra khá thường xuyên và ngày càng gia tăng
Quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam với Mỹ Latinh trong các năm qua đã
phát triển mạnh, duy trì tốc độ tăng trưởng cao Giai đoạn 2001-2006, kim ngạch thương
mại tăng bình quân khoảng 40%/năm, đến năm 2007 đạt trên 1,5 tỷ USD, năm 2008 đạt khoảng 1,8 tỷ USD Trong đó, các đối tác chính của Việt Nam là Me xico (gần 600
triệu USD), Brazil, Cuba (gần 500 triệu USD mỗi nước) Đặc biệt, Việt Nam có bước đột phá trong quan hệ thương mại với Venezuela với nhiều hợp đồng, dự án hợp tác có giá trị lớn được ký kết và đi vào triển khai trên các lĩnh vực dầu khí, công nghiệp, nông nghiệp
Nhiều lĩnh vực hợp tác kinh tế mới được mở ra, như hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí với Cuba, Venezuela, Brazil, Ecuador, Peru và Argentina, hứa hẹn nhiều triển
Trang 26vọng tốt đẹp Hình thức hợp tác trồng lúa nước, nuôi trồng thuỷ sản, liên doanh sản xuất
đồ điện tử gia dụng đã và đang được trao đổi, triển khai thực hiện với Cuba và
Venezuela Giới doanh nghiệp, đầu tư khu vực ngày càng quan tâm hợp tác với Việt Na m
trên các lĩnh vực năng lượng điện, chế biến lương - thực phẩm, cà phê
Nhiều nhận định cho rằng quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam
và Mỹ Latinh trong thời gian tới s ẽ tiếp tục đà phát triển vừa qua và được nâng lên một
tầm cao mới Song để đạt được điều đó, cần có s ự nỗ lực và hợp tác từ cả hai phía nhằm
cùng nhau tìm ra những phương thức và biện pháp hợp tác thích hợp, có hiệu quả, khắc
phục những hạn chế về khoảng cách địa lý, thiếu thông tin hiểu biết về tiềm lực, tiềm
năng và thị trường của nhau, sự trùng hợp trong cơ cấu của nền kinh tế và hàng hóa xuất
nhập khẩu, từ đó tìm ra những thế mạnh mà hai bên có thể bổ trợ, hợp tác với nhau Trên
đây là nhưng nhận định chung về tình hình xuất khẩu của nước ta sang thị trường Mỹ
Latinh Sau đây là nhưng phân tích, đánh giá tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị
trường Mỹ la tinh nói chung:
2 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ Latinh:
Bra-x in 0.9 9.7 11.1 14.2 8.6 13.9 15.1 12.2 22.6 25.0 32.3 61.9 102.6 183.1
Trang 272.1 Giai đoạn đầu từ 1990 đến 2004
ĐVT: triệu USD
Những năm 1990 quan hệ buôn bán của Việt Nam mới chỉ mở ra với s ố ít nước
Mỹ Latinh Năm 1995 thị trường xuất khẩu còn hạn hẹp chủ yếu với Cuba, Mexico,
Braxin và Arhentia Đến năm 2000, thị trường xuất khẩu đã mở sang 8 nước, đạt kim
ngạch 106,0 triệu USD
Như chúng ta có thể thấy trên bảng số liệu được thống kê từ năm 1995 đến năm
2008 Việt Nam đã chính thức có mối quan hệ giao thương với khu vực Mỹ Latinh từ
những năm 1995 nhưng vẫn còn ở trị giá nhỏ và chỉ trong phạm vi 3 nước chủ yếu là
Brazil, Cuba và Mehico với tổng trị giá xuất khẩu chỉ dao động trong khoảng từ 40 triệu
USD đến 60 triệu USD, chiế m một con số rất nhỏ trong tổng giá trị xuất khẩu của nước
ta Trong đó Cuba là nước Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất tại khu vực này nhưng lại có
nhiều biến động lên xuống nếu như năm 1995 tổng giá trị xuất khẩu là 44.8 triệu USD thì
năm 1996 giả m 18.4 triệu USD và năm 1997 tiếp tục giảm xuống chỉ còn 9.3 triệu USD
Tuy nhiên đến năm 1998 và 1999 lạ i tăng nhẹ Riêng hai thị trường Brazil và Mehico có
xu hướng tăng tương đối ổn định
Trong giai đoạn 2000 tới năm 2004, Việt Nam đã có những bước khởi đầu khả
quan khi mở rộng giao thương ngày càng nhiều nước,đặc biệt là Chile, Colombia,
Argentina, Panama và Peru, đều là những nước có nền kinh tế tăng tưởng tốt tại khu vực
Mỹ latinh và có nhiều tiềm năng trong tương lai Và thật s ự như vậy, trong 5 năm 2000 –
Trang 282004, trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này liên tục tăng khá ổn định Trong 5 năm, tổng giá trị xuất khẩu đã tăng 233.8 triệu USD, một con số đáng khích lệ
Nhìn trên biểu đồ ta có thể thấy mức tăng khá ấn tượng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang các nước của thị trường Mỹ Latinh Điều đó cho thấy nhiều tiềm năng giao thương hơn nữa của khu vực này trong tương lai
Mê hicô
Cu Ba Cô-lôm-b i-a Chi-lê Bra-xin Ác-hen-ti-na
Trang 29năm hơn 30 % Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực năm 2010 ước có thể đạt 1,8 tỷ USD, tăng 40,6 % so với cùng kỳ năm 2009 và tổng kim ngạch hai chiều có thể đạt đạt 3,5 tỷ USD Sự tăng trưởng này được dự báo sẽ tiếp tục trong những năm sắp tới
Bảng tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang một số nước Mỹ La tinh
Năm 2007 so với năm 2006
Năm 2008 so với năm 2007 Tuyệt
đối
Tương đối
Tuyệt đối
Tương đối
Tuyệt đối
Tương đối
Trang 30Biểu đồ.Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang một số thị trường chủ lực khu vực
Mỹ La tinh giai đoạn 2005 - 2008
Nhận xét:
Giai đoạn 2005 – 2008 đánh dấu một sự tăng trưởng mạnh trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ Latinh Nhìn chung, tổng giá trị xuất khẩu liên tục tăng khá ổn định, gần như không có sự suy giảm nào đáng kể ngoại trừ CuBa vào năm 2006, còn lại các nước đều có trị giá nhập khẩu của Việt Na m liên tục tăng
Tổng giá trị xuất khẩu năm 2006 tăng 150.8 triệu USD so với năm 2005, đạt
mức 690,7 triệu USD tương ứng tăng 28% so với năm 2005 Trong đó, phải kể đến sự đóng góp lớn từ hai nước là Cuba với 152.8 triệu USD và Mehico với 255.8 triệu USD Riêng Cuba trong năm nay đã giảm 54.3 triệu USD tương ứng giảm 16 % so với năm
2005 Các nước còn lại đều có mức nhập khẩu từ Việt Nam tăng Cụ thể, Argentina tăng 86% tương ứng 14.2 triệu USD, nâng giá trị nhập khẩu từ Việt Nam năm này lên mức 30,8 triệu USD Brazil cũng với mức đáng mừng là 92 % Chile và Peru tăng xấp sỉ 50 % Riêng Colombia với mức tăng đáng nể là 120% nâng tổng giá trị xuất khẩu sang nước
Ác-hen-Bra-xin Chi-lê
Cô-lôm-bi-a
Cu Ba Mêhicô
Pa-na-ma Pêru
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Trang 31này từ 10.5 triệu USD năm 2005 lên 23.5 triệu USD năm 2006, tương ứng tăng 12.6 Đây
là một điều đáng mừng, đặc biệt là đối với một thị trường còn mới mẻ như Colo mbia
Nhìn chung, ngoài trừ sự suy giảm nhập khẩu từ Cuba thì có thể coi năm 2006 là một năm thành công của Việt Na m tại thị trường mới nổi này
Năm 2007 lại đánh dấu một mức tăng kỉ lục giá trị xuất k hẩu của Việt Nam
tại thị trường này với tổng giá trị năm 2007 lên đến 1008.1 triệu USD, tương ứng tăng 317,4 triệu USD gần 46% so với năm 2006 Cụ thể, chúng ta đón chờ sự trở lại của Cuba với mức tăng cao, vượt mức cả năm 2005, tăng 126, 9 triệu USD tương ứng tăng 83% so với năm 2006, đạt mức 279.9 triệu USD Tiếp theo đó là Brazil với mức tăng 66% tương ứng 40.7 triệu USD so với năm 2006 là 61.9 triệu USD và Panama tăng 40.1 triệu USD tương ứng tăng 51% nâng tổng giá trị nhập khẩu năm 2007 lên 118 triệu USD Tiếp theo
đó là Argentina với mức tăng cũng khá cao là 66 % so với năm 2006 và đạt 49.8 triệu USD Còn lại, Peru và Mehico có mức tăng nhẹ xấp sỉ 30% Riêng Chile gần như không đổi chỉ tăng 0.6 triệu USD khoảng 1% Tóm lại, nă m 2007 lại một lần nữa khẳng định tiềm năng ngày càng lớn mạnh cho xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này khi tổng giá trị xuất khẩu qua các nước liên tục tăng
Năm 2008, tổng giá trị xuất khẩu sang khu vực này lại tiế p tục tăng gần 50 %
so với năm 2007 Với tổng trị giá 1497.9 triệu USD tương ứng tăng 489.8 Triệu so với
năm 2007 Cuba và Brazil tiếp tục là một trong những nước có trị giá tăng cao nhất tại khu vực này với mức tăng gần 75 % Cuba tăng 208.5 triệu USD nâng tổng giá trị năm
2008 là 488.5 triệu USD, một con số khá lớn Brazil từ 102.6 triệu USD năm 2007 đã tăng 80.5 triệu USD tương ứng tăng 78% Trong năm này, đặc biệt chú ý là Peru với mức tăng khá cao lên đến 116% từ 16.5 triệu USD năm 2007 lên mức 35 triệu USD năm
2008 Đây là một dấu hiệu khả quan Các nước còn lại như Argentina, Chile, co mlo mbia, Mehico và Panama vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định Riêng Chile đã cho thấy dấu hiệu tăng trưởng trở lại khi đạt mức 68.9 triệu USD tương ứng tăng 22.2 triệu USD tức 48%
Trang 32Nhìn chung, qua những phân tích và nhận định trên, ta nhận thấy Mỹ la tinh thật
sự là một thị trường đầy tiềm năng cho Việt Na m mở rộng quan hệ giao thương của mình khi tổng giá trị xuất khẩu qua thị trường này liên tục tăng, đó là chúng ta chưa kể đén sự gia nhập của nhiều quốc gia khác tại khu vực này đã bắt đầu chập nhận thị trường Việt Nam Chỉ trong vòng 4 năm, tổng giá trị xuất khẩu tại khu vực này đã liên tục tăng từ 539.9 triệu USD năm 2005 đã lên tới 1497.9 triệu USD năm 2008 tương ứng tăng gấp 3 lần so với năm 2005 Và tất nhiên trong tương lai, Việt Nam vẫn tin một mức tăng cao hơn nữa Chúng ta sẽ cùng làm rõ hơn nữa trong năm 2009 và 2010 sau những phân tích kèm theo sau đây
Năm 2009 có thể coi là một năm không mấy thành công của sản lượng xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới nói chung và tại thị trường Mỹ Latinh nói riêng trước sự sụt giảm sản lượng, giá trị ở một số thị trường chủ lực tại khu vực này Dẫn đến tổng giá trị xuất khẩu sang thị trường này có sự sụt giảm đáng kể Cụ thể:
Thị trường Cuba vốn là một trong hai thị trường có giá trị xuất khẩu cao nhất của nước ta lại có sự sụt giảm đáng kể Nếu như năm 2008 tổng giá trị xuất khẩu của chúng ta tại thị trường này là gần 500 triệu USD thì năm 2009 đã giảm tới gần 50% tương đương giảm 247.774.445 triệu USD s o với năm 2008, khiến tổng giá trị xuất khẩu tại thị trường này chỉ còn khoảng 240 triệu USD
Mehico – thị trường lớn thư hai của Việt Nam tại khu vực Mỹ latinh cũng có sự sụt giảm khá lớn giảm 77.310.303 triệu USD s o với năm 2008 tương đương giảm 18 % khiến tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này chỉ còn 359.089.697 triệu USD
Bên cạnh Cuba và Mehico thì Argentina và Panama cũng chịu cùng cảnh ngộ Tổng trị giá xuất khẩu sang Argentina từ 73.700.000 triệu USD đã giảm xuống 17.764.763 triệu USD tương đương mức giảm 24% so với năm 2008 Panama giảm 18% tương đương 29.194.291 triệu USD chỉ còn 135.305.709 triệu USD nă m 2009
Trang 33Cu Ba Mêhic ô Pa-na-m a Pêru
Cu Ba Mêhicô Pa-na-ma Pêru
Ngược lại với 4 thị trường trên, Brazil và Chile lạ i có sự gia tăng kim ngạch nhập khẩu đối với Việt Nam Tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Brazil đạt 199.851.337 triệu USD, tức có mức tăng nhẹ 9% tương ứng khoảng 16 triệu USD so với năm 2008 Chile là thị trường có mức tăng cao nhất lên tới 60% so vơi năm 2008 tương ứng khoảng 41 triệu USD Tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta s ang thị trường này năm 2009 là khoảng 110 triệu USD
Biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam qua một số nước
Mỹ Latinh
Trang 34Xét về mặt tỷ trọng thì tỷ trọng về giá trị xuất khẩu giữa các nước ít có sự biến
động qua các năm CuBa vẫn là nước có tỷ trọng lớn nhất với 38.36% nă m 2005 và tiếp tục duy trì vị trí này cho đến năm 2008 với 32.61% Tiếp theo đó là Mehico cũng chiếm
tỷ trọng khá cao, đứng thứ 2, năm 2005 Mehico chiếm 35.47 % tổng giá trị xuất khẩu qua khu vực này nhưng cũng như Cuba đến năm 2008 mức tỷ trọng này đã suy giảm chỉ còn 29.13% nhường chỗ cho những thị trường khác tiềm năng hơn
Trong đó, chúng ta phải kể đến là Panama, Colo mbia, Argentina đã có s ự gia tăng
tỷ trọng so với các thị trường khác Nếu như năm 2005 Panama chỉ chiếm 7.85% thì năm
2008 đã tăng lên mức 10.98% Colombia cũng có mức tăng đáng khích lệ năm 2005 là 1.94% tăng lên mức 3.14 % nă m 2008 Argentina từ 3.07% nă m 2005 lên 4.98 % vào năm 2008 Trong đó đáng lưu ý là Brazil với mức tăng đáng kể từ 5.98% năm 2005 tăng lên đến 12.22% năm 2008, tương ứng tăng 7.64% trong 4năm
Riêng đối với thị trường Chile lại có sự sụt giảm về tỷ trọng, năm 2005 Chile chiếm 5.72% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ la tinh nhưng năm
2008 chỉ còn 4.06 % Tuy nhiên mức giảm này cũng không mấy đáng kể
Nhìn chung năm 2009 có thể coi là một năm khá biến động tại thị trường Mỹ La tinh, khác với những dự đoán trước đây Nhìn qua biểu đồ ta cũng có thể thấy rõ mức sụt giảm đáng kể này Tuy nhiên, tình trạng này có thể sẽ được cải thiện trong những năm sắp tới khi mà cuộc khủng hoảng năm 2007 đã dần qua, như nhận định “Mỹ Latinh sẽ sớm thoát ra khỏi khủng hoảng và có khả năng kinh tế khu vực sẽ tăng trưởng mạnh trở lại trong năm 2010 với mức tăng GDP khoảng 3,1%”
Trang 35Bảng tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang một số thị trường chủ lực khu
Biểu đồ tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang một số nước Mỹ La tinh
năm 2009 so với năm 2008
Trang 36Kết quả xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2010:
Bảng: Xuất khẩu Việt Nam sang một số thị trường chủ yếu của Mỹ Latinh, 9 tháng đầu năm 2010 (đơn vị: triệu USD)
Nguồn: Tổng cục Hải quan VN
Xét 9 tháng đầu năm 2010, xuất khẩu sang thị trường Mỹ Latinh đạt 1.365,4
triệu USD, cao hơn tổng kim ngạch xuất khẩu của cả năm 2009 (1.333,1 tr.USD) Ước cả năm 2010, xuất khẩu sang sang Mỹ Latinh đạt 1.820,3 triệu USD Riêng xuất khẩu sang
10 thị trường chủ yếu nói trên đạt hơn 1.655,4 tr.USD chiế m khoảng 91,7% trong tổng giá trị xuất khẩu của ta sang khu vực này
Trong số 10 thị trường chủ yếu nói trên, xuất khẩu của ta giữ được quy mô và tốc
độ tăng trưởng khá là Braxin, Me xico, Cuba, Panama, Ch ilê Ước nă m 2010, thị trường Braxin, Me xico có quy mô kim ngạch xuất khẩu vượt trên mốc 400 triệu USD/ năm, có tốc độ tăng trưởng khá vững chắc, sau đến Cuba và Panama đạt trên dưới 200 triệu USD/năm Gần đây, có nhiều tín hiệu đổi mới về chính sách thương mại đầu tư Cuba Về lâu dài, Cuba vẫn là thị trường xuất khẩu tiềm năng về gạo và hàng nhu yếu phẩm kể cả tiềm năng về đầu tư của Việt Nam Ngoài 10 thị trường xuất khẩu chính nói trên, 23 thị trường khác thuộc Mỹ Latinh nhập khẩu từ Việt Nam, tuy có tăng trưởng nhưng chỉ đạt
Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam ở Mỹ Latinh
9 tháng đầu năm 2010 (triệu USD)
155,4 131,4 59,8 60,4 52,2 46,1
27,1 18,4
112,4
347,4 354,8
0 50 100 150 200 250 300 350 400
Br
in M
Trang 37kim ngạch 112,4 triệu USD trong 9 tháng đầu năm 2010, chiếm 8,3% giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ Latinh Vì vậy, cần nỗ lực vượt bậc trong công tác xúc tiến thương mại (XTTM) sang 23 thị trường còn lại để tạo bước đột trong những năm tới
Một số mặt hạn chế: Kim ngạch xuất khẩu sang khu vực này chỉ chiếm tỷ trọng
2,3 % tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2009 Thị phần xuất khẩu của Việt Nam ở Mỹ Latinh còn nhỏ, chỉ chiếm 0,18 % tổng kim ngạch nhập khẩu của cả Mỹ Latinh từ tất cả các nước (1,3/695,4 tỷ USD) Đặc biệt ở một số nước có tiềm năng lớn và quy mô kinh tế hàng trăm tỷ USD nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu và thị phần của ta còn ít (Colombia, Veneduela, Peru, Panama)
3 Phân tích các nhân tố tác động :
Sau đây chúng tôi chỉ xin phân tích những nhân tố tác động được coi là ảnh hưởng chung tới tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ la tinh nói chung vì ở một số nước chúng tôi sẽ có những phân tích riêng Ngoài ra còn có nhưng nhân tố tác động đã được chúng tôi trình bày ở trên khi giới thiêu về đặc điểm thị trường Mỹ La tinh nói chung, chúng tôi sẽ không lặp lại
3.1 Nguyên nhân khách quan:
Như đã trình bày Mỹ la tinh là một thị trường đầy tiềm năng, một nền kinh tế mới nổi và có tốc độ tăng trưởng nhanh nên nhu cầu về hàng hóa khá lớn
Việc thâm nhập hàng hóa, mở rộng thị trường còn gặp phải sự cạnh tranh gay gắt với hàng hóa đến từ các nước châu Á khác có giá thấp hơn nhưng thu hút thị hiếu và sức mua của đại bộ phận nhân dân lao động có thu nhập chưa cao
Những trở ngại căn bản là khoảng cách xa về địa lý
Các doanh nghiệp hai bên còn thiếu thông tin về nhau và do đó chưa quan tâm đúng mức đến phát triển quan hệ kinh doanh với nhau
Trang 38 Cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến sự sụt giảm ở một số thị trường, đặc biệt
là những nước lớn như Mehico, Cuba do chịu ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng dẫn đến nhu cầu nhập khẩu hàng hóa cũng giảm
3.1.1Đối với thị trường Argentina:
Thuận lợi :
Argentina có thể là một cánh cửa cho hàng Việt Nam vào thị trường Nam
Mỹ, và là một đối tác đầu tư tiềm năng, nếu Việt Na m biết khai thác hợp lý những điểm khác biệt và tương đồng trong cơ cấu kinh tế của hai nước
Với dân số 40,3 triệu người, Argentina có nhu cầu rất đa dạng về các loại hàng hóa, nhất là hàng dệt may, giày dép, hàng điện tử và điện lạnh
Bắt đầu phát triển quan hệ ngoại giao từ năm 1973, Việt Nam và Argentina
đã đạt được nhiều bước phát triển đáng kể trong quan hệ song phương, đặc biệt từ những năm 1990 Hai nước đã đặt đại sứ quán tại lãnh thổ của nhau và ký kết nhiều văn kiện hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ,
sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, nông nghiệp và công nghiệp
Khó khăn :
Nhìn chung, Argentina là một thị trường khá chặt chẽ trong các quy định
về xuất nhập khẩu Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu trao đổi thương mại với Argentina cần phải nắm rõ các quy định xuất nhập khẩu của đất nước này
Ngoài ra, Argentina hiện vẫn chưa dỡ bỏ việc áp dụng các biện pháp phi
thuế quan đối với hàng nhập khẩu như quy định về chứng nhận xuất xứ hàng
hóa phải do lãnh sự Argentina xác nhận mới hợp lệ cũng như việc thu lệ phí từ các xác nhận này gây cản trở cho hàng xuất khẩu của nước ngoài vào Argentina
Trang 393.1.2Đối với thị trường Chi lê:
Thuận lợi:
Hai bên đã hiểu biết và có mối quan hệ ngoại giao từ năm 1973 từ thế Cố Tổng thống Agende
Lãnh đạo hai bên đều quan tâm đến việc phát triển toàn diện kể cả về kinh
tế lẫn ngoại giao Trong đó Việt Nam coi Ch i Lê là mua đối tác chiến lược tại khu vực Nam Mô thể hiện quá việc Chính phủ Việt Nam mời năm Nhà lãnh đạo, trong đó có tổng thống Chi Lê, Bà Michelle Bachelet, ang thăm chính thức Việt Nam trong dịp tổ chức hội nghị APEC tháng 1 1 năm 2006 tại Hà Nội
Các mặt hàng xuất nhập khẩu của mỗi bên có cơ cau rất khác nhau Trong
đó Việt Nam xuất khẩu những mặt hàng tiêu dùng mà Chi Lê không s ản xuất hoặc sản xuất với số lượng ít Chi Lê xuất khẩu qua Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng về nguyên liệu để sản xuất
Phía Chi Lê vốn đã có quan tâm hợp tác với Việt Nam trong một số lĩnh vực:
- Nông nghiệp: trồng, chê biến, xuất khẩu rau quả; chăn nuôi và xuất khẩu thịt gà
- Thuỷ s ản: đánh bất, chế biến, xuất khẩu hải sản; liên doanh sản xuất tàu đánh cá
- Lâ m nghiệp: trồng, bảo quản, phát triển rừng; chế biến và xuất khau lâm sản; sản xuất bột giấy
- Thương mại: nhập hoa quả nhiệt đới, hàng mỹ nghệ, hàng tiêu dùng của Việt Nam Ch i Lê có nhu cầu xuất khẩu máy móc thiết bị của các ngành nông, lâm ngư nghiệp; phân bón; thuốc trừ sâu
Trang 40 Khó khăn
Điều kiện địa lý: khoảng cách giữa hai nước khá xa Mỗi nước ở một nửa bán cầu Hai bên không có tuyến bay thẳng dẫn đến việc đi lại của các doanh nghiệp rất khó khăn Mặt khác, do giá cước vận tải cao, nên hạn chế trong các quan hệ trao đổi xuất nhập khẩu nói chung của các doanh nghiệp
Thông tin: Dân chúng hai nước đều ít biết đến nhau, thiếu thông tin tuyên truyền và cập nhật thường xuyên
Ngôn ngữ trong giao dịch thương mại: Các doanh nghiệp Chức chủ yếu giao dịch bằng tiếng Tây Ban Nha số doanh nghiệp sử dụng tiếng Anh chỉ chiếm khoảng do - 60%, trong khí đó phía Việt Nam lạ i dùng tiếng Anh là chủ yếu, rất ít doanh nghiệp giao dịch bằng tiếng Tây Ban Nha Đây là hạn chế không nhỏ trong vấn đề quan hệ kinh kinh tế thương mại g iữa hai bên
Chính sách và xu hướng đầu tư: Người Chi Lê có vốn để đầu tư nhưng chỉ chú trọng vào các nước lân cận tại Châu Mỹ La tinh và Mỹ, châu Âu Gần đây
do có Hiệp định Thương mại Tự do song phương với Trung Quốc (có hiệu lực ngày 01/01/2006), nên có chút chuyển biến về phía châu Á Tuy vậy, Việt Na m mới được nói đến là một địa chỉ đầu tư đầy tiềm năng nhưng chưa có một dự
án nào đưa vào thực hiện trên thực tế
Phần lớn hàng hoá xuất, nhập còn thông qua công ty của nước thứ ba
Theo đánh giá chung quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Chi Lê chưa phát triển thực sự xứng với tiềm năng và vị trí của hai nước.
3.1.3Đối với thị trường Brazil
Thuận lợi :
Là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhất khu vực Mỹ
La tinh Nên kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ với nhu cầu về hàng hóa khá cao