1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận nghiên cứu và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ việt nam

88 684 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam
Tác giả Nhóm 11 Lớp Ngoại Thương 1 - K33, Phạm Thị Lan Anh, Nguyễn Hoàng Mai Sơn, Trương Đức Tuyền
Người hướng dẫn Th.S. Ngô Thị Hải Xuân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế, Ngoại Thương
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhập khẩu hầu hết các nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu phục vụ cho sản xuất trong nước đều tăng cả về kim ngạch và lượng nhập so với năm trước.. Nhập khẩu máy móc, thiết bị và hầu hết các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA THƯƠNG MẠI- DU LỊCH- MARKETI NG



TIỂU LUẬN KINH TẾ VÀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

THƯƠNG MẠI

Đề tài: Nghiên cứu tình hình sản xuất và xuất khẩu gỗ các sản phẩm

gỗ tại Việt Nam, giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm

gỗ

GVHD: TH.S Ngô Thị Hải Xuân

Nhóm thực hiện: Nhóm 11 Lớp Ngoại Thương 1 - K33

Phạm Thị Lan Anh Nguyễn Hoàng Mai Sơn Trương Đức Tuyền Lời mở đầu

Trang 2

“Rừng vàng, biển bạc”, câu ca dao rất quen thuộc với người dân Việt Nam chúng ta Câu

ca dao đã thể hiện nguồn tài nguyên thiên nhiên “rừng vàng, biển bạc” trù phú của đất nước ta từ ngàn xưa Bên cạnh tinh thần dân tộc hào hùng, bất khuất, “rừng vàng” cũng góp phần giúp quân Việt Nam ta chiến thắng quân ngoại xâm, gìn giữ tròn vẹn đất nước Từ thời Thánh Gióng, cậu bé cưỡi ngựa sắt, giết giặc bằng tre làng, đuổi hết quân xâm lăng bờ cõi Đến thời Pháp thuộc, bằng những cây chông, bằng những quân áo vải, quân dân Việt Nam đã đứng lên đánh đuổi quân Pháp Sau quân Pháp, những bụi tre làng ấy, những thân cây to ấy cành lá xum xuê tay người ôm không xuể đó đã bảo vệ, che chở giúp quân dân ta đánh và chiến thắng quân Mỹ

Và đến ngày hôm nay, khi nước ta bước vào thời đại mới, kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của thế giới phẳng thì rừng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc giao thương, các hoạt động mua bán, xuất và nhập khẩu gỗ với các nước trên thế giới Ngành công nghiệp chế biến gỗ và các sản phẩm gỗ đã trở thành một trong những ngành công nghiệp đóng vai trò then chốt đối với Đất Nước Là những sinh viên chuyên ngành N goại Thương, trường Đại Học Kinh Tế TPHCM , chúng tôi cảm thấy rất vui và vinh dự khi được làm đề tài nghiên cứu về sản phẩm này, đề tài

“Nghiên cứu tình hình sản xuất và xuất khẩu gỗ các sản phẩm gỗ tại Việt Nam, giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ”

Cảm ơn Thạc sĩ Ngô Thị Hải Xuân đã hướng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài này, cảm ơn Hiệp Hội Gỗ và Lâm Sản Việt Nam, Tổng Cục Thống Kê…và các trang web khác đã cho chúng tôi truy cập các dữ liệu để hoàn thiện đề tài này Dưới góc nhìn hạn chế về chuyên môn, bài nghiên cứu chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót, nhóm chúng tôi xin ghi nhận những thiếu sót đó để hoàn thiện mình hơn Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Mục lục

Trang 3

1 Tình hình cán cân XNK trong vòng 5 năm và 9 tháng đầu 2010 6

1.1 Năm 2005 .6

1.2 Năm 2006 .9

1.3 Năm 2007 .11

1.4 Năm 2008 .13

1.5 Năm 2009 .16

1.6 Năm 2010 .20

2 Tình hình sản xuất gỗ và các sản phẩm gỗ tại Việt Nam 24

2.1 Về các nhóm sản phẩm 24

2.2 Nguyên liệu chế biến gỗ và tình hình sản xuất gỗ xuất khẩu tại Việt Nam .27

2.2.1.Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong nước từ năm 2006 đến 9/2010 28

2.2.2 Tình hình nhập khẩu gỗ nguyên liệu tại Việt Nam 35

2.2.2.1 Về chủng loại 35

2.2.2.2 Tình hình thị trường nhập khẩu gỗ nguyên liệu 37

2.2.2.3 Tình hình giá nguyên liệu gỗ nhập khẩu 43

2.2.3.Cơ sở vật chất của ngành chế biến gỗ tại Việt Nam 44

2.2.3.1.Về qui mô 45

2.2.3.2 Về trình độ khoa học kỹ thuật 46

2.2.3.3 Về nguồn nhân lực 46

2.2.3.4 Về chế độ chính sách .47

3 Tình hình xuất khẩu gỗ 48

3.1 Tình hình xuất khẩu gỗ 49

Năm 2008 49

Trang 4

Năm 2009 51

Năm 2010 53

3.2 Tình hình các rào cản thương mại tại các thị trường: 55

3.2.1 Thị trường Hoa Kì ……… 55

3.2.2.Thị trường EU……… 58

3.2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường EU giai đoạn 2000 -2009 58

3.2.2.2 Những quy định của EU đối với sản phẩm gỗ 59

a Các quy định thuế 59

b Các quy định phi thuế 60

c Các văn bản dưới luật quan trọng 60

d Các tiêu chuẩn về chất lượng 60

e Đóng gói có các chức năng 61

3.2.3 Thị trường Nhật Bản 64

3 Phân tích Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ ( S wot) 66

3.1 Điểm mạnh của ngành sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam (Strengths) .66

3.2 Các điểm yếu của ngành sản xuất gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam ( Weaknesses) .68

3.3 Cơ hội cho ngành sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam 71

3.3.1 Ngoài nước: 71

3.3.2 Trong nước .73

3.4 Những thách thức đôí với ngành sản xuất gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam 74

3.4.1 Ngoài nước: .75

3.4.2 Trong nước .77

4 Hệ thống giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 79

Trang 5

4.1 Nhóm giải pháp cho các doanh nghiệp: .79 4.2 Kiến nghị đến Nhà Nước và Chính Phủ: 81 Tài liệu tham khảo……….88

Trang 6

1 Tình hình cán cân XNK trong vòng 5 năm và 9 tháng đầu 2010

Ước tính tháng 12/2005

Cộng dồn cả năm 2005

Năm 2005 so với năm 2004 (%)

Lượng Trị giá Lượng Trị giá Lượng Trị giá Lượng Trị giá

Trang 7

Dây điện và cáp điện 460 60 520 133.7

Trị giá xuất khẩu hàng hoá năm 2005 đạt 32,23 tỷ USD, tăng 5,73 tỷ USD so với năm

2004 Bình quân một tháng năm nay xuất khẩu 2,69 tỷ USD (bình quân 2004 là 2,2 tỷ USD) Trong tổng kim ngạch, xuất khẩu dầu thô đạt 7,39 tỷ USD, tăng 30,3% so với năm trước; xuất khẩu không

kể dầu thô đạt 24,85 tỷ USD, tăng 19,3%, trong đó kinh tế trong nước 13,72 tỷ USD, tăng 14,1%; xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 11,13 tỷ USD, tăng 26,2%

Trong năm 2005, sau dầu thô, kim ngạch dệt may ước đạt 4,81 tỷ USD, giày dép 3 tỷ USD, thuỷ sản khoảng 2,74 tỷ USD, mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ khoảng 1,517 tỷ USD, tăng 33,2% so với năm 2004; điện tử, máy tính và gạo mỗi mặt hàng đạt kim ngạch cỡ 1,4 tỷ USD đến1,5 tỷ USD Xuất khẩu dầu thô tăng thêm chủ yếu do giá xuất khẩu dầu thô bình quân cả năm

đã tăng trên 40%, bù lại lượng xuất khẩu giảm Xuất khẩu gạo tăng mạnh cả giá và lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước châu á Xuất khẩu than đá tăng 85,2% về kim ngạch,

Trang 8

lượng tăng 53,8% M ột số mặt hàng nông sản có lượng xuất khẩu giảm so với năm trước như cà phê, điều và chè, nhưng đều được lợi về giá M ột số mặt hàng công nghiệp giảm mạnh so với năm trước như xe đạp và phụ tùng (-39,2%); dầu, mỡ động thực vật giảm 18,5%, đồ chơi trẻ em giảm 6,6%

Thị trường hàng xuất khẩu của Việt Nam cả năm nhìn chung ổn định và tăng so với cùng

kỳ, nhất là các thị trường lớn và xuất hiện nhiều thị trường mới ở khu vực Châu Phi Thị trường Hoa

kỳ tăng 16,2%, Nhật Bản tăng 26,9%, Ôx-trây-lia tăng 41,9%; Trung Quốc tăng 8,8%; Xin-ga-po tăng 28,5% Riêng một số thị trường lớn thuộc EU giảm như: thị trường Đức và Anh, kim ngạch mỗi thị trường năm 2005 khoảng 1 tỷ USD, nhưng mỗi thị trường đều giảm 1,7% so với năm trước

Trị giá nhập khẩu hàng hoá năm 2005 đạt 36,88 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm

2004, trong đó, khu vực kinh tế trong nước 23,19 tỷ USD, tăng 11,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,5%, do tăng chậm hơn nên tỷ trọng nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước chỉ còn 62,9% (năm trước là 65,3%) và của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 37,1% (năm 2004 tăng 34,7%) Bình quân mỗi tháng năm nay nhập khẩu 3,07 tỷ USD

Nhập khẩu hầu hết các nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu phục vụ cho sản xuất trong nước đều tăng cả về kim ngạch và lượng nhập so với năm trước Nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng cả năm tăng không đáng kể (+0,1%) Nhập khẩu ô tô tăng 19,3%, xe máy tăng 17,9% Kim ngạch nhập khẩu phân bón giảm mạnh, do lượng nhập giảm, kéo theo kim ngạch giảm; bông giảm 14,6% (chủ yếu do giá giảm 20,6%, trong khi lượng tăng 7,6%); dầu mỡ động thực vật giảm 18,5%

Nhập khẩu hàng hoá từ các nước châu Á chiếm tỷ trọng lớn và nhìn chung tăng tương đối cao: Trung Quốc tăng 27,8%; Xin-ga-po tăng 25%, Đài Loan tăng 16,3%; Nhật Bản tăng 14,4%; Hàn Quốc tăng 8,3% và Thái Lan tăng 29,6%

Trị giá xuất nhập khẩu dịch vụ năm 2005 1 ước tính đạt 9,3 tỷ USD, tăng 6%, trong đó xuất

khẩu dịch vụ 4,26 tỷ USD, tăng 7,2%; nhập khẩu dịch vụ 5,04 tỷ USD, tăng 5%

1

S li u t T ng c c th ng kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=3966

Trang 9

Cộng dồn cả năm 2006

Năm 2006 so với năm 2005 (%)

Lượng Trị giá Lượng Trị

giá Lượng Trị giá Lượng Trị giá

Trang 10

Dây điện và cáp điện 631 70 70 1 13 4.0

có kim ngạch từ 1 t ỷ USD trở lên là 9, trong đó 4 mặt hàng lớn truy ền thống là dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản kim ngạch mỗi mặt hàng đạt trên 3,3 tỷ USD Xuất khẩu sản phẩm gỗ tăng

từ 1,517 tỷ USD năm 2005 tăng 21,9% đạt 1,904 tỷ USD vào năm 2006 Xuất khẩu một số mặt

hàng nông sản năm nay tăng mạnh, do phát triển nông nghiệp đúng hướng, đồng thời giá thế giới

2

T ng c c th ng kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=5728

Trang 11

tăng cao, trong đó kim ngạch cao su tăng cao nhất (+58,3%); cà phê tăng tới 49,9% (hoàn toàn

do được lợi về giá); riêng gạo giảm cả kim ngạch và lượng, chủ yếu do nguồn cung không tăng

Nhập khẩu hàng hoá 3 năm 2006 ước tính đạt 44,41 tỷ USD, vượt 4,5% so với kế hoạch năm 2006 và tăng 20,1% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 27,99

tỷ USD, tăng 19,9% và đóng góp 62,6% vào mức tăng chung; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 16,42 tỷ USD, tăng 20,4%, đóng góp 37,4%

Nhập khẩu máy móc, thiết bị và hầu hết các vật tư, nguyên liệu cho sản xuất trong nước đều tăng so với năm trước, đặc biệt là nhiều loại vật tư chủ yếu (trừ xăng dầu, phôi thép và

phân u rê) có lượng nhập khẩu tăng khá Nhập khẩu máy móc, thiết bị tăng 24,1%; xăng dầu 5,8

tỷ USD, tăng 16,4% (nhưn g lượng nhập giảm 3,8%); phân bón tăng 5,1%; chất dẻo tăng 26,8%;

hoá chất 18,6%; giấy các loại tăng 30,5%; vải tăng 23,1%; riêng nguyên phụ liệu dệt, may, da

giảm 14,1%, và đang có xu hướng giảm do tăng sản xuất thay thế ở trong nước; sắt, thép 2,9 tỷ

USD, giảm 0,9%, nhưn g lượng tăng 1,8% nhờ giá giảm

Xuất khẩu dịch vụ năm 2006 ước tính đạt 5,1 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm 2005,

trong đó một số dịch vụ có tỷ trọng cao đạt mức tăng trên 20% như: du lịch, tăng 23,9%; vận tải

hàng không tăng 35,5%; dịch vụ hàng hải tăng 27,5%; dịch vụ tài chính tăng 22,7% Nhập khẩu

dịch vụ năm 2006 ước tính đạt 5,12 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm trước, trong đó du lịch tăng

16,7% và cước phí vận tải, bảo hiểm (cif) chiếm 33,7%, tăng 20,1% Nhập siêu dịch vụ năm

2006 chỉ còn khoảng 22 triệu U SD (năm trước 220 triệu USD)

Trang 12

USD, tăng 11,3% Thị trường xuất khẩu hàng hoá tiếp tục phát triển, hầu hết các thị trường lớn đều tăng so với năm trước Năm 2007 có 10 thị trường đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong đó

Mỹ 10 tỷ USD, tiếp đến là EU 8,7 tỷ USD; ASEAN 8 tỷ USD; Nhật Bản 5,5 tỷ USD và Trung Quốc

3,2 tỷ USD Bên cạnh đó, trong năm 2007 một số thị trường có xu hướng giảm như trây-li-a, I-rắc

Ôx-Giá trị hàng hóa nhập khẩu năm 2007 ước tính đạt 60,8 tỷ USD, tăng 35,5% so với

năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 39,2 tỷ USD, tăng 38,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,6 tỷ USD, tăng 31% Các mặt hàng có giá trị nhập khẩu cao trong năm

2007 là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt gần 10,4 tỷ USD, tăng 56,5%; xăng dầu 7,5 tỷ USD, tăng 25,7%; sắt thép gần 4,9 tỷ USD, tăng 66,2%; vải 4 tỷ USD, tăng 33,6%; điện tử, máy tính và linh kiện 2,9 tỷ USD, tăng 43,7%; chất dẻo 2,5 tỷ USD, tăng 34,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, da 2,2 tỷ USD, tăng 12,1%; hóa chất 1,4 tỷ USD, tăng 39,1%; ô tô 1,4 tỷ USD, tăng 101%; sản phẩm hóa chất gần 1,3 tỷ USD, tăng 27,1%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu 1,1 tỷ USD, tăng 52,6%, gỗ và nguyên phụ liệu gỗ 1 tỷ USD, tăng 31,9%

Nhập siêu năm 2007 ở mức 12,4 tỷ USD, bằng 25,7% giá trị xuất khẩu hàng hóa và

gấp gần 2,5 lần mức nhập siêu của năm trước Giá trị nhập khẩu hàng hóa và nhập siêu của năm

2007 tăng cao là do (1) tăng nhu cầu nhập khẩu để phát triển nền kinh tế Chỉ riêng nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đã chiếm tới 17,1% tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu và đóng góp 23,5% vào mức tăng chung; xăng dầu cũng chiếm 12,3% và đóng góp 9,6%; (2) Giá của nhiều mặt hàng nhập khẩu chủ yếu đều tăng cao như sắt thép tăng 23,1%; phân bón tăng 19,1%; xăng dầu tăng 12,2%; chất dẻo tăng 9,6% Ngoài ra, giá đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới sụt giảm so với một số ngoại tệ mạnh cũng là nhân tố làm gia tăng giá trị nhập khẩu, khi qui đổi

Trang 13

1.4 Năm 2008

Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu tháng 12/2008 ước tính đạt 4,9 tỷ USD, tăng 16,2% so với tháng trước chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác tăng, mức tiêu thụ hàng dệt may mạnh hơn vào tháng cuối năm và lượng gạo xuất khẩu đã tăng trở lại Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so v ới năm 2007, bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 34,9 tỷ USD, tăng 25,7%, đóng góp 49,7% vào mức tăng chung của xuất khẩu; khu vực kinh tế trong nước đạt 28 tỷ USD, tăng 34,7%, đóng góp 50,3% Trong tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm tỷ trọng 31%, nhóm hàng nông sản chiếm 16,3%

Xuất khẩu hàng hoá tháng 12 và năm 2008

Nghìn tấn, triệu USD

Thực hiện tháng 11/2008

Ước tính tháng 12/2008

Cộng dồn

cả năm 2008

Năm 2008 so với năm 2007 (%)

Lượng Trị giá Lượng Trị giá Lượng Trị giá Lượng Trị giá

Trang 14

Kim ngạch xuất khẩu giày dép năm 2008 ước tính đạt 4,7 tỷ USD, tăng 17,6% so v ới năm trước, trong đó hai thị trường EU và Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng trên 74% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép Thủy sản ước tính đạt 4,6 tỷ USD, tăng 21,2% so với năm 2007 Thị trường EU vẫn là thị trường chính nhập khẩu hàng thủy sản của Việt Nam, đạt 1,2 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm 2007; tiếp theo là Nhật Bản đạt 850 triệu USD, tăng 12,8%; Hoa Kỳ 760 triệu USD, tăng 4,3%; Hàn Quốc 310 triệu USD, tăng 12,7% Xuất khẩu gạo năm 2008 ước tính đạt 4,7 triệu

5

T ng c c th ng kê http://www.gso.gov.vn/default.asp x?tabid=621&ItemID=8216

Trang 15

tấn, đạt 2,9 tỷ USD, tuy chỉ tăng 3,6% về lượng nhưng tăng 94,8% về kim ngạch so với năm trước, do có mức tăng kỷ lục về giá xuất khẩu trong năm qua

Năm 2008 có 8 nhóm hàng và mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch trên 2 tỷ USD là: Dầu thô 10,5 tỷ USD; hàng dệt may 9,1 tỷ USD; giày, dép 4,7 tỷ USD; thuỷ sản 4,6 tỷ USD; gạo 2,9

tỷ USD; sản phẩm gỗ 2,8 tỷ USD; điện tử, máy tính 2,7 tỷ USD; cà phê 2 tỷ USD, tăng 2 mặt hàng so với năm 2007 là gạo và cà phê Tuy kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2008 tăng khá cao so với năm 2007 nhưng nếu loại trừ trị giá tái xuất sắt, thép, vàng và yếu tố tăng giá của 8 mặt hàng chủ yếu (dầu thô, than đá, gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, chè) thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu chỉ tăng 13,5%

Trong các thị trường xuất khẩu của Việt Nam năm 2008, Hoa Kỳ là đối tác lớn nhất, ước tính đạt 11,6 tỷ USD, tăng 14,5% so với năm 2007 với 5 mặt hàng chủ yếu (chiếm tỷ trọng 76% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này) gồm: Hàng dệt may, dầu thô, gỗ và sản phẩm gỗ, giày dép, thủy sản Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu sang thị trường ASEAN tuy có giảm trong các tháng cuối năm, nhưng ước tính cả năm vẫn đạt 10,2 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2007 với các mặt hàng chính là: Dầu thô, gạo, thủy sản, máy tính, sản phẩm điện

tử và linh kiện Thị trường EU ước tính đạt 10 tỷ USD, tăng 15% so với năm trước gồm các mặt hàng truyền thống như: Hàng dệt may, giày dép, nông sản, thủy sản Thị trường Nhật Bản ước tính đạt 8,8 tỷ USD, tăng 45% so với năm 2007, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng: Dầu thô, giày dép, thủy sản, máy tính và linh kiện, dây và cáp điện

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 12 năm 2008 ước tính đạt 5,4 tỷ USD, tăng 16,1%

so với tháng trước do một số mặt hàng nhập khẩu tháng này tăng mạnh là: M áy móc thiết bị tăng 272 triệu USD; xăng dầu tăng 78 triệu USD; thức ăn gia súc tăng 53 triệu USD; sắt, thép tăng 182 triệu USD So với tháng 12/2007, kim ngạch nhập khẩu tháng 12 năm nay giảm 25% Tính chung cả năm

2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD, tăng 28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6

tỷ USD, tăng 31,7% Trong tổng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuất chiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2007 tỷ trọng của 03 nhóm hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%) Nếu loại trừ yếu tố tăng giá của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm 2008 chỉ tăng 21,4% so với năm 2007

Trang 16

Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất trong nước đều tăng so với năm 2007 Tuy nhiên, nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm có xu hướng giảm nhiều, đây là một trong những dấu hiệu của sự chững lại trong đầu tư và sản xuất Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng đang có xu hướng tăng vào các tháng cuối năm cho thấy hàng tiêu dùng nước n goài đang tạo sức ép lớn lên hàng tiêu dùng của Việt Nam ngay tại thị trường trong nước Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạt mức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với 50,4 nghìn chiếc (ô tô dưới 12 chỗ ngồi 27,5 nghìn chiếc, tương đươn g 380 triệu USD) Nhập khẩu máy móc thiết bị, phụ tùng khác (trừ ô tô và máy tính, điện tử) ước tính đạt 13,7 tỷ USD, tăng 23,3% so với năm

2007 Nhập khẩu xăng dầu đạt 12,9 triệu tấn, tăng 0,1% so với năm trước, tương ứng với kim ngạch 10,9 tỷ USD, tăng 41,2% Sắt thép đạt 6,6 tỷ USD, tăng 28,5% Vải và nguyên phụ liệu dệt may là những mặt hàng phục vụ chủ yếu cho sản xuất hàng xuất khẩu vẫn đạt kim ngạch cao với 6,8 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2007 Hàng điện tử máy tính và linh kiện đạt 3,7 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm trước, đây là nhóm hàng không chỉ gắn với tiêu dùng trong nước

mà còn liên quan tới gia công, lắp ráp để xuất khẩu

Trong các thị trường nhập khẩu của Việt Nam năm 2008, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu

từ khu vực ASEAN, ước tính 19,5 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm 2007; Trung Quốc 15,4 tỷ USD, tăng 23,2%; thị trường EU 5,2 tỷ USD, tăng 1,7%; Đài Loan 8,4 tỷ USD, tăng 21,8 %; Nhật Bản 8,3 tỷ USD, tăng 37,7%.6

1.5 Năm 2009

Xuất khẩu hàng hoá

Do sức tiêu thụ hàng hoá trên thị trường thế giới thu hẹp, giá cả của nhiều loại hàng hoá giảm mạnh nên kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2009 chỉ đạt gần 41,4 tỷ USD, giảm 14,8%

so với cùng kỳ năm trước Những tháng cuối năm tình hình đã được cải thiện rõ rệt Kim ngạch

6

T ng c c th ng kê http://www.gso.gov.vn/default.asp x?tabid=621&ItemID=8216

Trang 17

xuất khẩu hàng hoá tháng 11 đạt gần 4,7 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước Tháng 12

đạt mức cao nhất trong năm với 5,25 tỷ USD, tăng 12% so với tháng trước và tăng 12,5% so với

tháng 12 năm trước, chủ yếu do hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều tăng, trong đó hàng

dệt may tăng 90 triệu USD, gạo tăng 80 triệu USD; giày dép tăng 77 triệu USD; cà phê tăng 67

triệu USD; dầu thô tăng 33 triệu USD Tính chung quý IV năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất

khẩu tăng 7,1% so với quý IV năm 2008

Trang 18

Nguồn : Tổng cục thống kê Nhờ xuất khẩu quý IV tăng cao nên kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2009 ước tính đạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008, bao gồm: khu vực kinh tế trong nước đạt 26,7

tỷ USD, giảm 5,1%, đóng góp 23,5% mức giảm chung của xuất khẩu hàng hoá cả năm; khu vực

có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 29,9 tỷ USD, giảm 13,5%, đóng góp 76,5% Nếu

không kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm

2,2% so với năm 2008

Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2009 ước tính đạt 9 tỷ USD, giảm 1,3% so với năm trước; dầu thô 6,2 tỷ USD (giảm 2,4% về lượng và giảm tới 40% về kim n gạch), chiếm

tới 68% mức giảm chung của tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm; thủy sản đạt 4,2 tỷ USD, giảm

6,7%; giày dép đạt 4 tỷ USD, giảm 15,8%; gạo đạt 2,7 tỷ USD (tăng 25,4% về lượng và giảm

8% về kim ngạch); gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,6 tỷ USD, giảm 9,9%; cà phê đạt 1,7 tỷ USD (tăng

10,2% về lượng và giảm 19% về kim ngạch); than đá đạt 1,3 tỷ USD (tăng 29,9% về lượng và

Trang 19

1,5 tỷ USD, giảm 55%; Xin-ga-po 1 tỷ USD, giảm 37%; M a-lai-xi-a 780 triệu USD, giảm 8%;

Mỹ 430 triêụ USD, giảm 57%; Trung Quốc 420 triệu USD, giảm 30% Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang các đối tác chính trong năm 2009 đều giảm, trong đó EU đạt 1,1 tỷ USD, giảm 5,7

%; Mỹ 710 triệu USD, giảm 3,9%; Nhật Bản 760 triệu U SD, giảm 8,4% Sản phẩm giày, dép xuất khẩu sang EU năm 2009 ước tính đạt 1,9 tỷ USD, giảm 23,2%; M ỹ 1 tỷ USD, giảm 2%; Nhật Bản 120 triệu USD, giảm 10,5%

Trong năm 2009, 7 thị trường xuất khẩu chính của hàng hoá của nước ta đã chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, gồm: Thị trường Mỹ ước tính đạt 11,2 tỷ USD, giảm 5,5% so với năm 2008; EU 9,3 tỷ USD, giảm 14,4%; A SEAN 8,5 tỷ USD, giảm 16,4%; Nhật Bản 6,2 tỷ USD, giảm 27,7%; Trung Quốc 4,8 tỷ USD, tăng 4,9%; Hàn Quốc 2,5 tỷ USD, tăng 15%; Ôx-trây-li-a 2,2 tỷ USD, giảm 48% (chủ yếu do giá dầu thô giảm) Đáng chú ý là thị trường châu

Phi tuy kim ngạch ước tính mới đạt 1,1 tỷ USD nhưng đã phát triển nhanh, gấp 8 lần năm 2008

Nhập khẩu hàng hoá

Tương tự như xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá 8 tháng đầu năm chỉ đạt gần 41,8 tỷ USD, giảm 29% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, những tháng cuối năm kinh tế thế giới có sự phục hồi nên một số mặt hàng đã tăng giá; mặt khác, kinh tế trong nước đạt tốc độ tăng trưởng khá, nhu cầu hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống cũng tăng lên nên kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tháng 9, tháng 10, tháng 11 và tháng 12 liên tục tăng so với cùng kỳ năm trước với tốc độ tăng lần lượt là: 13,9%, 14,5%, 44,5% và 15,7% Do vậy, tính chung cả năm

2009, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước tính đạt 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 43,9 tỷ USD, giảm 16,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24,9 tỷ USD, giảm 10,8%

Hầu hết kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nguyên, nhiên liệu phục vụ sản xuất của năm nay đều giảm so với năm 2008, trong đó xăng dầu đạt 6,2 tỷ USD, giảm 43,8%; sắt thép đạt 5,3 tỷ USD, giảm 22,9%; vải 4,2 tỷ USD, giảm 5,2%; chất dẻo đạt 2,8 tỷ USD, giảm 4,1%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 1,9 tỷ USD, giảm 17,8%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,7 tỷ USD, giảm 1,4% Tuy nhiên, có một số mặt hàng đã đạt kim ngạch nhập khẩu tăng

so với năm trước như: Điện tử máy tính và linh kiện 3,9 tỷ USD, tăng 5,9%; ô tô 2,9 tỷ USD, tăng 2,5%, trong đó ô tô nguyên chiếc 1,2 tỷ USD, tăng 12,6% về giá trị và tăng 49,4% về lượng

Trang 20

Trong các nhóm hàng nhập khẩu năm 2009, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng chiếm tỷ trọng 29,5% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá; nguyên nhiên vật liệu chiếm 61,3%; hàng tiêu dùng chiếm 8,7%; vàng chiếm 0,5% Về thị trường nhập khẩu hàng hoá, 8 đối tác chủ yếu chiếm hơn 85% tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 gồm: Trung Quốc 16,1 tỷ USD, tăng 2,7% so với năm 2008; ASEAN 13,4 tỷ USD, giảm 31,3%; Nhật Bản 7,3 tỷ USD, giảm 11,3%; Hàn Quốc 6,7 tỷ USD, giảm 5,3%; Đài Loan 6,2 tỷ USD, giảm 25,9%; EU 5,5 tỷ USD, tăng 2,2%; Mỹ 2,8 tỷ USD, tăng 9,1%; Ôx-trây-li-a 1 tỷ USD, giảm 24% Mặc dù kim ngạch nhập khẩu hàng hoá có tốc độ giảm nhanh hơn kim ngạch xuất khẩu nhưng nhập siêu hàng hoá năm 2009 ước tính vẫn ở mức 12,2 tỷ USD, tuy giảm 32,1% so với năm 2008 nhưng đã bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả năm 2009 7

Trang 21

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2010 ước tính đạt 6,1 tỷ USD, giảm 11% so với tháng trước và tăng 32,2% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung chín tháng, kim ngạch hàng

hóa xuất khẩu đạt 51,5 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước (Nếu loại trừ xuất khẩu

vàng và các sản phẩm vàng thì tăng 24,6%), bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 24,2 tỷ

USD, tăng 19,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 27,3 tỷ USD, tăng

26,5%

Trang 22

Nguồn: Tổng cục thống kê Trong chín tháng năm 2010, có 13 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (Dệt may 8 tỷ USD; dầu thô 3,7 tỷ USD; giày dép 3,6 tỷ USD; thủy sản 3,4 tỷ USD; đá quý, kim loại quý và sản phẩm 2,8 tỷ USD; gạo 2,6 tỷ USD; hàng điện tử, máy tính 2,5 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ 2,4 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 2,1 tỷ USD; cao su 1,4 tỷ USD; cà phê 1,3 tỷ USD; than đá 1,2 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng 1,1 tỷ USD) Trong đó kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng chủ lực tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Hàng dệt may đạt kim ngạch lớn nhất với 8 tỷ USD, tăng 20,6%; giày dép đạt 3,6 tỷ USD, tăng 23,1%; thủy sản 3,4

tỷ USD, tăng 13%; gạo 2,6 tỷ USD, tăng 15,2%; hàng điện tử máy tính 2,5 tỷ USD, tăng 28,2%;

gỗ và sản phẩm gỗ 2,4 tỷ USD, tăng 36,4%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 2,1 tỷ USD, tăng 55,2%; cao su 1,4 tỷ USD, tăng 95,6% Tuy nhiên, một số mặt hàng giảm so với cùng kỳ năm trước là: Dầu thô đạt 3,7 tỷ USD, giảm 22,2% (lượng giảm 44,3%); cà phê đạt 1,3 tỷ USD, giảm 1,6%; sắn và sản phẩm của sắn đạt 384 triệu USD, giảm 19,1% (lượng giảm 54,1%) Một số mặt hàng do đơn giá bình quân tăng nên tuy giảm về lượng nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng so với cùng kỳ là: Xăng dầu đạt 862 triệu USD, tăng 22,1% (lượng giảm 10,5%); hạt tiêu đạt 335 triệu USD, tăng 26,8% (lượng giảm 8,5%)

Trang 23

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu chín tháng năm nay có sự thay đổi ở một số nhóm hàng so với cùng kỳ năm trước Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 40,6% chín tháng năm 2009 lên 43% chín tháng năm 2010; nhóm hàng nông, lâm sản giảm từ 16,7% xuống 15,8%; nhóm hàng thủy sản giảm từ 7,3% xuống 6,7%; vàng và các sản phẩm vàng giảm từ 6,4% xuống 5,4%; nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản không biến động nhiều, từ 29% lên 29,1%

Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch tám tháng năm 2010 ước tính đạt 9,1 tỷ USD, tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là EU đạt 6,9

tỷ USD, tăng 12,5%; ASEAN đạt 6,8 tỷ USD, tăng 19,7%; Nhật Bản đạt 4,8 tỷ USD, tăng 24,4%; Trung Quốc đạt 4,1 tỷ USD, tăng 46,8%; Hàn Quốc đạt 1,7 tỷ USD, tăng 31,5%

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 9/2010 ước tính đạt 7,2 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2009 Tính chung chín tháng, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 60 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 34,4 tỷ USD, tăng 11,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 25,7 tỷ USD, tăng 42,4%

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu chín tháng năm 2010 của một số mặt hàng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhữn g mặt hàng chủ yếu phục vụ cho sản xuất vẫn giữ mức tăng cao như: M áy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 9,7 tỷ USD, tăng 11,6%; xăng dầu đạt 4,9

tỷ USD, tăng 4%; sắt thép đạt 4,2 tỷ USD, tăng 11,2%; vải 3,8 tỷ USD, tăng 26%; điện tử máy tính và linh kiện 3,5 tỷ USD, tăng 30,6%; chất dẻo đạt 2,7 tỷ USD, tăng 36% (lượng tăng 8,6%); nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 1,9 tỷ USD, tăng 38,3%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,7 tỷ USD, tăng 19,4% Nhập khẩu ôtô nguyên chiếc đã có xu hướng giảm, đạt 678 triệu USD, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm 2009 (lượng giảm 24,9%)

Trong tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu chín tháng năm nay, cơ cấu các nhóm hàng hóa có sự t hay đổi so với cùng kỳ năm 2009 Nhóm hàng vật p hẩm tiêu dùng giảm từ 9,3% xuống 8,4%; nhóm tư liệu sản xuất tăng từ 90,5% lên 91,1%, trong đó máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải và dụng cụ, phụ tùng giảm từ 30% xuống 29,5%, nguyên nhiên vật liệu tăng từ 60,5% lên 61,5%; nhóm vàng và các sản phẩm vàng tăng từ 0,2% lên 0,6%

Trang 24

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tám tháng năm 2010 từ các thị trường chủ yếu đều tăng

so với cùng kỳ năm 2009, trong đó hàng hóa nhập từ Trung Quốc đạt 12,5 tỷ USD, tăng 29%; từ ASEAN đạt 10,1 tỷ USD, tăng 27,7%; từ Hàn Quốc đạt 5,8 tỷ USD, tăng 40,3%; từ Nhật Bản đạt 5,6 tỷ USD, tăng 23,2%; từ EU đạt 4 tỷ USD, tăng 17,3%; từ Đài Loan 4,5 tỷ USD, tăng 10,4%

Nhập siêu hàng hoá tháng 9 năm 2010 ước tính 1,05 tỷ USD Nhập siêu hàng hóa chín tháng là 8,6 tỷ USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2009 và bằng 16,7% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu, trong đó chủ yếu nhập siêu từ t hị trường Trung Quốc với trên 8,4 tỷ USD Nếu không tính xuất khẩu vàng và sản phẩm của vàng thì nhập siêu chín tháng năm nay là 11,4

tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước và bằng 23,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Nhập siêu hàng hóa năm 2010 ước tính 12,5-13 tỷ USD, bằng 18-19% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.8

2 Tình hình sản xuất gỗ và các sản phẩm gỗ tại Việt Nam

2.1 Về các nhóm sản phẩm

Nhóm thứ nhất: Nhóm sản phẩm mộc trước chế biến: gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ bổ đôi, bổ tư,

mùn cưa, gỗ dăm, gỗ bào , về chủng loại thông,dươn g, sồi, tần bì ,

Nhóm thứ hai: Nhóm sản phẩm mộc mỹ nghệ: tranh gỗ, sơn mài, tượng Phật chạm trổ

và các đồ mỹ nghệ cao cấp,

8

Tổng cục thống kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=10495

Trang 25

Nhóm sản phẩm ba: Nhóm sản phẩm mộc trang trí nội thất : Ván sàn, ván ốp tường,

trần, vách ngăn,…

Nhóm sản phẩm thứ tư: Nhóm sản phẩm mộc ngoài trời: bàn ghế vườn, ghế băng,

hang rào, ghế xích đu…

Nhóm sản phẩm thứ năm : Ván nhân tạo : Ván dán, ván ghép thanh, ván dăm,

Sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam từ chỗ chỉ là sản phẩm thô (gỗ tròn, gỗ xẻ) đã phát triển lên một trình độ gia công cao hơn, áp dụng công nghệ tẩm, sấy, trang trí bề mặt… xuất

Trang 26

khẩu các sản phẩm hoàn chỉnh, sản phẩm có giá trị gia tăng về công nghệ và lao động Đặc biệt ván ghép thanh đã xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới Các mặt hàng về gỗ, ngoài việc sử dụng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, cũng còn xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, son g chất lượng chưa cao

Hiện nay, hàng gỗ chế biến xuất khẩu sang thị trường Mỹ chủ yếu là bàn ghế ngoài trời làm từ gỗ cứng trong khi hàng tới thị trường Nhật Bản và EU chủ yếu là đồ dùng trong nhà làm từ gỗ mềm

Bên cạnh sự phát triển về xuất khẩu gỗ chế biến, nghề gỗ mỹ nghệ Việt Nam cũng đang có sự phát triển mạnh mẽ cả về lượng và chất Cả nước có 342 làng gỗ mỹ nghệ, trong đó

có rất nhiều làng nghề lớn như Văn Hà (Vĩnh Phúc), Đồng Kỵ (Bắc Ninh), Đông Giao (Hải Dương), Đồng M inh (Hải Phòng), La Xuyên (Nam Định) Kim Bồng (Quảng Nam)… Các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp kinh doanh hàng gỗ mỹ nghệ có xu thế tập trung về những thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay ngay tại các làng nghề Các sản phẩm gỗ mỹ nghệ của Việt Nam không chỉ có chất lượng mà còn vô cùng phong phú về mẫu mã phục vụ cho mọi nhu cầu của cuộc sống, từ đồ trang trí nội thất như bàn, ghế, tủ, đèn… đến các loại tượng, đồ trang sức, đồ dùng nhà bếp…, đã được đưa đến hơn 100 quốc gia trên thế giới, tron g đó phải kể đến các thị trường lớn như Nhật, Mỹ, Đài Loan, Hồng Kôn g, các nước Châu Âu đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên 30 triệu USD

Trang 27

Thị trường xuất khẩu của hàng gô Mỹ Nghệ Việt Nam năm 2007

Nguồn: Tổng cục thống kê

2.2 Nguyên liệu chế biến gỗ và tình hình sản xuất gỗ xuất khẩu tại Việt Nam

Nguồn nguyên liệu cho sản phẩm gỗ xuất khẩu của nước ta từ chỗ dựa vào rừng tự nhiên là chính đã chuyển sang dựa vào nguồn gỗ nhập khẩu và gỗ rừng trồng Theo số liệu của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích rừng tự nhiên hiện có của Việt Nam là 9.44 triệu ha, trữ lượng 720.9 triệu m3 gỗ Để bảo vệ môi trường và đảm bảo sự phát triển bền vững, Chính phủ đã giới hạn khai thác gỗ từ những rừng tự nhiên tại địa phương chỉ khoảng 300.000m3 mỗi năm trong giai đoạn 2000- 2010, củ yếu để phục vụ cho nhu cầu xây dựng, sản xuất đồ gỗ trong nước (250.000 m3) và sản xuất hàng mỹ nghệ xuất khẩu (50.000 m3) Bộ Nôn g nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đang triển khai chương trình trồng mới 5 triệu rừng và từ năm 2010 Việt Nam có thêm 2 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất

Nhằm chủ động chuẩn bị nguồn gỗ, bên cạnh việc trồng rừng, Việt Nam cũng đang tích cực phát triển các nhà máy sản xuất ván nhân tạo, đóng một vai trò quan trọng cho ngành chế biến gỗ xuất khẩu: Nhà máy ván sợi MDF Gia Lai công suất 54.000m3 sản phẩm/năm, M DF Sơn La với công suất 15.000 m3 sản phẩm/năm, M DF Bình Thuận với công suất 10.000 m3 sản

Trang 28

phẩm/năm, Nhà máy Ván dăm Thái N guyên với 16.500m3 sản phẩm/năm, Thái Hòa (N ghệ An) 15.000m3 và Hoành Bồ (Quảng Ninh) 3.000m3/năm

2.2.1.Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong nước từ năm 2006 đến 9/2010

Về mặt các nguyên liệu chế biến gỗ

Năm 1976, sản lượng gỗ tròn khai thác và chế biến khoảng 1,6356 triệu m3/năm, đến năm 1986 khoảng 1,462 triệu m3/năm và giảm dần, từ năm 1996 trở đi lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên giảm mạnh chỉ còn trên dưới 300.000 m3/năm, so với trước đây chỉ còn khoảng 20% Từ năm 1990 đến nay, năm 2010, hàng năm chúng ta nhập từ Lào, Campuchia,

M alaysia….một lượng gỗ nhất định để đưa vào chế biến (300.000 – 400.000 m3) Bên cạnh đó,

gỗ rừng trồng hiện nay cũng là nguồn cung cấp tương đối lớn cho ngành chế biến gỗ nói riêng và nhu cầu về sản xuất, đời sống đất nước nói chung Hiện nay chúng ta có 1.049.000 hecta rừng trồng trong đó có 60% đã đến tuổi tỉa thưa, khả năng chỉ có thể lấy ra từ 5 – 7 m3/ha, khối lượng

gỗ này không nhỏ; trong khi đó, khả năng chế biến bình quân hàng năm của ngành chế biến gỗ khoảng 1,5 -1,6 triệu m3 gỗ tròn kể cả gỗ rừng trồng

Trang 29

Bảng tình hình sản xuất lâm nghiệp trong nước từ năm 2006 đến 9/2010

Tình hình sản xuất lâm nghiệp trong nước Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Tháng 9/2010

Diện tích rừng trồng tập trung (nghìn ha) 184 194.7 210.8 212 164

Diện tích khoanh nuôi tái sinh rừng(nghìn ha)

Trang 30

Biểu đồ diện tích rừng tập trung qua các năm từ năm 2006 đến tháng 9/2010

Nguồn: tồng cục thống kê

Biểu đồ diện tích khoanh nuôi tái sinh rừng qua các năm từ năm 2006 đến 9/2010

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trang 31

Biểu đồ diện tích rừn g trồng được chăm sóc qua các năm từ năm 2006 đến 9/2010

Nguồn: Tổng cục thống kê

Nhìn vào bảng số liệu và các biểu đồ, diện tích rừng trồng tập trung cả năm 2007 ước tính đạt 194,7 nghìn ha, tăng 1% so với năm 2006, khoanh nuôi tái sinh 969,3 nghìn ha, tăng 1,2%; diện tích rừng được chăm sóc 487,2 nghìn ha, giảm 4,7% Nhờ đẩy mạnh trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng nên diện tích rừng của cả nước năm 2007 ước tính đạt gần 12,85 triệu ha, tăng

311 nghìn ha so với năm 2006, nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 37,9% năm 2006 lên 38,8% năm 2007 (kế hoạch 39%).9

Diện tích rừng trồng tập trung năm 2008 ước tính đạt 210,8 nghìn ha, tăng 6,6% so với năm 2007; khoanh nuôi tái sinh đạt 944,4 nghìn ha, giảm 0,8%; diện tích rừng được chăm sóc 486,2 nghìn ha, giảm 1,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3562,3 nghìn m3, tăng 2,9% Do công tác kiểm lâm tiếp tục được tăng cường nên hiện tượng cháy rừng, chặt phá rừng năm 2008 đã giảm nhiều so với năm 2007 Tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 3919,7 ha, giảm 39,5%, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1677,3 ha, giảm 67,3%

9

T ng c c th ng kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=9458

Trang 32

Diện tích rừng trồng tập trung năm 2009 ước tính đạt 212 nghìn ha, tăng 5,9% so với năm 2008 M ột số địa phương có diện tích rừng trồng mới tập trung đạt cao là: Hà Giang 17 nghìn ha; Tuyên Quang 14,9 nghìn ha; Yên Bái 13,9 nghìn ha; Thanh Hoá 12 nghìn ha; Nghệ An 9,5 nghìn ha; Quảng Ngãi 8,7 nghìn ha Diện tích khoanh nuôi tái sinh rừng năm 2009 ước tính đạt

1032 nghìn ha, tăng 5,2% so với năm trước; số cây trồng phân tán đạt 180,4 triệu cây, giảm 1,8%; diện tích rừng được chăm sóc 486 nghìn ha, tăng 4,3% Sản lượng gỗ khai thác đạt 3766,7 nghìn

m3, tăng 5,7% Những địa phương có sản lượng gỗ khai thác lớn là: Tuyên Quang 218 nghìn m3; Yên Bái 200 nghìn m3; Quảng N gãi 180 nghìn m3; Quảng Nam 169 nghìn m3; Bình Định 167 nghìn m3; Hoà Bình 135 nghìn m3

Kết quả trồng, chăm sóc rừng và khai thác gỗ, lâm sản đạt khá chủ yếu do đầu tư được tăng cường Ngoài đầu tư lớn từ các chương trình dự án (riêng Dự án 5 triệu ha rừng năm

2009 đã đầu tư 1180 tỷ đồng, tăng 43,9% so với năm 2008), nhiều địa phương còn huy động được vốn đầu tư của các hộ gia đình do việc thực hiện chính sách giao đất, giao rừng b ảo đảm được quyền lợi ổn định lâu dài cho các hộ nhận khoán khoanh nuôi tái sinh rừng

Đến năm 2010, Sản xuất lâm nghiệp tuy gặp một số khó khăn do tình trạng khô hạn đầu năm làm ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng, nhưng nhờ chính sách hỗ trợ kịp thời của Nhà nước đã tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất lâm nghiệp, trong đó có quy định các chủ đầu tư thực hiện

dự án trồng rừng sản xuất được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, trả nợ một lần sau khi khai thác, không tính lãi gộp theo tinh thần Công văn số 416/TTg-KTTH ngày 11 tháng 3 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ; suất đầu tư trồng rừng phòng hộ của Chương trình 661 được Chính phủ điều chỉnh tăng lên 10 triệu đồng/ha, v.v Tính chung chín tháng năm 2010, diện tích rừng t rồng tập trung cả nước ước tính đạt 164 nghìn ha, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 163,2 triệu cây, tăng 0,1%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 778 nghìn

ha, tăng 4,9%; diện tích rừng được chăm sóc 331 nghìn ha, tăng 5,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2740,8 nghìn m3, tăng 6,2% so với năm 2009

Trang 33

Biểu đồ diện tích rừn g bị thiệt hại từ năm 2007 đến 9/2010

Bên cạnh với điều đó thì sản lượng gỗ khai thác ngày càng tăng Cụ thể năm 2006 khai thác 3000 nghìn m3 Đến năm 2008 sản lượng gỗ khai thác đạt 3562,3 nghìn m3, tăng 2,9% Tiếp tục với đà tăng trưởng này, Sản lượng gỗ khai thác năm 2009 đạt 3766,7 nghìn m3, tăng 5,7% Và đến tháng 9 năm 2010, sản lượng gỗ khai thác tăng 6,2% đạt 2740,8 nghìn m3

10

T ng c c th ng kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx ?tabid=621&ItemID=10495

Trang 34

Biểu đồ sản lượng gỗ khai thác từ năm 2006 đến 9/2010

Nguồn: Tổng cục thống kê Hiện tại phần lớn đất rừng (gần 5 triệu ha) là do các lâm trường quốc doanh và chính quyền địa phương quản lý, trong khi khoảng 3,1 triệu ha đã được giao cho hơn một triệu hộ gia đình và cá nhân, nhưng có 20-30% diện tích được sử dụng đúng mục đích, 70% còn lại chưa đem lại hiệu quả như mon g muốn Trong khi đó, nhiều nhà đầu tư lớn muốn đầu tư vào rừng trồng thì lại không có đất trồng rừng Tuy nhiên, đến nay cũng đã xuất hiện một số mô hình hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp và các chủ rừng (hộ dân, nông lâm trường) để trồng rừng sản xuất Có doanh nghiệp chọn hình thức đầu tư tiền, giống, kỹ thuật cho các hộ dân trồng rừng, khi đến kỳ khai thác, hộ dân sẽ hoàn trả cho doanh nghiệp sản lượng gỗ nhất định, phần sản lượng tăng thêm sẽ thuộc về người trồng rừng Theo Bộ Công Thương, do đó hiện này bên cạnh những cải thiện thì nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ xuất khẩu đang thiếu trầm trọng11

Đối với nguồn gỗ trong nước, công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, các dự án phát triển rừng nguyên liệu chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến sản lượng gỗ phục vụ cho chế biến XK không được cải thiện Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020 đặt mục tiêu phát triển 825.000 ha rừng nguyên liệu cho ngành gỗ Việt Nam, trong đó có sự kết hợp giữa

11

C c xúc ti n th ng m i nhng-kho-khn-thach-thc-i-vi-nganh-ch-bin-g-vit-nam.html

Trang 35

http://www.vietrade.gov.vn/g-va-cac-sn-phm-t-g/1117-các loại cây có chu kỳ kinh doanh ngắn 7-10 năm và chu kỳ kinh doanh dài từ 15 năm trở lên Sản lượng dự kiến khai thác để phục vụ ngành gỗ vào năm 2020 sẽ đạt 20 triệu m3/năm (trong đó

có 10 triệu m3 gỗ lớn), mới đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu Theo tính toán của Hiệp hội gỗ, còn phải chờ ít nhất 10 năm nữa mới hy vọng chủ động được một phần nguyên liệu trong nước khi các khu rừng trồng gỗ lớn do các doanh nghiệp phát triển bắt đầu cho khai thác Còn trong tương lai gần, không có cách nào khác là phải tiếp tục nhập khẩu gỗ nguyên liệu

2.2.2 Tình hình nhập khẩu gỗ nguyên liệu tại Việt Nam

2.2.2.1 Về chủng loại

Hàng năm Việt Nam phải nhập 80% gỗ nguyên liệu, chiếm tới 37% giá thành sản phẩm Gỗ nguyên liệu mà nước ta phải nhập chủ yếu là gỗ tròn và gỗ xẻ, ván MDF, HDF thuộc các chủng loại gỗ dươn g, gỗ sồi, tần bì,bạch đàn, thông, căm xe và từ các thị trường chủ yếu là

M alaysia, Trung Quốc, Hoa Kì, Lào, Campuchia , Bên cạnh đó các doanh nghiệp Việt Nam cũng nhập khẩu có một số sản phẩm gỗ đã chế biến, về chạm trổ lại và xuất khẩu sang các thị trường khác, nhưng chủ yếu vẫn là nhập khẩu các mặt hàng gỗ đã cưa, hoặc xẻ dọc, xẻ ngang

Trang 36

Thông qua số liệu dưới đây ta có thể thấy một số chủng loại nguyên liệu gỗ mà nước

ta nhập khẩu:

Thống kê nhập khẩu gỗ nguyên liệu tháng 9 và 9 tháng 2008

(lượng m3: trị giá ngàn USD)

Ván MDF là chủng loại được nước ta nhập khẩu về nhiều nhất, đây là mặt hàng rất

có tiềm năng và đang phát triển theo xu hướng chung của thế giới Trong tháng 9 năm 2008 lượng ván MDF nhập vào nước ta đạt 64 nghìn m3 với trị giá 33 triệu USD, giảm 9,4% về lượng nhưng vẫn tăng và tăng tới 80,3% về trị giá so với tháng 9 năm 2007 Tính tổng lượng ván MDF nhập về cả 9 tháng đạt trên 662 nghìn m3 với trị giá 206 triệu USD, giảm nhẹ 1,7% về lượng nhưng vẫn tăng 17,8% về trị giá so với 9 tháng năm 2008

Đứng thứ hai là gỗ bạch đàn: Trong tháng 9 năm 2008 lượng gỗ bạch đàn nhập vào

nước ta chỉ đạt 16,3 nghìn m3 với trị giá 6,1 triệu USD, giảm mạnh 49,5% về lượng và giảm 17,3% về trị giá so với tháng 9 năm2007 Tổng lượng gỗ bạch đàn nhập khẩu trong 9 tháng đạt trên 285 nghìn m3, với trị giá 69,4 triệu U SD, tăng 6% về lượng nhưn g tăng tới 21,3% về trị giá

so với 9 tháng năm 2007

Trang 37

Gỗ cao su: Trong tháng 9 năm 2008, lượng gỗ cao su nhập khẩu đạt có 22 nghìn m3

với trị giá 10 triệu USD, giảm 26,2% về lượng nhưng vẫn tăng 46,6% về trị giá so với tháng 9 năm 2007 Kim ngạch nhập khẩu cả 9 tháng chủng loại gỗ này vẫn đạt tới 173 nghìn m3, với trị giá 49 triệu USD, giảm 36,4%% về lượng và và giảm 26,2% về trị giá so với 9 tháng năm 2007

Đến tháng 5 năm 2009, nhập khẩu ván MDF tăng mạnh, đạt 10,3 triệu USD, tăng 47% so với tháng 4 và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước 5 tháng đầu năm 2009, kim ngạch nhập khẩu ván MDF đạt 31 triệu USD giảm 35% so với cùng kỳ năm trước Giá nhập khẩu ván MDF trung bình tháng 5 năm 2009 ở mức 207,8 USD/m3, cao hơn so với mức giá nhập trung bình tháng trước 4,1 USD/m3

Khác với 9 tháng năm 2008 kế đến là gỗ hương với kim n gạch đạt trong tháng 5 năm

2009 là 8,5 triệu USD Gỗ hương nguyên liệu được nhập từ thị trường Cămpuchia, Lào, Đài Loan và Mỹ

Tiếp theo là gỗ thông có kim ngạch nhập khẩu trong tháng 5 đạt 6,1 triệu USD tăng

12,9% so với tháng trước, thị trường New Zealand là thị trường cung cấp chính chủng loại này cho Việt Nam trong tháng với kim ngạch đạt 3,0 triệu USD

2.2.2.2 Tình hình thị trường nhập khẩu gỗ nguyên liệu

Để bù đắp sự thiếu hụt về nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên, hàng năm Viêt Nam phải nhập khẩu khoảng 250.000 đến 300.000 m3 gỗ từ các nước lân cận và tăng cường sử dụng gỗ rừng trồng, ván nhân tạo để sản xuất hàng xuất khẩu

Năm 2009, kim n gạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ của Việt Nam tháng

12 đạt 101,7 triệu USD nâng tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ của Việt Nam năm 2009 đạt 904,8 triệu USD, giảm 17,6% so với cùng kỳ năm 2008

Trong đó kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ năm 2009 của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 340 triệu USD, chiếm 37,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cả nước

Trang 38

Bảng số liệu nhập khẩu gỗ từ các quốc gia năm 2009( đvt: triệu USD)

Biểu đồ tỷ trọng nhập khẩu nguyên liệu gỗ từ các nước năm 2009

Nguồn: Tổng cục hải quan

Trang 39

Theo biểu đồ trên, dẫn đầu thị trường về cung cấp gỗ và sản phẩm gỗ cho Việt Nam năm 2009 là M alaysia đạt 128,6 triệu USD, giảm 20,6%, chiếm 14,2%; thứ hai là Trung Quốc đạt 120 triệu USD, giảm 7,3%, chiếm 13,3%; tiếp theo là Hoa Kỳ đạt 103,7 triệu USD, giảm 16%, chiếm 11,5%, sau cùng là Lào đạt 96 triệu USD, giảm 27,6%, chiếm 10,6%

Hơn nữa 90% gỗ nhập khẩu từ Lào và Campuchia thì nguồn này đang cạn kiệt Kể từ năm 2005 đến nay, 2 nước M alaysia và Indonesia đã đóng cửa mặt hàng gỗ xẻ, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm

2009 có tốc độ tăng trưởng mạnh là: Italia đạt 8,2 triệu U SD, tăng 207,5%, chiếm 0,9%; Hàn Quốc đạt 7,2 triệu USD, tăng 164,7%, chiếm 0,8%; Thuỵ Điển đạt 4,7 triệu USD, tăng 65%, chiếm 0,5%; Phần Lan đạt 7,7 triệu USD, tăng 30%, chiếm 0,9% 12

Đến tháng 6 năm 2010, theo số liệu thốn g kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước trong tháng 6 năm 2010 đạt 108,2 triệu USD, giảm 56,57%

so với tháng 5, nâng tổng kim ngạch 6 tháng đầu năm lên 504,8 triệu USD, chiếm 1,3% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, tăng 41,02% so với cùng kỳ năm 2009

12

Công ty ch ng khoán Ngân Hàng BID http://www.bsc.com.vn/News/2010/2/5/81388.asp x

Trang 40

Kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ t hị trường Trung Quốc và Hoa Kỳ từ đầu năm đến 6/2010

Ngày đăng: 16/04/2014, 21:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ đến năm 2010 Lấy thông tin từ Báo Tạp chí báo mới điện tửhttp://www.baomoi.com/Info/Giai-phap-day-manh-xuat-khau-san-pham-go-den-nam-2010/45/3061534.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lấy thông tin từ
2. Hai quý đầu năm 2010, nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chiếm 1,3% kim ngạch, Lấy thông tin từ Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VS D)http://www.stockbiz.vn/News/2010/7/28/130358/2-quy-dau-nam-2010-nhap-khau-go-va-san-pham-go-chiem-1-3-kim-ngach.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lấy thông tin từ" Trung tâm Lưu ký Chứng khoán "Việt Nam
4. Kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2009 giảm 17,6% , Lấy thông tin từ Công ty chứng khoán Ngân Hàng BIDhttp://www.bsc.com.vn/News/2010/2/5/81388.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lấy thông tin từ
7. Nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 9 tháng tăng 30%, Cập nhật từ Website Thị trường tài chínhhttp://thitruongtaichinh.vn/?p=14272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật từ
8. Nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ Mỹ tăng nhẹ, Cập nhật từ Thông tin kinh tế, xúc tiến thương mại Việt Nam http://www.vntrades.com/webcongty/vn/article.php?mid=27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật từ
9. Nhân lực ngành gỗ mới chỉ được đào tạo trong nhà máy , Cập nhật từ Báo điện tử Thời báo kinh tế Việt Namhttp://vneconomy.vn/20090929032915708P0C11/nhan-luc-nganh-go-moi-chi-duoc-dao-tao-trong-nha-may.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật từ
10. Những khó khăn thách thức đôí với ngành chế biến gỗ Việt Nam, Cập nhật từ Cục xúc tiến thương mạihttp://www.vietrade.gov.vn/g-va-cac-sn-phm-t-g/1117-nhng-kho-khn-thach-thc-i-vi-nganh-ch-bin-g-vit-nam.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật từ
11. S áu giải pháp để phát triển ngành chế biến gỗ xuất khẩu, Cập nhật từ Việt Báo Việt Namhttp://vietbao.vn/Kinh-te/6-giai-phap-de-phat-trien-nganh-che-bien-go-xuat-khau/40023383/87/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật từ
11. Tám giải pháp cho ngành chế biến và xuất khẩu gỗ , Cập nhật từ Thời báo kinh tế Việt Namhttp://vneconomy.vn/69161P0C10/tam-giai-phap-cho-nganh-che-bien-va-xuat-khau-go.htm 12. Tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật từ
5. Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam, Cập nhật từ Tổng cục thống kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=10495 Link
3. Hoàng Quang Phòn g, Giải pháp xuất khẩu gỗ cho Việt Nam, Văn phòng Hiệp hội doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.(VCCI) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tình hình sản xuất lâm nghiệp trong nước từ năm 2006 đến 9/2010 - tiểu luận nghiên cứu và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ việt nam
Bảng t ình hình sản xuất lâm nghiệp trong nước từ năm 2006 đến 9/2010 (Trang 29)
Bảng số liệu nhập khẩu gỗ từ các quốc gia năm 2009( đvt: triệu USD)  Quốc gia - tiểu luận nghiên cứu và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ việt nam
Bảng s ố liệu nhập khẩu gỗ từ các quốc gia năm 2009( đvt: triệu USD) Quốc gia (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w