1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dịch vụ bảo hiểm và phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập

117 551 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dịch vụ bảo hiểm và phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập
Tác giả Đỗ Thị Xuân Quỳnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Như Tiến
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sỹ kinh tế
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dịch vụ bảo hiểm và phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

************

ĐỖ THỊ XUÂN QUỲNH

DỊCH VỤ BẢO HIỂM VÀ PHÁT TRIỂN

DỊCH VỤ BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÁP ỨNG NHU

CẦU HỘI NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI – THÁNG 5/ 2006

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

************

ĐỖ THỊ XUÂN QUỲNH

DỊCH VỤ BẢO HIỂM VÀ PHÁT TRIỂN

DỊCH VỤ BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÁP ỨNG

NHU CẦU HỘI NHẬP

Chuyên ngành: KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

Mã số: 60.31.07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS : NGUYỄN NHƯ TIẾN

HÀ NỘI – 2006

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI

Trang 4

Trang DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM VÀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM 3

1.1 Khái quát về bảo hiểm 3

1.1.3 Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế và đời sống xã hội 7 1.2 Khái quát về dịch vụ bảo hiểm 9 1.2.1 Khái niệm về dịch vụ 9 1.2.2 Dịch vụ bảo hiểm 18 1.2.3 Các quan điểm về dịch vụ bảo hiểm 23 1.2.3.1 Quan điểm mở cửa hạn chế dịch vụ bảo hiểm 23 1.2.3.2 Quan điểm mở cửa tự do thị trường bảo hiểm 24 1.3 Những quy định của WTO và một số hiệp định thương mại

1.3.1 Quan niệm của WTO 25 1.3.2 Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ 26 1.3.3 Quan niệm của các nước ASEAN 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRÊN

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM 29

2.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam 29 2.1.1 Thị trường bảo hiểm Việt Nam trước Nghị định 100 C/P 29 2.1.2 Thị trường bảo hiểm Việt Nam sau Nghị định 100 C/P 34 2.2 Các sản phẩm bảo hiểm hiện có trên thị trường bảo hiểm Việt Nam 43 2.2.1 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ 43 2.2.2 Sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ 45 2.3 Môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo hiểm Việt Nam 47

Trang 5

2.3.2 Cỏc văn bản phỏp luật khỏc cú liờn quan 47 2.3.2.1 Hệ thống văn bản điều chỉnh trực tiếp hoạt động kinh

2.3.2.2 Hệ thống văn bản phỏp luật liờn quan điều chỉnh hoạt động

2.4 Những vấn đề rỳt ra qua thực trạng của dịch vụ bảo hiểm Việt Nam 51 2.4.1 Những ưu điểm và hạn chế của dịch vụ bảo hiểm Việt Nam 51 2.4.1.1 Những ưu điểm 51 2.4.1.2 Những nhược điểm 57

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM VIỆT NAM ĐÁP ỨNG NHU CẦU HỘI NHẬP

67 3.1 Yêu cầu hội nhập đối với dịch vụ bảo hiểm 67 3.1.1 Yêu cầu mở cửa 67

3.1.3 Yêu cầu tạo môi tr-ờng bình đẳng, cạnh tranh 69 3.2 Định h-ớng phát triển các dịch vụ bảo hiểm Việt Nam 70 3.2.1 Phát triển thị tr-ờng bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh 71 3.2.2 Đa dạng hoá loại hình và nâng cao chất l-ợng của dịch vụ bảo

hiểm trên thị tr-ờng 72 3.2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 75 3.2.4 Tăng tr-ởng và phát triển dịch vụ bảo hiểm theo h-ớng bền vững 76 3.3 Giải pháp phát triển các dịch vụ bảo hiểm Việt Nam 78 3.3.1 Giải pháp về phía nhà n-ớc 78 3.3.2 Giải pháp hiệp hội 82 3.3.3 Giải pháp doanh nghiệp 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thị trường bảo hiểm Việt Nam sau nghị định 100/CP

B¶ng 2.2: C¬ cÊu thÞ tr-êng b¶o hiÓm theo lo¹i h×nh doanh nghiÖp 39

B¶ng 2.3: Danh s¸ch c¸c DNBH trªn thÞ tr-êng b¶o hiÓm ViÖt Nam 40 B¶ng 2.4: Vèn ®iÒu lÖ cña c¸c doanh nghiÖp b¶o hiÓm ViÖt Nam 60

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần đến nay, nước ta ngày càng hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới Bên cạnh việc tham gia vào tổ chức kinh tế khu vực như ASEAN, APEC, Việt Nam đang gấp rút hoàn tất quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việt Nam đã đang và sẽ đứng trước sức ép rất lớn về vấn đề mở cửa các ngành kinh tế dịch vụ cho các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là khi chính thức được trở thành thành viên của WTO

Lĩnh vực bảo hiểm là một lĩnh vực dịch vụ theo cam kết phải được

mở cửa và Việt Nam đã chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài từ năm 1995 sau khi có Nghị định 100CP, xoá bỏ tình trạng độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm với việc các công ty và tập đoàn bảo hiểm nước ngoài đặt chân vào Việt Nam, cùng với sự ra đời của một số doanh nghiệp bảo hiểm trong nước Bên cạnh đó do nền kinh tế phát triển, nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo hiểm tăng lên, mà dịch vụ bảo hiểm Việt Nam tuy đã được đa dạng hoá

và phát triển song còn chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy cần phải có những giải pháp nhằm phát triển các dịch

vụ bảo hiểm không những đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân mà còn đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Đó cũng chính là lý do tại sao tôi chọn nghiên cứu đề tài này Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam qua đó kiến

Trang 8

nghị một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế theo tôi là hết sức cần thiết về lý luận cũng như thực tiễn.

2 Tình hình nghiên cứu:

Vấn đề mở cửa các ngành kinh tế dịch vụ trong đó có lĩnh vực bảo hiểm đang là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu mà các đối tác trong các cuộc đàm phán song phương và đa phương đặt ra với Việt Nam Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bảo hiểm song chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về hướng phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập, vì vậy đề tài là công trình nghiên cứu hoàn toàn mới của chuyên ngành kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

3 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay cùng với các yêu cầu hội nhập, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam, đáp ứng nhu cầu hội nhập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ bảo hiểm Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Dịch vụ bảo hiểm Việt Nam trước và sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP, nhấn mạnh đến đặc điểm của dịch vụ bảo hiểm Việt Nam những năm gần đây

5 Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát, …để thực hiện mục đích nghiên cứu

6 Kết cấu của luận văn:

Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, phần còn lại được cấu trúc thành 3 chương:

+ Chương I: Khái quát về bảo hiểm và dịch vụ bảo hiểm

Trang 9

+ Chương II: Thực trạng dịch vụ bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm VN + Chương III: Những giải pháp nhằm phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt

Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập

Trang 10

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM VÀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM

1.1 Khái quát về bảo hiểm

1.1.1 Khái niệm

Quá trình tồn tại và phát triển của con người là quá trình đấu tranh, chống chọi với thiên nhiên Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp con người phần nào hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực của thiên nhiên Tuy vậy, các thảm họa thiên nhiên cũng như kỹ thuật đã gây thiệt hại to lớn về người

và của Con người với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật tiến bộ đến đâu cũng không thể lường trước được rủi ro Những rủi ro như vậy chính là căn nguyên của hoạt động bảo hiểm

Theo Dennis Kessler, “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”

Hoặc theo Monique Gaullier, “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”

Tuy nhiên, những định nghĩa này hoặc quá thiên về góc độ kinh tế hoặc quá thiên về góc độ kỹ thuật, ít nhiều có sự khiếm khuyết, chưa hoàn chỉnh

Theo các chuyên gia bảo hiểm, một khái niệm đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng

lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau thành một nhóm tương tác

Trang 11

“Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm

vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba”

Điều này có nghĩa là người tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người bảo hiểm

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được định nghĩa là: “Hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

1.1.2 Đặc điểm

Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biệt trong xã hội bởi chính nguồn gốc ra đời, sản phẩm và ý nghĩa của nó, do vậy ngành bảo hiểm hoạt động theo một số nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm

 Chỉ bảo hiểm rủi ro:

Theo nguyên tắc này, nghĩa là người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm rủi

ro, tai nạn bất ngờ không lường trước được, chứ không nhận bảo hiểm những cái gì chắc chắn sẽ xảy ra

Bảo hiểm được thực hiện chính là nhằm giải quyết những sự cố rủi ro ngoài ý muốn của con người, những rủi ro mà con người không thể khống chế được hoặc chỉ khống chế được phần nào Người khai thác không nhận bảo hiểm hay cấp đơn bảo hiểm khi biết chắc chắn tai nạn hay sự cố sẽ xảy ra, ví

dụ như xe cơ giới không đảm bảo hiểm an toàn kỹ thuật, con tàu không đủ

Trang 12

khả năng đi biển…Hoặc tai nạn đã xảy ra, ví dụ như xe đã bị tai nạn, tàu đã bị đắm, chủ xe hay chủ tàu mới tham gia bảo hiểm để được bồi thường bằng cách mua bảo hiểm ghi lùi lại ngày tháng trước khi tai nạn hoặc người bảo hiểm cấp đơn đúng ngày tháng khi tham gia bảo hiểm nhưng chủ xe/chủ tàu tìm cách để có hồ sơ tai nạn ghi ngày tháng xảy ra sau ngày mua bảo hiểm Trong trường hợp này, người bảo hiểm sau khi biết người được bảo hiểm không khai báo thật, có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hoặc không bồi thường tổn thất xảy ra

 Trung thực tuyệt đối:

Trong giao dịch kinh doanh nói chung cần thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau nghĩa là không được phép có bất kỳ hành vi gian lận hay mưu toan lừa đảo nào Người bán hàng phải trả lời trung thực các câu hỏi của khách hàng đặt ra và giới thiệu, thông báo, quảng cáo đúng như giá trị sử dụng của hàng hoá Trong giao dịch bảo hiểm, chỉ có người chủ (hoặc quản lý, sử dụng) mới biết được tất cả mọi yếu tố của đối tượng bảo hiểm, biết rủi ro mình yêu cầu bảo hiểm, còn người bảo hiểm thường không biết rõ rủi ro mà chỉ dựa vào những thông tin do người yêu cầu bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi

ro và quyết định thái độ của mình đối với rủi ro: nhận hay không nhận bảo hiểm, nhận bảo hiểm theo điều kiện, điều khoản như thế nào và tính tỷ lệ phí bảo hiểm bao nhiêu…Do đó, người yêu cầu bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo mọi yếu tố trên, thậm chí cả những hiểm hoạ, nguy cơ làm tăng thêm rủi ro đối với đối tượng được bảo hiểm Một vấn đề nữa là, người yêu cầu bảo hiểm có nghĩa vụ khai báo sự phát sinh các yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng đến đối tượng được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực hoặc khi tái tục hợp đồng

Trong ký kết hợp đồng bảo hiểm, cả hai bên người được bảo hiểm và

người bảo hiểm đều phải tôn trọng nguyên tắc “trung thực tuyệt đối” (Utmost

Trang 13

good faith) Về phía người được bảo hiểm có nghĩa vụ khai báo trung thực như đã nêu, về phía người bảo hiểm có nghĩa vụ công bố, giải thích tất cả các qui tắc, điều khoản, điều kiện chi tiết của nghiệp vụ bảo hiểm và nội dung cụ thể của hợp đồng bảo hiểm cần ký kết

 Nguyên tắc lợi ích bảo hiểm (Insurable Interest):

Theo nguyên tắc này, người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải

có lợi ích bảo hiểm Lợi ích bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có ở trong đối tượng bảo hiểm

Lợi ích bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với hay phụ thuộc vào, sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Người nào đó có lợi ích bảo hiểm ở trong một đối tượng bảo hiểm nào đó có nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ được đảm bảo hiểm nếu đối tượng bảo hiểm đó an toàn và ngược lại, quyền lợi của người đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm đó gặp rủi ro Hay nói cách khác, người có lợi ích bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm đó gặp rủi ro Người có lợi ích bảo hiểm là người chủ sở hữu về đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản Lợi ích bảo hiểm có ý nghĩa to lớn trong bảo hiểm Có lợi ích bảo hiểm mới được

ký kết hợp đồng bảo hiểm Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải

có lợi ích bảo hiểm rồi mới được bồi thường

Bảo hiểm không có nghĩa là trút mọi trách nhiệm cho người bảo hiểm Nguyên tắc đảm bảo người được bảo hiểm sau khi đã ký hợp đồng bảo hiểm vẫn phải quan tâm, trông nom, bảo vệ đối tượng bảo hiểm

 Nguyên tắc bồi thường (Indemnity):

Theo nguyên tắc này, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo hiểm cho người được bảo hiểm có vị trí tài

Trang 14

chính như trước khi có xảy ra tổn thất, không hơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi

Trong bảo hiểm, số tiền bồi thường mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một số sự cố được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, không được lớn hơn thiệt hại thực tế Người được bảo hiểm cũng không thể được bồi thường nhiều hơn thiệt hại do tổn thất, không được kiếm lời bằng con đường bảo hiểm, tối đa người được bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể nhiều hơn thiệt hại

 Nguyên tắc thế quyền (Subrogation):

Theo nguyên tắc này, người bảo hiểm, sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba

có trách nhiệm bồi thường cho mình Tất cả các khoản tiền nào có thể thu hồi được để giảm bớt thiệt hại đều thuộc thẩm quyền sở hữu của người bảo hiểm

là người đã trả tiền bồi thường tổn thất Khi số tiền phải bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và hết sức có ý nghĩa

Thế quyền có thể được thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất, trong trường hợp này người bảo hiểm được thay mặt người được bảo hiểm để làm việc với các bên liên quan Người được bảo hiểm không có quyền miễn trách người có lỗi, vì nếu người được bảo hiểm chỉ nhận lỗi về mình, nghĩa là người được bảo hiểm tước đi khả năng thực hiện thế quyền của người bảo hiểm Tuy nhiên, người bảo hiểm cũng chỉ được thực hiện thế quyền ở mức độ tương đương với số tiền đã trả hoặc sẽ trả Để thực hiện được nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ cần thiết cho người bảo hiểm

1.1.3 Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế và đời sống xã hội

Bảo hiểm là một ngành kinh tế hết sức nhạy cảm, có thể coi bảo hiểm chính là lá chắn của nền kinh tế quốc dân, chính vì vậy bảo hiểm có một vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế

Trang 15

Trước hết, bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia

trước tổn thất do rủi ro gây nên

Rủi ro dù bắt nguồn từ thiên tai hay tai nạn bất ngờ đều gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống, sản xuất kinh doanh của các cá nhân, doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, chưa kể có lúc gây thiệt hại về người Tổn thất đó sẽ được bảo hiểm trợ cấp hoặc bồi thường về mặt tài chính để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống và sản xuất kinh doanh Từ đó, người bị thiệt hại có thể khôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác một cách bình thường Tác động này phù hợp với mục tiêu kinh tế nên thu hút được số đông người tham gia

Thứ hai, bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất; giúp cho

cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi

cá nhân và doanh nghiệp

Khi đã tham gia bảo hiểm, cơ quan hoặc công ty bảo hiểm sẽ cùng với người tham gia thực hiện các biện pháp để đề phòng và hạn chế tổn thất, rủi

ro đã xảy ra Cơ quan, công ty bảo hiểm đóng góp tài chính một cách tích cực

để thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro như tuyên truyền, hướng dẫn các biện pháp phòng chống tai nạn, mua sắm thêm các dụng cụ phòng cháy chữa cháy, cùng các ngành giao thông làm các biển báo, các đường lánh nạn

Thứ ba, bảo hiểm góp phần tăng tích luỹ và tiết kiệm chi cho Ngân sách

Nhà nước

Với quỹ bảo hiểm do các thành viên tham gia đóng góp, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ khôi phục đời sống, sản xuất kinh doanh Như vậy, Ngân sách Nhà nước không phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên, các doanh nghiệp khi các đối tượng này gặp rủi ro, giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tất nhiên là trừ trong những trường hợp tổn thất mang tính thảm hoạ, có tính chất xã hội rộng lớn

Trang 16

Mặt khác, dịch vụ bảo hiểm nhất là bảo hiểm thương mại có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua việc thực hiện đóng các loại thuế

có liên quan, như vậy là dịch vụ bảo hiểm tăng thu cho ngân sách

Thứ tư, bảo hiểm còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển

kinh tế – xã hội

Dưới hình thức phí bảo hiểm, ngành bảo hiểm đã huy động một số lượng vốn khá lớn từ các đối tượng tham gia Số vốn đó ngoài chi trả, trợ cấp hay bồi thương thiệt hại còn là nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội

Đặc biệt, đối với bảo hiểm nhân thọ, nguồn vốn huy động được tích luỹ trong một thời gian dài mới phải chi trả cho người tham gia bảo hiểm Do đó, các công ty bảo hiểm có thể sử dụng để kinh doanh bất động sản, mua trái phiếu hay là dùng để đầu tư vào hoạt động kinh tế sinh lời Và như vậy làm tăng vòng chu chuyển nguồn vốn, làm cho hệ thống tài chính sôi động hơn

Thứ năm, bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế

giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm

Thị trường bảo hiểm nội địa và thị trường bảo hiểm quốc tế có mối quan

hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển thông qua hình thức phân tán rủi ro và chấp nhận rủi ro – Hình thức tái bảo hiểm giữa các công ty của các nước Như vậy, bảo hiểm vừa góp phần phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước, vừa góp phần ổn định thu chi ngoại tệ cho ngân sách

Thứ sáu, bảo hiểm thu hút một số lượng lao động nhất định của xã hội,

góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời dịch vụ bảo hiểm cũng góp phần giải quyết và ổn định đời sống cho một bộ phận người lao động trong ngành bảo hiểm

Trang 17

1.2 Khái quát về dịch vụ bảo hiểm

1.2.1 Khái quát về dịch vụ

* Khái niệm về dịch vụ

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nền sản xuất và văn minh nhân thọ loại, dịch vụ ngày càng phát triển cả về số lượng, chất lượng và trở thành một bộ phận năng động, một xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại

Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như: vận tải, du lịch, thương mại, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, bảo vệ môi trường, dịch vụ hành chính, dịch vụ tư vấn…

Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thoả mãn một cách kịp thời, thuận tiện và hiệu quả hơn nhu cầu sản xuất và đời sống con người

Ở các nước phát triển, dịch vụ và khái niệm dịch vụ đã tồn tại và phát triển từ lâu và được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Các nhà kinh tế học cũng đã dùng khá nhiều các thuật ngữ để chỉ dịch vụ như “kinh tế mềm”, “công nghiệp siêu hình”,

“kinh tế khu vực III”, …Tuy vậy, nguồn gốc cho sự ra đời của các hoạt động dịch vụ đó chính là nền kinh tế hàng hoá K Mark đã chỉ ra rằng: dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế hàng hoá khi mà kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy thông suốt liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển Bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Mark đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ

Trang 18

Hiện nay ở các nước phát triển tỷ trọng ngành dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân rất cao, chiếm 70- 80% GDP Điều đó cho thấy kinh tế hàng hoá phát triển sẽ kéo theo dịch vụ phát triển như Mark đã chỉ ra, dịch

vụ là một thực thể tất yếu khách quan của sự hợp tác, phân công lao động của tiến bộ khoa học và công nghệ cũng như của đời sống Dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia Cho tới nay tồn tại rất nhiều quan niệm về dịch vụ của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học song có thể hiểu dịch vụ theo hai cách sau:

Theo nghĩa rộng: dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong

nền kinh tế quốc dân Theo cách hiểu này, dịch vụ gồm toàn bộ các ngành, các lĩnh vực tạo ra tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm quốc dân trừ các ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp

Theo nghĩa hẹp: dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh

doanh bao gồm các hỗ trợ trước trong và sau khi bán, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng

Là những đầu vào trung gian, dịch vụ mang lại lợi ích rất lớn cho những ngành khác Dịch vụ tham gia sâu sắc vào trong quá trình sản xuất và thương mại đối với mọi hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế Dịch vụ chiếm tới 10-20% chi phí sản xuất và mọi chi phí thương mại: thông tin liên lạc, vận tải, tài chính và bảo hiểm thương mại và dịch vụ phân phối Giá cả và chất lượng dịch vụ vì thế đóng vai trò quan trọng quyết định chi phí của những mặt hàng khác trong nền kinh tế Dịch vụ có chất lượng kém làm trì hoãn sản xuất

và vận tải không cho phép các hãng tham gia vào mạng lưới kinh tế Tác động của chất lượng dịch vụ không chỉ là lợi ích thu được một lần mà có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của quốc gia Dịch vụ giá cao và chất lượng kém không chỉ tác động đến hoạt động sản xuất hiện thời của các hãng mà còn không khuyến khích các hãng trong và ngoài nước đầu tư trong tương lai so

Trang 19

khả năng sinh lời của đầu tư giảm sút Không những thế, chất lượng dịch vụ kém còn dẫn đến hệ quả giảm tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế

Cùng với sự phát triển của sản xuất, khoa học kỹ thuật, công nghệ thì cũng xuất hiện ngày càng nhiều hoạt động kinh doanh mới, các dịch vụ mới

* Phân loại dịch vụ

- Căn cứ vào lĩnh vực dịch vụ

+ Dịch vụ có tính chất sản xuất (dịch vụ vật chất) bao gồm các dịch vụ cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất, và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) và các loại dịch vụ vật chất khác như sửa chữa, ăn uống, thông tin…

+ Dịch vụ không có tính chất sản xuất, bao gồm các dịch vụ về tư vấn, đào tạo, y tế, thể dục thể thao, giải trí, luật sư,…

- Căn cứ vào đối tượng dịch vụ

+ Dịch vụ có tính chất xã hội (dịch vụ công), là loại dịch vụ đáp ứng đời sống cộng đồng Nguồn đầu tư chủ yếu cho loại dịch vụ này là phúc lợi

xã hội Chủ thể thực hiện dịch vụ công là do công quyền hoặc do chính quyền uỷ nhiệm thực hiện

+ Dịch vụ có tính chất cá nhân, bao gồm các dịch vụ phục vụ cho đời sống vật chất, văn hoá, thẩm mỹ,…của con người

- Căn cứ trên giác độ tài chính

+ Dịch vụ phải trả tiền

+ Dịch vụ không phải trả tiền: Do nhà nước chi trả thông qua quỹ phúc lợi xã hội

* Đặc điểm cơ bản của dịch vụ

Sản phẩm dịch vụ có những đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể phân biệt với các sản phẩm vật chất

Trang 20

Thứ nhất, sản phẩm dịch vụ là sản phẩm vô hình, không hiện hữu,

sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể Sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để phục vụ thì không thể xác định một cách cụ thể bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật Cái mà khách hàng cảm nhận được từ sản phẩm dịch

vụ vụ lại chính là các phương tiện chuyển giao dịch vụ tới khách hàng Do vậy mà thái độ bên ngoài của các nhân viên tiếp xúc, của yếu tố bên ngoài

là rất quan trọng Nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ

Thứ hai, sản phẩm dịch vụ có tính không tách rời Hay nói cách khác

là việc cung ứng sản phẩm và việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời Một sản phẩm dịch vụ được tạo ra cũng chính là lúc nó được tiêu dùng Sản phẩm dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó, cho dù là do con người hay máy móc tạo ra dịch vụ Từ đó đòi hỏi phải quan tâm bố trí sản xuất hợp lý như việc đặt các địa điểm làm dịch vụ, mạng lưới dịch vụ lưu động

Thứ ba, sản phẩm dịch vụ không có dự trữ Đây chính là hệ quả của đặc

điểm không tách rời Do sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc nên sản phẩm dịch vụ không có dự trữ, không thể cất trữ trong kho để làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu thị trường trường như các sản phẩm vật chất khác Từ đó cần phải có kế hoạch dự trữ các phương tiện làm dịch vụ Trong thực tế, có những nhu cầu đối với nhiều loại dịch vụ rõ rệt, nếu không có kế hoạch dữ trữ các phương tiện, hàng hoá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của khách hàng và sẽ mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp

Tuy trong nhiều trường hợp, hoạt động dịch vụ sau khi đã thực hiện thì các yếu tố cấu thành sản phẩm dịch vụ không mất đi mà vẫn còn nguyên ven Nghĩa là quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ được lặp đi lặp lại nhiều lần như một bản nhạc, một lượng thông tin tư vấn pháp luật… Nhưng yếu tố cấu thành trên không phải là sản phẩm dự trữ của dịch vụ Nó chỉ là tiềm năng tạo

Trang 21

nên dịch vụ, còn bản thân dịch vụ không có sản phẩm lưu kho Người cung cấp và các cơ sở cung cấp dịch vụ cần có kế hoạch giữ gìn, tôn tạo, nâng cao chất lượng các yếu tố này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu khách hàng

Thứ tư, chất lượng dịch vụ là rất khó đánh giá, vì nó chịu nhiều yếu tố

tác động như người bán, người mua và thời điểm mua bán dịch vụ Trước hết

đó là sự tiếp xúc tương tác qua lại giữa người làm dịch vụ và người được phục

vụ, không loại trừ các phương tiện của hoạt động dịch vụ, những điều kiện và sản phẩm theo và dịch vụ bổ sung khác Song yếu tố tác động mạnh đến chất lượng dịch vụ là quan hệ tiếp xúc, sự đáp ứng kịp thời những nhu cầu, yêu cầu và lòng mong muốn của khách hàng đối với những dịch vụ Bên cạnh đó, bản thân chất lượng dịch vụ có tính ổn định không cao Thêm vào đó, sự chuyển dịch vụ nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ là chậm chạp và khó khăn do thói quen về tâm lý và tín nhiệm của khách hàng đối với một loại dịch vụ, một đối tượng cung ứng dịch vụ

Đặc điểm này đòi hỏi ngành dịch vụ phải quan tâm đầu tư hiện đại hoá

cơ sở hạ tầng và hiện đại hoá các phương tiện là dịch vụ cũng như quan tâm đào tạo nâng cao trình độ, rèn luyện ý thức, thái độ, tác phong của người làm dịch vụ và biết tôn trọng chữ tín trong hoạt động dịch vụ Mặt khác cần xoá

bỏ tình trạng độc quyền trong kinh doanh dịch vụ tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các thành phần kinh tế cạnh tranh trong hoạt động dịch vụ

* Khái niệm về dịch vụ của WTO và Hiệp định thương mại Việt - Mỹ:

+ Quan niệm của WTO

Theo James Hodge trình bày trong cuốn “Sổ tay về Phát triển

thương mại và WTO” thì

Thuật ngữ “dịch vụ” hàm chứa rất nhiều ngành đóng vai trò quan trọng trong giá trị sản lượng tuyệt đối và tạo công ăn việc làm ở hầu hết các nước Nó

Trang 22

bao gồm cả “dịch vụ trung gian” (thông tin, vận tải, trung gian tài chính, điện và khí ga, phân phối, xây dựng và dịch vụ thương mại) và “dịch vụ tiêu dùng cuối cùng” (du lịch và đi lại, giải trí, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ về môi trường) Khu vực dịch vụ mới chỉ được đưa vào chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán thương mại đa phương trong thời gian gần đây và được khởi động từ Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) đạt được ở Vòng đàm phán Uruguay Dịch vụ cũng đã được đề cập nhiều hơn ở hàng loạt các hiệp định khu vực như ở Liên minh châu Âu (EU), Hiệp định Thương mại Tự

do Bắc Mỹ (NAFTA) và Thị trường chung các nước Nam bán cầu (MERCOSUR) Lý do cho mối quan tâm này là khối lượng dịch vụ thương mại tăng lên nhanh chóng do sự phát triển của công nghệ thông tin liên lạc, và khả năng tiếp cận thị trường dễ dàng hơn rất nhiều bắt nguồn từ sự bãi bỏ bớt các quy định liên quan đến các ngành phục vụ công cộng Trong thập kỷ vừa qua, tốc độ tăng trưởng của thương mại dịch vụ đã vượt xa tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hoá công nghiệp Hiện nay dịch vụ đã chiếm 1/4 tổng kim ngạch thương mại giữa các quốc gia và hơn một nửa khối lượng giao dịch của các chi nhánh công ty đa quốc gia trên (Hoekman và Mattoo 2000)

Thương mại dịch vụ giữa các nước: giao dịch hiện vật và điện tử giữa

các nước, ví dụ thông qua vận chuyển bằng đường biển hay hàng không và giao dịch tài chính (phương thức 1)

Hiệp định chung về Thương mại trong lĩnh vực Dịch vụ (GATS) áp dụng cho bốn phương thức trao đổi dịch vụ:

- Phương thức 1 (Thương mại dịch vụ giữa các nước): cung ứng qua biên

giới nhưng không đòi hỏi sự di chuyển về mặt địa lý của người cung ứng hoặc sử dụng

- Phương thức 2 (Tiêu dùng ở nước ngoài): người sử dụng di chuyển

sang nước của người cung ứng

Trang 23

- Phương thức 3 (Hiện diện thương mại): các dịch vụ được các đơn vị

nước ngoài đã thiết lập sự hiện diện thương mại tại một nước thành viên bán trong lãnh thổ của nước đó

- Phương thức 4 (Hiện diện của thể nhân): việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi

sự di chuyển tạm thời của con người

Theo điều XXVIII Định nghĩa của Hiệp định về thương mại dịch

(i) Việc mua, thanh toán hay sử dụng một dịch vụ;

(ii) Sự tiếp cận hay sử dụng các dịch vụ gắn liền với việc cung cấp

dịch vụ, các dịch vụ được các thành việc đó yêu cầu phải đưa ra phục vụ công chúng một cách phổ biến;

(iii) Sự hiện diện, bao gồm cả hiện diện thương mại, của những người

thuộc một Thành viên để cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của một thành viên khác;

Khoản (e), “Lĩnh vực” dịch vụ là:

(i) Một hoặc nhiều hoặc tất cả hoặc tiểu lĩnh vực của lĩnh vực

dịch vụ đó, khi nói đến một cam kết cụ thể được liệt kê tại Danh mục cam kết của một thành viên;

(ii) Toàn bộ lĩnh vực dịch vụ đó, kể cả tất cả các tiểu lĩnh vực,

trong những trường hợp khác

Khoản (f), “dịch vụ của một Thành viên khác” là dịch vụ được cung cấp:

Trang 24

(i) Từ hoặc trên lãnh thổ của một Thành viên khác, hoặc trong

trường hợp dịch vụ vận tải biển, do một con tàu được đăng ký theo luật pháp của Thành viên khác đó, hoặc do một người thuộc Thành viên đó cung cấp dịch vụ thông qua hoạt động của một con tàu và / hoặc sử dụng toàn bộ hay một phần con tàu đó; hoặc (ii) Của một người cung cấp dịch vụ thuộc thành viên khác, trong

trường hợp việc cung cấp dịch vụ đó thông qua sự hiện diện thương mại hoặc sự hiện diện thể nhân thọ;

Khoản (g), “người cung cấp dịch vụ ”là bất kỳ người nào thực hiện cung cấp một dịch vụ’

Khoản (i), “người tiêu dùng dịch vụ” là bất kỳ người nào nhận hoặc sử dụng một dịch vụ;

Theo Phụ lục 1B về thương mại dịch vụ của WTO thì “dịch vụ” bao

gồm bất kỳ dịch vụ nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, ngoại trừ dịch vụ được cung cấp trong thi hành thẩm quyền của chính phủ

“Thương mại dịch vụ” được định nghĩa là sự cung cấp dịch vụ:

(a) Từ lãnh thổ của một Thành viên đến lãnh thổ của bất kỳ một Thành viên nào khác ;

(b) Trên lãnh thổ của một Thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của bất

kỳ thành viên nào khác;

(c) Bởi một người cung cấp dịch vụ của một Thành viên, thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác; (d) Bởi một người cung cấp dịch vụ của một Thành viên thông qua sự hiện diện thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳ Thành viên nào khác;

+ Hiệp định thương mại Việt Mỹ

Trang 25

Hiệp định song phương Việt Nam- Hoa Kỳ đã viện dẫn và quy định về thương mại dịch vụ theo những quy định của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).

* Khái niệm về dịch vụ theo quan điểm Việt Nam:

- Theo Luật thương mại của Việt Nam năm 2005

Luật thương mại Việt Nam 2005 không đưa ra khái niệm dịch vụ mà đưa

ra khái niệm cung ứng dịch vụ Cụ thể:

“Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi

là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận được thanh toán, bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thoả thuận ”

Như vậy theo luật thương mại thì mọi hoạt động cung ứng dịch vụ đều được trả công ty hoặc phí dịch vụ, nếu không có sự thanh toán đó thì không được gọi là dịch vụ Luật thương mại 2005 cũng qui định các loại dịch vụ mà thương nhân được phép cung ứng và các loại dịch vụ mà thương nhân được phép sử dụng những dịch vụ sau:

a) dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam; b) dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam;

c) dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài; d) dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài;

- Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì

Dịch vụ (kinh tế) là những hành động phục vụ nhằm thỏa mãn những

nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt Tùy trường hợp, dịch vụ bao gồm: một công việc ít nhiều chuyên môn hóa, việc sử dụng hẳn hay tạm thời một

Trang 26

tài sản, việc sử dụng phối hợp với một tài sản lâu bền và sản phẩm của một công việc cho vay vốn Do nhu cầu rất đa dạng, tùy theo sự phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ: dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng; dịch vụ cá nhân dưới hình thức những dịch vụ gia đình; những dịch vụ tinh thần dựa trên những nghiệp vụ đòi hỏi những tài năng đặc biệt (hoạt động nghiên cứu, môi giới, quảng cáo); những dịch vụ liên quan đến đời sống sinh hoạt công cộng (sức khỏe, giáo dục, giải trí) Những dịch vụ về chỗ ở, v.v Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tác động lẫn nhau chặt chẽ; dịch vụ là một điều kiện để phát triển sản xuất, kinh doanh Dịch vụ pháp lí, tài chính, tiền tệ, vận tải, thông tin liên lạc có vai trò rất quan trọng Du lịch là lĩnh vực hoạt động dịch vụ có ý nghĩa kinh tế lớn, sự phát triển dịch vụ hợp lí, có chất lượng cao là một biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh Do ý nghĩa kinh tế, xã hội to lớn nên hoạt động dịch vụ trở thành lĩnh vực kinh tế quan trọng, có vị trí lớn trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia có tốc độ phát triển cao

1.2.2 Dịch vụ bảo hiểm

* Khái niệm về dịch vụ bảo hiểm

Từ những khái niệm về dịch vụ như đã phân tích trên đây có thể khái quát dịch vụ bảo hiểm như sau:

Dịch vụ bảo hiểm là tất cả các dịch vụ mà người bảo hiểm cung cấp cho người được bảo hiểm

Tuy nhiên, trong Hiệp định chung về Thương mại trong lĩnh vực Dịch

vụ (GATS) thì nhóm dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm bao gồm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, tái bảo hiểm, trung gian bảo hiểm như môi giới và đại lý, các dịch vụ bổ trợ cho bảo hiểm như tư vấn và tính toán rủi ro

Trang 27

Cũng giống như các ngành dịch vụ khác, dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho khách hàng sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm đặc biệt, đây

là loại sản phẩm vô hình và không được bảo hộ bản quyền, là loại sản phẩm

mà người mua không bao giờ muốn nó xảy ra với mình để được thực hiện quyền đòi bồi thường hay trả tiền bảo hiểm Người mua sản phẩm bảo hiểm chỉ với mục đích đề phòng khi sự kiện được bảo hiểm xảy ra vẫn đảm bảo được an toàn về mặt tài chính, ổn định được quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt xã hội

Tham gia vào dịch vụ bảo hiểm gồm có người mua (khách hàng), người cung cấp dịch vụ (các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm) và các tổ chức trung gian (người bảo hiểm giới bảo hiểm)

Người bảo hiểm còn gọi là những người cung cấp dịch vụ bảo hiểm

(Insurer or underwriter): là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm , là người

ký hợp đồng bảo hiểm,được hưởng phí bảo hiểm và cam kết bồi thường cho người mua bảo hiểm tất cả những tổn thất thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm là nguyên nhân trực tiếp gây nên

Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hiện nay theo điều 59 của Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam gồm: doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, tổ chức bảo hiểm tương hỗ và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài

Người được bảo hiểm (Insured): Là những tổ chức hay cá nhân thọ

có tài sản hay trách nhiệm dân sự theo luật định, tính mạng hay tình trạng sức khoẻ cần phải tham gia bảo hiểm sẽ trực tiếp hay thông qua người môi giới mua các sản phẩm bảo hiểm

Trang 28

Người được người bảo hiểm là người mua bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, là người có tên trên hợp đồng bảo hiểm hay là người được hưởng lợi ích trên hợp đồng bảo hiểm

Tổ chức trung gian bảo hiểm hay còn gọi là người môi giới

(broker), đại lý (agent) bảo hiểm là cầu nối giữa người mua và người bán bảo hiểm

* Môi giới bảo hiểm:

Môi giới bảo hiểm có thể là công ty hoặc cá nhân đứng ra thu xếp bảo hiểm với các công ty bảo hiểm Họ có thể tư vấn về các vấn đề như nhu cầu bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, thị trường bảo hiểm, khiếu nại, kiện tụng… Môi giới bảo hiểm có thể đại diện cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm

* Đại lý bảo hiểm:

Đại lý bảo hiểm có thể là tổ chức hay cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý Đại lý bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp và được hưởng lương hoặc tiền hoa hồng theo thoả thuận Như vậy đại lý thường được coi là đại lý cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm

* Đặc điểm của dịch vụ bảo hiểm

Cũng giống với các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ bảo hiểm cũng có các đặc trưng chung như:

- Người cung cấp và nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm :

Người cung cấp dịch vụ bảo hiểm: chính là các doanh nghiệp kinh

doanh nghiệp dịch vụ bảo hiểm để phục vụ khách hàng của mình Các doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ bảo hiểm có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo nhu cầu của thị trường và tuỳ theo khả năng cạnh tranh Các doanh nghiệp luôn nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc nâng cao chất lượng sản

Trang 29

phẩm dịch vụ, chính là sản phẩm bảo hiểm Ngày càng có nhiều sản phẩm bảo hiểm được phát triển và hoàn thiện phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật của nền kinh tế xã hội trong quá trình hội nhập và toàn cầu hoá Sản phẩm bảo hiểm luôn được cải tiến, hoàn thiện và đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trường

Cầu về dịch vụ bảo hiểm: là nhu cầu của dân cư, của các tổ chức xã

hội, của các đơn vị sản xuất, kinh doanh … xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm ngày càng tăng Nếu theo thang bậc nhu cầu của MASLOW thì nhu cầu về bảo hiểm không thuộc nhu cầu thiết yếu, do vậy dịch vụ bảo hiểm được quan tâm nhiều hơn khi người dân đã có tích luỹ Điều này cũng có nghĩa là khi nền kinh tế xã hội phát triển thì các tổ chức kinh tế xã hội cũng phát triển theo, đời sống vật chất, tinh thần của dân

cư cũng được cải thiện… do đó nhu cầu đa dạng về dịch vụ bảo hiểm tăng lên Những năm đầu của thế kỷ XX trên thị trường bảo hiểm mới chỉ có vài chục sản phẩm nhưng đến nay con số này đã lên tới hàng trăm Xã hội phát triển, dịch vụ bảo hiểm cũng phát triển, ngày nay các sản phẩm bảo hiểm đã

đi sâu vào từng ngõ ngách của đời sống kinh tế xã hội để phục vụ nhu cầu

- Giá cả của dịch vụ bảo hiểm:

Giá cả của dịch vụ bảo hiểm, hay còn gọi là giá cả của sản phẩm bảo

hiểm chính là phí bảo hiểm Phí bảo hiểm (Premium): là một khoản tiền mà

người mua bảo hiểm phải trả cho người cung cấp dịch vụ bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm do rủi ro được bảo hiểm là nguyên nhân trực tiếp gây ra Phí bảo hiểm được xác định trên

cơ sở thoả thuận giữa người sử dụng và người cung cấp dịch vụ bảo hiểm về một dịch vụ bảo hiểm nào đó và cũng có thể xem đó là giá chấp nhận của thị trường trường về dịch vụ (hay sản phẩm) bảo hiểm Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở giá trị bảo hiểm (hay số tiền bảo hiểm) với tỷ lệ phí bảo

Trang 30

hiểm Nếu giá trị bảo hiểm (hay số tiền bảo hiểm) càng lớn, tỷ lệ phí bảo hiểm càng cao thì phí bảo hiểm càng lớn và ngược lại

Phí bảo hiểm cũng luôn thay đổi, nó phụ thuộc vào rủi ro nhiều hay ít, mức

độ nguy hiểm cao hay thấp, trình độ quản lý rủi ro, mức độ thiệt hại khi xảy ra rủi ro, điều kiện bảo hiểm cũng như nhận thức của con người… Ngoài ra phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào các quy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh….trên thị trường dịch vụ bảo hiểm

- Cạnh tranh và liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm:

Cũng giống như các loại hình dịch vụ khác, trên thị trường cung cấp dịch

vụ bảo hiểm luôn có sự cạnh tranh gay gắt và cả sự liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm

Ngoài ra, dịch vụ bảo hiểm còn có các đặc trưng riêng như:

- Dịch vụ bảo hiểm có tiềm năng phát triển lớn, đối tượng khách hàng rộng, đối tượng bảo hiểm rất đa dạng bao gồm tài sản, con người và trách nhiệm dân sự

- Dịch vụ bảo hiểm phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của điều kiện kinh tế xã hội Khi xã hội phát triển thì nhu cầu an toàn trong sản xuất, kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt của người dân càng được đặt ra cao hơn

đã tạo điều kiện thúc đẩy dịch vụ bảo hiểm phát triển

- Dịch vụ bảo hiểm cung cấp sản phẩm đặc biệt liên quan đến rủi ro, nguy hiểm Bảo hiểm ra đời là do sự tồn tại khách quan của rủi ro Rủi ro là những đe doạ nguy hiểm, bất ngờ mà con người không thể lương trước được

là nguyên nhân gây ra tổn thất, thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biệt trong xã hội

- Dịch vụ bảo hiểm là dịch vụ tài chính, chịu sự kiểm tra, kiểm soát rất chặt chẽ của nhà nước Nhà nước có thể can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước không những xét duyệt biểu phí, xác định giới hạn trách nhiệm bồi thường mà còn quyết định sản phẩm được phép kinh

Trang 31

doanh hoặc hình thức triển khai bắt buộc hay tự nguyện Chỉ có dịch vụ bảo hiểm mới có hình thức bắt buộc người tiêu dùng phải sử dụng một số sản phẩm bảo hiểm

- Dịch vụ bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông bù số ít, đây là quy luật đặc thù của ngành bảo hiểm Bảo hiểm chính là sự phân tán rủi ro, chia nhỏ tổn thất của một hay một số người cho nhiều người cùng gánh chịu Tức

là lấy số đông để bù vào rủi ro của một số ít Một người tự mình thì không thể gánh nổi khi sự cố bảo hiểm xảy ra nhưng nhiều người san sẻ thì sẽ vượt qua được Từ quy luật này cho thấy trên một lĩnh vực bảo hiểm nếu thu hút được nhiều khách hàng tham gia thì phí bảo hiểm thu được từ khách hàng càng lớn, tác dụng bồi thường khi có sự cố xảy ra càng cao Quy luật “số đông bù số ít” luôn được các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tận dụng triệt để Quy luật này không phát huy tác dụng thì hoạt động của dịch vụ bảo hiểm không thể tồn tại, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị phá sản

1.2.3 Các quan điểm về dịch vụ bảo hiểm

Hiện nay, trên thị trường bảo hiểm thế giới, các quốc gia đang có xu hướng mở cửa hội nhập và tự do hóa thị trường bảo hiểm nội địa Tuy nhiên, trên thực tế cũng có hai quan điểm về vấn đề này:

1.2.3.1 Quan điểm mở cửa hạn chế dịch vụ bảo hiểm

Các nước áp dụng quan điểm này điển nhất hiện nay là các nước thuộc Liên minh Châu Âu và Nhật Bản

Nếu như trước đây Nhật Bản thường khuyến khích người dân tiêu dùng hàng nội địa, không muốn mở cửa thị trường thì hiện nay, do sức ép của tình trạng suy thoái kinh tế, xu thế toàn cầu hóa, Nhật Bản đã dần mở cửa thị trường trong nước trong đó có thị trường bảo hiểm Nhật Bản đã cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài chỉ cần thông báo với các cơ quan chức năng của Nhật Bản về hoạt động kinh doanh của mình để có thể hoạt động ở Nhật

Trang 32

Tự do hóa tỷ lệ phí bảo hiểm của một số nghiệp vụ bảo hiểm xóa bỏ lệnh cấm môi giới trong hoạt động bảo hiểm …

Khác với Nhật Bản, các nước trong khối liên minh Châu Âu mở cửa hoàn toàn thị trường bảo hiểm đối với các nước thành viên thuộc liên minh, song lại hạn chế đối với các nước bên ngoài liên minh Các nước thành viên không chấp nhận loại bảo hiểm bắt buộc của các công ty bảo hiểm nước ngoài Một số nước như Áo, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Italia…còn có các hạn chế về phạm vi nghiệp vụ bảo hiểm do công ty của các nước không thuộc Liên minh Châu Âu triển khai ở nước họ

Trong khi, Nhật Bản và các nước thuộc Liên minh Châu Âu chỉ mở cửa hạn chế thị trường bảo hiểm vì không muốn chia sẻ thị phần cho các công ty nước ngoài thì các nước đang phát triển, ví dụ như là các quốc gia Đông Nam

Á lại hạn chế mở cửa thị trường này nhằm mục đích bảo hộ cho các công ty bảo hiểm nội địa còn non trẻ Nếu như Malaysia thường có các quy định về hạn chế số cổ phần của phía nước ngoài trong công ty liên doanh bảo hiểm từ 30% đến 50% thì Thái Lan lại quy định chặt chẽ về vệc cấp giấy phép thành lập Một doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài muốn thành lập và hoạt động tại thị trường Thái Lan thì phải được nội các Thái Lan đồng ý và có giấy phép do

bộ trưởng ký; ngoài ra Thái Lan cũng có những quy định về mức vốn góp; về lao động nước ngoài (chỉ cho phép các nhân viên quản lý cao cấp vào Thái Lan, chuyên gia và cán bộ kỹ thuật nước ngoài vào làm việc phải được sự đồng ý của Hội đồng bảo hiểm Thái Lan)

Tuy nhiên trước sức ép của xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, đặc biệt là luật chơi chung của WTO đang buộc các nước theo quan điểm này dần phải

dỡ bỏ bớt các hạn chế để mở cửa cho các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài

Trang 33

1.2.3.2 Quan điểm mở cửa tự do thị trường bảo hiểm

Những quốc gia theo quan điểm này thường là những nước có nền kinh

tế phát triển, có ngành bảo hiểm vững mạnh và ngược lại với những nước này

là những nước có ngành bảo hiểm nội địa quá yếu kém và bị sức ép mở cửa thị trường cho các công ty bảo hiểm nước ngoài từ chính các nước phát triển Đại diện cho khu vực có dịch vụ bảo hiểm phát triển mạnh không thể không kể tới Hồng Kông Chính quyền của Hồng Kông đã mở cửa dịch vụ bảo hiểm tự do nên ngành này ở Hồng Kông thực sự phát triển Hiện nay có rất nhiều công ty bảo hiểm đang hoạt động tại thị trường Hồng Kông, bên cạnh các công ty đăng ký thành lập ở Hồng Kông thì có rất nhiều các công ty bảo hiểm nổi tiếng, thành lập ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, …

Cùng với Hồng Kông, Đài Loan là khu vực có nền kinh tế phát triển rất nhanh, năm 1995 thì Đài Loan bắt đầu mở cửa toàn diện thị trường dịch vụ bảo hiểm Bất cứ công ty nào cũng có thể thành lập công ty 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh tại đây nếu: công ty đó có kết quả hoạt động tốt và trong vòng 5 năm gần nhất không bị xử phạt về kinh doanh trái pháp luật tại nước chủ quản Ngược lại với hai khu vực trên thì những nước có dịch vụ yếu kém như một số nước ở Châu Mỹ la tinh và Châu Phi lại mở cửa không hạn chế cho các công ty bảo hiểm nước ngoài do các công ty trong nước không có thực lực

Tuy nhiên, có thể nhận thấy xu hướng tự do hóa mở cửa dịch vụ bảo hiểm là xu hướng tất yếu trước các yêu cầu hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra nhanh chóng Tự do hóa dịch vụ này khiến cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ, để có thể đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp bảo hiểm không thể không đổi mới sản phẩm, dịch vụ, các kênh phân phối, nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả dịch vụ, chăm sóc khách hàng, tiếp thu công nghệ mới, nâng cao năng quản lý hiệu quả,…Tất cả

Trang 34

những điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp phát triển và đồng thời sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho khách hàng sử dụng dịch vụ này

1.3 Những quy định về dịch vụ bảo hiểm của WTO và một số hiệp định thương mại Việt Nam đã ký kết

1.3.1 Những quy định của WTO

WTO đã nêu rõ trong Phụ lục về các dịch vụ tài chính thuộc Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan

tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác Trong đó Dịch

vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm bao gồm:

(i) Bảo hiểm trực tiếp (kể cả đồng bảo hiểm)

(A) nhân thọ

(B) phi nhân thọ

(ii) Tái bảo hiểm và tái nhượng bảo hiểm;

(iii) Bảo hiểm trung gian, như là môi giới và đại lý;

(iv) Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, như là tư vấn, dịch vụ đánh giá xác xuất

và rủi ro và dịch vụ giải quyết khiếu nại

1.3.2 Cam kết theo Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ

Hiệp định Thương mại Việt Mỹ được ký kết vào ngày 13/7/2000 và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2001 sau khi Quốc hội hai nước phê chuẩn Theo Hiệp định này, Việt Nam đưa ra những cam kết trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm:

 Bảo hiểm nhận thọ và bảo hiểm tai nạn con người trừ bảo hiểm sức khỏe

 Bảo hiểm phi nhân thọ

 Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm

Trang 35

 Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động bảo hiểm (bao gồm các dịch vụ môi giới và đại lý bảo hiểm)

 Các dịch vụ tái bảo hiểm

 Các dịch vụ bảo hiểm trong vận tải quốc tế

 Các dịch vụ môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm

 Các dịch vụ tư vấn giải quyết khiếu nại, đánh giá rủi ro

Cũng theo Hiệp định, việc tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài không chịu bất kỳ hạn chế nào Sự hiện diện thương mại của các công ty bảo hiểm Mỹ không bị hạn chế nhưng phải tuân thủ theo lộ trình tự do hóa từng bước trong giai đoạn từ 3-5 năm Cụ thể là:

 Sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các Công ty Bảo hiểm của

Hoa Kỳ được thành lập công ty liên doanh với các đối tác được phép kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam, trong đó, tỷ lệ góp vốn của đối tác Hoa Kỳ không vượt quá 50% vốn pháp định

 Sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam cho phép thành

lập công ty bảo hiểm 100% vốn của Hoa Kỳ

Ngoài ra, các công ty cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư của Hoa Kỳ không được phép kinh doanh các dịch vụ đại lý bảo hiểm

 Sau 3 năm đối với công ty liên doanh và 6 năm đối với công ty bảo hiểm 100% vốn của Hoa Kỳ kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ xóa bỏ việc không cho phép các công ty bảo hiểm Hoa Kỳ kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc (như bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới, bảo hiểm

Trang 36

xây dựng, lắp đặt, bảo hiểm các dự án dầu khí, bảo hiểm các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường)

 Sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ bãi bỏ chế độ tái bảo hiểm bắt buộc

Những cam kết này cũng sẽ là các điều kiện để Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập với khu vực ASEAN, các đối tác thương mại quan trọng như Nhật Bản, Liên minh Châu Âu và chuẩn bị đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Điều đáng lưu ý là theo nguyên tắc tối huệ quốc, những cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Mỹ cũng sẽ được áp dụng tương tự với các nước có các thỏa thuận thương mại song phương với Việt Nam Do đó, tác động của các cam kết trong lĩnh vực bảo hiểm như trình bày

ở trên sẽ không chỉ giới hạn trong quan hệ thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ mà còn được mở rộng sang các đối tác thương mại chính như EU, Nhật Bản, ASEAN,

1.3.3 Cam kết trong khuôn khổ các nước ASEAN

Xu thế mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm đang diễn ra mạnh

mẽ trong khu vực này Trong khuôn khổ Hiệp định khung về Dịch vụ của ASEAN được ký vào cuối tháng 12/1998 và có hiệu lực kể từ ngày 13/10/1999, 7 quốc gia thành viên ASEAN (trừ Lào, Myanmar và Campuchia) đã đưa ra những cam kết cụ thể trong lĩnh vực bảo hiểm theo hướng huỷ bỏ về cơ bản những hạn chế về tiếp cận thị trường và tăng cường chiều sâu cũng như phạm vi tự do hoá trong lĩnh vực bảo hiểm Hiện nay, các nước ASEAN đang trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định thư số 5 về thiết lập chương trình chung của ASEAN về bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc đối với bên thứ ba của chủ xe cơ giới

Bên cạnh đó, các cố gắng xây dựng thể chế cũng đang được đẩy mạnh với sáng kiến thành lập Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN và Hiệp

Trang 37

hội bảo hiểm ASEAN để gắn kết và tăng cường sự hợp tác giữa các Chính phủ và ngành bảo hiểm các nước trong khu vực

Tóm lại, lĩnh vực dịch vụ nói chung và dịch vụ bảo hiểm nói riêng là ngành kinh tế chịu sức ép mở cửa rất lớn khi Việt Nam gia nhập WTO và cam kết theo các hiệp định thương mại song phương và đa phương Do vậy, Việt Nam cần phải xây dựng một chiến lược và lộ trình mở cửa hợp lý để phát triển dịch vụ bảo hiểm trước những yêu cầu của quá trình hội nhập

Trang 38

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRÊN THỊ

TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

2.1 Vài nét về sự ra đời và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam 2.1.1 Thị trường bảo hiểm Việt Nam trước Nghị định 100/CP

Trước thập niên 50, hoạt động kinh doanh bảo hiểm đã có mặt ở Việt Nam, tuy nhiên, thực chất đó là đại lý của các hãng bảo hiểm nước ngoài, toàn bộ thị trường bảo hiểm là do các công ty bảo hiểm Pháp thực hiện Nhìn chung, vị trí của ngành bảo hiểm trong nền kinh tế là không đáng kể

Ở miền Nam đã ra đời hàng loạt các Công ty bảo hiểm dưới nhiều loại hình: Công ty bảo hiểm cổ phần, Công ty bảo hiểm tương hỗ, Công ty bảo hiểm nước ngoài Bảo hiểm thương mại tương đối phát triển Năm

1972, Sài Gòn có khoảng 51 công ty bảo hiểm trong và ngoài nước

Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) được Hội đồng Chính phủ

ký quyết định thành lập ngày 17/12/1964 Công ty Bảo hiểm Việt Nam chính thức đi vào hoạt động kể từ tháng 1/1965 Và kể từ đó, cho đến tận năm 1994, ở Việt Nam chỉ có Bảo Việt là công ty bảo hiểm đầu tiên và duy nhất được Chính phủ thành lập Thời kỳ này, bảo hiểm tập trung chủ yếu vào hai nghiệp vụ là bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu và bảo hiểm tàu biển Với duy nhất một doanh nghiệp bảo hiểm, lại hoạt động độc quyền nên bảo hiểm Việt Nam vẫn chưa được coi là một thị trường thực

sự Do vậy, ở giai đoạn này có thể coi lịch sử phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam chính là lịch sử phát triển của Bảo Việt Bảo Việt thành lập thêm một số chi nhánh Hải Phòng Số vốn ban đầu được nhà nước cấp

là 1 triệu đồng với số lượng cán bộ nhân viên toàn công ty là 20 người

Trang 39

Trong giai đoạn mới thành lập, khi đất nước còn nằm trong thời kỳ kế hoạch hoá, tập trung và bao cấp, tất cả các nghiệp vụ mà Bảo Việt triển khai chủ yếu phục vụ cho sự phát triển trao đổi thương mại với các nước xã hội chủ nghĩa Năm 1965, khi mới ra đời, do đội ngũ và trình độ nên Bảo Việt chỉ nhận bảo hiểm thân tầu và đến năm 1967 mới tiến hành bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu Năm 1979, Bảo Việt hình thành văn bản thoả thuận về một số quy định trong việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tầu, quy định cụ thể về vận dụng nội dung điều khoản bảo hiểm ITC vào Việt Nam Năm

1989, bản thoả thuận trên lại được sửa đổi bổ sung thêm và được các chủ tầu hoan nghênh Đến năm 1987, Bảo Việt đã bảo hiểm cho 436 tầu của 45 đội tầu biển trong nước

Đối với bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, chỉ sau năm 1975- tức sau khi đất nước thống nhất, Bảo Việt mới giành được quyền bảo hiểm cho hàng hoá xuất nhập khẩu từ Trung Quốc Cũng bắt đầu từ giai đoạn này kim ngạch bảo hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm đối ngoại được nâng cao Bảo Việt bắt đầu mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới Đến năm 1979, đã có 39 công ty nước ngoài có quan hệ với Bảo Việt

Sau khi giải phóng, việc quốc hữu hóa được thực hiện với 51 công ty bảo hiểm cũ của miền Nam, lớn nhất là công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm (VAR) Ngày 17/01/1976 chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam ra quyết định số 21/QĐ-BKT thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam – gọi tắt là BAVINA BAVINA tiếp tục thực hiện trách nhiệm của các công ty cũ với Người được bảo hiểm muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm Sau khi đất nước thống nhất, ngày 1/3/1977, bộ trưởng

bộ tài chính nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định số 61/TCQĐ/TCCB về việc sát nhập BAVINA thành chi nhánh của Bảo Việt tại

Trang 40

thành phố Hồ Chí Minh Như vậy, kể từ đó, Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các tỉnh phía Nam

Để phát triển thị trường bảo hiểm, phục vụ đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, công ty bảo hiểm Việt Nam đã mở thêm các chi nhánh ở một số tỉnh, thành phố có cảng biển để phát triển bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu và bảo hiểm tầu biển như chi nhánh Quảng Ninh, Đà Nẵng, Bình Định và Vũng Tầu Việc mở chi nhánh Vũng Tầu còn có mục đích nắm bắt cơ hội bảo hiểm trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí Bảo hiểm dầu khí là một loại hình bảo hiểm phức tạp Về mặt nghiệp vụ, Bảo Việt đã phát triển kinh doanh một loạt sản phẩm mới như bảo hiểm giàn khoan; bảo hiểm trách nhiệm nhà thầu khoán; bảo hiểm kiểm soát giếng; bảo hiểm tài sản, trách nhiệm cho các nhà thầu phụ; bảo hiểm ôtô; bảo hiểm trách nhiệm cho người lao động; bảo hiểm trộm cắp, hoả hoạn; bảo hiểm trách nhiệm tổng hợp đối với người thứ ba; bảo hiểm tiền mặt và bảo hiểm máy bay trực thăng

Bước sang thập niên 80, công ty bảo hiểm Việt Nam bắt đầu quan tâm tới bảo hiểm đối nội, mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ bảo hiểm trên khắp

cả nước Năm1980, Bảo Việt bắt đầu cung cấp dịch vụ bảo hiểm tai nạn hành khách; bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Năm 1981 triển khai bảo hiểm hàng không đối với các đội bay của cục hàng không dân dụng Việt Nam Năm 1982 triển khai thí điểm bảo hiểm cấy lúa lần 1 Năm 1985 khởi thảo bảo hiểm tai nạn thân thể học sinh và bảo hiểm tai nạn lao động Những năm sau một loạt các dịch vụ bảo hiểm mới cũng được Bảo Việt lần lượt tung

ra thị trường như bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt; bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm sinh mạng cá nhân

Từ đầu năm 1986, Bảo Việt được phép tự hạch toán ngoại tệ, đây có thể coi như là một bước đột phá quan trọng cần thiết và thích ứng trong nền

Ngày đăng: 16/04/2014, 19:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2005), Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2004. NXB Tài chính. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2004
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: NXB Tài chính. Hà Nội
Năm: 2005
2. Bộ Thương mại (2000), Kết quả vòng đàm phán Uruquay về hệ thống thương mại đa biên. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả vòng đàm phán Uruquay về hệ thống thương "mại đa biên
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2000
3. Bảo Việt (2005), Bảo Việt 40 năm xây dựng và phát triển,NXB Văn hoá thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Việt 40 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Bảo Việt
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin. Hà Nội
Năm: 2005
4. Hồ Ngọc Cẩn (2004), Hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành về bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, NXB Lao động xã hội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Ngọc Cẩn (2004), "Hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành về bảo hiểm "nhân thọ và phi nhân thọ
Tác giả: Hồ Ngọc Cẩn
Nhà XB: NXB Lao động xã hội. Hà Nội
Năm: 2004
5. Hoàng Văn Châu (Ch.b), Vũ Sĩ Tuấn, Nguyễn Như Tiến (2002), Giáo trình bảo hiểm trong kinh doanh, Đại học Ngoại thương, NXB Khoa học kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Văn Châu (Ch.b), Vũ Sĩ Tuấn, Nguyễn Như Tiến (2002), "Giáo trình bảo "hiểm trong kinh doanh
Tác giả: Hoàng Văn Châu (Ch.b), Vũ Sĩ Tuấn, Nguyễn Như Tiến
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật. Hà Nội
Năm: 2002
6. Nguyễn Văn Định (Ch.b), Hồ Sỹ Hà, Phạm Thị Định (2004), Giáo trình bảo hiểm, NXB Khoa học kỹ thuật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bảo "hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định (Ch.b), Hồ Sỹ Hà, Phạm Thị Định
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật. Hà Nội
Năm: 2004
7. Nguyễn Văn Định (Ch.b) (2003), Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm, NXB Thống kê. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: Nguyễn Văn Định (Ch.b)
Nhà XB: NXB Thống kê. Hà Nội
Năm: 2003
8. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam 1A-Đ. Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ "điển bách khoa Việt Nam 1A-Đ
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam
Năm: 1995
9. Lan Hương (2006), "Những cơ hội và thách thức 2006, Dự báo xu hướng kinh doanh bảo hiểm năm nay", Thời báo Kinh tế Việt Nam, (31), tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ hội và thách thức 2006, Dự báo xu hướng kinh doanh bảo hiểm năm nay
Tác giả: Lan Hương
Năm: 2006
10. Lan Hương (2006), "Môi giới bảo hiểm trong nước vẫn nép vế", Thời báo Kinh tế Việt Nam, (36), tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi giới bảo hiểm trong nước vẫn nép vế
Tác giả: Lan Hương
Năm: 2006
11. Lê Song Lai (2005), "Thị trường bảo hiểm Việt Nam 6 tháng đầu năm 2005- Bức tranh sáng màu", Tài chính tháng 7/2005, tr. 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 6 tháng đầu năm 2005- Bức tranh sáng màu
Tác giả: Lê Song Lai
Năm: 2005
12. Lê Song Lai (2005), “Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm”, Tài chính tháng 10/2005, tr. 18-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm”, "Tài chính tháng 10/2005
Tác giả: Lê Song Lai
Năm: 2005
13. GS. TS. Trương Mộc Lâm, Lưu Nguyên Khánh (2000), Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, NXB Thống kê. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điều cần biết "về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: GS. TS. Trương Mộc Lâm, Lưu Nguyên Khánh
Nhà XB: NXB Thống kê. Hà Nội
Năm: 2000
14. Phùng Đắc Lộc (2006), "Hình ảnh thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2005", Tài chính tháng 3/2006, tr. 42-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2005
Tác giả: Phùng Đắc Lộc
Năm: 2006
15. Phạm Minh (2001).Tìm hiểu Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và quy chế thương mại đa phương. NXB Thống kê. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và quy "chế thương mại đa phương
Tác giả: Phạm Minh
Nhà XB: NXB Thống kê. Hà Nội
Năm: 2001
16. Ngân hàng thế giới (2004), Sổ tay về Phát triển, thương mại và WTO. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay về Phát triển, thương mại và WTO
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 2004
17. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2001), Luật kinh doanh bảo hiểm. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật kinh doanh bảo hiểm
Tác giả: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2001)
Năm: 2001
18. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (1995), Luật hàng không Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hàng không Việt Nam
Tác giả: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia (1995)
Năm: 1995
19. Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2005), Luật thương mại. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thương mại
Tác giả: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2005)
Năm: 2005
20. Nhà xuất bản văn hoá thông tin (2005), Bảo Việt 40 năm xây dựng và phát triển. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Việt 40 năm xây dựng và phát "triển
Tác giả: Nhà xuất bản văn hoá thông tin
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá thông tin (2005)
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thị trường bảo hiểm Việt Nam sau nghị định 100/CP (1993-2005) - Dịch vụ bảo hiểm và phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập
Bảng 2.1 Thị trường bảo hiểm Việt Nam sau nghị định 100/CP (1993-2005) (Trang 43)
Bảng 2.2: Cơ cấu thị trường bảo hiểm theo loại hình doanh nghiệp - Dịch vụ bảo hiểm và phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập
Bảng 2.2 Cơ cấu thị trường bảo hiểm theo loại hình doanh nghiệp (Trang 49)
Bảng 2.3: Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam - Dịch vụ bảo hiểm và phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập
Bảng 2.3 Danh sách các DNBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam (Trang 50)
Bảng 2.4: Vốn điều lệ của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam - Dịch vụ bảo hiểm và phát triển dịch vụ bảo hiểm Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập
Bảng 2.4 Vốn điều lệ của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w