1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

98 697 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Bùi Ánh Tuyết
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Quy
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

  

BÙI ÁNH TUYẾT

-HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2007

Trang 2

NEU

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

  

BÙI ÁNH TUYẾT

-HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Quy

HÀ NỘI – 2007

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 5

1.1 Tập đoàn tài chính - ngân hàng 5

1.1.1 Lịch sử ra đời của tập đoàn tài chính-ngân hàng 5

1.1.2 Khái niệm về tập đoàn tài chính- ngân hàng 7

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của tập đoàn tài chính- ngân hàng 8

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của tập đoàn tài chính- ngân hàng 11

1.2 Các mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng 12

1.2.1 Ngân hàng đa năng 12

1.2.1.1 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng đa năng 12

1.2.1.2 Đặc điểm của ngân hàng đa năng 13

1.2.1.3 Tính ưu việt của ngân hàng đa năng 13

1.2.2 Mô hình công ty mẹ – con 13

1.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty mẹ con 13

1.2.2.2 Đặc điểm của mô hình công ty mẹ con 14

1.2.2.3 Tính ưu việt của mô hình công ty mẹ – con 14

1.3 Điều kiện và hình thức xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng 15

1.3.1 Điều kiện thành lập 15

1.3.1.1 Điều kiện từ môi trường bên ngoài 15

1.3.1.2 Điều kiện từ chính bản thân các NHTM: 16

1.3.2 Hình thức thành lập 22

1.4 Vai trò của tập đoàn tài chính - ngân hàng đối với sự phát triển nền kinh tế quốc gia 27

1.5 Kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng 28

1.5.1 Mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng Citigroup 28

Trang 4

1.5.2 Mô hình của tập đoàn OCBC 30

1.5.3 Mô hình của tập đoàn tài chính-ngân hàng tại Trung Quốc 31

1.5.4 Các kinh nghiệm rút ra 32

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XÂY DỰNG MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 35

2.1 Khái quát về hệ thống ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế 35

2.1.1 Khái quát về hệ thống ngân hàng Việt Nam 35

2.1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến hệ thống ngân hàng tại Việt Nam 39

2.2 Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam 42

2.2.1 Về mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam được lựa chon 42

2.2.2 Về các điều kiện xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam 44

2.2.2.1 Điều kiện từ bên ngoài 44

2.2.2.2 Điều kiện bên trong các ngân hàng 47

2.2.3 Quy trình xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam 56

2.2.4 Đánh giá chung 56

2.2.4.1 Thuận lợi 56

2.2.4.2 Khó khăn 57

CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC XÂY DỰNG MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 60

3.1 Sự cần thiết phải thành lập các tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam hiện nay 60

3.1.1 Thành lập các tập đoàn tài chính - ngân hàng là một tất yếu khách quan 60

3.1.2 Thành lập các tập đoàn tài chính - ngân hàng là một tất yếu khách quan 60

Trang 5

3.2 Khả năng xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng

tại Việt Nam 61

3.2.1 Về môi trường kinh tế 62

3.2.2 Về phía các NHTMVN 62

3.3 Định hướng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam 64

3.4 Các giải pháp xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng 65

3.4.1 Giải pháp vĩ mô 65

3.4.1.1 Ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp luật đối với hoạt động của tập đoàn tài chính - ngân hàng 65

3.4.1.2 Nghiên cứu, lựa chọn mô hình chuyển đổi thành lập Tập đoàn Tài chính-Ngân hàng 66

3.4.2 Giải pháp vi mô 67

3.4.2.1 Các NHTM Nhà nước cần đẩy nhanh tốc độ thực hiện Đề án cơ cấu lại NHTM đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 67

3.4.2.2 Tăng cường vốn chủ sở hữu 68

3.4.2.3 Phát triển đa dạng và chuyên nghiệp các dịch vụ ngân hàng mới 71

3.4.2.4 Đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ 72

3.4.2.5 Mở rộng và phát triển mạng lưới ngân hàng 73

3.4.2.6 Đổi mới công nghệ sử dụng trong hoạt động ngân hàng 74

3.4.2.7 Cải tiến quy trình, quy chế hoạt động của ngân hàng 75

3.4.2.8 Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán thường xuyên 75

3.4.2.9 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 76

3.5 Kiến nghị: 78

3.5.1 Kiến nghị đối với Nhà nước 78

3.5.2 Kiến nghị đối với các ngân hàng thương mại .79

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Mười tập đoàn ngân hàng xuyên quốc gia lớn nhất thế

1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của các loại hình Tập

1.3 Mười vụ sáp nhập tài chính - ngân hàng lớn nhất thế giới

1.2 Mô hình công ty mẹ con (Parent Subsidiary) 14

Trang 7

Mô hình tập đoàn tài chính Quỹ tiền tệ quốc tế

Kinh tế quốc tế Hợp nhất và sáp nhập Ngân hàng cổ phần Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngân hàng thương mại Nhà nước Ngân hàng Trung Ương

Oversea – Chinese Banking Coporation Thị trường phi tập trung

Mô hình công ty mẹ con

Tổ chức Tín dụng Trách nhiệm hữu hạn

Mô hình Ngân hàng đa năng

Tổ chức Thương mại thế giới

Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

Tôi cũng xin cảm ơn các cô chú, anh chị ở Bộ tài chính, Bộ thương mại, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã hỗ trợ tài liệu - một phần không thể thiếu để bản Luận văn được hoàn chỉnh

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp, gia đình

đã hỗ trợ, ủng hộ về tinh thần để tôi có thể hoàn thành Luận văn

Do hạn chế về năng lực và thời gian nghiên cứu, Luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến, chỉ bảo của thầy cô và các bạn bè đồng nghiệp

Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2007

Tác giả

Bùi ánh Tuyết

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, nhiều công ty, doanh nghiệp với năng lực sản xuất, năng suất lao động khác nhau, dẫn tới quy mô và tốc độ phát triển khác nhau đã xuất hiện các hiện tượng chèn ép, thôn tính, hoặc tự nguyện tìm cách

“chung sống” hoà bình với nhau trên cơ sở những liên minh hay tổ hợp để

“phân chia” thị trường và khai thác những tiềm năng riêng có của từng công

ty, doanh nghiệp trong một “vỏ bọc” vững chắc hơn bởi một liên minh rộng hơn Từ đó, chúng ta đã từng nghe và đọc được những danh từ từ cuối thế kỷ

19, đầu thế kỷ 20 như “Cartel”, “Association” và gần đây hơn là các

“Cheabol”; “Group” tất cả đều có chung một ý nghĩa chủ đạo là: liên minh, liên kết nhóm cùng thoả thuận tuân thủ một số nguyên tắc điều chỉnh chung như: phối hợp chiến lược, kiểm soát qua góp vốn, cung ứng sản phẩm; phân chia chiếm lĩnh thị trường; thống nhất phương thức, nguyên tắc kiểm soát nội bộ; Trong các liên minh nói trên, có một công ty đóng vai trò “thương hiệu” trung tâm, có khả năng chi phối và bảo vệ các công ty con hoặc công ty thành viên khác trong liên minh để tránh khỏi nguy cơ bị chèn ép hoặc thôn tính Tất cả những “liên minh” như thế, khi nghiên cứu và dịch ra tiếng Việt, thông thường được gọi chung là “Tập đoàn” Với cách hiểu về tập đoàn như vậy, có thể thấy tập đoàn kinh tế là một cái vỏ bọc tốt để bảo vệ cho các tế bào bên trong nó hoạt động có hiệu quả Các tài liệu nghiên cứu khoa học đã chỉ ra những mục tiêu chính mà các tổ chức mong muốn đạt được khi quyết định thực hiện liên kết thành tập đoàn như: nâng cao vị thế cạnh tranh và loại bỏ đối thủ cạnh tranh trên thị trường, có được bổ sung về vốn, đa dạng hoá rủi ro… Khi các tổ chức/doanh nghiệp cùng đạt được mục đích trên thông qua việc liên kết thì có thể nói rằng đây là sự “đồng sinh” hiệu quả bởi những lợi ích có được từ việc liên kết các nguồn lực sẽ giúp cho các bên như: mở rộng

Trang 10

thu nhập, giảm thiểu chi phí hoạt động, nâng cao tiềm lực hoạt động, tiết kiệm thuế phải nộp, giảm giá thành vốn Bên cạnh lợi ích mà việc liên minh, liên kết mang lại thì chính sự “đồng sinh” ấy cũng không tránh khỏi việc mang lại cho các tổ chức bên trong nó những chi phí phụ trội từ quá trình liên kết kinh doanh, hợp nhất công nghệ phát sinh ra: chi phí liên kết (mua bán, sáp nhập, hợp nhất); khả năng ảnh hưởng tiêu cực do thay đổi bộ máy lãnh đạo; chi phí hợp nhất công nghệ Từ đó, để hiểu sâu về nội hàm danh từ mang tính cấu trúc quan hệ kinh tế này còn đang là một vấn đề rất nan giải không chỉ ở Việt Nam

Trong giai đoạn hiện nay, việc hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế trong đó có tập đoàn tài chính - ngân hàng đang là xu thế tất yếu và đã đưa lại nhiều kết quả và thành công ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên ở nước ta đây là vấn đề còn hết sức mới mẻ và thiếu kinh nghiệm Do đó, việc nghiên cứu đánh giá khả năng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam hiện tại, xu hướng xây dựng trong tương lai và đề xuất một

số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng

là một yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Để thực hiện được mục tiêu nói trên, tác giả đã quyết định lựa chọn

vấn đề: “Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đáp

ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong yêu cầu chung của quá trình hội nhập, hệ thống NHTM cũng đã

có những động thái tích cực trong việc chuẩn bị nội lực cho việc xây dựng mô hình tập đoàn tài chính Đã có một số công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học cấp Bộ, Ngành, cũng như các buổi hội thảo nghiên cứu quá trình hội nhập của Việt Nam ở lĩnh vực tài chính, ngân hàng và các cơ hội, thách thức của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập Ví dụ

Trang 11

như: Cuộc hội thảo khoa học với chủ đề: “Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam” do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Công thương Việt Nam tổ chức tháng 8 năm 2006 Tuy nhiên, chưa có một công trình nào chuyên nghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam; xem xét các điều kiện để hình thành mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá những thuận lợi khó khăn

mà hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam đang đối mặt, luận văn đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy việc xây dựng tập đoàn tài chính

- ngân hàng ở Việt Nam hiện nay trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về các tập đoàn tài chính - ngân hàng và vai trò của nó trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới

- Đánh giá thực trạng hoạt động xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng của các NHTM Việt Nam và so sánh với một số nước trên thế giới,

từ đó nêu ra lợi thế cũng như những khó khăn trong quá trình xây dựng tập đoàn tài chính – ngân hàng của các NHTM Việt Nam

- Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng của các NHTM Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các mô

hình tập đoàn tài chính - ngân hàng và các điều kiện để xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam

Trang 12

5.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu việc xây

dựng một số mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng trên thế giới và khả năng

xây dựng các mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam, không đi

sâu vào nội dung họat động của tập đoàn tài chính - ngân hàng

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện

chứng, kết hợp với các lý luận, quan điểm kinh tế, tài chính và định hướng

phát triển kinh tế tài chính của Nhà nước để phân tích, đánh giá tình hình xây

dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp,

thống kê và xuất phát từ thực tiễn để làm rõ các vấn đề nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục Luận văn gồm 3 chương:

Chương I – Lý luận chung về mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng

Chương II - Thực trạng xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam hiện nay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Chương III - Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện việc xây dựng

mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng tại Việt Nam

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 13

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN

TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1.1 Tập đoàn tài chính - ngân hàng

1.1.1 Lịch sử ra đời của tập đoàn tài chính - ngân hàng

Vào cuối thế kỷ 19, sau một thời kỳ phát triển kinh tế mạnh mẽ dưới

tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, nhu cầu vốn của các công ty tăng

lên để mở rộng lĩnh vực hoạt động và địa bàn kinh doanh không những ở

phạm vi trong nước mà còn trên thế giới Đến cuối thế kỷ 20 thì quá trình này

diễn ra mạnh mẽ, hàng loạt các tập đoàn xuyên quốc gia, hoạt động trong

nhiều lĩnh vực ra đời và phát triển cho đến nay Có thể kể đến những tập đoàn

kinh tế lớn như Ford Motor, Pfizer, Siemens, Toyota Motor, IBM, Sự hình

thành các tập đoàn tài chính được diễn ra theo quy luật của thị trường và

thường mang một số đặc điểm sau:

Một là, tập đoàn gồm nhiều đơn vị thành viên thuộc nhiều lĩnh vực

khác nhau như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tài chính , có quy mô rất lớn về

vốn, lao động, doanh thu Phạm vi hoạt động rất rộng, thường vượt ra biên

giới quốc gia, thậm chí trên khắp thế giới để trở thành những tập đoàn xuyên

quốc gia, hướng tới mục tiêu toàn cầu hoá chiến lược kinh doanh nhằm đạt

được những ưu thế trong cạnh tranh và nhằm thu lợi nhuận cao nhất Các tập

đoàn kinh doanh đa phần được tổ chức theo mô hình “Công ty mẹ - Công ty

con”

Trang 14

Hai là, sự liên kết giữa các đơn vị thành viên (về tài chính, công nghệ, thị trường ) rất đa dạng, có thể là chặt chẽ hoặc không chặt chẽ nhưng trên

cơ sở cùng có lợi của mỗi thành viên và của cả tập đoàn Trong tập đoàn, công ty mẹ sở hữu lượng lớn cổ phần trong các công ty con, nắm quyền chi phối các công ty con về mặt tài chính cũng như về mặt chiến lược phát triển

Ba là, sở hữu trong tập đoàn tài chính - ngân hàng là sở hữu hỗn hợp (nhiều chủ), nhưng công ty mẹ luôn đóng vai trò chi phối, khống chế các công

ty thành viên Các công ty con có thể hạch toán trực thuộc công ty mẹ hoặc hạch toán độc lập với tư cách pháp nhân riêng Những công ty con có thể là những mắt xích liên quan đến nhau theo hình thức chuyên môn hoá trong một dây chuyền hoặc hoạt động trong những lĩnh vực độc lập hoàn toàn không liên quan gì với nhau

Một đặc điểm cuối của tập đoàn tài chính - ngân hàng là nó có thể kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành Ngày nay thì các tập đoàn tài chính - ngân hàng phát triển theo xu hướng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là phổ biến nhưng luôn có một ngành, một lĩnh vực giữ vị trí mũi nhọn Bên cạnh các đơn vị sản xuất là các tổ chức tài chính, ngân hàng và nghiên cứu ứng dụng ngày càng được chú ý hơn vì đó là đòn bẩy cho sự phát triển của tập đoàn

Trong bối cảnh mà toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn thì các tập đoàn tài chính - ngân hàng tăng cường thực thi sáp nhập, thôn tính, liên minh rộng rãi và địa phương hoá kinh doanh

Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều tập đoàn tài chính - ngân hàng khổng lồ và nổi tiếng Dưới đây là 10 tập đoàn tài chính - ngân hàng lớn nhất theo số liệu thống kê năm 2003 về tổng tài sản Các tập đoàn này đều là những ngân hàng xuyên quốc gia với chi nhánh đặt tại nhiều quốc gia khác nhau

Bảng 1.1: Mười tập đoàn ngân hàng xuyên quốc gia lớn nhất thế giới

xếp hàng theo tổng tài sản (năm 2003)

Trang 15

Tên ngân hàng

Tổng tài sản (Triệu

USD)

Số nước ngân hàng có chi nhánh

(Nguồn dữ liệu: The economicst, May 20 th 2006 – A Survey of International Banking)

1.1.2 Khái niệm về tập đoàn tài chính –ngân hàng

Khái niệm về tập đoàn tài chính - ngân hàng ở các nước và khu vực khác nhau cũng có những nét khác nhau, cụ thể:

Ở các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU): Họ gọi tập đoàn tài chính - ngân hàng là những tập đoàn liên kết phải thoả mãn điều kiện sau:

- Liên kết đó có ít nhất một công ty thực hiện các hoạt động về ngân hàng hoặc chứng khoán và ít nhất một công ty thực hiện hoạt động về bảo hiểm

- Công ty thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán hay bảo hiểm

là hạt nhân của tập đoàn, một cách cụ thể hơn, nghĩa là tỷ lệ tổng tài sản thuộc lĩnh vực tài chính này trong bảng cân đối của tập đoàn phải lớn hơn 40% Trong mỗi lĩnh vực tài chính (ngân hàng/chứng khoán hay bảo hiểm) tỷ lệ trung bình về tài sản của nó so với tổng tài sản trong tập đoàn phải lớn hơn 10% hoặc tổng tài sản của công ty nhỏ nhất kinh doanh trong lĩnh vực tài chính phải lớn hơn 6 tỷ Euro [5]

Ở Mỹ, người ta gọi những tập đoàn tài chính – ngân hàng là: “Financial holding company” nó đơn thuần chỉ là một tổ chức mà trong đó một công

Trang 16

ty được nắm giữ những công ty khác cung cấp đa dạng những dịch vụ tài chính Thực tế không yêu cầu chỉ là mô hình công ty mẹ con mà còn là công ty thực hiện đồng thời các hoạt động kinh doanh như ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm

Luật tài chính của Nhật quy định về tập đoàn tài chính - ngân hàng cũng tương đối giống với những quy định về tập đoàn ở Mỹ Trong những cuộc hội thảo quốc tế cũng đã đi đến thống nhất, tập đoàn tài chính – ngân hàng được hiểu là một liên kết và phải đáp ứng hai yêu cầu sau:

Một là, một liên kết bao gồm ít nhất hai trong số các lĩnh vực tài chính và ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán

Hai là, liên kết đó có cốt lõi kinh doanh là tài chính như ngân hàng, chứng khoán và/hoặc là bảo hiểm

Đến nay chưa có định nghĩa hay khái niệm chính thức, thống nhất về tập đoàn tài chính - ngân hàng Song trên cơ sở nguyên tắc hoạt động của tập đoàn tài chính - ngân hàng có thể hiểu tập đoàn tài chính - ngân hàng là một

tổ chức bao gồm hai hay nhiều định chế tài chính được liên kết lại với nhau

Đó là sự liên kết giữa nhiều chủ thể khác nhau hoạt động trên các lĩnh vực tài chính nhằm hướng tới một hay nhiều mục tiêu nhất định mà thường là tối đa hoá lợi nhuận, mở rộng lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và tăng cường khả năng cạnh tranh khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định Từ những đặc điểm và nguyên tắc cơ bản của tập đoàn tài chính - ngân hàng, các nhà nghiên

cứu đưa ra một khái niệm về tập đoàn tài chính - ngân hàng: tập đoàn tài chính - ngân hàng trước hết phải là một tập đoàn tài chính mà ở đó hoạt động ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của tập đoàn tài chính - ngân hàng và nó chỉ hình thành ở những điều kiện nhất định của sự phát triển kinh tế [5]

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của tập đoàn tài chính - ngân hàng

Trang 17

a Bộ máy tổ chức chặt chẽ

Đặc trưng đầu tiên là các tập đoàn tài chính - ngân hàng sự kết hợp chặt chẽ của nhiều công ty trong một tổ chức thống nhất Tập đoàn tài chính - ngân hàng được tổ chức theo ngành dọc, đứng đầu là chủ tịch tập đoàn, sau đó là giám đốc phụ trách các khối

Phần lớn các tập đoàn tài chính - ngân hàng do các ngân hàng đứng đầu Điều này phản ánh động lực ngày càng gia tăng của ngân hàng trong việc tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh khác do việc giảm sút lợi nhuận từ hoạt động cho vay và các dịch vụ ngân hàng truyền thống Những lợi thế về vốn cũng giải thích được lý do tại sao các tập đoàn do ngân hàng đứng đầu là rất phổ biến

Bảng 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của các loại hình tập đoàn

tài chính - ngân hàng

(univeral banking)

Mô hình công ty con (Parent-subsidiary relationship

mẹ-Mô hình công ty sở hữu tài chính (financial Holding Company)

Ban điều hành trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng và gián tiếp điều hành công

ty bảo hiểm, chứng

Ban điều hành thực hiện quyền nắm giữ cổ phần trong tất cả các công ty con

Cổ đông Ng©n hµng

Kinh doanh Ngân hàng

Kinh doanh chứng khoán

Kinh doanh bảo hiểm

Cổ đông Ngân hàng

Công

ty chứng khoán

Công

ty bảo hiểm

Ngân hàng

Cổ đông Ngân hàng

Công

ty bảo hiểm

Công ty chứng khoán

Trang 18

khoán thông qua quyền nắm giữ cổ phần tại các công ty này

Các công ty con (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) nắm giữ vốn chủ sở hữu

Các công ty con (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) nắm giữ vốn chủ sở hữu

Việc lan truyền rủi ro

có thể được ngăn ngừa ở một mức độ nhất định Công ty

mẹ có một phần tác động nhất định lên các công ty con

Dễ dàng ngăn ngừa sự lan truyền rủi ro giữa các công ty Giữa các công ty có sự độc lập tương đối và không chịu rủi ro trực tiếp lẫn nhau

Nguồn: Tài liệu hội thảo về việc xây dựng mô hình tài chính – ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 8/2006

Phần lớn các tập đoàn tài chính - ngân hàng do các ngân hàng đứng đầu Điều này phản ánh động lực ngày càng gia tăng của ngân hàng trong việc tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh khác do việc giảm sút lợi nhuận từ hoạt động cho vay và các dịch vụ ngân hàng tuyền thống Những lợi thế về vốn cũng giải thích được lý do tại sao các tập đoàn do ngân hàng đứng đầu là rất phổ biến

Trong một số trường hợp, các công ty sở hữu trung gian được thành lập

để quản lý các khu vực hoặc các vùng cụ thể Mục đích của vấn đề này là giảm thiểu chi phí quản lý đối với các vùng lãnh thổ liền kề và quản lý các dịch vụ tài chính tương tự; hoặc giải quyết các vấn đề liên quan đến luật pháp, các chuẩn mực kế toán và thuế

b Dịch vụ đa dạng

Trang 19

Các hoạt động và các dịch vụ của tập đoàn tài chính - ngân hàng đang chuyển từ các hoạt động truyền thống (tập trung vào các lĩnh vực như: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) sang phương thức tập trung vào khách hàng Theo phương thức này, tập đoàn tài chính - ngân hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng bằng cách cung ứng tất cả các loại hình sản phẩm tài chính: cấp tín dụng, tư vấn, dịch vụ bảo hiểm, quản lý tài sản, quản lý tài chính,

Các tập đoàn tài chính - ngân hàng tư nhân có xu hướng cung cấp một loạt các dịch vụ đặc biệt phản ánh lịch sử phát triển cũng như chiến lược quản

lý của họ Các dịch vụ này xuất phát từ mục tiêu là tập trung vào khách hàng bao gồm các công ty lớn (bán buôn) và các cá nhân (bán lẻ) hoặc là hoạt động

cả trong nước và quốc tế Nhìn chung, xu hướng này nhấn mạnh tới các đại lý bán lẻ và hoạt động kinh doanh quốc tế Tuy nhiên, những dịch vụ này cũng

có xu hướng biến đổi theo thời gian

c.Sử dụng hình thức sáp nhập và mua lạ i để thà nh lập tập đoà n

tà i chính - ngâ n hà ng

Sự thành lập và mở rộng tập đoàn tài chính - ngân hàng được thực hiện bởi các hoạt động sáp nhập và mua lại, cụ thể là ở Châu Âu và Mỹ từ những năm 90 Ví dụ: nghiên cứu của nhóm G10 đã chỉ ra rằng trong 13 quốc gia thuộc G10 cộng với Tây Ban Nha và Úc thì có tới 1.376 trong số 7.304 là các giao dịch sáp nhập và mua lại liên quan đến các tổ chức tài chính- ngân hàng là giao dịch liên ngành từ những năm 1990-1999, chiếm 20% tổng các giao dịch [9]

d Đặc điểm theo quốc gia:

Tập đoàn tài chính- ngân hàng tại những nước khác nhau có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của quốc gia đó Ví dụ, tại Mỹ, các tập đoàn tài chính- ngân hàng tham gia vào cả kinh doanh ngân hàng và kinh doanh

Trang 20

chứng khoán, tuy nhiên trong lĩnh vực bảo hiểm thì phần lớn các tập đoàn tài chính- ngân hàng chỉ bán các sản phẩm bảo hiểm mà không tham gia bảo lãnh bảo hiểm Gần đây, một số tập đoàn tài chính- ngân hàng đã bán các công ty bảo hiểm mà trước đây họ mua lại Tại Nhật Bản, theo luật, các ngân hàng, công ty chứng khoán tham gia vào lĩnh vực của nhau thông qua các công ty con, các tập đoàn tài chính- ngân hàng thường do ngân hàng đứng đầu và không một tập đoàn nào có công ty bảo hiểm Tại Châu Âu, từ cuối những năm 1980, xu hướng hợp nhất giữa ngân hàng và bảo hiểm hình thành một loạt tập đoàn ngân hàng bảo hiểm, đem lại lợi nhuận từ việc kinh doanh "dịch

vụ toàn diện"

1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của tập đoàn tài chính - ngân hàng

Một tập đoàn tài chính- ngân hàng có thể hoạt động theo mô hình này hay mô hình khác, nhưng cũng cần đảm bảo một số nguyên tắc hoạt động sau:

Thứ nhất, là tối đa hoá lợi nhuận

Thứ hai, là đảm bảo tính ổn định trong toàn hệ thống; các công ty con chủ động sử dụng vốn tự có trong sản xuất - kinh doanh, tập đoàn không có quyền can thiệp vào phần lợi nhuận thu được từ nguồn vốn này

Thứ ba, quan hệ tài chính giữa công ty mẹ và công ty con chủ yếu là quan hệ hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty con vay vốn từ nguồn vốn chung của tập đoàn và các công ty con khác trong tập đoàn được hưởng lãi suất từ việc cho vay này theo tỷ lệ vốn góp

Thứ tư, công ty mẹ không chỉ đóng vai trò tập trung mà còn điều hoà nguồn vốn giữa các công ty con nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, việc dịch chuyển vốn từ công ty mẹ tới công ty con và ngược lại cũng được tính lãi suất theo quy định của tập đoàn

Thứ năm, vốn tích luỹ đóng vai trò rất quan trọng và là nguồn vốn chủ yếu trong việc tăng cường quy mô của tập đoàn

Trang 21

Cuối cùng vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng được tăng cường và giữ nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo quỹ đạo hoạt động cho các công ty con và của toàn hệ thống

1.2 Các mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng

1.2.1 Ngân hàng đa năng

1.2.1.1 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng đa năng

Ngân hàng đa năng (Universal Banking), nghĩa là trong một ngân hàng bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh tài chính của tập đoàn Cấu trúc tổ chức này được mô tả như sau:

Mô hình 1.1: Ngân hàng đa năng (Universal Banking)

1.2.1.2 Đặc điểm của ngân hàng đa năng

Ngân hàng đa năng cung cấp các dịch vụ tài chính không chỉ là ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại mà còn cả bảo hiểm Ban điều hành trực tiếp điều hành hoạt động trong mỗi loại hình kinh doanh của ngân hàng và gián tiếp thực hiện quyền nắm giữ cổ phần tại các công ty Mối quan hệ về vốn giữa các công ty con thì không có quy định riêng mà có thể phân phối vốn đối với từng công ty tùy theo mục đích quản lý Do đó việc khoanh rủi ro giữa các công ty con là rất khó khăn, bên cạnh đó rủi ro của lĩnh vực này có thể kéo theo sự rủi ro của lĩnh vực khác

CÁC CỔ ĐÔNG

NGÂN HÀNG

Kinh doanh ngân hàng

Kinh doanh bảo hiểm

Kinh doanh chứng khoán

Trang 22

1.2.1.3 Tính ưu việt của ngân hàng đa năng:

Ngân hàng đa năng nhờ quy mô lớn nên có thể chiếm lĩnh được thị trường, dành thế độc quyền và có khả năng cạnh tranh lành mạnh Còn trong quá trình tập trung hoá và quốc tế hoá hệ thống ngân hàng, do cơ cấu vốn lớn

và đa dạng nên ngân hàng đa năng có đủ nguồn tài chính để cung cấp những khoản tín dụng lớn hay đầu tư đổi mới công nghệ nhờ đó mà có sức cạnh tranh cao nên nguy cơ đổ vỡ của ngân hàng đa năng là rất nhỏ

Ở Châu Âu, ngân hàng có thể kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán nhưng các nước công nghiệp lớn không cho phép bất kỳ một công ty đơn lẻ nào được kinh doanh trong cả ba lĩnh vực (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán)

1.2.2 Mô hình công ty mẹ - con

1.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty mẹ con

Mô hình công ty mẹ con (Parent –subsidiary relationship) theo đó công ty

mẹ là công ty nắm cổ phần chi phối các công ty con và đóng vai trò như là hạt nhân liên kết Mô hình công ty mẹ con được tổ chức theo cấu trúc được trình bày theo mô hình sau:

Trang 23

Mô hình 1.2: Mô hình công ty mẹ con (Parent – subsidiary relationship)

1.2.2.2 Đặc điểm của mô hình công ty mẹ con

Các cổ đông của ngân hàng quản lý trực tiếp các ngân hàng nhưng không quản lý trực tiếp các công ty bảo hiểm hay công ty chứng khoán Còn lãnh đạo các ngân hàng thì quản lý trực tiếp hoạt động của công ty chứng khoán

và công ty bảo hiểm Do đó với mô hình này vốn của ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm được quản lý một cách độc lập nhưng vẫn

có thể xảy ra rủi ro dây chuyền Ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm nắm giữ vốn chủ sở hữu Do đó, việc khoanh rủi ro giữa các công

ty con có thể ngăn ngừa lan truyền được ở mức nhất định Những tác động của an toàn mạng lên hoạt động của ngân hàng mẹ có thể tác động tới các công ty con

Ở Mỹ, mô hình tập đoàn này chỉ được chấp thuận khi các ngân hàng quốc gia kinh doanh bảo hiểm hay chứng khoán Mô hình này cũng được cho phép thực hiện ở Nhật Bản (gọi là mô hình các công ty con trong lĩnh vực cá biệt)

1.2.2.3 Tính ưu việt của mô hình công ty mẹ - con

Mô hình công ty mẹ - con kết hợp được nguyên tắc tập trung và phân quyền theo hướng các nhà quản lý cấp cao của tập đoàn tập trung và các

CÁC CỔ ĐÔNG

NGÂN HÀNG

Công ty chứng khoán

Công ty bảo hiểm

Trang 24

quyết định mang tính chiến lược, dài hạn và quan trọng nhằm đảm bảo tối ưu hoá toàn bộ các hoạt động của tập đoàn, các quyết định điều hành kinh doanh được phân cho cấp dưới thực hiện

Một điều cần nhấn mạnh là sự tối ưu hoá toàn bộ hoạt động của tập đoàn

và các công ty thành viên được thực hiện thông qua việc huy động các nguồn lực lớn hơn để xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh một cách có hiệu quả, điều hoà các giao dịch bên trong của tập đoàn Văn phòng và các ban chức năng của tập đoàn thực hiện chức năng nghiên cứu , xây dựng chiến lược và điều hành giao dịch nội bộ tập đoàn đã tạo ưu thế trong việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong tập đoàn

Với mô hình “công ty mẹ - con”, công ty mẹ đóng vai trò quản lý chung, đặc biệt là vai trò phân phối vốn Các tập đoàn tài chính có thể hình thành các công ty con theo quy định chung của pháp luật và quy định trong lĩnh vực hoạt động riêng Việc thành lập như vậy có một số lợi thế, chẳng hạn như các giám đốc tập đoàn không phải chịu trách nhiệm hoạch định các chiến lược chung cho hoạt động của toàn tập đoàn Tuy nhiên, những lợi thế như vậy bị giảm bớt trong một số mô hình công ty mẹ - công ty con khi giám đốc điều hành nằm trong cả các ban của ngân hàng và các công ty con hoạt động chính là ngân hàng

1.3 Điều kiện và hình thức xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng

1.3.1 Điều kiện thành lập

Nghiên cứu về các mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng của các nước trên thế giới, có thể thấy để trở thành một tập đoàn tài chính - ngân hàng thì các điều kiện cơ bản phải đáp ứng đó là:

1.3.1.1 Điều kiện từ môi trường bên ngoài

Việc xuất hiện các mô hình tổ chức mới với cách thức vận hành mới

là một phạm trù lịch sử, có tính độc lập khách quan Thực tế đã chứng

Trang 25

minh sự can thiệp của nhà nước chỉ là điều kiện cần với ý nghĩa hỗ trợ và thúc đẩy Tuy nhiên, nếu không có sự hỗ trợ từ phía nhà nước thì rất khó có thể có được những tập đoàn hùng mạnh Vì vậy, vấn đề thay đổi nhận thức, quan điểm cũng như thay đổi cách tư duy, cách tiếp cận về tập đoàn tài chính

- ngân hàng đi cùng với việc cải cách khuôn khổ thể chế phù hợp với các qui định, tập quán, nhất là vấn đề đổi mới mô hình quản trị phải được đặt ra trong việc xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng Việc nhà nước tạo điều kiện về thể chế và cơ chế khuyến khích các định chế tài chính đủ tiềm lực tài chính,

đủ điều kiện liên kết, sáp nhập, hợp nhất, giảm thiểu các thủ tục hành chính và

sự can thiệp từ phía nhà nước; xây dựng chính sách trên nguyên tắc không dùng giải pháp hành chính thuần tuý để ghép nối mà chủ yếu sử dụng các giải pháp cơ chế, chính sách để thúc đẩy đầu tư, liên kết Đây là các nhân tố có tính định hướng lớn, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy tốt nhất sự ra đời của tập đoàn tài chính - ngân hàng

1.3.1.2 Điều kiện từ chính bản thân các NHTM

Các ngân hàng phải có tình trạng tài chính tốt, đáp ứng đủ năng lực về vốn, về tỷ lệ an toàn, về nợ quá hạn theo chuẩn mực quốc tế Từ đó, các ngân hàng cần đề ra các mục tiêu mà mình cần phải vươn tới để trở nên hoàn thiện hơn như: xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn với mục tiêu kinh doanh rõ ràng trong đó xác định được sản phẩm cốt lõi của ngân hàng, đa dạng hoá các loại hình sản phẩm phù hợp với trình độ công nghệ của ngân hàng, chú trọng việc hình thành công ty mẹ mạnh về vốn, khoa học công nghệ tiên tiến, có khả năng quản lý nhân lực và thị trường tốt để từ đó hình thành nên các công

ty con Bên cạnh đó, về cơ cấu tổ chức và năng lực quản trị, cần có sự phân định tính trách nhiệm phù hợp, có sự liên kết, phối hợp tốt giữa các thành viên, giữa các bộ phận lãnh đạo, trong đó quyền và nghĩa vụ được qui định

Trang 26

một cách rõ ràng nhằm tránh sự chồng chéo và tránh sự xung đột lợi ích Cụ thể như sau:

a Quy mô vốn chủ sở hữu và tiềm lực tài chính

Vốn chủ sở hữu và tiềm lực tài chính của NHTM đóng vai trò sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và bảo hiểm cho ngân hàng khả năng phát triển lâu dài Nguồn vốn chủ sở hữu này đóng vai trò là một tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản, vì vốn giúp ngân hàng trang trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho tới khi ban quản lý có thể tập trung giải quyết các vấn đề và đưa ngân hàng trở lại trạng thái hoạt động sinh lời Nguồn vốn chủ sở hữu và tiềm lực tài chính đủ mạnh và đủ để cấp cho các công ty chuyên doanh độc lập trong từng lĩnh vực dịch vụ tài chính cụ thể Đây là tiền đề quan trọng đầu tiên có tính chất quyết định đến việc mở ra đa dạng các lĩnh vực kinh doanh khác nhau của tập đoàn tài chính - ngân hàng Vốn tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với chủ nợ (kể cả người gửi tiền) về sức mạnh tài chính của ngân hàng Hơn nữa, quy mô vốn lớn mạnh sẽ giúp cho ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn, do các khách hàng thường có quan niệm gửi tiền vào các ngân hàng lớn thì sẽ yên tâm hơn Trên cơ sở đó, đáp ứng nhu cầu vốn cho các hoạt động kinh doanh của các công ty chuyên doanh độc lập Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức dịch vụ tài chính mới của tập đoàn Đồng thời, tiềm lực tài chính dồi dào, có điều kiện đầu tư cho những chương trình và trang thiết bị mới, hiện đại hoá công nghệ Khi một ngân hàng phát triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và chấp nhận rủi ro gắn với

sự ra đời của những dịch vụ mới và những trang thiết bị mới Sự bổ sung vốn

sẽ cho phép ngân hàng mở rộng trụ sở, xây dựng thêm những văn phòng chi nhánh để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng cường chất lượng phục vụ khách hàng Vốn được xem như một phương tiện điều tiết sự tăng

Trang 27

trưởng, giúp đảm bảo rằng sự tăng trưởng của một ngân hàng có thể được duy trì ổn định, lâu dài Có nghĩa là vốn ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của danh mục cho vay và của những tài sản rủi ro khác

b Hệ thống thông tin và công nghệ ngân hàng phải hiện đại và phát triển Khó có thể tưởng tượng nổi một doanh nghiệp nói chung, một tập đoàn tài chính - ngân hàng hay một NHTM nói riêng kinh doanh trong môi trường luôn biến động và cạnh tranh gay gắt như ngày nay mà không cần đến thông tin Thông tin đã trở thành vấn đề thiết yếu, không thể thiếu trong thời đại công nghệ thông tin phát triển với tốc độ nhanh và xu thế toàn cầu hoá, quốc

tế hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, bởi các lý do sau:

Thông tin là cơ sở quan trọng trong hoạch định chiến lược kinh doanh cũng như xây dựng kế hoạch tác nghiệp mang tính khả thi cao

Thông qua thông tin phản hồi người quản lý theo dõi được tốc độ thực hiện kế hoạch, phát hiện những lệch lạc trong xây dựng và chỉ đạo thực hiện

kế hoạch; từ đó đưa ra những điều chỉnh kịp thời

Dựa vào thông tin trong quá khứ, hiện tại và các phương pháp dự đoán thích hợp, người quản lý tiên đoán được hiện tượng trong tương lai, giúp cho

họ chủ động hơn trong điều hành công việc

Trong thời đại thương mại điện tử nói riêng và công nghệ thông tin đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay, thì nó được sử dụng như một nguồn lực kinh tế, một vũ khí trong môi trường cạnh tranh Các tổ chức kinh tế nói chung, ngân hàng nói riêng phải sử dụng thông tin ngày càng nhiều để tăng năng lực, tăng hiệu quả trong hoạt động và đem lại lợi ích cho nền kinh tế cũng như cho ngân hàng

Hiện đại hoá công nghệ: hiện đại hoá công nghệ sẽ giúp cho ngân hàng, cho tập đoàn tài chính - ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo

Trang 28

phục vụ khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác Ngoài ra, công nghệ hiện đại còn giúp cho ngân hàng, tập đoàn tài chính - ngân hàng, các công ty chuyên doanh trực thuộc mở rộng thêm loại hình dịch vụ cũng như thị trường hoạt động của mình

c Khả năng cung ứng dịch vụ tài chính tốt

Khả năng cung ứng dịch vụ tài chính thể hiện ở việc phục vụ kịp thời, thuận tiện, nhanh chóng, an toàn, chính xác và tính linh hoạt của dịch vụ Muốn vậy, các ngân hàng, tập đoàn tài chính - ngân hàng phải mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ tài chính hiện có, đồng thời đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho nền kinh tế và các kênh phân phối dịch vụ với công nghệ tiên tiến

Các ngân hàng hay tập đoàn tài chính - ngân hàng mạnh không chỉ thể hiện ở chỗ cung ứng một khối lượng vốn tín dụng lớn, chủng loại dịch vụ tài chính đa dạng cho thị trường mà là ở chỗ phương thức cung ứng các dịch vụ tài chính như thế nào Đối với các ngân hàng tiên tiến, tập đoàn tài chính - ngân hàng phát triển họ cung cấp các dịch vụ hoàn hảo, đa dạng với chất lượng cao cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau Hơn nữa một NHTM, một tập đoàn tài chính - ngân hàng kinh doanh đa năng sẽ có nhiều lợi thế

trong nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bởi vì:

Đa dạng hoá dịch vụ tài chính giúp ngân hàng phân tán và giảm thiểu rủi ro Theo các dịch vụ truyền thống và cổ điển, Ngân hàng thu lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, nhưng tín dụng lại là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi

ro và bất trắc Vì thế, thực hiện kinh doanh nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng khác bên cạnh nghiệp vụ tín dụng sẽ giúp phân tán và giảm rủi ro

Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tài chính sẽ làm tăng lợi nhuận của NHTM Khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ NHTM sẽ sử dụng triệt

để, có hiệu quả cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ của mỗi ngân hàng; do vậy

Trang 29

giảm chi phí quản lý và chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp, cũng như cho NHTM

Chỉ khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ, ngân hàng mới cung cấp được nhiều loại dịch vụ tài chính một cách nhanh chóng, linh hoạt, có chất lượng cho khách hàng và cho nền kính tế Hơn nữa, việc phục vụ khách hàng theo phương thức "trọn gói" bao giờ cũng ưu việt hơn phương thức riêng

lẻ

Tăng khả năng cạnh tranh của NHTM, của tập đoàn tài chính - ngân hàng trong nền kinh tế thị trường: để thu hút được nhiều khách hàng hơn, các ngân hàng phải thay đổi, cải tiến hoạt động sao cho đáp ứng kịp thời, thuận tiện các nhu cầu của khách hàng Những ngân hàng hoạt động đơn điệu dễ bị phá sản hoặc tự đóng cửa do không dễ dàng chuyển hướng kinh doanh hay giữ cho ngân hàng luôn hoạt động ổn định

Ngoài việc đa dạng hoá dịch vụ thì đa dạng hoá các kênh phân phối cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của mỗi ngân hàng Đa dạng hoá các kênh phân phối sẽ giúp cho các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng nhanh chóng đến tay khách hàng

d Chiến lược khách hàng phải đa dạng

Trong nền kinh tế thị trường, một công ty muốn tồn tại thì phải có hoạt động kinh doanh, để làm được điều đó thì yếu tố cần và đủ là có sự kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và khách hàng Khách hàng là nhân tố chủ yếu quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi công ty Một nguyên tắc mà các công ty nên biết và ghi nhớ đó là bằng mọi phương pháp phải đa dạng hóa các chiến lược phục vụ khách hàng

Trong kinh doanh ngân hàng cũng vậy, trước điều kiện cạnh tranh vô cùng gay gắt xảy ra ngoài việc tạo được uy tín đối với khách hàng thì các ngân hàng còn phải thường xuyên thay đổi các chiến lược kinh doanh sao cho

Trang 30

phù hợp Đa dạng hóa các dịch vụ: cung cấp dịch vụ trực tiếp đến khách hàng, cung cấp thông qua mạng, thông qua các phương thức không dùng tiền mặt, nhưng dù là phương thức nào thì các dịch vụ đó phải nhanh, chính xác và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng Có như vậy thì, các tập đoàn tài chính - ngân hàng mới tồn tại và phát triển được

e Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng

Chúng ta đều biết ngân hàng, tập đoàn tài chính - ngân hàng thuộc ngành kinh doanh dịch vụ, vì vậy, có thể nói, chất lượng cán bộ, nhân viên ngân hàng là một yếu tố quan trọng để kiến tạo sức mạnh cạnh tranh của các NHTM Nhân viên ngân hàng là người trực tiếp thực hiện các chiến lược kinh doanh (bao gồm cả chiến lược cạnh tranh) của các NHTM Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên ngân hàng chính là một "hiện hữu" chủ yếu của dịch vụ Vì vậy, với kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn, nhân viên ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị cho dịch vụ cũng như làm giảm đi, thậm chí làm hỏng giá trị của dịch vụ Bằng việc gây thiện cảm với khách hàng trong quá trình giao dịch, nhân viên ngân hàng đã trực tiếp tham gia quá trình xúc tiến bán dịch vụ Đa số các ý tưởng cải tiến dịch vụ hoặc cung ứng dịch vụ được đề xuất bởi một nhân viên ngân hàng Là lực lượng chủ yếu chuyển tải những thông tin tín hiệu từ thị trường, từ khách hàng, từ đối thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách ngân hàng Nhân viên ngân hàng có trình độ chuyên môn cao thì sẽ làm giảm rủi ro trong các khoản vay Ngoài ra, họ còn có khả năng thực hiện tốt vai trò tư vấn, giúp đỡ khách hàng trong việc thực hiện các dự án, phương án sản xuất kinh doanh Tóm lại, chất lượng nhân viên ngân hàng càng cao, lợi thế cạnh tranh của ngân hàng càng lớn

g Các yếu tố khác

Trang 31

Vị trí, địa điểm kinh doanh và khả năng mở rộng màng lưới kinh doanh: tập đoàn tài chính - ngân hàng có địa điểm kinh doanh tốt, ở những nơi tập trung dân cư, gần những trung tâm thương mại lớn sẽ có nhiều khả năng tiếp cận với khách hàng hơn Nếu ngân hàng đặt trụ sở ở cạnh ngân hàng khác có nhiều ưu thế hơn hoặc nơi đặt trụ sở không phù hợp thì sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, làm giảm khả năng cạnh tranh Hoặc có khả năng mở rộng màng lưới ra nước ngoài đến các thị trường lớn, thị thường mới nổi, trung tâm tài chính

Danh tiếng và uy tín ngân hàng: được tạo ra từ chính mức độ thoả mãn của khách hàng trong các lần giao dịch trước, từ những người quen biết, truyền miệng, từ quảng cáo Dịch vụ ngân hàng là vô hình, khách hàng không thể thử trước dịch vụ mình định mua, vì vậy cơ sở dẫn đến quyết định giao dịch với ngân hàng của khách hàng là hoàn toàn dựa vào danh tiếng và

uy tín của ngân hàng Vì thế đây là nguồn lực vô hình có giá trị lớn lao tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho các NHTM

Điều kiện pháp lý, đó là luật pháp cho phép Ngân hàng hay công ty bảo hiểm được thực hiện kinh doanh đa dạng các dịch vụ tài chính hay không Hay nói cách khác, khi thành lập các công ty kinh doanh chuyên ngành, tập đoàn tài chính - ngân hàng phải được cơ quan chức năng cấp phép

Phù hợp với xu hướng nói trên, các NHTM ở nước ta đang mở rộng hoạt động kinh doanh của mình sang nhiều dịch vụ tài chính khác nhau, như: Chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu tư, Ngược lại các tập đoàn bảo hiểm, điện lực, bưu chính viễn thông, dầu khí ở nước ta đang mở rộng các hoạt động sang lĩnh vực ngân hàng Các tập đoàn trên đang thực hiện bước đầu tiên đó

là mua cổ phần, trở thành cổ đông lớn, cổ đông chiến lược của ngân hàng Phát triển theo xu hướng hình thành các tập đoàn tài chính - ngân hàng, cũng chính là phát triển theo hướng ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp,

Trang 32

nhưng phải dựa trên cơ sở các tiền đề, điều kiện nhất định Vì vậy, về cả phía các NHTM, các tập đoàn bảo hiểm, cũng như các cơ quan quản lý cần phải thúc đẩy sự chín muồi các điều kiện cần và đủ nói trên

1.3.2 Hình thức thành lập:

Hiện nay, có 7 hình thức để xây dựng các tập đoàn tài chính - ngân hàng như:

- Các ngân hàng hạng trung kết hợp với nhau

- Các ngân hàng hạng lớn kết hợp với nhau

- Ngân hàng hạng lớn kết hợp với một/vài ngân hàng hạng trung

- Ngân hàng hạng lớn tự vươn lên thành tập đoàn (tăng vốn qua phát hành cổ phiếu, thu nạp các tổ chức phi ngân hàng,…

- Ngân hàng hạng lớn mua một/vài ngân hàng hạng trung

- Tổ chức tài chính phi ngân hàng (có thể cả tổ chức phi tài chính) mở rộng hoạt động sang lĩnh vực ngân hàng (thành lập ngân hàng trong tập đoàn)

và lĩnh vực tài chính khác (có hay không có thành lập định chế thuộc tập đoàn theo qui định của pháp luật)

- M&A (Hợp nhất và sáp nhập)

Hình thức phổ biến nhất hiện nay là M&A (Hợp nhất và sáp nhập do tham vọng quản lý – Managerial ambition) và làn sóng sáp nhập hình thành các ngân hàng khổng lồ xuất hiện là nhờ hai động lực chủ yếu: Giảm sự can thiệp của nhà nước (deregulation) vào hoạt động ngân hàng; Xóa bỏ các rào cản giữa các ngân hàng, công ty bảo hiểm và công ty chứng khoán

Tại Mỹ, thậm chí các công ty phi tài chính (non-financial companies) như tập đoàn bán lẻ Wal - Mart cũng muốn tham gia hoạt động ngân hàng bên cạnh việc hình thành các tập đoàn tài chính - ngân hàng khổng lồ, các megabank và mô hình ngân hàng cũ trở nên lỗi thời do thay đổi cơ bản về cơ cấu sau đây:

Trang 33

Sự tăng trưởng của thị trường vốn từ những năm 1980 Giai đoạn

1974-1994, trong tổng vay nợ của khu vực phi tài chính thì tỷ trọng của các NHTM

Mỹ đã giảm từ 30% xuống hơn 20% mặc dù con số tín dụng ngân hàng tuyệt đối vẫn tăng cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế Các NHTM càng lớn càng

có điều kiện hoạt động đầu tư thông qua bảo trợ (Wing) và bảo lãnh phát hành (underwriting) cổ phiếu và trái phiếu, tư vấn M&A, buôn bán chứng khoán và hàng hoá trên tài khoản của ngân hàng và của các định chế khác TTCK phát triển tạo ra những cơ hội mới cho các NHTM thông qua chứng khoán hoá (Securitise) hay bán đứt (sell off) các khoản nợ, sắp xếp các khoản phí mà không cần tăng vốn Năm 2001, khoảng 18% thu nhập phi lãi suất của các NHTM Mỹ là từ bán và cung cấp dịch vụ đối với những tài sản đã chứng khoán hoá Theo IMF, tổng tài sản của các ngân hàng châu Âu năm 2004 lên tới 28.000 tỷ USD, gấp 2,5 lần tổng giá trị thị trường chứng khoán nợ của khu vực tư nhân và gấp 3 lần mức vốn hoá (capitalisation) của thị trường chứng khoán châu Âu Ngược lại, tổng tài sản của các ngân hàng ở Mỹ chỉ có 8.500

tỷ USD, chỉ bằng một nửa so với qui mô của thị trường chứng khoán nợ khu vực tư nhân hay thị trường cổ phiếu [5]

Công nghệ tin học phát triển mạnh cũng trong những năm 1980 Xuất hiện những đối thủ cạnh tranh với các NHTM bán lẻ (retail bank), chẳng hạn như thanh toán qua điện thoại di động đã mở đường cho các công ty điện thoại cạnh tranh với NHTM trong hoạt động thanh toán và quản lý tài khoản

cá nhân Tuy nhiên, việc đó cũng không dễ dàng với các công ty điện thoại do phải đối mặt với quản lý những rủi ro tài chính và phải chấp nhận những qui định nghiêm ngặt hơn Các ngân hàng bán lẻ đưa ra những dịch vụ mới dựa trên sự phát triển của công nghệ tin học, chẳng hạn như dịch vụ ngân hàng trên mạng (online banking) trở thành phương thức mới rất có lợi cho ngân hàng trong phục vụ các khách hàng của mình Số sản phẩm bình quân đã bán

Trang 34

cho một khách hàng của một trong những ngân hàng bán lẻ tốt nhất ở Mỹ Wells Fargo đã từng từ 4,6 vào cuối năm 2004 lên 4,8 vào cuối năm 2005 Giảm sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động ngân hàng theo luật Riegle-Neal năm 1994 Xoá bỏ rào chắn giữa các ngân hàng, công ty bảo hiểm và công ty chứng khoán theo luật Gramm - Leach - Bliley năm 1999 cho phép thành lập các tập đoàn tài chính hỗn hợp (diversified financial groups) Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, đạo luật này có giá trị tương đương như việc xuất hiện đồng tiền chung châu Âu năm 1999 vì giai đoạn 1999-2004, giá trị các vụ hợp nhất thuộc lĩnh vực tài chính trong nội bộ châu Âu đạt 500

tỷ EURO, gần tương đương giá trị các vụ sáp nhập trong nội bộ nước Mỹ là

580 tỷ EURO [5]

Thực tế trên thế giới những năm gần đây cho thấy, ngân hàng khổng lồ hình thành qua 2 hình thức cơ bản là sáp nhập/hợp nhất (M&A) và tăng trưởng tự nhiên (organic growth) Trường hợp các ngân hàng "nuốt" lẫn nhau (bank-eat-bank) không nhiều Khoảng một nửa các vụ sáp nhập ngân hàng trên thế giới làm giảm giá trị cổ phần, trong khi đó, các ngân hàng hạng trung lại tăng giá trị thị trường, một phần vì các nhà đầu tư hy vọng nó sẽ được ngân hàng lớn mua lại

Ngân hàng khổng lồ, tập đoàn tài chính - ngân hàng là xu thế chung của

cả thế giới Ba siêu ngân hàng (megabank) mới của Nhật đã "nuốt" tới 11 ngân hàng cũ Mười NHTM lớn nhất của Mỹ kiểm soát 49% tổng tài sản ngân hàng cả nước Cách đây 10 năm con số này mới chỉ là 29% Ngân hàng lớn thứ 3 của Mỹ theo giá trị thị trường (market capitalisation) JPMorgan Chase

là kết quả sáp nhập giữa 550 ngân hàng và các định chế tài chính khác, 20 trong số đó sáp nhập trong vòng 15 năm qua [15]

Dưới đây, là mười vụ sáp nhập tài chính - ngân hàng lớn nhất thế giới từ năm 1995 đến nay

Trang 35

Bảng 1.3: Mười vụ sáp nhập tài chính - ngân hàng lớn nhất thế giới từ năm 1995

Đối tượng sáp nhập Chủ thể sáp nhập/năm Giá trị hợp đồng

sáp nhập (Tỷ USD)

UFJ Holdings Mitsubishi Tokyo Financial

(Nguồn dữ liệu: The economicst, May 20 th 2006 – A Survey of International Banking – p.13)

Bảng 1.4: Mười vụ đầu tư nước ngoài lớn nhất vào ngân hàng Trung Quốc

Thời

gian

Giá trị hợp đồng (triệu USD)

Trang 36

(Nguồn dữ liệu: The economicst, May 20 th 2006 – A Survey of International Banking – p.20)

1.4 Vai trò của tập đoàn tài chính - ngân hàng đối với sự phát triển nền kinh tế quốc gia:

Tập đoàn tài chính - ngân hàng được coi là một nguồn sinh lời lớn cho nền kinh tế, việc hình thành và phát triển tập đoàn tài chính - ngân hàng đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu trong mỗi nền kinh tế cụ thể là:

Trang 37

Các tổ chức được hình thành trong tập đoàn liên kết kinh tế nhằm tăng cường khả năng tích tụ, tập trung cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận trong tập đoàn

Đây là nơi có khả năng sinh lợi lớn: thông qua lợi ích kinh tế nhờ quy mô, qua việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ và phạm vi hoạt động

Hoạt động của tập đoàn tài chính - ngân hàng cho phép tiết kiệm chi phí (chi phí quản trị cũng như chi phí hoạt động): công nghệ thông tin được áp dụng mạnh mẽ, tương thích với nhu cầu phát triển dịch vụ và các sản phẩm tài chính đa dạng đã dẫn đến những thay đổi trong cơ cấu chi phí, chi đầu tư gia tăng, song chi phí giao dịch và chi phí quản lý giảm mạnh

Tập đoàn tài chính - ngân hàng còn đáp ứng được đầy đủ nhu cầu tài chính ngày càng đa dạng và phức tạp Tốc độ phát triển như vũ bão của kinh tế toàn cầu nói chung và của từng nền kinh tế nói riêng đã dẫn đến sự thay đổi mạnh

mẽ trong nhu cầu về các dịch vụ tài chính của từng cá nhân cũng như của khu vực doanh nghiệp Sự phức tạp và phong phú trong nhu cầu về các dịch vụ tài chính mới trên thị trường, đồng thời nó cũng là nguyên nhân buộc các nhà cung cấp dịch vụ tài chính hiên tại phải mở rộng hoạt động của mình bằng việc hội nhập với các nhà cung cấp mới nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng

Cuối cùng là vai trò phát triển nhờ thương hiệu: thương hiệu có uy tín sẽ đem đến lợi thế trong cạnh tranh Thế mạnh của thương hiệu sẽ được phát huy một cách xuyên suốt thông qua việc sử dụng thương hiệu của một công ty lớn,

có uy tín của tập đoàn cho tất cả các sản phẩm, dịch vụ tài chính và chuỗi các công ty cung cấp

1.5 Kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng tập đoàn tài chính - ngân hàng

Trang 38

1.5.1 Mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng Citigroup

Tập đoàn Citigroup (của Mỹ) là sự hợp nhất của hai tổ chức riêng lẻ, đó là: Citicorp và Travelers Insurance Citicorp là một tập đoàn ngân hàng đa quốc gia, hoạt động ở gần 100 quốc gia Travelers là một tổ chức hợp nhất bởi nhiều công ty khác nhau, bắt đầu từ tín dụng thương mại đến hỗ trợ tiêu dùng, môi giới và đến bảo hiểm Tập đoàn Citigroup ra đời gắn liền với quá trình hình thành Tập đoàn Citicorp

Citicorp là một trong những tập đoàn hàng đầu của Mỹ có trụ sở chính tại New York với công ty mẹ là Citibank Vào những năm đầu của thế kỷ 19, ngân hàng đã mở những chi nhánh đầu tiên ở nước ngoài (tại London năm

1902 và tại Buenos Aires năm 1914) Ngân hàng đã chuyển hướng mạnh sang hoạt động ngân hàng bán lẻ (phục vụ khách hàng cá nhân) và trở thành ngân hàng thương mại đầu tiên cho cá nhân người tiêu dùng vay tiền Trong suốt những năm 1920-1940, các hoạt động quốc tế của ngân hàng phát triển rất nhanh (đạt tới 100 văn phòng đại diện và chi nhánh tại nước ngoài) Năm

1955, ngân hàng sáp nhập với First National (New York) để trở thành một tổ hợp lớn với tên gọi First National City Bank Năm 1968, ngân hàng cải tổ để trở thành một công ty mẹ (Holding company) và hình thành một tập đoàn ngân hàng lấy tên là First National City Corp (đến năm 1974 đổi tên thành Citicorp) với hoạt động trọng tâm vẫn là các dịch vụ tài chính và ngân hàng bán lẻ Vào năm1977 Citibank là ngân hàng đầu tiên giới thiệu sản phẩm Máy rút tiền tự động (ATMs) với quy mô hơn 500 chiếc trong nội thành New York và cuối năm 1980 vượt qua Bank America để trở thành ngân hàng lớn nhất Mỹ Trong những năm 80, Citibank đã mua được cả một số tổ chức tài chính ở San Francisco, Chicago, Miami và Washington DC và đến năm

1998, thực hiện sáp nhập với hãng Travellers Group, một công ty kinh doanh

Trang 39

thẻ nổi tiếng để trở thành tập đoàn tài chính - ngân hàng hàng đầu thế giới đó

là Tập đoàn Citigroup ngày nay

Citigroup Inc là một công ty mẹ cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng toàn cầu với các hoạt động kinh doanh cung cấp một mạng lưới các dịch vụ rộng khắp cho người tiêu dùng và các công ty Citigroup có hơn 200 triệu tài khoản khách hàng và kinh doanh trên hơn 100 quốc gia Citigroup là một công ty mẹ kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, được ra đời theo Luật Công

ty mẹ kinh doanh lĩnh vực ngân hàng năm 1956 và chịu sự giám sát của Ban Thống đốc Hệ thống Dự trữ Liên bang (FRB) Một số các chi nhánh của công

ty chịu sự giám sát của các chính quyền bang tương ứng Tính đến thời điểm cuối năm 2005, công ty có khoảng 140.000 nhân viên full - time và 8.000 nhân viên bán thời gian ở nước Mỹ và khoảng 159.000 nhân viên full - time ở ngoài nước Mỹ Citigroup được quản lý theo các cấu phần và sản phẩm [5] Citigroup có 3 nhóm hoạt động kinh doanh chính: Nhóm tiêu dùng toàn cầu, Nhóm quản lý tài sản toàn cầu và Nhóm các dịch vụ ngân hàng về đầu

tư và cho vay doanh nghiệp Trong đó, Nhóm tiêu dùng toàn cầu thường chiếm tỷ trọng chi phối Nếu phân theo khu vực hoạt động kinh doanh của tập đoàn thì hoạt động ở Mỹ, tức là nơi có trụ sở chính, chiếm tỷ trọng chủ

Ch©u ¸ (trõ NhËt B¶n) (6%) NhËt B¶n (14%)

Mªhic« (10%) Ch©u Mü La tinh (5%)

(Nguồn: www.citigroup.com)

Biểu 1.2: Cơ cấu thu nhập theo sản phẩm năm 2005

Trang 40

34%

C¸c dÞch vô ng©n hµng ®Çu t- vµ doanh nghiÖp (34%)

Qu¶n lý tµi s¶n tßan cÇu (6%) C¸c kháan ®Çu t- thay thÕ Citigroup (7%)

(Nguồn: www.citigroup.com)

1.5.2 Mô hình của tập đoàn tài chính - ngân hàng OCBC

Oversea - Chinese banking Corporation (OCBC) là một trong những tập đoàn dịch vụ tài chính hàng đầu trên thị trường Singapore và Malayxia với tổng tài sản lên tới 134 tỷ đô là Xingapo (gần 90 tỷ USD) với một mạng lưới gồm hơn 310 chi nhánh và VPĐD tại 15 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm Singapore, Malayxia, In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Trung Quốc, Hồng Kông, Brunây, Nhật Bản, Austraylia, Anh và Mỹ [5]

OCBC cũng là một trong những tổ chức lớn nhất ở Singapore cung cấp dịch vụ bancassurance, cho vay hộ gia đình, tín thác, tín dụng cho các cá nhân

và cho vay các DNNVV Trên thị trường bảo hiểm, công ty con của OCBC là Great Eastern Holdings cũng là tập đoàn bảo hiểm lớn nhất ở Singpore và Ma-lay-xi-a về tổng giá trị tài sản cũng như thị phần OCBC Bank nắm khoảng hơn 80% cổ phần của Great Eastern Holdings Trong lĩnh vực quản lý tài sản, Lion Capital Management cũng là một trong những công ty quản lý tài sản lớn nhất Đông Nam Á

Ngân hàng OCBC cung cấp hàng loạt các dịch vụ ngân hàng mới và các công cụ tài chính liên quan tới cho vay tiêu dùng, cho vay doanh nghiệp, ngân hàng đầu tư, tài chính toàn cầu và quản lý đầu tư Ngoài ra, Tập đoàn OCBC còn có rất nhiều công ty con cung cấp các dịch vụ khác như bảo hiểm,

Ngày đăng: 16/04/2014, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Minh Châu (2003), Đa năng hóa hoạt động ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường ở Việt Nam. Luận án Phó Tiến sỹ Khoa học Kinh tế. Đại học Kinh tế Quốc dân. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa năng hóa hoạt động ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Minh Châu
Năm: 2003
2. Ngô Chung (2001), Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Luận án Tiến sỹ Kinh tế. Đại học Kinh tế Quốc Dân. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Ngô Chung
Năm: 2001
3. Đặng Ngọc Đức (2002), Giải pháp đổi mới hoạt động ngân hàng thương mại. Luận án Tiến sỹ Kinh tế. Đại học Kinh tế Quốc Dân. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đổi mới hoạt động ngân hàng thương mại
Tác giả: Đặng Ngọc Đức
Năm: 2002
5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (8/2006), “Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam”, Tài liệu hội thảo bàn về việc xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế tháng 08 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam”
6. Nguyễn Ngọc Oánh - Phạm Ngọc Phong (1996), Ngân hàng Việt Nam quá trình xây dựng và phát triển. Chế bản. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Việt Nam quá trình xây dựng và phát triển
Tác giả: Nguyễn Ngọc Oánh - Phạm Ngọc Phong
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 1996
7. Ngô Quốc Kỳ (2005), Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. NXB Tư pháp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Quốc Kỳ
Nhà XB: NXB Tư pháp. Hà Nội
Năm: 2005
8. Lê Văn Tư (2004), Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính. NXB Tài chính. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính
Tác giả: Lê Văn Tư
Nhà XB: NXB Tài chính. Hà Nội
Năm: 2004
10. Nguyễn Quốc Việt (2007), Thời báo hoạt động Ngân hàng. Hà Nội 11. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc giaHà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời báo hoạt động Ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Quốc Việt
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
12. Vụ Quan hệ quốc tế, Bộ Tài chính (8/1999), “Chiến lược hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính giai đoạn 2000 - 2001” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính giai đoạn 2000 - 2001
15. The Economist, May 20 th 2006, A Survey of International Banking 16. The World Bank, 2003 annual review of development effectiveness, “The effectiveness of bank support for policy reform”, Washington .DC, The World Bank, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effectiveness of bank support for policy reform
17. Đỗ Kim Sơn (1996 - 2001), A study of management in the banking sector. Theses of Ph.D. New Delhi, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study of management in the banking sector
13. Thông tin trên các trang web: www.citigroup.com www.dei.gov.vn www.avi.gov.vn www.mot.gov.vn www.wto.orgTiếng Anh Khác
14. A proposal regarding a Bank Holding Company Model, June 18, 1998,Office of the Superintendent of Financial Institutions, Bank of Canada Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của các loại hình  tập đoàn  tài chính - ngân hàng - Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của các loại hình tập đoàn tài chính - ngân hàng (Trang 17)
Bảng 1.3: Mười vụ sáp nhập tài chính - ngân hàng lớn nhất thế giới từ năm 1995 - Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.3 Mười vụ sáp nhập tài chính - ngân hàng lớn nhất thế giới từ năm 1995 (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w