Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty Sông Đà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
***************************
TRẦN THỊ PHƯƠNG NGA
XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY CẤU TRÚC MẠNG PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2006
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
***************************
TRẦN THỊ PHƯƠNG NGA
XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY CẤU TRÚC MẠNG PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số : 60.31.07
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thanh Cường
HÀ NỘI - 2006
Trang 31.1.1 Khái niệm về cấu trúc của doanh nghiệp 5 1.1.2 Khái niệm chung về mô hình công ty cấu trúc mạng 6 1.1.2.1 Thế nào là mô hình công ty cấu trúc mạng 6 1.1.2.2 Căn cứ thực tiễn của mô hình công ty cấu trúc mạng 6 1.1.2.3 Nguyên tắc xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng 9 1.1.2.4 Phương pháp xây dựng mô hình 11 1.1.3 Các mô hình công ty cấu trúc mạng 12
1.1.4 Một số đặc điểm của công ty cấu trúc mạng 15
1.2 Những điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình công ty cấu
trúc mạng
17
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của mô hình công ty cấu trúc mạng
20
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng sự hình thành và phát triển của mô
hình công ty cấu trúc mạng
20
1.3.2 Xu thế phát triển của công ty cấu trúc mạng 22
1.4 Mối quan hệ giữa mô hình công ty cấu trúc mạng và mô hình
công ty mẹ công ty con, mô hình tập đoàn kinh tế
24
Trang 4Chương 2: Thực trạng cấu trúc của Tổng công ty Sông Đà và khả
năng áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng
28
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Sông
2.3 Khả năng áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng tại Tổng
công ty Sông Đà
44
2.3.1 Những điều kiện áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng 44
2.3.2 Xác định mô hình phù hợp với Tổng công ty Sông Đà 50
Chương 3: Một số giải pháp áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng tại Tổng công ty Sông Đà
Trang 53.2 Những giải pháp áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng tại Tổng công ty Sông Đà
3.2.2.2 Xây dựng liên kết mạng trên cơ sở cấu trúc truyền
thống dựa theo hoạt động chủ yếu của Tổng công ty
68
3.2.2.3 Đổi mới cơ chế hoạt động và phương thức tổ chức 71 3.2.2.4 Tiếp tục xây dựng và phát triển nguồn nhân lực 71 3.2.2.5 Tăng cường chiếm lĩnh thị trường, sẵn sàng hội nhập kinh tế khu vực, châu lục và thế giới
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Mô hình công ty cấu trúc mạng là một vấn đề còn rất mới mẻ ở Việt Nam Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, tài liệu và khả năng của người viết nên nội dung của Luận văn khó tránh khỏi những khiếm khuyết và sai sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn tận tình của các thày cô giáo cùng
sự góp ý quý báu của độc giả
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình, những người đã tạo điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần để giúp đỡ
em hoàn thành tốt Luận văn tốt nghiệp này Đặc biệt, em xin chân thành cảm
ơn thầy giáo hướng dẫn PGS TS Lê Thanh Cường đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
Bước sang nền kinh tế thị trường, cùng với xu hướng hội nhập và phát triển của nền kinh tế, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt do có sự xuất hiện không chỉ là các đối thủ cạnh tranh trong nước mà cả ngoài nước Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành chuyên môn hóa và đa dạng hóa các ngành nghề
Quá trình này đối với các doanh nghiệp nhỏ thì phải mở rộng các mặt hàng, các lĩnh vực dịch vụ; phải đầu tư chiều sâu vào khoa học công nghệ, vào con người, thương hiệu, năng lực tài chính … Đối với các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các Tổng công ty Nhà nước, quá trình này được thực hiện bằng cách đầu tư chiều sâu chuyên môn cho các đơn vị thành viên của mình Mỗi đơn vị này sẽ được ưu tiên phát triển một thế mạnh nhất định, được đầu
tư công nghệ tiên tiến, được tập trung những cán bộ có trình độ chuyên môn cao nhất… để có thể chiếm lĩnh được mảng ngành nghề, thị trường riêng biệt Một Tổng công ty lớn sẽ có nhiều doanh nghiệp như vậy hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau Các đơn vị này, có mối liên kết với nhau và với Tổng công ty theo mô hình cấu trúc mạng Hiệu quả của Tổng công ty bằng tổng hợp hiệu quả của các doanh nghiệp thành viên như vậy Ưu điểm lớn nhất của
mô hình công ty cấu trúc mạng là tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường, giảm thiểu tối đa rủi ro, tăng sản lượng, lợi nhuận, từ đó giá trị của doanh nghiệp không ngừng tăng lên Việc phát triển mô hình công ty theo cấu trúc mạng như vậy đã được các tập đoàn khổng lồ của các nước công nghiệp phát triển hình thành và tồn tại từ rất lâu như tập đoàn Mitsubishi, Samsung, Phillip
Tổng công ty Sông Đà là một doanh nghiệp lớn trong ngành xây dựng,
để đẩy mạnh quá trình phát triển của mình, nhằm mở rộng quy mô, ngành nghề kinh doanh, tăng sản lượng và hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh
Trang 8với các đơn vị trong nước và quốc tế, tiến tới mục tiêu trở thành tập đoàn kinh
tế mạnh thì nhu cầu xây dựng Tổng công ty theo mô hình cấu trúc mạng là một nhu cầu cấp thiết
Do đó, đề tài “Xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ họat động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Sông Đà” được chọn để nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp đối với việc xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty Sông Đà
2 Tình hình nghiên cứu:
Mô hình công ty cấu trúc mạng là một lĩnh vực nghiên cứu mới và chưa
có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Trong thời gian gần đây, có một số bài viết, công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu về mô hình công ty cấu trúc mạng và mô hình công ty mẹ – công ty con (một dạng phức hợp của công ty cấu trúc mạng), trong đó tiêu biểu là tác giả Nguyễn Anh Dũng với các bài viết: “Công ty cấu trúc mạng – Một kinh nghiệm hữu ích cho đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam”, Tạp chí Những vấn kinh tế thế giới số
3 (71) tháng 6/2001; “Công ty mạng – Công ty của thế kỷ 21”, Tạp chí nghiên cứu kinh tế tháng 6/2001; tác giả GS.TS Vũ Huy Từ với tác phẩm “Mô hình tập đoàn kinh tế trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2002) và một số ấn phẩm nước ngoài như “The New Corporate Architecture” – của Gregory G.Dess, Academy of Management Executive 9,no.3;
Tuy nhiên, các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu tổng quát về mô hình công ty cấu trúc mạng nói chung, hay các dạng phức hợp của mô hình công
ty cấu trúc mạng như mô hình tập đoàn kinh tế, mô hình công ty mẹ – công ty con Các công trình nghiên cứu này chưa phân tích về khả năng áp dụng mô hình vào một doanh nghiệp cụ thể
Trang 9Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện các chính sách về đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là các Tổng công ty Trọng tâm của công tác đổi mới các Tổng công ty Nhà nước là chuyển đổi sang mô hình tập đoàn kinh tế, một phức hợp liên kết mạng Mỗi một doanh nghiệp lại có những đặc điểm khác nhau về thành phần sở hữu, lĩnh vực hoạt động, quy mô, năng lực tài chính, nhân lực Do vậy việc áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng vào từng doanh nghiệp là rất đa dạng và đòi hỏi phải có những sáng tạo nhất định
Vì vậy có thể khẳng định, đây là luận văn thạc sỹ đã tiến hành nghiên cứu một cách tương đối hệ thống và toàn điện về vấn đề xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng ở một doanh nghiệp cụ thể là Tổng công ty Sông Đà, một doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục tiêu:
Nghiên cứu những điều kiện và những giải pháp cần thiết để áp dụng
mô hình công ty cấu trúc mạng của Tổng công ty Sông Đà
* Nhiệm vụ:
- Luận giải những vấn đề cơ bản mô hình công ty cấu trúc mạng
- Phân tích và đáng giá thực trạng cấu trúc của Tổng công ty Sông Đà và khả năng áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Sông Đà
- Đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng
tại Tổng công ty Sông Đà
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn của mô hình công ty cấu trúc mạng và khả năng áp dụng tại Tổng công
ty Sông Đà
Trang 10- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Luận văn tập trung nghiên cứu và phân tích khả năng áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng Sông Đà trên cơ
sở những lý luận chung về mô hình và kinh nghiệm áp dụng của một số nước và một số Tổng công ty của Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2005
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp diễn giải, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh,
- Phương pháp mô phỏng hệ thống
- Lập các bảng biểu, đồ thị để chứng minh phân tích
6 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương I: Cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn của mô hình công ty cấu trúc mạng
Chương II: Thực trạng cấu trúc của Tổng công ty Sông Đà và khả năng
áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng
Chương III: Một số giải pháp áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng tại Tổng công ty Sông Đà
Trang 11CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CĂN CỨ THỰC TIỄN CỦA MÔ HÌNH CÔNG TY CẤU TRÚC MẠNG
1.1 Tổng quan về mô hình công ty cấu trúc mạng
1.1.1 Khái niệm về cấu trúc của doanh nghiệp
Khái niệm về cơ cấu (cấu trúc) tương ứng với sự mô tả kết hợp các yếu
tố hợp thành của doanh nghiệp Nó xác định các đặc trưng riêng biệt và bền vững của doanh nghiệp như sau: phân phối nhiệm vụ, phân phối quyền lực, truyền đạt thông tin và những cơ chế phối hợp
Cơ cấu tổ chức được hiểu là hệ thống các phần tử với mối quan hệ trong hoạt động chung bao gồm nhiều công việc riêng rẽ, cũng như những công việc phức hợp Sự phân chia công việc thành những phần việc cụ thể và
sự kết hợp các công việc này là nhằm làm rõ hiệu quả của sự liên kết các công việc trong tổ chức Mạng công việc được liên thông hợp lý nếu đảm bảo được
sự nề nếp, quy củ, kỷ cương, tính tổ chức và tính khoa học Ngược lại, khi bộ máy tổ chức không khoa học, không mang tính hệ thống, không đủ năng lực chuyên môn có thể làm cho các hoạt động quản trị kém hiệu quả, lúng túng, bị động, lãng phí các nguồn lực, từ đó dẫn đến tổ chức bị suy yếu
Như vậy, cơ cấu (cấu trúc) tổ chức của doanh nghiệp có thể hiểu là các dạng thức biểu hiện mối liên hệ giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chung của doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các
bộ phận khác nhau được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản trị và phục vụ mục tiêu chung đã được xác định Cơ cấu tổ chức càng hoàn hảo thì hoạt động sản xuất kinh doanh càng có hiệu quả, từ đó làm gia tăng lợi nhuận Ngược lại, nếu cơ cấu tổ chức công kềnh, bố trí nguồn
Trang 12nhân lực không hợp lý thì nó sẽ kìm hãm sản xuất kinh doanh và giảm lợi nhuận, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Vì vậy, việc luôn luôn phát triển và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản trị
sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp phản ứng nhanh chóng trước những biến động xảy ra trong sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp
1.1.2 Khái niệm chung về mô hình công ty cấu trúc mạng
1.1.2.1 Khái niệm về mô hình công ty cấu trúc mạng
Để hiểu được thế nào là mô hình công ty cấu trúc mạng, chúng ta cần hiểu thế nào là mạng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì “Mạng hay mạng lưới là hệ thống những đường, những mạch có cùng chức năng, là hệ thống các tổ chức, cá nhân có cùng chức năng”{21] hay nói cách khác khi nói đến mạng là nói đến cách thức liên kết các yếu tố, bộ phận có cùng chức năng trong một quá trình nhất định Khi có rất nhiều quá trình lớn nhỏ khác nhau đan xen nhau thì sẽ có kết quả là các mạng tương ứng khác nhau: mạng trong mạng, mạng đan xen mạng để trở thành mạng phức hợp
Như vậy, liên kết mạng trong doanh nghiệp bao gồm việc liên kết các
bộ phận chức năng khác nhau trong một đơn vị kinh doanh và giữa các đơn vị kinh doanh với nhau Công ty cấu trúc mạng là công ty có mô hình tổ chức theo kiểu liên kết mạng
1.1.2.2 Căn cứ thực tiễn của mô hình công ty cấu trúc mạng
Công nghệ thông tin:
Sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ đặc biệt là những tiến bộ lớn trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin đã hình thành nền kinh tế mới có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước đó Một trong những đặc trưng cơ bản có đó là cấu trúc mạng– toàn cầu Nền kinh tế thế giới đang được cấu trúc thành một mạng lưới toàn cầu
Trang 13Nền kinh tế mới là một nền kinh tế được nối mạng, tích hợp các phần
tử thành các cụm được nối mạng với các cụm khác để tạo ra của cải Cách mạng khoa học, công nghệ đã giúp các công ty nhỏ vượt qua ưu thế chính của công ty lớn đó là việc tiết kiệm nhờ mở rộng quy mô và có khả năng tiếp cận với các nguồn tài nguyên Đồng thời các công ty nhỏ này không bị đè nặng bởi các bất lợi mà các công ty lớn chịu là tính ỳ, khó có khả năng thay đổi, cấu trúc công kềnh
Nền kinh tế tổng thể sẽ hoạt động trên mạng của các mạng, và cùng với
sự hỗ trợ hữu hiệu của Internet sự ngăn cách giữa các công ty, các nhà cung cấp, các khách hàng, các nhóm liên kết và các đối thủ cạnh tranh sẽ bị phá vỡ
Công nghệ thông tin đang làm thay đổi mạnh mẽ toàn bộ thế giới Bước nhảy vọt này thể hiện trên lĩnh vực kinh tế là sự xuất hiện liên tục những sản phẩm mới, thị trường mới, cạnh tranh và độc quyền mới, tức là từng bước làm thay đổi những quan niệm cũ về nền kinh tế thị trường Đứng trước trào lưu này, sức cạnh tranh của nhiều công ty lớn đã bị giảm sút, những cung cách quản lý công ty kiểu truyền thống đã bị lung lay Sức mạnh to lớn của thông tin đã và đang tác động mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới và làm thay đổi tất
cả Khái niệm “kinh tế quy mô” truyền thống đang đứng trước sự thách thức
to lớn
Trong xã hội thông tin, công ty nhỏ chỉ có nghĩa là ít về số lượng người, nhưng nghiệp vụ của nó lại có thể triển khai rất rộng, có thể làm nên kỳ tích lớn Đó chính là vì nó có thể gia nhập vào mạng lưới tin tức để thu thập được bất kỳ thông tin và kỳ thuật nào mà nó mong muốn, nhờ đó có thể phát huy được tối đa các nguồn lực hơn hẳn các công ty trước đây bởi tính năng động, linh hoạt trong tác nghiệp
Đương nhiên, một số công ty có quy mô lớn vẫn có thể tiếp tục vận hành một cách có hiệu quả nhưng các công ty này sẽ phải thay đổi cơ cấu tổ chức một cách mạnh mẽ Các công ty lớn trong tương lai sẽ là một hình thức
Trang 14tập hợp những công ty nhỏ kinh doanh năng động trong một quan hệ tổ chức kiểu mới
Khách hàng;
Hiện nay, không còn khái niệm khách hàng chung chung nữa mà đã được định nghĩa lại hết sức cụ thể Khách hàng là người mua mà người bán đang tiến hành giao dịch tại một thời điểm cụ thể và trong quan hệ này người mua là người có quyền lựa chọn theo sở thích và nhu cầu của mình Trong thị trường đại trà trước đây, các công ty đã coi toàn bộ khách hàng chỉ là một nhóm nhỏ, thậm chí chỉ còn là một khách hàng Nhưng ngày nay, từng khách hàng cụ thể đòi hỏi và có quyền yêu cầu ứng xử theo cách thức riêng biệt phù hợp với các nhu cầu riêng của họ Họ muốn các sản phẩm mang dấu ấn đặc định và cảm tính cả về chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng, phương thức thanh toán và các dịch vụ tiện ích khác Mặt khác, một nguyên nhân rất quan trọng là khách hàng đã chiếm ưu thế trong quan hệ mua bán vì bây giờ
họ được tiếp cận và dễ dàng tiếp cận với các ngân hàng dữ liệu thông tin khổng lồ về hàng hoá, sản phẩm dịch vụ, các nhà cung cấp và tình hình cạnh tranh trên thị trường
Thế giới đang vận động và thay đổi từng ngày, khả năng sản xuất những lô hàng nhỏ trong phạm vi nhỏ đã được cải tiến rõ rệt Trong hầu hết các ngành công nghiệp, các nhà sản xuất lớn sẽ không thật sự được hưởng nhiều lợi ích từ việc sản xuất hàng loạt hay sản xuất với quy mô lớn với các nhà sản xuất nhỏ
Công nghệ thông tin làm thay đổi khái niệm thị trường truyền thống
Do kỹ thuật thông tin phát triển và trình độ tự động hoá ngày càng nâng cao, các doanh nghiệp có điều kiện cung cấp kịp thời các sản phẩm mang tính chuyên dụng, đa dạng cho mọi nhu cầu, thói quen và sở thích của khách hàng Trong tương lai không xa, bất kỳ sản phẩm nào cũng không thể có giai đoạn
Trang 15chín muồi, vòng đời của bất kỳ sản phẩm nào cũng luôn luôn bị xác định lại Còn thị trường xét theo nghĩa phân loại sản phẩm cũng bị phân rã tương ứng
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin cũng làm thay đổi mối quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Trước đây, khi một công ty mua hàng của một công ty khác, việc đầu tiên giữa hai bên là trao đổi, thương lượng Điều mà hai bên quan tâm là lợi ích trực tiếp của công ty mình,
ít nghĩ đến những mặt khó khăn và vận mệnh của đối phương, càng không có
sự hợp tác Hiện nay, mạng lưới hợp tác, liên minh giữa các công ty bắt đầu hình thành Hợp tác giữa các nhà sản xuất và người phân phối trong một tế bào kinh tế đơn nhất, liên minh từng phần giữa các đối thủ để sử dụng chung
ưu thế của nhau và giảm bớt sự gay gắt của cạnh tranh Đây là một mối quan
hệ kinh tế kiểu mới mà lợi ích của bản thân công ty liên quan đến sự thành công của bạn hàng Chất lượng sản phẩm của bạn hàng được nâng lên, hoạt động sản xuất kinh doanh được phát triển, lãi được tăng thêm thì nguồn vật tư
Trang 16của công ty mình cũng được đảm bảo, ngược lại thì lợi ích của bản thân công
ty sẽ bị ảnh hưởng và bất lợi Cho nên, các thành viên trong mạng lưới liên kết, hợp tác, quan tâm lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển dựa trên việc bổ sung cho nhau những ưu thế và cùng chia sẻ những khó khăn
1.1.2.3 Nguyên tắc xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng:
Các quan điểm xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng:
Quan điểm thứ nhất:
Việc hình thành cơ cấu tổ chức bao giờ cũng xuất phát từ việc xác định mục tiêu và phương hướng phát triển Trên cơ sở này, tiến hành tập hợp cụ thể các yếu tố của cơ cấu tổ chức và xác định mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó Đây là quan điểm theo phương pháp diễn giải đi từ tổng hợp đến chi tiết được ứng dụng đối với các cơ cấu tổ chức quản trị đang hoạt động
Quan điểm thứ hai:
Việc hình thành cơ cấu tổ chức trước hết phải được bắt đầu từ việc mô
tả chi tiết hoạt động của các đối tượng quản trị và xác lập tất cả các mối liên
hệ thông tin, rồi sau đó mới hình thành cơ cấu tổ chức quản trị Quan điểm này đi theo phương pháp quy nạp từ chi tiết đến tổng hợp và được ứng dụng trong trường hợp hình thành cơ cấu tổ chức quản trị mới
Quan điểm thứ ba:
Hình thành cơ cấu tổ chức mạng theo phương pháp hỗn hợp, nghĩa là
có sự kết hợp một cách hợp lý cả quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ hai nhằm hoàn thiện hoặc hình thành cơ cấu tổ chức quản trị, sau đó mới tổ chức công việc nghiên cứu chi tiết cho các bộ phận trong cơ cấu, soạn thảo các điều
lệ, quy chế, nội quy cho các bộ phận của cơ cấu ấy, đồng thời xác lập các kênh thông tin cần thiết
Các nguyên tắc xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng:
Liên kết mạng được thực hiện từ trên xuống dưới chứ không phải theo chiều ngược lại tức là phải đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất, lãnh đạo
Trang 17và thực hiện theo đường lối đã vạch ra Doanh nghiệp là một chỉnh thể thống nhất hoạt động theo tầm nhìn và sứ mệnh đã xác định Thiết kế lại mô hình là một nỗ lực từ trên xuống dưới, đòi hỏi phải có sự tham gia và ủng hộ không ngừng của ban lãnh đạo cao nhất và toàn thể người lao động trong doanh nghiệp Liên kết mạng phải được thực hiện từ ngoài vào trong, từ tổng hợp đến chi tiết Cấu trúc mạng được áp dụng ở hoạt động lớn nhất của toàn doanh nghiệp sau đó áp dụng dần cho các hoạt động nhỏ hơn
1.1.2.4 Phương pháp xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng:
Phương pháp xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng về cơ bản dựa trên phương pháp phân tích theo yếu tố gồm ba giai đoạn như sau:
Xác định các thành phần cho các bộ phận của cơ cấu
Xác định mối liên hệ giữa các bộ phận
Xác định những đặc trưng
bộ phận (chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn)
Quy định hoạt động của
cơ cấu tổ chức quản lý (điều lệ, nội quy )
Trang 18Hình 1.1: Các giai đoạn xây dựng mô hình công ty cấu trúc mạng
Ngoài ra, chúng ta có thể kết hợp với phương pháp tương tự để qua đó
kế thừa những kinh nghiệm thành công và gạt bỏ những yếu tố bất hợp lý của các cơ cấu tổ chức có sẵn và lựa chọn các mô hình cấu trúc chuẩn từ các doanh nghiệp có tính đồng nhất về sản phẩm, tính đồng nhất về các chức năng quản trị, tính gần nhau về lãnh thổ, đặc điểm ngành kinh tế- kỹ thuật đang áp dụng Vì vậy, quá trình hình thành cơ cấu nhanh, chi phí để thiết kế lại cơ cấu nhỏ, thừa kế những kinh nghiệm hữu ích của quá khứ
1.1.3 Các mô hình công ty cấu trúc mạng:
1.1.3.1 Mô hình mạng nội bộ:
Một doanh nghiệp được cấu trúc theo hình thức này bao gồm công ty gốc và các công ty vệ tinh trực thuộc liên kết với nhau để thực hiện hầu hết các công đoạn trong quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm Các công ty liên kết với nhau theo các hình thức sở hữu đa dạng và công ty gốc sở hữu phần lớn hoặc toàn bộ các tài sản có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty vệ tinh và là khách hàng của nhau trong dây chuyền cung cấp sản phẩm hay dịch vụ và vì vậy có tính chất “nội bộ”
Trang 19Hình 1.2: Mô hình mạng nội bộ
Ngoài ra, doanh nghiệp còn đưa vào nội bộ các tiêu chuẩn của thị trường có được thông qua sự hợp tác giữa các công ty vệ tinh với các công ty bên ngoài
Một vấn đề cơ bản của mạng nội bộ là các đơn vị sẽ phải áp dụng các tiêu chuẩn và giá cả của hàng hoá và dịch vụ được thiết lập bởi thị trường thông qua các hình thức hợp tác đan chéo nhau trong và ngoài tập đoàn thay
vì cơ chế giá nội bộ được quy định ước chừng và giả tạo thông qua các giao dịch nội bộ Và chỉ bằng cách đó các công ty mới liên tục và không ngừng tìm kiếm các giải pháp đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động
Một mạng nội bộ được chấp nhận sẽ giúp tối ưu hoá việc sử dụng và khai thác các nguồn lực, rút ngắn thời gian phản hồi với các cơ hội thị trường Công ty gốc sẽ trở thành một công ty đầu tư nắm giữ và duy trì một mảng thống nhất và đầy đủ hệ thống các tổ hợp chuyên môn hoá Mỗi bộ phận trong
tổ hợp được gọi là một nút mạng sở hữu khả năng hoàn thành hoàn chỉnh sản
Liên kết môi giới
Cung cấp
Thiết
kế
Sản xuất
Phân phối
Trang 20phẩm chuyên môn hoá trên thị trường Công ty gốc thông qua các công ty vệ tinh để triển khai các dự án và kế hoạch đầu tư,
1.1.3.2 Mô hình mạng ổn định
Khi nói đến mạng ổn định người ta thường nói đến cấu trúc mạng theo
đó một phần hoạt động kinh doanh của công ty được đưa ra ngoài Công ty chỉ giữ lại các yếu tố cốt lõi nhất tạo nên giá trị của công ty và đưa ra bên ngoài các yếu tố khác mà các công ty bên ngoài làm tốt hơn để tạo nên sự linh hoạt và mềm dẻo trong quá trình tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp sau
đó liên kết với các công ty bên ngoài bằng các hợp đồng hợp tác chiến lược hoặc qua các quan hệ tài chính đầu tư Vì vậy, tài sản của doanh nghiệp có thể được sở hữu bởi nhiều công ty khác nhau nhưng tất cả các tài sản đó đều chỉ tập trung cho các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp này thôi
Thông thường rất nhiều các nhà cung cấp tập trung xung quanh một công ty gốc có quan hệ hoặc là để cung cấp đầu vào hoặc là để phân phối đầu
ra cho doanh nghiệp đó
Ưu điểm lớn nhất của mô hình công ty mạng ổn định chính là sự linh hoạt, đa dạng của nguồn cung cấp và phân phối cũng như sự hợp tác chặt chẽ trong tiến độ và chất lượng giao hàng Các doanh nghiệp có đặc điểm tập trung vào các cơ hội lớn hơn là nguồn lực thường lựa chọn hình thức này
Trang 21Hình 1.3: Mô hình mạng ổn định
1.1.3.3 Mô hình mạng năng động
Trong bối cảnh thị trường luôn thay đổi, khách hàng có nhu cầu ngày càng đa dạng và khác biệt, cạnh tranh khốc liệt thì nhiều doanh nghiệp (nổi lên là các hãng thời trang, sản xuất đồ chơi, xuất bản, phim ảnh và công nghệ sinh học ) áp dụng chiến lược đưa ra ngoài một cách mạnh mẽ các hoạt động
sự linh hoạt, mềm dẻo của mạng ổn định
Trong mạng năng động, mỗi một công ty vệ tinh hoặc công ty bên ngoài trở nên một điểm nút và thể hiện một kỹ năng cực kỳ chuyên sâu để khi
Cung cấp
Doanh nghiệp gốc
Cung cấp Cung cấp
Cung cấp
Trang 22công ty gốc và với thị trường Tất nhiên, trong mạng năng động, khi thực hiện
sự phối hợp vì phải trải qua nhiều công ty (công ty vệ tinh và công ty bên ngoài) nên có nhiều rủi ro về sự cam kết thực hiện hợp đồng, về chất lượng hàng hoá và dịch vụ, rủi ro các nhà cung cấp/ bán hàng không có đủ các bộ phận/chuyên gia chuyên môn hoá sâu và khả năng ứng dụng công nghệ và kiến thức thích hợp tại doanh nghiệp
tổ chức rất nhanh chóng và hiệu quả
Trên thế giới đang diễn ra quá trình chuyển đổi các công ty quốc tế, công ty đa quốc gia thành các công ty toàn cầu Tính chất toàn cầu không thể hiện là phải có mặt ở khắp nơi trên thế giới mà thể hiện ở tầm nhìn toàn cầu
để phát triển công ty Các công ty tổ chức theo hình thức mạng cũng có thể coi là công ty toàn cầu bởi vì theo cách liên kết mạng nó có thể tập trung mọi nguồn lực trên thế giới phân phối các sản phẩm và dịch vụ với giá cả và chất lượng tốt nhất trên toàn thế giới
Cung cấp
Môi giới
Phân phối
Trang 23Ưu điểm thứ hai là lực lượng lao động năng động và chịu thử thách Việc tuyển dụng lao động của công ty được thực hiện rất linh hoạt, năng động
và mềm dẻo bởi vì công ty có thể tuyển dụng đa dạng nhân viên do các yêu cầu công việc phát sinh và cũng có thể thay đổi trong thời gian ngắn
Lực lượng lao động có thể nhanh chóng được thay đổi để phù hợp với
cơ hội của thị trường Đối với các nhân viên làm việc lâu dài thì sự thử thách
do các công việc đa dạng hơn theo hướng chuyên sâu trong một cấu trúc gọn nhẹ đòi hỏi phải tập trung học hỏi và nâng cao trình độ
1.1.4.2 Hạn chế của công ty cấu trúc mạng
- Thiếu sự điều khiển và quản lý trực tiếp Các giám đốc không điều khiển và giám sát tất cả các hoạt động chi tiết mà phần lớn tập trung vào các hợp đồng, sự hợp tác và hệ thống thông tin để phối hợp thực hiện công việc
- Thiếu sự chặt chẽ về công tác tổ chức và giám sát Nếu một nhà thầu phụ không giao hàng đúng hạn, hoặc bị phá sản hay nhà máy có sự cố thì công ty gốc khó có thể điều chỉnh để khắc phục
- Thiếu sự trung thành của nhân viên Người lao động có cảm giác rằng
họ có thể dễ dàng bị thay thế bằng những hợp đồng hợp tác kinh doanh doanh và những dịch vụ thay thế lao động mới phát sinh
Bảng 1.1: So sánh công ty cấu trúc mạng và công ty truyền thống
Stt Tiêu thức Công ty
truyền thống Công ty cấu trúc mạng
1 Cấu trúc Hình tháp, thứ bậc Mạng
2 Phạm vi Nội bộ, khép kín Bên ngoài, mở rộng
3 Chuyên môn hoá Công ty lớn đa lĩnh
vực
Tổ hợp công ty, công
ty chuyên sâu
4 Liên kết Khi cần thiết Là chủ đạo
5 Bí quyết công Phân tán Được chia sẻ
Trang 24nghiệp
6 Phương thức kinh
doanh
Truyền thống Thương mại điện tử
7 Đổi mới Những chỗ cần thiết Liên tục đổi mới
8 Nguồn lực được tập
trung
Vốn Con người, thông tin
9 Trạng thái Tĩnh, ổn định Năng động, thay đổi
10 Người được chú ý Giám đốc Chuyên gia
11 Động lực chính Thưởng và phạt Sự cam kết
12 Cơ sở hành động Chỉ huy Uỷ quyền
13 Động lực cá nhân Thoả mãn cấp trên Đạt mục tiêu của nhóm
14 Quan hệ Cạnh tranh, sự sống
của tôi
Hợp tác, thử thách của chúng ta
1.2 Các điều kiện cần thiết để áp dụng mô hình công ty cấu trúc mạng
1.2.1 Điều kiện vĩ mô
Công ty cấu trúc mạng chỉ phát triển và có hiệu quả khi hội đủ những điều kiện cần thiết về môi trường kinh tế, khoa học công nghệ và trình độ tổ chức quản lý Nhà nước, đó là:
- Hạ tầng cơ sở phục vụ lưu thông hàng hoá, các công cụ và tổ chức phục
vụ lưu chuyển hàng hoá bao gồm giao thông, bưu chính, viễn thông, thương mại tài chính và bảo hiểm v.v phải được ổn định theo xu hướng chi phí ngày càng giảm tạo các điều kiện an toàn và ưu đãi để giữ gìn các lợi thế so sánh
- Đối với thể chế và cơ chế trao đổi trên thị trường thì yêu cầu tối thiểu là phải có các nguyên tắc và luật lệ về bảo hộ quyền sở hữu tài sản, về hợp đồng và thực hiện hợp đồng
- Công ty cấu trúc mạng chỉ được ra đời và có điều kiện phát triển dựa trên các mối liên kết chặt chẽ về pháp lý như các cơ cấu sở hữu khác
Trang 25nhau được thừa nhận, các hình thức hợp đồng liên doanh và hợp tác chiến lược được luật pháp bảo hộ
- Công nghệ thông tin phải phát triển đến mức có thể hình thành nên mạng thông tin đa dạng, phong phú và luôn được cập nhật giữa các ngành có quan hệ mật thiết về kinh tế với nhau (thị trường cung cấp, tiêu thụ, về mức độ chặt chẽ trong hoạt động cung cấp các nguồn lực)
- Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước phải được củng cố để hỗ trợ việc chuyển đổi mô hình tổ chức của doanh nghiệp và giải quyết các khía cạnh trọng yếu trong kinh doanh như các chính sách về thị trường vốn, chính sách thuế, chính sách đầu tư và đặc biệt là việc triển khai giải quyết các vấn đề pháp lý về các liên kết (công ty mẹ, công ty con, công
ty liên kết, liên minh chiến lược, đối tác hợp tác, hợp đồng liên kết cung cấp nguyên liệu, hợp đồng liên kết phân chia sản phẩm và thị trường)
1.2.2 Điều kiện vi mô
Về quy mô:
Công ty cấu trúc mạng thường được áp dụng với các công ty có quy mô lớn xét về cơ hội thị trường, nguồn lực và các yếu tố quản lý Khi lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, phân công lao động diễn ra sâu sắc trong ngành công nghiệp và bản thân doanh nghiệp đòi hỏi các mối quan hệ giữa các đơn vị trong doanh nghiệp phải tổ chức lại Mức độ phát triển của phân công lao động xã hội được xác định bằng trình độ chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong quá trình sản xuất Khi số lượng các sản phẩm và dịch vụ cũng như các yếu tố sản xuất được trao đổi trên thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp nhiều hơn thì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế trong thị trường các sản phẩm và dịch vụ đòi hỏi phải được thể chế hoá tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng loại sản phẩm thông qua các mối liên kết
Về phạm vi và tính chất hoạt động:
Trang 26Công ty cấu trúc mạng được áp dụng cho doanh nghiệp có tầm hoạt động rộng trên nhiều vùng địa lý khác nhau và thường được áp dụng nhiều đối với các công ty kinh doanh có các sản phẩm đầu ra gần nhau, tương tự nhau hoặc tính chuyên môn hoá của ngành cao Liên kết mạng xuất hiện bắt đầu và chủ yếu thông qua mối liên kết ngang giữa ít nhất hai công ty lớn kinh doanh độc lập, có tư cách pháp nhân độc lập trong cùng một ngành hoặc giữa các ngành có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế – kỹ thuật
Về sở hữu:
Các công ty áp dụng mô hình mạng thông thường có đặc điểm đa sở hữu và sở hữu hỗn hợp Mặc dù tương đối độc lập nhưng các công ty vệ tinh luôn có mục tiêu phù hợp với mục tiêu của công ty gốc và lựa chọn các chương trình tác nghiệp gần gũi với chương trình sản xuất – kinh doanh của công ty gốc thông qua sự phân công theo chiều dọc hay chiều ngang trong nội
bộ tập đoàn bằng các hợp đồng kinh tế hoặc các cam kết tài chính, tín dụng Trong mô hình mạng nội bộ, sự phụ thuộc về tài chính giữa các công ty vệ tinh và công ty gốc rất sâu sắc Do đó, việc kiểm tra, kiểm soát của công ty gốc với các công ty vệ tinh được triển khai rất chặt chẽ
Về các cơ chế tổ chức và quản lý nội bộ trong doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức mạng đòi hỏi tính linh hoạt và hợp tác tại tất cả các cấp của tổ chức Do đó, tính hiệu quả của cơ cấu mạng tuỳ thuộc vào mạng lưới truyền đạt thông tin trong tổ chức Như chúng ta đã biết, thông tin là công cụ của quản trị sản xuất kinh doanh Nếu có một hệ thống thông tin hoạt động hiệu quả sẽ giúp cho bộ máy lãnh đạo ra được các quyết định đúng đắn, kịp thời, đảm bảo cho người lãnh đạo nhanh chóng nắm được những thông tin chính xác về thị trường, về đối tượng quản trị để có thể tăng cường tính linh hoạt trong công tác điều hành
Về tình hình thị trường:
Trang 27Các doanh nghiệp sử dụng cơ cấu này khi đang hoạt động trong một môi trường có mức độ cạnh tranh mạnh mẽ đòi hỏi phải đưa ra những sản phẩm và dịch vụ đổi mới, đa dạng hoá và khác biệt Dưới những áp lực này, các nhà quản trị phải phối hợp nhiều nguồn lực để đạt được các giá trị gia tăng mới
Ngoài ra, Các nhà quản trị phải xử lý những khối lượng thông tin lớn
do sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và thị trường
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của mô hình công ty cấu trúc mạng
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng sự hình thành và phát triển của mô hình công
sở hữu cá thể nữa mà đã đi vào xã hội hóa, hợp tác hóa, phân công lao động
và sở hữu hỗn hợp Công ty cấu trúc mạng với tư cách là một loại hình tổ chức kinh doanh, tổ chức liên kết kinh tế, hay nói cách khác là một hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất phù hợp cần phải ra đời để đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy sự phát triển trở lại của lực lượng sản xuất
Quy luật tích tụ và tập trung vốn, tài sản
Mỗi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường là một tế bào sống của nền kinh tế Để tồn tại, phát triển trong quy luật cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải tái sản xuất mở rộng không ngừng Quá trình đó là quá trình tích tụ, tập trung vốn vào sản xuất Trong quá trình này, doanh nghiệp phải tích luỹ vốn
từ lợi nhuận đem lại và tăng thêm từ nguồn vốn khác như đi vay vốn, liên
Trang 28doanh liên kết, gọi vốn cổ phần… hoặc doanh nghiệp lớn thôn tính, nhận sự sáp nhập của các doanh nghiệp yếu và nhỏ hơn do đó vốn và khả năng sản xuất của doanh nghiệp đều được tăng lên Trong quá trình vận động như vậy,
sự ra đời và phát triển của các công ty cấu trúc mạng trở thành một tất yếu khách quan
Quy luật cạnh tranh, liên kết và tối đa hóa lợi nhuận
Đấu tranh để giành ưu thế trong cạnh tranh là quy luật hoạt động tất yếu của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, cuộc cạnh tranh khốc liệt đó không bao giờ chấm dứt và tất yếu dẫn đến hai xu thế chính:
Những doanh nghiệp đứng vững và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh sẽ thôn tính các doanh nghiệp bị thất bại từ đó có thêm nguồn lực
để mở rộng quy mô hoạt động của mình, bành trướng để mở rộng thị trường
Nếu cuộc cạnh tranh kéo dài bất phân thắng bại thì các doanh nghiệp
có xu hướng thoả hiệp với nhau để chấm dứt cạnh tranh, liên kết lại thành những tổ chức lớn hơn nhằm khống chế thị trường, thu lợi nhuận siêu ngạch
Như vậy, theo xu hướng nào đi nữa thì đều dẫn tới sự ra đời của các công ty cấu trúc mạng
Tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ
Yếu tố quyết định cho sự thành bại của doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh là việc nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Muốn đổi mới công nghệ cần phải có nhiều vốn, tiến hành trong thời gian nhiều năm nhưng
độ rủi ro rất cao và cần phải có lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật đủ mạnh Một doanh nghiệp nhỏ, mạnh mún biệt lập không đủ sức làm được việc trên Điều này đòi hỏi phải có doanh nghiệp lớn mà công ty cấu trúc mạng là loại hình tiêu biểu
Do ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng và suy thoái
Trang 29Nền kinh tế các nước không tránh khỏi những thời kỳ khủng hoảng và suy thoái Đó là thời kỳ vô cùng khó khăn cho các doanh nghiệp và chỉ có những doanh nghiệp có vốn và tiềm lực mạnh mới có thể vượt qua những biến động mang tính chu kỳ đó Do vậy, nhằm tránh những rủi ro và thiệt hại này các doanh nghiệp có xu hướng liên kết lại với nhau thành các công ty cấu trúc mạng có quy mô lớn để cùng tồn tại và phát triển
Trình độ khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh tế
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu hướng chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra những quan hệ gắn bó, sự phụ thuộc lẫn nhau và những tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế Thông qua quá trình tự
do hoá, thuận lợi hoá thương mại, dịch vụ, đầu tư, toàn cầu hoá tạo ra những lợi thế mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh giao lưu kinh tế giữa các nước, góp phần khai thác tối đa lợi thế so sánh của các nước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu
Quá trình toàn cầu hoá thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới và khu vực Có thể nói hiện nay hầu như không có một quốc gia nào đứng ngoài quá trình hội nhập quốc tế nếu không muốn tự cô lập mình và rơi vào nguy cơ tụt hậu Hầu hết các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ; luân chuyển các nhân tố sản xuất như vốn, lao động kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn Để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, các nước, nhất là các nước đang phát triển, đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung đó
Thông qua quá trình tự do hoá thương mại và dịch vụ, một lực lượng lớn các công ty đa quốc gia, các công ty xuyên quốc gia đã được hình thành Đây là các công ty, tập đoàn có mô hình mạng toàn cầu
Trang 30Như vậy, có thể nói trình độ khu vực hoá và toàn cầu hoá có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của của các công ty có mô hình cấu trúc mạng Tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng và phát triển mô hình cấu trúc mạng, đặc biệt là mạng toàn cầu
1.3.2 Xu thế phát triển của công ty cấu trúc mạng:
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cần phải độc lập,
tự chủ để năng động trong cạnh tranh Hơn nữa cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và phân công lao động xã hội, để tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp nghiệp phải tăng cường sự tích tụ, tập trung vốn trên cơ sở tích lũy nội bộ và liên doanh liên kết để đổi mới công nghệ, thiết bị, đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng sản phẩm với chi phí thấp nhất, cùng với sự thay đổi của môi trường đầu tư kinh doanh, để giải phóng được sức sản xuất thì việc không ngừng đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh đã trở thành một nhu cầu cầu thường xuyên của doanh nghiệp Kinh nghiệm của nước có nền kinh tế thị trường phát triển cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã rất thành công trong việc sử dụng cơ chế góp vốn để hoàn thiện cơ chế quản lý và tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Bằng việc hạn chế mức vốn góp ở nhiều mức độ khác nhau, từ đó hình thành mối quan
hệ nhiều tầng giữa công ty gốc và các công ty vệ tinh để thực hiện mục tieue phát triển nhất định trên cơ sở lợi ích kinh tế
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, công ty cấu trúc mạng thể hiện rõ
ưu điểm của mình đó là công ty gốc không chỉ chi phối công ty vệ tinh bằng vốn mà còn bằng cả uy tín, thị phần, sở hữu công nghệ, Công ty gốc đã tạo dựng được việc làm, thu nhập cho các công ty con, do đó càng tạo cơ sở vững chắc để củng cố, tăng cường sự quản lý hợp tác và lợi ích kinh tế giữa công ty gốc và công ty vệ tinh
Trang 31Mặc khác bằng cơ chế góp vốn để hình thành nên các công ty vệ tinh, công ty gốc còn sử dụng được lợi thế của các công ty vệ tinh về các mặt: lao động, tài nguyên, thị trường tiêu thụ sản phẩm
Như vậy, nhờ cơ chế góp vốn linh hoạt thông qua hình thành mối quan
hệ giữa công ty mẹ và các công ty con như trên đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển với quy mô và năng lực ngày càng lớn mạnh và vượt phạm
vi một ngành, một lĩnh vực, quốc gia để trở thành những công ty, những tập đoàn lớn mạnh như Tập đoàn Sam Sung hoạt động sản xuất kinh doanh trên 7 lĩnh vực chính như xây dựng cơ bản và kết cấu hạ tầng, vật liệu xây dựng, đóng tàu, cơ khí chế tạo các máy công cụ (thiết bị cơ khí, máy xây dựng, động cơ ) và sản phẩm gia dụng (máy giặt, điều hoà, tủ lạnh ), hoá chất, lọc dầu, điện tử và tin học Tập đoàn Huyndai, LG, DAEWOO sản xuất trên khoảng 5- 6 lĩnh vực công nghiệp quan trọng với khoảng 20, 30 công ty; 40- 50 chi nhánh trong và ngoài nước, hàng chục cơ sở nghiên cứu và đào tạo, thậm chí
có cả một hệ thống điều dưỡng, bệnh viện, khu văn hoá thể thao gắn với các khu tập thể của công nhân tại các cơ sở sản xuất tập trung của tập đoàn
Chính sự phát triển thành công của các mô hình công ty cấu trúc mạng
đã tạo ra sự quan tâm của nhà nghiên cứu quản lý và doanh nghiệp Việt Nam khi đang trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các mô hình tổ chức của mình, trong đó có Tổng công ty Sông Đà
1.4 Mối quan hệ giữa mô hình công ty cấu trúc mạng và mô hình công ty
mẹ công ty con, mô hình tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế đã xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX ở các nước tư bản phát triển Nhưng cho đến nay, các nhà kinh tế vẫn chưa cùng nhau đưa ra một tên gọi cũng như một khái niệm chính xác và thống nhất về tập đoàn kinh tế Ở các nước tư bản phương Tây, Tập đoàn kinh tế thường được gọi là Cartel, Syndiacate, Conglomerate, Incorporation, Concern , trong khi đó ở Nhật Bản lại được gọi bằng Zaibatsu trước đây hay Keiretsu
Trang 32hiện nay, còn ở Hàn Quốc lại được gọi là Chaebol Điểm khác nhau chủ yếu trong quan niệm về tập đoàn kinh tế là việc xác định tư cách pháp nhân của tập đoàn kinh tế Một số nhà kinh tế cho rằng tập đoàn kinh tế là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tài chính trên qui mô lớn
Ở nhiều nước, tập đoàn kinh tế không phải là một định chế pháp lý, tuy tập đoàn kinh tế bao gồm nhiều doanh nghiệp có mối quan hệ sở hữu và khế ước với nhau, hoạt động trong một hay nhiều ngành kinh doanh khác nhau trên một hoặc nhiều quốc gia Mặc dù có sự khác nhau nhất định về quan niệm và tên gọi nhưng tập đoàn kinh tế vẫn có một số đặc điểm chung
Tập đoàn không phải là một doanh nghiệp mà là một tổ hợp các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó các doanh nghiệp có mối liên kết với nhau bằng tài chính, công nghệ, thị trường và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp tham gia liên kết Các doanh nghiệp này kinh doanh trong cùng một ngành, một lĩnh vực hay trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau, trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia, nhưng có định hướng vào ngành sản phẩm, dịch vụ chủ đạo, lĩnh vực kinh doanh chính vượt trội trong quá trình cạnh tranh hoặc độc quyền mà có Mức độ liên kết chặt chẽ hay lỏng lẻo là tuỳ thuộc khả năng, trong đó chủ yếu là năng lực tài chính, lợi ích kinh tế, ý chí của các doanh nghiệp, kể cả ý chí của Nhà nước (đối với một số trường hợp) trong quan hệ kinh doanh Tuỳ thuộc mức độ liên kết mà tạo ra các loại hình tổ chức tập đoàn
Về mặt sở hữu thông thường các tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu hỗn hợp của nhiều chủ (dưới hình thức công ty cổ phần), hoặc của gia đình (tập đoàn gia đình ở các chaebol Hàn Quốc) hoặc cũng có thể là một chủ tại công ty mẹ
Tổ chức liên kết trong tập đoàn đều thông qua môi liên kết chủ yếu là mối liên kết công ty mẹ – công ty con Đặc điểm của mối liên kết này là:
Trang 33- Công ty mẹ tiến hành đầu tư vốn vào các công ty con và chi phối các công
ty con qua vốn đầu tư; các công ty con đầu tư tiếp vào các công ty cháu, các công ty con hoặc các công ty cháu có thể đầu tư lẫn nhau
- Công ty con hạch toán độc lập với công ty mẹ
- Công ty mẹ thường là người đầu tư lớn nhất với mức chi phối công ty con
- Mối liên kết được duy trì hoặc chấm dứt bằng cách công ty mẹ đầu tư vốn hoặc rút vốn khỏi công ty con
- Quyền của công ty mẹ, trong đó quyền chi phối và mức độ chi phối của công ty mẹ được quy định trong điều lệ của công ty con phù hợp với luật pháp về loại hình công ty con của quốc gia mà công ty con đăng ký; quyền lợi kinh tế của công ty mẹ được đảm bảo thông qua chế độ phân chia lợi nhuận theo phần vốn góp
Các liên kết khác của mối quan hệ tập đoàn bao gồm liên kết về tài chính nhưng chưa ở mức độ quan hệ dạng công ty mẹ – công ty con (mức vốn đầu tư cổ phần nhỏ hơn 50% chưa đủ mức chi phối các công ty khác cùng tham gia liên kết)
Ngoài ra, tập đoàn không chỉ liên kết bằng vốn thông qua mối quan hệ công ty mẹ – công ty con mà còn thu hút cả những doanh nghiệp độc lập, không có liên kết về vốn vào quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp trong tập đoàn Liên kết này thực hiện dưới nhiều hình thức vệ tinh như: gia công, cung cấp bán thành phẩm, cung cấp đầu vào, phân phối và tiêu thụ đầu ra Đối tác tham gia làm vệ tinh không chỉ là các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể trong nước mà còn là các doanh nghiệp, thậm chí cả các thành viên của các tập đoàn khác thuộc nhiều quốc gia
Như vậy, trong mô hình tập đoàn nếu xét về mặt sở hữu và đầu tư tài chính thì sự liên kết giữa công ty mẹ – công ty con là hình thức mạng nội bộ, trong đó công ty con thực hiện tất cả các khâu của quá trình sản xuất
Trang 34Trong trường hợp công ty mẹ đưa ra ngoài doanh nghiệp các khâu mà các công ty khác thực hiện tốt hơn bằng cách chuyển các công ty con thành các công ty liên kết hoặc có thể không tham gia đầu tư sở hữu nữa mà chuyển sang hình thức liên kết chiến lược thì đó là hình thức mạng hướng ngoại
Trong trường hợp công ty mẹ chỉ thực hiện một vài khâu cơ bản nhất còn lại phần lớn là do công ty vệ tinh – công ty không có mối liên kết sở hữu
và công ty liên kết thực hiện thì đó là hình thức mạng năng động
Mối quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con được xác định trong quy định của pháp luật và điều lệ của công ty tương đối ổn định Tuy nhiên, việc liên kết mạng thì lại rất linh hoạt Một công ty hôm nay còn là công ty con của công ty khác, ngày mai có thể chỉ là công ty liên kết hoặc hoàn toàn độc lập với công ty mẹ nếu công ty mẹ bán một phần hoặc toàn bộ số cổ phần ở công ty con cho công ty khác Ngược lại, một công ty có thể trở thành công ty
mẹ của công ty khác nếu nó mua lại được số cổ phần đủ để chi phối công ty
đó Mô hình công ty cấu trúc mạng và mô hình công ty mẹ – công ty con có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau Hay nói một cách khác, mô hình công ty mẹ – công ty con là một công ty cấu trúc mạng phức hợp
Mặc dù có các cách định nghĩa khác nhau về tập đoàn kinh tế, nhưng tất cả đều thống nhất rằng tập đoàn kinh tế là một tổ hợp công ty mẹ và các công ty con Tập đoàn có thể có quy mô nhỏ, vừa, lớn thậm chí rất lớn Tập đoàn có thể hoạt động trong một vùng, một nước hoặc xuyên quốc gia Việc hình thành công ty mẹ – công ty con đương nhiên sẽ hình thành tập đoàn kinh
tế Việc hình thành tập đoàn kinh tế dựa trên mô hình công ty mẹ – công
ty con với các liên kết mạng là hoàn toàn khả thi
Trang 35CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CẤU TRÚC CỦA TỔNG CÔNG TY SÔNG ĐÀ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH CÔNG TY CẤU TRÚC MẠNG
2.1 Giới thiệu về Tổng công ty Sông Đà
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Sông Đà
Tổng công ty Sông Đà là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Xây dựng được thành lập từ năm 1960, tên giao dịch quốc tế là Song Da Corporation Hoạt động kinh doanh chính của Tổng công ty thuộc các lĩnh vực xây lắp như xây dựng công trình thuỷ điện, cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông, xây dựng công nghiệp, dân dụng, đường dây và trạm ; đầu tư kinh doanh các dự án sản xuất công nghiệp như: điện, thép, xi măng, sản phẩm may xuất khẩu và vật liệu xây dựng khác; đầu tư kinh doanh các khu công nghiệp, đô thị, hạ tầng và hoạt động tư vấn xây dựng, xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, công nghệ xây dựng; xuất khẩu lao động; liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài phù hợp với luật pháp và chính sách của Nhà nước
Tổng công ty Sông Đà là đơn vị duy nhất ở Việt Nam có lực lượng thiết bị thi công chuyên ngành thuỷ điện tiên tiến và hiện đại Tổng công ty Sông Đà đã tham gia xây dựng hầu hết các công trình thủy điện lớn của đất nước Đó là Nhà máy thủy điện Thác Bà - 108MW, Thủy điện Hòa Bình - 1.920MW, Thủy điện Trị An - 400MW, Thủy điện Vĩnh Sơn - 66MW, Thủy điện Yaly - 720MW, Thủy điện Sông Hinh - 66MW Các công trình này đã cung cấp 70% sản lượng điện của toàn quốc, góp phần đáng kể vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tổng công ty được Nhà nước giao làm tổng thầu EPC thực hiện dự án đầu tư Nhà máy thủy điện Sê San 3- 273MW, Nhà máy thủy điện Tuyên Quang- 342MW theo phương thức hợp đồng chìa khóa trao tay và làm chủ
Trang 36đầu tư nhiều công trình thủy điện vừa và nhỏ như: Nhà máy BOT thủy điện Cần Đơn, Nhà máy thủy điện Ryninh 2, Nà Lơi, Sê San 3A, Nậm Mu theo phương thức BO
Tổng công ty đã xây dựng nhiều công trình đường dây và trạm biến áp cao thế như Đường dây 220kV Phả Lại - Bắc Giang, 500kV Bắc - Nam, 500KV Phú Lâm - Pleiku, Trạm biến áp 500KV Hòa Bình - Pleiku, Trạm biến
áp 220KV Việt Trì, Tràng Bạch, Bắc Giang, Sóc Sơn và nhiều công trình hạ thế phục vụ phát triển dân sinh khác
Bên cạnh đó, Tổng công ty đã thực hiện nhiều hợp đồng lớn thuộc lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng và cải tạo các đường giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10, Đường Hồ Chí Minh đặc biệt là xây dựng Hầm đường bộ qua đèo Hải Vân theo công nghệ đào hầm mới của Áo (NATM), các công trình công nghiệp yêu cầu kỹ thuật cao như: Nhà máy giấy Bãi Bằng, Dệt Minh Sơn, Nhà máy xi măng Bút Sơn, Nghi Sơn, Hoàng Mai và các công trình xây dựng lớn như khách sạn Thủ Đô, Tòa nhà Khách sạn Mặt trời Sông Hồng, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Trung tâm Bưu chính Viễn thông Tổng công ty là Chủ đầu tư các Nhà máy xi măng Hòa Bình, Nhà máy xi măng Sông Đà - Yaly, Nhà máy xi măng Hạ Long, Nhà máy thép Việt- Ý, Khu đô thị Mỹ Đình - Mễ Trì, Khu công nghiệp Phố Nối A Hưng Yên, cùng nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp khác
Trong quá trình trên 40 năm phát triển và trưởng thành, Tổng công ty Sông Đà đã tích luỹ được rất nhiều kinh nghiệm trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh các công trình trọng điểm lớn của đất nước Hiện nay,Tổng công ty có 67 đơn vị thành viên bao gồm các công ty 100% vốn Nhà nước, các công ty TNHH một thành viên, các công ty cổ phần , với một đội ngũ hơn 30.000 cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề (trong đó có hơn 6.000 cán bộ kỹ thuật, quản lý có trình độ Đại học và trên Đại học), có lực lượng xe máy thiết bị thi công hiện đại với giá trị trên 500 triệu USD Các công trình
Trang 37của Tổng công ty thi công luôn luôn đảm bảo chất lượng và nhiều công trình được cấp giấy chứng nhận đạt chất lượng cao
Năm 2005, tổng giá trị sản xuất kinh doanh đạt 7.375 tỷ đồng, dự kiến
kế hoạch năm 2006 là 8.100 tỷ đồng Đạt được thành quả đó là nhờ có đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng uỷ, Hội đồng quản trị Tổng công ty, với phương châm tích cực, chủ động, sáng tạo trong mọi công việc, phát huy cao
độ mọi nội lực và tiềm năng sẵn có đã đề ra được kế hoạch định hướng chiến lược sát thực, trên cơ sở đó chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện đúng mục tiêu đề ra
Tổng công ty Sông Đà đã cùng với các doanh nghiệp Nhà nước khẳng định được vai trò then chốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Với những thành tích đã đạt được, Tổng công ty Sông Đà đã được nhận nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và của ngành Xây dựng Mười một cán bộ, công nhân của Tổng công ty đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động
Ngày nay, với uy tín, chất lượng xây dựng công trình cũng như việc quản lý chỉ đạo điều hành, Tổng công ty đã được Thủ tướng Chính phủ giao làm tổng thầu xây lắp công trình thuỷ điện Sơn La Đây là công trình thuỷ điện lớn nhất Đông Nam Á với tổng số vốn đầu tư 36.933 tỷ đồng (chưa kể lãi vay trong thời gian xây dựng)
Với đặc thù ngành nghề của một Tổng công ty thực hiện thi công những công trình thuỷ điện lớn nhất của cả nước, thường là ở những vùng rừng núi, Tổng công ty Sông Đà còn hoàn thành tốt những nhiệm vụ chính trị
- kinh tế - xã hội quan trọng Để làm thuỷ điện, phải huy động lực lượng lao động lớn trong đó một phần là nhân công địa phương tại mỗi công trình Thời gian thi công kéo dài trong nhiều năm tại vùng sâu vùng xa nên vấn đề ổn định cuộc sống cho người lao động được Tổng công ty quan tâm, chú trọng
Trang 38Tuy nhiên khi mỗi công trình lớn được hoàn thành lại đặt ra những bài toán nan giải trong việc giải quyết công ăn việc làm mới và những vấn đề xã hội cho cán bộ công nhân viên Vào những năm cuối của thập kỷ 90, trước khi được nhận nhiều dự án với những tiềm năng việc làm dồi dào kéo dài trong hàng chục năm như hiện nay, Tổng công ty đã trải qua thử thách “hậu Hoà Bình” và sự đe doạ của “hậu Yaly” Những khó khăn chính của thời điểm đó
là khi lực lượng lao động lớn dư thừa, chưa thích nghi với đa dạng hoá ngành nghề nên năng lực đấu thầu chưa cao trong các dự án dân dụng và công nghiệp ngoài chuyên ngành Với những nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên, Tổng công ty đã vượt qua những khó khăn trên và vươn tới tầm cao mới như hôm nay
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, đồng thời tăng cường tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ VIII của Tổng công ty Sông Đà khẳng định “Tổ chức sắp xếp lại Tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên theo hướng đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo của Tổng công ty; Tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị thành viên về kết quả sản xuất kinh doanh trước Tổng công ty và pháp luật; ổn định, phát triển, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, xây dựng Tổng công ty thành
tập đoàn kinh tế”[33] Nghị quyết nêu rõ định hướng và mục tiêu phát triển
Tổng công ty trong giai đoạn 10 năm 2001-2010 là:
- Xây dựng và phát triển Tổng công ty thành tập đoàn kinh tế mạnh đa dạng hoá ngành nghề, đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở duy trì và phát triển ngành nghề xây dựng truyền thống để đảm bảo Tổng công ty Sông Đà là một nhà thầu mạnh có khả năng làm tổng thầu các công trình lớn ở trong nước và quốc tế
Trang 39- Phát huy cao độ mọi nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Với dự
án thuỷ điện Sơn La đang được triển khai, đây được coi là công trình xương sống đảm bảo thực hiện kế hoạch phát triển trên, đảm bảo công ăn việc làm cho số lượng lớn cán bộ công nhân viên của Tổng công ty trong giai đoạn chuyển đổi then chốt
2.1.2 Ngành nghề và lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty Sông Đà
* Xây dựng thuỷ điện là một lĩnh vực hoạt động chuyên ngành của Tổng
công ty Sông Đà Tổng công ty đã xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện lớn của đất nước như: Thuỷ điện Hoà Bình, Yaly
* Xây dựng hầm và các công trình ngầm là một trong nhiều lĩnh vực hoạt
động thế mạnh của Tổng công ty Sông Đà Tổng công ty luôn không ngừng đầu tư đổi mới thiết bị thi công hầm, ứng dụng các công nghệ thi công mới của các nước tiến tiến
* Xây lắp đường dây và trạm biến áp là một trong những lĩnh vực hoạt
động chính của Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty có khả năng về nhân lực, thiết bị thi công xây lắp các công trình thủy điện như: trạm biến áp, đường dây cao thế và hạ thế, cải tạo lưới điện, hệ thống điện công nghiệp và dân dụng
* Xây dựng công nghiệp: Với hơn 40 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xây
dựng công nghiệp, Tổng công ty Sông Đà đã xây dựng nhiều nhà máy, công trình công nghiệp quan trọng góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước
* Xây dựng dân dụng là lĩnh vực mà Tổng công ty Sông Đà đã có nhiều năm
kinh nghiệm xây dựng, lắp đặt thiết bị, trang trí nội thất tại các công trình với quy mô lớn như trụ sở làm việc, tòa nhà cao tầng, khách sạn theo tiêu chuẩn quốc tế Các công trình dân dụng do Tổng công ty xây dựng đều đạt được chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật cao
Trang 40* Xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình giao thông: Xây dựng mới, cải
tạo và nâng cấp đường bộ là lĩnh vực hoạt động mạnh của Tổng công ty Sông
Đà Lực lượng xây dựng đường của Tổng công ty không ngừng lớn mạnh, đã phối hợp thi công nhiều loại đường với tiêu chuẩn kỹ thuật cao
* Sản xuất công nghiệp: Tổng công ty Sông Đà luôn chú trọng đầu tư phát
triển lĩnh vực sản xuất công nghiệp Các sản phẩm chính của Tổng công ty là: thép, xi măng, cát, đá xây dựng, bê tông thương phẩm, gia công cơ khí và hàng may mặc xuất khẩu Hiện nay, các nhà máy công nghiệp đang hoạt động hiệu quả, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất kinh doanh của Tổng công ty và cung cấp mạnh sản phẩm ra thị trường bên ngoài
* Lĩnh vực đầu tư: Từ khi thành lập Tổng công ty Sông Đà đã chú trọng tích
lũy nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư và quản lý dự án Ngày nay, Tổng công ty đang đầu tư xây dựng và làm Chủ đầu tư các dự án lớn như nhà máy thuỷ điện Sê San 3A, thuỷ điện Cần Đơn, Nhà máy Xi măng Hạ Long, Nhà máy thép Việt - Ý, Khu đô thị mới Mỹ Đình - Mễ Trì
* Tư vấn xây dựng: lĩnh vực hoạt động tư vấn, khảo sát và thiết kế của công
ty bao gồm các công trình thủy điện vừa và nhỏ, công trình công nghiệp, công trình dân dụng, khảo sát thiết kế các khu công nghiệp, khu chế xuất, tư vấn lập dự án, báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án, tư vấn đấu thầu công trình Ngoài ra, Tổng công ty còn liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài thành lập các công ty chuyên về tư vấn đầu tư như Công ty Sông Đà- Ukrin, Công ty Sông Đà - SMC
* Xuất nhập khẩu: Tổng công ty Sông Đà trực tiếp tham gia hoạt động xuất
nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của Tổng công ty và cung cấp cho thị trường bên ngoài như các sản phẩm như máy móc, thiết bị xây dựng hiện đại, vật liệu xây dựng, xuất khẩu lao động
* Vận tải: Tổng công ty Sông Đà có lực lượng vận tải mạnh, đủ khả năng vận
chuyển mọi loại hàng hóa, bao gồm cả hàng siêu trường, siêu trọng bằng