1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á

136 678 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á
Tác giả Vũ Thị Minh Ngọc
Người hướng dẫn T.S Phạm Thu Hương
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

VŨ THỊ MINH NGỌC

THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM

SANG CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số: 60.31.07

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: T.S PHẠM THU HƯƠNG

Hà Nội - 2006

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

VŨ THỊ MINH NGỌC

THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM

SANG CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội - 2006

Trang 3

NỘI DUNG Trang

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI VÀ

THỊ TRƯỜNG ĐẦU TƯ ĐễNG NAM Á

1

1.1 Lí LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1

1.1.1 Đầu tư trực tiếp và cỏc hỡnh thức chủ yếu 1

1.1.2 Nguyờn nhõn thỳc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài 3

1.1.3 Động cơ và tỏc động của đầu tư trực tiếp nước ngoài 5

1.1.4 Những xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài trờn thế giới hiện nay 12

1.2 XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA THẾ GIỚI VÀO

KHU VỰC ĐễNG NAM Á

15

1.2.2 Thị trường Đụng Nam Á - điểm đến của đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài 21

1.3 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á

SANG CÁC NƯỚC ĐễNG NAM Á

24

1.3.3 Kinh nghiệm của cỏc nền kinh tế cụng nghiệp mới - NIEs 28

1.3.4 Đầu tư trực tiếp trong nội bộ khu vực Đụng Nam Á 31

2 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT

2.1 CƠ SỞ CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA

2.1.1 Luật đầu tư chung của Việt Nam năm 2005 33

2.1.2 Nghị định số 22/1999/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh

2.1.3 Thụng tư số 05/2001/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn hoạt

động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam 35 2.1.4 Cỏc quy định khỏc cú liờn quan tới hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 37

`2.2 TèNH HèNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH

2.2.1 Tỏc động của hoạt động đầu tư trực tiếp của cỏc doanh nghiệp Việt Nam ra

nước ngoài núi chung và sang cỏc nước Đụng Nam Á nói riêng đối với sự phát triển

nền kinh tế quốc dân

41

2.2.3 Kết quả đầu tư trực tiếp của cỏc doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài 49

2.3 TèNH HèNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP SANG THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC ĐễNG

2.3.1 Kết quả đầu tư trực tiếp của cỏc doanh nghiệp Việt Nam theo nước tiếp nhận

Trang 4

3 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA

3.1 ĐỊNH HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 74

3.1.1 Tiếp tục mở rộng hợp tác đầu tư với các nước dưới mọi hình thức thích hợp

3.1.2 Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế

3.1.3 Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải đi theo hướng đưa Việt Nam hội nhập

3.2 CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG FDI CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC

3.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH FDI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

3.3.1 Nghiên cứu hệ thống các quy định pháp luật, đặc tính kinh tế - xã hội của

3.3.2 Nghiên cứu các hình thức đầu tư phù hợp với thị trường từng nước trong

3.3.3 Xây dựng chiến lược đầu tư có hiệu quả 89

3.3.4 Tận dụng mối quan hệ với các Doanh nghiệp Việt kiều ở nước tiếp nhận đầu

3.3.5 Xây dựng đội ngũ lao động được trang bị kiến thức về luật pháp, bên cạnh

3.4 MỘT VÀI KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC ĐỂ ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI, ĐẶC BIỆT LÀ SANG THỊ

3.4.3 Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư ra nước ngoài 104

3.4.4 Tích cực đàm phán ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và nâng cao

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

NỘI DUNG Trang

MỤC LỤC

1 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI VÀ

THỊ TRƯỜNG ĐẦU TƯ ĐễNG NAM Á

5

1.1 Lí LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1

1.2 XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA THẾ GIỚI VÀO

KHU VỰC ĐễNG NAM Á

6

1.3 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á

SANG CÁC NƯỚC ĐễNG NAM Á

5

2 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT

2.1 CƠ SỞ CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA

`2.2 TèNH HèNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH

2.2.1 Tỏc động của hoạt động đầu tư trực tiếp của cỏc doanh nghiệp Việt Nam ra

nước ngoài núi chung và sang cỏc nước Đụng Nam Á nói riêng đối với sự phát triển

nền kinh tế quốc dân

7

2.2.3 Kết quả đầu tư trực tiếp của cỏc doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài 9

2.3 TèNH HèNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP SANG THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC ĐễNG

2.3.1 Kết quả đầu tư trực tiếp của cỏc doanh nghiệp Việt Nam theo nước tiếp nhận

2.3.2 Đỏnh giỏ kết quả hoạt động đầu tư trực tiếp của cỏc doanh nghiệp Việt Nam

3 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA

3.1 ĐỊNH HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI 17

3.2 CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG FDI CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC

3.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH FDI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

3.4 MỘT VÀI KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC ĐỂ ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ

TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM RA NƯỚC NGOÀI, ĐẶC BIỆT LÀ SANG THỊ

TRƯỜNG CÁC NƯỚC ĐễNG NAM Á

18

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Tổng quan kinh tế của các nước ASEAN - 10 năm 2001 18 Bảng 1.2 Dòng vốn FDI chảy vào khu vực ASEAN từ năm 2000 -

Bảng 2.6 Quy mô vốn đầu tư trực tiếp sang thị trường Campuchia

Trang 7

Bộ KH&ĐT - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

CGCN - Chuyển giao công nghệ

Công ty TNHH - Công ty Trách nhiệm hữu hạn

DNNN - Doanh nghiệp Nhà nước

DNVN - Doanh nghiệp Việt Nam

ĐTRNN - Đầu tư ra nước ngoài

GTGT - Thuế Giá trị gia tăng

GPĐT - Giấy phép đầu tư

UBND - Uỷ ban nhân dân

DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG ANH

AIA - ASEAN Investment area - Khu vực đầu tư ASEAN

ASEAN -The Association of South - East Asian Nations - Hiệp hội các nước Đông Nam Á

BOT – Build - Operate - Transfer – Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao

FDI - Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài

SL - Sensitive list - danh mục loại trừ tạm thời

TEL- Temporary Exclusion list - Danh mục cắt giảm thuế

USD - United State Dollar - Đồng Đô la Mỹ

WTO - World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một xu thế trong quan hệ kinh tế thế giới bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XX và bước tiếp sang thế kỷ XXI Việc doanh nghiệp từ quốc gia này mang vốn và công nghệ sang nước khác đầu tư, nhằm mục tiêu mở rộng sản xuất và tăng thu lợi nhuận đã trở thành phổ biến khắp toàn cầu Dòng vốn này tác động tích cực cả đối với nhà đầu tư (nước đầu tư) và cả đối với nước tiếp nhận đầu tư Chính vì nó có lợi đối với cả hai phía như vậy, nên đa số các nước hiện nay, đều có xu hướng, một mặt tích cực kêu gọi đầu tư nước ngoài vào trong nước, mặt khác lại khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tìm kiếm các thị trường mới ở nước ngoài Ở Việt Nam, từ lâu, người ta đã biết đến ảnh hưởng của vốn đầu tư nước ngoài đối với việc tăng trưởng nền kinh tế, và do vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các biện pháp để tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam để tìm kiếm lợi nhuận thì chỉ mới được quan tâm đến trong một vài năm gần đây Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam hầu như vẫn còn mang tính manh mún, tự phát Trong tương lai, chắc chắn hoạt động này sẽ phát triển

Do vậy, cần có định hướng của Nhà nước để tạo điều kiện cho hoạt động này phát triển

Đề tài “Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á” được dựa trên thực tiễn hoạt

động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường Đông Nam Á Đây là một thị trường khá gần gũi và có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Do vậy, khi đầu tư sang thị trường này các doanh nghiệp đầu tư Việt Nam sẽ có nhiều khả năng thành công hơn Đây cũng sẽ là bàn đạp để các doanh nghiệp Việt Nam vươn xa sang các thị trường khác trên

Trang 9

thế giới, góp phần tạo đà cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập hơn vào thị trường quốc tế Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài là một hoạt động mang đầy tính rủi ro, và không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng thành công Chính vì vậy, Luận văn thạc sỹ này được thực hiện nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, những thuận lợi và khó khăn mà họ sẽ gặp phải khi đầu tư sang thị trường các nước Đông Nam Á Ngoài ra Luận văn còn gợi ý một số biện pháp đối với doanh nghiệp Việt Nam nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là sang thị trường Đông Nam Á

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Đây là đề tài mới được nghiên cứu trong thời gian gần đây Các đề tài nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài phần lớn chỉ tập trung vào thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Đề tài về đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài hầu như còn bị bỏ ngỏ Gần đây khi xuất hiện thực tế là ngày càng có nhiều nhà đầu tư trong nước đầu tư ra nước ngoài, vấn đề nghiên cứu làm thế nào để các doanh nghiệp “mang chuông

đi đánh xứ người” này hoạt động có hiệu quả mới được đặt ra Để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có hiệu quả, gần đây, Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh (ITPC) đã tổ chức các cuộc hội thảo về các thị trường Lào, Campuchia nhằm giới thiệu các cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, đây mới chỉ là nghiên cứu mang tính giới thiệu về môi trường đầu tư của các nước nói trên, chứ chưa nói lên hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường các nước Đông Nam

Á Hiện nay, có rất ít tài liệu nói về vấn đề doanh nghiệp Việt Nam đầu tư

ra nước ngoài Đồng thời, khi tìm tài liệu cho Luận văn thạc sỹ em cũng chưa thấy có Khoá luận tốt nghiệp hay Luận án tiến sĩ nào nói về vấn đề đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam Do vậy, có

Trang 10

thể nói đề tài “Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á” là một đề tài thạc sỹ hoàn toàn mới, đặc biệt trong chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc

- Phân tích tình hình đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài nói chung và sang các nước Đông Nam Á nói riêng, từ đó phân tích khả năng thành công, cũng như những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài Đồng thời cũng thấy được các tác động chung của hoạt động này đối với việc phát triển kinh tế của Việt Nam

- Đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra thị trường nước ngoài, đặc biệt

là sang thị trường các nước Đông Nam Á

4 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu về lý luận chung

của đầu tư trực tiếp nước ngoài; kinh nghiệm của một số nước trong đầu tư trực tiếp sang các nước Đông Nam Á và hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư về hàng hoá và dịch vụ Đồng thời, nghiên cứu môi trường đầu tư của các nước Đông Nam

Á và đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam trong khu vực này

5 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài này chủ yếu tập trung vào hoạt động đầu

tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường một số nước

Trang 11

Đông Nam Á trong thời gian 5 năm trở lại đây và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động này tới năm 2020

6 Phương pháp nghiên cứu: Để phục vụ công tác nghiên cứu đề tài, em đã sử

dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp khác như: phân tích thống kê, so sánh, diễn dịch, quy nạp

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI VÀ THỊ TRƯỜNG ĐẦU TƯ ĐÔNG NAM Á

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Đầu tư trực tiếp và các hình thức chủ yếu

1.1.1.1 Khái niệm:

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thực chất là đầu tư trực tiếp nươc ngoài xét dưới góc độ của chủ đầu tư Chính vì vậy, các lý luận chung về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không có gì khác biệt với lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức của đầu tư quốc tế Có rất nhiều khái niệm định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài, song có thể đưa ra một khái niệm chung về FDI được nhiều nhà kinh tế chấp nhận như sau:

“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước

ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép

họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư” [22, tr 354]

1.1.1.2 Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, đó là:

- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu, tuỳ theo quy định của luật đầu tư từng nước, ví dụ như Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 quy định “số vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án” hay Luật đầu tư của Nam Tư cũ trước đây quy định “phần của bên đối tác nước ngoài đóng góp không dưới 5% tổng số vốn đầu tư”

- Quyền hành quản lý xí nghiệp hay công ty phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp 100% vốn thì xí nghiệp hay công ty đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành

- Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của xí nghiệp hay công ty Lãi và lỗ của công ty được chia

Trang 13

theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà

1.1.1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện dưới các hình thức sau:

- Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Đây là một văn bản được ký kết

giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước tiếp nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không hình thành một pháp nhân mới nào

Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài này có đặc điểm:

Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã

ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa

Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải được đề cập trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh

Xí nghiệp hay công ty liên doanh được thành lập giữa một bên là thành viên của nước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư ở các nước khác tham gia Một xí nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh Đặc điểm của hình thức liên doanh này là:

Thành lập một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân mới, và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn

Trang 14

Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệp liên doanh được quy định tuỳ thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước

Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn

- Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài

Đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của

tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Đặc điểm của các công ty này là:

Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư

Hoạt động dưới sự chi phối của Luật pháp nước nhận đầu tư

- Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế,

thực hiện những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - vận hành (B.T.O), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (B.T) Những dự án B.O.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế

1.1.2 Nguyên nhân thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài

Có nhiều nguyên nhân nảy sinh hiện tượng đầu tư nước ngoài, trong đó các nguyên nhân chủ yếu nhất là

- Do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển lực lượng sản xuất,

kết quả làm cho chi phí sản xuất hàng hoá giữa các nước không giống nhau Ngoài ra điều kiện sản xuất giữa các nước không giống nhau, chênh lệch nhau về giá cả hàng hoá sức lao động, tài nguyên, vốn, khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý Tìm kiếm sự đầu tư ở bên ngoài cho phép lợi dụng những chênh lệch này để giảm chi phí sản xuất như: chi phí nguyên vật liệu, chi phí lương, chi phí vận chuyển, chi phí bán hàng ví dụ khi đầu tư vào các nước đang phát triển trong đó có Việt

Trang 15

Nam, các nhà đầu tư thường đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều lao động như lắp ráp hàng điện tử, ngành dệt may, chế biến thực phẩm Vì giá nhân công của các nước này rẻ hơn nhiều so với các nước công nghiệp, sản phẩm làm ra cho phép có khả năng cạnh tranh về giá

- Ở các nước công nghiệp phát triển tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm dần

và kèm theo là hiện tượng thừa “tương đối” tư bản ở trong nước Vì thế đầu tư ra nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một xu hướng phổ biến trong các nước này Theo Bộ Thương mại Mỹ, tỷ lệ lãi trung bình của các công ty Mỹ

ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là 23%, gấp 2 lần tỷ lệ lãi trung bình cùng

kỳ ở 24 nước công nghiệp phát triển (OECD) [21, tr.22]

- Nhu cầu về vốn của thế giới rất lớn, trong khi khả năng tự thoả mãn ở từng

nước, từng khu vực có hạn cho nên dẫn tới gia tăng đầu tư quốc tế Thật vậy, mọi nơi trên thế giới, nhu cầu về vốn tăng vọt Các nước chậm và đang phát triển cần vốn để thực hiện quá trình công nghiệp hoá đất nước, đầu tư vào hạ tầng cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

và Ngân hàng Thế giới (WB) nhu cầu vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng ở Đông Á tăng nhanh, lên tới mức 1,3 - 1,5 nghìn tỷ USD trong giai đoạn từ năm 2000 -

2004 Chi tiêu cho cơ sở hạ tầng được dự đoán sẽ tăng [22, tr.349]

- Sự quốc tế hoá kinh tế toàn cầu gia tăng dẫn đến sự hợp tác phân công lao

động khu vực và quốc tế phát triển theo hướng mới, các nước đi trước (như Nhật Bản, EU) phải chuyển dịch cơ cấu lao động lên cao hơn và những lợi thế cũ để phát triển ngành dệt, lắp ráp, chế biến được chuyển sang Hàn Quốc, Singapore sau đó là Thái Lan, Philippines và hiện nay chuyển dịch sang các nước chậm phát triển hơn như Việt Nam Chính sự thay đổi trong phân công lao động này là động lực kích thích đầu tư ra nước ngoài để chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả những lợi thế so sánh mới

- Đầu tư ra nước ngoài nhằm nắm bắt được lâu dài và ổn định nguồn cung cấp

nguyên liệu chiến lược với giá rẻ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế với tốc độ cao

Trang 16

- Tình hình bất ổn định và an ninh quốc gia cũng là nguyên nhân khiến những

người có tiền, những nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư nhằm đảm bảo

an toàn vốn, phòng chống rủi ro khi có sự cố về kinh tế chính trị xảy ra ở trong nước

- Sự ra đời của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia cũng là nguyên

nhân dẫn tới hoạt động đầu tư nước ngoài, nói rộng ra là hoạt động đầu tư quốc tế sôi động Sự dịch chuyển vốn giữa các nước diễn ra không ngừng nghỉ Các công

ty đa quốc gia có những ưu thế riêng mà các đối thủ địa phương không có Các

ưu thế này tập trung ở các phương pháp quản lý và công nghệ tiên tiến Do đó, đầu tư nước ngoài đẩy mạnh sự phổ biến quốc tế các công nghệ mới và tài sản vô hình, đồng thời làm tăng hiệu quả công tác quản lý hay tổ chức sản xuất Mặt khác, khi nắm giữ chặt chẽ những ưu thế trên, các công ty đa quốc gia sẽ tác động lên các yếu tố thiên phú riêng của các quốc gia, nhờ đó làm gia tăng thu nhập từ mậu dịch Cuối cùng, đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nhiều quốc gia sẽ kích thích cạnh tranh giữa các công ty

1.1.3 Động cơ và tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.3.1 Động cơ của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Xu hướng chung của các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm thị trường đầu tư hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu được lợi nhuận cao và nâng cao uy tín của công ty Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển của công ty và mục tiêu của nó ở thị trường nước chủ nhà (trực tiếp nhận đầu tư) mà mỗi nhà đầu tư lại có một động cơ khác nhau trong từng dự án đầu tư Các động cơ khác nhau trong đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là:

- Động cơ về thị trường: Các công ty thường đầu tư sang các nước khác nhằm mục đích là mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ Do sản xuất sản phẩm cùng loại ở nước chủ nhà nên chủ đầu tư không cần đầu tư thiết bị, công nghệ mới lại có thể tận dụng nguồn lao động rẻ, tiết kiệm chi phí vận chuyển, qua đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận

Trang 17

- Động cơ về chi phí: đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có thể giảm chi phí sản xuất thông qua việc tận dụng lao động và tài nguyên rẻ ở nước chủ nhà Hình thức này thích hợp với những lĩnh vực đầu tư sử dụng nhiều lao động, sử dụng thiết bị cũ, lạc hậu, mức độ ô nhiễm môi trường cao

- Động cơ về nguồn nguyên liệu: Các cơ sở đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành trong dây chuyền kinh doanh của công ty mẹ, có trách nhiệm khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ cung cấp cho công ty mẹ để tiếp tục hoàn chỉnh sản phẩm Hình thức này phù hợp với các dự án khai thác dầu khí, tài nguyên thiên nhiên, hoặc khai thác và sơ chế các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp ở nước tiếp nhận đầu tư

1.1.3.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những tác động to lớn đến sự phát triển của thương mại quốc tế Những tác động này ảnh hưởng không chỉ đến những nước nhận đầu tư mà ngay cả những nước xuất khẩu tư bản (đầu tư)

a) Tác động đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư

 Tác động thuận lợi:

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện thu hút nguồn nhu cầu mới: Các

công ty đa quốc gia thường đạt tới một giai đoạn mà sự phát triển bị hạn chế tại nước của họ Điều này có thể do sự cạnh tranh mãnh liệt đối với những sản phẩm

mà họ bán ra trên thị trường Ngay cả khi có rất ít cạnh tranh, thị phần của họ trong quốc gia đó có thể đã đạt đến đỉnh cao hay các nhu cầu chung cho sản phẩm ban đầu có thể bị giảm sút do những thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng Như vậy, giải pháp khả thi là cân nhắc việc lựa chọn một thị trường nước ngoài nơi có những nhu cầu tiềm ẩn cho các sản phẩm ấy

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp thâm nhập vào những thị trường, nơi có

thể đạt được lợi nhuận cao Các công ty đa quốc gia có thể thâm nhập vào những thị trường khác, nơi họ có thể đạt được lợi nhuận cao Nếu những công ty khác trong cùng một lĩnh vực công nghệ đã chứng minh được rằng những nguồn thu

Trang 18

nhập cao có thể thực hiện được ở những thị trường khác thì một công ty đa quốc gia nào đó cũng có thể quyết định thâm nhập vào thị trường đó Họ có thể đưa ra

kế hoạch giảm giá bán khá cao đối với sản phẩm đang phổ biến trên thị trường Một trở ngại phổ biến cho chiến lược này là những người kinh doanh đã có mặt trước đó trong thị trường có thể tìm mọi cách không cho đối thủ mới chiếm đi thị phần của mình, ví dụ bằng cách giảm giá tường đương hoặc thấp hơn mức giá của đối thủ mới khi họ vừa thâm nhập vào thị trường này

- Đầu tư nước ngoài nhằm tăng năng suất: Một công ty có nỗ lực muốn bán

sản phẩm ban đầu của mình tại các thị trường mới có thể làm tăng mức thu nhập

cổ phần của mình do tăng năng suất Điều này làm giảm chi phí bình quân từng đơn vị sản phẩm Công ty càng sử dụng nhiều máy móc thiết bị thì khả năng này càng có điều kiện thuận lợi để thực hiện

- Sử dụng yếu tố nước ngoài trong sản xuất: Các chi phí sử dụng đất đai và

lao động có thể khác biệt nhau rất xa giữa các quốc gia Các công ty đa quốc gia thường cố gắng thiết lập việc sản xuất tại địa điểm có giá lao động và đất đai rẻ

Do thị trường không hoàn hảo ở một số quốc gia chẳng hạn như do thông tin không hoàn hảo, các chi phí giao dịch, di dời dân cư, các rào cản trong việc thâm nhập vào một ngành công nghiệp v.v làm cho chi phí lao động không nhất thiết tương đương giữa các thị trường Các công ty đa quốc gia thực hiện việc nghiên cứu thị trường để xác định xem họ có thể thu được lợi nhuận không từ các chi phí

rẻ hơn khi sản xuất ở những thị trường đó

- Sử dụng nguyên vật liệu nước ngoài: Do các chi phí vận chuyển, một công

ty cố gắng tránh nhập khẩu nguyên vật liệu từ một đất nước khác, đặc biệt là khi công ty dự tính sẽ bán thành phẩm ngược lại cho người tiêu dùng tại nước đó, một giải pháp khả thi hơn là phát triển việc sản phẩm tại một nước mà nguyên vật liệu có sẵn Dù cho sản phẩm sản xuất ra sẽ được bán ở một nơi nào khác, quyết định nhập khẩu nguyên vật liệu sẽ không phù hợp

- Sử dụng công nghệ nước ngoài: Các công ty đa quốc gia thiết lập ngày càng

nhiều các nhà máy ở nước ngoài hay mua lại các nhà máy hiện hữu của nước

Trang 19

ngoài để học hỏi thêm về công nghệ của các quốc gia khác Công nghệ này sau

đó được sử dụng để cải tiến quy trình sản xuất tại các nhà máy của các công ty con trên khắp thế giới

- Khai thác các lợi nhuận về độc quyền: Các công ty có thể trở nên quốc tế

hoá nếu như họ sở hữu các tiềm lực hay kỹ năng mà các đối thủ cạnh tranh không bao giờ có Trên thực tế thị trường thường không bao giờ hoàn hảo, kết quả là một số quốc gia có thể chiếm hữu một số thuận lợi hơn một số quốc gia khác đối với các thị trường khác nhau Ngay cả trong phạm vi một quốc gia nào đó, một số công ty có thể chiếm hữu một số thuận lợi hơn các công ty khác Điển hình trong lĩnh vực công nghệ, nếu một công ty nào đó sở hữu công nghệ tiên tiến và đã khai thác được sự thuận lợi này một cách thành công ở thị trường trong nước, công ty

đó cũng có khả năng khai thác nó trên thị trường quốc tế Công nghệ không hề bị hạn chế trong việc phát triển sản phẩm mới Công nghệ còn có thể đưa ra một quy trình tài chính, tiếp thị và sản xuất có hiệu quả hơn Trong một chừng mực nào đó, công ty sẽ được thuận lợi hơn các đối thủ và có thể thu được lợi nhuận từ việc trở nên quốc tế hoá

- Đa dạng hoá ở tầm cỡ quốc tế: Một trong những lý do tại sao các công ty

tiến hành kinh doanh ở tầm cỡ quốc tế là sự đa dạng hoá quá trình sản xuất Nếu tất cả tài sản của một công ty được tổ chức nhằm điều tiết việc kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong một quốc gia, nguồn tiền mặt của công ty rất có khả năng trở nên bất ổn định, đó là kết quả của những tình thế thay đổi trong phạm vi công nghệ của công ty hay trong phạm vi nền kinh tế Công ty có thể giảm bớt sự thay đổi nguồn tiền mặt bằng cách đa dạng hoá nguyên liệu sản xuất Nhu cầu cho tất cả các loại sản phẩm được sản xuất trong cùng một nước có phần nào chịu ảnh hưởng của nền kinh tế nước đó Công ty có thể giảm bớt rủi ro bằng cách chào hàng bán các nguyên liệu và sản phẩm giữa các quốc gia khác nhau Với việc đa dạng hoá kinh doanh và cả trong sản xuất ở tầm cỡ quốc tế, công ty có thể giữ cho nguồn tiền mặt thực của mình ít bị chao đảo Mức độ của sự đa dạng hoá

Trang 20

quốc tế có thể làm ổn định nguồn tiền mặt của các công ty đa quốc gia lại tuỳ thuộc vào tiềm năng của thị trường nước ngoài

- Phản ứng với giá trị thay đổi của ngoại tệ: Khi một công ty cho rằng ngoại

tệ của một quốc gia nào đó bị giảm giá, công ty đó có thể tính đến khả năng đầu

tư trực tiếp vào đất nước đó Do sự giảm giá ngoại tệ, mức phí tổn ban đầu có thể khá thấp Nếu đồng ngoại tệ đó mạnh lên theo thời gian, thu nhập được chuyển

về công ty mẹ sẽ tăng lên Ví dụ vào những năm 1980, các công ty Nhật tăng cường việc đầu tư trực tiếp vào Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc và vùng Đông Nam Á, nguyên do một phần do đồng yên tăng mạnh và vào thời điểm đó, mức phí tổn ban đầu tương đối thấp khi thiết lập các công ty con Một nguyên nhân khác dẫn đến việc đầu tư trực tiếp là nhằm bù đắp nhu cầu đang thay đổi cho việc xuất khẩu của công ty do những dao động về tỷ giá hối đoái

- Phản ứng với các kiềm hãm thương mại: Trong một số trường hợp, một

công ty đa quốc gia sử dụng việc đầu tư trực tiếp như là một chiến lược phòng ngự hơn là tấn công Ví dụ như nhà máy sản xuất ô tô của Nhật sẽ thành lập một chi nhánh tại Mỹ do tiên đoán rằng việc xuất khẩu ô tô sang Mỹ sẽ chịu ảnh hưởng bởi những hạn chế thương mại rất nghiêm ngặt Các rào cản thương mại tiềm ẩn có thể giới hạn hoặc ngăn cản việc xuất khẩu ô tô tại Nhật sang Mỹ và đầu tư trực tiếp vào một công ty con của Nhật tại Mỹ được xem như một chính sách phòng ngự tốt

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những thuận lợi về mặt chính trị: Một

số công ty đa quốc gia đóng tại những nước có nền chính trị không ổn định đang

cố gắng phát triển sang những nước ổn định hơn Mặt khác khi hoạt động của một công ty đa quốc gia ngày càng mở rộng và đạt được những thành tựu nhất định về kinh tế đó là cơ sở để có được những thuận lợi về mặt chính trị

 Hậu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Đối với các nước xuất khẩu vốn, việc chuyển vốn ra nước ngoài ồ ạtra nước

ngoài sẽ làm cho dự trữ ngoại hối bị thâm hụt, khả năng đầu tư cho phát triển

kinh tế trong nước bị hạn chế

Trang 21

- Vốn và tài sản từ hoạt động bất hợp pháp như tham nhũng, kinh doanh bất

chính được chuyển ra nước ngoài đầu tư, khiến quốc gia bị thất thoát tài sản mà

Chính phủ khó kiểm soát và thu hồi rất tốn kém Ở nước Nga, hàng loạt những tỷ phú xuất hiện từ hoạt động mua rẻ tài sản của Nhà nước, của người dân hoặc hoạt động đầu tư của Ma-phia được chuyển ra nước ngoài đầu tư, làm nước Nga kiệt quệ, khả năng phục hồi và cải thiện nền kinh tế chậm

- Chảy máu chất xám, sự mất vị thế độc quyền về công nghệ cũng có nguyên

nhân từ chuyển vốn và công nghệ ra nước ngoài để đầu tư

- Tạo ra thị trường cạnh tranh với sản xuất và kinh doanh trong nước

b) Tác động đối với nước tiếp nhận đầu tư:

Hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đặc biệt đối với hầu hết tất cả các nước trên thế giới, kể cả đối với những nước đang và chậm phát triển lẫn các nước phát triển

 Tác động thuận lợi:

- Đối với các nước phát triển như Mỹ và Tây Âu: đầu tư của nước ngoài có ý

nghĩa quan trọng như: các chuyên gia kinh tế của Mỹ sau khi nghiên cứu hiện tượng Nhật ồ ạt đầu tư vào Mỹ (từ 1951 - 1991 Nhật đã đầu tư 148,6 tỷ USD chiếm 42,2% tổng số vốn đầu tư của Nhật ra nước ngoài) [21, tr.352] đã đưa ra nhận định việc đầu tư của Nhật mang lại nhiều cái lợi cho nền kinh tế Mỹ hơn là mặt hại Những cái lợi đó là:

Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội trong nước như: thất nghiệp, lạm phát v.v

Việc mua lại những công ty, xí nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán, tạo công ăn việc làm mới cho người lao động

Tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách của Mỹ

Tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại Mỹ

Trang 22

Giúp các nhà doanh nghiệp Mỹ học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của Nhật

- Đối với các nước đang và chậm phát triển:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các nước này đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế thông qua việc tạo ra những xí nghiệp mới hoặc tăng quy mô của các đơn vị kinh tế

Thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở nước này Theo thống kê của Liên hiệp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp của các nước chậm và đang phát triển khoảng 35 - 38% tổng số lao động, cho nên hàng vạn công ty có vốn FDI hoạt động tại các nước đang phát triển giúp các nước này giải quyết một phần nạn thất nghiệp Ví dụ như Trung Quốc tính đến tháng 9/2002 chỉ riêng lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà nước đã phê chuẩn hơn 414.000 dự án với tổng số vốn đăng ký

là 813,66 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư đã thực hiện là 434,78 tỷ USD, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động Trung Quốc Hay ở Việt Nam kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài tháng 12/1987 đến hết năm 2002 đã cấp giấy phép cho 4582 dự án với tổng số vốn đăng ký 50,3 tỷ USD, giải quyết công

ăn việc làm cho gần 400.000 lao động [22, tr 353]

Các dự án FDI cũng góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh, là động lực kích thích nền kinh tế tăng trưởng về lượng cũng như về chất

Giúp các nước chậm phát triển giảm một phần nợ nước ngoài Số nợ hiện nay khoảng 1500 tỷ USD, giá trị tương đương khoảng 86.000 tấn vàng, núi vàng này đang lớn dần lên do lãi mẹ đẻ lãi con và phải tiếp tục vay thêm để giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội ở trong nước [22, tr.353]

Ngoài ra, thông qua tiếp nhận đầu tư nước ngoài, các nước đang phát triển

có điều kiện tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài

 Hậu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 23

Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ vì mục tiêu thu hồi vốn nhanh

và mục tiêu vì lợi nhuận của các nhà đầu tư Hơn nữa, lợi dụng có sự chênh lệch về trình độ phát triển công nghệ kỹ thuật giữa các nước, những nước có trình độ phát triển cao hơn khi đầu tư ra nước ngoài ở một số dự án đã chuyển giao công nghệ cũ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường ở nước tiếp nhận đầu tư

Các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các dự án FDI, cạnh tranh gay gắt với các nhà đầu tư nội địa, làm thị phần của các nhà đầu tư nội địa bị thu hẹp, một bộ phận không nhỏ bị phá sản

Tính tự chủ trong xây dựng cơ chế chính sách kinh tế bị giảm, khi các nhà đầu tư nước ngoài gây sức ép với Chính phủ của họ thông qua con đường ngoại giao đòi hỏi nước tiếp nhận đầu tư phải thay đổi cơ chế chính sách luật lệ theo hướng có lợi cho các nhà đầu tư FDI

1.1.4 Những xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới hiện nay

Nghiên cứu tình hình đầu tư quốc tế trực tiếp từ năm 1960 trở lại đây, các chuyên gia đã nhận định sự thay đổi đầu tư theo các xu hướng chính yếu sau:

1.1.4.1 Vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu chảy vào các nước công nghiệp phát triển (OECD)

Nếu ở đầu thế kỷ 20 trên 70% vốn đầu tư tư bản đổ vào các nước chậm và đang phát triển để khai thác tài nguyên của các nước này với tư cách là thuộc địa, thì sau chiến tranh thế giới thứ 2, khu vực Tây Âu là nơi thu hút nhiều vốn đầu tư nhất Thời gian này, Tây Âu thu hút đến 158 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó một nửa là vốn của Mỹ nhằm khôi phục lại Châu Âu bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh thế giới [21, tr.41]

Ngày nay, các nước công nghiệp phát triển vẫn là vùng thu hút vốn đầu tư nhiều nhất: Năm 1999 các nước công nghiệp phát triển chiếm 76,5% tổng số vốn

Trang 24

đầu tư FDI của thế giới là 865 tỷ USD, trong khi đó các nước đang phát triển chiếm 3/4 dân số chỉ chiếm 23,5% vốn đầu tư FDI khoảng 192 tỷ USD Sang năm 2000 có 200 tỷ USD vốn đầu tư vào các nước đang phát triển, trong khi đó chỉ riêng Mỹ năm 2000 thu hút 200 tỷ USD vốn FDI (Năm 2001 Mỹ thu hút 124

tỷ USD, năm 2002 chỉ thu hút 44 tỷ USD do ảnh hưởng của sự kiện 11/9)

EU cũng là trung tâm thu hút vốn đầu tư FDI của thế giới: Năm 1998 thu hút

230 tỷ USD, năm 1999: 280 - 290 tỷ USD [21, tr.41]

Sở dĩ các nước công nghiệp phát triển là những nơi thu hút vốn đầu tư FDI nhiều là do:

- Làn sóng hợp nhất, thôn tính các công ty diễn ra chủ yếu ở các nước công

nghiệp phát triển

- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm tích tụ, tập trung các ngành công

nghiệp mũi nhọn ở các nước tư bản phát triển như ngành bán dẫn vi điện tử, ngành công nghệ sinh học, sản xuất người máy v.v lợi nhuận siêu ngạch thu được từ các ngành này đã tạo ra lực hấp dẫn đối với dòng đầu tư quốc tế

- Các nước công nghiệp phát triển được xem là những thị trường có khả năng

tiêu thụ và thanh toán lớn, địa điểm lý tưởng cho các nhà đầu tư phát triển

- Môi trường đầu tư ở các nước tư bản phát triển ổn định và hấp dẫn do: chế

độ chính trị ổn định, hệ thống luật pháp hoàn chỉnh điều tiết xã hội hữu hiệu, thêm vào đó hạ tầng cơ sở hiện đại, lao động có trình độ kỹ thuật cao Trong khi

đó, điều kiện chính trị và kinh tế ở các nước đang phát triển thiếu ổn định: đảo chính, nội chiến, cải tổ hệ thống chính trị theo hướng đa nguyên thêm vào đó hạ tầng cơ sở yếu kém đã cản trở dòng chảy của tư bản vào các nước này

- Chính sách bảo hộ ngày nay chặt chẽ tinh vi ở các nước phát triển buộc các nước tư bản phát triển khác phải xây dựng các “căn cứ” nằm trong lòng các nước này để tránh hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước nhập khẩu

Nghiên cứu xu hướng này cho thấy hoàn thiện môi trường đầu tư theo hướng: xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, tạo lập nền chính trị ổn định có đường lối

Trang 25

nhất quán, nâng cấp cơ sở hạ tầng quốc gia, chú ý phát triển nguồn nhân lực là những yếu tố nội lực quan trọng để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.4.2 Thay đổi trong tương quan lực lượng các chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu thế kỷ 20, Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Hà Lan là những nước dẫn đầu thế giới

về xuất khẩu vốn ra nước ngoài

Đến giữa thế kỷ 20, Mỹ nhảy lên dẫn đầu thế giới, sau đó đến Anh, Pháp về khối lượng tư bản đầu tư ra nước ngoài

Còn từ thập niên 70 trở lại đây, Nhật Bản nổi lên như là cường quốc đầu tư lớn, hiện nay Nhật trở thành nhà đầu tư lớn nhất vào Mỹ và các công ty có vốn đầu tư của Nhật Bản có ảnh hưởng không nhỏ đối với nền kinh tế Mỹ

Trong một vài năm gần đây, một hiện tượng gây sự chú ý trong lĩnh vực đầu

tư FDI là các nước công nghiệp mới (NIEs) ở vùng Châu Á - Thái Bình Dương đang vươn lên trở thành các thế lực đầu tư mạnh, đặc biệt là các nước: Singapore, Hongkong, Đài Loan, Hàn Quốc luôn vượt qua Nhật, Mỹ, EU trở thành chủ đầu

tư lớn nhất ở vùng Châu Á

Xu hướng này cho thấy không chỉ các nước công nghiệp phát triển như Mỹ,

EU, Nhật Bản mới là những nhà đầu tư lớn trên thế giới, mà những nền kinh tế ít phát triển hơn cũng có thể là những nhà đầu tư hàng đầu thế giới, nếu biết chọn đúng thị trường ngách để đầu tư

1.1.4.3 Thay đổi trong lĩnh vực đầu tư

Đầu thế kỷ 20, các nước thường đầu tư ra nước ngoài hướng vào lĩnh vực truyền thống, đó là các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển nông nghiệp bằng cách đầu tư vào các đồn điền và các ngành chế biến nông sản

Ngày nay lĩnh vực đầu tư đã thay đổi Khi đầu tư vào các nước tư bản phát triển thì các nước chủ đầu tư tham gia nhiều vào lĩnh vực dịch vụ, mà chủ yếu là tập trung vào thương mại và tài chính, và những ngành kỹ thuật mới như: công nghệ thông tin, thiết bị viễn thông, sản xuất ô tô, công nghệ sinh học Hoạt động

Trang 26

đầu tư chủ yếu thực hiện thông qua việc sáp nhập, mua lại để thành lập các “siêu” công ty độc quyền chi phối hoạt động kinh doanh của toàn cầu

Còn khi đầu tư vào các nước đang phát triển thì quan điểm của những nhà đầu

tư là:

- Giảm tới mức tối đa rủi ro của đầu tư bằng cách đầu tư vào các dự án vừa

phải, khả năng thu hồi vốn nhanh

- Đầu tư vào các dự án cho phép lợi dụng triệt để các điều kiện ưu đãi mà

nước tiếp nhận đầu tư dành cho

- Đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên chiến lược như sắt, thép, dầu mỏ

- Đầu tư vào các ngành có ngay thị trường ở các nước tiếp nhận đầu tư

Tóm lại, một chiến lược đầu tư ra nước ngoài muốn đạt hiệu quả cần phải cân nhắc lựa chọn lĩnh vực đầu tư phù hợp đối với mỗi thị trường đầu tư Ngược lại, một chính sách thu hút vốn đầu tư FDI muốn có hiệu quả thì cần phải tính đến sự thay đổi của các nhà đầu tư trong lĩnh vực đầu tư

1.1.4.4 Ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia trong hoạt động FDI

Theo UNCTAD - Tổ chức Thương mại và phát triển Liên Hiệp Quốc, hiện nay có hơn 53.000 công ty xuyên quốc gia với gần 500.000 cơ sở sản xuất ở khắp toàn cầu, chiếm gần 2/3 tổng giá trị thương mại quốc tế, 4/5 nguồn vốn đầu tư FDI và 90% kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ thế giới Trong số này

có 500 siêu công ty có quy mô lớn Một trong những kinh nghiệm của Trung Quốc rút ra khi nghiên cứu đặc điểm này là: phải xây dựng chiến lược vận động đầu tư có trọng điểm, chào mời xúc tiến đầu tư theo địa chỉ và ưu tiên hàng đầu là thuyết phục các siêu công ty vì chẳng những thu hút được các dự án lớn, mà còn theo sau sự đầu tư của các siêu công ty, là những công ty có quy mô nhỏ hơn vào đầu tư Ngược lại, ở vị thế người đi đầu tư, Trung Quốc cũng thấy rằng, đầu tư theo tập đoàn có sức mạnh kinh tế lớn hơn và tránh được rủi ro nhiều hơn Khi một thị trường đầu tư có nguy cơ đổ vỡ, các tập đoàn lớn sẽ có khả năng chuyển hướng đầu tư sang các thị trường khác nhanh hơn Không những thế, khi đầu tư

Trang 27

theo tập đoàn, các chủ đầu tư sẽ thâu tóm được các công ty vệ tinh và có ảnh hưởng nhiều hơn đến nước tiếp nhận đầu tư [21, tr.45]

1.2 XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA THẾ GIỚI VÀO KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

1.2.1 Giới thiệu về khu vực Đông Nam Á

Hiện nay, thị trường Đông Nam Á đang được đánh giá là khu vực kinh tế phát triển khá năng động trên thế giới Với số dân hơn 550 triệu người và GDP là khoảng 572 tỷ USD, Đông Nam Á tạo ra một thị trường tiêu thụ lớn, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào để tìm kiếm lợi nhuận Các nước trong khu vực Đông Nam Á có những nét tương đồng về nhiều mặt, bên cạnh những nét độc đáo riêng có của từng quốc gia, làm nên một khu vực Đông Nam

Á vừa thống nhất vừa đa dạng

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Khu vực Đông Nam Á nằm ở phía Nam của Trung Quốc và phía Đông của

Ấn Độ Người ta thường chia khu vực này thành 2 tiểu vùng chính là Đông Nam

Á lục địa và Đông Nam Á biển đảo Vùng lục địa bao gồm các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam Vùng biển đảo gồm có Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore Cách phân loại này tuy đơn giản, nhưng lại rất thuận tiện, chẳng những có thể phân chia khu vực Đông Nam Á về địa lý, về văn hoá mà còn cả về kinh tế nữa Các nước ở vùng Đông Nam Á lục địa có một lãnh thổ liên tục, còn ở vùng biển đảo, mỗi nước lại bị biển phân chia thành các mảnh nhỏ Riêng ở Philippines đã có khoảng 7000 hòn đảo, còn ở Indonesia thì

số đảo lên tới 13000 [25, tr.13]

Khu vực Đông Nam Á nằm trên một diện tích vào khoảng 45 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 200 Bắc đến 110 Nam và từ kinh độ 920 Đông đến 1410 Đông Chỉ trừ một phần nhỏ của Myanmar, toàn bộ vùng Đông Nam Á nằm trong khu vực giữa Chí tuyến Bắc và Chí tuyến Nam, nơi có các điều kiện khí hậu giống với các nước nhiệt đới Nhiệt độ thay đổi rất ít giữa các miền khác nhau và giữa các tháng trong năm

Trang 28

1.2.1.2 Về văn hoá:

Các nước Đông Nam Á có đặc điểm giống nhau, đó là sự đa dạng về văn hoá

Sự đa dạng này xuất phát từ việc pha trộn các cộng đồng người với các tôn giáo khác nhau Ở Đông Nam Á có hầu hết các tôn giáo lớn của thế giới Phật giáo có mặt ở khắp nơi trên vùng Đông Nam Á lục địa, đạo Hồi có mặt ở các nước biển đảo như Brunei, Indonesia, Malaysia ngay từ thế kỷ XIII Thế kỷ XVI, thực dân Tây Ban Nha đã đưa Thiên chúa giáo vào Philippines Bên cạnh các tôn giáo lớn này, còn có các nhóm tôn giáo khác cùng tồn tại Ví dụ như, ở các quần đảo phía nam Philippines có một cộng đồng người theo đạo Hồi khá lớn, còn ở hai hòn đảo Irian Jaya và Bali của Indonesia thì đạo Cơ đốc và đạo Hindu lại lần lượt là các tôn giáo chính Sự đa dạng về tôn giáo dẫn đến sự phức tạp trong hệ thống chính trị của các nước Đông Nam Á.[25, tr.13]

Ở các nước Đông Nam Á đa phần là dân số trẻ Tuy nhiên trình độ lao động của từng quốc gia lại phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của từng nước Ở những nước có tốc độ kinh tế phát triển hơn như Singapore, Thái Lan, Brunei thì mặt bằng dân trí nói chung cao hơn ở những nước khác

Trang 29

50.000 tấn thiếc và người ta ước tính rằng tổng trữ lượng thiếc cả ngoài khơi và ở thềm lục địa của nước này có thể lên tới hơn 1 triệu tấn

Tình hình kinh tế chung nhất của các nước ASEAN thể hiện qua bảng 1.1 sau:

Bảng 1.1 Tổng quan kinh tế của các nước ASEAN - 10 năm 2001

Nước Dân số

(người)

Diện tích (km 2 )

Các ngành công nghiệp chủ

yếu

Tốc độ tăng trưởng GDP (%) trung bình

GDP (tỷ USD)

Brunei 343.653 5769 Lọc dầu, dầu và khí đốt 3,0 4,6

Indonesia 228.437.870 1,9 triệu

Hoá chất, máy móc và trang thiết bị chế biến nông sản nhiệt đới

Malaysia 23.300.000 329.750

Chế biến thực phẩm, khai thác than đá và dầu, hoá chất

và các sản phẩm về hoá chất, linh kiện điện tử

Philippines 82.841.518 300.000 Điện tử, hoá chất, máy lọc

dầu, máy móc, may, da 3,6 75,2

Singapore 4.300.419 647,5

Xe hơi, vật liệu xây dựng, linh kiện điện tử, sản phầm dầu

Nguồn: Thư ký ASEAN - Số liệu thống kê 2001

Nhìn vào số liệu trong bảng 1.1 ta có thể thấy, nền kinh tế các nước ASEAN được chia thành hai nhóm: nhóm các nước có nền kinh tế phát triển hơn, cơ cấu

Trang 30

sản phẩm đi theo hướng dịch vụ và công nghiệp, còn nhóm thứ hai gồm các nước

có nền kinh tế kém phát triển hơn, cơ cấu sản phẩm vẫn chủ yếu dựa vào các sản phẩm nông nghiệp Điều này cũng là căn cứ để các nhà đầu tư nước ngoài xác định lĩnh vực đầu tư vào từng nước

1.2.1.4 Môi trường đầu tư

Do có sự gắn bó về địa hình và các nguồn lực tự nhiên, dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, các nước Đông Nam Á đã liên kết lại tạo ra một khối chung thống nhất với mục đích là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tất cả các nước thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Châu Á, viết tắt là ASEAN được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băngkok, Thái Lan Số thành viên ban đầu là 5 nước: Thái Lan, Malaysia, Singapore, Philippines, Indonesia Sau đó, năm 1984 kết nạp thêm Brunei, 1995 kết nạp Việt Nam, 1997 kết nạp Lào và Mianmar, tới năm 1999 kết nạp thành viên thứ 10 là Campuchia Để xây dựng ASEAN vững mạnh về kinh

tế, giữa các nước thành viên đã thực hiện nhiều chương trình hợp tác kinh tế, trong đó chương trình quan trọng nhất trong lĩnh vực đầu tư là chương trình xây dựng ASEAN thành khu đầu tư - AIA - ASEAN Investment Area Mục tiêu của các hiệp định của ASEAN có liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp là nhằm biến khu vực Đông Nam Á gồm hơn 500 triệu dân trở thành khu vực hấp dẫn đầu

tư quốc tế; đồng thời Thúc đẩy sự tự do hoá đầu tư giữa các nước thành viên bằng các điều kiện thuận lợi; và Xây dựng cơ chế kỹ thuật phục vụ cho giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư

Hiệp định cơ bản về khu vực đầu tư ASEAN - AIA được ký kết ngày 7/10/1998 tại Manila, Philippines tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế lần thứ 30 của các nước ASEAN Theo tinh thần của Hiệp định thì tới 1/1/2010 ASEAN trở thành khu vực đầu tư thuận lợi với 3 vấn đề cơ bản được giải quyết, đó là: hợp tác hoá và thuận lợi hoá hoạt động đầu tư, cùng tiến hành xúc tiến và nhận thức

Trang 31

đầu tư, và xây dựng chương trình tự do hoá đầu tư giữa các nước thành viên ASEAN

Mục tiêu chủ yếu của AIA là làm tăng dòng vốn đầu tư từ các nước ASEAN

và ngoài khối ASEAN vào các nước thành viên bằng cách nâng cao khả năng cạnh tranh của môi trường đầu tư và mở cửa hơn nữa và tự do hoá vùng đầu tư ASEAN Để thực hiện mục tiêu trên, các Hiệp định AIA đề cập đến 7 biện pháp

Thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia (trừ một số các ngoại lệ) nằm trong danh mục TEL và SL cho các nhà đầu tư ASEAN vào năm

2010 và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020

Hỗ trợ sự phát triển của kinh tế tư nhân trong AIA

Phối hợp hành động để giúp các nhà đầu tư giảm được chi phí đầu tư: chi phí thủ tục, chi phí xúc tiến đầu tư qua đó nâng cao tính hấp dẫn của AIA

Thuận lợi hoá dòng chảy vốn đầu tư, nâng cao trình độ lao động và tính chuyên nghiệp của chuyên gia và nâng cao trình độ kỹ thuật của các quốc gia ASEAN

Thực hiện rõ ràng và công khai chính sách, luật lệ, quy tắc và thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động đầu tư

Tiến tới hoàn thiện và thống nhất quá trình đầu tư giữa các nước ASEAN

Trang 32

Hiệp định AIA mở ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư như: môi trường đầu tư thuận lợi và được hưởng những ưu đãi trong hoạt động kinh doanh tương tự như các nhà đầu tư của nước chủ nhà Nhân tố chủ chốt mang tính đột phá của AIA là khái niệm rất rộng về “nhà đầu tư ASEAN” Nhà đầu tư ASEAN là nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu về vốn cổ phần và quốc tịch của nước thành viên được đầu tư Điều này có nghĩa là một hãng do một công ty đa quốc gia sở hữu có một dự án đầu tư ở một nước ASEAN đáp ứng các yêu cầu về quốc tịch và vốn cổ phần sẽ được hưởng những ưu đãi trong khuôn khổ AIA giống như những công ty thuộc nước được đầu tư đó

Các lĩnh vực được khuyến khích đầu tư trong AIA là lĩnh vực chế tạo, nông nghiệp, đánh cá, lâm nghiệp, khai khoáng, dịch vụ và các ngành có liên quan Như vậy, AIA đem đến rất nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư kể cả trong nội bộ khu vực Đông Nam Á và cả các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, hoạt động trong AIA các doanh nghiệp cũng gặp không ít các thách thức trong môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao hơn

1.2.2 Thị trường Đông Nam Á - điểm đến của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Do những lợi thế về địa hình và nhân lực, môi trường kinh doanh thuận lợi nên từ lâu khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cái phễu thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1998, môi trường đầu tư của các nước Đông Nam Á đã có những bước cải thiện đáng kể và dần lấy lại lòng tin của các nhà đầu tư Chính vì vậy, trong một thập kỷ trở lại đây Đông Nam Á được coi là một trong những khu vực hấp dẫn nhất đối với đầu

tư trực tiếp nước ngoài Trong năm 2004, khu vực ASEAN đã thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tới 25,6 tỷ USD, quý I năm 2005, đầu tư ở khu vực này đã tăng 5,8 tỷ USD Đầu tư vào khu vực Đông Nam Á tăng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm các ngành dịch vụ và sản xuất Nguyên nhân của vốn FDI vào ASEAN

Trang 33

tăng là do tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực, môi trường đầu tư của các nước này được cải thiện, nhu cầu linh kiện, điện tử trên thế giới tăng, việc tư nhân hoá thành công tài sản Nhà nước ở một số nước, giá dầu tăng Ngoài ra, một

số công ty lớn đang hoạt động tại ASEAN tiếp tục mở rộng, tái đầu tư

Điểm quan trọng làm ASEAN trở thành nơi thu hút sự chú ý của quốc tế vì đây là một khối kinh tế tăng trưởng nhanh và có nhiều tiềm năng Thực tế, với một thị trường có dung lượng hơn 500 tỷ USD thì ASEAN tương đương với vùng kinh tế bùng nổ ven biển duyên hải phía Đông của Trung Quốc Một điểm nữa đáng lưu ý là ASEAN chiếm tới 40% nguồn năng lượng dầu mỏ và gas của khu vực Châu Á Thái Bình Dương Các nước ASEAN đang lấy lại đà tăng trưởng và đây là cơ hội rất lớn đối với giới kinh doanh quốc tế

Những nền kinh tế đứng đầu về đầu tư vào ASEAN năm 2004 là Hoa Kỳ (chiếm tỷ trọng 20%), Nhật Bản (10%), trong nội bộ ASEAN (9,5%) và Anh (7%)

Lĩnh vực sản xuất vẫn là nơi nhận được nhiều đầu tư nhất (chiếm tỷ trọng 45% tổng vốn đầu tư), trong đó chủ yếu từ các nhà đầu tư Nhật Bản và EU Tiếp theo trong danh sách các lĩnh vực nhận được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất là tài chính và các dịch vụ liên quan, bao gồm cả bảo hiểm (30%), trong đó Hoa Kỳ là nhà đầu tư chủ yếu ở lĩnh vực này Các lĩnh vực còn lại như thương mại, bất động sản, dịch vụ, nông nghiệp, thuỷ sản, khai khoáng và xây dựng chiếm 25% còn lại

Những ngành thu hút được nhiều FDI nhất trong lĩnh vực sản xuất là điện và điện tử, hoá chất và các sản phẩm hoá chất, chế tạo các sản phẩm kim loại, rau quả và máy móc thiết bị

Nhằm thu hút đầu tư hơn nữa, khu vực Đông Nam Á đang tăng cường các biện pháp xúc tiến đầu tư, thúc đẩy các liên kết ASEAN - Nhật Bản, ASEAN -

EU, ASEAN - Trung Quốc nhằm mở đường cho dòng vốn đầu tư từ các nước này chảy vào khu vực

Trang 34

Những biện pháp tích cực này khiến cho dòng vốn đổ vào khu vực ASEAN ngày càng tăng

Bảng 1.2 Dòng vốn FDI chảy vào khu vực ASEAN

từ năm 2000 - quý I/2004

Đơn vị: Triệu USD

Năm N-íc chñ nhµ 2000 2001 2002 2003 Quý1/2004

Nguồn: Thư ký ASEAN - Dữ liệu FDI năm 2004

Như vậy, mặc dù sau năm 2000, vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực ASEAN giảm sút, song trong những năm tiếp theo, dòng vốn này đã tăng trở lại Điều đó cho thấy, khu vực ASEAN đã lấy lại được lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài Trong số các nước ASEAN thì Singapore là nơi tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất, tiếp theo đó là Malaysia và một số nước khác như Thái Lan, Brunei, Philippines, Việt Nam Số liệu thống kê cũng cho thấy sự không ổn định trong môi trường đầu tư của Indonesia Liên tiếp trong 2 năm 2000 và 2001 các nhà đầu tư đã rút vốn ra khỏi Indonesia Sang năm 2002, tình hình có cải thiện hơn một chút, song tới năm 2003 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước

Trang 35

này lại giảm Tình hình của Indonesia là lời cảnh báo cho các nước ASEAN trong việc phải cải thiện môi trường đầu tư để thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á SANG CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản được coi là một trong những nhà đầu tư hàng đầu thế giới hiện nay Các công ty đầu tư của Nhật Bản đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có các nước Đông Nam Á Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, các công ty của Nhật Bản đã tìm đường đầu tư vốn sang các nước khác

để thực hiện chiến lược mở rộng hoạt động của mình Vào thời gian này, đồng Yên của Nhật lên giá mạnh làm thay đổi rõ rệt cơ cấu lợi thế so sánh giữa Nhật Bản và các nước đang phát triển Tây Thái Bình Dương theo hướng bất lợi cho Nhật Bản Chẳng hạn, do đồng Yên cao nên hàng ghi hình, ghi âm, đài và hàng điện tử khác của các nước công nghiệp mới (NIEs) xuất khẩu chỉ với giá chưa đầy một nửa giá các sản phẩm cùng loại do Nhật chế tạo Vì vậy, những ngành công nghiệp bị bất lợi, trước hết là những ngành sản xuất hàng chế tạo, xuất khẩu cần nhiều lao động, có kỹ thuật thấp và trung bình phải đầu tư vào các nước trong khu vực này để có được chi phí sản xuất thấp hơn

Để khuyến khích các công ty trong nước đầu tư ra nước ngoài, ngay từ năm

1985 Chính phủ Nhật đã miễn nghĩa vụ phải báo cáo với Bộ tài chính đối với các công ty Nhật Bản đầu tư ra nước ngoài Do vậy, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngày càng nở rộ

Vào giữa năm 1986, những địa bàn lớn thu hút các khoản đầu tư trực tiếp này

là các NIEs châu Á, đặc biệt là Đài Loan và Hàn Quốc Nhưng từ năm 1987, sau khi các đồng tiền của NIEs cũng lên giá mạnh, làn sóng đầu tư này đã lan rộng sang các nước ASEAN, đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Singapore Những khoản

Trang 36

đầu tư này không chỉ nhằm thiết lập những hợp doanh hoặc chi nhánh mới do Nhật sở hữu hoàn toàn, mà còn nhằm mở rộng sản xuất, cũng như mở thêm những dây chuyền sản xuất mới cho các hoạt động hiện hành trong các hợp doanh đó

Do đồng Yên cao, nên những ngành công nghiệp máy móc, thiết bị và sản phẩm trung gian không thể kiếm được lợi nhuận nhờ sản xuất trong nước nữa, thậm chí việc sản xuất ở nước ngoài rồi xuất khẩu trở lại Nhật Bản đã trở nên hấp dẫn hơn, đặc biệt đối với máy móc thông dụng, cần nhiều kỹ thuật thấp, trung bình Mặt khác, các hợp doanh và các chi nhánh của Nhật Bản tại nước ngoài cũng không thể tiếp tục mua những nhập lượng quá đắt từ các công ty mẹ của Nhật như trước được nữa Do vậy, các nhà chế tạo máy móc và thiết bị của Nhật

đã đầu tư mạnh ra nước ngoài, nhất là các nước đang phát triển, để sản xuất cung cấp cho các cơ sở của họ và trở lại cho các công ty mẹ ở Nhật Bản Khuynh hướng đầu tư trực tiếp này của khu vực công nghiệp chế tạo Nhật Bản không chỉ tiếp tục phát triển sản xuất ở các nước trong khu vực để khai thác tài nguyên thiên nhiên và sức lao động rẻ, đối phó với chính sách thay thế nhập khẩu của các nước đó, mà còn đẩy mạnh xuất khẩu từ khu vực, lợi dụng những ưu thế đã được gia tăng do đồng Yên lên giá của họ để sản xuất cho cả thị trường sở tại lẫn thị trường thứ ba, không những thế còn tận dụng được những ưu đãi mà các nước phát triển Âu Mỹ dành cho khu vực, đồng thời tránh được hàng rào buôn bán ở những thị trường này đánh trực tiếp vào các mặt hàng “made in Japan”

Khu vực Đông Nam Á là một thị trường đầu tư quan trọng của Nhật Bản Mặc dù cho đến nay vốn đầu tư của Nhật Bản trải rộng khắp toàn cầu, nhưng khu vực Đông Nam Á vẫn là một điểm đến thu hút được sự quan tâm của khá nhiều công ty Nhật Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 nổ ra ở châu Á làm luồng vốn đầu tư đến từ Nhật Bản giảm sút, nhưng sau đó, khi nền kinh tế các nước dần dần hồi phục, dòng vốn đầu tư lại quay ngược trở lại Bên cạnh Trung Quốc, các nước Đông Nam Á là những nơi tiếp nhận vốn đầu tư nhiều nhất của

Trang 37

Nhật ở khu vực châu Á Tuy nhiên, sau vụ xuất bản sách giáo khoa lịch sử ở Nhật, thì người Trung Quốc đang tẩy chay những gì thuộc về Nhật Bản, và do vậy, số vốn đầu tư của các công ty Nhật lại đang chuyển hướng về phía các nước Đông Nam Á

1.3.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Đầu tư ra nước ngoài là một trong những biện pháp thúc đẩy kinh tế mà hiện nay Thủ tướng Trung Quốc Trung Dung Cơ rất tâm đắc Một mặt, Bắc Kinh đẩy mạnh quan hệ thương mại ở cấp Chính phủ với Hiệp hội các nước Đông Nam Á, mặt khác, các công ty trong nước đều ráo riết tìm cách mở rộng hoạt động ra nước ngoài Các công ty Trung Quốc tâm niệm rằng: “Để vượt qua những thách thức khi gia nhập WTO, người Trung Quốc không thể ngồi chờ đối thủ đến Chỉ

có ra ngoài bạn mới biết thế giới rộng lớn nhường nào và bắt nhịp được với luật chơi của các đại gia” Và họ đã thực hiện được những gì họ mong muốn Có thể thấy hiện nay, hàng Trung Quốc đang tràn ngập khắp nơi trên thế giới, và tất nhiên, không loại trừ các nước Đông Nam Á Xe máy nguyên chiếc hoặc xe có lắp ráp linh kiện Trung Quốc chiếm đến 70% thị phần Việt Nam Tại Indonesia, Trung Quốc có đại diện trong 8 hãng sản xuất xe máy lớn nhất Trên những ngả đường Jarkarta xuất hiện nhan nhản biển quảng cáo của các công ty sản xuất điện thoại di động, tủ lạnh và máy điều hoà nhãn hiệu Haier Group Tập đoàn này đã vươn chiếc vòi bạch tuộc tới Indonesia, Philippines, Malaysia, Iran, Mỹ, Nam Phi Không chịu thua kém, New Hope Group cũng đầu tư 20 triệu USD vào các nhà máy chế biến thức ăn gia súc ở Việt Nam và Philippines Một trong những gã khổng lồ chinh chiến nhiều nhất là Ngân hàng Trung Quốc (BoC) Với các chi nhánh ở Thái Lan, Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc, Philippines, Indonesia, họ đã đặt chân lên hầu hết các nước lớn ở khu vực Châu

Á BoC không chỉ quan tâm đến các dịch vụ tài chính tín dụng mà còn tham gia cải thiện cơ sở hạ tầng, chẳng hạn xây cầu đường, xe lửa Đối với Bắc Kinh,

Trang 38

đây là một trong những cách chứng tỏ sức mạnh và ảnh hưởng của một cường quốc

Hiện tại, Trung Quốc hợp tác với các nước ở rất nhiều lĩnh vực như hàng không, gỗ, giấy, nhiên liệu Vốn đầu tư ra nước ngoài của đất nước này tăng nhanh kỷ lục Năm 1999, Chính phủ mới phê chuẩn cho các dự án vào Đông Nam Á khoảng 72 triệu USD, một năm sau đã tăng 50% Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế thì trên thực tế số tiền rót ra nước ngoài còn cao hơn gấp nhiều lần [5, tr.36]

Nền kinh tế Trung Quốc đang bước vào thời kỳ ổn định và phát triển nhanh Các số liệu về tăng trưởng kinh tế ở mức cao, sự phát triển mạnh của ngành hàng không vũ trụ và thành tựu to lớn đạt được trong những ngành khoa học mũi nhọn

mà Chính phủ Trung Quốc công bố, cho thấy nước này đang nỗ lực thực hiện tham vọng trở thành siêu cường thế giới vào năm 2020 Hiện Trung Quốc đang rất tích cực tham dự vào hầu hết mọi công việc quốc tế và theo đuổi chiến lược nhằm khẳng định vị trí của mình trên toàn cầu Sự tăng trưởng nhanh của Trung Quốc đang tạo nên xu hướng thay đổi công nghệ, chuyển các công nghệ tiêu hao năng lượng lớn, gây ảnh hưởng môi trường ra nước ngoài Điều này là tất yếu trong quá trình phát triển

Trung Quốc đã đàm phán hơn 100 Hiệp định thương mại và đầu tư song phương hoặc đa phương Trong giai đoạn hiện nay, mở rộng đầu tư trực tiếp ở nước ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế nội địa là giải pháp tối ưu của Trung Quốc Các nhà lãnh đạo Trung Quốc biết rõ rằng mặc dù có dư tiền vốn nhưng nếu đầu tư quá nhiều ở trong nước sẽ làm cho nền kinh tế quá nóng, gây thêm sức

ép cho đồng nhân dân tệ và làm mất ưu thế cạnh tranh của thị trường có giá nhân công rẻ Vì vậy, tăng cường đầu tư ở nước ngoài, chú trọng vào khâu sản xuất nguyên liệu để đưa về nước cung cấp cho các ngành chế tạo, hoá dầu là một hướng đi đúng

Một nguyên nhân khác kích thích các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài là để tránh các biện pháp đối kháng của các nước đánh vào hàng xuất

Trang 39

khẩu Trung Quốc, như áp đặt hạn chế thương mại, áp đặt thuế chống bán phá giá

Có thể lấy ví dụ trong lĩnh vực dệt may, các doanh nghiệp Trung Quốc đang tính đến chuyện chuyển một số cơ sở sản xuất ra nước ngoài do có nhiều giới hạn hơn trong xuất khẩu hàng dệt may đến Mỹ Washington đã áp đặt hạn chế lên nhập khẩu của khoảng 10 loại hàng may mặc và vải Trung Quốc sau khi hệ thống hạn ngạch toàn cầu bị dỡ bỏ vào 1/1/2005 Và những đối tác có thể thay thế Trung Quốc làm công việc sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc chính là những “ông bạn láng giềng” - ASEAN, những nơi có ưu thế về nhân công và nguyên liệu trong lĩnh vực này

Đầu tư sang các nước ASEAN để gây ảnh hưởng của Trung Quốc tới khu vực này cũng là một chiến lược “bao sân”, giúp Trung Quốc có thể bảo vệ được

“mạng sườn“ phía Tây Nam của mình Đồng thời, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng không muốn chậm chân, bỏ lỡ cơ hội ở khu vực kinh tế phát triển khá năng động này

1.3.3 Kinh nghiệm của các nền kinh tế công nghiệp mới - NIEs

Các nền kinh tế công nghiệp mới như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong kong là những nền kinh tế phát triển khá năng động, một mặt vẫn không ngừng kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong nước để thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, mặt khác vẫn khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài Những nước này hiện nay là những nhà đầu tư lớn trên thế giới Đầu tư ra nước ngoài để kéo dài chu trình vòng đời sản phẩm ở nước ngoài, di chuyển các công nghệ đã khấu hao sang nước khác để tìm kiếm nguồn lợi mới là một trong những bước đi để thực hiện chiến lược “hướng ngoại” của các quốc gia này

Có thể lấy ví dụ ở Hàn Quốc: Sau một thời gian dài tập trung vào phát triển kinh tế ở trong nước, giờ đây Hàn Quốc đang xúc tiến Chiến lược “hướng ngoại”

và trở thành một trong những nhà đầu tư hàng đầu Châu Á với một loạt các tập đoàn và công ty đa quốc gia, như Hyundai và Samsung có khả năng cạnh tranh không thua kém gì so với các tập đoàn hùng hậu của Nhật Bản, Mỹ và Tây Âu

Trang 40

Chiến lược hướng ngoại của các công ty Hàn Quốc được thúc đẩy với khẩu hiệu

“Đầu tư ra nước ngoài là yêu nước” Trước đây đầu tư vào trong nước là tốt và những gì đưa ra nước ngoài bị coi là trái ngược, và thậm chí bị coi là làm thâm hụt nguồn vốn ngoại tệ, giảm vốn để phát triển kinh tế trong nước Nhưng giờ đây, đầu tư ra bên ngoài được khuyến khích và được coi là góp phần nâng cao công nghệ trong nước Bốn lĩnh vực phản ánh rõ chiến lược “hướng ngoại” hiện nay của các công ty Hàn Quốc là: chế tạo ô tô, thép, điện thoại di động và năng lượng Tờ New York Times đã đánh giá Hàn Quốc là một trong những nhà đầu tư hàng đầu tại Châu Á, đặc biệt là tại các thị trường lớn như Trung Quốc, Ấn Độ,

và khu vực Đông Nam Á

Đối với các nước Đông Nam Á thì Đài Loan, Singapore là những nhà đầu tư quen thuộc và là những đại gia được chào đón nhất Những quốc đảo nhỏ bé này, mặc dù với diện tích và dân số không lớn, tài nguyên hầu như không có gì, lại là những nước xuất khẩu lớn trên thế giới Điều này được lý giải một phần bởi việc đầu tư vốn sang các nước khác, tận dụng nguồn lao động nhiều và rẻ, nguồn tài nguyên phong phú và chi phí đất đai và quản lý thấp ở những nước này Các lĩnh vực được đầu tư nhiều nhất ở các nước Đông Nam Á là dệt may, giày dép, Singapore từ lâu đã gặp phải vấn đề khó khăn về giá nhân công, đất đai, chi phí sản xuất cao, tốc độ tăng dân số thấp, cơ cấu dân số đang già đi, đi đôi với việc cạnh tranh kinh tế ngày càng trở nên gay gắt Nhằm đối phó với những thách thức này, Singapore chủ trương nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng cường đầu tư ra nước ngoài và tìm kiếm thị trường, nguồn tài nguyên và kỹ thuật mới, đặc biệt chú trọng vào việc thành lập các tam,

tứ giác phát triển với các nước láng giềng để phục vụ cho chủ trương trên và đưa Singapore trở thành một trung tâm điều phối sản xuất, gia công lắp ráp sản phẩm của các công ty đa quốc gia trên thế giới Những nước được nhận đầu tư nhiều nhất và sớm nhất của các công ty Singapore là các nước Đông Nam Á Sau đó hoạt động đầu tư đã được mở rộng sang các thị trường khác như Châu Âu và Bắc

Mỹ, Châu Mỹ Latinh Các lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Singapore

Ngày đăng: 16/04/2014, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá (2003), Hội nhập kinh tế áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước
Tác giả: Lê Xuân Bá
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
Năm: 2003
3. Phan Xuân Dũng (2004), Chuyển giao công nghệ ở Vịêt Nam thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao công nghệ ở Vịêt Nam thực trạng và giải phá
Tác giả: Phan Xuân Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
4. Thái Hà (2005), “Khơi thông luồng đầu tư ra nước ngoài”, Thông tin tài chính = Financial bulletin, (20), tr.16 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khơi thông luồng đầu tư ra nước ngoài”", Thông tin tài chính = Financial bulletin
Tác giả: Thái Hà
Năm: 2005
5. T.Hải (2005), “Vai trò của đầu tư trong nền kinh tế Trung Quốc”, Ngoại thương , (30), tr. 35 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đầu tư trong nền kinh tế Trung Quốc"”, Ngoại thương
Tác giả: T.Hải
Năm: 2005
6. Bierman, Harold (2000) Quyết định dự toán vốn đầu tư - Phân tích kinh tế các dự án đầu tư, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định dự toán vốn đầu tư - Phân tích kinh tế các dự án đầu tư
Nhà XB: NXB Thống kê
7. Nguyễn Hữu Hiểu (2005), “Giải pháp tài chính thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài”, Kinh tế dự báo, (4), tr.20 - 21, 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tài chính thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài"”, Kinh tế dự báo
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiểu
Năm: 2005
8. Đinh Thị Diên Hồng (2002), “Một số vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt nam và đầu tư của Việt nam ra nước ngoài trong tình hình mới”, Tạp chí ngân hàng, (1+2), tr. 100 - 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt nam và đầu tư của Việt nam ra nước ngoài trong tình hình mới”, "Tạp chí ngân hàng
Tác giả: Đinh Thị Diên Hồng
Năm: 2002
9. Vũ Chí Lộc (1997), Giáo trình Đầu tư nước ngoài, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đầu tư nước ngoài
Tác giả: Vũ Chí Lộc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
10. Lê Quốc Lý (2004) Tỷ giá hối đoái những vấn đề lý luận và thực tiễn điều hành ở Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ giá hối đoái những vấn đề lý luận và thực tiễn điều hành ở Việt Nam
Tác giả: Lê Quốc Lý
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
11. Mia Mikie(2003), Xúc tiến thương mại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xúc tiến thương mại
Tác giả: Mia Mikie
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
12. Hữu Phúc (2005), “Hàn Quốc - nhà đầu tư châu Á chiến lược hướng ngoại”, Ngoại thương, (36), tr 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc - nhà đầu tư châu Á chiến lược hướng ngoại”, "Ngoại thương
Tác giả: Hữu Phúc
Năm: 2005
13. Lưu Quang (2002), Qui định pháp luật về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp tổ chức kinh tế Việt Nam , NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui định pháp luật về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp tổ chức kinh tế Việt Nam
Tác giả: Lưu Quang
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2002
14.Trần Văn Quế chủ biên, (2003), 35 năm ASEAN hợp tác và phát triển, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 35 năm ASEAN hợp tác và phát triển
Tác giả: Trần Văn Quế
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
15. Lê Văn Sang - Lưu Ngọc Trịnh (1991), Nhật bản đường đi tới một siêu cường kinh tế, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật bản đường đi tới một siêu cường kinh tế
Tác giả: Lê Văn Sang - Lưu Ngọc Trịnh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1991
16. Lê Văn Sang (2005), Cục diện kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XXI, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục diện kinh tế thế giới hai thập niên đầu thế kỷ XX
Tác giả: Lê Văn Sang
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2005
17. Nguyễn Thiết Sơn (2004), Giáo trình các công ty xuyên quốc gia, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình các công ty xuyên quốc gia
Tác giả: Nguyễn Thiết Sơn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2004
18. Nguyễn Đình Tài (2006), “Luật đầu tư {chung}”, Chứng khoán Việt Nam, (1+2), tr.77- 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư {chung}”, "Chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Tài
Năm: 2006
35. Trang Thông tin về quan hệ Trung Quốc - Asean: http://www.china- asean.net Link
36. Trang thông tin Thời báo kinh tế Sài gòn: http://www.saigontimes.com.vn Link
37. Trang thông tin của Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài: http://quehuong.vnn.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tổng quan kinh tế của các nước ASEAN - 10 năm 2001 - Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á
Bảng 1.1. Tổng quan kinh tế của các nước ASEAN - 10 năm 2001 (Trang 29)
Bảng 1.2. Dòng vốn FDI chảy vào khu vực ASEAN - Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á
Bảng 1.2. Dòng vốn FDI chảy vào khu vực ASEAN (Trang 34)
Bảng 2.2. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân theo nước tiếp nhận - Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á
Bảng 2.2. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân theo nước tiếp nhận (Trang 62)
Bảng 2.3. Đầu t- trực tiếp ra n-ớc ngoài theo năm - Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á
Bảng 2.3. Đầu t- trực tiếp ra n-ớc ngoài theo năm (Trang 64)
Bảng 2.4 - Đầu tƣ trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang Lào - Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á
Bảng 2.4 Đầu tƣ trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam sang Lào (Trang 66)
Bảng 2.5 - FDI của các doanh nghiệp Việt Nam sang Singapore - Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á
Bảng 2.5 FDI của các doanh nghiệp Việt Nam sang Singapore (Trang 68)
1. Hình thức đầu tư:  (mô  tả cụ thể  hình thức đầu tư ra  nước  ngoài theo  quy  định của pháp luật nước đến đầu tư); - Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang các nước Đông Nam Á
1. Hình thức đầu tư: (mô tả cụ thể hình thức đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật nước đến đầu tư); (Trang 127)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w