Thực trạng thanh toán biên mậu tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - thực trạng và giải pháp
Trang 1VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN TRUNG VÃN
Sinh viên thực hiện : PHẠM THỊ HẠNH
Hà Nội - 05/2008
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những giải pháp nhằm đẩy mạnh hợp tác giữa các nước chung biên giới là phải phát triển quan hệ thương mại biên mậu Kể từ khi các cửa khẩu biên giới Việt Nam với Trung Quốc chính thức khai thông trở lại cũng như các cửa khẩu biên giới với Lào và Campuchia được nâng cấp, quan
hệ tác thương mại giữa Việt Nam và các nước có chung biên giới được khôi phục và phát triển, giao lưu hàng hoá và dịch vụ của dân cư và các doanh nghiệp ngày càng sôi động Do vậy, thanh toán Biên mậu (dưới đây được viết tắt là TTBM) ngày càng trở lên cấp thiết như một đòi hỏi khách quan không thể thiếu Điều đó thúc đẩy sinh nhu cầu thanh toán quan biên giới là tất yếu, không thể khác được
Trên thực tế, chúng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển thương mại biên giới như một biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế các tỉnh biên giới, tăng cường đoàn kết dân tộc, củng cố biên cương Đi đôi với hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước ta và các Bộ ngành liên quan đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy thương mại biên giới nhằm khai thác lợi thế của các tỉnh biên giới, thống nhất hoạt động thương mại biên giới với chiến lược phát triển thương mại chung Mọi người đều biết, sự phát triển buôn bán với các nước có chung biên giới là một xu thế tất yếu của nhất thể hoá kinh tế thế giới Trong những năm qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (dưới đây được viết tắt là NHNo&PTNT VN) không ngừng nỗ lực
mở rộng mạng lưới hệ thống ngân hàng đại lý, ký kết thoả thuận với các ngân hàng thương mại nước bạn có chung đường biên giới và đã trở thành ngân hàng đầu tiên trong cả nước thực hiện dịch vụ TTBM Ngày nay, TTBM là
Trang 3một dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng đối với Ngân hàng thương mại (dưới đây được viết tắt là NHTM) Việt Nam, là một mắt xích quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh Biên mậu TTBM phát triển mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như tăng cường khâu quản lý ngân sách của Nhà nước Ngoài ra, TTBM
sử dụng đồng tiền của các nước có chung biên giới nên tránh được sự phụ thuộc vào các ngoại tệ mạnh vẫn thường dùng trong các phương thức thanh toán quốc tế với mức kim ngạch lớn
Tuy nhiên, kết quả TTBM tại NHNo&PTNT VN vẫn còn hạn chế chưa tương xứng với vị thế NHTM hàng đầu trong dịch vụ này Cụ thể, tỷ lệ TTBM mới chỉ chiếm khoảng trên 10% (năm 2006 là 14,15%; năm 2007 là 12,35%) trên tổng doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của cả hệ thống Trong khi đó, nhu cầu TTBM của các doanh nghiệp ngày càng tăng doanh số Đây chính là cơ hội để NHNo&PTNT VN tiếp tục mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán Biên mậu Nhận thức được ý nghĩa của vấn
đề này, đề tài “Thanh toán Biên mậu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - thực trạng và giải pháp” là thực sự cấp thiết ở nước ta hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Hoạt động TTBM nhìn chung chưa có nhiều công trình nghiên cứu Trong khoảng 15 năm trở lại đây, kể từ khi các cửa khẩu quốc tế Việt – Trung chính thức khai thông trở lại và các cửa khẩu khác được Nhà nước đầu tư mới
đã có một số Luận văn Thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề này Tiêu biểu, năm
2002 có Luận văn “ Một số giải pháp tăng cường hoạt động TTBM tại NHNo&PTNT VN” của Thạc sỹ Nguyễn Thị Phượng (Học viện Ngân hàng) Gần đây nhất, có Luận văn “Giải pháp phát triển TTBM tại NHNo&PTNT
Trang 4Chi nhánh Lào Cai” của Thạc sỹ Phạm Tiến Trình (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) Hai luận văn này, đã khái quát được những vấn đề chung về TTBM và đề xuất được một số giải pháp để phát triển TTBM tại Chi nhánh cũng như trong hệ thống NHNo&PTNT VN Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu đã lâu (năm 2002), nội dung đã lạc hậu so với tình hình phát triển mới mẻ, sôi động gần đây Công trình mới nhất cũng chỉ nghiên cứu ở cấp độ một chi nhánh thuộc NHNo&PTNT VN Đề tài này sẽ nghiên cứu một cách
hệ thống và cập nhật những nội dung mới của TTBM giai đoạn (1997 – 2007) nhằm đưa ra những giải pháp cấp thiết cho bước ngoặt phát triển TTBM trong những năm tới tại NHNo&PTNT VN
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về TTBM ở chương
1 và đánh giá thực trạng TTBM tại NHNo&PTNT Việt Nam (TTBM với Trung Quốc) ở chương 2, mục đích cuối cùng của đề tài là đưa ra định hướng
và giải pháp nhằm phát triển TTBM tại NHNo&PTNT Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về TTBM
- Đánh giá thực trạng TTBM tại NHNo&PTNT VN
- Đề xuất các giải pháp phát triển TTBM tại NHNo&PTNT VN
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề về TTBM tại NHNo&PTNT VN trong thời gian qua và triển vọng trong năm tới
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động TTBM tại NHNo&PTNT
VN (bao gồm cả Chi nhánh tham gia TTBM trực tiếp và Chi nhánh ủy thác TTBM) từ năm 1997 đến hết năm 2007
Trang 56 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac- Lênin làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo Đồng thời, đề tài còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp điều tra, khảo sát và nghiên cứu tình huống cụ thể để giải quyết vấn đề đặt ra Các phương pháp nghiên cứu trên được sử dụng độc lập hoặc kết hợp trong quá trình nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần chính của luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về TTBM của các Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng TTBM tại NHNo&PTNT VN
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển TTBM tại NHNo&PTNT VN trong những năm tới
Trang 6CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN BIÊN MẬU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm thanh toán quốc tế
Trong giao dịch thương mại quốc tế, luôn tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi ro và lợi nhuận Việc bán hàng, thanh toán tiền hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người mua ở nước ngoài chứa đựng nhiều rủi ro hơn nhiều so với trong nước Nguyên nhân là do các nước khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán, tiền tệ và đặc biệt là sự xa cách về địa lý, chính trị Nếu không
có sự hiểu biết nhất định thì việc chấp nhận một hợp đồng ngoại thương là không dễ dàng Vấn đề là khi bán hàng, người bán cần phải thu tiền bằng cách nào cho phù hợp, thuận tiện và chắc chắn Như vậy, rõ ràng các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân không thể tự thực hiện việc thanh toán trên phạm vi quốc tế Để thương mại quốc tế phát triển cần có những biện pháp giải quyết những vấn đề rủi ro trên Đó là tất yếu hình thành việc thanh toán qua các Ngân hàng thương mại – một trung gian tài chính quan trọng trong bất kỳ nền kinh tế nào
Thanh toán quốc tế (International Payment) là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau
1.1.2 Vai trò của thanh toán quốc tế
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân
Trước xu thế toàn cầu hoá, các quốc gia đang ra sức phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập Trong bối cảnh đó, thanh toán quốc
tế nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước với kinh tế thế giới bên
Trang 7ngoài, là công cụ không thể thiếu được trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi nước [15 tr 88-89]
1.1.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại ra đời vào khoảng thế kỷ XV, thực chất là một doanh nghiệp được thành lập và hoạt động dưới sự kiểm soát, quản lý, điều tiết của ngân hàng nhà nước, thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng, làm các dịch vụ ngân hàng với nội dùng nhận tiền gửi và sử dụng tiền đó để cấp tín dụng, cung ứng các dich vụ thanh toán Khi thay mặt khách hàng thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, các ngân hàng trở thành cầu nối trung gian thanh toán giữa hai bên mua bán
Với vai trò trung gian thanh toán, các ngân hàng tiến hành thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán đồng thời tư vấn và hướng dẫn khách hàng những biện pháp
kỹ thuật nghiệp vụ TTQT nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ mua bán với nước ngoài Mặt khác, trong quá trình thực hiện TTQT, khách hàng không đủ năng lực về vốn sẽ cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện tài trợ xuất nhập khẩu cho khách hàng một cách chủ động và tích cực Nhìn chung, ngân hàng là người cung cấp hoàn hảo các loại hình dịch vụ kỹ thuật và tài chính nhằm hỗ trợ cho các khách hàng thực hiện hoạt động thương mại quốc tế
Trang 81.1.2.3 Đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Thanh toán quốc tế liên quan tới quyền lợi của các bên mua và bên bán
và được coi là điều khoản quan trọng trong khi kí kết hợp đồng ngoại thương Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng là trung gian thanh toán, giúp cho quá trinh thanh toán của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, an toàn và tiện lợi, giảm bớt chi phí thay vì phải thanh toán bằng tiền mặt Nhờ có ngân hàng
mà các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất - nhập khẩu đựoc bảo vệ quyền lợi, được ngân hàng tư vấn, hướng dẫn về kỹ thuật nhằm giảm thiểu rủi
ro, tạo sự an tâm, tin tưởng của khách hàng trong quan hệ giao dịch, mua bán với nước ngoài
Mặt khác, nếu khách hàng không đủ khả năng tài chính để đáp ứng yêu cầu giao dịch với đối tác thì ngân hàng có thể tài trợ thông qua các hình thức cho vay, bảo lãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất - nhập khẩu…nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp này
1.1.3 Phương thức và công cụ TTQT
1.1.3.1 Phương thức TTQT
a Phương thức thanh toán chuyển tiền (Remittance)
Theo phương thức này, người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền cho chủ nợ (người xuất khẩu) hưởng Ngân hàng thực hiện
ủy nhiệm này thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người thụ hưởng (người xuất khẩu)
Nội dung và sơ đồ quy trình nghiệp vụ của phương thức thanh toán chuyển tiền được thể hiện qua trình tự sau đây:
Trang 9Quy trình phương thức chuyển tiền
(1) Người chuyển tiền yêu cầu ngân hàng nước mình chuyển một số tiền nhất định cho người được hưởng ở nước ngoài
(2) Ngân hàng phục vụ người chuyển tiền thực hiện yêu cầu của người chuyển tiền, làm thủ tục và chuyển tiền ra nước ngoài
(3) Ngân hàng nước người nhận tiền sau khi đã nhận được tiền chuyển đến, thực hiện trả cho người nhận
b Phương thức nhờ thu (Collection of payment)
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ nào đó cho nhà nhập khẩu tiến hành ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu hoặc chứng từ do người xuất khẩu lập
Dựa trên cơ sở cách thức yêu cầu thanh toán của bên bán có thể phân biệt thành 2 hình thức nhờ thu sau:
- Nhờ thu trơn (Clean Collection): là phương thức thanh toán trong đó
bên bán ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối phiếu do chính người bán lập Các chứng từ thương mại có liên quan đến
Ngân hàng nước chuyển
tiền
Ngân hàng nước nhận tiền
3
Trang 10giao dịch bên bán đã chuyển trực tiếp cho người mua, không qua ngân hàng
Quy trình nhờ thu trơn
(1) Bên bán giao hàng đồng thời chuyển toàn bộ chứng từ hàng hóa cho bên mua
(2) Bên bán lập hối phiếu đòi tiền người mua, ủy nhiệm qua ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua
(3) Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu qua ngân hàng bên mua nhờ thu tiền từ người mua
(4) Ngân hàng phục vụ bên mua đòi tiền người mua hoặc yêu cầu ký chấp nhận hối phiếu
(5) Bên mua thanh toán tiền
(6) Chuyển tiền cho ngân hàng bên bán
(7) Thanh toán tiền cho bên bán
Với quy trình trên, chúng ta có thể rút ra nhận xét:
Ngân hàng nước nhập khẩu Ng©n hµng n-íc xuÊt
Trang 11Phương thức nhờ thu trơn không đảm bảo quyền lợi cho bên bán Sự trả tiền và sự nhận hàng còn tách rời nhau, không có tính ràng buộc lẫn nhau Người mua nhận hàng nhưng có thể không chịu trả tiền hoặc trì hoãn việc trả tiền Ngược lại, đối với người mua cũng có thể bị tổn thất trong trường hợp đã giao tiền và chưa được kiểm tra hàng hóa có đúng theo hợp đồng quy định hay không
Như vậy phương thức nhờ thu trơn chỉ áp dụng trong những trường hợp người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc có quan hệ liên doanh với nhau giữa công ty mẹ - công ty con hoặc chi nhánh của nhau
- Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection): là phương thức
thanh toán, trong đó bên bán ủy nhiệm cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hóa gửi kèm với điều kiện nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền (đối với hối phiếu có kỳ hạn) sẽ trao bộ chứng từ cho người mua đi nhận hàng Các bước và trình tự nghiệp vụ của nhờ thu kèm chứng từ cũng tương tự như sơ
đồ 1.2, chỉ khác là bộ chứng từ gửi đi đòi tiền bên mua bao gồm cả hối phiếu
và bộ chứng từ hàng hoá
c Phương thức thanh toán mở tài khoản (Open account)
Theo phương thức này, sau mỗi chuyến giao hàng, người xuất khẩu gửi
bộ chứng từ hàng hóa cho người mua để họ nhận hàng và trả tiền hàng
Cách thức thanh toán
Hai bên mở tài khoản để ghi các khoản tiền cần thanh toán cho nhau
Số dư nợ sẽ được người mua thanh toán dần theo định kỳ đã thỏa thuận Đặc điểm của phương thức thanh toán mở tài khoản:
- Phương thức này không có sự tham gia của các ngân hàng với chức
Trang 12năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán
- Chỉ mở tài khoản đơn biên, không mở tài khoản song biên
- Tài khoản do bên mua mở chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh quyết toán
- Chỉ có 2 bên tham gia thanh toán là người mua và người bán
Trường hợp áp dụng
Thường được áp dụng trong nội thương ở các nước tư bản, ít được dùng trong mậu dịch quốc tế, vì không bảo đảm quyền lợi cho người xuất khẩu Phương thức này đòi hỏi người xuất khẩu phải rất tin cậy vào thiện chí
và khả năng thanh toán của người nhập khẩu, nên trong ngoại thương chỉ sử dụng để thanh toán:
- Giữa các chi nhánh của cùng một công ty hoặc xí nghiệp, giữa công
ty mẹ công ty con đặt trên địa bàn thuộc nhiều nước khác nhau
- Giữa các công ty có liên hệ thương mại lâu năm, có truyền thống, trị giá hàng mậu dịch thường xuyên, nhưng không lớn
- Hàng đại lý gửi bán
- Giữa các nhà kinh doanh vừa mua, vừa bán lẫn nhau (mua hàng này, bán lại hàng khác) hoặc làm gia công cho nhau Khi ấy, tài khoản được gọi là tài khoản giao dịch vãng lai để ghi các khác nợ - có của hai bên; số dư được thanh toán định kỳ theo cách thức như đã nói
d Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C – Letter of credit)
Thư tín dụng là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C Phương thức này đảm bảo an toàn và công bằng đối với tất cả các bên tham gia thanh toán
Trang 13Phương thức L/C là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng rộng rãi và ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế, chiếm khoảng 70% giá trị thanh toán Quy trình các bước trong nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ được tóm tắt như sau:
NH thanh toán L/C
NH xác nhận L/C
Trang 146 Ngân hàng thông báo kiểm tra chứng từ, nếu chứng từ phù hợp với điều kiện và điều khoản của L/C thì đối chiếu hối phiếu, chứng từ và gửi tới ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng thanh toán theo chỉ định của ngân hàng phát hành để họ thanh toán
7 Ngân hàng bên bán thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu
1.1.3.2 Công cụ thanh toán quốc tế
a Hối phiếu thương mại
Hối phiếu là một lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho một người khác, yêu cầu người này khi nhận hối phiếu, hoặc đến một ngày cụ thể nhất đinh, hoặc một ngày có thể xác định trong tương lai, phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác cầm phiếu
- Tính bắt buộc trả tiền
Người trả tiền hối phiếu phải trả tiền theo đúng nội dung ghi trên tờ phiếu Người trả tiền không thể viện những lý do riêng của mình đối với người phát trái phiếu, người ký hậu mà từ chối trả tiền, trừ trường hợp hối
Trang 15phiếu được lập ra trái với đạo luật chi phối nó
- Tính lưu thông
Hối phiếu có thể được chuyển nhượng một hay nhiều lần thông qua ký hậu trong thời hạn của nó Sở dĩ có đặc điểm này, bởi vì hối phiếu là lệnh đòi tiền của người này với người khác, hối phiếu có một giá trị tiền nhất định, có một thời hạn nhất định, thời hạn này thường là ngắn hạn có được người trả tiền chấp nhận Tóm lại, nhờ vào tính trừu tượng và tính bắt buộc của nghĩa
vụ trả tiền mà hối phiếu có được tính lưu thông
b Séc
Séc là một tờ lệnh vô điều kiện do một khách hàng của Ngân hàng ký phát ra lệnh cho Ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình
để trả cho người chỉ định trên Séc, hoặc trả cho người cầm Séc
Séc ra đời từ chức năng làm phương tiện thanh toán của tiền tệ và được
sử dụng rộng rãi trong những nước có hệ thống ngân hàng phát triển cao Hiện nay Séc là phương tiện chi trả được dùng hầu như phổ biến trong giao lưu thanh toán nội địa của tất cả các nước Séc cũng được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế về hàng hóa, cung ứng lao vụ, du lịch và về các chi trả phi mậu dịch khác
Séc có giá trị thanh toán trực tiếp như tiền tệ, do vậy Séc phải có những quy định về nội dung và hình thức theo luật định Năm 1931, nhiều nước như Đức, Pháp, Ý, Đan Mạch, Hà Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Áo, Bồ Đào Nha đã họp tại Giơ - Ne – Vơ để ký một Công ước Quốc tế về Séc Công ước Giơ -
Ne – Vơ về Séc năm 1931 đã được nhiều nước áp dụng
Đặc điểm của Séc là có tính chất thời hạn, tức là tờ Séc chỉ có giá trị thuộc vào phạm vi không gian mà Séc lưu hành và luật pháp các nước quy định Nhưng nói chung Séc lưu hành trong nội địa thời gian ngắn hơn lưu
Trang 16hành trong thanh toán quốc tế
c Lệnh phiếu
Ngược lại với hối phiếu, lệnh phiếu do người ký phát viết ra để hứa cam kết trả tiền cho người hưởng lợi Với tính thụ động trong thanh toán như trên, trong thanh toán quốc tế, lệnh phiếu ít thông dụng hơn hối phiếu
Lệnh phiếu là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do người ký phát hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác quy định trong lệnh phiếu đó
Các điều mà luật dùng để điều chỉnh hối phiếu cũng áp dụng tương tự cho một lệnh phiếu thương mại Tuy nhiên có một số đặc thù sau đây:
- Kỳ hạn lệnh phiếu được quy định rõ
- Một lệnh phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát để cam kết thanh toán cho một hay nhiều người hưởng lợi
- Lệnh phiếu cần có sự bảo lãnh của Ngân hàng hoặc công ty tài chính
Sự bảo lãnh này đảm bảo khả năng thanh toán của lệnh phiếu
- Khác với hối phiếu thường gồm hai bản: số 1 và số 2, lệnh phiếu chỉ
có một bản chính do người thu trái phát ra để chuyển cho người hưởng lợi lệnh phiếu đó
d Thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là sản phẩm của sự kết hợp giữa khao học kỹ thuật với công nghệ quản lý Ngân hàng, nó là phương tiện thanh toán điện tử và là phương tiện chi trả, mà người sở hữu nó có thể sử dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ, đồng thời cũng có thể sử dụng để rút tiền mănt tại các máy rút tiền tự động của Ngân hàng Các loại thẻ thanh toán gồm có:
- Thẻ rút tiền tự động:
Trang 17Loại thẻ này được dùng để kiểm tra số dư trên tài khoản ở Ngân hàng
và rút tiền có giới hạn tại các máy rút tiền tự động hoặc quầy tự động của các Ngân hàng Có 2 loại thẻ rút tiền tự động:
- Loại chỉ được dùng để rút tiền tại các máy hoặc quầy tự động của Ngân hàng phát hành thẻ
- Loại được sử dụng để rút tiền, không những tại Ngân hàng phát hành thẻ mà còn có thể dùng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia thanh toán thẻ với ngân hàng phát hành thẻ
- Thẻ tín dụng:
Ngoài những công dụng giống như những thẻ trên, loại thẻ này còn có điểm đặc biệt là Ngân hàng phát hành chỉ ghi Nợ tài khoản của người sử dụng thẻ, sau một thời gian nhất định, kể từ thời điểm cấp thẻ hoặc thời điểm chi trả
- Thẻ quốc tế:
Loại thẻ này có công dụng như những thẻ trên, nhưng phạm vi sử dụng của nó không phải chỉ trong phạm vi 1 quốc gia mà còn cả nước ngoài Một
số loại thẻ quốc tế thông dụng như: Visa; Master Card; American Express…
1.1.4 Hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế
Trên thế giới mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng phù hợp với thể chế chính trị, xã hội, tập quan và trình độ phát triển; chính vì vậy, luật pháp giữa các các nước thường là khác nhau Tuy nhiên, khi tham gia các hoạt động quốc tế, các nước đều bình đẳng với nhau, nên không thể dùng luật pháp của một nước nào đó áp đặt buộc nước khác phải theo Sau đây là một số văn bản điều chỉnh hoạt động TTQT theo tính chất pháp lý giảm dần [15, tr98]:
Trang 181.1.4.1 Luật và công ƣớc quốc tế:
- Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán quốc tế (United nations convention on contracts for the international sale of goods-Wien Convention 1980)
-Công ước Geneve 1930 về Luật thống nhất về hối phiếu (Uniform Law for Bill of Exchange-ULB 1930)
- Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu và lệnh phiếu quốc tế (International Bill of Exchange and International Promissory Note-Un convention 1980)
- Công ước Geneve 1931 về Séc quốc tế (Geneve conventions for Check 1931)
- Các nguồn luật và Công ước quốc tế về vận tải và bảo hiểm
- Các hiệp định song phương và đa phương
1.1.4.2 Các nguồn luật quốc gia
- Bộ luật dân sự
- Luật thương mại
- Luật ngoại hối
- Luật các công cụ chuyển nhượng
- Luật thanh toán quốc tế
1.1.4.3 Thông lệ và tập quan quốc tế
-Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Pratice for Documentary Credit-gọi tắt là UCP)
-Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên hàng “ The Uniform Rules for
Trang 19Bank-to-Bank Reimbursement under Documentary credit-gọi tắt URR”
-Điều kiện thương mại quốc tế (International Commercial Terms- INCOTERMS)
1.2 TỔNG QUAN VỀ TTBM
1.2.1 Cơ sở hình thành TTBM
Trên thế giới, không có một quốc gia nào lại tự sản xuất mọi thứ mình cần Điều kiện tự nhiên, địa lý, trình độ phát triển và một số các yếu tố khác nữa của những nước khác nhau là khác nhau Do vậy, các quốc gia luôn phụ thuộc lẫn nhau về nhiều loại hàng hoá cho sản xuất và tiêu dùng “Kết quả là, một nước sẽ nhập được hàng hoá với giá rẻ đồng thời xuất khẩu những hàng hoá có ưu thế về năng suất lao động, tận dụng được lợi thế so sánh trong ngoại thương” [15, tr.83]
Xét ở gốc độ hai nước có chung đường biên giới, với điều kiện địa lý nằm sát nhau là một yếu tố thuận lợi hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hoá vì vậy buôn bán hàng hoá qua biên giới ngày càng phát triển Một thương vụ biên mậu kết thúc bằng việc bên mua nhận hàng và thanh toán tiền hàng, bên bán giao hàng và nhận tiền theo điều kiện hợp đồng đã ký kết Thông thường, người bán và người mua không thanh toán tiền trực tiếp cho nhau mà họ thanh toán qua ngân hàng từ đó hình thành nghiệp vụ “Thanh toán biên mậu”
Qua sự phân tích trên cho thấy, TTBM được bắt nguồn từ thương mại biên giới và mục đích của nó là hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu giữa các nước có chung đường biên giới được trôi chảy và thuận tiện
1.2.2 Khái niệm TTBM
Quan hệ quốc tế giữa các nước trên thế giới bao gồm nhiều lĩnh vực,
Trang 20bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá…trong đó quan hệ kinh tế (chủ yếu là ngoại thương) đóng vai trò quan trọng, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển Ngoại thương được hiểu là việc mua bán hàng hoá và dịch vụ qua biên giới quốc gia hình thành trên cơ sở nền kinh tế hàng hoá và phân công lao động quốc tế, buôn bán qua biên giới cũng là hoạt động ngoại thương Như vậy, buôn bán qua biên giới và hoạt động ngoại thương nói chung đều liên quan đến:
- Người bán và người mua ở hai nước khác nhau
- Hàng hoá mua bán được dịch chuyển qua biên giới giữa các nước
- Luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán và thanh toán chứa đựng yếu tố quốc tế
Đặc điểm khác nhau cơ bản giữa TTBM và TTQT nói chung là:
Nếu trong TTQT nói chung việc thanh toán phải sử dụng các đồng tiền mạnh, có khả năng tự do chuyển đổi như USD, GBP, EUR,… thì trong TTBM không phụ thuộc vào đồng bản tÖ của các nước có phải là các đồng tiền mạnh hay không mà vẫn sử dụng thanh toán Trong đó, đồng tiền của nước có vị thế kinh tế cao hơn sẽ được sử dụng thông dụng hơn Theo hình thức này thì ngoại tệ chỉ xuất hiện vào thời điểm cuối cùng sau mỗi chu kỳ thanh toán khoản chênh lệch ròng
- Do đặc điểm có thể thanh toán bằng đồng bản tệ của các nước có chung biên giới nên Ngân hàng ở các nước này được phép mở tài khoản bằng đồng tiền của nước kia, nhằm phục vụ cho việc thanh toán thuận tiện Đồng thời như vậy không chỉ các Ngân hàng mà cá nhân doanh nghiệp đều có thể giao dịch trực tiếp với Ngân hàng thông qua tài khoản của mình
- Ngôn ngữ sử dụng trong TTBM là ngôn ngữ của hai nước có chung
Trang 21biên giới hoặc theo thoả thuận của hai bên
Chính những đặc điểm riêng biệt trên mà TTBM đã giúp cho quan hệ thương mại Việt – Trung và tương lai là với cả Lào, Campuchia phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả hơn
Từ sự phân tích trên đi đến khái niệm: Thanh toán biên mậu là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền lợi về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các chủ thể của hai nước có chung biên giới thông qua quan hệ giữa các ngân hàng mà đồng tiền sử dụng trong thanh toán là một trong hai đồng bản tệ của nước có chung biên giới
1.2.3 Vai trò của TTBM
- TTBM góp phần khai thông hoạt động thanh toán đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh doanh xuất nhập khẩu khu vực biên giới nối liền
Để tạo điều kiện cho hoạt động thương mại khu vực biên giới phát triển thuận lợi, khuyến khích xuất khẩu quản lý tốt nhập khẩu, chống buôn lậu và góp phần ổn định tiền tệ biên giới, Chính phủ các nước có chung biên giới đã thực hiện ký kết hiệp định thương mại Đồng thời, Ngân hàng Trung ương các nước có chung biên giới đã ký Hiệp định thanh toán và hợp tác để hướng dẫn thi hành Hiệp định thương mại quy định rõ các hình thức thanh toán phục vụ cho thanh toán xuất nhập khẩu khu vực biên giới cửa khẩu [17, tr.9-10]
Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu thanh toán của dân cư và các doanh nghiệp, các NHTM tại các tỉnh có chung biên giới đã đàm phán thống nhất việc mở tài khoản song phương giữa các chi nhánh và tổ chức thực hiện TTBM, tạo điều kiện cho dân cư và các doanh nghiệp kinh doanh buôn bán hàng hoá dịch vụ qua cửa khẩu quốc tế thực hiện thanh toán bù trừ thanh toán chuyển khoản qua NHTM, không phải vận chuyển tiền mặt qua biên giới để mua hàng hoặc nhận tiền hàng, thiết lập quan hệ đại lý giữa các NHTM hai
Trang 22bên biên giới phù hợp với quy định về thanh toán quốc tế và yêu cầu quản lý ngoại tệ, tiền tệ biên giới góp phần tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế và thực chất
đã khai thông và thúc đẩu hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
- TTBM thúc đẩy hợp tác kinh tế và thương mại khu vực biên giới
Do hoạt động thanh toán được khai thông mà hoạt động kinh tế thương mại giữa các doanh nghiệp được thuận lợi Hàng hoá được lưu thông trao đổi ngày càng lớn, các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh của các địa phương được khai thác phát triển…hoạt động xuất nhập khẩu biên giới giữa các tỉnh chung biên giới ngày càng sôi động [17, tr.10]
- TTBM tăng cường quan hệ hợp tác giữa các Ngân hàng Việt Nam với
các Ngân hàng thương mại khu vực biên giới
Thị trường dịch vụ Ngân hàng và nhu cầu thanh toán XNK của các doanh nghiệp tại các cửa khẩu quốc tế ngày càng lớn và khẩn trương Do đó việc thiết lập quan hệ hợp tác thanh toán với các NHTM khu vực biên giới là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển của NHTM, nhằm phát triển dịch vụ, mở rộng kinh doanh ngoại tệ, thanh toán biên mậu và thanh toán quốc tế
- TTBM góp phần tăng cường quản lý ngoại tệ và tiền tệ khu vực biên giới
Hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá tại các khu vực cửa khẩu biên giới đất liền của dân cư đã xuất hiện từ lâu đời và luôn gắn với thanh toán bằng tiền mặt theo tập quán buôn bán nhỏ lẻ và thói quen sử dụng tiền mặt, vàng bạc, kim khí quý của cư dân biên giới [17, tr.11]
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển của ngoại thương, quan
hệ hợp tác kinh tế thương mại của thương nhân khu vực biên giới ngày càng
Trang 23lớn, do đó việc quản lý tiền tệ và ngoại tệ biên giới đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương nói chung và là nhiệm vụ của ngành Ngân hàng, trong đó các NHTM nơi trực tiếp triển khai các hoạt động thu đổi ngoại tệ và tổ chức các nghiệp vụ thanh toán có vai trò quan trọng
Để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và TTBM, các NHTM
đã lập các bàn thu đổi ngoại tệ đáp ứng yêu cầu quản lý ngoại tệ và tiền tệ biên giới tại các khu vực Cửa khẩu quốc tế, các điểm thăm quan du lịch và một số điểm có nhu cầu dịch vụ thu đổi ngoại tệ, triển khai các dịch vụ thu đổi ngoại tệ và thanh toán xuất nhập khẩu, phục vụ dân cư và các doanh nghiệp khu vực biên giới [17, tr.11]
- TTBM tạo tiền để hình thành phương thức thanh toán của khu vực
mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN
Thanh toán biên giới bằng bản tệ cũng là sự thí điểm trong việc dùng đồng Việt Nam trong thanh toán xuất nhập khẩu với các nước chung biên giới, không có ngoại tệ tự do chuyển đổi trong thanh toán xuất nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ mạnh chi cho nhập khẩu hàng hoá
Kế hoạch hình thành khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN vào năm 2010 đã đặt ra yêu cầu sử dụng một đồng tiền thanh toán riêng của các nước tham gia Điều này hoàn toàn có khả năng trở thành hiện thực, bởi sau sự ra đời của đồng EURO, thế giới đang hình thành ý tưởng ra đời các thị trường khu vực, dần dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào một đồng tiền bá chủ và hình thành nên kết cấu tiền tệ đa cực Trong tương lai, cùng với sự tăng cường thực lực Trung Quốc và các nước ASEAN, việc cho ra đời một đồng tiền chung trong khu vực là điều hoàn toàn có thể trở thành hiện thực trong tương lai
1.2.4 Đặc điểm của TTBM
So với thanh toán quốc tế (thanh toán theo thông lệ quốc tế), TTBM có
Trang 24những đặc điểm sau:
- TTBM gắn liền với hoạt động buôn bán qua biên giới Khu vực biên giới đều cách xa trung tâm kinh tế chính trị, có nhiều khu hành chính phân cách, bất lợi cho vị trí địa lý kinh tế Như vậy, quá trình tổ chức các hoạt động thanh toán biên mậu sẽ không có điều kiện và cơ hội thuận lợi
- Chủ thể tham gia vào hoạt động TTBM thuộc hai quốc gia có chung đường biên giới Trong đó, khu vực biên giới nước láng giềng có hoàn cảnh văn hoá, xã hội và tự nhiên tương tự như nhau, nhân dân biên giới hai nước có ngôn ngữ văn hoá, tập quán sinh sống, truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng gần giống nhau hoặc tương tự nhau, có mỗi liên hệ mật thiết với nhau
- Đồng tiền sử dụng trong TTBM là đồng bản tệ của nước có chung biên giới Trong đó, đồng tiền của nước có vị thế kinh tế cao hơn sẽ được sử dụng thông dụng hơn
- Ngôn ngữ sử dụng trong TTBM là ngôn ngữ của hai nước có chung biên giới hoặc theo thoả thuận của hai bên
- Phương thức giao dịch trực tiếp,qua mạng viễn thông quốc tế SWIFT
- NHTM tham gia TTBM trực tiếp phải tiến hành ký kết thoả thuận hợp
Trang 25tác TTBM đối tác nước ngoài có chung đường biên giới
- Các chi nhánh NHTM ở các tỉnh xa khu vực biên giới cửa khẩu muốn thực hiện các nghiệp vụ TTBM phục vụ khách hàng của mình, phải ký kết hợp đồng đại lý uỷ thác thanh toán với các NHTM tham gia TTBM trực tiếp
- Có đội ngũ cán bộ am hiểu nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ TTBM, thông thạo ngoại ngữ của nước có chung biên giới và nắm rõ quy trình thủ tục thanh toán xuất nhập khẩu qua biên giới để giao dịch với ngân hàng đối tác, tư vấn và hướng dẫn thủ tục cho khách hàng
1.2.5.2 Đối với khách hàng
Cũng giống như thanh toán quốc tế, khách hàng muốn sử dụng nghiệp
vụ TTBM phải có đầy đủ hồ sơ pháp lý, cụ thể:
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số xuất nhập khẩu, giấy phép đầu tư (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
- Quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc, Giám đốc, kế toán trưởng
- Điều lệ hoạt động của Công ty (nếu có)
- Mẫu dấu chữ ký đăng ký tại NHTM
1.3 CÁC HÌNH THỨC TTBM
Hiện nay, các NHTM khu vực biên giới cửa khẩu đã đàm phán và ký kết với các ngân hàng đối tác (cụ thể là các NHTM Trung Quốc) 7 hình thức TTBM, đó là:
1.3.1 Hối phiếu ngân hàng
Hối phiếu ngân hàng là chứng từ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho người chuyển tiền để trích tiền tại tài khoản của ngân hàng phát hành
mở tại Ngân hàng đối tác chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng
Trang 26Hối phiếu được sử dụng đối với đồng bản tệ của nước có chung biên giới Thời hạn hiệu lực: Thời hạn hiệu lực của Hối phiếu ngân hàng do các NHTM khu vực biên giới quy định trong các thoả thuận hợp tác TTBM, thường thì Hối phiếu Ngân hàng có giá trị trong vòng 10 ngày kể từ ngày ký phát, nếu ngày đến hạn là ngày nghỉ, ngày lễ tết được tính vào ngày làm việc tiếp theo
Hối phiếu quá hạn chỉ có thể làm thủ tục thoái phiếu Hối phiếu ngân hàng được nhất loạt ghi tên, ký hậu chuyển nhượng một lần
Tại ngân hàng phát hành: Ngân hàng phát hành sau khi thụ lý đề nghị
phát hành hối phiếu, kiểm tra không sai sót, nhận đủ tiền của khách hàng thì tiến hành kí phát hối phiếu cho khách
Nội dung chủ yếu của Hối phiếu Ngân hàng bao gồm:
- Ngày tháng phát hành,
- Số hối phiếu,
- Người thụ hưởng,
- Tài khoản hoặc số Chứng minh thư của người thụ hưởng,
- Ngân hàng của người thụ hưởng,
- Ngân hàng trả tiền,
- Người chuyển tiền,
- Tài khoản hoặc địa chỉ của người chuyển tiền,
- Nội dung chuyển tiền,
- Số tiền bằng số và bằng chữ,
- Thời hạn hiệu lực
Trang 27Mỗi bộ hối phiếu ngân hàng gồm ba liên đều được ký hiệu mật, có dấu
và chữ ký của người có quyền Dấu và chữ ký phải khớp với mẫu dấu và chữ
ký đã đăng ký tại ngân hàng đối tác
Hối phiếu yêu cầu phải có nội dung hoàn chỉnh, chữ số, dấu và chữ ký
rõ ràng, kí hiệu mật chính xác, không được tẩy xoá sửa chữa
Sau khi ký phát hối phiếu, ngân hàng giao liên 1 cho khách hàng, liên 2 cho ngân hàng đối tác, liên 3 lưu tại ngân hàng phát hành
Tại ngân hàng trả tiền: khi nhận được liên 1 và liên 2 hối phiếu (một
liên do khách hàng mang đến, một liên nhận từ ngân hàng phát hành) Ngân hàng trả tiền tiến hành đối chiếu và kiểm tra tính xác thực của hối phiếu như :
ký hiệu mật, dấu và chữ ký, nếu nội dung hoàn toàn xác thực, hợp lệ mới được thanh toán cho khách hàng
1.3.2 Thanh toán bằng chứng từ chuyển tiền Biên mậu
Chứng từ chuyển tiền biên mậu là chứng từ chuyển tiền do ngân hàng phát hành theo yêu cầu của người chuyển tiền nhằm thực hiện việc thanh toán cho người thụ hưởng thông qua tài khoản của ngân hàng đối tác
Đồng tiền áp dụng trong thanh toán là bản tệ của nước có chung biên giới Phạm vi áp dụng: áp dụng trong việc thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá hoặc các mục đích hợp pháp khác của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân có yêu cầu TTBM
Thời hạn hiệu lực của chứng từ chuyển tiền biên mậu trong vòng 10 ngày kể từ ngày phát hành Nếu ngày hiệu lực cuối cùng trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ tết của hai bên sẽ được tính vào ngày làm việc tiếp theo Chứng từ quá hạn phải làm thủ tục thoái phiếu
Tại ngân hàng phát hành: Ngân hàng phát hành sau khi nhận được đề
Trang 28nghị phát hành chứng từ chuyển tiền, nhận đủ tiền của khách thì phát hành chứng từ cho khách hàng
Nội dung của chứng từ chuyển tiền biên mậu
- Ngày, tháng, năm phát hành,
- Số chứng từ,
- Tên người chuyển tiền,
- Tài khoản hoặc CMT của người chuyển tiền,
- Tên người nhận tiền,
- Tài khoản hoặc CMT của người nhận tiền,
- Ngân hàng phục vụ người nhận tiền,
- Số tiền chuyển bằng số và bằng chữ,
- Nội dung chuyển tiền,
- Thời hạn hiệu lực của chứng từ chuyển tiền
Một bộ chứng từ chuyển tiền được phát hành 3 liên, được ký hiệu mật,
có dấu và 2 chữ ký của ngân hàng phát hành, chữ ký và dấu phải khớp đúng với chữ ký và dấu đã đăng ký tại ngân hàng đối tác
Bề mặt chứng từ ký phát phải có nội dung hoàn chỉnh, chữ số, dấu và chữ ký rõ ràng, ký hiệu mật chính xác không được tẩy xoá, sửa chữa
Sau khi phát hành chứng từ chuyển tiền biên mậu, ngân hàng giao liên
1 chứng từ chuyển tiền cho khách hàng, liên 2 cho ngân hàng đối tác, liên 3 lưu tại ngân hàng phát hành
Tại ngân hàng thanh toán: khi nhận được 2 liên chứng từ chuyển tiền
biên mậu (Một liên do khách hàng mang tới, một liên nhận từ ngân hàng đối
Trang 29tác) thì tiến hành đối chiếu, kiểm tra phù hợp thì trả tiền cho khách hàng
Khi chứng từ chuyên dùng biên mậu quá hạn trả tiền hoặc vì nguyên nhân nào đó người chuyển tiền yêu cầu thoái phiếu, phải mang Liên 1 chứng
từ và đơn xin thoái phiếu đến ngân hàng phát hành Ngân hàng phát hành sau khi nhận được đề nghị thoái phiếu phải thông báo cho ngân hàng chuyển đến
và yêu cầu thoái phiếu Ngân hàng thanh toán phải kịp thời chuyển trả lại Liên 2 cho ngân hàng phát hành
1.3.3 Chứng từ thanh toán thương vụ
Chứng từ thanh toán thương vụ (dưới đây gọi tắt là chứng từ thương vụ), là chứng từ do người mua hàng đề nghị ngân hàng ký phát nhằm khẳng định mình có đủ năng lực thanh toán Khi hợp đồng mua bán được thực hiện,
nó cũng là công cụ để trả tiền Như vậy, người mua hàng phải nộp tiền vào ngân hàng để ngân hàng sẽ ký phát chứng từ thương vụ cho người bán
Đồng tiền áp dụng trong thanh toán là bản tệ của nước có chung biên giới Thời hạn hiệu lực: trong vòng mười ngày kể từ ngày kí phát, nếu ngày hiệu lực cuối cùng trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ tết của hai bên sẽ được tính vào ngày làm việc tiếp theo Chứng từ quá hạn phải làm thủ tục thoái phiếu
Tại ngân hàng phát hành: sau khi nhận được đề nghị phát hành chừng
từ thương vụ, ngân hàng kiểm tra hợp lệ, hợp pháp, nhận đủ tiền thì phát hành chứng từ cho người thụ hưởng
Nội dung của chứng từ thương vụ:
- Ngày, tháng năm phát hành,
- Tên, địa chỉ của người chuyển tiền,
- Số tiền đảm bảo thanh toán (bằng số và bằng chữ),
Trang 30- Người chuyển tiền sơ ký,
- Tên và địa chỉ của người thụ hưởng
- Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng,
- Thời hạn hiệu lực
Chứng từ thương vụ được phát hành 4 liên tính ký hiệu mật, được đóng dấu và có chữ ký của người có thẩm quyền, dấu và chữ ký phải phù hợp với dấu và chữ ký mẫu đã đăng ký tại ngân hàng đối tác Liên một giao cho khách hàng đề nghị, liên hai và ba giao cho ngân hàng đối tác, liên bốn lưu tại ngân hàng phát hành
Chứng từ phải có nội dung hoàn chỉnh, chữ số, dấu và chữ ký phải rõ ràng, chuẩn xác, không được sửa chữa, tẩy xoá
Tại ngân hàng trả tiền: khi nhận được liên 1 chứng từ thương vụ do
khách hàng mang đến, Ngân hàng tiến hành kiểm tra nội dung phù hợp với liên 2 và 3 do ngân hàng phát hành chuyển tới, sau khi kiểm tra các yếu tố trên, nếu nội dung hoàn chỉnh, hợp lệ thì làm thủ tục thanh toán cho khách hàng Sau khi thanh toán, ngân hàng thanh toán mang liên 3 chứng từ đã xác nhận số tiền thanh toán thực tế giao lại cho ngân hàng phát hành để làm cơ sở ghi có cho tài khoản ngân hàng thanh toán
1.3.4 Thƣ bảo lãnh TTBM
Thư bảo lãnh này do ngân hàng phát hành căn cứ theo đề nghị của nhà nhập khẩu để chứng minh cho nhà xuất khẩu thấy khả năng tài chính của mình, đồng thời bảo đảm khi nhà xuất khẩu thực hiện đẩy đủ nghĩa vụ quy định trong hợp đồng thương mại thì nhà nhập khẩu thực hiện trả tiền theo quy định Nếu nhà nhập khẩu không thực hiện được nghĩa vụ trả tiền thì ngân hàng phát hành
sẽ đứng ra thực hiện việc trả tiền thay cho nhà nhập khẩu [17, tr 19]
Trang 31Đồng tiền áp dụng trong thanh toán là bản tệ của nước có chung biên giới Thư bảo lãnh thanh toán biên mậu có thể phát hành bằng thư hoặc bằng điện thông qua mạng SWIFT
Tại ngân hàng phát hành thư bảo lãnh: khi thụ lý đề nghị phát hành thư
bảo lãnh và hồ sơ liên quan nếu đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp, ngân hàng phát hành yêu cầu khách hàng nộp 100% tiền ký quỹ và phát hành thư bảo
lãnh thanh toán cho người thụ hưởng
Nội dung chủ yếu của thư bảo lãnh:
- Số tiền bảo lãnh, nội dung bảo lãnh
Thư bảo lãnh thanh toán được lập thành 4 liên, được tính ký hiệu mật,
có dấu và hai chữ ký của người có quyền khớp với mẫu dấu và chữ ký đã đăng ký Cả 4 liên được chuyển giao cho ngân hàng xác nhận thư bảo lãnh
Thư bảo lãnh phải có nội dung hoàn chỉnh, chữ số rõ ràng, ký hiệu mật chính xác, không được tẩy xoá, sửa chữa Nếu không, thư bảo lãnh sẽ vô hiệu lực và phải phát hành lại
Tại ngân hàng xác nhận thư bảo lãnh: Nhận được 4 liên thư bảo lãnh
thanh toán của ngân hàng đối tác yêu cầu xác nhận, tiến hành xác nhận thư bảo lãnh và xử lý các liên chứng từ như sau: liên một và bốn trả lại ngân hàng phát hành, liên hai thông báo cho người nhận bảo lãnh (người thụ
Trang 32hưởng), liên ba lưu và theo dõi tại ngân hàng xác nhận
Khi nhận được liên hai thư bảo lãnh TTBM, người thụ hưởng lập bộ chứng từ đòi tiền xuất trình tại Ngân hàng xác nhận Ngân hàng xác nhận kiểm tra bộ chứng từ đòi tiền, nếu hoàn toàn phù hợp thì lập thư yêu cầu trả tiền kèm bộ chứng từ gửi ngân hàng đối tác yêu cầu trả tiền
Ngân hàng phát hành nhận được bộ chứng từ cùng thư yêu cầu trả tiền
do ngân hàng đối tác chuyển đến Trong vòng 3 ngày làm việc, ngân hàng phát hành thực hiện kiểm tra nếu bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp sẽ dùng tiền
ký quỹ để thanh toán cho nhà xuất khẩu
Nếu bộ chứng từ không phù hợp thì ngân hàng phát hành phải thông báo bằng văn bản cho nhà nhập khẩu và ngân hàng xác nhận Trong vòng 3 ngày làm việc tiếp theo, nhà nhập khẩu phải chỉ thị bằng văn bản cho ngân hàng phát hành về việc có tiếp tục thanh toán nữa hay không
Huỷ thư bảo lãnh
Nếu thư bảo lãnh quá thời hạn hiệu lực 1 tháng mà ngân hàng phát hành vẫn không nhận được bộ chứng từ đòi tiền từ ngân hàng xác nhận, thì không kể khách hàng có yêu cầu hay không, ngân hàng phát hành vẫn có thể làm thủ tục huỷ thư bảo lãnh và giải toả tiền ký quỹ cho khách hàng
Nếu thư bảo lãnh vẫn trong thời hạn hiệu lực hoặc hết thời hạn hiệu lực chưa qúa một tháng mà người nhập khẩu chủ động đề nghị ngân hàng huỷ thư
uỷ thác Ngân hàng phát hành phải thông báo bằng thư hoặc bằng điện có ký hiệu mật cho ngân hàng xác nhận đề nghị xin ý kiến của nhà xuất khẩu
Khi có ý kiến đồng ý trả lời bằng văn bản của ngân hàng xác nhận thì ngân hàng phát hành mới được làm thủ tục huỷ thư bảo lãnh và giải toả tiền
ký quỹ cho khách hàng
Trang 331.3.5 Chuyển tiền điện biên mậu qua mạng SWIFT
Thanh toán bằng điện chuyển tiền biên mậu là phương thức chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng thông qua mạng SWIFT
- Ngôn ngữ là tiếng Anh
- Đồng tiền áp dụng là bản tệ của nước có chung biên giới
Phạm vi sử dụng: Dùng cho khách hàng hai bên có thanh toán biên mậu, các đơn vị, tổ chức làm công tác XNK và các hộ kinh doanh cá thể
Chuyển tiền cho khách hàng sử dụng mẫu điện MT103, các khoản điều chuyển vốn của mỗi ngân hàng sử dụng mẫu điện MT202
1.3.6 Thƣ tín dụng biên mậu (L/C)
Thư tín dụng biên mậu là lời đảm bảo bằng văn bản do ngân hàng phát hành căn cứ đề nghị của khách hàng (nhà nhập khẩu) cam kết chi trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng (nhà xuất khẩu) nếu người này xuất trình
bộ chứng từ phù hợp với điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng biên mậu
Đặc điểm thư tín dụng biên mậu:
- Ngôn ngữ là tiếng Anh
- Đồng tiền áp dụng là bản tệ của nước có chung biên giới
1.3.7 Thanh toán biên mậu qua Internet Banking
Lệnh giao dịch qua Internet Banking là lệnh chi, các giấy báo có, các điện tra soát và các loại điện mà các ngân hàng gửi cho nhau thông qua Internet Banking
Việc sử dụng Internet Banking sẽ hạn chế được quá trình thanh toán thủ công, rút ngắn thời gian trao đổi chứng từ qua biên giới và giảm thiểu được
Trang 34rủi ro Thanh toán biên mậu qua Internet Banking cho phép đối chiếu chứng
từ thanh toán, số dư, in chứng từ Ngoài ra cũng giúp các ngân hàng thuận tiện trong việc mua bán ngoại tệ, trực tiếp điều tiết vốn giữa các ngân hàng Đồng thời đáp ứng tốt các yêu cầu về mức độ an toàn,bảo mật
Ngân hàng cũng hết sức chú ý tới việc xây dựng chính sách tỷ giá riêng trên cơ sở tham chiếu tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố Đặc biệt đối với tỷ giá giữa VND và đồng tiền các nước chung biên giới vì thực chất đây không phải
là những đồng tiền mạnh, tự do chuyển đổi, do đó tỷ giá thường xuyên biến động lớn, gây rủi ro trong thanh toán và hạn chế việc sử dụng phương thức thanh toán L/C Bên cạnh đó Ngân hàng cũng cần có những chính sách nâng cao uy tín Ngân hàng, thực hiện chính sách khách hàng, marketing cho dịch vụ thanh toán này và phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận như tín dụng, bộ phận phụ trách các bàn thu đổi ngoại tê,…
Trang 35- Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cán bộ ngân hàng
Con người luôn là yếu tố quyết định tới mọi lĩnh vực hoạt động của cuộc sống Công nghệ hiện đại cũng là do con người sáng tạo ra và chỉ có con người mới có thể đưa công nghệ đó vào sử dụng, phát huy tối đa hiệu quả của
nó TTQT nói chung và TTBM nói riêng là hoạt động rất phức tạp và đối mặt với nhiều rủi ro như đã phân tích ở phần trên, do vậy càng đòi hỏi cán bộ Ngân hàng phải có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao Họ có thể là những người tạo nên sự thành công của mọi hoạt động, nhưng cũng có thể làm cho chúng trở nên chậm chạp, thiếu chính xác hay thậm chí là gây những tổn thất lớn Do đó Ngân hàng luôn phải chú trọng tới việc đào tạo cán
bộ nhân viên để họ làm việc chuyên nghiệp, hiểu rõ quy trình nghiệp vụ thanh toán, tránh xảy ra sai sót gây ách tắc trong quá trình thanh toán
- Sự phát triển của công nghệ thông tin
Trong bất kể lĩnh vực nào thì công nghệ luôn là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển Đối với ngành Ngân hàng cũng vậy, với công nghệ hiện đại
là điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa các loại hình hoạt động nhất là với những dịch vụ mới như TTBM Muốn phát triển TTBM rất cần tới sự hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin sao cho ngày càng toàn diện, đồng bộ, tăng mức độ tự động hóa Chỉ như vậy mới có thể quảng bá sản phẩm dịch vụ, mở rộng các phương thức thanh toán với các tính năng nhanh chóng, chính xác, đảm bảo an toàn tiết kiệm chi phí
- Mạng lưới chi nhánh và hệ thống Ngân hàng đại lý
Đối với hoạt động TTBM nếu thực hiện tại các Ngân hàng ủy thác thanh toán thì hệ thống Ngân hàng đại lý đại các cửa khẩu là hết sức quan trọng Với mạng lưới chi nhánh rộng lớn sẽ giúp cho hoạt động thanh toán diễn ra thông suốt, nhanh chóng, dễ dàng, giảm tối đa khâu trung gian, tiết
Trang 36kiệm chi phí và thực hiện trên địa bàn rộng lớn Đồng thời đó cũng là yếu tố nâng cao uy tín, vị thế cạnh tranh của Ngân hàng, từ đó có thể thu hút nhiều khách hàng tham gia giao dịch thanh toán
- Khả năng tài chính của Ngân hàng
Trong hoạt động TTQT nói chung, các quan hệ giao dich buôn bán luôn diễn ra giữa những khách hàng khác quốc gia, sử dụng các đồng tiền khác nhau để chi trả trong khi đó họ lại không có sẵn ngoại tệ phục vụ cho những nhu cầu đó Thanh toán qua biên giới có một vì điểm khác, các cá nhân, doanh ngiệp được mang một lượng ngoại tệ nhất định qua biên giới và
có thể thanh toán trực tiếp với nhau, khi sử dụng dịch vụ TTBM qua Ngân hàng thì khách hàng có thể thanh toán bằng chính đồng bản tệ Như vậy sẽ tiêt kiệm được lượng ngoại tệ lớn cho Ngân hàng Tuy nhiên nếu khách hàng sử dụng các phương thức thanh toán phức tạp như L/C thì đòi hỏi Ngân hàng cũng cần có nguồn lực tài chính vững mạnh để có thể cấp tín dụng, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ khi cần thiết
1.4.2 Các nhân tố khách quan
- Môi trường kinh tế, chính trị của các nước
Mặc dù chỉ là hoạt động thanh toán giữa các nước có chung biên giới nhưng TTBM cũng chịu tác động lớn của môi trường kinh tế chính trị các nước
Khi kinh tế phát triển, chế độ chính trị ổn định, không xảy ra những mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo hay chiến tranh biên giới thì hoạt động giao lưu buôn bán giữa các nước sẽ bị hạn chế Trong khi các nước có chung biên giới tương lai sẽ là đối tác quan trọng hàng đầu với Việt Nam Một sự biến động
về chính trị của nước bạn cũng như của nước ta đều gây ngưng trệ tới thanh toán, ảnh hưởng tới những thỏa thuận của hai bên
Trang 37Bên cạnh đó các chính sách kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng lớn tới TTBM Bởi lẽ các chính sách vĩ mô của Nhà nước sẽ tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các khách hàng từ đó dẫn đến sự biến động của doanh số, số lượng, và phí thu được từ hoạt động TTBM Chính sách kinh tế phù hợp sẽ giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
có được hàng với chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh, đồng thời mở rộng thị trường tìm kiếm các bạn hàng mới Còn ngược lại sẽ cản trợ hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
- Môi trường pháp lý
TTBM đến nay đã đi vào hoạt động được 12 năm, nhưng thực tế cho thấy vẫn chưa có luật điều chỉnh, các thủ tục còn rườm rà, nhiều bất cập Vì vậy để hoạt động TTBM có thể phát triển, quan hệ giao lưu buôn bán giữa các nước có chung biên giới được đấy mạnh, đòi hỏi xây dựng một hành lang pháp lý phù hợp Đồng thời với hệ thống luật pháp rõ rang cũng sẽ giúp cho NHNN thực hiện chức năng quản lý trên lĩnh vực tiền tệ, kiểm soát được việc buôn gian bán lận tại các cửa khẩu kinh tế
Khi nói đến môi trường pháp lý trong TTBM cũng cần quan tâm tới vấn đề hải quan Hiện nay các thủ tục hải quan còn khá rườm rà, gây ảnh hưởng không nhỏ tới nhu cầu giao dịch khách hàng qua ngân hang Khi có chính sách thông thoáng sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi trong việc thanh toán Nhờ đó mà có thể quản lý chặt chẽ việc vận chuyển tiền mặt, hay buôn lậu qua biên giới
- Khách hàng
Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng đều nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Hoạt động TTBM có phát triển được hay không phụ thuộc lớn vào việc khách hàng tới đăng ký giao dịch Hiện nay, tư thương không có
Trang 38đăng ký kinh doanh và trốn thuế nên không thanh toán qua ngân hàng Điều này hạn chế việc mở rộng TTBM Bên cạnh đó, khách hàng mới chủ yếu sử dụng TTBM với phương thức chuyển tiền nên uy tín của khách hàng hai bên
là hết sức quan trọng, có ảnh hưởng tới quan hệ làm ăn buôn bán lâu dài, tin tưởng lẫn nhau
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THANH TOÁN BIÊN MẬU TẠI
Từ khi thành lập đến nay, Ngân hàng đã qua hai lần đổi tên Lần thứ nhất, NHNo&PTNT VN có tên là Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam theo quyết định số 400/CT ngày 14/11/1990 của Thủ tướng Chính phủ Sau đó theo quyết định số 280/QĐ-NH5 ngày 15/10/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền, Ngân hàng đã chính thức có tên là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam như ngày nay
Ngày 05/06/2002, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã phê chuẩn Điều
lệ tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNT VN tại Quyết định số 571/2002/QĐ- NHNN Theo Điều lệ, NHNo&PTNT VN là doanh nghiệp Nhà nước loại đặc biệt tổ chức theo mô hình Tổng công ty Nhà nước, có tư cách pháp nhân, thời hạn hoạt động 99 năm, trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội (nay là số 2 Láng Hạ - Ba Đình – Hà Nội), có con dấu riêng, có tài khoản mở tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng trong và ngoài nước, có quyền tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết qủa kinh doanh, bảo toàn và phát
Trang 40triển vốn NHNo&PTNT VN là ngân hàng thương mại quốc doanh, thực hiện chức năng kinh doanh đa năng theo điều lệ
Hiện nay, NHNo&PTNT VN là ngân hàng thương mại hàng đầu, giữ vai trò chủ đạo trên thị trường tài chính nông thôn Việt Nam Đây là ngân hàng thương mại lớn có địa bàn hoạt động rộng khắp Việt Nam, được tổ chức theo cơ cấu Trụ sở chính, 2 Văn phòng đại diện, 148 Chi nhánh cấp I,
868 Chi nhánh cấp II, và 824 Phòng giao dịch Ngân hàng có 8 Công ty hạch toán độc lập với 29.451 cán bộ Đến cuối năm 2007, vốn tự có đạt 14.551 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 7.411 tỷ đồng Tổng nguồn vốn huy động 295.048
tỷ đồng, tổng dư nợ 281.869 tỷ đồng, thu nhập trước thuế 2.052 tỷ đồng [9]
NHNo&PTNTVN có số lượng khách hàng lớn nhất thuộc mọi thành phần kinh tế nhưng chủ yếu là hộ sản xuất (khoảng hơn 10 triệu khách hàng, trong đó: 12.000 doanh nghiệp, 1.500 công ty cổ phần; số còn lại gồm tư nhân, cá thể, hộ sản xuất, tổ hợp tác …).Việc tổ chức mô hình thanh toán cũng có nhiều đặc điểm không giống với các NHTM khác ở Việt Nam [9]
NHNo&PTNT VN luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến Thực hiện nối mạng từ Trụ sở chính đến các chi nhánh trong toàn quốc và một hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ chuyển tiền điện tử, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc
tế, dịch vụ ATM, dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT Đến nay, NHNo&PTNT VN hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại tiên tiến, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước
Với vị thế là NHTM lớn nhất Việt nam, NHNo&PTNT VN đã đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp