1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam

96 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rủi ro và Các Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Trong Hoạt Động Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
Tác giả Đinh Ngọc Tuấn
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Như Tiến
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn Thạc sỹ
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam

Trang 1

ĐINH NGỌC TUẤN

RỦI RO VÀ CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ CHẾ RỦI RO TRONG THOẠT

ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

Trang 2

ĐINH NGỌC TUẤN

RỦI RO VÀ CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ CHẾ RỦI RO TRONG THOẠT

ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn

rõ ràng

Tác giả

Đinh Ngọc Tuấn

Trang 4

NK: Nhập Khẩu

XNK: Xuất nhập khẩu

Trang 5

4 Bảng 2.3 Số vụ DN Việt Nam bị kiện bán phá giá 39

5 Bảng 2.4 Giá trị một số nhãn hiệu nổi tiếng 44

6 Sơ đồ 3.1: Định dạng và phân tích rủi ro 70

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Chính sách phát triển kinh tế Việt Nam hoà với xu thế phát triển chung

là mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Là một lĩnh vực quan trọng được các nước ưu tiên trong quan hệ kinh tế quốc tế, hoạt động kinh doanh XNK như một thước đo, cầu nối quan trọng Hoạt động này đặc biệt có tiền

đề phát triển mạnh mẽ khi xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá và tự do thương mại trở thành một nhu cầu tất yếu của đời sống thương mại toàn cầu với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ Sau đại hội VI của Đảng, nhờ

sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy kinh tế, giải phóng sức lao động, phương thức quản lý kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK phát triển và tăng trưởng hơn bao giờ hết Sự tăng trưởng kinh tế và thương mại với tốc độ cao, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện là một minh chứng cho chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta

Tuy nhiên, hoạt động XNK không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế mà còn làm phát sinh nguy cơ gây rủi ro, gây tổn thất, làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới kết quả kinh doanh của DN, của ngành nghề, ảnh hưởng đến bộ phận lao động hoặc nền kinh tế Với sự hình thành của mạng thông tin toàn cầu và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật, hoạt động kinh doanh XNK trở lên đa dạng hơn, hiệu quả hơn và phát sinh rủi ro cũng nhiều hơn, phức tạp hơn nhất là khi nảy sinh mâu thuẫn lợi ích chính trị và kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực, các khối liên kết kinh tế

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động này cần phải có biện pháp hạn chế những rủi ro mà VN đã gặp phải trong thời gian qua, chúng ta cần nghiên cứu rủi ro XNK một cách tổng quát nhất cả về mặt vi mô và vĩ mô nhằm đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế, giảm bớt nguy cơ, giảm nhẹ rủi ro,

Trang 7

tổn thất góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và tạo lập môi trường kinh doanh an toàn là một điều cần thiết Với cách nhìn như vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Rủi ro - giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam” làm đề tài luận văn nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh XNK

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài:

Trong thời gian qua, có nhiều đã có nhiều sách, báo, bài viết về rủi ro trong kinh doanh, mỗi bài viết nghiên cứu rủi ro ở một góc độ khác nhau Đối với rủi ro trong hoạt động XNK chỉ có những bài nghiên cứu riêng về một khía cạnh vấn đề, hay một phương thức, một loại rủi ro nào đó mà chưa có một nghiên cứu đánh giá về các nhân tố tác động vĩ mô gây rủi ro trong hoạt động XNK

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:

Phân tích đánh giá thực trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK của Việt Nam, đề xuất các giải pháp để hạn chế những rủi ro từ đó cải thiện, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động XNK

4 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu lý luận liên quan tới XNK và rủi ro trong kinh doanh XNK Nghiên cứu những rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK của Việt Nam trong những năm đổi mới, từ đó làm cơ sở giải quyết từng vấn đề trong luận văn

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các biện pháp nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để luận giải các

Trang 8

vấn đề liên quan, bên cạnh đó luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương Chương 1: Lý luận chung về rủi ro - rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu

Chương 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK Việt Nam

Chương 3: Giải pháp ngăn ngừa - hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn PGS TS Nguyễn Như Tiến, các thầy cô giáo, các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Trang 9

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO - RỦI RO TRONG HOẠT

ĐỘNG KINH DOANH XNK 1.1 KHÁI NIỆM VỀ RỦI RO

1.1.1 KHÁI NIỆM RỦI RO

Trong kinh doanh, bản thân mỗi doanh nghiệp phải đưa ra các quyết định quản lý, trong mỗi quyết định đó đã bao hàm sự rủi ro Những rủi ro này

có thể xuất phát ngay từ chính bản thân của mỗi doanh nghiệp, bản thân chính sách của một nước, nước đối tác và cũng có thể xuất phát từ những yếu tố khách quan, tồn tại độc lập, khách quan ngoài ý muốn của doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh trong xu thế mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự bùng nổ và hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng tin học, các phương tiện thông tin hiện đại, vô số các cơ hội kinh doanh đang mở ra đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK của Việt Nam, tuy nhiên cần phải nhận thức rằng cơ hội mở ra càng nhiều thì rủi ro càng lớn, cùng với sự phát triển mạnh mẽ các loại hình kinh doanh quốc tế, tính chất của các loại rủi ro càng đa dạng và phức tạp Vậy rủi ro là gì?

Có rất nhiều khái niệm về rủi ro, theo Frank Knight, một nhà kinh tế học người Mỹ: “ Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” Theo nhà kinh tế học Allan Wilett: “ Rủi ro là bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến

cố không mong đợi” Đối với Marilee Hurt Me Carty, một nhà nghiên cứu thuộc Viện khoa học kỹ thuật Georgea: “Rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được” Khái niệm trên đề cập đặc điểm cơ bản của rủi ro đó là tính ngẫu nhiên của rủi ro song chưa nêu được tác động, hậu quả của rủi ro

Theo nhà kinh tế học Irving Pfeffer “ Rủi ro là một tổng hợp sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” hay “ rủi ro là những biến động

Trang 10

tiềm ẩn ở kết quả, là giá trị hay kết quả hiện thời chưa biết đến” “Rủi ro là những tai nạn sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, gây thiệt hại về người và tài sản “

Theo khái niệm rủi ro trong bảo hiểm thì “ Rủi ro là những tai nạn, tai hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, hoặc những mối de doạ nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm”

Hai khái niệm về rủi ro này đề cập cụ thể hơn về rủi ro và hậu quả của

nó đồng thời đề cập đến thiệt hại vật chất có thể đo lường được, có thể làm phương hại tới mọi hoạt động của con người

Trong hoạt động cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động kinh tế luôn hàm chứa rủi ro Từ những quan niệm nêu trên, ta có thể nêu khái niệm rủi ro như sau [1]:

Rủi ro là những tai hoạ, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra, gây thiệt hại về người và tài sản trong cuộc sống hàng ngày và trong hoạt động kinh tế của con người

Khi đề cập đến rủi ro, chúng ta thường đề cập tới những yếu tố tiêu cực, phiến diện gây ảnh hưởng, hậu quả đối với con người Do đó, nghiên cứu rủi

ro và đề ra các biện pháp hạn chế là hoạt động cần thiết

1.1.2 KHÁI NIỆM RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XNK

Kinh doanh XNK là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro và mạo hiểm do đặc thù của hoạt động này bởi sự xa cách về mặt địa lý, sự khác biệt về môi trường kinh doanh, chính trị và văn hoá

Qua xem xét một số quan niệm về rủi ro cũng như xuất phát từ thực tế khách quan trong hoạt động xuất nhập khẩu, rủi ro XNK có thể được hiểu như sau:

Trang 11

Rủi ro xuất nhập khẩu là những biến cố không mong đợi, có thể xảy

ra trong quá trình xuất nhập khẩu, làm giảm hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu

1.1.3 ĐẶC ĐIỂM

Từ những khái niệm nêu trên, ta thấy rủi ro nói chung và rủi ro xuất nhập khẩu nói riêng đều có những đặc điểm sau:

- Rủi ro tồn tại khách quan

Rủi ro tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, nó tồn tại độc lập với ý chí của doanh nghiệp và có thể xảy ra bất cứ lúc nào Con người chỉ có thể nhận biết loại rủi rỏ này bằng tư duy, kinh nghiệm

- Rủi ro có tính bất định

Rủi ro xuất nhập khẩu mang tính bất định, người ta chỉ có thể lường trước được rủi ro nhưng không thể đánh giá một cách chính xác về mức độ của rủi ro và khi nào rủi ro xảy ra Do vậy, rủi ro là một sự không chắc chắn

về những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai

- Rủi ro có tính khả năng

Khi nói đến rủi ro, người ta phải đề cập đến tính khả năng của rủi ro nghĩa là nó có thể trở thành hiện thực hoặc không, khả năng rủi ro có thể biến thành thế này hay thế khác, chỉ có thể dự đoán nó xảy ra hay không trong giới hạn thời gian và không gian, nó có khả năng xảy ra nhưng cũng có thể không xảy ra Nếu rủi ro không có tính khả năng thì bảo hiểm không ra đời và không

ai phải lo sợ trước rủi ro

- Rủi ro có tính tương lai

Trang 12

Rủi ro có tính tương lai vì khi bàn đến rủi ro nghĩa là nó chưa xảy ra, con người chỉ dự đoán, đo lường trước trong tương lai, ở thời điểm ta dự báo rủi

ro chưa xảy ra Căn cứ vào tính khả năng và tính tương lai của rủi ro, người ta

có thể “kinh doanh rủi ro”- bảo hiểm

- Rủi ro có tính lịch sử

Rủi ro mang tính lịch sử, ứng với mỗi giai đoạn nhất định, mỗi chủ thể doanh nghiệp cụ thể, rủi ro mang tính riêng biệt Hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, với sự tham gia của nhiều nền kinh tế khác nhau trên thế giới Do đó, rủi ro xuất nhập khẩu mang tính lịch sử Đặc trưng của những rủi ro này luôn thay đổi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, ví dụ như khi nền khoa học kỹ thuật, công nghệ càng phát triển, kỹ thuật đóng tầu hiện đại hơn với những con tàu

an toàn hơn, khắc phục nhiều hơn yếu tố rủi ro thiên tai đối với vận tải biển, song đồng thời cũng mở ra nhiều hình thức thương mại mới, thanh toán mới

và nảy sinh những loại rủi ro mới

Ngoài những đặc điểm chung nói trên, rủi ro trong hoạt động XNK so với rủi ro kinh doanh nói chung có một số điểm chú ý sau:

Một là vì hoạt động XNK vượt ra ngoài biên giới quốc gia nên các doanh nghiệp chịu nhiều nguy cơ rủi ro cả trong và ngoài nước, gồm nhiều nhân tố khách quan và chủ quan vì vậy rủi ro XNK có tần xuất lớn hơn

Hai là rủi ro trong hoạt động XNK gắn liền, trực tiếp với sự biến động của các nhân tố toàn cầu như khủng hoảng, suy thoái kinh tế khu vực và thế giới, phạm vi mức độ cạnh tranh quốc tế

Ba là kinh doanh XNK là hoạt động phức tạp liên quan đến nhiều yếu tố như chủ thể kinh doanh, ngôn ngữ, luật áp dụng, tập quán thương mại, sự dịch

Trang 13

chuyển hàng hoá, chứng từ, tiền tệ thanh toán quốc tế Do vậy, các loại rủi ro xảy ra trong hoạt động này rất đa dạng và phức tạp

1.2 PHÂN LOẠI

Rủi ro trên thực tế tồn tại rất đa dạng ở mỗi lĩnh vực khác nhau, ngoài những rủi ro do tác động chung còn gặp phải những rủi ro riêng Trong hoạt động kinh doanh cũng như trong đời sống kinh tế xã hội, việc phân loại rủi ro

là hết sức cần thiết để hiểu và nắm bắt được nó, từ đó tìm kiếm giải pháp nhằm tránh, ngăn ngừa và hạn chế tác hại của rủi ro Rủi ro được phân biệt theo nhiều loại tuỳ theo các tiêu thức khác nhau:

1.2.1 CĂN CỨ VÀO TÍNH CHẤT CỦA RỦI RO

Theo căn cứ này rủi ro nói chung được chia làm 2 loại Đó là rủi ro thuần tuý và rủi ro suy đoán

Rủi ro thuần tuý là những rủi ro mang lại những thiệt hại, mất mát mà không ai có khả năng được lợi

Rủi ro suy đoán là rủi ro mang tính may rủi, nghĩa là nó vừa có khả năng dẫn đến tổn thất vừa có khả năng sinh lời

Có thể nói, rủi ro thuần tuý chỉ có viễn cảnh là tổn thất hoặc không còn rủi ro suy đoán viễn cảnh hứa hẹn việc kinh doanh sẽ sinh lời hoặc thua lỗ

1.2.2 CĂN CỨ VÀO PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA RỦI RO

Theo căn cứ này ta có thể chia rủi ro làm hai nhóm là rủi ro cơ bản và rủi

ro riêng biệt:

- Rủi ro cơ bản là rủi ro có ảnh hưởng đến toàn bộ nhóm người nào đó trong xã hội Phần lớn rủi ro này xuất phát từ sự tác động tương hỗ về kinh tế, chính trị, xã hội mặc dù có thể xuất phát từ những nguyên nhân thuần tuý có tính vật chất như thất nghiệp, lạm phát

Trang 14

- Rủi ro riêng biệt là rủi ro mà hậu quả của nó chỉ ảnh hưởng đến một số

cá nhân, tổ chức mà không ảnh hưởng đến toàn bộ xã hội Ví dụ như đắm tàu, cướp ngân hàng, hay cháy một nhà máy

Tuy nhiên, cách phân loại trên chỉ mang tính tương đối, tuỳ thuộc vào quan niệm của cộng đồng, xã hội ở mỗi hoàn cảnh lịch sử khác nhau, rủi ro riêng biệt có thể chuyển thành rủi ro cơ bản và ngược lại

1.2.3 CĂN CỨ VÀO KHẢ NĂNG BẢO HIỂM

Theo căn cứ này, rủi ro được chia làm hai loại Đó là rủi ro có thể bảo hiểm và rủi ro không thể bảo hiểm

- Rủi ro có thể bảo hiểm:

Cách phân loại rủi ro có thể bảo hiểm đứng trên góc độ người kinh doanh dựa vào đặc điểm “tính khả năng và tính tương lai của rủi ro” Khi xem xét rủi ro có thể bảo hiểm hay không người bảo hiểm phải xác định rủi ro dựa trên hai cơ sở sau:

Một là chỉ bảo hiểm cho rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên, rủi ro cố ý gây ra phải bị loại trừ

Hai là rủi ro có thể lượng hoá, tức là hậu quả của rủi ro đó quy thành tổn thất vật chất

- Rủi ro không thể bảo hiểm: là những rủi ro không đáp ứng hai tiêu chí trên

1.2.4 CĂN CỨ VÀO NGUYÊN NHÂN SINH RA RỦI RO

Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, ta có thể chia rủi ro làm các loại sau:

Trang 15

- Rủi ro do thiên tai, thiên tai là những hiện tượng tự nhiên mà con người không chi phối được như: biển động, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần, núi lửa, tai hoạ biển

- Rủi ro do các tai nạn bất ngờ là những thiệt hại không phải do thiên tai gây ra mà do tác động ngẫu nhiên bên ngoài gây ra trên biển, trên không, trên

bộ, trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ, giao nhận, lưu kho, bảo hiểm, ký kết thực hiện hợp đồng

- Rủi ro do sự biến động của chu kỳ kinh tế, do các hiện tượng chính trị

xã hội gây nên như rủi ro chiến tranh, đình công, nổi loạn và các hành động khủng bố

- Rủi ro do hành động riêng lẻ của con người gây nên như đào bới lòng đất gây biến động địa chấn, chặt phá rừng, gây ô nhiễm môi trường sống, trộm cắp, cướp phá, sơ xuất trong nghiệp vụ tác nghiệp

1.2.5 CĂN CỨ VÀO MÔI TRƯỜNG

Nhóm rủi ro này do các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên, môi trường kinh doanh quốc tế, môi trường kinh tế vĩ mô, môi trường tác nghiệp gây ra

Sự thiếu ổn định các yếu tố này có thể dẫn đến rủi ro cho các doanh nghiệp Bởi không giống như các doanh nghiệp chỉ kinh doanh trong nước, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoạt động trên phạm vi rộng, đa quốc gia, các nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, luật pháp, chính trị khác nhau Do vậy, những rủi ro phát sinh từ môi trường bên ngoài ngày càng lớn

Rủi ro điều kiện tự nhiên

Là rủi ro do thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh tác động xấu đến quá trình sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu Những hậu quả này thường rất nghiêm trọng và có ảnh hưởng lớn tới doanh nghiệp, nhất là đối với một nước

Trang 16

đang phát triển như Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể phòng ngừa và hạn chế được những rủi ro này

Rủi ro về chính trị, pháp luật

Là rủi ro do chính sách mà chính phủ áp dụng nhằm điều tiết hoạt động kinh doanh XNK làm hạn chế, ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư Cụ thể hơn đó có thể là khả năng mà các cơ quan chức năng của chính phủ có thể tạo nên sự thay đổi, xáo trộn môi trường kinh doanh của quốc gia tác động đến lợi nhuận và những mục tiêu khác của doanh nghiệp Đây là rủi ro mà các nhà xuất khẩu cần phải chú ý vì trước khi xây dựng chiến lược xuất khẩu hay quyết định ký kết một hợp đồng kinh tế, các doanh nghiệp xuất khẩu phải dựa vào tình hình kinh tế xã hội, dựa trên văn bản quy phạm pháp luật của đối tác Biến động về chính trị, pháp luật xảy ra

sẽ làm đảo lộn mọi dự đoán của doanh nghiệp Trong hoạt động kinh doanh XNK, rủi ro chính trị, pháp lý là loại rủi ro khó lường Một số loại rủi ro chính trị như:

- Chính sách quản lý ngoại hối, thuế, hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác thay đổi làm thay đổi khoản thu nhập cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

- Chính sách tuyển dụng lao động: sự thay đổi những quy định về quản

lý và tuyển dụng lao động, ví dụ như thay đổi tiền lương tối thiểu, lao động

nữ hoặc hạn chế lao động nước ngoài

- Lãi suất: Chính phủ có thể đưa ra nhiều biện pháp sử dụng lãi suất để quản lý và kiểm soát lạm phát Vấn đề có thể nảy sinh theo thời gian tác động đến tiền tệ của quốc gia

- Giấy phép độc quyền, chính sách tài trợ hoặc bảo trợ một ngành nào

đó, quyền phát triển hoặc khai thác nguồn tài nguyên hay cơ hội kinh doanh

Trang 17

- Môi trường, sức khoẻ và an toàn, những quy định liên quan đến kiểm soát chất thải, quy định về bảo vệ sức khoẻ cộng đồng

Bảng 1.1 Các tiêu thức đánh giá rủi ro chính trị của Editch và H.G Koeglmayr [17]

Yếu tố

chính

Thấp nhất

Cao nhất

Môi trường

kinh tế

chính trị

1 Sự ổn định của hệ thống kinh tế chính trị

2 Sự xung đột nội bộ sắp xảy ra

3 Đe doạ từ bên ngoài

4 Mức độ kiểm soát hệ thống kinh tế

5 Sự tin cậy của một quốc gia như một đối tác kinh doanh

6 Sự đảm bảo hiến pháp

7 Hiệu quả của quản lý hành chính

8 Những mối quan hệ về lao động Hoàn cảnh

kinh tế

trong nước

9 Mức dân số

10 Phần trăm thu nhập

11 Tốc độ phát triển kinh tế 5 năm gần nhất

12 Tốc độ phát triển 2 năm tiếp theo

13 Lạm phát qua hai năm

14 Khả năng của thị trường vốn nội địa

15 Lực lượng lao động chất lượng cao

16 Khả năng thuê nhân công nước ngoài

17 Nguồn năng lượng sẵn có

18 Những tiêu chuẩn về ô nhiễm môi trường

19 Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống vận tải và thông tin truyền thông

21 Những hàng rào xuất khẩu

22 Những rào cản về đầu tư nước ngoài

23 Sự tự do trong thiết lập hay cam kết về hình thức công ty

24 Sự bảo vệ của luật pháp đối với nhãn hiệu và sản phẩm

25 Sự hạn chế trong chuyển tiền

26 Sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái

27 Tình hình cán cân thanh toán

28 Dòng chảy vốn nước ngoài qua việc nhập khẩu dầu và năng lượng

29 Vị trí tài chính quốc tế

30 Những hạn chế trong chuyển đổi từ đồng nội tệ sang ngoại tệ

Trang 18

(Nguồn: Editch và H.G Koeglmayr, “Country Risk Ratings” Management Internations Review- Số điểm càng cao thì rủi ro chính trị càng

đó, xác suất xảy ra rủi ro lạm phát không phải là rủi ro th-ờng trực, tất yếu

Rủi ro hối đoái

Rủi ro hối đoái là sự không chắc chắn về giá trị của một khoản thu nhập hay chi trả cho sự biến động tỷ giá gây ra, có thể làm tổn thất đến giá trị dự kiến của hợp đồng Trong hoạt động xuất nhập khẩu, rủi ro hối đoái th-ờng xảy ra khi ngoại tệ mà nhà xuất nhập khẩu sẽ nhận trong t-ơng lai giảm giá hay tăng giá so với đồng bản tệ Rủi ro hối đoái xảy ra khi tỷ giá hối đoái vào

kỳ đáo hạn tăng hoặc giảm so với tỷ giá lúc ký kết hợp đồng th-ơng mại Nói cách khác, sự thay đổi tỷ giá làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các khoản thu hoặc chi ngoại tệ trong t-ơng lai làm kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu bị ảnh h-ởng đáng kể và nghiêm trọng hơn có thể làm đảo lộn kết quả kinh doanh

Rủi ro do sự khác biệt về văn hoá

Sự khác biệt về văn hoá có thể gây những hiểu nhầm đáng tiếc, có thể dẫn đến việc công ty mất thị phần hay khả năng thâm nhập vào thị tr-ờng mục tiêu Rủi ro về văn hoá th-ờng là do:

Không am hiểu về phong tục tập quán địa ph-ơng

Trang 19

Không am hiểu về lối sống, ngôn ngữ của quốc gia đó

Khai thác hình ảnh quảng cáo để kích thích sự quan tâm của ng-ời tiêu dùng nh-ng lại thể hiện một cách quá mức gây tác động ng-ợc

1.2.5 CĂN CỨ VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XNK

Rủi ro trong quỏ trỡnh chuẩn bị nguồn hàng xuất khẩu, chuẩn bị hàng xuất khẩu qua nhiều cụng đoạn, cỏc sản phẩm hàng hoỏ thường qua giai đoạn sản xuất, chế biến hoặc gom hàng từ nhiều nguồn Do đú, quỏ trỡnh này thường ảnh hưởng bởi điều kiện mụi trường tự nhiờn, hoặc cỏc yếu tố đầu vào khụng ổn định và biến động tuỳ thuộc vào mỗi loại hỡnh và quy mụ hoạt động của doanh nghiệp

Rủi ro trong đàm phỏn

Cỏc phương tiện đàm phỏn chủ yếu trong thương mại quốc tế thường là: đàm phỏn bằng thư tớn, đàm phỏn qua điện thoại hoặc đàm phỏn giao dịch trực tiếp Tuỳ thuộc vào hỡnh thức đàm phỏn cỏc doanh nghiệp cú thể gặp những rủi ro khỏc nhau:

Hỡnh thức giao dịch giỏn tiếp (đàm phỏn qua thư từ): Rủi ro cú thể xảy ra khi ta chuẩn bị kộm về hỡnh thức và nội dung hoặc sự nhầm lẫn về ngụn từ làm đối tỏc hiểu nhầm, hiểu sai nội dung mà ta hoặc đối tỏc muốn chuyển tải Giao dịch qua điện thoại: Rủi ro cú thể xảy ra nếu khụng thụng thạo ngụn ngữ quy ước hai bờn dựng để giao dịch, thường khụng dựng tiếng Việt

Do vậy, nếu sử dụng khụng thụng thạo, tinh tế và linh hoạt sẽ dễ bị đối tỏc hiểu nhầm, từ chối hợp tỏc doanh nghiệp cú thể mất đi những hợp đồng cú giỏ trị

Trang 20

Hình thức giao dịch trực tiếp: Rủi ro có thể xảy ra nếu trước khi gặp gỡ đối tác, doanh nghiệp không có sự chuẩn bị những tài liệu liên quan hoặc không hiểu biết cặn kẽ về đối tác, không đủ kỹ năng và nghệ thuật đàm phán

Rủi ro khi soạn thảo hợp đồng

Quá trình soạn thảo hợp đồng là khâu quan trọng, thực hiện tốt khâu này

sẽ giúp doanh nghiệp có thể phòng ngừa và hạn chế nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng Rủi ro trong soạn thảo hợp đồng là thiếu dẫn chiếu các văn bản pháp luật, tập quán quốc tế liên quan hoặc thiếu những điều khoản cần thiết về một hợp đồng, nhất là các điều khoản bảo vệ doanh nghiệp mình khi xảy ra tranh chấp thương mại Đồng thời khi soạn thảo hợp đồng,

DN cần chú ý tới thời gian thực hiện hợp đồng tương quan với giá cả của hàng hoá, điều khoản giao – nhận hàng, thanh toán, trọng tài

Rủi ro khi ký kết hợp đồng

Nếu các doanh nghiệp trước khi ký kết không kiểm tra lại các điều khoản của hợp đồng, không đối chiếu các điều khoản ghi trong hợp đồng với sự thoả thuận qua hình thức khác trước đó đã đạt được có thể gây ra những rủi ro và tổn thất không đáng có cho doanh nghiệp

Rủi ro trong quá trình vận chuyển

Do hành trình hàng hoá từ tay người bán đến tay người mua thường xa nhau, thời gian vận chuyển lâu, đa phần hàng hoá hữu hình thường vận chuyển bằng đường biển, nhưng dù được vận chuyển bằng phương tiện khác thì cũng khó tránh khỏi các trường hợp tự nhiên bất khả kháng Tuy nhiên, theo từng loại hợp đồng với mỗi điều kiện cơ sở giao hàng khác nhau thì mức

độ rủi ro và thiệt hại cũng khác nhau ICC đã ban hành “Các điều kiện thương mại quốc tế” để các bên lựa chọn Người nhập khẩu thường chọn những điều

Trang 21

kiện với chi phí nhập hàng càng thấp càng tốt, đối với người xuất khẩu thì ngược lại vì vậy họ ít khi coi trọng đến hậu quả rủi ro có thể xảy ra

Rủi ro trong quá trình giao nhận

Rủi ro trong quá trình này thường xảy ra đối với doanh nghiệp do một số nguyên nhân chính sau:

Thiếu thông tin về hãng tầu, lịch trình, địa điểm, chi nhánh, chuyển tải, không chủ động trong việc chuẩn bị giao hoặc nhận hàng

Không nắm vững các khái niệm về thời gian xếp dỡ, thời gian tàu đến cảng xếp, dỡ hàng, do đó không chủ động giao nhận

Không nắm vững các kỹ thuật bố trí giao nhận hàng trên phương tiện vận tải để đảm bảo số lượng và chất lượng được giao, không sử dụng điều kiện dung sai

Chưa thông thạo các thủ tục hải quan, không chuẩn bị đầy đủ chứng từ cần thiết để tiến hành kiểm hoá, thông quan

Không thông báo đã giao hàng cho bạn hàng biết theo quy định của hợp đồng

Không chủ động trong việc thuê tàu, nên các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp rủi ro trong quá trình giao nhận vì các doanh nghiệp Việt Nam thường mua CIF, bán FOB

Rủi ro trong quá trình giao nhận ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện hoàn chỉnh một hợp đồng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Bởi giao nhận là một trong những điều kiện để giúp doanh nghiệp có những chứng từ cần thiết để thanh toán tiền hàng, trong đó vận tải đơn là một chứng từ chứng minh việc giao hàng của doanh nghiệp

Trang 22

Rủi ro trong quá trình mua bảo hiểm

Phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đều xuất khẩu hàng hoá với giá FOB, thực tế rất ít doanh nghiệp gặp rủi ro trong quá trình này Rủi ro trong quá trình mua bảo hiểm thường xảy ra khi:

Chứng từ tín dụng được xuất trình không đúng như yêu cầu của tín dụng thư, ví dụ như trong L/C yêu cầu xuất trình đơn bảo hiểm nhưng lại xuất trình giấy chứng nhận bảo hiểm

Các rủi ro bảo hiểm không phải là loại quy ước trong tín dụng thư

Đồng tiền bảo hiểm không đúng với quy định trong tín dụng thư (trừ trường hợp có điều khoản liên quan quy định trong tín dụng thư)

Số tiền bảo hiểm thấp hơn yêu cầu trong tín dụng thư

Hiệu lực hợp đồng bảo hiểm không bắt đầu vào đúng ngày trên chứng từ vận tải hoặc trước ngày ghi trên chứng từ vận tải

Không đánh giá đúng mức độ của rủi ro đối với hàng hoá dẫn đến việc mua bán không đúng loại bảo hiểm cần thiết

Rủi ro trong thanh toán

Rủi ro trong thanh toán là những mất mát thiệt hại xảy ra do không thu hồi được vốn một cách đầy đủ và đúng hạn hoặc phải chịu các chi phí phát sinh không đáng có

Ngày nay, cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, sự phát triển của hệ thống ngân hàng với sự hỗ trợ tích cực của các thành tựu khoa học kỹ thuật và cách mạng tin học, các phương tiện thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng và phong phú Tuy nhiên, với mỗi phương thức thanh toán lựa chọn, các doanh nghiệp vẫn có thể gặp những rủi ro

Trang 23

- Rủi ro thường gặp trong phương thức nhờ thu

Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho khách hàng, uỷ thác ngân hàng phục vụ thu hộ mình số tiền thanh toán từ người mua trên cơ

sở hối phiếu lập ra

Có hai loại nhờ thu là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ [9 ]:

Nhờ thu trơn là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho người mua không thông qua ngân hàng

Phương thức nhờ thu trơn rất ít được sử dụng trong thanh toán quốc tế, nhất là đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người bán, việc nhận hàng của người mua tách rời khâu thanh toán do đó tiềm ẩn rủi ro rất cao đối với người bán Đó là việc người mua có thể đã nhận hàng nhưng không thanh toán hoặc chậm thanh toán Đối với người mua, nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không

Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là phương thức trong đó người bán

uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo điều kiện là nếu người mua chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ cho người mua để nhận hàng Nhờ thu kèm chứng từ có hai loại, một là D/P (Documents Against Payment - thanh toán đổi chứng từ - nhờ thu trả ngay), người mua phải trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho họ Hai là phương thức D/A ( Documents Against Acceptance - thanh toán đổi chứng từ - nhờ thu trả chậm), thay vì hành động trả tiền bằng hành động chấp

Trang 24

nhận trả tiền của người mua Trường hợp này dùng cho việc bán chịu ngắn ngày của người bán cho người mua

Các rủi ro thường gặp trong phương thức nhờ thu:

Người mua từ chối không nhận hàng, không nhận chứng từ, không thanh toán

Khi tranh chấp hoặc có rủi ro xảy ra, người bán không có cơ sở pháp lý

để khiếu nại người mua khi người mua từ chối nhận hàng và thanh toán vì ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian khống chế chứng từ

Người bán gánh chịu chi phí khi hàng chuyển về nước

- Rủi ro đối với phương tiện chuyển tiền T/T

Có hai loại điện chuyển tiền là điện tiền trả trước và điện tiền trả ngay hoặc trả sau

Điện tiền trả trước là hình thức người nhập khẩu trả tiền trước cho người xuất khẩu rồi sau đó người xuất khẩu mới tiến hành giao hàng Do vậy, rủi ro gần như không có đối với người xuất khẩu nhưng lại rất mạo hiểm đối với người nhập khẩu Người nhập khẩu có thể không nhận được hàng, nhận thiếu

số lượng hàng, hàng có chất lượng kém )

Điện chuyển tiền trả ngay hoặc trả sau: phương thức này đòi hỏi người xuất khẩu phải giao hàng cho người nhập khẩu trước, sau đó người nhập khẩu mới chuyển tiền để thanh toán Do vậy, rủi ro đối với các nhà xuất khẩu là rất lớn, thường là các rủi ro như hàng đã được giao nhưng không nhận được tiền thanh toán khi nhà nhập khẩu mất khả năng chi trả hoặc cố tình không thanh toán hoặc thanh toán không đúng thời hạn quy định trong hợp đồng do người nhập khẩu trì hoãn hoặc gặp khó khăn về tài chính Người nhập khẩu từ chối

Trang 25

nhận hàng khi giá cả thị trường đang giảm và vì thế sẽ không thực hiện việc thanh toán

- Rủi ro đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ( L/C)

Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó ngân hàng

mở thư tín dụng theo yêu cầu của người mua (người xin mở thư tín dụng) cam kết trả một số tiền nhất định cho người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định trong thư tín dụng [9]

Chứng từ là vấn đề cơ bản trong phương thức thanh toán bằng tín dụng Ngân hàng chỉ liên quan đến chứng từ và không liên quan đến xác nhận hàng hoá được giao, ngân hàng không chịu trách nhiệm xác minh tính chân thực của chứng từ và không chịu trách nhiệm về số lượng và chất lượng hàng được giao

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu cao nhất so với các phương thức thanh toán khác đã đề cập Tuy nhiên, L/C không phải là phương thức tuyệt đối an toàn cho cả người xuất khẩu và người nhập khẩu:

Rủi ro đối với người nhập khẩu

Ngân hàng tiến hành trả tiền cho người hưởng lợi dựa trên các chứng từ xuất trình mà không dựa vào việc kiểm tra hàng hoá Ngân hàng không chịu trách nhiệm về tính xác thực của các chứng từ, không chịu trách nhiệm về số lượng và chất lượng hàng được giao Do vậy, nếu có sự giả mạo trong việc xuất trình chứng từ giả để nhận được thanh toán thì người mua phải bồi hoàn lại số tiền cho ngân hàng phát hành thư tín dụng đã trả cho người hưởng lợi

Trang 26

Rủi ro xảy ra trong trường hợp người bán xuất trình các chứng từ phù hợp với quy định của L/C và nhận được thanh toán từ ngân hàng nhưng hàng hoá không được giao đúng hợp đồng, vì ngân hàng không liên quan đến việc kiểm tra hàng hoá

Khi cần thiết có sự thay đổi về các điều khoản trong hợp đồng, người mua phải sửa đổi các điều khoản trong L/C Như vậy, thời gian giao hàng có thể bị chậm trễ hơn, không đáp ứng nhu cầu kinh doanh của người mua kịp thời và phải chịu chi phí do sửa đổi L/C

Trong một số trường hợp, hàng đã giao đến nơi đến nhưng người mua vẫn chưa nhận được chứng từ thanh toán, như vậy họ cũng không nhận hàng được

Rủi ro đối với người xuất khẩu

Rủi ro do tín dụng giả, không kiểm tra thư tín dụng cẩn thận

Người mua cố tình mở thư tín dụng khác với nội dung thoả thuận hoặc đưa thêm vào các điều khoản mà chưa thoả thuận trước như quy định thời gian giao hàng quá gấp không thể đáp ứng được

Các chứng từ quy định phải xuất trình quá khó khăn hoặc không thể thực hiện được

Quy định số cước vận tải người xuất khẩu không thể chấp nhận được Thời hạn hiệu lực L/C quá ngắn không đủ cho người xuất khẩu tập hợp

đủ chứng từ để xuất trình

Loại thư tín dụng không đúng như thoả thuận

Chứng từ không phù hợp với hợp đồng hoặc tín dụng thư yêu cầu

Trang 27

Ngân hàng phát hành L/C không thực hiện đúng cam kết của mình trong thanh toán đối với người bán

1.2.6 RỦI RO KHÁC

Rủi ro do thiếu vốn

Đây là rủi ro thường gặp ở các doanh nghiệp Việt Nam Để tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào thương mại quốc tế, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng do thiếu vốn, doanh nghiệp Việt Nam không đủ khả năng đổi mới công nghệ, mở rộng quy

mô sản xuất tối ưu, không đủ sức cạnh tranh, chiếm giữ thị trường dẫn tới thị phần của doanh nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc thiếu vốn còn làm cho quá trình thực hiện các hợp đồng xuất khập khẩu không đảm bảo

Rủi ro do thiếu thông tin

Trong thời đại bùng nổ của khoa học công nghệ, sự lên ngôi của công nghệ tin học, cách mạng thông tin và mở ra thương mại điện tử đã góp phần không nhỏ vào sự thành công của các doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp không chủ động thu thập và xử lý cũng như đánh giá và tận dụng thông tin thì sẽ gây khó khăn trong việc ra quyết định kinh doanh và có thể gây ra những tổn thất rất lớn Rủi ro do thiếu thông tin thường xảy ra dưới các hình thức như sau:

- Thiếu thông tin về đối tác, dẫn đến bị lừa trong quan hệ kinh doanh

- Thiếu thông tin về thị trường, các biến động của thị trường

- Thiếu thông tin về công nghệ sản xuất các sản phẩm trên thị trường thế giới

- Thiếu kiến thức về thị trường mà doanh nghiệp tác nghiệp

Trang 28

Rủi ro do thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Rủi ro do thiếu trình độ chuyên môn nghiệp vụ là rủi ro hình thành do những sai sót mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ trong các khâu của hoạt động xuất nhập khẩu

Phân loại và định dạng rủi ro là bước rất quan trọng để giúp doanh nghiệp lựa chọn đúng các biện pháp phòng tránh, hạn chế rủi ro nhằm nâng cao hiệu quả hơn trong kinh doanh

1.3 SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XNK

Trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động XNK nói riêng, rủi

ro là nguy cơ thường trực và khách quan, thường xuyên đe doạ làm tổn hại đến hiệu quả kinh doanh

Mục tiêu của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận song an toàn trong kinh doanh là tiêu thức để họ hướng tới trong mỗi thương vụ Muốn vậy, doanh nghiệp chỉ có cách là phải tìm hiểu về rủi ro mà mình phải đối mặt

và đưa ra hướng giải quyết một cách chủ động nhất

Để tối đa hoá lợi nhuận, DN phải xem xét tất cả mọi yếu tố từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông phân phối hàng hoá Trong thương mại quốc tế quá trình đó vượt ra ngoài ranh giới một quốc gia Do vậy, tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới chi phí trong quá trình đó trở nên phức tạp hơn, nguy cơ dự đoán sai nhiều hơn Mặt khác, hiệu quả của hoạt động kinh doanh không chỉ đơn thuần là so sánh kết quả và chi phí mà còn phải cân nhắc tới mọi vấn đề khác Như vậy, họ cần phải giảm thiểu được rủi ro cũng như những tác động tiêu cực của nó tới cá nhân, công ty, vì vậy phải định dạng rủi ro đồng thời đưa ra các biện pháp hạn chế, phòng trừ

Trang 29

Khi rủi ro xảy ra, giải quyết hậu quả của nó đối với các bên ảnh hưởng trong quá trình thương lượng, mua bán không chỉ dừng ở khía cạnh kinh tế

mà còn phải tính đến cả khía cạnh pháp lý, trách nhiệm pháp lý gắn liền với

sự tồn tại, uy tín của doanh nghiệp Chính vì vậy, các biện pháp hạn chế rủi ro

là cần thiết để chứng minh chủ thể tránh được trách nhiệm dân sự

Trong xu thế mở cửa và hội nhập, các doanh nghiệp đều có xu hướng phát triển là vươn ra thị trường khu vực và quốc tế Nếu quá trình này không gắn liền với nghiên cứu rủi ro trong quá trình đó mà chỉ tiến hành một cách tự phát thì đồng nghĩa với thất bại

Tóm lại, rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK là một yếu tố tất yếu trong kinh doanh, DN nào cũng phải đối diện với những rủi ro đó Tuy nhiên, mỗi ngành hàng khác nhau thì rủi ro tập trung ở các khâu sẽ khác nhau Nắm vững mọi thành tố và những khâu mà khả năng có thể là nguyên nhân gây tổn thất trong hoạt động XNK là cần thiết Điều này không chỉ góp phần để cá nhân, DN đó hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn, mà còn góp phần đẩy mức nhận thức và lý luận của tổng thể các doanh nghiệp, các hiệp hội trong xu thế phát triển kinh tế, mở cửa và hội nhập

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH

DOANH XNK VIỆT NAM

2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Từ đại hội Đảng VI năm 1986, nhà nước ta đã thực hiện chủ chương phát triển kinh tế đối ngoại theo xu thế mở cửa nền kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu là phù hợp với xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, phù hợp với xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế

Trong chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại, Đảng chủ trương hướng về xuất khẩu, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện và khuyến khích đầu tư trong nước dưới mọi hình thức Đặc biệt trong thời gian qua, các chính sách ưu tiên xuất nhập khẩu của chính phủ được thực thi bằng nhiều biện pháp như giảm thuế quan, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, hướng dẫn thực hiện luật thuế quan mới, thực hiện giảm thuế theo lộ trình các hiệp ước tự do thương mại cam kết trong khu vực, ban hành danh mục hàng hoá ưu tiên xuất nhập khẩu

Với chủ trương và đường lối đúng đắn trong khôi phục và mở rộng quan

hệ theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi và không can thiệp nội bộ, nước ta đã khôi phục và mở rộng quan hệ với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Liên Bang Nga, các nước thuộc Liên minh Châu Âu, phát triển quan hệ với các nước trong cùng tổ chức ASEAN Đến nay, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước, có quan hệ buôn bán với hơn 100 nước

Nhờ định hướng phát triển đúng đắn đó, hoạt động XNK đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, chính sách độc quyền về ngoại thương được bãi bỏ, nhà nước ta chủ trương khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất và kinh doanh hàng hoá, cải cách hành chính để hạn chế các thủ tục

Trang 31

phiền hà liờn quan tới hoạt động XNK, giảm quản lý theo hạn ngạch, khuyến khớch đầu tư sản xuất xuất khẩu, khuyến khớch cỏc cụng ty đổi mới cụng nghệ, ban hành nhiều văn bản phỏp luật hoặc sửa đổi nhiều luật liờn quan đến XNK theo hướng tiến bộ

Kết quả là chỳng ta đó thu được những thành tựu vượt bậc trong hoạt động XNK, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu liờn tục tăng đều và mạnh qua

từng năm [14] (xem bảng 2.1)

Bảng 2.1 Kim ngạch XNK thời kỳ 1998-2003 (Đơn vị: Triệu USD)

T.kim ngạch XNK 20888 23162 30090 31189 36439 44845 Xuất khẩu 9361 11540 14455 15027 16706 19870 Nhập khẩu 11527 11622 15635 16162 19733 24945

(Tổng hợp báo cáo kim ngạch XNK theo khu vực và thị tr-ờng, Bộ Th-ơng Mại - 2003)

Tổng kim ngạch XNK đạt trên 30 tỷ USD tăng gấp 5 lần trong vòng 10 năm qua Năm 2001 đạt hơn 31,1 tỷ Năm 2002 tăng 36,4 tỷ Đến năm 2003, kim ngạch XNK đã đạt 44,85 tỷ, tăng hơn 8,5 lần so với năm 1990

Bảng 2.2 Tình hình nhập siêu của Việt Nam từ 1999 đến 2003

Năm Nhập khẩu Xuất khẩu Nhập siờu Tỷ lệ NS (%)

Trang 32

Bên cạnh những thành công trên, hoạt động XNK Việt Nam cũng gặp nhiều rủi ro Tuy nhiên, để đánh giá một cách toàn diện về hậu quả của những rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK hiện nay là rất khó Bởi hệ thống thống kê kinh tế Việt Nam còn yếu kém, đặc biệt là đối với những vấn đề nhạy cảm này, không một doanh nghiệp nào muốn tiết lộ thông tin về những rủi ro mình phải gánh chịu trong kinh doanh quốc tế, vì họ cho rằng điều này

sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp Do đó, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này chỉ đề cập tới những rủi ro đã, đang và có khả năng xảy ra trong tương lai làm hạn chế hiệu quả của hoạt động kinh doanh XNK Trong hoạt động kinh doanh XNK có nhiều rủi ro, nhưng trong phạm vi luận văn chỉ nghiên cứu những nhóm rủi ro chính thường gặp trong hoạt động kinh doanh XNK trong những năm gần đây

2.2 THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XNK

2.2.1 RỦI RO KÝ KẾT, THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

Trong quá trình thương lượng, ký kết và thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp XNK Việt Nam thường gặp một số rủi ro sau: đối tác không có tư cách pháp nhân để thực hiện hợp đồng, hoặc không thực hiện hợp đồng do bất khả kháng, hoặc không có khả năng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng (liên quan đến từng điều khoản trong hợp đồng mua bán)

Rủi ro do không xác định tên hàng cụ thể, tên hàng được ghi sai một cách cố tình hoặc vô tình dẫn đến rủi ro gây thiệt hại cho doanh nghiệp

Công ty dệt may xuất khẩu X ở thành phố Hồ Chí Minh tiến hành giao dịch mua chỉ thêu của một công ty Đài Loan Trong lần giao dịch đầu tiên, hai bên đã thống nhất quy định về chất lượng hàng căn cứ theo tiêu chuẩn của người bán là nhà sản xuất quy định và được người mua - phía Việt Nam chấp

Trang 33

nhận, nên trong hợp đồng không đề cập chi tiết về chất lượng mà chỉ ghi theo lần giao dịch trước Do sự đồng ý và tin cậy giữa các bên nên khi mẫu hàng giao cho bên Việt Nam kiểm tra thì đạt chất lượng, người bán phía Đài Loan tiến hành giao hàng nhưng không lưu lại mẫu và không giữ lại chứng từ quy định tiêu chuẩn chất lượng đã được hai bên đồng ý Hai bên thực hiện nhiều thương vụ mua bán với nhau, người mua phía Việt Nam tin tưởng vào chất lượng hàng hoá các giao dịch lần trước và mọi giao dịch tiến hành bình thường Nhưng khi người bán thay đổi trưởng bộ phận sản xuất, vì không lưu lại chứng từ quy định tiêu chuẩn chất lượng đã ký kết, do vậy sản phẩm sản xuất ra khác chất lượng đã đặt hàng, công ty bên Việt Nam vẫn nhập chỉ thêu này và đưa vào sản xuất bình thường, sản phẩm của công ty bị đổi màu sau khi giặt do màu của chỉ thêu bị lem sang Khách hàng của công ty Việt Nam

bị khiếu nại về chất lượng sản phẩm, dẫn đến công ty mất uy tín với khách hàng[4]

Trong trường hợp trên, rõ ràng đối tác vô tình chứ không cố ý giao hàng sai chất lượng, nhưng vì công ty tin tưởng đối tác, giao dịch nhiều lần tạo thói quen bỏ qua khâu kiểm tra chất lượng lô hàng theo tiêu chuẩn hai bên đã quy ước nên đã gặp rủi ro Bên cạnh đó, công ty lại không có những tiêu chuẩn chất lượng cụ thể để giải thích với khách hàng, và trong hợp đồng ký kết mua chỉ thêu lại không có điều khoản phạt

Rủi ro do lựa chọn đơn vị đo lường có dung sai, nhưng doanh nghiệp không lựa chọn mức dung sai hợp lý

Trong trường hợp mặt hàng có đơn vị đo lường được phép dung sai nếu doanh nghiệp không lựa chọn mức dung sai hợp lý thì khi giá thị trường biến động, tăng hoặc giảm, người bán sẽ chọn dung sai trừ (-) khi giá thị trường vào lúc giao hàng cao hơn so với giá hợp đồng và chọn dung sai (+) khi giá

Trang 34

thị trường thấp hơn giá hợp đồng Rủi ro này đã xảy ra đối với một doanh nghiệp sản xuất dược phẩm của Việt Nam

Doanh nghiệp sản xuất dược của Việt Nam ký kết hợp đồng mua nguyên liệu của một công ty Pháp Trong điều khoản số lượng quy định 10.000 tấn, dung sai +/- 5% do người bán chọn Giá USD 50/MT CIF Saigon Port, Incoterm 2000 Thời hạn giao hàng 01 tháng sau khi hợp đồng được ký Khi đến thời điểm giao hàng, giá nguyên liệu sản xuất dược trên thị trường tăng USD 65/MT CIF Saigon port Người bán Pháp giao hàng với khối lượng

9500 tấn, do vậy phía người nhập khẩu Việt Nam bị thiệt 25000 USD[4] Rủi ro đối với người bán trong thương lượng và ký kết hợp đồng, người mua từ chối nhận hàng khi giá thị trường giảm vào thời điểm giao hàng và lấy

lý do hàng kém chất lượng

Một công ty chuyên sản xuất hàng nông sản Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lạc nhân với số lượng 20000 tấn cho một công ty của Đài Loan Điều khoản thanh toán trong hợp đồng theo phương thức nhờ thu kèm chứng từ,

D/A (Documents against Acceptance), trả chậm sau 60 ngày tính từ ngày giao

hàng Hàng được xuất khẩu theo điều kiện CIF giao tại cảng đến Kaohsung, Taiwan Khi hàng được đưa tới cảng đến giá thị trường giảm 30% với giá quy định trong hợp đồng, vì vậy người mua đưa lý do hàng không đúng chất lượng và từ chối nhận hàng Nhưng người bán lại không thể kiện người mua

vì trong hợp đồng đã ký thì điều kiện chất lượng chỉ ghi là: “Đậu phộng nhân loại một được sự đồng ý của 2 bên” Rõ ràng trong câu này không quy định rõ

chi tiết về hàng hoá, do vậy thiệt hại thuộc về phía Việt Nam [4]

Rủi ro do quy cách phẩm chất, chất lượng hàng hoá không rõ ràng, chung chung, không nắm vững đặc tính của hàng hoá nên gây ra khiếu kiện, thiệt hại cho người xuất khẩu

Trang 35

Ngày 20/01/1992 công ty Vietintim ký hợp đồng xuất ớt bột với công ty Czimex Tiệp Khắc Vì không quy định gì về hàm lượng độc tố aflatoxin của

ớt bột và quy định của nước đối tác, do vậy đối tác căn cứ vào lượng độc tố của ớt bột mà công ty xuất có hàm lượng aflatoxin cao để kiện Vietintim dẫn đến thiệt hại cho công ty này

Trong điều khoản chất lượng, nếu DN Việt Nam không quy định kết quả giám định ở cảng đi hay cảng đến có giá trị cuối cùng thì khi xảy ra tranh chấp, phía Việt Nam sẽ gặp rủi ro bởi các bên khi giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến điều khoản chất lượng, quy định này được xem như là một

cơ sở để xét lỗi

Công ty A&J Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu lạc nhân với Liên đoàn xuất nhập khẩu Selsko Nga với số lượng là 1200 MT lạc nhân (FOB Hải Phòng, thanh toán bằng phương thức nhờ thu) Trong điều khoản chất lượng không ghi rõ kết quả giám định phẩm chất ở cảng đi có giá trị cuối cùng vì vậy khi hàng cập cảng Vladivostok, Selsko giám định thấy lạc thiếu trọng lượng và bị mốc 40% Căn cứ vào giám định này Selsko bắt lỗi người xuất khẩu Việt Nam và phía Việt Nam bị thiệt

2.2.2 RỦI RO TRONG LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN

Phương thức thanh toán L/C là phương thức thanh toán phức tạp nhưng

có độ an toàn nhất trong 3 phương thức thanh toán quốc tế, vì vậy đa số các doanh nghiệp kinh doanh XNK lựa chọn phương thức này trong thanh toán XNK Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê, phương thức này chiếm 85% tổng giá trị thanh toán hàng hoá XNK ở NHNT Tuy nhiên, phương thức thanh toán này cũng tồn tại nhiều rủi ro, nảy sinh từ những khâu mang tính “kỹ thuật” của phương thức này

Trang 36

- Căn cứ trả tiền duy nhất trong thanh toán L/C là bộ chứng từ gửi hàng (chứng từ hoàn hảo), nhưng thế nào là một bộ chứng từ hoàn hảo để các ngân hàng chấp nhận thanh toán thì không thống nhất giữa họ [6] Có thể cùng một

bộ chứng từ nhưng ngân hàng này cho là hợp lệ còn ngân hàng khác thì lại không Sự yếu kém của nghiệp vụ của cán bộ, các yếu tố thuộc pháp quy đôi khi dẫn đến hậu quả là các doanh nghiệp XNK Việt Nam bị khiếu kiện và phải bồi hoàn các chi phí phát sinh hoặc gây thiệt hại về vật chất và uy tín không những của doanh nghiệp mà còn của cả ngân hàng Việt Nam

Có thể kể đến một thương vụ điển hình bắt đầu ngày 17/02/2000, hợp đồng ngoại thương (số 611/171/20) được ký kết giữa bên bán là công ty Helm Dungenmittel Gmbh, Hamburg - Đức (gọi tắt là công ty Helm) và bên mua là công ty XNK tổng hợp III - chi nhánh Hà Nội (gọi tắt là Công ty Centrimex-

Hà nội) Theo hợp đồng, công ty Helm bán cho công ty Centrimex - Hà nội 10.000 tấn phân urê Trung Quốc, trị giá hợp đồng là 1.451.937,75 USD, thanh toán theo phương thức L/C BHF là ngân hàng bên bán, Sở giao dịch I - Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn là ngân hàng phát hành L/C Sau khi nhận được bộ chứng từ do BHF gửi tới, sở giao dịch I phát hiện thấy sai sót [2]:

+ Vận đơn đường biển (B/L) không ghi chú ngày bốc hàng lên tầu

+ Số tiền bằng chữ ghi sai trên hối phiếu Số tiền bằng số: 1.451.937,75USD được ghi bằng chữ trên hối phiếu là “ Một-bốn-năm-một-chín-ba-năm-75/100 USD”

+Trên hối phiếu không ghi Ngân hàng trả tiền

Vì ba lý do trên, Công ty Centrimex yêu cầu SGD I từ chối thanh toán trả tiền Về phía BHF, do không chấp nhận những lỗi của bộ chứng từ do phía Việt Nam đưa ra, sau khi thương thảo nhiều lần đã ghi nợ 1,45 triệu USD

Trang 37

Tuy nhiên, theo các chuyên gia hàng hải quốc tế và một số công ty Luật nước ngoài thì:

+ Ngày gửi hàng đã nêu trong “ Vận đơn hợp đồng thuê tàu” theo quy định quốc tế “ ngày cấp vận đơn được xem như ngày bốc hàng lên tàu và ngày gửi hàng”

+ Theo điều 13 a - UCP 500, các chứng từ không được quy định trong thư tín dụng sẽ không được các Ngân hàng kiểm tra [10][18] Trong trường hợp trên, do trong L/C không quy định BHF phải có hối phiếu đi kèm để đòi tiền Centrimex - Hà Nội vì thế, hối phiếu đó không được coi là một chứng từ thanh toán

+ Cũng theo lập luận trên thì việc số tiền ghi trên hối phiếu không phải là

lý do sai để từ chối thanh toán

Trường hợp trên cho thấy lựa chọn và thực hiện hình thức thanh toán L/C đòi hỏi nghiệp vụ cao, gồm cả nghiệp vụ về thanh toán, vận tải, bảo hiểm đòi hỏi quy trình thực hiện chính xác tuyệt đối mà không phải lúc nào các bên tham gia cũng có khả năng thực hiện Mặt khác, do nghiệp vụ thanh toán L/C chỉ căn cứ trên chứng từ chứ không căn cứ vào thực trạng hàng hoá nên đã tạo khe hở để các tổ chức, cá nhân tiến hành lừa đảo

- Trong các hoạt động giao dịch L/C ở hầu hết các quốc gia đều được điều chỉnh bởi UCP 500 Tuy nhiên, môi trường pháp luật ở các quốc gia khác nhau, tức là hệ thống pháp luật riêng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong L/C dẫn đến rủi ro[9],[18]

Trường hợp công ty Lương thực Cần Thơ xuất khẩu gạo cho một khách hàng Đức, thanh toán bằng L/C do một Ngân hàng Đức phát hành Khi nhận được bộ chứng từ hoàn hảo thì Ngân Hàng Đức đã được lệnh của Toà án là giữ toàn bộ số tiền của L/C (725.500USD) để giải quyết nợ cũ của công ty

Trang 38

lương thực Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình theo đúng L/C (L/C này cho phép người bán chiết khấu chứng từ theo uỷ quyền của Ngân hàng phát hành) Chi nhánh NHCT Cần Thơ đã chiết khấu chứng từ theo uỷ quyền của Ngân hàng Đức đó, nhưng số tiền 725500 USD không đòi được do phía Ngân hàng Đức trả lời là bị toà án phong toả, công ty Lương thực Cần Thơ vừa không thu được tiền lại vừa phải trả tiền cho NHCT chi nhánh Cần Thơ theo cam kết chiết khấu truy đòi

- Trình độ nghiệp vụ TTQT của nhiều doanh nghiệp còn kém, kiểm tra L/C chưa kỹ, nội dung L/C mập mờ, có những điều khoản mà mình không thực hiện được, hoặc sẽ gây ảnh hưởng rủi ro trong quá trình thanh toán[11] Trong trường hợp Artexport Hà nội ký hợp đồng bán hàng cho Pierluigi E.C.SNG, Italy Hai L/C liên quan số 575CIM6646 quy định: “B/L issued by

SM Logistics Gruppo Serra Mrzario S.P.A”- “ Vận đơn do công ty SM ký phát” nhưng thực tế ở Việt Nam không có hãng tàu này, nên việc giao hàng được thực hiện qua hãng M&S Shipping Lines (công ty con của SM), dẫn đến Ngân hàng nước ngoài bắt lỗi chứng từ vì B/L phát hành không đúng quy định của L/C

- Trong quá trình thực hiện L/C, nội dung L/C có thể quá dài, nhiều sửa đổi, nhiều điều kiện nên lúc thực hiện khả năng rủi ro cao do doanh nghiệp bỏ sót một số yêu cầu nên bị từ chối hoặc khó khăn trong thanh toán

Trong trường hợp thư tín dụng L/C của Kookmin Bank mở cho Viglaceglass quy định:

+ Giấy xác nhận của người hưởng lợi chứng tỏ bộ chứng từ hàng hoá không có giá trị thanh toán gửi đến người nhập khẩu trong vòng 05 ngày sau ngày giao hàng

Trang 39

+ Giấy xác nhận của người hưởng lợi chứng tỏ họ đã Fax nội dung chi tiết việc gửi hàng cho người nhập khẩu

+ Giấy xác nhận của người hưởng lợi chứng tỏ Giấy chứng nhận xuất sứ C/O và giấy chứng nhận kiểm nghiệm đã được gửi cùng hàng hoá

Như vậy, L/C này yêu cầu 3 chứng từ khác kèm theo Sau khi gửi hàng

đị NHNT nhận được điện từ chối thanh toán của Kookmin Bank vì lý do chỉ nhận được một giấy chứng nhận của người bán

Qua những trường hợp trên, ta thấy những rủi ro đã nêu xuất phát từ lựa chọn phương thức thanh toán, dù là phương thức có độ an toàn rất cao như L/C Nguyên nhân của tình trạng này chính là sự yếu kém về nghiệp vụ cũng như sự thiếu thông tin về đối tác của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam, dẫn đến các doanh nghiệp này chấp nhận những L/C có các điều khoản bất lợi cho mình trong quá trình thực hiện những quy định đó Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp không lập được một bộ chứng từ hoàn hảo để đòi tiền Ngân hàng buộc phải thanh toán cho người xuất khẩu, còn những phát sinh trong quá trình thực hiện các điều khoản khác của hợp đồng như hàng giao không đúng số lượng, chủng loại, chất lượng thì hai bên phải giải quyết theo điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng Phía nhập khẩu chỉ có thể kiện phía xuất khẩu trên cơ sở hợp đồng thương mại chứ không thể

từ chối thanh toán Những tranh chấp giữa người mua và người bán dẫn đến những tranh chấp giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu

2.2.3 RỦI RO TRONG VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ

Rủi ro trong phương thức vận chuyển hàng hoá thường xảy ra do hàng hoá phải chuyển từ nước này sang nước khác, các yếu tố tự nhiên như thiên tai lũ lụt là một ẩn số đối với sự an toàn của các phương thức vận chuyển, dù

là bằng đường thuỷ, đường không hay đường bộ Thông thường đối với

Trang 40

những loại rủi ro này, chủ hàng thường sử dụng biện pháp là mua bảo hiểm cho hàng hoá để hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra Trong giới hạn, luận văn trình bày rủi ro trong phương thức vận tải đường biển, vì trong giai đoạn hiện nay, hàng hoá hữu hình vận tải bằng đường biển là chủ yếu (vận tải đường biển đảm nhận trên 80% khối lượng hàng hoá trên thị trường thế giới)

Trong vận tải đường biển, ngoài những rủi ro do các yếu tố thiên tai, tai nạn bất ngờ còn do yếu tố chủ quan, nhất là trong sử dụng vận đơn đường biển B/L và quy ước các điều kiện trong vận đơn đường biển Vận đơn đường biển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với buôn bán quốc tế B/L chính là bằng chứng của hợp đồng chuyên chở đã ký kết, là biên lai xác nhận quyền sở hữu hàng hoá đồng thời liên quan tới nhiều lĩnh vực như vận tải, giao nhận, thanh toán, bảo hiểm, khiếu nại Những lỗi thường gặp khi sử dụng B/L là [8]:

- Tiêu đề của vận đơn và cảng xếp hàng không xác định cụ thể trên vận đơn

- Tranh chấp về cách thể hiện vận đơn đường biển gốc và copy

- Tranh chấp về chuyển quyền sở hữu và rủi ro hàng hoá

- Tranh chấp về thanh toán và giao hàng không xuất trình vận đơn đường biển gốc

- Tranh chấp về điều khoản cước đã trả

- Tranh chấp về cảng xếp hàng, cảng dỡ hàng ghi trên vận đơn

- Tranh chấp liên quan đến ngày ký vận đơn

- Tranh chấp về người ký vận đơn và người chịu trách nhiệm về hàng hoá

Ngoài ra rủi ro trong vận tải đường biển xảy ra do một số nguyên nhân như:

Ngày đăng: 16/04/2014, 19:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Văn Châu, Nguyễn Hồng Đàm (1997) Vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương. Nxb Giáo Dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận tải và bảo hiểm trong ngoại thương
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
2. Nguyễn Thị Hồng Hải (2002). Những giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn Thạc sỹ kinh tế. Học viện ngân hàng, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hải
Năm: 2002
3. Khuất Thu Hồng. Các tổ chức NGOs Việt Nam,tài liệu hội thảo Hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân (PPP), ngày 5-6/01/2004, 14 Trần Bình Trọng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức NGOs Việt Nam
4. Ngô Ngọc Huyền, Bùi Thị Hồng Thu, Lê Tấn Bửu, Bùi Thanh Hùng (2001). Rủi ro trong kinh doanh. Nxb Thống Kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro trong kinh doanh
Tác giả: Ngô Ngọc Huyền, Bùi Thị Hồng Thu, Lê Tấn Bửu, Bùi Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2001
5. Nguyễn Phúc Khanh (2002). Cải cách chính sách thương mại của Việt Nam. Nxb Thống Kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách chính sách thương mại của Việt
Tác giả: Nguyễn Phúc Khanh
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2002
6. Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc (1998). Rủi ro và một số giải pháp phòng ngừa rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ, Tạp chí Ngân hàng số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro và một số giải pháp phòng ngừa rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ
Tác giả: Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc
Năm: 1998
7. Trần Chí Thành (1995). Kinh doanh thương mại quốc tế trong cơ chế thị trường. Nxb Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh thương mại quốc tế trong cơ chế thị trường
Tác giả: Trần Chí Thành
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1995
8. Nguyễn Nhƣ Tiến (2001). Hướng dẫn sử dụng vận đơn đường biển trong thương mại và hàng hải quốc tế. Nxb Giao thông vận tải, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng vận đơn đường biển trong thương mại và hàng hải quốc tế
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Tiến
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2001
9. Nguyễn Văn Tiến (1999). Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Nxb Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Tác giả: Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1999
10. Vũ Hữu Tửu (2002). Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương
Tác giả: Vũ Hữu Tửu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2002
11. Nguyễn Thị Quy(1995): Giải pháp thúc đẩy nhằm hoàn thiện hoạt động TTQT của Việt Nam, Luật án phó tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thúc đẩy nhằm hoàn thiện hoạt động TTQT của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Năm: 1995
12. Jan Ramburg ( 1994). Hướng dẫn sử dụng Incoterm 1990. Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng Incoterm 1990
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
17. Editch& H.G Koeglmayr, “Country Risk Ratings” Management Internations Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: Country Risk Ratings
13. Bản tin chuyên đề môi trường kinh doanh tháng 2.3.4/2004, Trung tâm thông tin kinh tế, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam Khác
14. Báo cáo kim ngạch XNK theo khu vực và thị trường, Bộ Thương Mại các năm 2000, 2001, 2002, 2003 Khác
15. Tài liệu tập huấn về Đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá (thương hiệu) phục vụ sản xuất và kinh doanh hội nhập kinh tế quốc tế tháng 4/2004, Cục sở hữu trí tuệ, 386 - Nguyễn Trãi, Hà nội Khác
18. International chamber of commercial (1993). The uniform customs &pratice for documentary credit, 1993 revision, ICC publication, No 500, Paris Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 1.1 Các tiêu thức đánh giá rủi ro chính trị của  Editch và H.G koeglmayr - Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
1 Bảng 1.1 Các tiêu thức đánh giá rủi ro chính trị của Editch và H.G koeglmayr (Trang 5)
Bảng  1.1  Các  tiêu  thức  đánh  giá  rủi  ro  chính  trị  của  Editch  và  H.G  Koeglmayr [17] - Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
ng 1.1 Các tiêu thức đánh giá rủi ro chính trị của Editch và H.G Koeglmayr [17] (Trang 17)
Bảng 2.2 Tình hình nhập siêu của Việt Nam từ 1999 đến 2003 - Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
Bảng 2.2 Tình hình nhập siêu của Việt Nam từ 1999 đến 2003 (Trang 31)
Bảng 2.1 Kim ngạch XNK thời kỳ 1998-2003 (Đơn vị: Triệu USD). - Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
Bảng 2.1 Kim ngạch XNK thời kỳ 1998-2003 (Đơn vị: Triệu USD) (Trang 31)
Bảng 2.3. Số vụ DN Việt Nam bị kiện bán phá giá - Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
Bảng 2.3. Số vụ DN Việt Nam bị kiện bán phá giá (Trang 45)
Bảng 2.4.  Giá trị một số nhãn hiệu nổi tiếng - Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
Bảng 2.4. Giá trị một số nhãn hiệu nổi tiếng (Trang 50)
Sơ đồ 3.1: Định dạng và phân tích rủi ro - Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam
Sơ đồ 3.1 Định dạng và phân tích rủi ro (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w