1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam

116 1,5K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả Phan Thị Minh Lý
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hữu Khải
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

-

PHAN THỊ MINH LÝ

RÀO CẢN PHI THUẾ QUAN CỦA MỸ VÀ

KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Hữu Khải

Hà Nội - 2006

Trang 2

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Hội đồng Khoa học trường Đại học Ngoại thương, Khoa Sau Đại học trường Đại học Ngoại thương đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã tạo điều kiện, hỗ trợ, ủng hộ về tinh thần để tôi có thể hoàn thành Luận văn

Do hạn chế năng lực và thời gian nghiên cứu, Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong được sự góp ý chỉ bảo của thầy cô và các bạn bè đồng nghiệp

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2006

Tác giả

Phan Thị Minh Lý

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, Việt Nam

đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, tham gia AFTA, APEC, ASEM và đang đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Hiện tại, WTO đang tiếp tục Vòng đàm phán thiên niên kỷ với mục tiêu đẩy mạnh tự do hoá thương mại trên toàn thế giới Tuy nhiên, tự do hoá thương mại là một quá trình lâu dài, gắn chặt với quá trình đàm phán để cắt giảm thuế quan và hàng rào phi quan thuế Các nước, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải đàm phán để

mở cửa thị trường và thúc đẩy tự do hoá thương mại, mặt khác lại luôn đưa ra các biện pháp tinh vi hơn và các rào cản phức tạp hơn nhằm bảo hộ sản xuất trong nước

Khi tham gia vào “sân chơi” chung này, các nước đang phát triển trong

đó có Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi cạnh tranh với hàng hóa của các nước công nghiệp phát triển Những quy định của WTO sẽ hướng tới việc

tự do hoá thương mại bằng cách giảm dần và tiến tới loại bỏ hẳn các hàng rào thuế quan trong thương mại giữa các nước Các quốc gia có xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước bằng các biện pháp phi thuế quan

Kể từ sau khi Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ đối với Việt Nam, quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ liên tục được phát triển và Hoa Kỳ đã trở thành đối tác quan trọng của Việt nam.Vì vậy, việc nghiên cứu hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ - một trong những quốc gia có

hệ thống các quy định phi thuế phức tạp nhất thế giới là việc hết sức cần thiết cho Việt Nam để tìm ra giải pháp vượt rào cản, đẩy mạnh xuất khẩu và rút ra

Trang 4

những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng hàng rào phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước

Hiện nay, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về các biện pháp phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế nói chung và các biện pháp phi thuế quan được áp dụng tại Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học cụ thể về hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ – một quốc gia có hệ thống các rào cản phi thuế vào dạng phức tạp nhất trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan của Hoa Kỳ thì hầu như chưa có

Từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Rào cản phi thuế

quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam”

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài :

- Hệ thống lại một số vấn đề lý luận liên quan đến hàng rào phi thuế quan

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các hàng rào phi thuế quan của Hoa Kỳ

- Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ và xây dựng hàng rào phi thuế quan bảo hộ sản xuất trong nước

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu là hệ thống các rào cản phi thuế quan của Hoa

Kỳ, các quy định của WTO về rào cản phi thuế quan và các rào cản phi thuế quan của Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào nghiên cứu các rào cản phi thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ Phạm vi về thời gian là các rào cản phi thuế quan của Hoa Kỳ từ năm 2001 đến thời điểm nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là sự tổng hợp của các phân tích, thống kê, diễn giải, so sánh…để nghiên cứu bản chất các đối tượng Luận văn cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia kinh tế cũng như các giáo sư tiến

sỹ kinh tế trong ngành nhằm đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất

Nội dung nghiên cứu:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương

như sau:

Chương I Cơ sở lý luận về hàng rào phi thuế quan trong thương mại

quốc tế Chương II Thực tiễn áp dụng các biện pháp phi thuế quan của Hoa Kỳ Chương III Đề xuất các biện pháp phi thuế quan Việt Nam có thể sử

dụng trong thời gian tới

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

Anti-Dumping Practices

Hiệp định về chống bán phá giá

Area

Khu vực thương mại tự

do ASEAN APEC Asia – Pacific Economic

Cooperation

Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình

Dương ATC Agreement on Textiles

and Clothing

Hiệp định Dệt may

ASEAN Association of

South-East Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á

ASEM Asia Europe Meeting Diễn đàn hợp tác á - Âu BATF Bureau of Alcohol,

Tobacco and Firearms

Cơ quan quản lý rượu, thuốc lá và vũ khí CDC Centers for Disease

Control and Prevention

Trung tâm dịch vụ y tế kiểm soát dịch bệnh

Trang 7

GATT General Agreement on

Tariff and Trade

Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch

EPA Environment Protection

Investigation

Cục kiểm định an toàn thực phẩm - Bộ Nông nghiệp

MFN Most Favored Nation Chế độ ưu đãi tối huệ

quốc NTM Non tariff Measures Các biện pháp phi thuế

Viện tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia

Department of Agriculture

Trang 8

Commission UNCTAD United Nations

Conference on Trade and Development

Hội nghị liên hợp quốc

tế về thương mại và phát triển

Development Program

Chương trình phát triển Liên hợp quốc

USTR United States Trade

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối khàng

SPS Agreement on Sanitary

and phytosanitary Measures

Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ

Organization

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Dự kiến cơ cấu thị trường năm 2006 và 2010 65 Bảng 3.2 Trị giá xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 - 2005 68 Bảng 3.3 Kim ngạch xuất nhập khẩu sau khi thiết lập quan hệ

thương mại với Hoa Kỳ

69

Bảng 3.4 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam

vào Hoa Kỳ từ năm 2000 đến 2005

70

Bảng 3.5 Kim ngạch buôn bán hai chiều và cán cân thương

mại Việt Nam – Hoa Kỳ

71

Trang 10

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN

TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN

Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, biện pháp và các công cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế phù hợp với các lợi thế quốc gia trong từng thời kỳ nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia từ thương mại quốc tế

Khi tham gia vào thương mại quốc tế, các quốc gia sẽ phát huy được những thế mạnh của nước mình, tận hưởng được những lợi thế từ thị trường thế giới Nhưng mặt khác cũng sẽ bộc lộ những mặt yếu kém và bất lợi của chính quốc gia đó Do vậy các quốc gia thường phải sử dụng một hệ thống các công cụ để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế Trong đó phải kể đến việc sử dụng hàng rào phi thuế quan – một công cụ được coi là linh hoạt, tác động nhanh, mạnh Hàng rào phi thuế quan không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo hộ thị trường nội địa, hướng dẫn tiêu dùng, điều tiết vĩ mô nền kinh

tế khá có hiệu quả mà còn là công cụ dùng để phân biệt đối xử trong quan hệ đối ngoại

Để đẩy mạnh giao lưu, hợp tác giữa các nước, các khu vực, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các doanh nghiệp phải vượt qua hai rào cản lớn, đó là:

1 Hàng rào thuế quan (Tariff barriers)

Đây là biện pháp mà Tổ chức Thương mại Thế giới cho phép sử dụng

để bảo hộ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm, do vậy xu hướng ngày càng giảm

đi Sự tự do hoá biểu hiện thông qua các chính sách về Quy chế tối huệ quốc

Trang 11

(MFN), chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP), Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của các khối liên kết kinh tế như: EU, NAFTA, AFTA, APEC…

2 Hàng rào phi thuế quan (Non-tariff Barriers)

Do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do trình độ phát triển kinh tế không đồng đều, các nước đều duy trì rào cản thương mại nhằm bảo hộ sản xuất nội địa Bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng thuế quan, rất nhiều hàng rào phi thuế quan ra đời Mức độ cần thiết và lý do sâu xa dẫn đến việc bảo hộ sản xuất nội địa của từng nước cũng khác nhau, đối tượng bảo hộ cũng khác nhau khiến cho các hàng rào phi thuế quan càng trở nên đa dạng

Trong thập niên 1960, GATT tiến hành công việc liệt kê các hàng rào phi thuế quan của mọi quốc gia thành viên Một trong những mục đích của việc này là chuẩn bị cho vòng đàm phán kế tiếp Năm 1973, công trình đã liệt kê được hơn 800 loại hàng rào Hội nghị liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng tiến hành một dự án nghiên cứu để liệt kê các hàng rào phi thuế quan và đến năm 1986 đã ghi nhận được một số lượng còn nhiều hơn thế nữa

Hiện nay có rất nhiều quan niệm về hàng rào phi thuế quan, Tổ chức

hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm 1997 đã định nghĩa: “Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, thông thường dựa trên cơ sở lựa chọn, nhằm hạn chế nhập khẩu”

Tương tự như vậy, cơ sở dữ liệu của Hệ thống Phân tích và Thông tin Thương mại (TRAINS) của UNCTAD chủ yếu chỉ tính đến các biện pháp biên giới Phương pháp tiếp cận này bỏ qua phần lớn những biện pháp liên quan đến xuất khẩu và việc mua sắm của Chính phủ (như những nguyên tắc

về hàm lượng giá trị trong nước, các khoản trợ cấp, giảm thuế, các biện pháp biên giới về phân biệt đối xử và các biện pháp tư nhân chống cạnh tranh )

Trang 12

Thực tế, phương pháp tiếp cận về những biện pháp biên giới được áp dụng nhiều hơn vì các lý do tình thế chứ không phải các tính toán nghiêm khắc, trí tuệ

Nghiên cứu của Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (PECC) năm

1995 mô tả “các hàng rào phi thuế quan là mọi công cụ phi thuế quan can thiệp vào thương mại, bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nước”

Các hàng rào phi thuế quan không nên được xem như một sự đồng nghĩa với các biện pháp phi thuế quan, mà nên coi là tập hợp một số biện pháp phi thuế quan Tất cả các hàng rào phi thuế quan đều là các biện pháp phi thuế quan, song không phải tất cả các biện pháp phi thuế quan đều là các hàng rào phi thuế quan

Các biện pháp phi thuế quan có thể bao gồm các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, chúng không phải là những “rào cản” đối với thương mại Thuật ngữ có vẻ trung lập hơn này cũng được các Chính phủ thường dùng để mô tả những biện pháp được sử dụng để quản lý nhập khẩu với các mục đích hợp pháp (ví dụ các thủ tục bảo đảm thực vật được quốc tế công nhận) Hơn nữa,

ví dụ nếu các hạn ngạch mà không bắt buộc (ít nhất là ở mức nào trên thị trường phi hạn ngạch có thể xuất hoặc nhập khẩu), khó có thể quy cho chúng

là những “hàng rào”

Trong thực tế, việc xác định những biện pháp phi thuế quan nào là các hàng rào phi thuế quan khá khó khăn Mục đích sử dụng các công cụ, chính sách là quan trọng, song có những chính sách, biện pháp mà tác dụng của chúng không thể được xác định, nếu không có sự điều tra kỹ lưỡng về kết quả, bản chất và hoạt động thực sự của chúng

Bên cạnh các định nghĩa trên, chúng ta đề cập tới định nghĩa về các

biện pháp phi thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của WTO: “Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hoá giữa các nước”

Trang 13

Theo cách định nghĩa này thì WTO cũng đã dựa trên cơ sở của thuế quan Từ đó, WTO xây dựng định nghĩa về hàng rào phi thuế quan như sau:

“Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”

Ví dụ như với một số lượng ấn định sẵn, hạn ngạch sẽ không cho hàng hoá nhập khẩu hoặc xuất khẩu vào hoặc ra khỏi một nước vượt quá số lượng

đó, mặc dù hàng hoá có sẵn để bán, người mua đã sẵn sàng để mua

Mục đích của việc nghiên cứu và phân tích các biện pháp phi thuế quan

là đưa ra một nghiên cứu mô tả cơ bản của thể chế thương mại hiện hành Đây cũng là một cơ sở quan trọng giúp cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Cụ thể hơn, nó liên quan đến những cam kết hiện có nhưng chưa được thực hiện về tự do hoá thương mại đối với ASEAN, APEC và WTO

Khi Việt Nam ra nhập WTO, thì chắc chắn việc sử dụng hàng rào phi thuế quan sẽ cần được bàn đến và phải cắt giảm tương đối nhiều Nhưng mặc

dù vậy, chính những quốc gia đề xướng ra lại là những nước sử dụng nhiều, mạnh và có vẻ có hiệu quả bảo hộ nhất những hàng rào phi thuế quan Do vậy, với một nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, đang trong giai đoạn chuyển đổi thì lại có rất nhiều ngoại lệ mà WTO cho phép sử dụng Việc sử dụng như thế nào cần phải nghiên cứu một cách nghiên cứu dựa trên cơ sở sự phân loại rõ ràng và khoa học

Có rất nhiều cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến việc ban hành, quản lý và thực hiện hàng rào phi thuế quan ở Việt Nam như:

1 Bộ Thương mại: cơ quan chủ quản, chịu trách nhiệm chính về các

biện pháp kiểm soát số lượng (hạn ngạch, cấp giấy phép) và các biện pháp độc quyền (một kênh về nhập khẩu)

Trang 14

2 Bộ Tài chính: các biện pháp gần thuế, các biện pháp kiểm soát giá cả,

(giá nhập khẩu tối thiểu) và trực tiếp theo dõi giám sát việc thông quan của Tổng cục Hải quan, các khoản phụ thu vì mục đích ổn định giá cả

3 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: các biện pháp vệ sinh , các

biện pháp bảo vệ động, thực vật và các biện pháp ảnh hưởng đến buôn bán các mặt hàng nông sản

4 Bộ Công nghiệp: các biện pháp ảnh hưởng đến buôn bán hàng công nghiệp

5 Bộ Y tế: các biện pháp ảnh hưởng đến buôn bán dược phẩm và thiết bị y tế

6 Bộ Khoa học công nghệ và môi trường: các biện pháp kỹ thuật (các

yêu cầu về tiêu chuẩn và chất lượng)

7 Bộ Văn hoá thông tin: các biện pháp ảnh hưởng đến buôn bán các

văn hoá phẩm, sản phẩm nghe nhìn, thiết bị in ấn [7, tr.15]

II ƯU NHƯỢC ĐIỂM KHI SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN

1.2 Đáp ứng nhiều mục tiêu: một NTM có thể đồng thời đáp ứng nhiều mục

tiêu với hiệu quả cao

Mỗi quốc gia thường theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh tế, thương mại của mình Các mục tiêu đó có thể là: (i) bảo hộ sản xuất trong

Trang 15

nước, khuyến khích phát triển một số ngành nghề; (ii) bảo vệ an toàn sức khoẻ con người, động thực vật, bảo vệ môi trường; (iii) hạn chế tiêu dùng; (iv) đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; (v) đảm bảo an ninh quốc gia, trật

tự xã hội, Các NTM có thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau trong khi có thể việc sử dụng công cụ thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu bằng Ví dụ: quy định về vệ sinh kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa đảm bảo an toàn sức khoẻ con người, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản xuất nông nghiệp trong nước một cách hợp pháp Hay cấp giấy phép nhập khẩu không tự động đối với dược phẩm vừa giúp bảo vệ ngành dược nội địa, quản lý chuyên ngành một mặt hàng quan trọng đối với sức khoẻ con người, còn có tác dụng phân biệt đối xử với một số nước cung cấp nhất định

1.3 Nhiều NTM chưa chuẩn bị cam kết ràng buộc cắt giảm hay loại bỏ

Do NTM thường mang tính mập mờ, mức độ ảnh hưởng không rõ ràng như những thay đổi định lượng của thuế quan nên tác động của chúng có thể lớn nhưng lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay cách khác Hiện nay các hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh việc sử dụng một số NTM nhất định Trong đó, tất cả các NTM hạn chế định lượng đều không được phép áp dụng, trừ một số trường hợp ngoại lệ

Một số NTM khác tuy có thể nhằm mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước nhưng vẫn được WTO cho phép áp dụng với điều kiện tuân thủ những quy định cụ thể, rõ ràng, khách quan Chẳng hạn như hàng rào kỹ thuật, biện pháp kiểm dịch động thực vật, biện pháp tự vệ, chống bán pháp giá, các biện pháp chống trợ cấp, thuế đối kháng, hỗ trợ nông nghiệp dạng hộp xanh

Ngoài ra, các nước vẫn có thể tiếp tục áp dụng mà chưa bị yêu cầu cắt giảm hay loại bỏ những NTM chưa xác định có phù hợp hay không phù hợp

Trang 16

với các quy định của WTO Những NTM này có thể do WTO chưa có quy định điều chỉnh hoặc có quy định nhưng rất chung chung và trên thực tế rất khó có thể xác định được tính phù hợp hay không phù hợp với quy định đó, hoặc chúng vẫn là một thực tế được thừa nhận chung Chẳng hạn như yêu cầu đặt cọc, nộp thuế nhập khẩu trước

2 Nhược điểm

2.1 Không rõ ràng và khó dự đoán

Các NTM trên thực tế thường được vận dụng dựa trên cơ sở dự đoán chủ quan, thậm chí tuỳ tiện của nhà chức trách về sản xuất và nhu cầu tiêu thụ trong nước Chẳng hạn để xác định hạn ngạch nhập khẩu phân bón trong năm tới, Chính phủ phải dự kiến được công suất sản xuất trong nước có khả năng đáp ứng được bao nhiêu phần trăm tổng nhu cầu về phân bón của toàn ngành nông nghiệp

Trong bối cảnh nền kinh tế ngày nay rất phức tạp và thường xuyên biến động, việc đưa ra một dự đoán tương đối chính xác là tương đối khó khăn Nếu dự đoán không chính xác sẽ có ảnh hưởng xấu đến sản xuất trong nước Ví

dụ như gây ra thiếu hụt trầm trọng nguồn cung cấp phân bón khi sản xuất trong nước vào thời vụ, đẩy giá tăng vọt (sốt nóng) hoặc trái lại, dẫn đến tình trạng cung vượt cầu quá lớn trên thị trường làm giá sụt giảm (sốt lạnh) Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định sản xuất và kinh doanh sẽ chịu rủi ro cao hơn

Sử dụng NTM cũng thường làm nhiễu tín hiệu chỉ dẫn các quyết định của người sản xuất và người tiêu dùng trong nước , tín hiệu chỉ dẫn việc phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế (chính là giá thị trường), phản ánh không trung thực lợi thế cạnh tranh thực sự Do đó, khả năng xây dựng

kế hoạch đầu tư sản xuất kinh doanh hiệu quả trung và dài hạn của người sản xuất bị hạn chế

Trang 17

Tác động của các NTM thường khó có thể lượng hoá được rõ ràng như tác động của thuế quan Nếu mức bảo hộ thông qua thuế quan đối với một sản phẩm có thể dễ dàng được xác định bằng chính thuế suất đánh lên sản phẩm đó thì mức độ bảo hộ thông qua NTM là tổng mức bảo hộ của các NTM riêng rẽ áp dụng cho cùng một sản phẩm Bản thân mức độ bảo hộ của mỗi NTM cũng chỉ có thể được ước lượng một cách tương đối Cũng vì mức

độ bảo hộ của các NTM không dễ xác định nên rất khó xây dựng một lộ trình

tự do hoá thương mại rõ ràng như với bảo hộ chỉ bằng thuế quan

2.2 Khó khăn, tốn kém trong quản lý

Vì khó dự đoán nên các NTM thường đòi hỏi chi phí quản lý cao và tiêu tốn nhân lực của Nhà nước để duy trì hệ thống điều hành, kiểm soát bằng NTM Một số NTM thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan với những mục tiêu khác nhau, đôi khi còn mâu thuẫn nhau, nên có thể gây khó khăn cho bản thân các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý và các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận thông tin cũng như đánh giá tác động của các NTM này

Các doanh nghiệp sản xuất chưa chú trọng đến tiếp cận thông tin và chưa có ý thức xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, còn trông chờ vào nhà nước tự quy định Do đó, thực tế là các doanh nghiệp thường phải tốn kém chi phí vận động hành lang để cơ quan chức năng ra quyết định

áp dụng NTM nhất định có lợi cho mình

Ngoài ra, có những NTM bị động là những NTM tồn tại trên thực tế ngoài ý muốn của các nhà hoạch định chính sách như bộ máy quản lý thương mại quan liêu, năng lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không được công bố công khai…

Trang 18

2.3 Không tăng thu ngân sách

Việc sử dụng các NTM phục vụ mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng hầu như không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho Nhà nước Mặc dù một số nước đang và kém phát triển có sử dụng đấu thầu hạn ngạch hoặc quy định mức lệ phí khi được chứng nhận về tiêu chuẩn kỹ thuật…nhưng những khoản tài chính này quá nhỏ, chưa đủ bù đắp chi phí của công tác hành thu

2.4 Gây bất bình đẳng thậm chí dẫn đến độc quyền ở một số doanh nghiệp

Khi áp dụng các NTM có thể làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc một ngành sản xuất nhất định được bảo hộ hoặc được hưởng ưu đãi, đặc quyền như được phân bổ hạn ngạch, được chỉ định làm đầu mối nhập khẩu Điều này còn dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế Không những thế, còn phát sinh tình trạng độc quyền ở một số doanh nghiệp đối với những mặt hàng được bảo hộ ở mức độ cao Hành động đó làm cho chi phí sản xuất không hạ, chất lượng không cao, sức cạnh tranh giảm

2.5 Làm cho tín hiệu thị trường kém trung thực

Khác với thuế, các NTM không trực tiếp tác động đến giá, nhưng nó lại tác động trực tiếp đến lượng cung, cầu của một quốc gia do vậy nó cũng có tác động giống thuế là làm cho tín hiệu thị trường trở nên kém trung thực Khi cung (S) và cầu (D) cân bằng thì giá sẽ ở trạng thái ổn định Trong trường hợp cung lớn hơn cầu (S > D) sẽ dẫn đến những áp lực làm giảm giá Ngược lại, trong trường hợp cung nhỏ hơn cầu (S < D) thì sẽ có áp lực làm tăng giá

Giả sử sản xuất xe máy của một quốc gia (S) là 500.000 chiếc, lượng cầu (D) là 1.000.000 chiếc; để đảm bảo cân bằng cung cầu quốc gia đó cần nhập khẩu 500.000 chiếc xe máy nữa, nhưng để bảo hộ sản xuất, thực hiện

Trang 19

chính sách tiết kiệm ngoại tệ, Chính phủ đưa ra hạn ngạch nhập khẩu (M) là 300.000 chiếc Khi đó: (S + M) - D = -200.000 Như vậy nhu cầu còn thiếu là 200.000 chiếc xe máy Điều này dẫn đến áp lực làm cho giá mặt hàng đó tăng Nhưng đây là sự biến động không mang tính khách quan vì nó chịu sự chi phối và điều tiết của Chính phủ thông qua rào cản phi thuế quan (hạn ngạch) Nó sẽ phản ánh mặt không tốt khi một quốc gia đang chuyển đổi sang cơ chế thị trường

Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan trọng đối với mọi quốc gia Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, điểm yếu đặc thù nên chúng thường được sử dụng bổ sung lẫn nhau nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Mặc dù về lý thuyết, WTO và các định chế thương mại khu vực thường chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất nhưng thực tế đã chứng minh rằng các nước không ngừng sử dụng các NTM mới, vừa đáp ứng mục đích bảo hộ, vừa không trái với thông

lệ quốc tế

Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không còn phụ thuộc vào tính linh hoạt có chọn lọc, có định hướng của Chính phủ các nước trong việc áp dụng các NTM bổ trợ cho biện pháp thuế quan Nếu biết kết hợp hài hoà và tinh tế hai công cụ này, sản xuất trong nước sẽ được bảo hộ, hỗ trợ hợp lý có thời hạn để nâng cao sức cạnh tranh nhằm từng bước thích nghi với các định chế và nguyên tắc chung của thương mại quốc tế [8, tr 291 – 295]

III PHÂN LOẠI CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN

1 Căn cứ phân loại

a Căn cứ vào mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước

Đây là thuộc tính quan trọng nhất của một NTM mà các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc khi đưa ra quyết định có áp dụng chúng hay không

Trang 20

Điều này phụ thuộc nhiều vào vấn đề phân tích và đánh giá thực trạng kinh

tế trong nước từ đó lựa chọn ngành bảo hộ, thời gian và mức độ bảo hộ

b Căn cứ vào sự phù hợp với quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế

Khi xây dựng chính sách thương mại nhằm hội nhập vào các tổ chức thương mại quốc tế, Chính phủ cần quan tâm đến những quy định của những

tổ chức này, đặc biệt là những biện pháp đã có cam kết cắt giảm Hiện tại, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN và APEC, do đó việc cắt giảm những biện pháp phi thuế quan cho phù hợp với những tổ chức này là vấn đề bắt buộc Ngoài ra, muốn trở thành thành viên chính thức của WTO - một tổ chức thương mại có quy mô toàn cầu trong một tương lai gần, Việt Nam cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa những biện pháp thuế quan cũng như phi thuế quan…Các nguyên tắc và quy định của WTO thông thường cũng là những chuẩn mực cho mối quan hệ giữa các quốc gia với các thể chế tài chính/ tiền tệ hay cho các tổ chức thương mại khác Do đó có thể khẳng định rằng việc thực hiện triệt để bước đầu các cam kết mở đường cho Việt Nam tham gia WTO và cũng đồng thời giúp Việt Nam phần nào đáp ứng được những cam kết trong ASEAN và APEC

2 Phân loại các biện pháp phi thuế quan

Trên cơ sở các căn cứ nói trên có thể phân loại các NTM thành ba nhóm với các thuộc tính sau:

Nhóm 1: Các NTM không phù hợp với những quy định của WTO

Nhóm 2; Các NTM phù hợp với những quy định của WTO, không có

mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước

Nhóm 3: Các NTM phù hợp với những quy định của WTO, có mục tiêu

bảo vệ sản xuất trong nước

2.1 Nhóm 1: Những biện pháp phi thuế quan không phù hợp với những quy định của WTO

Trang 21

Các NTM thuộc nhóm này hoặc là vi phạm rõ ràng quy định của WTO (ví dụ áp dụng giá nhập khẩu tối thiểu để xác định trị giá tính thuế hải quan) hoặc chỉ phù hợp trong những trường hợp đặc biệt (ví dụ cấm nhập khẩu hàng hoá có hại cho môi trường) Nhóm này bao gồm tất cả các biện pháp hạn chế nhập khẩu sau đây:

2.1.1 Các biện pháp quản lý định lượng

- Cấm trên cơ sở nguồn gốc (Cấm vận) (6360)

- Cấm đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (6370)

 Quản lý bằng hạn ngạch (6200): Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng hoặc giá trị một mặt hàng nào đó được nhập khẩu nói chung hoặc từ một thị trường nào đó, trong một thời gian nhất định

- Hạn ngạch liên quan đến thực hiện xuất khẩu (6250)

- Hạn ngạch liên quan đến bán hàng hoá nội địa (6250)

- Hạn ngạch của các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (6270)

 Cấp phép không tự động

Trang 22

Được xác định như là các thủ tục hành chính được sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết để được phép nhập khẩu

- Giấy phép không có tiêu chuẩn thanh toán cụ thể (6110)

- Giấy phép đối với người mua chọn lọc (6120)

- Giấy phép đối với việc sử dụng cụ thể (6130)

+ Liên quan tới thương mại xuất khẩu (6131)

+ Đối với mục đích ngoài xuất khẩu (6132)

- Giấy phép liên quan đến nội địa hoá (6140)

+ Mua hàng hoá trong nước (6141)

+ Yêu cầu tỷ lệ nội địa hoá (6142)

+ Thương mại hàng đổi hàng hoặc mua bán đối lưu (6143)

- Giấy phép liên quan đến giao dịch ngoại hối không chính thức (6150) + Chuyển đổi ngoại tệ bên ngoài (6151)

+ Chuyển đổi ngoại tệ của chính các nhà nhập khẩu (6152)

 Các thoả thuận hạn chế xuất khẩu (6600)

Các hạn chế được đặt ra bởi nước nhập khẩu nhưng được nước xuất khẩu quản lý:

- Các thoả thuận quản lý xuất khẩu tự nguyện (6610)

- Các thoả thuận tiếp thị có trật tự (6620)

- Thoả thuận liên quan đến hiệp định đa sợi MFA (6630)

Trang 23

2.1.2 Các biện pháp tương đương thuế quan

Được định nghĩa như những biện pháp làm tăng chi phí theo cách tương

tự đối với các biện pháp thuế quan Bao gồm:

 Phụ phí hải quan (2100): Đây là loại chi phí thu thêm của chủ hàng phục vụ cho công tác quản lý, làm thủ tục của Hải quan Phụ phí Hải quan còn được hiểu là phí thu thêm hoặc bổ sung thêm, là một phương tiện chính sách thương mại độc lập để tăng thu nhập tài chính hoặc bảo hộ công nghiệp trong nước

 Thuế và chi phí bổ sung (2200): Chi phí bổ sung bao gồm các loại thuế và lệ phí khác nhau đặt ra đối với hàng hoá nhập khẩu cũng giống như phụ phí hải quan được đặt ra nhằm mục đích tăng thêm một phần thu cho ngân sách chủ yếu phục vụ công tác hành thu Nhưng mặt khác còn có ý nghĩa bảo hộ như một loại rào cản phi thuế quan khác gồm một số loại cơ bản sau:

- Thuế đối với các giao dịch chuyển đổi ngoại tệ (2210)

- Thuế gián tem (2220)

- Lệ phí giấy phép nhập khẩu (2230)

- Lệ phí hoá đơn lãnh sự (2240)

- Thuế thống kê (2250)

- Thuế đối với các phương tiện vận tải (2260)

- Thuế và phụ phí đối với các sản phẩm nhạy cảm (2270)

- Thuế và chi phí nội địa đánh vào nhập khẩu (2300)

- Thuế và phí tổn đối với hàng hoá thuộc hạng mục sản phẩm nhạy cảm (2370)

- Những loại thuế khác ghi trong mã số (2280)

 Định giá hải quan theo quy định (2400)

Trang 24

Định giá hải quan theo quy định làm biến đổi thuế theo giá hàng hoá thành một dạng thuế đặc biệt Biện pháp này được đưa ra như một phương tiện để tránh gian lận hoặc bảo vệ công nghiệp trong nước

2.1.3 Các biện pháp tài chính (4000)

Các biện pháp quy định sự tham gia và chi phí của việc chuyển đổi ngoại tệ đối với việc nhập khẩu và xác định các điều kiện thanh toán

 Các yêu cầu thanh toán trước (4100)

Thanh toán trước các giá trị giao dịch nhập khẩu trong một thời gian cho phép trước khi nhập khẩu và/hoặc thuế nhập khẩu liên quan được yêu cầu tại thời điểm giao dịch hoặc cấp phép nhập khẩu

- Yêu cầu giới hạn tiền mặt (4120): Nghĩa vụ gửi toàn bộ số tiền liên quan đến giá trị giao dịch hoặc một phần được xác định của số tiền đó trong ngân hàng ngoại thương trước khi mở thư tín dụng Việc thanh toán có thể được yêu cầu bằng ngoại tệ

- Tiền gửi có thể trả lại đối với các hạng mục sản phẩm nhạy cảm (4170): Việc gửi lại tiền gửi là chi phí được trả lại khi các thùng hàng hoặc các sản phẩm đã sử dụng được trả lại hệ thống giao nhận

 Tỷ giá hối đoái đa dạng (4200)

 Xác định tỷ giá hối đoái chính thức hạn chế (4300), Uỷ quyền ngân hàng (4320)

 Yêu cầu giao lại chuyển đổi ngoại tệ (4400)

 Các quy định liên quan đến các điều kiện chi trả đối với nhập khẩu (4500): Các quy định cụ thể liên quan đến các điều kiện thanh toán của quá trình nhập khẩu và việc đạt được và sử dụng tín dụng (nước ngoài và trong nước) đối với vấn đề nhập khẩu tài chính

 Trì hoãn chuyển giao xếp hàng (4600)

2.1.4 Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp

 Các hạn chế đối với công ty cụ thể (đầu mối xuất nhập khẩu) (6700):

Trang 25

- Phê chuẩn chọn lọc các nhà nhập khẩu (6710)

- Hạn ngạch đối với công ty nhập khẩu (6720)

 Các biện pháp độc quyền (7000): Các biện pháp tạo nên một tình huống độc quyền, bằng cách đưa ra các quyền riêng biệt cho một hoặc một nhóm hạn chế các nhà kinh doanh vì những lý do xã hội tài chính hoặc kinh

tế Bao gồm:

- Kênh nhập khẩu duy nhất (7100): tất cả việc nhập khẩu hoặc việc nhập khẩu một loại hàng hoá chọn lọc phải thông qua các cơ quan Nhà nước hoặc các doanh nghiệp do Nhà nước quản lý (Đôi khi khu vực tư nhân cũng

ó những quy định nhập khẩu riêng biệt) Bao gồm: quản lý doanh nghiệp thương mại nhà nước (7110); Cơ quan nhập khẩu duy nhất (7120)

- Các dịch vụ quốc gia bắt buộc (7200): các quyền riêng biệt được Chính phủ thừa nhận về bảo hiểm quốc gia và các công ty vận tải biển đối với toàn bộ hoặc một phần cụ thể của việc nhập khẩu Bao gồm: Bảo hiểm quốc gia bắt buộc (7210), Vận tải quốc gia bắt buộc (7220)

2.1.5 Các biện pháp liên quan đến đầu tư (9100)

Do quan điểm, mục đích khác nhau giữa các nước phát triển và đang phát triển về đầu tư nước ngoài, theo đó các quốc gia đang phát triển không muốn thông qua đầu tư nước ngoài lại làm thị trường nước sở tại bị lũng đoạn Do vậy, các nước này thường đặt ra một loạt các biện pháp có thể coi như rào cản phi thuế quan nhằm hạn chế những tác động mà họ quan niệm là bất lợi như:

 Quy định về tỷ lệ nội địa hoá: ví dụ như năm 1999 Thái Lan đặt ra

tỷ lệ nội địa hoá đối với xe 4 chỗ ngồi là 54%, xe tải nhẹ từ 65 đến 80%, xe máy là 79%

Trang 26

 Quy định về tỷ lệ ngoại hối: ví dụ Trung Quốc và Thái Lan thường yêu cầu các công ty nước ngoài phải đảm bảo một tỷ lệ ngoại hối thu được hợp lý giữa nguồn thu qua xuất khẩu và các nguồn thu khác

Ngoài ra các quốc gia đang phát triển còn quy định về tỷ lệ xuất khẩu,

tỷ lệ bán vào thị trường nội địa, về chuyển lợi nhuận…

2.2 Nhóm 2: Những biện pháp phù hợp với quy định của WTO nhưng không mang tính bảo hộ

Các NTM thuộc nhóm này là các biện pháp hạn chế nhập khẩu dựa trên những tiêu chuẩn rõ ràng được thừa nhận nhưng không mang tính chất bảo hộ

 Các biện pháp kỹ thuật (8000): Là các biện pháp đề cập đến sản phẩm có đặc trưng liên quan đến vấn đề kỹ thuật như chất lượng, an toàn, kích cỡ trong đó bao gồm các điều khoản hành chính có thể được yêu cầu áp dụng cho một sản phẩm như thuật ngữ, ký hiệu, thử nghiệm, đóng gói, đóng dấu và các yêu cầu về nhãn mác

 Các quy định kỹ thuật (8100): Các quy định đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, trực tiếp hoặc bằng việc đề cập đến hoặc kết hợp nội dung của việc định rõ kỹ thuật, tiêu chuẩn hoặc mã số thực hiện để bảo vệ sức khoẻ con người (quy định vệ sinh); bảo vệ sức khoẻ thực vật (quy định về vệ sinh thực vật); bảo vệ môi trường và bảo vệ cuộc sống hoang dã; bảo đảm an toàn con người; bảo đảm an ninh quốc gia, ngăn ngừa các hoạt động gian lận

- Các yêu cầu đặc trưng của sản phẩm (8110)

- Yêu cầu về ký mã hiệu (8120): Các biện pháp xác định thông tin quy định việc đóng gói hàng hoá phải được thực hiện cho việc vận chuyển; hải quan (nước xuất xứ, cân nặng, ký hiệu đối với nội dung nguy hiểm)

- Yêu cầu về nhãn mác (8310): Các biện pháp quy định loại hình kích

cỡ của việc in gói hàng hoặc và xác định thông tin nên được cung cấp cho khách hàng

Trang 27

- Yêu cầu về đóng gói (8140): Các biện pháp quy định cách thức về hàng hoá phù hợp với nước nhập khẩu về việc điều khiển thiết bị hoặc vì các

lý do khác và xác định nguyên liệu đóng gói được sử dụng

- Thử nghiệm, kiểm tra và yêu cầu kiểm dịch (8150): Thử nghiệm bắt buộc các mẫu sản phẩm bởi một phòng thí nghiệm được uỷ quyền trong nước nhập khẩu, kiểm tra hàng hoá bởi các cơ quan thẩm quyền về sức khoẻ trước khi ra khỏi hải quan hoặc yêu cầu kiểm dịch đối với động vật sống

 Kiểm tra trước khi xếp hàng lên tàu (8200): Quản lý chất lượng, số lượng và giá cả bắt buộc của hàng hoá trước khi di chuyển hàng từ nước xuất khẩu, có hiệu lực bởi một cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu uỷ thác Quản lý giá nhằm mục đích tránh dưới mức và trên mức hoá đơn do đó thuế hải quan không bị trốn tránh hoặc chuyển đổi ngoại tệ không bị thất thoát

2.3 Nhóm 3: Những biện pháp phù hợp với quy định của WTO nhưng mang tính bảo hộ

Các NTM thuộc nhóm này là các biện pháp có mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước nhưng được các tổ chức thương mại quốc tế thừa nhận Các biện pháp thuộc nhóm này gọi là các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời, bao gồm:

 Các biện pháp chống bán phá giá (3400): Các biện pháp chống bán phá giá là các quy định về mức thuế nhập khẩu đặc biệt khi giá hàng hoá của các nước xuất khẩu bán phá giá vào nước nhập khẩu

- Điều tra chống bán phá giá (3410)

- Thuế chống bán phá giá (3420)

- Cam kết giá cả (3430)

 Các biện pháp chống trợ cấp (3500): Đánh thuế nhập khẩu đặc biệt

để chống trợ cấp của Chính phủ nước ngoài đối với mặt hàng này Bao gồm:

Trang 28

2.4 Các NTM chưa có quy định cụ thể của các tổ chức thương mại quốc

 Tiền gửi nhập khẩu trước (4110): Nghĩa vụ gửi trước phần trăm giá trị của các giao dịch nhập khẩu trong một thời gian cho phép trước khi nhập khẩu, các khoản tiền gửi này không được tính lãi suất

 Trả trước thuế hải quan (4130): Thanh toán trước toàn bộ hoặc một phần không cho phép tính lãi suất

b Các biện pháp dẫn đến hạn chế nhập khẩu nhưng phát sinh một cách ngẫu nhiên chứ không do các nhà hoạch định chính sách chủ động vạch ra

Các biện pháp này có tác động xấu đến thương mại nhưng chưa bị các tổ chức thương mại yêu cầu loại bỏ

 Các thủ tục đặc biệt (8310): Các thủ tục không rõ ràng liên quan đến việc quản lý hành chính của bất cứ biện pháp nào được nước nhập khẩu

áp dụng như nghĩa vụ nộp thông tin sản phẩm chi tiết hơn yêu cầu thông thường trên cơ sở yêu cầu khai hải quan, yêu cầu sử dụng các địa điểm nhập cảnh cụ thể,…

 Năng lực yếu kém của hải quan (8320): Thể hiện qua khả năng về chuyên môn trong quá trình kiểm tra hàng hoá, làm thủ tục thông quan…

Trang 29

 Các vấn đề liên quan đến tham nhũng (8350): Là một trong những yếu tố phát sinh ngoài tầm kiểm soát của các nhà hoạch định chính sách, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thương mại cần phải loại bỏ

Ngoài ra, các văn bản liên quan đến thương mại không được công bố kịp thời, công khai cũng được coi là một NTM [7, tr 23 – 34]

IV SỰ CẦN THIẾT TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1 Đối với các quốc gia trên thế giới

Các biện pháp phi thuế quan là công cụ bảo hộ phổ biến được Chính phủ các nước sử dụng để nâng đỡ các doanh nghiệp gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp đến nền kinh tế quốc dân hoặc các doanh nghiệp tập trung nguồn nhân lực và tài chính lớn Minh hoạ thực tế rõ ràng nhất có thể nhận thấy ở các nước đang phát triển như các nước châu Mỹ Latinh, các nước Đông Nam Á, nơi tồn tại số lượng lớn các doanh nghiệp nhà nước Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước ở các quốc gia này đều là các doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong vấn đề cạnh tranh trên thị trường nội địa cũng như quốc

tế mà nguyên nhân sâu xa có thể là thiếu vốn, hạn chế trong vấn đề đào tạo nhân lực, thậm chí là yếu kém trong khâu quản lý…Mặc dù vậy việc giải thể các doanh nghiệp này là vấn đề nan giải bởi hầu hết các doanh nghiệp này thu hút một lực lượng lao động lớn hoặc được đầu tư những nguồn tài chính không nhỏ Hậu quả của việc giải thể có thể là những cú sốc lớn cả về kinh tế

và chính trị Hơn nữa, nguyên nhân khác khiến Chính phủ khó giải thể các doanh nghiệp này còn có thể là do họ vẫn còn đặt niềm tin vào khả năng biến chuyển tình thế của đội ngũ lãnh đạo hoặc đây là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực được ưu tiên phát triển theo chiến lược dài hạn

Bảo hộ còn giúp các quốc gia trên thế giới duy trì việc làm giảm bớt những sức ép về chính trị của các tổ chức đoàn thể Đây là một trong những

Trang 30

nguyên nhân chủ yếu để Chính phủ các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi duy trì các biện pháp bảo hộ đối với một số ngành nhất định Điều này cũng tương tự đối với vấn đề bảo hộ một số ngành ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Mỹ và các nước EU Chẳng hạn như để bảo hộ ngành công nghiệp dệt may vốn là ngành kinh tế thu hút khá nhiều lao động, EU đã đưa

ra những thoả thuận về hạn chế xuất khẩu tự nguyện (VER) với các nước khác, đặc biệt là các nước có nguồn nguyên liệu phong phú và lực lượng nhân công rẻ

Một lý do không thể không đề cập đến khi duy trì các biện pháp bảo hộ phi thuế quan là mong muốn cải thiện các ngành sản xuất nội địa Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới đều có những chiến lược phát triển kinh tế nhất định, trong đó luôn xác định những lịch vực ưu tiên đặc biệt Nhưng để các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đạt được những hiệu quả tối ưu

và nâng cao khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế, Nhà nước cần phải

có những ưu đãi đặc biệt Ví dụ điển hình là Hoa Kỳ, một nước được coi là

có nền kinh tế phát triển nhất thế giới trong thời gian qua vẫn duy trì khá nhiều phương thức bảo hộ đối phi thuế quan với lĩnh vực nông nghiệp, trong

đó có cả những phương thức đi ngược lại lợi ích thương mại quốc tế và bị nhiều quốc gia khác trên thế giới phản kháng

Một lý do riêng đối với các nước đang và chậm phát triển là việc các nước này phải thường xuyên duy trì cán cân thanh toán có lợi và cải thiện nguồn ngân sách Có thể dễ dàng nhận thấy hầu hết các quốc gia đang và chậm phát triển đều có một cán cân thanh toán bị thâm hụt và một nguồn ngân sách hạn hẹp vốn được tài trợ chủ yếu thông qua thuế và vay nợ nước ngoài Để tránh tình trạng đó, các quốc gia có thể áp dụng nhiều hình thức bảo hộ phi thuế quan khác nhau nhằm phát triển những ngành hàng thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu những mặt hàng

Trang 31

không cần thiết hay xa xỉ từ đó hạn chế chi tiêu ngoại tệ và thu về nhiều tiền hơn thông qua xuất khẩu

Đối với các quốc gia có tiềm lực cả về kinh tế và chính trị, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan còn có thể được duy trì như một công cụ chính trị

để đơn phương gây sức ép với các quốc gia khác Mặc dù đây là mục đích hết sức cá biệt trong xu thế phát triển theo hướng đa cực của thế giới song hiện tượng này đã và đang tiếp tục xảy ra Hoa Kỳ là quốc gia lạm dụng công cụ vào mục đích này nhiều nhất Trong luật pháp Hoa Kỳ có những điều khoản đặc biệt cho phép Quốc hội đưa ra những biện pháp thương mại đơn phương đối với bất cứ quốc gia nào được coi là có thể đe doạ đến vấn đề

an ninh của nước Hoa Kỳ

2 Đối với Việt Nam

Những lý do chủ yếu đối với vấn đề bảo hộ nền kinh tế Việt Nam xuất phát từ hai yếu tố chủ quan và khách quan nhưng trong đó yếu tố chủ quan là thực trạng nền kinh tế Việt Nam và yếu tố khách quan là bối cảnh của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay

Nhìn trên góc độ chủ quan: đánh giá chung thì nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế lạc hậu, đang chuyển hoá từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, các yếu tố của nền kinh tế thị trường chưa được tạo lập một cách đồng bộ và còn nhiều khiếm khuyết Điều này nghĩa là năng lực cạnh tranh của quốc gia còn kém Trong đó, hệ thống các quy phạm pháp luật, công cụ quan trọng để quản lý nhà nước của Việt Nam hiện nay cũng bị đánh giá là thiếu nhất quán và quá chồng chéo, chưa tạo ra được môi trường pháp lý bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh

tế Các chính sách tài chính tiền tệ, xuất nhập khẩu cũng trong tình trạng tương tự Năm 2003, Việt Nam được diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) xếp

Trang 32

thứ 60/102 nước xếp hạng về năng lực cạnh tranh quốc gia Như vậy, so với

vị trí 53/59 nước năm 2000, thứ bậc trên là một sự suy giảm

Bên cạnh đó không thể phủ nhận một thực trạng là các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém về năng lực quản lý, nguồn nhân lực, khả năng thích nghi và mang nặng tư tưởng dựa dẫm của một thời kỳ dài bao cấp Việc ngay lập tức thúc ép các doanh nghiệp này tự tạo lập một thế đứng vững chắc trên thị trường trong nước đã là một nhiệm vụ khó khăn chứ chưa đề cập đến thị trường khu vực và quốc tế, biểu hiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn rất kém Hơn nữa, ngay cả khi các doanh nghiệp Việt Nam đã có một tiềm lực nhất định cũng không thể cho rằng họ không cần đến sự bảo trợ của Nhà nước Những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao ngoài mong muốn nhận được sự hỗ trợ về vốn thì sự hỗ trợ trong vấn đề nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu mới cũng hết sức quan trọng

Sự yếu kém về quản lý vi mô cũng nhưng vĩ mô cũng là một đặc thù đòi hỏi sự bảo hộ tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam Về vấn đề quản lý vĩ

mô, sự yếu kém đó có thể được lý giải phần nào do quá trình dài nền kinh tế nước ta ở trong tình trạng bao cấp, ì ạch và chậm tiến Ngoài ra, sự sai lầm trong việc lựa chọn hướng đi do tư tưởng dập khuôn, giáo điều cũng gây ra những trở ngại không nhỏ cho tiến trình cải cách hành chính Kể từ sau giai đoạn đổi mới đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến không nhỏ và đạt được những bước phát triển lớn lao, hệ thống quản lý ở Trung ương đã được tinh giản hoá, phạm vi quản lý được phân chia hợp lý hơn Tuy vậy, theo đánh giá chung thì hệ thống quản lý vĩ mô của chúng ra còn tồn tại rất nhiều bất cập và không thể hoàn thiện trong một sớm một chiều Đối với vấn đề quản lý vi mô nguyên nhân khách quan của sự yếu kém là môi trường kinh doanh chật hẹp song nguyên nhân chủ quan và chính yếu chính là thói quen ỷ lại và tư tưởng trông chờ từ phía Nhà nước Việc mở

Trang 33

cửa nền kinh tế, hội nhập sâu rộng hơn trong khu vực và quốc tế được coi là

cơ hội để các doanh nghiệp đổi mới năng lực quản lý, phần còn lại chính là mong muốn và nỗ lực hoàn thiện của các doanh nghiệp này

Cũng như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam đang xây dựng cho mình một chiến lược phát triển kinh tế trong đó ưu tiên phát triển một số ngành Các ngành này là những ngành công nghiệp có tiềm năng song còn gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh cần được sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và cả những nghành nhất thiết phải ưu tiên phát triển do các lý

do khác như chính trị và xã hội Đây là lý do cơ bản nhất để Việt Nam duy trì các hình thức bảo hộ phi thuế quan nhưng với đặc thù mang nhiều màu sắc chính trị hơn là kinh tế Các hình thức bảo hộ phi thuế quan của Việt Nam trong thời gian qua chưa hẳn đã phát huy được tính chất tích cực đối với nền kinh tế

Nhìn trên góc độ khách quan: Đứng trước xu thế khách quan của tự do hoá thương mại và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần duy trì các phương thức bảo hộ phi thuế quan vì những nguyên nhân nhất định Thứ nhất, trong quá trình tự do hoá thương mại, nền kinh tế Việt Nam không thể tránh khỏi những tác động xấu như sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài,

sự lũng đoạn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…Nếu không

có chiến lược bảo hộ sản xuất hợp lý, nền kinh tế sẽ phát triển mất cân đối và phụ thuộc nặng nền vào các yếu tố bên ngoài Thứ hai, để hoà nhập vào một nền kinh tế vốn đã phát triển hơn chúng ta rất nhiều, Việt Nam cần cải thiện khả năng cạnh tranh trên phương diện quốc gia cũng như trên phương diện ngành/doanh nghiệp và sản phẩm Các biện pháp hỗ trợ mang tính cấp thiết

sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam tạo được những lợi thế nhất định trong quá trình bắt kịp nhịp độ phát triển chung và tạo điều kiện cho chúng ta tranh thủ hoàn thiện các yếu tố còn lại Cuối cùng, cũng không thể không đề

Trang 34

cập đến một lý do ít được đề cập đến, đó là để tạo lập một thế vững chắc trên trường quốc tế, bảo hộ phi thuế quan cũng là một công cụ để chúng ta có thể mang ra “mặc cả” để đổi lấy những ưu đãi chính trị nhất định

Xuất phát từ những yêu cầu chủ quan và khách quan, chúng ta cần áp dụng những biện pháp bảo hộ phi thuế quan một cách hữu hiệu, phù hợp với các quy định của Tổ chức thương mại Thế giới

Trang 35

CHƯƠNG II:

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA HOA KỲ

I MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NƯỚC HOA KỲ

2 Điều kiện địa lý

Hoa Kỳ hay thường được gọi là nước Mỹ có tên gọi đầy đủ là Hợp

chủng quốc Hoa Kỳ (The United States of America hay United States) gồm

50 bang và 5 khu hành chính trực thuộc gồm thủ đô Washington D.C, Samoa, Guam, Virgin Islands và Puerto Rico Hoa Kỳ nằm ở tây bán cầu, bắc giáp Canada với đường biển dài 8.893 km, nam giáp Mêhicô và vịnh Mêhicô, đông giáp Đại Tây Dương với đường bờ biển dài 22.680km, tây giáp Thái Bình Dương Bang Alaska nằm ở phía tây bắc Canada, cực tây của bang cách trung tâm Hoa Kỳ 5.426km, quần đảo Hawaii ở Thái Bình Dương

có cực nam cách trung tâm Hoa Kỳ 5.573km

Tổng diện tích của Hoa Kỳ là 9.629.091 km2 chiếm 6,2% diện tích toàn cầu, trong đó diện tích đất đai là 9.158.960 km2 và diện tích mặt nước là 470.131 km2 Diện tích Hoa Kỳ bằng nửa Nga, bằng khoảng 3/10 châu Phi; bằng khoảng nửa Nam Mỹ; rộng hơn Trung Quốc không đáng kể; và lớn hơn Tây Âu khoảng 2,5 lần

Dân số năm 2003 là 290.809.777 chiếm khoảng 5% dân số thế giới Hoa Kỳ là nước đông dân thứ 3 trên thế giới, sau Trung Quốc và ấn độ Đây

là một quốc gia có nền văn hoá đa dạng và phong phú, đại đa số là người da trắng chiếm gần 70% dân số, người da đen chiếm 12%, người Tây Ban Nha

và Bồ Đào Nha chiếm 12%; người gốc châu Á gần 4% và thổ dân gần 1% Quốc Kỳ của Hoa Kỳ có 50 ngôi sao nhỏ màu trắng nằm trên nền xanh

lơ ở góc bên trái cờ, được sắp xếp thành 9 hàng ngang, mỗi hàng có 6 ngôi

Trang 36

sao xen kẽ với những hàng 5 ngôi sao 50 ngôi sao này đại diện cho 50 bang,

13 vạch đỏ xen kẽ với trắng tượng trưng cho 13 thuộc địa Anh đầu tiên đã tuyên bố độc lập và trở thành tiền thân của Hoa Kỳ ngày nay

2 Hệ thống chính trị và pháp luật

Hoa Kỳ là một nước cộng hoà liên bang thực hiện chế độ chính trị tam quyền phân lập Hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền lập pháp thuộc về quốc hội, quyền hành pháp thuộc về tổng thống và quyền tư pháp thuộc về Toà án tối cao Mỗi bang có hệ thống hiến pháp và pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến pháp của Liên bang

Quốc hội liên bang

Quốc hội liên bang Hoa Kỳ gồm Thượng viện và Hạ viện Ngoài quyền lập pháp, Quốc hội còn giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp và tư pháp

Phân chia quyền lực giữa hai viện: Cả hai viện đều có quyền quyết định chiến tranh, kiểm soát các lực lượng vũ trang, đánh thuế, vay tiền, phát hành tiền, điều tiết thương mại và ban hành luật cần thiết cho hoạt động của chính quyền Trong đó, Thượng viện có đặc quyền cố vấn và thông qua các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài và các chức vụ do Tổng thống bổ nhiệm Ví dụ, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được chính phủ hai nước ký tháng 7 năm 2000 và đến tháng 11 năm 2001 mới được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua và đến 10/12/2001 mới có hiệu lực thi hành

Tất cả các dự luật liên quan đến tài chính (thuế và phân bổ ngân sách) đều do Hạ viện đề xuất; Thượng viện có thể bỏ phiếu thay đổi dự luật của Hạ viện và khi đó hai viện sẽ họp chung để giải quyết bất đồng Tất cả các dự luật liên bang đều phải được cả Hạ viện và Thượng viện liên bang thông qua trước khi chuyển cho Tổng thống ký ban hành thành luật

Trang 37

Dân biểu: (thượng và hạ nghị sĩ liên bang và bang) được bầu từ các khu vực bầu cử Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các dân biểu là bảo

vệ và đem lại càng nhiều lợi ích cho các cử tri của mình càng nhiều càng tốt Các dân biểu có thể kiến nghị và vận động các cơ quan lập pháp và hành pháp thông qua các luật pháp và quyết định có lợi cho cử tri của mình Ví dụ, nhiều thượng và hạ nghị sĩ của các bang ở Hoa Kỳ có nuôi cá catfish đã bảo trợ và tích cực vận động Quốc hội Liên bang thông qua dự luật cấm cá da trơn của Việt Nam mang tên catfish trên thị trường Hoa Kỳ

Chính quyền liên bang

Quyền hạn của chính quyền liên bang do Hiến pháp Liên bang quy định

và chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực có ảnh hưởng đến toàn liên bang như ngoại giao, quốc phòng và an ninh, quản lý xuất nhập khẩu, quản lý di dân, bảo hộ sở hữu trí tuệ và một số lĩnh vực khác

Hệ thống toà án liên bang

Hệ thống toà án liên bang gồm Toà án liên bang tối cao và các toà án liên bang khu vực Toà án tối cao liên quan có quyền vô hiệu hoá bất cứ luật

lệ liên bang hoặc bang nào mà toà xét thấy là trái với Hiến pháp

Các đảng phái chính trị: Hệ thống chính trị Hoa Kỳ chủ yếu do hai Đảng Dân chủ (biểu tượng là con lừa) và Đảng Cộng hoà (biểu tượng là con voi) kiểm soát

Hệ thống chính quyền bang

Hệ thống luật pháp

Ngoài hệ thống pháp luật liên bang, mỗi bang hoặc khu hành chính đều

có hệ thống pháp luật riêng Pháp luật bang và khu hành chính không được trái với Hiến pháp của liên bang Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật liên bang và luật bang hoặc luật địa phương, thì luật liên bang sẽ có hiệu

Trang 38

lực Có những giao dịch hoặc vấn đề chịu sự điều tiết của riêng luật liên bang, hoặc riêng luật bang, hoặc có thể cả luật bang và liên quan

Hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền quản lý ngoại thương và thu thuế xuất nhập khẩu thuộc về các cơ quan quản lý của nhà nước liên bang, do vậy các hoạt động xuất nhập khẩu chịu sự điều tiết trực tiếp và chủ yếu của hệ thống luật liên bang Tuy nhiên, có một số luật của một số bang cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu Ví dụ, nhập khẩu xe hơi vào Hoa Kỳ chịu sự điều tiết trực tiếp và chủ yếu của các luật liên quan Tuy nhiên, do luật bảo vệ môi trường của một số bang đề ra những yêu cầu bảo

vệ môi trường khắt khe hơn so với các luật liên bang về môi trường, cho nên

xe hơi nhập khẩu muốn tiêu thụ được ở các bang đó phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường của các bang đó

Hoa Kỳ và tất cả các bang (trừ bang Lousiana theo hệ thống luật Châu Âu) đều theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law) [9, tr

3 Khái quát về kinh tế và ngoại thương

Hiện nay và trong nhiều thập kỷ nữa, Hoa Kỳ vẫn là nước có nền kinh

tế lớn nhất và có sức cạnh tranh nhất trên thế giới Năm 2002, tổng thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ ước tính khoảng 10.450 tỷ USD, chiếm khoảng trên 21% tổng thu nhập quốc dân toàn cầu Hoa Kỳ rất mạnh và đóng vai trò chi phối kinh tế thế giới trong các lĩnh vực tài chính tiền tệ, thương mại điện tử, thông tin, tin học, bưu điện, du lịch, vận tải hàng không, vận tải biển, y tế, giáo dục, điện ảnh, tư vấn Năm 2002, Hoa Kỳ đầu tư ra nước ngoài gần 120

tỷ USD, xuất khẩu 1.018,6 tỷ USD (theo giá FAS, trong đó xuất khẩu hàng hoá là 713,8 tỷ USD và dịch vụ là 304,8 tỷ) và nhập khẩu từ thế giới 1.507,9

tỷ USD (theo giá FOB, trong đó nhập khẩu hàng hoá là 1.263,2 tỷ USD và dịch vụ là 244,8 tỷ) Các sản phẩm xuất khẩu chính của Hoa Kỳ bao gồm

Trang 39

máy móc, thiết bị, ôtô, linh kiện và vật liệu công nghiệp, hàng tiêu dùng, nông sản Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm dầu thô và các sản phẩm dầu tinh chế, máy móc, ôtô, hàng tiêu dùng, vật liệu công nghiệp, thực phẩm và

đồ uống

Bảng 2.1 Tóm tắt ngoại thương Hoa Kỳ

(Đơn vị: tỷ USD)

2000 2001 2002 2003 2004 2005 Tổng xuất khẩu 1.070,1 1.007,6 974,1 1.018,6 1.151 1.323,6

Nguån: Uû ban th-¬ng m¹i quèc tÕ Hoa Kú

II THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU

Hoa Kỳ là cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới và là một trong những thành viên sáng lập của GATT (WTO ngày nay) Mặc dù có tiềm năng to lớn trong mọi lĩnh vực sản xuất, nhưng theo quy luật về lợi thế cạnh tranh tương đối, trong những năm qua, Hoa Kỳ đang phải đối mặt với những thách thức

Trang 40

rất lớn nhằm bảo hộ cho những ngành sản xuất đã suy giảm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Chương này sẽ giới thiệu một cách tổng quan các biện pháp phi thuế quan Hoa Kỳ đã và đang sử dụng đối với hàng nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ

1 Các biện pháp hạn chế định lượng

1.1 Hạn ngạch nhập khẩu (Import quota)

Cũng giống như các quốc gia khác, chính sách quy định hạn ngạch nhập khẩu được Hoa Kỳ sử dụng nhằm giới hạn khối lượng hay số lượng các loại hàng hoá khác nhau được phép nhập khẩu vào Hoa Kỳ trong một khoảng thời gian xác định Các hạn ngạch được xác lập bởi luật, các Tuyên bố Tổng thống ban hành chiểu theo các luật liên quan và được công bố theo hệ thống Thuế quan hài hoà Hoa Kỳ Cơ quan quản lý hạn ngạch nhập khẩu hạn ngạch của Hoa Kỳ là Cục Hải quan và Bảo vệ biên giới Hoa Kỳ (gọi tắt là Cục Hải quan Hoa Kỳ)

Nhìn chung, hạn ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ có thể chia làm 2 loại: hạn ngạch tuyệt đối và hạn ngạch thuế quan Ngoài ra, Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) còn quy định một số mức ưu tiên thương mại (TPL) khác nhau, các mức ưu tiên này cũng có tính chất tương tự và được quản lý giống như hạn ngạch thuế quan

Bộ Thương mại Hoa Kỳ, phối hợp với Văn phòng Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR), là cơ quan chịu trách nhiệm xác định và có quyền ấn định các mức hạn ngạch Cục Hải quan Hoa Kỳ là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý phần lớn các loại hạn ngạch nhập khẩu Cục trưởng Cục hải quan nắm quyền điều phối nhập khẩu các hàng hoá chịu hạn ngạch, song không có quyền thay đổi hoặc điều chỉnh hạn ngạch của bất cứ loại hàng hoá nào

Hàng hoá chịu hạn ngạch phải thực hiện các thủ tục hải quan thông thường giống như những hàng hoá khác Cho đến thời điểm này, không cần

Ngày đăng: 16/04/2014, 19:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thương mại (2000): Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu ở nước ta thời kỳ đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu ở nước ta thời kỳ đến năm 2010
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2000
4. Bộ Thương mại, Trung tâm thông tin thương mại (2001): Hướng dẫn tiếp cận thị trường Hoa Kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tiếp cận thị trường Hoa Kỳ
Tác giả: Bộ Thương mại, Trung tâm thông tin thương mại
Năm: 2001
5. Nguyễn Bình (2005), “Rào cản thương mại Mỹ đối với hàng nông sản nhập khẩu”, Tạp chí Thương mại, (27), tr. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rào cản thương mại Mỹ đối với hàng nông sản nhập khẩu”, "Tạp chí Thương mại
Tác giả: Nguyễn Bình
Năm: 2005
6. TS. Hồ Sỹ Hƣng, Nguyễn Việt Hƣng (2003): Cẩm nang xâm nhập thị trường Mỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang xâm nhập thị trường Mỹ
Tác giả: TS. Hồ Sỹ Hƣng, Nguyễn Việt Hƣng
Năm: 2003
7. Đ.Hƣng (2005), “Thêm một rào cản mới”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, (36), tr .38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thêm một rào cản mới”, "Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Đ.Hƣng
Năm: 2005
8. Đ.Hƣng (2005), “Chạy theo rào cản đến bao giờ”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, (34), tr.36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chạy theo rào cản đến bao giờ
Tác giả: Đ.Hƣng
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Năm: 2005
10. PGS.TS Nguyễn Hữu Khải (2005): Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PGS.TS Nguyễn Hữu Khải (2005): "Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Khải
Năm: 2005
11. GS.TS Bùi Xuân Lưu, PGS.TS Nguyễn Hữu Khải (2006): Giáo trình kinh tế ngoại thương, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế ngoại thương
Tác giả: GS.TS Bùi Xuân Lưu, PGS.TS Nguyễn Hữu Khải
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
Năm: 2006
12. Đoàn Tất Thắng (2005), “Rào cản mới gây khó khăn cho Việt Nam xuất khẩu tôm vào thị trường Mỹ”, Tạp chí Thương mại, (16), tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rào cản mới gây khó khăn cho Việt Nam xuất khẩu tôm vào thị trường Mỹ”, "Tạp chí Thương mại
Tác giả: Đoàn Tất Thắng
Năm: 2005
13. Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ (2005): Xuất khẩu sang Hoa Kỳ, những điều cần biết, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu sang Hoa Kỳ, những điều cần biết
Tác giả: Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ
Năm: 2005
14. Trung tâm nghiên cứu phát triển Invest Consult (2002): Tìm hiểu Hoa Kỳ cho mục đích kinh doanh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Hoa Kỳ cho mục đích kinh doanh
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu phát triển Invest Consult
Năm: 2002
15. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật (2002): Bước đầu tìm hiểu Pháp luật thương mại Mỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu Pháp luật thương mại Mỹ
Tác giả: Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật
Năm: 2002
16. Tư vấn (2005), “Những rào cản thương mại của Hoa Kỳ”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, (29), tr.46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những rào cản thương mại của Hoa Kỳ”, "Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Tư vấn
Năm: 2005
17. Tư vấn (2005), “Những rào cản thương mại của Hoa Kỳ”, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, (30), tr.46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những rào cản thương mại của Hoa Kỳ”, "Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Tư vấn
Năm: 2005
19. Adam McCarty(1999), Vietnam's Integration with ASEAN: Survey on non-tariff-measures affecting trade, a report prepared for the Office of the Government under project VIE 95/015, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam's Integration with ASEAN: Survey on non-tariff-measures affecting trade
Tác giả: Adam McCarty
Năm: 1999
20. Adam McCarty(2001), Vietnam in ASEAN: Regional Integration Process and Challenges, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam in ASEAN: Regional Integration Process and Challenges
Tác giả: Adam McCarty
Nhà XB: Hanoi
Năm: 2001
23. Damien J. Neven(2000), Evaluating the effects of non-tariff barriers, University of Lausanne Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluating the effects of non-tariff barriers
Tác giả: Damien J. Neven
Năm: 2000
24. WTO Secretariat(1999), US Trade Policy Review Sách, tạp chí
Tiêu đề: US Trade Policy Review
Tác giả: WTO Secretariat
Năm: 1999
18. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), NXB Chính trị Quốc gia, trang 158 – 168TIẾNG ANH Khác
25. WTO Secretariat(1999), Thailand Trade Policy Review Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Nội dung  Trang - Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam
ng Nội dung Trang (Trang 9)
Bảng 2.1. Tóm tắt ngoại thương Hoa Kỳ - Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 2.1. Tóm tắt ngoại thương Hoa Kỳ (Trang 39)
Bảng 3.1. Dự kiến cơ cấu thị trường năm 2006 và 2010 - Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3.1. Dự kiến cơ cấu thị trường năm 2006 và 2010 (Trang 78)
Bảng 3.2. Trị giá xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2005 - Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3.2. Trị giá xuất nhập khẩu giai đoạn 2001 – 2005 (Trang 81)
Bảng 3.4. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vào Hoa Kỳ - Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3.4. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vào Hoa Kỳ (Trang 83)
Bảng 3.5.Kim ngạch buôn bán hai chiều và cán cân th-ơng mại - Rào cản phi thuế quan của Mỹ và kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng 3.5. Kim ngạch buôn bán hai chiều và cán cân th-ơng mại (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w