Quy định về thuế của WTO và lộ trình thực hiện các cam kết về thuế của Việt Nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-
LƯU XUÂN MẬU
QUY ĐỊNH VỀ THUẾ CỦA WTO VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT VỀ THUẾ CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ THUẾ QUAN CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 8
1.1 Tổng quan về Tổ chức Thương mại Thế giới 8
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 8
1.1.2 Cơ cấu tổ chức của WTO 11
1.1.3 Một số Hiệp định cơ bản của WTO 12
1.1.4 Mục tiêu hoạt động và chức năng cơ bản của WTO 14
1.1.4.1 Mục tiêu hoạt động của WTO 14
1.1.4.2 Những chức năng cơ bản của WTO 14
1.1.5 Nguyên tắc hoạt động của WTO 15
1.1.5.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử 15
1.1.5.2 Nguyên tắc mở cửa thị trường 17
1.1.5.3 Nguyên tắc dễ dự đoán 17
1.1.5.4 Nguyên tắc cạnh tranh công bằng 18
1.1.5.5 Dành cho các thành viên đang phát triển và các nước đang chuyển đổi một số ưu đãi 18
1.2 Quy định về thuế quan của WTO 18
1.2.1 Quan điểm về thuế quan của WTO 18
1.2.1.1 Đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia 18
1.2.1.2 Dùng thuế làm biện pháp bảo hộ 19
1.2.1.3 Giảm bớt hàng rào thương mại 20
1.2.1.4 Quan điểm cạnh tranh công bằng 22
1.2.1.5 Những quy định về những đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang và chậm phát triển 25
1.2.2 Một số phương thức kỹ thuật áp dụng cho các biện pháp thuế quan 26
1.2.2.1 Thuế hóa 26
1.2.2.2 Ràng buộc thuế quan 26
Trang 31.2.2.3 Cắt giảm thuế quan hơn nữa 27
1.2.3 Các phương pháp cắt giảm thuế quan cơ bản 27
1.2.3.1 Cắt giảm dựa trên cơ sở bản chào và bản yêu cầu 27
1.2.3.2 Phương pháp cắt giảm bình quân 28
1.2.3.3 Đàm phán cắt giảm thuế quan theo công thức 29
1.2.3.4 Hài hoà hoá thuế quan 30
1.2.3.5 Cắt giảm thuế quan theo ngành 30
1.2.3.6 Phương pháp kết hợp 31
CHƯƠNG 2: CAM KẾT VỀ THUẾ CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN 32
2.1 Cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO 32
2.1.1 Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam 32
2.1.2 Cam kết chung của Việt Nam khi gia nhập WTO 33
2.1.2.1 Cam kết đa phương 33
2.1.2.2 Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ 35
2.1.3 Cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO 40
2.1.3.1 Mức cam kết chung 40
2.1.3.2 Những cam kết thuế đối với thương mại hàng hoá 42
2.1.4 Đánh giá các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO 46
2.2 Tác động của việc thực hiện các cam kết về thuế quan đối với phát triển kinh tế của Việt Nam 47
2.2.1 Tác động chung đối với nền kinh tế 47
2.2.1.1 Tác động đối với Nhà nước 48
2.2.1.2 Tác động đối với khu vực doanh nghiệp 52
2.2.1.3 Tác động đối với người tiêu dùng 54
2.2.2 Những tác động chủ yếu tới các ngành kinh tế 55
2.2.2.1 Tác động đối với lĩnh vực nông nghiệp 55
2.2.2.2 Đối với lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ 56
2.2.2.3 Đối với lĩnh vực đầu tư 61
2.3 Tình hình thực hiện cam kết thuế quan của Việt Nam sau 2 tháng gia nhập 62
Trang 4CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN CÁC LỘ TRÌNH CAM KẾT VỀ
THUẾ CỦA VIỆT NAM 69
3.1 Kinh nghiệm thực tế cắt giảm thuế quan của một số nước trên thế giới 69
3.1.1 Kinh nghiệm của Ấn Độ 69
3.1.1.1 Đổi mới quan điểm về tự do hóa thương mại 69
3.1.1.2 Chủ động từng bước tự do hóa thương mại 70
3.1.1.3 Vận dụng các biện pháp bảo hộ phù hợp với qui tắc của WTO 72
3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 73
3.1.2.1 Quan điểm phát triển thương mại trong xu thế hội nhập 73
3.1.2.2 Thực hiện tự do hóa thương mại đơn phương và chủ động 73
3.1.2.3 Trung Quốc đã thực hiện các cam kết với WTO 75
3.1.2.4 Thúc đẩy cải cách 77
3.1.2.5 Hiện đại hoá cơ cấu ngành nghề 77
3.1.2.6 Bảo hộ gắn với mục tiêu xuất khẩu 78
3.1.2.7 Tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ (NDT) và USD 79
3.1.2.8 Tiếp tục khai mở thị trường bên ngoài 80
3.1.2.9 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 81
3.2 Các giải pháp nhằm thực hiện các lộ trình cam kết thuế của Việt Nam 81
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với nhà nước 81
3.2.1.1 Thúc đẩy tiến trình hoàn thiện hệ thống, cơ chế pháp luật 81
3.2.1.2 Thực hiện cải cách thủ tục hành chính 83
3.2.1.3 Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí 84
3.2.1.4 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước 85
3.2.1.5 Đặt trọng tâm đào tạo đội ngũ lao động cho phù hợp với tình hình và nhu cầu của WTO 86
3.2.1.6 Tập trung sức phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng 87
3.2.1.7 Nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngành nông nghiệp 88
3.2.1.8 Phát triển các loại hình dịch vụ 91
3.2.1.9 Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá công nghiệp 91
3.2.1.10 Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ quyền quốc gia và định hướng của sự phát triển 95
Trang 53.2.2 Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp Việt Nam 95
3.2.2.1 Triển khai thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp 95
3.2.2.2 Tăng cường sự hợp tác, gắn kết kinh tế giữa các doanh nghiệp 97
3.2.2.3 Củng cố cơ chế hoạt động của các hiệp hội ngành hàng 98
3.2.2.4 Các doanh nghiệp cần nâng cao khả năng cạnh tranh 99
3.2.2.5 Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực 102
3.2.2.6 Đổi mới cơ cấu tổ chức quản lý 103
3.2.2.7 Xây dựng thương hiệu vững mạnh 103
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kể từ ngày 11/01/2007 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO Về tổng thể, quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế đang tác động đến chiến lược phát triển nền kinh tế Việt Nam năm 2010-2015 và
2020, mà cụ thể là tác động đến chiến lược phát triển sản xuất của các ngành hàng nông nghiệp và công nghiệp của Việt Nam Việc chủ động thực hiện tốt và đẩy nhanh quá trình cải cách nền kinh tế theo hướng tự do thương mại hàng hóa theo cơ chế kinh tế thị trường sẽ giúp cho Việt Nam dễ dàng hơn và hiệu quả hơn trong quá trình hội nhập Bên cạnh đó, các cam kết thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế đang là động cơ thúc đẩy quá trình cải cách và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Cắt giảm thuế quan là một nội dung trọng tâm trong quá trình hội nhập kinh tế và cũng là cam kết quan trọng nhất của Việt Nam khi gia nhập WTO Cắt giảm thuế quan thực chất là việc chấp nhận sự cạnh tranh bình đẳng của hàng hóa nhập khẩu ở thị trường trong nước, có tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất, đầu tư và lưu thông hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước, đồng thời tạo ra sự hấp dẫn đối với các hoạt động dịch
vụ và đầu tư của nước ngoài Thực tế, không có một cách thức cắt giảm thuế quan chung cho tất cả các nước vì còn có sự khác nhau rất nhiều về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước
Tuy nhiên việc thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan với WTO sẽ gây ra những tác động rất lớn đối với sự phát triển của đất nước ta, cả ở những tác động tích cực và các tác động tiêu cực Vì vậy, cần phải có những phân tích, đánh giá một cách toàn diện, cụ thể các tác động của quá trình cắt giảm thuế quan trong quá trình hội nhập kinh tế đối với tổng thể nền kinh tế, các khu vực doanh nghiệp, người tiêu dùng với các ngành kinh tế của Việt Nam
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Quy định về thuế của WTO và
lộ trình thực hiện các cam kết về thuế của Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Nghiên cứu các quy định, quan điểm về thuế quan của Tổ chức thương mại Thế giới – WTO nói chung và các cam kết thuế quan cụ thể, lộ trình thực hiện của Việt Nam khi đã là thành viên chính thức của WTO
Phân tích và đánh giá các tác động của các cam kết chính thức của Việt Nam khi gia nhập WTO nói chung và tác động của các cam kết thuế quan nói riêng đối với nền kinh tế Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế các tác động tiêu cực trong quá trình thực hiện các cam kết thuế quan của Việt Nam và thực hiện đúng lộ trình cam kết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các quy định về thuế quan của WTO và các cam kết thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đồng thời căn cứ vào đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta
- Phương pháp thống kê và thu thập tin tức, Phương pháp so sánh và tổng hợp
số liệu, Phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế
5 Đóng góp khoa học của luận văn
Tổng hợp các quy định về thuế quan của WTO được quy định trong các Hiệp định quan trọng của WTO như Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994, Hiệp định Nông nghiệp, Hiệp định về dệt may, Hiệp định kỹ thuật thông tin… Luận văn cũng hệ thống một cách khá chi tiết và khoa học các cam kết chính thức của Việt Nam khi gia nhập WTO, đặc biệt là các cam kết về thuế quan của Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng năng lực cạnh tranh quốc gia của nhà nước Việt Nam nói chung và của doanh nghiệp Việt Nam nói riêng trong quá trình thực hiện
lộ trình cam kết thuế quan với WTO
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những quy định về thuế quan của Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8Chương 2: Cam kết về thuế của Việt Nam khi gia nhập WTO và lộ trình thực hiện
Chương 3: Giải pháp nhằm thực hiện các lộ trình cam kết về thuế của Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ THUẾ QUAN CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG
MẠI THẾ GIỚI 1.1 Tổng quan về Tổ chức Thương mại Thế giới
Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) là một tổ chức quốc tế, trụ sở ở Geneva, Thuỵ Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên theo các quy tắc thương mại đã cam kết Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự do thương mại
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập tại Vòng đàm phán Urugoay trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade – GATT) họp tại Marrakesh, Maroc) ngày 15-4-1994 và bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 01-01-1995 Về cơ bản, WTO là sự kế thừa và phát triển của GATT chứ không thay thế GATT, góp phần tiếp tục thể chế hoá và thiết lập trật
tự mới trong hệ thống thương mại đa phương của thế giới Nhưng WTO lại khác GATT
về nhiều phương diện Nếu GATT là một định chế khá linh động, chủ yếu là mặc cả và giao dịch, tạo ra nhiều cơ hội để các nước “không tuân thủ” các quy chế cụ thể, thì WTO lại áp dụng các quy chế chung cho mọi thành viên, bị chi phối bởi các thủ tục hoà giải tranh chấp Hơn nữa, sự ra đời của WTO còn tạo ra cơ chế pháp lý điều chỉnh thương mại thế giới không chỉ trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, mà còn cả trong các lĩnh vực mới là dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, đồng thời đưa vào khuôn khổ thương mại đa phương hai lĩnh vực dệt may và nông nghiệp
Hiện nay, WTO là tổ chức quốc tế duy nhất quản lý luật lệ giữa các quốc gia trong thương mại quốc tế và là một tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu Đó là những hiệp định đã và đang tiếp tục được đàm phán và ký kết giữa các quốc gia hoặc lãnh thổ quan thuế thành viên Tính đến nay WTO đã có 150 thành viên, bao gồm 76 thành viên sáng lập và 74 thành viên tham gia Khối lượng thương mại giao dịch giữa các thành viên WTO hiện chiếm gần 98% giao dịch thương mại quốc tế
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tư tưởng về tự do thương mại do WTO theo đuổi có xuất xứ từ rất lâu Năm
1944, tại Hội nghị Bretton Woods, bang New Hampshire, Mỹ, cùng với sự ra đời của 2
tổ chức tài chính quốc tế là Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (nay gọi là Ngân hàng Thế giới-WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế - IMF, một tổ chức chung về lĩnh vực thương
Trang 10mại cũng được đề xuất thành lập với tên gọi Tổ chức thương mại Quốc tế (International Trade Organization – ITO)
Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và việc làm tại Habana, Cuba tháng 3 năm 1948 Tuy nhiên, do không được tất cả quốc hội của các nước phê chuẩn nên ITO, với tư cách là một tổ chức, đã không thể hình thành Mặc dầu vậy, tinh thần cơ bản của Hiến chương ITO về điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại thông qua sự hình thành định chế thương mại quốc tế Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Từ khi ra đời (1-1-1948 với 23 nước tham gia thoả thuận ban đầu), GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại
đa phương trong suốt gần 50 năm Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thoả ước thương mại mới Tại vòng đàm phán thứ 8 của GATT khai mạc ở Punta Del Este, Uruguay – Vòng đàm phán Uruguay, bắt đầu năm 1986 và kết thúc năm 1994, các bên tham gia GATT đã nhất trí thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý và mở rộng
Tuy là một hiệp định có vai trò bao trùm trong đời sống thương mại quốc tế, trong
đó đề ra những nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế và những nguyên tắc đó vẫn tồn tại cho đến ngày nay, nhưng GATT lại chưa bao giờ là một tổ chức Sự điều hành GATT khiến người Việt Nam có cảm giác đây như là một tổ chức GATT điều hành các vòng đàm phán kéo dài nhiều năm với sự tham gia của hàng chục quốc gia từ khắp các châu lục Do tầm vóc lớn lao của nó cũng như giá trị những khối lượng thương mại mà
nó điều tiết, GATT có riêng một Ban thư ký để theo dõi, giám sát việc thực hiện Hiệp định Và để diễn tả hình thức tồn tại này của GATT, có người gọi GATT là một “định chế”
Về điểm này, WTO không giống như GATT vì WTO thực sự là một tổ chức, ra đời thay thế GATT, nhằm thể chế hoá GATT, biến GATT thành một tổ chức thực sự và
có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể và đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 Vì thế mà các nước tham gia GATT chỉ được gọi là các bên ký kết, còn các nước, các tổ chức và vùng lãnh thổ tham gia WTO thì được gọi là thành viên
Trong lịch sử tồn tại 47 năm của mình, GATT đã trải qua 8 vòng đàm phàn với các nội dung cụ thể như trong bảng 1.1:
Trang 11Bảng 1.1 Các vòng đàm phán của GATT Vòng
đàm phàn
Thời gian
Số nước
Chủ đề đàm phán
Trị giá thương mại được tính
Bình quân cắt giảm thuế quan
Bình quân thuế quan sau
đó
Tokyo
Thuế quan và các biện pháp phi thuế quan, các hiệp định khung thuế quan
4,9 tỷ
Nguồn: John H.Jackson, (Phạm Viễn Phương, Huỳnh Văn Thanh dịch), Hệ thống thương mại thế giới-Luật và chính sách về các quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thanh niên, 2001.tr.114
Trang 121.1.2 Cơ cấu tổ chức của WTO
Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng, uỷ ban của WTO, ngoại trừ cơ quan phúc thẩm, các ban hội thẩm giải quyết tranh chấp và các uỷ ban đặc thù
Cấp cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng (Ministerial Conference-MC) MC
là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO, họp ít nhất hai năm một lần MC có quyền quyết định mọi vấn đề phát sinh từ các hiệp định
Cấp thứ hai là Đại hội đồng (General Council-GC) Giữa hai kỳ Hội nghị Bộ trưởng, các công việc hàng ngày của WTO được đảm nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng giải quyết tranh chấp và Hội đồng rà soát chính sách thương mại, gồm các đại sứ hay trưởng phái đoàn của tất cả các thành viên tại Geneva Đại Hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva, được nhóm họp thường xuyên và hành động nhân danh Hội nghị Bộ trưởng và chịu trách nhiệm trước Hội nghị Bộ trưởng
Hội đồng Giải quyết tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phê chuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm đệ trình Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương)
Hội đồng rà soát Chính sách Thương mại được nhóm họp để thực hiện việc rà soát chính sách của các thành viên theo cơ chế rà soát chính sách thương mại Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần Đối với những thành viên khác, việc rà soát có thể được tiến hành cách quãng hơn
Cấp thứ ba là các Hội đồng Thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hội đồng
về nhiều lĩnh vực khác nhau, gồm:
- Hội đồng Thương mại hàng hóa (Council for Trade in Goods),
- Hội đồng Thương mại dịch vụ (Council for Trade in Services),
- Hội đồng về những vấn đề Thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ (Council for Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights)
Mỗi hội đồng đảm trách một lĩnh vực riêng Cũng tương tự như Đại Hội đồng, các hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên WTO Bên cạnh ba hội đồng này còn có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác chịu trách nhiệm báo cáo lên Đại Hội đồng các vấn đề riêng rẽ như thương mại và phát triển, môi trường, các thỏa thuận thương mại
Trang 13khu vực và các vấn đề quản lý khác Đáng chú ý là trong số này có Nhóm công tác về việc gia nhập, chịu trách nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO
Cấp thứ tư là các tiểu ban trực thuộc Đại Hội đồng và các Hội đồng Các tiểu ban này chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi Hiệp định WTO về từng lĩnh vực thương mại tương ứng Tham gia các Hội đồng là đại diện của các thành viên
- Hội đồng Thương mại hàng hóa có 11 tiểu ban điều hành các công việc chuyên biệt (nông nghiệp, tiếp cận thị trường, các biện pháp chống bán phá giá và trợ cấp…)
- Hội đồng Thương mại dịch vụ gồm có các tiểu ban về dịch vụ tài chính, các tiểu ban về các cam kết cụ thể
- Hội đồng giải quyết tranh chấp của Đại Hội đồng có hai tiểu ban là Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm
Ngoài ra, do yêu cầu đàm phán của Vòng đàm phán Doha, WTO đã thành lập Ủy ban Đàm phán Thương mại trực thuộc Đại Hội đồng để thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán Ủy ban này bao gồm nhiều nhóm làm việc liên quan đến các lĩnh vực chuyên môn khác nhau
Cấp thứ năm là Ban Thư ký của WTO gồm 635 nhân viên, đứng đầu là một Tổng Giám đốc, nhiệm kỳ 4 năm Giúp việc cho Tổng Giám đốc có 4 Phó Tổng Giám đốc Ban Thư ký WTO có văn phòng tại Geneva, Thụy Sĩ Tổng Giám đốc đương nhiệm là ông Paxcan Lamy, quốc tịch Pháp
Việc ra quyết định đều do các thành viên đảm trách, do đó Ban thư ký không có quyền ra quyết định Nhiệm vụ chính của Ban Thư ký là cung ứng kỹ thuật cho các Hội đồng, Ủy ban và Hội nghị Bộ trưởng, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển, phân tích tình hình thương mại thế giới và giải thích các công việc của WTO cho công chúng
và báo chí Ban Thư ký cũng trợ giúp về pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp và tư vấn cho các chính phủ muốn gia nhập WTO
1.1.3 Một số Hiệp định cơ bản của WTO
Về phương diện pháp lý, Định ước cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay ký ngày 15-04-1994 tại Marrakesh, Maroc là một văn kiện pháp lý có phạm vi điều chỉnh rộng nhất và có tính chất kỹ thuật pháp lý phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao và luật pháp quốc tế Về dung lượng, các hiệp định được ký kết tại Marrakesh và các phụ lục
Trang 14kèm theo bao gồm 50.000 trang, trong đó riêng 500 trang quy định về các nguyên tắc và nghĩa vụ pháp lý chung của các thành viên như sau:
- Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới,
- 20 Hiệp định đa phương về thương mại hàng hóa,
- 4 hiệp định đa phương về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, giám sát chính sách thương mại,
- 4 hiệp định đa phương về hàng không dân dụng, mua sắm của chính phủ, sản phẩm sữa và sản phẩm thịt bò,
- 23 tuyên bố (declaration) và quyết định (decision) liên quan đến một số vấn đề chưa đạt được thỏa thuận trong Vòng đàm phán Uruguay
Trong số những văn kiện này, phải kể đến một số hiệp định quan trọng nhất của WTO gồm:
- Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (General Agreement on Tariffs and Trade 1994 – GATT 1994)
- Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (General Agreement on Trade in Services – GATS)
- Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến Thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Agreement on Trade – Related Aspects of Intellectual Property Rights – TRIPS Agreement)
- Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (Agreement on Trade – Related Investment Measures – TRIMs Agreement)
- Hiệp định về Nông nghiệp (Agreement on Agriculture – AoA)
- Hiệp định về Hàng dệt may (Agreement on Textiles and Clothing – ATC)
- Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và kiểm dịch (Agreement on Sanitary and Phytosanitary Measures – SPS)
- Hiệp định về các Rào cản kỹ thuật đối với Thương mại (Agreement on Technical Bariers to Trade – TBT)
- Hiệp định về chống bán phá giá (Anti-dumping Measures)
- Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp (Agreement on Subsidies and Countervailing Measures – SCM)
- Hiệp định về tự vệ
Trang 15- Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu
- Hiệp định về định giá hải quan
- Hiệp định về Kiểm định hàng trước khi vận chuyển
- Quy định về xuất xứ hàng hóa (Rules on Origin – ROO)
- Thỏa thuận về cơ chế giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding – DSU)
Như vậy, ngoài GATT, WTO còn bao gồm rất nhiều hiệp định, văn bản khác, cũng không phải chỉ có lĩnh vực thương mại hàng hóa, mà còn bao gồm cả các lĩnh vực thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ…
1.1.4 Mục tiêu hoạt động và chức năng cơ bản của WTO
1.1.4.1 Mục tiêu hoạt động của WTO
Với tư cách là một tổ chức thương mại lớn nhất thế giới và kế tục GATT, mục tiêu tổng quát mà WTO theo đuổi được ghi trong Lời nói đầu của Hiệp định GATT 1947
là nâng cao mức sống của nhân dân các bên tham gia ký kết, đảm bảo việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân của các thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng
1.1.4.2 Những chức năng cơ bản của WTO
Để đạt được các mục tiêu trên, WTO có những chức năng cơ bản sau đây:
- Quản lý các hiệp định thương mại thuộc hệ thống thương mại WTO: Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương,
Trang 16giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của chính họ
- Diễn đàn đàm phán thương mại: Thiết lập khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO
- Giải quyết các tranh chấp thương mại: Hình thành cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các Hiệp định thương mại đa phương
- Giám sát chính sách thương mại của các thành viên: Xây dựng cơ chế giám sát chính sách thương mại của các thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự
do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO Hiệp định thành lập WTO
đã quy định một cơ chế giám sát chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất
cả các thành viên
- Hợp tác với các tổ chức quốc tế, hỗ trợ các nước đang phát triển về chính sách thương mại, thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và huấn luyện: Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
và Ngân hàng thế giới (WB) trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu Hỗ trợ các nước đang phát triển về chính sách thương mại, thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và
huấn luyện
1.1.5 Nguyên tắc hoạt động của WTO
Các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) rất nhiều và phức tạp bao gồm cả nông nghiệp, dệt may, ngân hàng, viễn thông, nông nghiệp và cả thực phẩm Tuy nhiên, xuyên suốt các hiệp định này là những nguyên tắc, và chúng được coi
là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương
1.1.5.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử
Đây là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO, bao gồm hai nội dung: đãi ngộ tối huệ quốc (Most favoured nation-MFN) và đãi ngộ quốc gia (national Treament-NT)
Đãi ngộ tối huệ quốc là nguyên tắc quy định mỗi thành viên sẽ dành cho sản
phẩm của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên
Trang 17đó dành cho sản phẩm của một nước thứ 3 Ví dụ nếu Hoa Kỳ quy định thuế quan 10% đối với ô tô nhập khẩu từ Nhật Bản thì Hoa Kỳ cũng phải áp dụng mức thuế quan trên đối với ô tô cùng loại nhập từ Hàn Quốc
Nguyên tắc MFN trong WTO không có tính chất áp dụng tuyệt đối Hiệp định GATT 1947 quy định mỗi bên tham gia có quyền tuyên bố không áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp định đối với một thành viên khác Tuy nhiên, nếu nguyên tắc MFN trong GATT 1947 chỉ áp dụng đối với hàng hóa thì trong WTO, nguyên tắc này được mở rộng sang thương mại dịch vụ (Điều 2 Hiệp định GATT) và sở hữu trí tuệ (Điều 4 Hiệp định TRIPS)
Bên cạnh đó, WTO cũng quy định một số miễn trừ quan trọng như: miễn trừ về đối xử đặc biệt và ưu đãi hơn với các nước đang phát triển
- Một là, “Hệ thống ưu đãi phổ cập” – GSP chỉ áp dụng cho hàng hoá xuất xứ từ những nước đang phát triển và chậm phát triển Theo đó: Các nước phát triển có thể thiết lập mức thuế ưu đãi hoặc miễn thuế quan cho một số nhóm hạng có xuất
xứ từ các nước đang và chậm phát triển và không có nghĩa vụ phải áp dụng những mức thuế quan ưu đãi đó cho các nước phát triển theo nguyên tắc MFN
- Hai là, “Hệ thống ưu đãi thương mại toàn cầu giữa các nước đang phát triển” – GSPT: cho phép các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển có quyền đàm phán, ký kết những hiệp định thương mại dành cho nhau những ưu đãi hơn về thuế quan và không có nghĩa vụ phải áp dụng cho hàng hoá đến từ các nước phát triển
Đãi ngộ quốc gia là nguyên tắc quy định mỗi thành viên sẽ không dành cho
sản phẩm của công dân của mình sự đối xử ưu đãi hơn so với sản phẩm của người nước ngoài
Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với các cá nhân và pháp nhân Đối với hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp thì được đối xử bình đẳng như hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, đối với các quy định về mua, bán, phân phối vận chuyển… Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với
Trang 18những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi thành viên đưa vào danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi thành viên có quyền đàm phán để đưa ra những ngoại lệ
Theo quy định chung, các thành viên không được áp dụng những hạn chế số lượng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ 5 ngoại lệ:
- Mất cân đối cán cân thanh toán,
- Nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ trong nước,
- Bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng nào đó trên thị trường quốc gia
do xuất khẩu quá nhiều,
- Vì lý do sức khoẻ và vệ sinh môi trường,
- Vì lý do an ninh quốc gia
Khi gia nhập WTO, mỗi nước đều phải thực hiện cam kết mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư của các nước thành viên đầu tư sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ vào nước mình theo nguyên tắc: thực hiện theo cam kết khi gia nhập, thực hiện các quy định của WTO về mở cửa thị trường, thực hiện đãi ngộ quốc gia Như vậy, khi tất cả các thành viên WTO mở cửa thị trường, cùng với việc áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
và nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc, sẽ tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở
1.1.5.3 Nguyên tắc dễ dự đoán
Đôi khi cam kết không tăng một cách tuỳ tiện các hàng rào thương mại (thuế quan
và phi thuế quan khác) đem lại sự an tâm rất lớn cho các nhà đầu tư Với sự ổn định, dễ
dự đoán, thì việc đầu tư sẽ được khuyến khích, việc làm sẽ được tạo ra nhiều hơn và khách hàng sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường Hệ thống thương mại đa phương là một nỗ lực lớn của các chính phủ để tạo ra một môi trường thương mại ổn định và có thể dự đoán
Trang 19Hệ thống thương mại này cũng cố gắng cải thiện khả năng dễ dự đoán và sự ổn định theo những cách khác Một trong những cách làm phổ biến là ngăn chặn việc sử dụng hạn ngạch và các biện pháp khác của các nước hạn chế số lượng hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, WTO cũng giúp các nguyên tắc thương mại của các nước trở nên rõ ràng
và minh bạch hơn Rất nhiều hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công khai chính sách
1.1.5.4 Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Nguyên tắc cạnh tranh công bằng là một hệ thống những quy định nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh mở, bình đẳng và không có sai phạm, hạn chế các tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp, hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định Chính vì vậy, cạnh tranh công bằng thể hiện nguyên tắc “tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau”
1.1.5.5 Dành cho các thành viên đang phát triển và các nước đang chuyển đổi
một số ưu đãi
Các ưu đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quyền và không phải thực hiện một số quyền và không phải thực hiện một
số nghĩa vụ hay thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách
Qua các vòng đàm phán, lợi ích của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển đã tăng lên khá nhiều Sau vòng đàm phán Uruguay, các nước giàu trong WTO đã cam kết sẽ rộng mở hơn nữa đối với hàng hoá xuất khẩu từ những nước kém phát triển
và trợ giúp kỹ thuật cho các nước này Gần đây, những nước phát triển đã bắt đầu cho phép nhập khẩu tự do, không thuế, không hạn ngạch đối với tất cả những sản phẩm từ hầu hết quốc gia kém phát triển trong WTO
1.2 Quy định về thuế quan của WTO
1.2.1 Quan điểm về thuế quan của WTO
1.2.1.1 Đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia
Nguyên tắc này là nền móng của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
1994, nó được thể hiện trên hai phương diện là đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia
Các điều khoản về đãi ngộ quốc gia yêu cầu khi một loại hàng hoá nào đó được đưa vào thị trường một nước qua hải quan thì các ưu đãi khác sẽ không được thấp hơn những hàng hoá tương ứng được sản xuất trong nước Nói cách khác, sau khi nộp thuế
Trang 20hải quan, các hàng hoá phù hợp với quy định pháp luật về tiêu thụ, mua bán, vận chuyển
và phân phối… đều được coi như hàng hoá trong nước hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế khác đối với hàng nhập khẩu thì lợi ích của việc miễn giảm thuế được tiến hành giữa các thành viên sẽ bị huỷ bỏ
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc trong thương mại hàng hoá chủ yếu nhằm vào phương diện sau: Thứ nhất, thuế nhập khẩu; thứ hai, phí ở nhiều hình thức khác nhau, thu vào xuất nhập khẩu, như: các loại phụ phí xuất nhập khẩu, thuế biến động, thuế xuất khẩu… Thứ ba, các loại phí dưới nhiều hình thức liên quan đến xuất nhập khẩu Thứ tư phí thu từ thanh toán hoặc chuyển nợ quốc tế trong xuất nhập khẩu Thứ năm, biện pháp thu thuế, phí kể trên Ví dụ, khi thu các loại thuế quan, khi định giá giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu, tiêu chuẩn đánh giá, trình tự đánh giá, phương pháp đánh giá đều cần có sự bình đẳng giữa các thành viên Thứ sáu, toàn bộ những quy định pháp luật và thủ tục liên quan đến xuất nhập khẩu, như yêu cầu công bố hoặc nói rõ tin tức đã quy định rõ trong thời gian xuất nhập khẩu quy định Thứ bảy, việc thu các loại thuế trong nước hoặc phí trong nước khác, như thuế tiêu thụ, phí liên quan do cục thuế địa phương thu Thứ tám, pháp luật quy định, yêu cầu về những ảnh hưởng đến tiêu thụ, thu mua, cung cấp, vận chuyển, phân phối… trong nước của sản phẩm
Đa số các nước nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp đã ký kết hiệp định với một số nước về nhập khẩu một số sản phẩm nông nghiệp nào đó Thuế quan ràng buộc tương đối cao của hiệp định, gây ra một số ảnh hưởng không tốt đối với các nước có liên quan
Vì thế, nhất định phải quy định những nước này có nghĩa vụ phải nhập khẩu một lượng sản phẩm nông nghiệp nhất định với giá tương đối thấp, tức là nhập khẩu trong một lượng quy định thì mức thu mức thuế tương đối thấp mà không thu mức thuế tối huệ quốc tương đối cao thông thường, tỷ lệ thuế này thường là 0%-23% và được áp dụng
bình đẳng giữa tất cả các nước thành viên
1.2.1.2 Dùng thuế làm biện pháp bảo hộ
“Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994” không ngăn cấm việc tiến hành bảo hộ đối với ngành công nghiệp trong nước, nhưng lại yêu cầu những sự bảo hộ này phải được tiến hành thông qua thuế và không được áp dụng các biện pháp hành chính khác Độ rõ ràng của việc bảo hộ thuế là rất cao, thuận tiện cho việc tiến hành đàm
Trang 21phán miễn giảm giữa các thành viên, từ đó giảm bớt những vướng mắc của việc bảo hộ đối với thương mại
Điều 19 “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại thuế 1994” cho phép các thành viên được thực hiện tạm thời hạn chế nhập khẩu hay nâng mức thuế trong những trường hợp nền công nghiệp nước thành viên bị thiệt hại nghiêm trọng do sự cạnh tranh khốc liệt của hàng hoá nhập khẩu như công nhân bị thất nghiệp, doanh nghiệp bị thua lỗ nặng nề… Các biện pháp hạn chế nhập khẩu được áp dụng dựa vào các điều khoản bảo đảm phải được hạn chế trong thời gian và mức độ cần thiết khi ngăn chặn hay sửa đổi những thiệt hại nghiêm trọng nói trên và không được thực thi quá lâu Ngành công nghiệp bị ảnh hưởng có nghĩa vụ nhanh chóng tiến hành điều chỉnh kết cấu, hạn chế không được nhằm vào nguồn hàng và nước sản xuất, tức là phải được thực thi một cách không phân biệt đối xử Trước khi áp dụng các hành động phải gửi thông báo bằng văn bản cho WTO, đồng thời tiến hành thương lượng với các bên thành viên chịu ảnh hưởng
về lợi ích Thời gian thực thi các biện pháp bảo đảm thường từ 3-4 năm
1.2.1.3 Giảm bớt hàng rào thương mại
Hiệp đinh chung về thuế quan và thương mại thuế 1994 quy định rằng giữa các thành viên thông qua đàm phán để hạ bớt mức thuế của mình và liệt kê các hạng mục thuế được miễn giảm này vào biểu miễn giảm thuế của các nước để chúng bó buộc lại với nhau, từ đó tạo nền tảng vững chắc và có thể dự kiến được cho thương mại giữa các nước phát triển Do các loại thuế đã ràng buộc được liệt kê vào biểu miễn giảm không được tăng lên trong vòng 3 năm, sau 3 năm nếu muốn tăng thuế thì phải tiến hành thương lượng với các thành viên được miễn giảm như lúc đầu, đồng thời phải bồi thường cho những tổn thất mà nó tạo ra, vì vậy thuế sau khi đã ràng buộc khó có thể xảy ra hiện tượng tăng trở lại đươc
Trong Hiệp định Nông nghiệp cũng yêu cầu các nước thành viên xoá bỏ toàn bộ các biện pháp phi thuế quan và chuyển tất cả các biện pháp hàng rào phi thuế quan này thành “thuế quan tương đồng” theo một công thức nhất định trong thời gian từ năm 1986-1988, cộng với thuế quan hỗn hợp được tạo thành do tỷ lệ thuế quan bình thường của các sản phẩm hiện đang chịu ảnh hưởng của các biện pháp phi thuế quan
Đối với thuế quan hỗn hợp, các nước phát triển, trong giai đoạn thực thi hiệp đinh (năm 1995-2000) bình quân đã giảm 36% Các nước đang phát triển trong giai đoạn thực
Trang 22thi hiệp định (năm 1995-2005) bình quân sẽ giảm 24% Đối với mỗi một loại sản phẩm các nước phát triển ít nhất giảm 15%, các nước đang phát triển giảm 10% Các nước chậm phát triển không phải chịu bất kỳ một trách nhiệm nào Nếu các sản phẩm không chịu hạn chế của các biện pháp phi thuế quan, thì cơ sở để tiến hành việc tính toán thuế chuyển nhượng và giảm bớt là mức thuế quan bị ràng buộc Nếu thuế quan không bị ràng buộc, thì cơ sở để tính toán thuế quan chuyển nhượng và giảm bớt là mức thuế quan trung bình ngày 01/09/1986
Chính phủ 40 nước tham gia đàm phán “Hiệp định kỹ thuật thông tin toàn cầu” đã chấp nhận hạn định bãi bỏ các loại thuế quan cho hơn 200 các loại sản phẩm kỹ thuật thông tin bao gồm phần mềm máy vi tính, thiết bị thông tin, thiết bị sinh ra chất bán dẫn
và chất bán dẫn, các máy móc khoa học…, đối với các nước phát triển là trước năm
2005 “Hiệp định kỹ thuật thông tin” quy định từng bước giảm mức thuế quan theo bốn giai đoạn, cụ thể được sắp xếp như sau:
Đối với các nước phát triển:
- Trước ngày 01/07/1997 giảm 25% mức thuế quan so với hiện tại
- Trước ngày 01/01/1998 giảm 25% mức thuế quan
- Trước ngày 01/01/1999 giảm 25% mức thuế quan
- Trước ngày 01/01/2000 giảm hoàn toàn mức thuế đối với các mặt hàng trong lĩnh vực này, thực hiện mức thuế bằng 0
Các nước đang phát triển cũng giảm dần lượng thuế quan theo các giai đoạn giống như các giai đoạn ở trên nhưng một bộ phận sản phẩm có thể kéo dài đến năm 2005 mới thực hiện việc tự do hoá
Ngoài những mức thuế thông thường ra, “Hiệp định kỹ thuật thông tin” đồng thời còn quy định trước ngày 01/07/1997 bãi bỏ các loại thuế quan và chi phí khác
Các nước Costa Rica, Indonesia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Thái Lan được phép có thể tương đối linh hoạt trong việc giảm thuế quan của một số loại mặt hàng, trong khoảng thời gian sau năm 2000 và trước năm 2005 thì thực hiện mức thuế quan bằng 0 đối với những mặt hàng này
Hiệp định này cũng quy định các bên căn cứ trên tinh thần của mục b khoản 1 điều 2 “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994”, ràng buộc và giảm dần thuế quan cho các sản phẩm kỹ thuật thông tin cùng với các khoản thu thuế và các chi phí
Trang 23khác Các nước tham gia ký kết hiệp định sẽ căn cứ những biện pháp được quy định trong “Tuyên ngôn cấp Bộ trưởng về sản phẩm kỹ thuật thông tin” do WTO công bố ngày 13/12/1996 để đưa vào trong thư giảm bớt và chuyển nhượng thuế quan đệ trình lên
Tổ chức thương mại thế giới Các nước tham gia ký kết hiệp định nhưng không phải là thành viên của WTO nên tự chủ trong việc thực hiện những biện pháp này, để đẩy nhanh quá trình hoàn thành đơn xin gia nhập WTO, và sau đó thì đưa những biện pháp đã nêu ở trên vào trong thư giảm bớt và chuyển nhượng thuế quan của thị trường hàng hoá để đệ trình lên WTO Mỗi nước tham gia vào hiệp định phải lập tức sửa đổi biểu thuế suất, điều chỉnh những khoản thuế có liên quan và thi hành các biện pháp để việc thực thi hiệp định sau khi ký kết có kết quả
Trước khi Uỷ ban Thương mại hàng hoá triệu tập hội nghị định kỳ lần tiếp theo thì các nước tham gia ký kết hiệp định phải căn cứ vào tiến trình phát triển của kỹ thuật
và nguyên tắc hiệp thương nhất trí, rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình tiến hành giảm bớt và chuyển nhượng thuế quan và điều chỉnh những thay đổi trong chế độ thuế quan, tiến hành thẩm định và sửa chữa đối với những sản phẩm trong quy định, tăng thêm các sản phẩm mới, và tiến hành hiệp thương về những rào cản thuế thương mại của sản phẩm kỹ thuật thông tin Và công việc hiệp thương này không được đi ngược lại những quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan trong hiệp định của WTO
Các bên tham gia ký kết hiệp định phải khảo sát và điều tra những sai khác còn tồn tại về vấn đề phân loại sản phẩm kỹ thuật thông tin vào trước ngày 30/09/1997 Các bên phải cùng nhất trí đạt tới một mục tiêu chung, tức là tìm kiếm cách phân loại thống nhất cho sản phẩm kỹ thuật thông tin trong các bảng biểu thuế quan hiện đang được sử dung, đồng thời cũng phải xem xét các quy định và giải thích của Uỷ ban hợp tác hải quan (còn gọi là Tổ chức Hải quan Thế giới) Nếu tồn tại bất cứ sự chia rẽ nào phát sinh
do việc phân loại sản phẩm gây ra, thì các nước thành viên phải suy xét xem có phải đưa các kiến nghị lên Tổ chức Hải quan Thế giới không, để tiện cho việc phối hợp các mục thuế quan mới, hoặc giải quyết sự chia rẽ vẫn còn tồn tại khi phối hợp các hạng mục thuế quan
1.2.1.4 Quan điểm cạnh tranh công bằng
“Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994” cho phép sử dụng thuế hoặc các biện pháp tài chính khác để thực hiện bảo hộ nền công nghiệp trong nước trong
Trang 24những trường hợp nhất định Xét từ góc độ này thì những chính sách mà “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994” thực hiện không phải là những chính sách thương mại tự do thuần tuý Song “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994” lại nhấn mạnh đến sự cạnh tranh mở rộng và công bằng, phản đối các biện pháp thương mại bất công (chủ yếu là trợ cấp và bán phá giá)
Trong trường hợp này, “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994” cho phép nước nhập khẩu được thu thuế chống bán phá giá gây ra cho hàng hoá trong nước Một biện pháp thương mại không công bằng khác là chính phủ trợ cấp cho xuất khẩu Cho dù trợ cấp xuất khẩu hay là trợ cấp trong nước thì cũng đều được coi là vi phạm
“Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994” Vì vậy, Hiệp định này cũng đưa ra những quy định tương ứng đối với việc trưng thu thuế chống trợ cấp
Tuy nhiên WTO cũng có quy định riêng nhằm đãi ngộ đặc biệt đối với thành viên các nước đang phát triển Cùng với sự tăng lên về số lượng và sự lớn mạnh của thành viên các nước đang phát triển thì lợi ích các nước này cũng được phản ánh tương ứng trong "Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994" Hiệp định này thừa nhận: hàng hoá của các thành viên đang phát triển khi đưa vào thị trường thế giới phải được hưởng những điều kiện ưu đãi hơn Thành viên các nước phát triển cam kết họ sẽ miễn giảm thương mại đối với các nước thành viên đang phát triển trong các cuộc đàm phán
và không kỳ vọng sẽ được đến đáp một cách tương xứng Thành viên các nước đang phát triển có thể được hưởng ưu đãi thông thường do thành viên các nước phát triển mang lại Thành viên các nước đang phát triển có thể thực hiện trợ cấp đối với xuất khẩu của mình trong một thời hạn nhất định Khi thành viên các nước đang phát triển cùng tiến hành miễn giảm thuế thì có thể giao sự miễn giảm đã ký kết cho các nước phát triển
Ngoài ra quan điểm cạnh tranh công bằng về thuế quan của WTO cũng được đề cập đến trong “Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp” Sau khi điều tra chống bán phá giá cuối cùng xác định là có tồn tại bán phá giá, tổn hại đến ngành sản xuất và quan hệ nhân quả của nó, lãnh đạo nước thành viên nhập khẩu hoặc lãnh đạo hải quan có thể đưa ra quyết định có phải trưng thu thuế chống bán phá giá hay không
Khi quyết định trưng thu thuế chống bán phá giá, mức trưng thu thuế chống bán phá giá có thể bằng hoặc thấp hơn biên độ bán phá giá, nhưng tuyệt đối không lớn hơn biên độ bán phá giá
Trang 25Nếu điều tra chống bán phá giá và xác định cuối cùng đề cập đến nhiều nước hoặc vùng xuất khẩu, khi trưng thu thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm không cùng nguồn gốc, phải căn cứ vào tình hình của từng điều kiện, trên cơ sở không kỳ thị để trưng thu mức thuế chống bán phá giá thích hợp, nhưng phải trừ sản phẩm đã được đồng
ý về giá cả
Khi mức thuế chống bán phá giá được tính trên cơ sở ngược (tức tiến về phía trước) thì phải nhanh chóng đưa ra xác định trách nhiệm chi trả thuế chống bán phá giá cuối cùng, sau khi đưa ra yêu cầu mức tính toán cuối cùng của mức thuế chống bán phá giá, thông thường trong vòng 12 tháng, dài nhất không quá 18 tháng là phải đưa ra quyết định Trong vòng 90 ngày sau khi xác định trách nhiệm cuối cùng, phải nhanh chóng chi trả thuế chống bán phá giá, nếu không thể chi trả trong kỳ hạn này thì lãnh đạo có liên quan phải đưa ra lời giải thích về vấn đề này
Nếu mức thuế chống bán phá giá được tính toán trên cơ sở dự kiến thì phải nhanh chóng trả lại mức thuế của biên độ bán phá giá thực tế Khoản thuế đã chi trả lại thông thường được quyết định trên chứng cứ có sức thuyết phục mà người nhập khẩu bị trưng thu chống bán phá giá đưa ra, trong vòng 12 tháng sau ngày đưa ra yêu cầu trả lại, nhiều nhất không vượt quá 18 tháng, khoản thu lại được phê chuẩn phải chi trả trong vòng 90 ngày sau quyết định nói trên
Khi một sản phẩm được xác định phải trưng thu thuế chống bán phá giá trong nước thành viên nhập khẩu, nhưng trong thời gian điều tra chống bán phá giá, một số thành viên hoặc nhà sản xuất của bên thành viên xuất khẩu đồng thời chưa xuất khẩu sản phẩm này, hơn nữa có thể chứng minh nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất của sản phẩm bị trưng thu thuế chống bán phá giá không có bất kỳ liên hệ gì thì người lãnh đạo phải nhanh chóng tiến hành thẩm tra để xác định biên độ phá giá riêng của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất này Trong thời gian thẩm tra không được trưng thu thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm, nhưng có thể tính toán trước biên độ bán phá giá có thể tồn tại, đồng thời phải cung cấp sự bảo đảm đối với sản phẩm đó, một khi xác định được có nhân tố cấu thành nên việc bán phá giá thì phải trưng thu thuế chống bán phá giá ngược
từ ngày đó lên
Thuế chống bán phá giá có hiệu lực trong vòng 5 năm kể từ ngày bắt đầu trưng thu, cho đến khi có thể bù đắp được tổn hại do việc bán phá giá gây ra Nhưng nếu bên
Trang 26đương sự đưa ra tư liệu xác định yêu cầu thẩm tra, hoặc sau một thời gian hợp lý trưng thu thuế chống bán phá giá, lãnh đạo bên thành viên nhập khẩu phải tiếp tục thẩm tra tính cần thiết của việc thu thuế chống bán phá giá Nếu thực tế chứng tỏ là đã không cần thiết thì phải lập tức dừng thu thuế chống bán phá giá
1.2.1.5 Những quy định về những đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước
đang và chậm phát triển
Hiện nay hơn ¾ số thành viên của WTO là các nước đang phát triển, kém phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Do đó, trong rất nhiều hiệp định của WTO đều dành những điều khoản ưu đãi riêng cho các nước thuộc những nhóm này, được gọi
là đối xử đặc biệt và khác biệt Đối xử đặc biệt và khác biệt là đối xử dành cho các nước đang phát triển, kém phát triển và những nền kinh tế chuyển đổi, thường mang tính giảm nhẹ so với những nghĩa vụ, cam kết chung mà WTO đề ra Ví dụ: được miễn không phải thực hiện một nghĩa vụ nào đó, mức độ cam kết thấp hơn, thời gian thực hiện những cam kết dài hơn, được hưởng ưu đãi bổ sung về mở cửa thị trường của các nước phát triển…
Về thuế quan: sau mỗi vòng đàm phán, thuế suất mà các nước thoả thuận với nhau được ghi vào bản danh mục ưu đãi, hay còn gọi là danh mục thuế quan Mỗi nước
có một danh mục thuế quan riêng Thuế suất ghi vào danh mục này được gọi là thuế suất ràng buộc, tức là sau này nước đó sẽ không được phép tăng thuế suất cao hơn mức ghi trong danh mục thuế quan Như vậy, nếu đã đưa vào danh mục thuế quan là mặt hàng đó
dã bị ràng buộc về thuế, còn những mặt hàng nào không đưa vào danh mục thuế quan thì được tự do tăng thuế
Khi tham gia vào WTO, các nước đang phát triển phải cam kết ràng buộc thuế đối với 100% hàng nông sản và 73% sản phẩm công nghiệp, còn các nước công nghiệp phát triển là 100% và 97% Ngoài ra dựa trên mức thuế đã ràng buộc, các nước thành viên phải tiến hành cắt giảm thuế quan Trong lĩnh vực nông nghiệp, thuế suất đối với hàng nông sản sẽ được cắt giảm trung bình 36% ở các nước phát triển (mức giảm tối thiểu mỗi dòng thuế không ít hơn 15%) và 24% ở các nước phát triển (mức giảm tối thiểu mỗi dòng thuế không ít hơn 10%) Việc cắt giảm phải được tiến hành lần lượt trong vòng 6 năm đối với các nước phát triển (1995-2000) và 10 năm đối với các nước đang phát triển (1995-2004) Các nước kém phát triển nhất sẽ được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt và có những quy định riêng cụ thể
Trang 271.2.2 Một số phương thức kỹ thuật áp dụng cho các biện pháp thuế quan
WTO thừa nhận thuế quan (Thuế nhập khẩu) là công cụ hợp pháp duy nhất để bảo
hộ các ngành sản xuất trong nước Các hàng rào bảo hộ phi thuế phải được bãi bỏ Có như vậy thuế quan mới trở thành biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng
là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả
Thuế quan chia làm nhiều loại khác nhau Thuế phần trăm là một số phần trăm nhất định trên giá trị hàng hóa nhập khẩu (ví dụ 5%) Thuế cụ thể quy định một khoản tiền cố định phải nộp trên một đơn vị hàng hóa (Ví dụ: 1.000 đồng/kg) Ngoài ra, còn có thuế thay thế có thể áp dụng hoặc thuế phần trăm hoặc thuế cụ thể tùy theo loại thuế nào cao hơn (Ví dụ: 5% hoặc 1.000 đồng/kg, tùy loại nào cao hơn) Trong khi đó, thuế kết hợp buộc người nhập khẩu phải trả cả hai loại thuế phần trăm và cụ thể (Ví dụ: 5% và 1.000 đồng/kg) Tuy nhiên, thuế phần trăm là loại thuế mang tính rõ ràng hơn cả nên được WTO khuyến khích dùng hơn các loại thuế khác Trong các trường hợp áp dụng các loại thuế khác, cần phải đưa ra mức thuế phần trăm tương đương nhằm xác định được mức bảo hộ tương ứng
Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên WTO
1.2.2.1 Thuế hóa
Do tính dễ dàng và dễ đàm phán cắt giảm của thuế quan, các thành viên WTO thỏa thuận một cách thức mới cho việc tiếp cận thị trường nông sản là "chỉ sử dụng thuế quan" Các biện pháp hạn chế số lượng tồn tại trước Vòng Uruguay nay phải tiến hành
"thuế hóa" tức là chuyển biện pháp phi thuế thành một mức thuế quan bổ sung có tác dụng tương đương Trong nông nghiệp người Việt Nam còn sử dụng hạn ngạch thuế quan Hạn ngạch thuế quan là cơ chế cho phép duy trì mức thuế suất thấp áp dụng với hàng nhập trong phạm vi hạn ngạch và mức thuế suất cao hơn đối với hàng hóa nhập khẩu vượt hạn ngạch Mức thuế đạt được sau khi thuế hóa sẽ tiếp tục được ràng buộc và
cắt giảm thông qua đàm phán
1.2.2.2 Ràng buộc thuế quan
Khi một nước thành viên cam kết "ràng buộc" về thuế suất với một dòng thuế, thành viên đó sẽ không được nâng thuế nhập khẩu cao hơn mức ràng buộc đó
Trang 28Đối với các sản phẩm nông nghiệp các nước thành viên cam kết ràng buộc thuế quan đối với toàn bộ các mặt hàng Trong lĩnh vực công nghiệp, các nước phát triển ràng buộc thuế 99% số mặt hàng Các con số tương ứng của các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi là 73% và 98% Các con số này đảm bảo mức độ tiếp cận thị trường an toàn hơn cho các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế
Các mặt hàng không nằm trong Biểu cam kết sẽ phải chịu mức thuế suất ràng buộc Tuy nhiên, ngay cả đối với các mặt hàng này vẫn phải tuân thủ nguyên tắc đãi ngộ
tối huệ quốc (MFN)
1.2.2.3 Cắt giảm thuế quan hơn nữa
Sau khi ràng buộc thuế, các nước sẽ phải không ngừng cam kết cắt giảm thuế quan Ví dụ tại Vòng đàm phán Uruguay, trong lĩnh vực nông nghiệp, các nước phát triển cam kết cắt giảm trung bình 36% tính gộp với tất cả các dòng thuế, cắt giảm tối thiểu 15% một dòng, tiến hành trong 6 năm kể từ 1/1995 Trong lĩnh vực công nghiệp, tuy không phải ràng buộc toàn bộ các dòng thuế nhưng xu hướng cắt giảm diễn ra mạnh
mẽ “thuế quan theo ngành” và “hài hòa thuế quan” Thuế quan của tất cả các mặt hàng trong ngành cắt giảm theo các hình thức này có mức thuế suất rất thấp (thậm chí bằng 0%) Đó trước hết là sản phẩm công nghệ thông tin, dược phẩm, một số sản phẩm kim loại, gỗ, bột giấy
1.2.3 Các phương pháp cắt giảm thuế quan cơ bản
1.2.3.1 Cắt giảm dựa trên cơ sở bản chào và bản yêu cầu
Trong năm vòng đàm phán đa phương đầu tiên, tức là tính đến Vòng Kenedy (1964), thì đây là phương pháp cắt giảm thuế quan duy nhất Theo phương pháp này, các nước có lợi ích thương mại chính tiến hành đàm phán song phương với nhau với từng mặt hàng cụ thể Khi một nước đưa ra một nhượng bộ về thuế quan, nhượng bộ này thường có ý nghĩa chiến thuật nhằm thoả mãn cho đòi hỏi của một đối tác thương mại nào đó Kết quả các nhượng bộ thuế quan đạt được sau đó sẽ được mở rộng cho tất cả các thành viên khác của GATT trên cơ sở MFN Phương pháp đàm phán dựa trên bản
yêu cầu và bản chào vẫn được áp dụng trong Vòng Uruguay
Với phương pháp này, các nước tham gia có thể chủ động cân đối bản chào tổng thể của mình hoặc tập trung vào đàm phán các mặt hàng mà mình có lợi ích thương mại
Trang 29chủ yếu Các cam kết ràng buộc và cắt giảm thuế sẽ không bị làm mất hiệu quả hoặc vô hiệu hoá nếu các cam kết này được đưa ra đồng thời với các cam kết về phi thuế
Tuy nhiên, phương pháp này thường phải đưa ra các tính toán để cân bằng các nhân nhượng đưa ra Các tính toán này được dựa trên số liệu thương mại của các năm cơ
sở Đây thường là các tính toán giản đơn không thể hiện được những thay đổi trong thương mại nên các nhượng bộ nhiều khi không mang tính cân bằng
Phương pháp này có thể bất lợi đối với các nước có tiềm lực kinh tế nhỏ Các nước này khó có thể là nhà cung cấp chính trên một thị trường nước ngoài nào Và thị trường của họ thường cũng không phải là mối quan tâm chính của các nước khác Đây là một trong các lý do cho tới trước Vòng Uruguay, sự tham gia của các nước đang phát triển vào các đàm phán và cam kết thuế rất hạn chế
1.2.3.2 Phương pháp cắt giảm bình quân
Trong các vòng đàm phán trước, các nước thống nhất kết quả cắt giảm thuế quan đạt được sẽ được tính theo bình quân gia quyền Phương pháp này khiến được tiến hành nhiều hơn, buộc các nước phải thực hiện nghĩa vụ cắt giảm thuế nhiều hơn Tuy nhiên, đến Vòng Uruguay, mục tiêu cắt giảm thuế quan được mở rộng đối với các sản phẩm nông nghiệp Để khuyến khích sự tham gia của các nước thành viên, các nước lại thoả thuận cắt giảm thuế quan trung bình giản đơn
Các nước cam kết áp dụng tỷ lệ cắt giảm khác nhau Các nước phát triển cam kết cắt giảm thuế quan trung bình đối với các sản phẩm nông nghiệp là 36%, tối thiểu 15% với một dòng thuế trong vòng 6 năm kể từ năm 1995, các nước đang phát triển phải cắt giảm trung bình 24%, tối thiểu 10% trong vòng 10 năm kể từ năm 1995
Phương pháp này tạo một khung khổ linh hoạt để các nước có thể tiếp tục theo đuổi chính sách nội địa của mình, đồng thời khuyến khích tất cả các thành viên tham gia vào cam kết cắt giảm và mở rộng phạm vi thuế quan được cam kết ràng buộc và cắt giảm trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, phương pháp này lại tạo điều kiện cho một nước có thể duy trì thuế suất cao đối với một số các mặt hàng nhạy cảm và cắt giảm thuế suất nhiều hơn đối với những mặt hàng kém nhạy cảm hơn Điều này dẫn tới một thực tế là mặc dù thuế quan trung bình trên phạm vi toàn thế giới là khá thấp thì vẫn còn các mức thuế đỉnh rất cao trong một số ngành được coi là nhạy cảm, ví dụ như bơ, thịt bò, đường
Trang 30Nhiều nước còn lợi dụng leo thang thuế quan để bảo hộ cho các ngành công nghiệp chế biến của mình
1.2.3.3 Đàm phán cắt giảm thuế quan theo công thức
Năm 1975, Canada là nước đầu tiên đưa ra đề xuất cắt giảm thuế quan theo công thức EU, Nhật Bản và Thuỵ Sỹ ủng hộ phương pháp hài hoà hoá Mỹ lại ủng hộ cắt giảm thuế quan tuyến tính Một điều đáng lưu ý là cắt giảm thuế quan theo công thức hiện chưa áp dụng đối với hàng nông sản Các công thức đáng chú ý bao gồm:
Cắt giảm tuyến tính
Công thức này bắt đầu được áp dụng từ Vòng đàm phán Kenedy khi các nước đạt được thoả thuận cắt giảm thuế quan toàn diện cho toàn bộ các dòng thuế công nghiệp (trừ xăng dầu và các sản phẩm xăng dầu) là 50% Các trường hợp đặc biệt phải được đàm phán cụ thể Kết quả là thuế quan trung bình cam kết đã giảm xuống 30% Công thức cắt giảm của Vòng Kenedy được thể hiện như sau:
T1 = a T0Trong đó: - T0 là thuế quan tại thời điểm chưa cắt giảm
- T1 là thuế quan sau khi cắt giảm
- (1-a) là phần trăm cần cắt giảm Tại Vòng Uruguay, các nước cũng áp dụng công thức này và thoả thuận giảm 50% mức thuế suất đối với các thuế suất đỉnh
Cắt giảm thuế quan theo công thức Thuỵ Sỹ
Công thức Thuỵ Sỹ được đưa ra và áp dụng rộng rãi trong Vòng Tokyo với mục tiêu cắt giảm thuế quan nhiều hơn đối với những dòng thuế cao hơn nhằm giải quyết cụ thể vấn đề thuế đỉnh Công thức đưa ra là:
T1 = aT0 /(a + T0)
Hệ số a có thể là 14 hoặc 16 tuỳ vào từng nước
Trong Vòng Tokyo, hầu hết các nước phát triển đều nhất trí với công thức Thuỵ
Sỹ EEC, các nước Bắc Âu, Australia sử dụng hệ số 16 Trong khi đó Mỹ, Nhật Bản và Thuỵ Sỹ sử dụng hệ số 14 Canada sử dụng công thức riêng của mình New Zealand lại
sử dụng phương pháp cắt giảm theo từng dòng thuế
Phương pháp cắt giảm thuế quan theo công thức nói chung là một hình thức cắt giảm thuế quan toàn diện, khuyến khích sự tham gia của tất cả các nước cũng như mở
Trang 31rộng phạm vi mặt hàng được đưa vào cam kết Phương pháp này có thể tránh được một loạt các đàm phán song phương trên cơ sở phương pháp bản yêu cầu và bản chào Một cách lý tưởng, phương pháp cắt giảm theo công thức sẽ đưa ra một công thức đã được nhất trí giữa tất cả các nước thành viên và áp dụng cho tất cả mọi sản phẩm chỉ với rất ít các ngoại lệ Tuy nhiên, cắt giảm theo công thức là phương pháp mang tính cứng nhắc
và nhiều khi không cho phép các nước linh hoạt trong việc đưa ra các cam kết của mình giữa các sản phẩm khác nhau
1.2.3.4 Hài hoà hoá thuế quan
Đây cũng là một hình thức cắt giảm theo công thức, Một trong các mục tiêu của công thức hài hoà hoá là nhằm cắt giảm thuế quan cao hơn đối với các dòng thuế có thuế suất cao Theo phương pháp này, các mức thuế suất được chia làm 3 nhóm: thấp (từ 3-5%), trung bình (từ 10-12%) và cao (từ 18-20%) Các nước tham gia sẽ giảm các mức thuế suất hiện hành về 3 nhóm trên và đảm bảo để thuế suất trung bình cả biểu thuế ở mức T% đối với các nước OECD, T%x8 đối với các nước chậm phát triển và T x 4 (%) đối với nhóm còn lại
Theo công thức EU đề nghị, những mặt hàng nào có thuế suất cao hơn 40% sẽ phải giảm xuống còn tối đa là 20% Những mặt hàng nào có thuế suất từ 30-40% sẽ cắt giảm 50% (T1 = 0,5*T0) và những mặt hàng có thuế suất nhỏ hơn 30% sẽ cắt giảm theo công thức T1 = T0(1-a) trong đó a = (T0 + 20%) Trong Vòng Tokyo cũng có rất nhiều công thức thay thế được đưa ra.
Ngoài các ưu điểm của phương pháp cắt giảm thuế quan theo công thức Hài hoà hoá thuế quan còn góp phần hạn chế triệt để hơn sự tồn tại của thuế đỉnh, một nhược điểm của cắt giảm thuế quan theo công thức Tuy nhiên, để phục vụ hài hoà thuế quan, thuế suất thường được chia làm nhiều mức (ví dụ: 4 mức) Các mức thuế suất khác nhau tương ứng với các hình thức cắt giảm, thời hạn thực hiện khác nhau khiến cho việc giám sát trở nên khá phức tạp
1.2.3.5 Cắt giảm thuế quan theo ngành
Cắt giảm thuế quan theo ngành là phương pháp giảm thuế đối với các ngành cụ thể xuống thuế suất 0%
Trong Vòng Uruguay phương pháp này đã đạt được một số thoả thuận giữa nhiều thành viên tham gia trong các ngành sau: thiết bị nông nghiệp, bia, một số hoá chất, thiết
Trang 32bị xây dựng, rượu mạnh, đồ nội thất, thiết bị y tế, giấy, dược phẩm, thép và đồ chơi Người Việt Nam ước tính rằng việc cắt giảm thuế quan này sẽ tăng tỷ lệ nhập khẩu các sản phẩm được miễn thuế vào các nước phát triển từ 20% lên 43% (GATT, 1994)
Một trong các ví dụ tiêu biểu của cắt giảm thuế quan theo ngành là thoả thuận đạt được với các sản phẩm công nghệ thông tin được thể hiện trong Tuyên bố của Hội nghị
Bộ trưởng WTO về Hiệp định các sản phẩm công nghệ thông tin (ITA) Thuế quan và tất
cả các loại thuế và lệ phí khác đối với các sản phẩm này được xoá bỏ ở 55 nước phát triển và đang phát triển vào năm 2000
Xoá bỏ thuế quan, hay miễn thuế có thể giải quyết được rất nhiều khó khăn như các vấn đề liên quan đến phân tán thuế và leo thang thuế quan và các vấn đề liên quan đến thuế cụ thể và thuế kết hợp Một ưu điểm khác là phương pháp đề cập đến tất cả các nhân tố tác động đến thương mại trong một lĩnh vực nhất định, bao gồm cả các biện pháp thuế và phi thuế Tuy nhiên, một ảnh hưởng phụ quan trọng gây bất lợi cho các thành viên đang phát triển là việc cắt giảm thuế quan chung khiến các nước này mất đi lợi thế
về thuế quan ưu đãi và phải chịu cạnh tranh cao hơn Trong nhiều trường hợp, sau khi tiến hành các cam kết cắt giảm hoặc xoá bỏ thuế quan trên cơ sở MFN, thuế suất MFN thậm chí còn thấp hơn thuế GSP
1.2.3.6 Phương pháp kết hợp
Trên thực tế, không có một phương pháp nào được áp dụng một cách duy nhất và cứng nhắc mà thường được kết hợp nhiều phương pháp nêu trên để tạo nên tính linh hoạt cho đàm phán thuế quan Ví dụ, áp dụng phương pháp cắt giảm cơ bản có đưa ra một số ngoại lệ nhất định Ngoại lệ này có thể dưới nhiều dạng thức Chẳng hạn như các nước
có quyền đàm phán bảo lưu thuế suất cao đối với một số các mặt hàng nhạy cảm Cũng
có thể quy định rằng tất cả các dòng thuế có thuế suất nhỏ hơn một mức nhất định sẽ giảm xuống 0%, hoặc cao hơn một mức nhất định (ví dụ 20%) sẽ phải cắt giảm xuống mức này Cùng với phương pháp cắt giảm theo công thức, các nước cũng nhất trí làm tròn thuế sau khi đến mức nhất định
Vòng Uruguay đã thể hiện phương pháp kết hợp, dựa trên bản yêu cầu và bản chào, trừ một số những hạn chế nhất định cùng với cắt giảm thuế quan xuống 0% (cắt giảm thuế quan theo ngành, hài hoà hoá thuế quan)
Trang 33CHƯƠNG 2: CAM KẾT VỀ THUẾ CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO VÀ
LỘ TRÌNH THỰC HIỆN 2.1 Cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
2.1.1 Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam
Sau khi Việt Nam nộp đơn gia nhập vào tháng 1-1995, Đại Hội đồng WTO đã thành lập Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO do ông Seung Ho (Hàn Quốc) làm chủ tịch
Tháng 8-1996, Việt Nam gửi tới Ban thư ký WTO “Bị Vong lục về Chế độ ngoại thương Việt Nam” giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ
sở hoạch định và thực thi chính sách, thông tin chi tiết về các chính sách liên quan tới thương mại hàng hoá, dich vụ và quyền sở hữu trí tuệ
Ban Công tác đã tổ chức 14 phiên họp từ tháng 7-1998 đến tháng 10-2006 tại trụ
sở WTO để đánh giá tình hình chuẩn bị của Việt Nam và để Việt Nam có thể trực tiếp giải thích chính sách Tại phiên đàm phán thứ 9 vào tháng 12/2004, Việt Nam đã đệ trình bản dự thảo lần đầu “Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO” để các bên thảo luận Tháng 8-2001, Việt Nam chính thức đưa ra Bản chào ban đầu về thuế quan và Bản chào ban đầu về dịch vụ
Từ tháng 1-2002, Việt Nam tiến hành đàm phán song phương về mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ với các nước quan tâm tới thị trường Việt Nam Tháng 10-
2004 kết thúc đàm phán song phương với đối tác lớn nhất đó là EU Tháng 5-2006 kết thúc đàm phán song phương với Mỹ, đối tác cuối cùng trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương
Ngày 26-10-2006, phiên đàm phán đa phương cuối cùng về việc Việt Nam gia nhập WTO đã thông qua toàn bộ hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam
Ngày 07-11-2006, Đại Hội đồng WTO bỏ phiếu thông qua hồ sơ gia nhập của Việt Nam và tiến hành lễ kết nạp Việt Nam thành thành viên chính thức của WTO
Ngày 29-11-2006, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn kết quả thoả thuận, và đã uỷ quyền cho Chính phủ gửi đến WTO bản Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của Việt Nam Ngày 06-12-2006, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Lệnh Công bố Nghị quyết phê chuẩn Nghị định thư Ngày 11-12-2006, đại diện Việt Nam đã
Trang 34trao thư của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đến Ban Thư ký WTO, thông báo việc Quốc hội nước ta đã phê chuẩn Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam
Ngày 11-01-2007, WTO tiến hành nghi lễ trao thẻ thành viên WTO chính thức cho Việt Nam
2.1.2 Cam kết chung của Việt Nam khi gia nhập WTO
2.1.2.1 Cam kết đa phương
Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và các quy định mang tính ràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên, do là nước đang phát triển ở trình độ thấp, lại đang trong quá trình chuyển đổi nên Việt Nam đã yêu cầu và WTO đã chấp nhận cho hưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một số cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp cho phi nông nghiệp, quyền kinh doanh…
Kinh tế phi thị trường: Việt Nam chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm ( không muộn hơn 31/12/2018), đây được coi là sự đánh đổi với việc ân hạn trong các lộ trình thực hiện cam kết thuế của Việt Nam Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu chứng minh được với đối tác nào đó là kinh tế Việt Nam đã hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ "phi thị trường" Chế độ "phi thị trường" nói trên chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá Các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù (là cơ chế khác với cơ chế chung trong WTO mà một số nước có nền kinh tế phi thị trường khi gia nhập WTO phải chịu) đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, kể cả trong thời gian bị coi là nền kinh tế phi thị trường
Dệt may: các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi vào WTO Riêng trường hợp vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể có biện pháp trả đũa nhất định Ngoài
ra thành viên WTO cũng sẽ không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của Việt Nam
Trợ cấp phi nông nghiệp: Việt Nam đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp
bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, Việt Nam được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm (trừ ngành dệt may) Đây là khoảng thời gian cần
Trang 35thiết để các ngành phi nông nghiệp tránh “bị sốc” và có thêm thời gian thích nghi với môi trường cạnh tranh mới khi Việt Nam thực sự hội nhập
Trợ cấp nông nghiệp: Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên Việt Nam bảo lưu quyền được hưởng một
số quy định riêng của WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này Đối với loại hỗ trợ mà WTO quy định phải cắt giảm nhìn chung Việt Nam duy trì được ở mức không quá 10% giá trị sản lượng Ngoài mức này, Việt Nam còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm Có thể nói, trong nhiều năm tới, ngân sách của nước Việt Nam cũng chưa đủ sức để hỗ trợ cho nông nghiệp ở mức này
Các loại trợ cấp mang tính chất khuyến nông hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp được WTO cho phép nên Việt Nam được áp dụng không hạn chế
Quyền kinh doanh (quyền xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa): Tuân thủ quy định WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa như người Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi như gạo và dược phẩm
Việt Nam đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam Quyền xuất khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu
Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của Việt Nam trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo - tạp chí
Doanh nghiệp Nhà nước / doanh nghiệp thương mại Nhà nước: Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này là Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp như các cổ đông khác Việt Nam cũng đồng ý cách hiểu mua sắm của doanh nghiệp Nhà nước không phải là mua sắm Chính phủ Cam kết này là hoàn toàn phù hợp chủ trương đổi mới hoạt động và sắp
Trang 36xếp lại DNNN của nước ta Vì vậy, về cơ bản, nước ta sẽ không phải điều chỉnh Luật DNNN khi thực hiện cam kết này
Tỷ lệ cổ phần để thông qua quyết định tại doanh nghiệp: Điều 52 và 104 của Luật doanh nghiệp quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt động của công ty TNHH và công ty cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu đại diện ít nhất là 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận Quy định này có thể vô hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên doanh Do vậy, Việt Nam đã nới lỏng quy định này theo cách cho phép các bên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong điều lệ công ty
Khu thương mại tự do và đặc khu kinh tế: Các quy định và chính sách áp dụng cho các “đặc khu kinh tế” sẽ tuân thủ đúng các quy định của WTO và các cam kết của Việt Nam về trợ cấp, thuế nội địa, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và các quy định khác Luật Đầu tư mới, có hiệu lực từ 1-7-2006, đã điều chỉnh chính sách phù hợp với cam kết này của nước ta
Minh bạch hóa: Việt Nam cam kết ngay từ khi gia nhập sẽ công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân Thời hạn dành cho việc góp ý và sửa đổi tối thiểu là 60 ngày Việt Nam cũng cam kết sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật trên
Một số nội dung khác: Việt Nam còn đàm phán một số vấn đề đa phương khác như khuôn khổ xây dựng và thực thi chính sách, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là sử dụng phần mềm hợp pháp trong cơ quan Chính phủ Định giá tính thuế xuất nhập khẩu, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, các biện pháp hàng rào kỹ thuật trong thương mại Với nội dung này, Việt Nam cam kết tuân thủ các quy định của WTO kể từ khi gia nhập
2.1.2.2 Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ
Trong thỏa thuận WTO, Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110 Với hầu hết các ngành dịch vụ, trong đó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân phối, du lịch Riêng viễn thông, ngân hàng và chứng khoán, để sớm kết thúc đàm phán, Việt Nam đã có một số bước tiến, chủ yếu là nới lỏng hơn chế độ bảo
hộ nhưng nhìn chung không quá xa so với hiện trạng và đều phù hợp với định hướng phát triển đã được phê duyệt cho các ngành này
Trang 37Cam kết chung cho các ngành dịch vụ: Trước hết, công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi điều đó được Việt Nam cho phép trong từng ngành cụ thể mà những ngành như thế là không nhiều Ngoài ra, công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng
ít nhất 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam Điều này là hết sức quan trọng, nó giúp cho các cán bộ quản lý của Việt Nam nâng cao được trình độ chuyên môn, trình độ quản trị điều hành doanh nghiệp đồng thời nhằm hạn chế sự lũng đoạn của các chuyên gia nước ngoài
Cuối cùng, Việt Nam cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa thị trường ngành đó Riêng ngân hàng Việt Nam chỉ cho phép ngân hàng nước ngoài mua tối đa 30% cổ phần, giúp cho Việt Nam vẫn nắm được quyền quyết định trong quản trị điều hành các ngân hàng thương mại
Dịch vụ kinh doanh: Theo phân loại của GATS, ngành dịch vụ này được chia thành 46 phân ngành Việt Nam cam kết 26 phân ngành Các cam kết chính bao gồm:
Bảo lưu quy định doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án nước ngoài ở Việt Nam trong vòng 1 năm, kể từ khi gia nhập, đối với dịch vụ thuế; trong vòng 3 năm, kể từ khi gia nhập, đối với dịch vụ kiến trúc, dịch vụ thiết kế đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan
Có lộ trình tăng tỉ lệ vốn góp trong liên doanh, tiến tới cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với các dịch vụ thiết kế đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, dịch vụ quảng cáo, nghiên cứu thị trường, dịch vụ phân tích và kiểm tra kỹ thuật Nhìn chung, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ được phép thành lập ở Việt Nam trong khoảng từ 2 đến 5 năm sau khi gia nhập
Như vậy, một số phân ngành được cam kết ở mức hiện trạng của ta, hoặc cam kết gần với mức trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Mỹ (ví dụ như dịch vụ kiến trúc, tư vấn kỹ thuật, quy hoạch đô thị, quảng cáo, dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật ), với một số khác, Việt Nam có một số bước tiến so với Hiệp định này, song nhìn chung đều phù hợp với thực tế và định hướng phát triển thị trường các dịch vụ này trong nước hiện nay, đồng thời, Việt Nam vẫn giữ được một khoảng thời gian quá độ hợp lý để
Trang 38bổ sung, ban hành các quy định về quản lý trong nước (thí dụ như dịch vụ tư vấn quản lý, dịch vụ liên quan đến khai thác mỏ, dịch vụ tư vấn liên quan đến khoa học - kỹ thuật)
Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí: Việt Nam đồng ý cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập để đáp ứng các dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí
Tuy nhiên, Việt Nam còn giữ nguyên quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và quyền chỉ định các công ty thăm dò, khai thác tài nguyên Việt Nam cũng bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam như dịch
vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa bờ Tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (hiện nay Việt Nam không có chế độ đăng ký này) Đây là những quy định cần thiết nhằm khẳng định sự toàn vẹn lãnh thổ và góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng trên biển
Dịch vụ viễn thông: Việt Nam có thêm một số nhân nhượng so với Hiệp định Thương mại song phương Việt Mỹ nhưng ở mức độ hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển của Việt Nam Cụ thể là cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng (phải thuê mạng do doanh nghiệp Việt Nam nắm quyền kiểm soát) và nới lỏng một chút về việc cung cấp dịch vụ qua biên giới để đổi lấy giữ lại hạn chế áp dụng cho viễn thông có gắn với hạ tầng mạng (chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm đa số vốn mới đầu tư hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp vốn đến 49% và cũng chỉ được liên doanh với đối tác Việt Nam đã được cấp phép)
Như vậy, với dịch vụ có gắn với hạ tầng mạng, Việt Nam vẫn giữ mức cam kết như Hiệp định Thương mại song phương Việt Mỹ, một yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng, đồng thời tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm tránh sự bành trướng của những tập đoàn viễn thông hùng mạnh của các nước phát triển
Dịch vụ phân phối: về cơ bản là khá chặt so với các nước mới gia nhập Trước hết, về thời điểm cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài bắt đầu từ 1/1/2009 Thứ hai, Việt Nam không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài Nhiều
Trang 39sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, xi măng, phân bón Việt Nam chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm
Quan trọng nhất, Việt Nam hạn chế khá chặt chẽ khả năng mở điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mở điểm bán lẻ thứ hai trở đi phải được Việt Nam cho phép theo từng trường hợp cụ thể
Dịch vụ vận tải, cụ thể như sau:
Dịch vụ vận tải biển và hỗ trợ vận tải biển: Việt Nam không hạn chế nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vận chuyển hàng hóa qua biên giới, không cam kết đối với vận tải hành khách Sau 2 năm kể từ khi gia nhập, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập liên doanh khai thác đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam với phần vốn góp không quá 49% vốn pháp định Mặc dù cam kết của Việt Nam là “không hạn chế” nhưng xét về thực chất cam kết này không tác động nhiều đến các doanh nghiệp vận tải Việt Nam vì trên thực tế thị trường này vẫn do các hàng tàu nước ngoài chiếm thị phần chủ yếu
Ngoài ra, kể từ khi gia nhập, công ty nước ngoài được phép thành lập liên doanh với 51% sở hữu nước ngoài và sau 5 năm là công ty 100% vốn nước ngoài để cung cấp một số dịch vụ vận tải biển quốc tế Số lượng liên doanh tối đa là 5 công ty ở thời điểm gia nhập, cứ 2 năm cho phép thêm 3 công ty, sau 5 năm kể từ khi gia nhập sẽ không hạn chế số lượng công ty
Việt Nam cam kết cho phép nước ngoài liên doanh để cung ứng một số dịch vụ hỗ trợ vận tải như dịch vụ xếp dỡ container, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi container tuy nhiên chúng ta đã đặt hạn chế vốn góp nước ngoài không vượt quá 50% hoặc đặt ra
lộ trình cho phép tăng vốn góp của phí nước ngoài từ 5-7 năm Các cam kết này đã đạt được mức độ bảo hộ cần thiết vì đây hầu hết là những ngành mà ta có lợi thế cung cấp
Dịch vụ vận tải đường bộ, đường thủy, đường sắt và đường không: Việt Nam không cam kết dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách qua biên giới Bên nước ngoài được phép thành lập liên doanh 49% và sau 3 năm lên 51% để cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách tại Việt Nam trên cơ sở xem xét từng trường hợp cụ thể 100%
số lái xe của các liên doanh phải là công dân Việt Nam Đây đều là các cam kết tương đối chặt chẽ so với quy định của pháp luật hiện hành Mục tiêu của các cam kết này
Trang 40nhằm tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ vận tải trong nước có thời gian để tự đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Với dịch vụ vận tải đường thủy, Việt Nam cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập WTO Với dịch vụ vận tải đường sắt, cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài nhưng chỉ được vận tải hàng hóa
Đối với dịch vụ bán và tiếp thị sản phẩm hàng không, dịch vụ đặt giữ chỗ bằng máy tính, Việt Nam cam kết theo thực tế hiện hành Đối với dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, cho phép thành lập liên doanh 51% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập WTO Sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài Cam kết của Việt Nam về các dịch vụ nói trên rất thông thoáng phù hợp với thực tiễn của ngành hàng không và nhằm mục tiêu thu hút đầu tư để phát triển dịch
vụ bảo dưỡng sửa chữa máy bay ở Việt Nam
Dịch vụ bảo hiểm: về tổng thể, mức độ cam kết ngang Hiệp định Thương mại song phương Việt Mỹ, tuy nhiên, Việt Nam đồng ý cho Mỹ thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày gia nhập Trong thời gian đầu, các cam kết này
có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới một số loại hình bảo hiểm phi nhân thọ và giới hạn trong nhóm đối tượng người nước ngoài và các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên trong thời gian trung hạn, với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước về mặt uy tín và năng lực tài chính thì các cam kết này không có ảnh hưởng nhiều Nguyên nhân là vì tâm lý khách hàng thường có thiên hướng lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm có trụ sở tại Việt Nam do tin tưởng doanh nghiệp nội địa nắm rõ thông tin rủi ro sẽ có khả năng bảo hiểm tốt hơn Ngoài ra còn do các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ có xu hướng thành lập pháp nhân để cung cấp dịch vụ tốt hơn, cùng với xu thế phát tiển chung của ngành bảo hiểm Việt Nam là tỷ trọng phí bảo hiểm phi nhân thọ trong tổng doanh thu phí bảo hiểm sẽ giảm dần
Dịch vụ ngân hàng: Việt Nam đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 1/4/2007 Các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sẽ được dành đối xử quốc gia trong các vấn đề liên quan thiết lập hiện diện thương mại Ngoài ra ngân hàng nước ngoài muốn được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chế
về huy động tiền gửi bằng VND từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi Việt