Những khía cạnh thương mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và khả năng khai thác đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN THỊ MƠ
HÀ NỘI - 2007
Trang 2
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2007
Trang 31.1 KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 9
1.1.1 KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 91.1.2 BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 22
1.2 NHỮNG KHÍA CẠNH THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 25
1.2.1 QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TRONG THƯƠNG MẠI, THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 25 1.2.2 BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TỪ GÓC ĐỘ THƯƠNG MẠI 33
1.3 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
MẠI… ……….40
CHƯƠNG II 49
THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP DƯỚI GÓC ĐỘ
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 49
2.1 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 49
2.1.1 NHÀ NƯỚC ĐÃ BAN HÀNH CHÍNH SÁCH CỤ THỂ VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG TẠO SỰ PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TRONG WTO 49
Trang 42.1.2 NHÀ NƯỚC ĐÃ TỪNG BƯỚC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP……… ………48
2.2 THỰC TRẠNG VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 58
2.2.1 NHẬN XÉT CHUNG 58
2.2.2 ĐÁNH GIÁ TÁ HẠI CỦA VIỆC VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 63
2.3 THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM67 2.3.1 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU 67
2.3.2 NHỮNG KHÓ KHĂN, YẾU KÉM CỦA VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 72
2.4 THỰC TRẠNG THỰC THI BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP TỪ PHÍA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 74
2.4.1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 74
2.4.2 NHỮNG TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN 80
CHƯƠNG III 85
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 85
3.1 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM SAU KHI LÀ THÀNH VIÊN WTO 85
3.1.1 GIA NHẬP WTO: CƠ HỘI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BẢO HỘ VÀ KHAI THÁC QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 85
3.1.2 GIA NHẬP WTO: THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ BẢO HỘ VÀ THỰC THI BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 86
3.2 TÌM HIỂU KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 90
3.2.1 KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC 90
3.2.2 KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN 99
3.3 GIẢI PHÁP ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TĂNG CƯỜNG BẢO
HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG KHAI
Trang 5THÁC VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP DƯỚI GÓC ĐỘ
THƯƠNG MẠI 105
3.3.1 TÍCH CỰC CHỐNG NẠN HÀNG GIẢ, SAO CHÉP THƯƠNG HIỆU 1053.3.2 CHỦ ĐỘNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1063.3.3 PHỔ BIẾN NHỮNG KIẾN THỨC LIÊN QUAN ĐẾN BẢO HỘ QUYỀN
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1073.3.4 TÍCH CỰC TÌM KIẾM CÁC KÊNH THÔNG TIN TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ 1083.3.5 THÀNH LẬP ỦY BAN CHUYÊN TRÁCH 1093.3.6 TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC VỚI CÁC ĐỐI TÁC NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1093.3.7 KHAI THÁC TRIỆT ĐỂ CƠ SỞ DỮ LIỆU SẴN CÓ VỀ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 110 3.3.8 TÍCH CỰC HỢP TÁC VỚI HẢI QUAN CỬA KHẨU ……… ……… 103
KẾT LUẬN 112
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
từ ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam hiện đã và đang thực hiện những cam kết nói chung và các cam kết về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói riêng
Quyền sở hữu công nghiệp và việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại là một vấn đề khá rộng và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Thật vậy, một khi các doanh nghiệp có khuynh hướng phát triển dựa trên cơ sở khoa học công nghệ tiên tiến, dựa trên sự hợp tác và khai thác các nguồn tri thức bên ngoài, các doanh nghiệp sẽ thu được càng nhiều lợi nhuận từ quyền sở hữu trí tuệ, nhất là từ các sáng chế Điều đó thể hiện không chỉ bởi đóng góp của sáng chế trong việc nâng cao giá trị sản phẩm mà lợi nhuận còn được thu về thông qua việc cho phép các doanh nghiệp khác khai thác sáng chế, hay sử dụng quyền sở hữu công nghiệp như một phương tiện để thương lượng với các doanh nghiệp khác hoặc phương tiện
để tiếp nhận thêm những nguồn vốn từ các tổ chức tài chính… Bên cạnh đó những biểu hiện tiêu cực trong vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như nạn ăn cắp dễ dàng thương hiệu, nạn làm hàng giả, hàng nhái… đang ngày càng bộc lộ ở mức độ tinh vi hơn Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại là một trong những nội dung đã được WTO điều chỉnh Việt Nam đã cam kết tuân thủ một trong những qui định của WTO về vấn đề này Yêu cầu đặt ra là làm sao để Việt Nam có thể thực hiện đầy đủ các cam kết của mình trong khi chúng ta được thế giới đánh giá là một trong những nước vi phạm vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhiều nhất Làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam khai thác được những qui định của WTO
có lợi cho doanh nghiệp mình Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu vấn đề một cách đầy đủ và cụ thể Đó là lý do để tác giả chọn vấn đề “Những khía cạnh thương mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và khả năng khai thác đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh, chuyên ngành kinh doanh quốc tế của mình
Trang 72 Tình hình nghiên cứu
2.1 Ở nước ngoài
Như trên đã trình bày, việc nghiên cứu về quyền sở hữu công nghiệp và bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng như tác động của việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp với nền kinh tế không phải là một vấn đề mới trên thế giới Chúng ta
có thể tìm thấy một số các công trình của các tác giả nước ngoài như:
- ‘’How Small and medium enterprises can benefit from industrial property information’’ – của tác giả Donald Bollella, Trưởng cố vấn về sáng chế, Burstein
Technologies, Inc.,Irvine, California tại Hội thảo khu vực Châu á của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới- WIPO về một chiến lược sở hữu trí tuệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ; được tổ chức bởi WIPO, Học viện đào tạo sở hữu trí tuệ thế giới IIPTI và Văn phòng sở hữu trí tuệ Hàn Quốc tại Daeduk, Daejeon, Republic of Korea, từ 26 đến 28 tháng 11 năm 2002)
- „‟Valuation and exploitation of intellectual property’’ - của các tác giả
Shigeki Kamiyama, Jerry Sheehan, Catalina Martinez, STI working paper 5/2006 (STI - Statistical Analysis of Science, Technology and Industry)
- „‟Economic value of industrial property rights„‟- WIPO, Hội thảo về sở hữu
công nghiệp tại Geneve, từ ngày 3 đến 5 tháng 9 năm 1997
- „‟Strengthening Protection of Intellectual Property in Developing Countries„‟, Wolfgang E Siebeck, editor with Robert E Evenson, William Lesser,
and Carlos A Primo Braga, World Bank Discussion Papers
2.2 Ở Việt Nam
Đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam, vấn đề sở hữu công nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện được xem như một chủ đề khá hấp dẫn Liên quan đến sở hữu công nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, chúng ta có thể tìm thấy công trình nghiên cứu
như: “Chống hàng giả ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ một số nước”, Khóa luận của Mai Thị Thanh Thuỷ- A4-K39B Trường Đại học Ngoại Thương; “Chống
Trang 8hàng giả và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại công ty Unilever Việt Nam” Khóa luận của Phan Thu Hằng – Lớp A13 - K39D; “Tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận văn Thạc
sỹ của Đỗ Việt Dũng, học viên cao học Khóa 6 (1999 - 2002) Trường Đại học
Ngoại Thương; “Chống hàng giả và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế và thực trạng ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ của Trần Quỳnh Anh, học viên cao học Khóa 7 (2002- 2005) Trường Đại học Ngoại Thương; “Xây dựng và phát triển thương hiệu hàng Việt Nam trong quá trình hội nhập”, Luận văn Thạc sỹ
của Phạm Thị Thu Hiền, học viên cao học Khóa 9 (2002- 2005) Trường Đại học
Ngoại Thương; “Xây dựng và bảo hộ thương hiệu ở một số nước và kinh nghiệm đối với các doanh nghiệp Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ của Tống Phương Lan, học viên cao học Khóa 9 (2002- 2005) Trường Đại học Ngoại Thương; “Hiệp định về khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ - TRIPs và những vấn đề đặt ra trước thềm WTO” Luận văn Thạc sỹ của Triệu Quang Vinh, học viên cao học Khóa
10 (2002- 2005), Trường Đại học Ngoại Thương
Tuy nhiên, những bài viết, công trình, luận văn nói trên chỉ phân tích những vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ nói chung hoặc đi sâu phân tích một số đối tượng được bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ Chưa có công trình nào phân tích những khía cạnh thương mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ góc độ của doanh nghiệp Việt Nam Đây là luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề chung về quyền sở hữu công nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, luận văn đi sâu phân tích những khía cạnh thương mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại ở Việt nam cũng như tình hình thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ phía các doanh nghiệp Việt nam, từ đó
đề xuất giải pháp để các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao khả năng khai thác việc
Trang 9bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến thương mại trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quyền sở hữu công nghiệp và những khía cạnh thương mại liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Các qui định của WTO, của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng
là đối tượng nghiên cứu của Luận văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là việc khai thác việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong cả nước, tình hình thực thi bảo hộ sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam; các qui định quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng, kinh nghiệm từ một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản…
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá…., luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tại chỗ, phương pháp chuyên gia và đặc biệt áp dụng việc phân tích thông tin khai thác từ các phương tiện truyền thông hiện đại như internet, truyền hình để thống kê dữ liệu nhằm làm rõ vấn đề cần nghiên cứu
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Nội dung Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về những khía cạnh thương mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Chương 2: Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại ở Việt Nam trong thời gian qua
Trang 10Chương 3: Giải pháp tăng cường việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới
Trang 11
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NHỮNG KHÍA CẠNH THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1.1 Quyền sở hữu công nghiệp
Theo điều 4, Luật Sở hữu Trí tuệ của Việt Nam năm 2005, quyền sở hữu công
nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
Theo điều 751, Bộ luật Dân sự của Việt Nam năm 2005, quyền sở hữu công
nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh bao gồm quyền khai thác, sử dụng bí mật kinh doanh; cho phép hoặc cấm người khác tiếp cận sử dụng, tiết lộ bí mật kinh doanh
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại bao gồm: sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại trong kinh doanh; Cho phép hoặc cấm người khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình; cấm người khác sử dụng tên thương mại gây nhầm lẫn với hoạt động kinh doanh của mình
- Quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý thuộc về nhà nước
- Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thuộc về cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh
Theo công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết năm 1883, (Điều 1(3)), “Sở hữu công nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không
những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà
Trang 12cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác, và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu vang, ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, bia, hoa và bột”
1.1.1.2 Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, điều 3, khoản 2, đối tượng của
quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
Sáng chế:
Theo Điều 4 khoản 12- Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên
Quyền sở hữu công nghiệp bảo vệ cho sáng chế hiểu theo nghĩa rộng nhất là bảo vệ quyền của nhà phát minh Một sáng chế được công nhận cho người sáng tạo
ra nó cấp bởi cục sáng chế, nó đồng thời xác định ranh giới không cho phép bất kỳ
ai khai thác, sử dụng mang tính thương mại sáng chế đó trong một giai đoạn nhất định mà chưa được sự đồng ý của người phát minh ra nó Giai đoạn bảo hộ này thường là 20 năm, khi hết thời hạn bảo hộ, sáng chế này được phép sử dụng và khai thác rộng rãi bởi tất cả các cá nhân quan tâm Điều 124, khoản 1, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 qui định trong thời hạn hiệu lực của bảo hộ sáng chế, việc sử dụng sáng chế đó là thực hiện các hành vi sau: “Sản xuất sản phẩm được bảo hộ; áp dụng qui trình được bảo hộ; khai thác công dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo qui trình được bảo hộ; lưu thông, quảng cáo, chào
hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm; nhập khẩu sản phẩm ” Đồng thời đối tượng
sở hữu sáng chế có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng, có quyền ngăn cấm người khác sử dụng mà chưa có sự đồng ý của mình, có quyền định đoạt sáng chế của mình
Bằng việc công nhận và bảo hộ sáng chế, phần thưởng đó (sáng chế) nhà nước công nhận thành quả làm việc của các nhà phát minh, khuyến khích họ tìm tòi
Trang 13nghiên cứu hơn nữa để đóng góp cho bản thân nói riêng và cho xã hội nói chung Khi đệ trình sáng chế, người sáng chế phải công khai công trình của mình, thông qua sự công khai này, các cá nhân hoặc tổ chức quan tâm có thể tìm hiểu công trình
đó từ đó nâng cấp, phát triển công nghệ cao hơn Như vậy ta thấy nó có thể cân bằng lợi ích của cả người sáng chế và lợi ích của xã hội
Theo điều 60, khoản 1, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, sáng chế để được bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện như sau:
- Có tính mới: Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công
khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hay ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng
ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp sáng chế được hưởng quyền ưu tiên
- Có tính sáng tạo: Sáng chế được coi là có tính sáng tạo nếu nó thể hiện
tính đột phá mà không thể được tạo ra bởi người có kiến thức trung bình trong cùng lĩnh vực của sáng chế đó
- Có khả năng áp dụng vào trong công nghiệp: Sáng chế phải được sử dụng
trong thực tế và có thể được áp dụng trong một vài ngành công nghiệp Điều 59, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 qui định những đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế như phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học; Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh, chương trình máy tính; Cách thức thể hiện thông tin; Giải pháp chỉ mang tính thẩm mỹ; Giống thực vât, giống động vật; Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh; Phương pháp phòng ngừa, chuẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật
Kiểu dáng công nghiệp
Trang 14Theo điều 3 khoản 13- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, kiểu dáng công nghiệp
là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, mầu
sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này
Điều căn bản cho các thiết kế công nghiệp là kiểu dáng phải hữu hình và hoạt động hiệu quả theo đúng chức năng đã định Ngoài ra, nó phải có khả năng tái sản xuất bằng các máy móc công nghiệp Các nhà sản xuất xuất phải bảo vệ kiểu dáng của sản phẩm (kiểu dáng công nghiệp) vì hình dáng hữu hình của kiểu dáng công nghiệp là một nhân tố chính ảnh hưởng đến sở thích của khách hàng đối với sản phẩm trong khi tính năng sử dụng của sản phẩm là tương đối như nhau giữa các nhà sản xuất khác nhau Thông thường người tiêu dùng sẽ lựa chọn dựa theo giá cả và hình dáng thẩm mỹ của sản phẩm Thời hạn bảo hộ thông thường của thiết kế công nghiệp thường là từ 10 đến 25 năm, thường đã bao gồm cả thời gian gia hạn những thiết kế công nghiệp đó Tuy nhiên, đối với hàng dệt may thời trang thì thời hạn bảo
hộ thường là ngắn do đặc thù kinh doanh của ngành này Để được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng những điều kiện sau:
- Có tính mới: Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu chưa
bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hay ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên (Trích điều 65, khoản 1- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005)
- Có tính sáng tạo: Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo
nếu nó thể hiện tính đột phá mà không thể được tạo ra bởi người có kiến thức trung bình trong cùng lĩnh vực đó
- Có khả năng áp dụng công nghiệp: Kiểu dáng công nghiệp được coi là
có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó
Trang 15bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp (điều 67- Luật sở hữu trí tuệ năm 2005)
Theo điều 64 -Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, nằm ngoài đối tượng được bảo
hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp gồm: “Hình dáng bên ngoài của sản phẩm
do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có; Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp; Hình dáng của sản phẩm không nhìn
thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm”
Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Theo điều 4, khoản 14 và 15 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, “thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán
dẫn”
“Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử Mạch tích hợp bán dẫn đồng nghĩa với IC, chip và các
vi mạch điện tử”
Thiết kế bố trí mạch tích hợp cũng là sự sáng tạo của trí óc con người Các nhà nghiên cứu luôn mong muốn giảm kích thước của sản phẩm đồng thời muốn đa dạng chức năng của sản phẩm Để đầu tư nghiên cứu tạo ra các sản phẩm này rất tốn kém cả về nguồn tài chính lẫn con người Tuy nhiên các sản phẩm thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn này lại được sử dụng rất đa dạng trong nhiều loại sản phẩm điện tử khác nhau như máy vi tính, đồng hồ, ôtô… Do đó, trong khi việc đầu tư ra sản phẩm này rất tốn kém thì việc copy chúng lại không khó, ít chi phí vì vậy các sản phẩm này rất cần được bảo hộ
Ta thấy rằng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn khác với thiết kế công nghiệp (kiểu dáng công nghiệp) do cấu trúc ở bên trong của chúng Ngoài ra, thiết
Trang 16kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn cũng khác sáng chế Do thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đủ điều kiện để được bảo hộ là:
- Có tính nguyên gốc: “là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả,
chưa được những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra thiết kế bố trí đó” (Trích Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, Điều
70, khoản 1)
- Có tính mới thương mại: Khi thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đó
chưa được khai thác mang tính thương mại tại bất kỳ đâu
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, điều 69 xác định đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn như “nguyên lý, quy trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn, thông
tin phần mềm chứa trong mạch tích hợp bán dẫn”
bằng chính công thức đã thu nhận được
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, điều 4, khoản 23 qui định: “bí mật
kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” Mọi thông tin có thể sử dụng trong hoạt động kinh doanh mà mang lại giá trị lớn trong việc tạo ra lợi ích kinh tế
Trang 17trong thời điểm hiện tại hoặc tương lai được coi là bí mật kinh doanh Tính bí mật ở đây có nghĩa là người thương xuyên xử lý thông tin đó không biết đến hay dễ dàng tiếp cận thông tin đó một cách toàn bộ hay ghép nối chúng với nhau theo đúng trật
tự, chuẩn xác mọi chi tiết của thông tin đó Khác với sáng chế, bí mật kinh doanh được bảo hộ vô thời hạn và không cần thủ tục đang ký với cơ quan có thẩm quyền
Để bí mật kinh doanh được bảo hộ, thì bí mật đó phải đáp ứng đủ những điều kiện như: Không phải hiểu biết thông thường có thể có được; khi sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người năm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó; cuối cùng, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không
dễ dàng tiếp cận được (Theo điều 84 Luật sở hữu trí tuệ 2005) Tuy nhiên, các thông tin về bí mật thân nhân, về quản lý nhà nước, quốc phòng an ninh và các thông tin khác mà không liên quan đến kinh doanh thi không được bảo hộ
Bí mật kinh doanh có thể liên quan đến các loại thông tin như sau:
- Các chiến lược quảng cáo
- Các kết quả đánh giá đạt được khi nghiên cứu thị trường
* Bí mật Khoa học và Kỹ thuật:
- Các công thức sản xuất sản phẩm
- Cấu tạo kỹ thuật của sản phẩm
- Các kiểu dáng, bản vẽ, các đồ án kiến trúc, bản thiết kế và bản đồ …
*Bí mật về các thông tin phủ định
Trang 18- Các báo cáo về chiến lược không thành công trong việc kéo khách hàng mua một loại sản phẩm nào đó
- Tình trạng bế tắc trong nghiên cứu…
Nhãn hiệu
Nhãn hiệu hàng hóa là cầu nối giữa khách hàng và sản phẩm của doanh nghiệp Trước hết, Nhãn hiệu tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi lựa chọn mua các sản phẩm hay sử dụng các dịch vụ Khi công ty nổi tiếng với mặt hàng nào
đó, một khách hàng khi mua sản phẩm đó, họ không chỉ mua giá trị của hàng hóa đó
mà còn mua cả tên nhãn hiệu của hàng hóa đó Bởi vì, nhãn hiệu hàng hóa nhiều khi còn thể hiện cả chất lượng và uy tín của sản phẩm hàng hóa trên thị trường Ví dụ như với sản phẩm dệt may của Việt Nam, mang tên nhãn hiệu của một số các công
ty may Việt Nam giá bán hàng hóa rõ ràng là thấp hơn giá bán sản phẩm dệt may của một hãng nổi tiếng trên thế giới mà cũng vẫn công ty Việt Nam đó làm hàng gia công cho chính hãng tên tuổi đó Điều này một phần cho thấy giá trị to lớn của thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá Nó thuộc một loại là tài sản vô hình của doanh nghiệp Đồng thời nhãn hiệu còn giúp doanh nghiệp bán hàng và phát triển sản phẩm, thông qua đó sẽ giúp nâng cao sự tín nhiệm của khách hàng đối với nhãn hiệu của doanh nghiệp
Mục đích cơ bản của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp kinh doanh này với doanh nghiệp kinh doanh khác, nên luật các nước qui định bất kỳ nhãn hiệu nào được bảo hộ phải có thể phân biệt được Như vậy, cốt yếu là ở chỗ khả năng phân biệt, tuy nhiên để đo lường hay xác định như thế nào là khả năng phân biệt hoặc xác định được mức độ trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn chưa được qui định cụ thể trong các văn bản pháp luật của Việt Nam Việc xem xét một nhãn hiệu xin đăng ký có tương tự tới mức gây nhầm lẫn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự xem xét của cục sở hữu trí tuệ
Hiệp định TRIPS (khoản 1 điều 15) qui định: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ
hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh
Trang 19nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ
số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp của bất kỳ dấu hiệu
đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa”
Theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 điều 4, khoản 16và điều 72 thì
nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, các cá nhân khác nhau Nhãn hiệu được bảo hộ nếu là dấu hiệu được nhìn thấy dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ảnh ba chiều hoặc là sự kết hợp các yếu tố, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; có khả năng phân biệt hàng hóa dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác
Tuy vậy, ngày nay do nhu cầu phát triển đa dạng của nền kinh tế thì các doanh nghiệp cũng nhận thấy rằng âm thanh, mùi vị cũng có khả năng làm cho người tiêu dùng nhận ra sự khác biệt của hàng hóa Cụ thể như, nhà sản xuất kem và bán lẻ kem hàng đầu của Mỹ- Wall- đã đăng ký giai điệu âm nhạc đặc trưng làm âm thanh cho sản phẩm kem của mình trên các xe bán kem lưu động [2]
Về các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu Theo điều 73 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với
danh nghĩa nhãn hiệu:
1 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;
2 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
3 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
Trang 204 Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
5 Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ
Tên thương mại
Theo điều 4, khoản 21 luật sở hữu trí tuệ năm 2005, tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh (Điều 76 Luật
sở hữu trí tuệ năm 2005)
Tuy vậy, đối tượng sở hữu trí tuệ không được bảo hộ với danh nghĩa là tên thương mại là “Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không
được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại”
Chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý được sử dụng trên hàng, là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể và chất lượng của hàng hóa hay danh tiếng của chúng do nguồn gốc từ khu vực địa lý đó sinh ra mà
có
Trang 21Việc sử dụng chỉ dẫn địa lý là không giới hạn với các sản phẩm nông nghiệp với các nhân tố tự nhiên như khí hậu và đất Ngoài ra, còn có những sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý mà không có dinh dáng đến nông nghiệp, đó là do nhân tố con người làm ra chúng với kỹ năng và truyền thống, ví dụ như đồng hồ Thụy Sỹ, chè Thái Nguyên, nước mắm Phú Quốc, rượu vang Bóoc Đô…
Ngoài ra, có thể thấy tên gọi xuất xứ hàng hoá là một dạng chỉ dẫn địa lý
đặc biệt Nếu chỉ dẫn địa lý chỉ là tên gọi (địa danh) và uy tín, danh tiếng của sản phẩm đạt đến mức đặc thù gắn liền với vùng địa lý đó thì chỉ dẫn như vậy được gọi
là “Tên gọi xuất xứ hàng hoá”
Theo điều 79, Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005, Để được bảo hộ thì chỉ dẫn địa lý phải đáp ứng các điều kiện dưới đây:
- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định
Như vậy, câu hỏi đặt ra là như thế nào là sản phẩm có danh tiếng, chất lượng? Sản phẩm có danh tiếng là sản phẩm được nhiều người biết đến với sự tín nhiệm và lựa chọn dùng sản phẩm đó Còn chất lượng và đặc tính của sản phẩm thì được xác định bằng một số các chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật
lý, hóa học và vi sinh Các chỉ tiêu này phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp
Điều quan trọng để xác định sản phẩm được gắn với chỉ dẫn địa lý ở đây là sản phẩm phải có chất lượng tốt và chỉ có vùng miền đó với đặc tính tự nhiên hoặc yếu tố con người mới có thể tạo ra sản phẩm đó và đại đa số sản phẩm đó phải ngon hơn, tốt hơn sản phẩm tương tự được làm ra ở vùng đất khác
Ngoài ra, theo Điều 80, Luật sở hữu trí tuệ, sản phẩm không được nằm trong đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa của chỉ dẫn địa lý như sau:
Trang 22- Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở Việt Nam;
- Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng;
- Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;
- Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó
1.1.1.2 Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp
Theo Điều 751, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, quyền đối với giống cây trồng, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản được quy định như sau:
+ Quyền nhân thân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng thuộc về người đã trực tiếp tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng bằng lao động sáng tạo của mình, bao gồm quyền được đứng tên tác giả trong văn bằng bảo hộ do Nhà nước cấp, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng đó;
+ Quyền tài sản đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng thuộc về chủ sở hữu các đối tượng đó, bao gồm quyền sử dụng, cho phép hoặc cấm người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng đó
Quyền nhân thân sẽ được trao cho người chủ trực tiếp tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nó được thể hiện bằng việc người sáng tạo được quyền đứng tên là tác giả của các sản phẩm do mình tạo
ra Còn quyền tài sản thì thuộc về người chủ sở hữu các đối tượng đã nêu ở trên Quyền tài sản cho phép người chủ sở hữu được quyền sử dụng, quyền cho phép
Trang 23hoặc cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu nói trên Có thể suy luận rằng, quyền nhân thân mạnh hơn quyền tài sản Khi có quyền nhân thân người ta có quyền sử dụng, bán, chuyển nhượng đồng thời cấm người khác sử dụng chính tài sản đó của mình đến khi hết quyền sở hữu
Điều 751, Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng qui định về quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh thuộc về tổ chức, cá nhân có được thông tin tạo thành bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật thông tin đó, bao gồm:
+ Khai thác, sử dụng bí mật kinh doanh;
+ Cho phép hoặc cấm người khác tiếp cận, sử dụng, tiết lộ bí mật kinh doanh
Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, tên thương mại thuộc
về chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại đó, bao gồm:
+ Sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại trong kinh doanh;
+ Cho phép hoặc cấm người khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình; cấm người khác sử dụng tên thương mại gây nhầm lẫn với hoạt động kinh doanh của mình
Đối với quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý thuộc về Nhà nước Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý nhằm chỉ dẫn xuất xứ, nguồn gốc của sản phẩm thuộc về tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện do pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định
Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thuộc về tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh Mặc dù trong đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp không có chống cạnh tranh không lành mạnh, nhưng nội dung quyền sở hữu trí tuệ lại đề cập đến quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Do tất
cả các doanh nghiệp kinh doanh đều vì mục đích lợi nhuận trên thị trường cạnh tranh rất khốc liệt Vậy để bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính và để tránh tình trạng cá lớn nuốt cá bé, ăn cắp ý tưởng kinh doanh của người khác, làm hàng nhái dùng các thủ đoạn không tốt với đối thủ cạnh tranh nói riêng và để hoàn
Trang 24thiện hơn nữa về quyền sở hữu công nghiệp, nên điều này đã được đưa vào Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được trao cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
1.1.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
1.1.2.1 Vì sao phải bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp?
Những thập kỷ vừa qua đã chứng kiến nhiều sự thay đổi kinh tế của rất nhiều nước trên thế giới Những nước đang phát triển, cụ thể, đã trải qua sự chuyển dịch kinh tế to lớn Những chính sách hạn chế về kiểm soát thương mại, công nghiệp, đầu tư nước ngoài và hợp tác kỹ thuật đã bị loại bỏ dần và chuyển sang nền kinh tế
mở mà áp lực cạnh tranh đóng vai trò chính Giai đoạn này cũng đã chỉ ra sự thành công của GATT trong vòng đàm phám Uruguay mà đã được mở rộng từ năm 1986 đến 1994 và cũng là lần đầu tiên mà Hiệp định về những khía cạnh thương mại về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) được thông qua bởi chữ ký của 116 nước thành viên Theo trang 3, tài liệu: economic value of industrial property rights, Hội thảo giới thiệuvề quyền sở hữu công nghiệp, tại Genever, tháng 9 năm 1997
Thậm chí, tất cả chúng ta đều biết rằng, sức mạnh của khoa học công nghệ
đã đưa thế giới phát triển trong 2 thế kỷ nay gấp rất nhiều lần so với mấy chục thế
kỷ trước, tất cả là do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của sức lao động con người Sở hữu trí tuệ là sở hữu về tri thức, trí lực của con người Các nước trên thế giới nhìn chung đều có luật để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vì hai lý do chính Thứ nhất là bảo hộ quyền lợi về mặt đạo đức và kinh tế của người chủ các sáng tạo và quyền tiếp cận của công chúng về những thành quả của lao động trí óc con người Thứ hai là để khuyến khích tính sáng tạo và sự truyền thông cũng như sự áp dụng những kết quả của hoạt động trí não con người và khuyến khích thương mại công bằng để đóng góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội
Ngoài ra, ngày nay, bước vào thế kỷ XXI, tài sản trí tuệ đang tiến dần tới chỗ
là thước đo khả năng tồn tại và thành đạt trong tương lai của các công ty Năm 1982 khoảng 62% tài sản của các công ty ở Hoa kỳ là tài sản vật chất, nhưng đến năm
Trang 252000 con số này giảm xuống chỉ còn 30% Ngoài ra, một nghiên cứu gần đây cho thấy tính trung bình 40% giá trị của một công ty tích tụ được trong tài sản vô hình của công ty không thể hiện trong bảng cân đối tài sản của công ty theo bất kỳ cách thức nào [4, trang 7] Tuy nhiên, con người có khả năng học tập và bắt chước thật
kỳ diệu Ví dụ, khi con người suy nghĩ để phát minh ra một loại thuốc chữa bệnh thế kỷ và công bố kết quả đó ra toàn thế giới và phân phối loại thuốc đó thì chỉ trong một thời gian ngắn sau, rất nhiều công ty kinh doanh loại thuốc mà nhà nghiên cứu đó đã rất mất thời gian, trí tuệ, công sức và vật chất để tạo ra chúng mà chưa có sự đồng ý của người này Nghiêm trọng hơn nữa vì chạy theo lợi nhuận mà nhiều nơi sản xuất thuốc giả hay làm hàng giả, gây nên tác hại vô cùng to lớn Theo bài viết “Fake medicin terro method” của tác giả Naira MARTIROSYAN đăng trên trang http://www.168.am/en/ ngày 10 tháng 12 năm 2006, 52% thuốc bị làm giả làthuốc kháng sinh; thuốc bị làm giả do yếu tố nhu cầu và giá thành và năm 2005 doanh thu của thuốc trên thị trường thương mại quốc tế là 450-600 triệu đô la Mỹ
Hành vi bắt chước, làm nhái, làm giả hàng hóa gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình phát triển kinh tế của một đất nước, đặc biệt lại làm đối với hàng hóa đã được bảo hộ, đó là một hành vi ăn cắp Nó làm thui chột tính sáng tạo của con người, kìm hãm nền kinh tế, không thu hút đầu tư nước ngoài nhất là với các công ty có sản phẩm đã đăng ký bảo hộ… Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã dự báo rằng sự làm hàng giả, làm nhái và chi phí truyền phát thanh bất hợp pháp mỗi năm của các công ty là khoảng 638 tỉ đô la Mỹ mỗi năm, thiệt hại lớn hơn tổng GDP của
12 nước Trên thế giới khoảng 35 - 40% thương mại, sản phẩm phần mềm, tác phẩm
âm nhạc được bán mỗi năm là hàng giả, nhái Những sản phẩm được cấp bằng sáng chế khó bị làm giả hơn như thuốc, đồ điện và chất bán dẫn, tỷ lệ làm giả thấp hơn nhưng cũng đáng kể Tổ chức y tế thế giới (WHO) dự đoán rằng ít nhất 6% dược phẩm được bán trên toàn thế giới hàng năm là hàng giả, trị giá hơn 30 triệu USD [16,
trang 4]
Do vậy, một xã hội ngày càng văn minh là một xã hội phải biết tôn trọng giá trị sức lao động của từng cá nhân, từng tập thể Mỗi người phải đấu tranh loại trừ
Trang 26cái xấu, nạn ăn cắp sức lao động của người khác Đó cũng lí giải tại sao phải có sự bảo hộ về mặt pháp luật đối với quyền sở hữu công nghiệp
1.1.2.2 Nội dung bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Mục đích của hoạt động sở hữu công nghiệp là khuyến khích hoạt động sáng tạo khoa học - công nghệ; cổ vũ đầu tư, tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật - mỹ thuật ứng dụng cũng như các sáng kiến kinh doanh mới; thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh đồng thời sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất các nguồn lực trí tuệ của xã hội
Để đạt được các mục tiêu trên cần phải thông qua việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật riêng về vấn đề này Đó là hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp - trong đó quan hệ giữa các chủ thể liên quan tới đối tượng trên mang nội dung quan hệ quyền và nghĩa vụ và các quan hệ đó được điều chỉnh sao cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được cấu thành bởi ba hệ thống chủ chốt, đó là: hệ thống bảo hộ sáng chế (hay còn gọi là hệ thống patent); hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và hệ thống bảo hộ thông tin bí mật Nguyên tắc chung của cả ba hệ thống này là thông qua việc thừa nhận và bảo vệ của pháp luật đối với chủ sở hữu của các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp mà chủ thể các quyền đó (người nắm giữ quyền) được bảo đảm các điều kiện thuận lợi nhất trong một thời gian nhất định đủ để khai thác nhằm không những bù đắp các chi phí đầu tư tạo ra giá trị của các đối tượng đó mà còn có thể thu được lợi nhuận để tiếp tục tạo ra các thành tựu mới Một cách tổng quát, mọi đối tượng nói trên đều được coi là đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu công nghiệp, các quan hệ xã hội liên quan tới các đối tượng đó được điều chỉnh chủ yếu theo nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ sở hữu
Tuy nhiên, để được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, cần phải xác lập quyền sở hữu công nghiệp Điều 752, Bộ luật Dân sự qui đinh các căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng, gồm có:
+ Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyền đối với giống cây trồng
Trang 27được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện việc đăng ký các đối tượng đó theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ
+ Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở
sử dụng hợp pháp tên thương mại đó
+ Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ
sở có được thông tin tạo thành bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và sự bảo mật thông tin đó
+ Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh
Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng đảm bảo việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cho người được bảo hộ Pháp luật Việt Nam cho phép chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp như qui định trong Điều 753, Bộ luật Dân
sự, cụ thể như sau:
+ Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, quyền đối với giống cây trồng có thể được chuyển giao toàn bộ hoặc một phần theo hợp đồng hoặc để thừa kế, kế thừa
+ Quyền đối với tên thương mại chỉ được phép chuyển giao cùng với việc chuyển giao toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại
đó
+ Quyền đối với chỉ dẫn địa lý không được chuyển giao
+ Đối với hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp phát sinh trên cơ
sở đăng ký thì chỉ khi hợp đồng đó được đăng ký mới có giá trị pháp lý đối với người thứ ba
1.2 Những khía cạnh thương mại liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
1.2.1 Quyền sở hữu công nghiệp trong thương mại, thương mại quốc tế và các quy định của WTO về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
Trang 281.2.1.1 Khái quát về sự ra đời của WTO
Hội nghị Bretton Woods năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (International Trade Organization - ITO) với mục đích thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm tại Havana tháng 3 năm
1948 Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này Một số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanh nghiệp Hoa
Kỳ lo ngại rằng Tổ chức Thương mại Quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Lisa Wilkins, 1997)
Việc thành lập ITO không thành, nhưng Hiệp định mà ITO định dựa vào để điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Đến ngày 1 tháng 1 năm 1995, do kết quả của vòng đàm phán Urugoay tổ chức Thương mại thế giới WTO đi vào hoạt động chính thức
Từ GATT đến WTO
GATT ra đời sau Đại chiến Thế giới lần thứ II trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên nhằm điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm mà điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (Internaltional Monetary Fund - IMF) ngày nay Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, về thương mại hàng hoá, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm, dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (Internaltional Trade Oganization - ITO) với tư cách là cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang
áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục
Trang 29tiêu tự do hoá mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên
Hiến chương thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thoả thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ 11/1947 đến 24/3/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được
Mặc dù vậy, kiên trì với các mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ
đã đạt được ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào tháng 1/ 1948
Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ Hiệp Uruguay (1986 - 1994), do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập chung xây dựng các Hiệp định, hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thoả thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh (Marốc), kết thúc Hiệp định Uruguay, các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT Theo đó, WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) ra đời trên cơ sở kế tục tổ chức tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (The General Agreement on Tariffs and Trade - GATT) Đây là tổ chức quốc tế duy nhất đề ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO
Trang 30chính là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và ký kết WTO là tổ chức bao trùm, chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện tất cả các hiệp định đa biên
và nhiều bên đã được đàm phán ở vòng đàm phán Uruguay và những hiệp định sẽ được đàm phán trong tương lai
Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và
mở rộng Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một
tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể Trụ sở chính của tổ chức WTO đặt tại Geneva, Thụy Sỹ Tính đến ngày 11 tháng 1 năm 2007, WTO có 150 nước là thành viên (trong đó có Việt Nam)
Các nguyên tắc cơ bản của WTO
+ Không phân biệt đối xử - Quy tắc tối huệ quốc (MFN), qui tắc quan trọng
này của GATT đặt ra dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại trong Tổ chức Quy tắc này đòi hỏi thuế quan và các qui định khác sẽ được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu hay xuất khẩu mà không được phân biệt đối xử giữa các nước Như vậy qui tắc này không để cho một nước đánh thuế quan vào hàng hóa nhập khẩu từ một nước này với thuế suất cao hơn thuế suất được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ nước khác Tuy vậy, vẫn có những ngoại lệ đối với qui tắc này ví dụ như, những nước có thể thiết lập một thỏa thuận tự do thương mại, thương mại hàng hóa chỉ áp dụng trong nhóm nước đó, được hưởng thuế suất ưu đãi hay được miễn thuế, phân biệt với những hàng hóa đến từ ngoài nhóm Hoặc các quốc gia có thể thỏa thuận cho phép các quốc gia đang phát triển những ưu đãi đặc biệt để tiếp cận những thị trường của họ Hoặc một quốc gia có thể nâng cao hàng rào thương mại chống lại những sản phẩm được coi là thương mại không lành mạnh từ những nước đặc biệt nào đó Và trong lĩnh vực dịch vụ, các nước được cho phép phân biệt đối xử trong một giới hạn nào đó Nhưng những thỏa thuận chỉ cho phép áp dụng những ngoại lệ đó dưới những điều kiện nghiêm ngặt Nhìn chung, đãi ngộ tối huệ quốc có nghĩa rằng mỗi khi một quốc gia hạ thấp rào cản thương mại hay mở cửa thị trường, quốc gia đó phải áp dụng tương tự cho các hàng hóa, dịch vụ từ mọi quốc gia khác cùng là thành viên thương mại mặc dù là nước giầu hay nghèo, mạnh hay yếu
Trang 31+ Đẩy mạnh tự do hóa thương mại thông qua đàm phán Kể từ khi
GATT ra đời vào năm 1947, đã có 8 vòng đàm phán Qua đó, các quốc gia dần dần xóa bỏ các rào cản thương mại, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương
+ Dễ dự đoán: các quốc gia thành viên cam kết không tăng một cách tuỳ tiện
các hàng rào thương mại (thuế quan và phi thuế quan khác) Do đó, khuyến khích được đầu tư do các nhà đầu tư luôn quan tâm đến một môi trường đầu tư ổn định Qua đó, bài toán thất nghiệp cũng được giải quyết phần nào và chính người tiêu dùng cũng được hưởng lợi từ môi trường lành mạnh như vậy Hệ thống thương mại
đa phương là một nỗ lực lớn của các chính phủ để tạo ra một môi trường thương mại ổn định và có thể dự đoán
Hệ thống thương mại này cũng cố gắng cải thiện khả năng dễ dự đoán và sự
ổn định theo những cách khác Một trong những cách làm phổ biến là ngăn chặn việc sử dụng hạn ngạch và các biện pháp khác của các nước hạn chế số lượng hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, WTO cũng giúp các nguyên tắc thương mại của các nước trở nên rõ ràng và minh bạch hơn Rất nhiều hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công khai chính sách
+ Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng: WTO đôi khi được
miêu tả như là một hệ thống "thương mại tự do", tuy nhiên điều đó không hoàn toàn chính xác Hệ thống này vẫn cho phép có sự tồn tại của thuế quan và, trong một số trường hợp nhất định, vẫn cho phép có các biện pháp bảo hộ Như vậy, nói một cách chính xác hơn thì WTO đem lại một sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng hơn
WTO cũng có thể hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định
Trang 32+ Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi Các ưu đãi này
được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quyền
và không phải thực hiện một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ hay thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách
Qua các vòng đàm phán, lợi ích của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển đã tăng lên khá nhiều Sau vòng đàm phán Uruguay, các nước giàu trong WTO đã cam kết sẽ rộng mở hơn nữa đối với hàng hoá xuất khẩu từ những nước kém phát triển và trợ giúp kỹ thuật cho các nước này Gần đây, những nước phát triển đã bắt đầu cho phép nhập khẩu tự do, không thuế, không hạn ngạch đối với tất
cả những sản phẩm từ hầu hết quốc gia kém phát triển trong WTO
1.2.1.2 Quyền sở hữu công nghiệp trong khuôn khổ WTO
Hệ thống WTO hình thành từ vòng đàm phán Urugoay giờ đây bao gồm một
số hiệp định trong đó có Hịêp định TRIPs Cho tới nay, đây là hiệp định đa phương tổng thể nhất về bảo hộ quyền vực sở hữu trí tuệ trong đó có bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.Về nguyên tắc bảo hộ sở hữu trí tuệ, Hiệp định TRIPS tái khẳng định đồng thời mở rộng các qui định của Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và Công ước Bern năm 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
Theo Hiệp định TRIPs, các thành viên có thể, nhưng không bị bắt buộc, áp dụng trong luật của nước mình mức bảo hộ cao hơn so với các yêu cầu của Hiệp định TRIPS, nghĩa là việc bảo hộ đó không trái với các điều khoản của hiệp định Điều này nhằm đảm bảo cho mỗi quốc gia thành viên có một hệ thống sở hữu trí tuệ đầy đủ và hiệu quả
Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ thuộc sự điều chỉnh của hiệp định TRIPs bao gồm: Quyền tác giả và các quyền liên quan; Thương hiệu; Chỉ dẫn địa lý; Kiểu dáng công nghiệp; bằng phát minh sáng chế; thiết kế bố trí mạch tích hợp; bảo hộ thông tin bí mật; Và hạn chế các hoạt động chống cạnh tranh trong các hợp
Trang 33đồng chuyển giao quyền sử dụng Như vậy quyền sở hữu công nghiệp là một trong hai nội dung của quyền sở hữu trí tuệ được Hiệp định TRIPs điều chỉnh
Hiệp định TRIPS được các nước thành viên hiện tại của WTO bắt buộc áp dụng và cũng sẽ áp dụng cho các thành viên tương lai Khi được áp dụng đầy đủ, Hiệp định TRIPS sẽ tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ gần như trên phạm vi toàn thế giới - tạo ra sức mạnh chưa có hiệp ước quốc tế nào đạt tới
Hiệp định TRIPS bao trùm tất cả các quyền sở hữu trí tuệ chính, gồm cả các lĩnh vực và quyền chưa được luật quốc tế hay trong một số trường hợp cả luật quốc gia của các nước công nghiệp đề cập tới Việc thực thi hiệp định này sẽ áp đặt các thay đổi về luật sở hữu trí tuệ của một số nước thành viên WTO không có bất kỳ ngoại lệ nào Những thay đổi này cũng tác động mạnh đến luật, quy định và các thủ tục hiện hành của các nước đang phát triển áp dụng trong lĩnh vực kinh tế xã hội như nông nghiệp, y tế, giáo dục và văn hoá khi trở thành thành viên WTO Nội dung chính của hiệp định TRIPS có thể phân chia thành 5 nhóm: tiêu chuẩn, thực thi, giải quyết tranh chấp, các quy định và nguyên tắc chung Cuối cùng là những thoả thuận chuyển đổi Dưới đây tác giả luận văn sẽ phân tích tóm lược 5 nhóm nội dung liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Nhóm thứ nhất là những quy định và nguyên tắc chung :
Hiệp định TRIPS đưa ra những nguyên tắc cơ bản về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như không phân biệt đối xử giữa những người nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ trong nước với người nước ngoài (Đãi ngộ quốc gia) và giữa những người nước ngoài khác nhau (Tối Huệ Quốc) Hiệp định TRIPS cho phép các nước tự do quyết định chính sách “nhập khẩu song song” đối với các hàng hoá nhập khẩu mà người nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ đưa ra ở thị trường khác một cách hợp pháp
Nhóm thứ hai là các tiêu chuẩn liên quan đến khả năng đạt được, phạm vi
và việc sử dụng các quyền sở hữu công nghiệp:
Hiệp định TRIPS đưa ra những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu do các nước thành viên đề xuất trong mỗi lĩnh vực chính của sở hữu trí tuệ Lĩnh vực sở hữu công
Trang 34nghiệp bao gồm cấp bằng sáng chế (patent); thông tin bí mật (bí mật thương mại, dữ liệu kiểm định); nhãn hiệu hàng hóa; chỉ dẫn địa lý; kiểu dáng công nghiệp và thiết
kế các mạch tích hợp Bảo hộ giống cây trồng; bản quyền và các quyền liên quan (đó là các quyền của nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản xuất băng ghi âm, các tổ chức phát thanh truyền hình)
+ Bằng sáng chế (Patent) cấp cho tác giả phát minh quyền ngăn chặn những
người sử dụng, mua bán hoặc sản xuất theo phát minh đã đăng ký bảo hộ của mình trong một thời hạn nhất định (trong một quốc gia cụ thể) Thời hạn bảo hộ tối thiểu
mà Hiệp định TRIPS yêu cầu là 20 năm kể từ ngày xin đăng ký Một số nước thừa nhận mô hình patent nhỏ cấp quyền bảo hộ một thời gian ngắn hơn cho những phát triển, cải tiến nhỏ có đầu tư thêm vào thiết kế, chế tạo
+ Bằng sáng chế (Patent) về sở hữu kiểu dáng công nghiệp bảo hộ quyền về
mẫu mã và mỹ thuật của sản phẩm Hiệp định TRIPS yêu cầu sở hữu lĩnh vực này tối thiểu là 10 năm
+ Bằng sáng chế (Patent) về sở hữu thương hiệu và nhãn hiệu dịch vụ, bảo
hộ quyền của một thương hiệu hoặc nhãn hiệu của một sản phẩm, một dịch vụ hay một mặt hàng Mục tiêu chính là để giảm chi phí tìm kiếm của người tiêu dùng và tránh cho người tiêu dùng khỏi nhầm lẫn về chất lượng và xuất xứ của sản phẩm Ví
dụ, qua mẫu mã và kiểu dáng, có thể nhận biết ngay đặc điểm địa lý, chất lượng của một loại rượu vang, rượu mạnh hay hoa quả, thực phẩm của một vùng hay hãng sản xuất danh tiếng nào đó
+ Một lĩnh vực tương tự là thiết kế các mạch tích hợp Những phát minh loại này được bảo hộ “riêng”, hay còn gọi là bảo hộ “đặc biệt”, bởi việc này tuy có sáng tạo nhưng không nhiều nên mới được cấp cả bằng sáng chế (patent) lẫn bằng bản quyền với thời hạn khoảng 10 năm
Nhóm thứ ba là thực thi quyền sở hữu công nghiệp:
Lần đầu tiên, trong các luật quốc tế về IPRs, điều khoản chi tiết về thủ tục dân
sự và hành chính, các chế tài, biện pháp đặc biệt liên quan đến phạm vi biên giới và
Trang 35vấn đề tội phạm được đặt ra Các điều khoản này xác định thủ tục pháp lý, hình phạt tối thiểu để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại các cơ quan pháp luật, toà án hành chính Trường hợp có vi phạm, chủ sở hữu quyền có thể lựa chọn cách giải quyết thông qua các cơ quan xét xử, hành chính và hải quan với việc áp dụng các biện pháp như lệnh và các biện pháp trừng phạt hoặc tịch thu hay tiêu huỷ hàng giả nhãn hiệu Trường hợp vi phạm nghiêm trọng, chủ sở hữu quyền có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời như đình chỉ việc lưu thông hàng hoá Hiệp định TRIPs yêu cầu các thành viên phải đảm bảo các thủ tục thực thi quyền phải được quy định trong luật quốc gia của từng thành viên để tạo khả năng khiếu kiện có hiệu quả đối với mọi hành vi vi phạm
Nhóm thứ tư liên quan đến các thỏa thuận về giai đoạn quá độ:
Các nghĩa vụ ghi trong hiệp định áp dụng một cách công bằng cho tất cả các thành viên Các nước phát triển được phép trì hoãn thực hiện Hiệp định trong vòng
1 năm kể từ ngày hiệp định có hiệu lực; Thời hạn này đối với các nước đang phát triển là 05 năm và các nước kém phát triển là 11 năm Riêng sản phẩm dược được nới rộng cho các nước LDCs đến năm 2016 Theo GianCarlo Moschini, Intellectual property and World Trade Organisation: Retrospect and Prospects, May 2003
Thực hiện các cam kết của WTO cụ thể là thực thi Hiệp định bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ là nghĩa vụ không thể thoái thác nhưng đồng thời cũng đem lại lợi ích
to lớn cho các nước thành viên của tổ chức kinh tế quốc tế này
Nếu Thành viên là nước đang phát triển bị Hiệp định này ràng buộc nghĩa vụ
mở rộng việc bảo hộ patent cho sản phẩm sang những lĩnh vực công nghệ chưa được bảo hộ trong lãnh thổ của Thành viên đó vào ngày Thành viên phải thi hành Hiệp định này theo thời hạn chung quy định tại khoản 2 thì Thành viên đó có thể hoãn thêm 5 năm nữa việc thi hành các quy định về các patent cho sản phẩm tại Mục 5, Phần II của Hiệp định này đối với những lĩnh vực công nghệ đó
Nhóm thứ năm là giải quyết tranh chấp:
Hiệp định TRIPS quy định rằng các phán quyết của toà án về các vụ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phải được thể hiện bằng văn bản, có nêu rõ lý do và được thông
Trang 36báo kịp thời cho các bên Các phán quyết phải dựa trên bằng chứng và các bên nhất thiết phải có một cơ hội để trình bày ý kiến Mặc dù các nước thành viên không bắt buộc phải thiết lập một hệ thống xét xử riêng, song nhất thiết phải quy định các thủ tục xem xét tại toà án tất cả các quyết định hành chính cuối cùng
Phần III, các Mục từ Mục 2 đến Mục 5 của Hiệp định TRIPS quy định các biện pháp trừng phạt hình sự, dân sự và hành chính Trường hợp có vi phạm, chủ sở hữu quyền có thể lựa chọn cách giải quyết thông qua các cơ quan xét xử, hành chính và hải quan với việc áp dụng các biện pháp như lệnh và các biện pháp trừng phạt hoặc tịch thu hay tiêu huỷ hàng giả nhãn hiệu Trường hợp vi phạm nghiêm trọng, chủ sở hữu quyền có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời như đình chỉ việc lưu thông hàng hoá
Hiệp định TRIPS quy định các tranh chấp giữa các thành viên WTO về sự tuân thủ nghĩa vụ theo hiệp định TRIPS và sẽ chịu sự điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
1.2.1.3 Các cam kết của Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong WTO
Nhận thức được vai trò to lớn và tầm quan trọng của WTO đối với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu cũng như đối với sự tăng trưởng kinh tế của từng quốc gia, Việt Nam quyết định xin gia nhập WTO nhằm mở rộng các mối quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với các Thành viên khác, thể hiện quyết tâm vững chắc đối với việc tiếp tục tiến trình hội nhập nền kinh tế vào hệ thống thương mại thế giới Nhận thức được việc trở thành Thành viên của WTO sẽ gắn liền với cả quyền lợi được hưởng lẫn nghĩa vụ phải thực hiện, Việt Nam cam kết lấy các nguyên tắc của WTO làm nền tảng cho các chính sách thương mại của mình Việt Nam đã và đang tiến hành rà soát và sửa đổi luật pháp để từng bước phù hợp với các quy định và nguyên tắc của WTO
Liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Việt Nam đã đưa ra các cam kết khi gia nhập WTO về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có bảo hộ
Trang 37quyền sở hữu công nghiệp, cụ thể nước ta đã và đang thực hiện những cam kết cơ bản sau:
+ Xây dựng một khung pháp lý về sở hữu công nghiệp hoàn thiện, đầy đủ và đạt tiêu chuẩn theo quy định của Hiệp định TRIPs
+ Tham gia một loạt các điều ước khác của quốc tế về sở hữu trí tuệ: bản quyền, sử dụng tín hiệu vệ tinh
+ Xây dựng một hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả
Trong các cam kết trên, Việt Nam đã đạt được cam kết thứ nhất về khung pháp luật được coi là đầy đủ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Tất cả các đối tượng
mà trên thế giới bảo hộ thì Việt Nam đều đã bảo hộ trong đó tập trung vào 3 nhóm chính thuộc 3 ngành khác nhau là: bản quyền, sở hữu công nghiệp và giống cây trồng Khung pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp sẽ được tác giả nêu chi tiết trong chương II của Luận văn
Về việc thực hiện cam kết thứ hai, Việt Nam là thành viên của Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp và Thoả ước Madrid về Đăng ký quốc tế nhãn hiệu từ năm 1949; Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới từ năm 1976;
và Hiệp ước Hợp tác bằng sáng chế từ tháng 3/1993 Việt Nam là thành viên chính thức của Công ước Bern từ ngày 26/10/2004, Công ước Geneva từ ngày 6/7/2005, Công ước Brussels từ ngày 12/1/2006 và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu từ ngày 11/7/2006 Việt Nam cũng đã ký kết các hiệp định song phương về bảo hộ sở hữu trí tuệ với Hoa Kỳ và Thuỵ Sĩ Việt Nam đã tham gia Công ước Rome và Liên hiệp quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV) vào cuối năm 2006 Luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 quy định việc áp dụng trưc tiếp, toàn bộ hay một phần các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên do Quốc hội quyết định Trong trường hợp
có quy định khác nhau giữa luật pháp Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, quy định của điều ước quốc tế sẽ được áp dụng theo quy định tại Điều 5.3 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 Các qui định cụ thể về
Trang 38bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của một số công ước quốc tế này sẽ được đề cập
cụ thể trong chương sau
Tuy nhiên, Việt Nam lại gặp khó khăn khi triển khai việc thực hiện cam kết thứ ba trong WTO về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Lí do là ở nước ta việc thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp chưa đầy đủ và chưa hiệu quả Điều này liên quan đến những chủ sở hữu công nghiệp cũng như những đối tượng vi phạm Bởi tình hình xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam vẫn diễn biến phức tạp và chưa có dấu hiệu thuyên giảm Thực trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp và công tác thực thi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng như nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém trong thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam sẽ được trình bày cụ thể ở chương II của Luận văn
1.2.2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ góc độ thương mại
Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là sản phẩm trí óc của con người, tri thức nhân loại Tài sản trí tuệ đang tiến dần tới chỗ là thước đo khả năng tồn tại và thành đạt trong tương lai của các công ty Tại châu Âu, ngay từ đầu những năm 1990 tài sản vô hình đã chiếm hơn 1/3 tổng giá trị tài sản Đầu năm 1992 tài sản vô hình đã chiếm hơn 35% tổng đầu tư thuộc khu vực nhà nước và tư nhân ở Hà Lan [4, trang
6]
Với những lý do này, sở hữu trí tuệ đôi khi được gọi là “giá trị ẩn”, nhưng dù được gọi là ẩn hay cụ thể thì rõ ràng đó là những yếu tố quan trọng đóng góp vào giá trị thương mại của doanh nghiệp
Bất kỳ một sự sử dụng bất hợp pháp nào về quyền sở hữu công nghiệp cũng
là sự xâm phạm quyền lợi của người sở hữu chúng Trước kia, khi sự trao đổi buôn bán giữa các quốc gia là hạn hẹp thì sự xâm phạm này chỉ tác động ở phạm vi từng quốc gia, ở phạm vi thương mại trong một nước Và các vấn đề nảy sinh do những
vi phạm này chủ yếu được xem xét ở cấp độ quốc gia Tuy vậy, trong những năm gần đây, có một thực tế ngày càng được chứng minh là các tiêu chuẩn được các nước sử dụng để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của họ cũng như hiệu quả trong
Trang 39thực thi những tiêu chuẩn này đã tác động đến sự phát triển của thương mại quốc tế
Có rất nhiều lý do, trong đó những lý do sau đây cho thấy sự cần thiết phải bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ góc độ thương mại:
Thứ nhất, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ ngày càng được tập trung và chú trọng tại các nước phát triển Kết quả là các sản phẩm xuất khẩu- sản phẩm truyền thống như hóa chất, phân bón… và các sản phẩm tương đối hiện đại như thiết bị viễn thông, vi tính….chứa đựng các yếu tố sáng tạo và kỹ thuật gắn với quyền sở hữu công nghiệp Ngoài ra, để tạo ra được sản phẩm tích hợp được nhiều tinh túy của trí óc con người không phải là chuyện đơn giản mà mất rất nhiều công sức trí tuệ và tiền bạc để đâu tư, sản xuất thử, sản xuất thật…Bởi vậy, các doanh nghiệp sản xuất đều mong muốn có sự đảm bảo sao cho bất kỳ sản phẩm nào đưa ra thị trường thì các chủ sở hữu của các đối tượng sở hữu công nghiệp phải được bảo
hộ đầy đủ Điều này sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể bù đắp được những chi phí giành cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm mà họ đã phải bỏ ra
Thứ hai, cùng với việc nhiều nước đang phát triển loại bỏ dần các rào cản đối với đầu tư nước ngoài, các cơ hội mới đang xuất hiện đối với việc sản xuất các sản phẩm được cấp phép tại nước này dưới hình thức chuyển quyền sử dụng hoặc liên doanh Tuy nhiên, việc chuyển quyền sử dụng hoặc liên doanh này có đạt được một cách hiệu quả hay không lại phụ thuộc vào hệ thống các qui định về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp của nước chủ nhà tiếp nhận như thế nào để đảm bảo quyền sở hữu công nghiệp của họ đối với công nghệ và không bị chiếm hữu bởi các đối tác địa phương do có sự thay đổi trong chính sách
Thứ ba, bên cạnh việc cải tiến kỹ thuật sản xuất sản phẩm để đưa sản phẩm vào lưu thông thương mại quốc tế là một cách tối ưu nhằm thu lợi nhuận thì việc làm hàng nhái và hàng giả cũng phát triển vì các sản phẩm nhái lại trở nên rẻ và đơn giản Tại những nước mà pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không được thực thi nghiêm chỉnh đã gây nên sự gia tăng sản xuất hàng giả và hàng sản xuất bất hợp pháp, không chỉ đối với hàng bán trong nước và mà cả đối với hàng xuất khẩu
Trang 40Ngày nay, các quốc gia đã có nhận thức rõ ràng hơn rằng sở hữu trí tuệ là một trong những tài sản giá trị nhất hoặc thường là tài sản giá trị nhất trong giao dịch thương mại, cho dù đó là thỏa thuận lixăng, hay về sản xuất, mua bán hoặc phân phối… Li-xăng sử dụng bằng độc quyền sáng chế, tư liệu được bảo hộ quyền tác giả và nhãn hiệu hàng hóa thường được kết hợp với chuyển giao bí quyết dưới hình thức đào tạo và là một yếu tố ngày càng quan trọng trong các giao dịch nói trên Quan niệm cho rằng hệ thống sở hữu trí tuệ cấp những độc quyền mà việc sử dụng được thực hiện bằng cách phong tỏa các đối thủ cạnh tranh ngày càng tỏ ra sai lầm trong thực tế, sở hữu trí tuệ được sử dụng để cấp li-xăng cho sản phẩm và công nghệ và để ngăn chặn người khác sử dụng chúng thường ở mức độ như nhau Các lixăng này cho phép chủ sở hữu của quyền sở hữu trí tuệ hưởng thu nhập từ phí sử dụng và người được cấp lixăng nhận những sản phẩm và công nghệ mà có thể bằng cách khác họ không thể tiếp cận được Trong các giao dịch đó, những người được cấp lixăng cũng có thể đạt được quyền để cải tiến hoặc sáng tạo tác phẩm phát sinh
và để phát tiển tài sản thành sở hữu trí tuệ của riêng mình, sau đó, các tài sản này lại
có thể được sử dụng để cấp lixang chéo hoặc lixăng cho những người khác Giao dịch này xét từ góc độ thương mại, tạo ra một chu trình rất có kết quả đối với sáng chế và giao dịch kinh doanh
Gần đây, vai trò của hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được đưa ra ngày càng quan trọng và được chú ý, được coi như là công cụ để phân tích về kế hoạch công nghiệp và ra quyết định Hai công cụ chính này được sử dụng hiệu quả
có thể mang lại lợi ích thương mại cho công ty Trước hết, khía cạnh thông tin trong
hệ thống sáng chế: nhận thức về trình độ phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực cụ thể có thể tránh được sự chùng chéo trong công việc nghiên cứu bởi các chỉ
số mà công nghệ mong muốn đã tồn tại Nó cũng cung cấp những sáng kiến cho sự phát cải tiến công nghệ tương lai và có thể đưa ra một sự hiểu biết về những hoạt động công nghệ của đối thủ cạnh tranh và bởi các nước mà những sáng chế đã được làm ra, chiến lược marketting của đối thủ cạnh tranh Tìm hiểu về trình độ phát triển