Những giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VŨ THỊ XUÂN THƠ
NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Quy
HÀ NỘI - 2004
Trang 2MỤC LỤC
Phần mở đầu
Trang
Chương 1 Tổng quan về dịch vụ tài chính 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về dịch vụ tài chính và vai trò của
nó đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân
4
1.1.4 Vai trò của các dịch vụ tài chính đối với sự phát triển nền
kinh tế quốc dân
10
1.2 Những yêu cầu hội nhập kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ tài
chính và những cam kết của Việt nam
1.2.1.2 Những quy định trong Hiệp định khung về Hợp tác dịch vụ
của ASEAN đối với thị trường dịch vụ tài chính
16
1.2.1.3 Những quy định trong Hiệp định thương mại Việt nam -
Hoa Kỳ đối với thị trường dịch vụ tài chính
16
1.2.2 Những cam kết của Việt nam trong các Hiệp định về lĩnh vực
dịch vụ tài chính
17
1.2.2.1 Cam kết về dịch vụ tài chính của Việt Nam trong Hiệp định
khung về Hợp tác dịch vụ của ASEAN
17
1.2.2.2 Cam kết về dịch vụ tài chính trong Hiệp định thương mại
Việt nam - Hoa Kỳ
22
Chương 2 Thực trạng thị trường dịch vụ tàI chính việt nam trong những
năm gần đây
28
2.1 Khái quát chung về thị trường dịch vụ tài chính Việt nam 28
Trang 32.2.2 Một số vấn đề cũn tồn tại 37
2 2.4 Những bất cập của thị trường dịch vụ bảo hiểm so với yờu
cầu hội nhập quốc tế
43
2.3.4 Những bất cập của thị trường dịch vụ ngõn hàng so với yờu
cầu hội nhập quốc tế
64
Chương 3 CÁC GIảI PHÁP NHằM PHÁT TRIểN THị TRườNG DịCH
Vụ TÀI CHÍNH VIệT NAM đÁP ứNG YờU CầU HộI NHậP
3.2 Định hướng, giải phỏp phỏt triển thị trường dịch vụ bảo
hiểm đỏp ứng yờu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
79
3.2.1 Định hướng phỏt triển dịch vụ bảo hiểm 79
3.2.1.1 Cỏc quan điểm về việc phỏt triển dịch vụ bảo hiểm 79
3.2.2 Giải phỏp phỏt triển thị trường dịch vụ bảo hiểm 83
3.3 Định hướng, giải phỏp phỏt triển thị trường dịch vụ ngõn
hàng đỏp ứng yờu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
87
3.3.1 Định hướng phỏt triển dịch vụ ngõn hàng 87
3.3.1.1 Cỏc quan điểm về việc phỏt triển dịch vụ ngõn hàng 87
3.3.2 Cỏc giải phỏp phỏt triển thị trường dịch vụ ngõn hàng 90
3.3.2.1 Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Nhà n-ớc 90
3.3.2.2 Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng th-ơng mại 92
Kết luận
Trang 4Tôi cũng xin cảm ơn các các cô chú, anh chị ở Bộ tài chính, Bộ thương mại, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Ngoại thương đã hỗ trợ tài liệu - một phần không thể thiếu để bản Luận văn được hoàn chỉnh
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã
hỗ trợ, ủng hộ về tinh thần để tôi có thể hoàn thành Luận văn
Do hạn chế về năng lực và thời gian nghiên cứu, Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong được sự góp ý chỉ bảo của thầy cô và các bạn bè đồng nghiệp
Hà nội, ngày 20 tháng 6 năm 2004
Tác giả
Vũ Thị Xuân Thơ
Trang 5BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
GATS Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ
BTA Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
AFAS Hiệp định khung về hợp tác dịch vụ ASEAN
MFN Quy chế Đãi ngộ Tối huệ quốc
NT Quy tắc Đãi ngộ quốc gia
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTMQD Ngân hàng Thương mại Quốc doanh
NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
VCB Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
INCOMBANK Ngân hàng Công thương
VBARD Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
TCTD Tổ chức tín dụng
GDP Tổng sản phẩm Quốc nội
TCTC Tổ chức tài chính
BHNT Bảo hiểm nhân thọ
BH PHI NT Bảo hiểm phi nhân thọ
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần á châu
EXIM Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu
UOB Ngân hàng United Overseas Bank Singapore
EAB Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
2.1 Doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 1993 - 2003 31 2.2 Tỷ trọng doanh thu PBH/GDP giai đoạn 1993 - 2003 32 2.3 So sánh doanh thu PBH nhân thọ và phi NT 35 2.4 So sánh doanh thu PBH/GDP một số nước năm 2001 38 2.5 Tỷ trọng dư nợ tín dụng tính đến 31/12/2003 50 2.6 Thị phần thẻ ATM của ngân hàng Ngoại thương Việt nam
năm 2003 so với các ngân hàng khác
55
2.7 Thị phần thẻ tín dụng quốc tế của ngân hàng Ngoại thương
Việt nam năm 2003 so với các ngân hàng khác
56
2.8 Doanh số bảo lãnh vốn vay trong nước và nước ngoài của 4
NHTMNN giai đoạn 1998 - 2002
57
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ phải thực hiện nhiều cam kết trong các Hiệp định như Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định khung về hợp tác dịch vụ ASEAN và Hiệp định chung về thương mại dịch
vụ (GATS) khi Việt Nam tham gia vào WTO Một trong những nội dung quan trọng của các cam kết đó là tận dụng mọi ngoại lực, phát huy hết mọi nội lực để xây dựng một thị trường dịch vụ tài chính vững mạnh Tuy nhiên tại Việt Nam, thị trường dịch vụ tài chính phát triển còn chậm Cho đến nay, một số yếu tố của thị trường còn chưa đầy đủ, hàng hoá đơn điệu, các quy định pháp lý chưa đủ và đồng bộ, do vậy chưa huy động được tối đa nguồn lực trong xã hội cho đầu tư Chính vì thế mà thị trường này chưa phát huy được đầy đủ vai trò của nó đối với nền kinh tế Do đó, việc đánh giá thực trạng thị trường dịch vụ tài chính trong những năm qua nhằm tìm ra các hạn chế, khó khăn cùng các nguyên nhân làm cho thị trường dịch vụ tài chính còn chậm phát triển, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế là hết sức cần thiết
Trang 8Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về
cơ sở lý luận và thực tiễn của thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động, những hạn chế của thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trong những năm gần đây, luận văn phân tích các nguyên nhân làm cho thị trường dịch vụ tài chính còn chậm phát triển nhằm đề xuất các giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về dịch vụ tài chính và vai trò của nó đối với sự phát triển nền kinh tế quốc tế
- Đánh giá thực trạng thị trường dịch vụ tài chính trong những năm gần đây: những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam trong những năm gần đây và những nội dung yêu cầu nhằm phát triển thị trường dịch vụ tài chính đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Luận văn cũng sẽ nghiên cứu thị trường dịch vụ tài chính của một số nước trên thế giới 5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Khái niệm dịch vụ tài chính là một khái niệm rộng, theo cách hiểu của GATS, dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)
Trang 9nhưng Luận văn chỉ giới hạn trong việc đánh giá thực trạng thị trường dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng, kết hợp với các lý luận, quan điểm kinh tế, tài chính và định hướng phát triển kinh tế tài chính của Nhà nước để phân tích, đánh giá hoạt động thị trường dịch vụ tài chính Việt nam
Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và xuất phát từ thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục Luận văn gồm 3 chương
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
.1.1 Khái niệm dịch vụ tài chính
Muốn hiểu được khái niệm dịch vụ tài chính, trước hết chúng ta cần phải làm rõ khái niệm dịch vụ
Về khái niệm dịch vụ, theo quan niệm phổ biến được dùng ở Việt nam
thì đó là hoạt động kinh tế tuy không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nhưng tạo ra giá trị thặng dư do khai thác sức lao động, tri thức, chất xám của con người đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thỏa mãn nhu cầu của con người và là một thành tố quan trọng đóng góp vào GDP Dịch vụ là sản phẩm lao động có hàm lượng tri thức cao của con người, kết tinh các hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực như kinh tế, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kế toán, tư vấn…
Cùng với sự vận động, phát triển nhanh chóng của nền kinh tế với sự trợ giúp của khoa học và công nghệ trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, lĩnh vực thương mại dịch vụ cũng có những bước phát triển vượt bậc, do vậy đòi hỏi phải tiếp cận khái niệm dịch vụ bằng cách khác, thống nhất với các quốc gia và các tổ chức quốc tế mà chúng ta đang xúc tiến hội nhập, tập trung vào cách tiếp cận của WTO và Hiệp định thương mại Việt nam - Hoa Kỳ Nhưng trên thực tế thì WTO không đưa ra một khái niệm cụ thể về dịch vụ, thay vào đó các khoản mục dịch vụ được phân tách theo nội dung và cách thức thực hiện chúng thông qua việc dẫn chiếu các ngành dịch vụ tới bảng phân loại hàng hóa trung tâm của Liên hiệp quốc Bởi dịch vụ là khái niệm tương đối trừu tượng nên việc xác định các phương thức giao dịch phức tạp hơn nhiều so với thương mại hàng hoá,
có thể là dịch vụ di chuyển qua biên giới tức là việc di chuyển độc lập với
Trang 11người cung cấp và người tiêu dùng; khách hàng di chuyển qua biên giới
để nhận dịch vụ được cung cấp; người sản xuất di chuyển qua biên giới để cung cấp dịch vụ qua việc thành lập cơ sở thương mại hoặc người cung cấp dịch vụ chỉ di chuyển tạm thời qua biên giới Chính vì vậy, GATS quy định rằng thương mại dịch vụ được định nghĩa như là việc cung cấp dịch vụ thông qua các phương thức (MODE) sau:
Phương thức 1 (Cung cấp qua biên giới): dịch vụ được cung cấp từ
lãnh thổ của một thành viên tới lãnh thổ của bất kỳ một thành viên nào khác
Phương thức 2 (Tiêu dùng ở nước ngoài): dịch vụ được cung cấp
trên lãnh thổ của một thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của bất kỳ một thành viên nào khác Phương thức này thường được đưa ra dưới dạng
“sự di chuyển của người tiêu dùng”
Phương thức 3 (Hiện diện thương mại): dịch vụ được cung cấp bởi
một người cung cấp dịch vụ của một thành viên, thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bất kỳ một thành viên nào khác Hiện diện thương mại không chỉ bao gồm sự hiện diện của pháp nhân mà còn có những tổ chức có tính pháp lý Hiện diện thương mại có thể là thành lập các chi nhánh hay đại lý để cung cấp các dịch vụ như ngân hàng, tư vấn pháp lý hay truyền thông
Phương thức 4: (Hiện diện thể nhân): dịch vụ được cung cấp bởi
một người cung cấp dịch vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện của thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác
Khái niệm dịch vụ tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, nguồn tài chính được chuyển từ người cung cấp tài chính đến người cầu tài chính bằng con đường trực tiếp, hoặc con đường gián tiếp qua các trung gian tài chính hoặc trung gian môi giới Các trung gian này thực thi các dịch vụ tài chính Theo cách hiểu này, các
Trang 12cả trung gian tài chính và trung gian môi giới) được gọi là dịch vụ có tính chất tài chính Và nơi diễn ra những hoạt động có tính chất tài chính đó được gọi là thị trường dịch vụ tài chính
Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO): Một dịch vụ tài chính là
bất cứ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm) 21
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ tài chính
Dịch vụ tài chính có những đặc điểm chung là:
- Tính vô hình: là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ tài chính
với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân Chính đặc điểm này làm cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch
vụ tài chính trở nên khó khăn ngay cả khi khách hàng đang sử dụng chúng Từ đặc tính vô hình của sản phẩm nên trong kinh doanh phải dựa vào lòng tin, các nhà cung cấp dịch vụ thường chú ý đến việc củng cố niềm tin đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao hình ảnh uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính đó
- Tính không thể tách biệt hay không thể chia cắt: quá trình cung cấp
dịch vụ tài chính và quá trình tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời và có sự tham gia của khách hàng Mặt khác quá trình cung ứng dịch vụ này được tiến hành theo những quy trình nhất định Sản phẩm dịch vụ tài chính không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho mà sản phẩm được cung cấp trực tiếp cho người sử dụng khi và chỉ khi khách hàng có nhu cầu Đặc tính này sẽ chi phối khi xác định giá (lãi, phí) của dịch vụ tài chính - kế toán cung cấp cho người sử dụng dịch vụ tồn tại và phát triển, tổ chức cung ứng dịch vụ cũng tồn tại và phát triển bền vững
Trang 13- Tính không ổn định và khó xác định: Một sản phẩm dịch vụ tài chính
dù lớn hay bé (xét về quy mô) đều không đồng nhất thời gian thực hiện, cách thức thực hiện, điều kiện thực hiện, vì vậy rất khó xác định Một sản phẩm dịch vụ tài chính được cấu thành bởi nhiều yếu tố như công nghệ, trình độ cán bộ, khách hàng Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dịch vụ, nhưng lại thường xuyên biến động Vì vậy nó không
ổn định, khó xác định chính xác
1.1.3 Các loại hình dịch vụ tài chính
Theo nghĩa rộng, dịch vụ tài chính gồm tất cả các dịch vụ có tính chất tài chính Như vậy, dịch vụ tài chính bao gồm các phân ngành dịch vụ như: phân ngành dịch vụ tài chính (gồm các dịch vụ bảo hiểm; kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính; dịch vụ chứng khoán và một số dịch vụ hỗ trợ khác); phân ngành dịch vụ ngân hàng
Tuy nhiên theo tiêu chí về tổ chức quản lý, phạm vi của dịch vụ tài chính còn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn và chỉ bao gồm các các dịch vụ thuộc phân ngành dịch vụ tài chính, đó là dịch vụ bảo hiểm; dịch vụ ngân hàng; dịch vụ kế toán, kiểm toán; dịch vụ tư vấn tài chính (chủ yếu là tư vấn thuế); dịch vụ chứng khoán
Những ngành dịch vụ này hiện nay do nhiều ngành khác nhau quản lí
Ví dụ tại Việt Nam, ngành dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ kế toán - kiểm toán do Bộ tài chính quản lí, dịch vụ ngân hàng do ngân hàng nhà nước quản lý Trong quá trình nhà nước sử dụng công cụ tài chính tiền tệ để điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, các ngành dịch vụ này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động bổ trợ lẫn nhau, vì vậy nếu chỉ nhìn nhận dịch vụ tài chính theo nghĩa hẹp như nêu trên là không đầy đủ Tuy nhiên việc đánh giá dịch vụ tài chính theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các phân ngành dịch
vụ tài chính đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành Mặt khác, hiện nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau về việc sắp xếp dịch vụ chứng khoán
Trang 14ngành dịch vụ riêng Do đó, Luận văn chỉ dành tập trung đề cập đến hai
loại hình dịch vụ chủ yếu: đó là dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng
Theo WTO - phụ lục G quy định các loại hình dịch vụ bảo hiểm và bảo hiểm ngân hàng như sau:
Dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm:
Bảo hiểm trực tiếp nhân thọ;
Bảo hiểm phi nhân thọ;
Tái bảo hiểm và tái nhượng bảo hiểm;
Bảo hiểm qua trung gian như môi giới và đại lý
Dịch vụ Ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm):
Chấp nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản quỹ có thể thanh toán khác của công chúng;
Mọi loại hình cho vay, kể cả tín dụng người tiêu dùng, tín dụng cầm
đồ, cầm cố, dịch vụ về hoá đơn và tài trợ của các giao dịch thương mại;
Thuê mua tài chính
Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền;
Bảo lãnh và cam kết
Thương vụ tiến hành tự chịu chi phí hoặc nhân danh khách hàng, dù tại sở giao dịch và trên thị trường không chính thức hoặc các giao dịch khác về: công cụ thị trường tiền tệ (kể cả séc, hoá đơn, giấy chứng nhận tiền gửi); ngoại hối; các công cụ dẫn xuất nhưng không hạn chế bởi các giao dịch kỳ hạn hoặc quyền giao dịch; tỷ giá hối đoái và các công cụ về lãi suất, kể cả các công cụ như là giao dịch swap, thoả
Trang 15thuận tỷ giá kỳ hạn; chứng từ có thể chuyển nhượng; các công cụ có thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý
Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả việc bảo hiểm phát hành và với hoạt động đại lý (dù theo cách công hoặc tư nhân) và cung cấp dịch vụ liên quan tới những vấn đề trên
Môi giới tiền tệ
Quản lý tài sản có, như là tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư gián tiếp, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quĩ hưu trí, hùn vốn, góp vốn và dịch vụ tín thác
Dịch vụ thanh toán hoặc thanh toán bù trừ về tài sản tài chính, kể cả chứng khoán, các công cụ dẫn xuất và các công cụ có thể chuyển nhượng khác;
Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, và xử lý dữ liệu tài chính
và phần mềm liên quan do các người cung cấp dịch vụ tài chính thực hiện;
Các dịch vụ về tư vấn, trung gian và bổ trợ về tài chính về mọi mặt hoạt động đã nêu trên, kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu và tư vấn về đầu tư và đầu tư gián tiếp, tư vấn mua sắm và về cơ cấu lại hoặc chiến lược dịch vụ
Tuy nhiên, theo phụ lục của Hiệp định GATS về dịch vụ tài chính, một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một người cung cấp dịch vụ tài chính của một Thành viên cung cấp Dịch vụ tài chính không bao gồm “dịch vụ được cung cấp khi thi hành quyền hạn của cơ quan chính phủ” “Dịch vụ được cung cấp khi thi hành quyền hạn của cơ quan chính phủ” trong dịch vụ tài chính được hiểu như sau:
a Các hoạt động được tiến hành bởi Ngân hàng Trung ương, tổ chức tiền tệ hoặc bởi bất kỳ một pháp nhân công cộng nào thực hành
Trang 16b Các hoạt động tạo thành một bộ phận của hệ thống luật pháp về an ninh xã hội hay các chương trình hưu trí công;
c Các hoạt động khác do một pháp nhân công cộng tiến hành do Chính phủ chịu chi phí, đảm bảo hoặc sử dụng nguồn tài chính của Chính phủ
Nhưng nếu một thành viên cho phép bất kỳ một hoạt động nào được nêu tại điểm b hoặc c được người cung cấp dịch vụ tài chính của mình tiến hành và cạnh tranh với một pháp nhân công cộng hoặc một người cung cấp dịch vụ tài chính thì thuật ngữ “dịch vụ” vẫn được hiểu là bao gồm những hoạt động đó
Pháp nhân “công cộng” trong khuôn khổ WTO được hiểu là:
Chính phủ, Ngân hàng Trung ương hoặc một tổ chức tài chính của một Thành viên, hoặc một thực thể do một Thành viên sở hữu hoặc kiểm soát, chủ yếu tiến hành chức năng chính phủ hoặc các hoạt động vì mục đích của Chính phủ, không bao gồm pháp nhân chủ yếu cung cấp những dịch vụ tài chính trên cơ sở những điều kiện thương mại; hoặc Một pháp nhân tư nhân, thực hiện các chức năng mà thông thường vẫn
do một Ngân hàng trung ương hoặc tổ chức tiền tệ, khi thực hiện các chức năng này
.1.4 Vai trò của các dịch vụ tài chính đối với sự phát triển
nền kinh tế quốc dân
Dịch vụ nói chung và các dịch vụ hạ tầng nói riêng là tiền đề không thể thiếu cho phát triển kinh tế, trong đó dịch vụ tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến các vấn đề đặt ra đối với tất
cả các nhà đầu tư trong suốt quá trình hoạt động, từ khâu chuẩn bị đầu tư cho đến quá trình tổ chức hoạt động và kết thúc dự án đầu tư (vấn đề vốn,
ổn địch sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý ) Vì vậy, phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh của dịch vụ tài chính có ý nghĩa cực kỳ quan
Trang 17trọng đối với phát triển và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh
tế vì cũng như các dịch vụ hạ tầng khác, ở đây dịch vụ tài chính được xem như đầu vào của tất cả các ngành sản xuất Có thể khẳng định, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chỉ có thể nâng lên khi các ngành sản xuất trong nền kinh tế có thể tiếp cận được các đầu vào có chất lượng cao
Thẩm định và phân bổ hiệu quả vốn đầu tƣ
Để thẩm định các công ty hoặc các dự án là công việc khó khăn và tốn kém đối với những người đầu tư do không có phương tiện thu thập, xử lý thông tin về doanh nghiệp, thị trường và các điều kiện kinh tế Trong bối cảnh đó, các trung gian tài chính khi cung cấp dịch vụ tài chính đã có khả năng tốt hơn trong việc thu nhập, thẩm định thông tin, đánh giá và phân
bổ vốn Như vậy, những chủ thể đầu tư khác có thể dựa vào kết quả đánh
Trang 18giá của các trung gian tài chính để đầu tư tiết kiệm, phân bổ vốn một cách
có hiệu quả hơn, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Giám sát hoạt động của các chủ thể kinh tế
Trong việc cung cấp dịch vụ tài chính, các tổ chức trung gian tài chính thường bắt buộc khách hàng phải thực hiện sao cho có lợi nhất cho các cổ đông, các chủ nợ Nói cách khác, các trung gian tài chính giúp những người tiết kiệm giám sát những người đi vay bằng việc kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của các tổ chức này Việc giám sát tốt hoạt động của những người đi vay sẽ tạo điều kiện phân bổ vốn hiệu quả Vì những người có tiết kiệm sẽ tin tưởng và tăng cường đầu tư, qua đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn
Huy động vốn để tài trợ cho nền kinh tế
Sự phát triển của dịch vụ tài chính sẽ mang lại hiệu ứng quan trọng nhất là huy động các nguồn lực trong xã hội cho việc tài trợ các dự án, cung cấp vốn cho thị trường tài chính Việc huy động vốn trên phạm vi rộng lớn của các tổ chức trung gian tài chính được thực hiện thông qua sự huy động tiết kiệm của các ngân hàng thương mại, việc thu phí qua phát hành các hợp đồng bảo hiểm và thông qua việc huy động vốn của thị trường chứng khoán
Tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển mậu dịch
Các dịch vụ tài chính hiện đại hơn như séc, thẻ tín dụng và các cơ chế thanh toán đã tạo ra sự đơn giản hoá cho các hoạt động trao đổi mậu dịch, làm cho trao đổi mậu dịch trở nên dễ dàng hơn và nhờ đó sẽ kích thích sự phát triển của cả nền kinh tế
.2 NHỮNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH NÓI CHUNG VÀ NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM
Trang 19.2.1 Những yêu cầu hội nhập kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ
và phân biệt đối xử, nhằm đảm bảo cho tất cả các nhà cung cấp dịch vụ trong nước cũng như ngoài nước những cơ hội và điều kiện như nhau để tiếp cận thị trường Trong Thoả thuận về Các cam kết trong Dịch vụ Tài chính được quy định tại Phần III của GATS việc tiếp cận thị trường đối với 2 khu vực dịch vụ ngân hàng và bảo hiểm có thể được thực hiện theo
4 phương thức như đã trình bày ở trên: phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới, tiêu dùng ở nước ngoài, hiện diện thể nhân hoặc hiện diện thương mại
Những quy định của GATS có ảnh hưởng đến dịch vụ tài chính bao gồm hai nhóm chủ yếu:
• Nhóm thứ nhất là các quy định ràng buộc chung theo Hiệp định
bao gồm các quy tắc chung áp dụng cho mọi loại dịch vụ và những quy tắc bổ sung cụ thể áp dụng cho riêng lĩnh vực dịch vụ tài chính Các quy tắc chung sẽ áp dụng một cách tự động không phụ thuộc vào cam kết Các quy tắc này được coi như những nguyên tắc của GATS bao gồm: nguyên tắc tối huệ quốc (MFN), nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), nguyên tắc tiếp cận thị trường, minh bạch hoá chính sách, mở cửa thị trường
Nguyên tắc đối xử quốc gia
Điều XVII của GATS quy định “đối với những lĩnh vực dịch vụ được ghi trong danh mục cam kết, khi áp dụng bất kỳ biện pháp nào tác động đến việc cung cấp dịch vụ, mỗi thành viên sẽ dành cho dịch vụ và
Trang 20người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác, sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của chính mình” Do đó, các thành viên phải đưa
ra danh mục các lĩnh vực có thể áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cùng với những điều kiện hay hạn chế, nếu có Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia chỉ áp dụng cho những lĩnh vực dịch vụ có trong danh mục cam kết Các thành viên cũng có thể liệt kê các giới hạn hoặc những trường hợp chưa thể thực hiện nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được theo từng phương thức cung cấp dịch vụ
Nguyên tắc tối huệ quốc
Nguyên tắc này đòi hỏi một nước thành viên phải ngay lập tức và vô điều kiện dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ mà thành viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác
Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách liên quan đến dịch vụ tài chính
Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu tất cả các quy định, văn bản pháp lí liên quan, các điều ước quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ tài chính phải được công bố, ấn hành công khai; các biện pháp được nước thành viên sử dụng
có liên quan đến dịch vụ tài chính phải được thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ của WTO và thông báo ngay khi ban hành những văn bản mới
Nguyên tắc tiếp cận thị trường
Nguyên tắc tiếp cận thị trường đòi hỏi các nước thành viên cam kết dành cho dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ theo những điều kiện, điều khoản và hạn chế đã được thoả thuận và quy định tại Danh mục cam kết
cụ thể, tức là các nước thành viên tuỳ theo khả năng của mình, thông qua
Trang 21việc điều chỉnh luật lệ, quy định trong nước nhằm mục đích tăng khả năng thâm nhập thị trường của dịch vụ và người cung cấp dịch vụ nước ngoài theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ của GATS Một thành viên được coi
là mở cửa thị trường hoàn toàn đối với một khu vực dịch vụ nào đó và theo một phương thức cung cấp dịch vụ nào đó khi thành viên đó không duy trì bất kỳ một biện pháp nào hạn chế việc cung cấp dịch vụ như quy định ở điều XVI GATS Nếu không mở cửa hoàn toàn tức là mở cửa từng phần hay mở cửa có điều kiện, giới hạn Các giới hạn về mở cửa thị trường mà các nước thành viên đưa ra có thể là các mặt sau đây:
- Hạn chế về số lượng các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trên thị trường;
- Giới hạn về tổng giá trị dịch vụ giao dịch hoặc tài sản;
- Giới hạn về số lượng các hoạt động dịch vụ hay tổng sản lượng dịch vụ
- Giới hạn về tổng số các nhân viên nước ngoài trong một khu vực dịch vụ
cụ thể;
- Yêu cầu và hạn chế về các loại hình công ty hay liên doanh;
- Giới hạn về tỷ lệ vốn mà bên nước ngoài đóng góp hoặc tổng vốn đầu tư nước ngoài
Các cam kết của các nước thành viên phải được đưa vào “Danh mục các cam kết cụ thể” Mỗi danh mục cam kết thường được chia thành hai cấp độ: các cam kết nền chung cho mọi lĩch vực dịch vụ và những cam kết cụ thể cho từng khu vực dịch vụ riêng lẻ Ở mỗi cấp độ, những cam kết bao gồm 3 phần: giới hạn mức độ mở cửa thị trường, giới hạn áp dụng đối xử quốc gia và những cam kết bổ sung với các loại, như: cam kết đầy
đủ, cam kết có giới hạn hoặc không (chưa) cam kết
Cam kết đầy đủ là trường hợp một nước thành viên không áp đặt bất
kỳ một biện pháp nào để giới hạn việc mở cửa thị trường và áp dụng
nguyên tắc đối xử quốc gia Cam kết có giới hạn là cam kết của các nước
Trang 22thành viên nhưng có điều kiện, hạn chế về mở cửa thị trường và đãi ngộ
quốc gia Chưa cam kết là việc một nước thành viên chưa đưa ra cam kết
nào trong một lĩnh vực dịch vụ theo một phương thức cung cấp dịch vụ nào đó, nghĩa là nước đó được tự do trong việc đưa ra hay duy trì các biện pháp hạn chế việc mở cửa thị trường và đối xử quốc gia
• Nhóm thứ hai là các quy định mang tính chất tự nguyện được tập
hợp trong Bản thoả thuận về các cam kết trong dịch vụ tài chính Bản thoả thuận chỉ mang tính chất tự nguyện, tức là chỉ khi một thành viên cam kết
áp dụng bản thoả thuận thì những quy định của bản thoả thuận mới mang tính chất bắt buộc đối với riêng thành viên đó
1.2.1.2 Những quy định trong Hiệp định khung về dịch vụ của ASEAN đối với thị trường dịch vụ tài chính
Theo quyết định của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 tại Băng Cốc ngày 15/12/1995, các nước ASEAN đã ký Hiệp định khung về Hợp tác Dịch vụ ASEAN (AFAS - Asian framework agreement on Services) với các mục tiêu sau: tăng cường hợp tác về dịch vụ giữa các thành viên để nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh, đa dạng hoá năng lực sản xuất, cung cấp và phân phối dịch vụ giữa những người cung cấp dịch
vụ trong khối và ngoài khối ASEAN; xoá bỏ phần lớn các hạn chế đối với thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên; tự do hoá thương mại dịch
vụ bằng việc mở rộng phạm vi và mức độ tự do hoá mà các nước thành viên đã cam kết tại GATS với mục tiêu thành lập một khu vực tự do thương mại dịch vụ ASEAN vào năm 2020
Cũng giống như GATS, AFAS yêu cầu mỗi nước thành viên đưa ra một bản lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo hướng phù hợp nhất với điều kiện quốc gia về việc áp dụng chế độ đãi ngộ quốc gia và điều kiện tiếp cận thị trường đối với từng loại dịch vụ Tính pháp lí cuả AFAS chưa thực sự cao bởi mặc dù trên lí thuyết, một khi các nước thành viên đưa ra cam kết thì những cam kết này sẽ ràng buộc họ nhưng trên
Trang 23thực tế thì các cam kết này có thể được điều chỉnh trong từng trường hợp
BTA cũng chứa đựng những nội dung chủ yếu của GATS, tuy nhiên trong BTA còn có những cam kết cụ thể của Việt nam về dịch vụ tài chính
và thời điểm thực hiện những cam kết này Các quy định của Hiêp định có hiệu lực ngay từ khi hiệp định có hiệu lực mà không cần chờ sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật trong nước có liên quan Như vậy, có thể nói, trong số những cam kết quốc tế của Việt Nam về dịch vụ tài chính, những cam kết trong BTA có tính pháp lí cao nhất, tính ràng buộc chặt chẽ nhất Do đó, thực hiện tốt hiệp định này, cánh cửa vào WTO đã gần như rộng mở đối với Việt nam, vấn đề chỉ còn là nỗ lực của chính chúng
Tiến trình đàm phán dịch vụ ASEAN, đặc biệt là dịch vụ tài chính
đã diễn ra khá chậm chạp do phần lớn các nước thành viên đều muốn duy
Trang 24phán thì các nước đã là thành viên WTO thì phải cam kết cao hơn mức cam kết tại GATS, còn các nước chưa phải là thành viên thì các cam kết không được thấp hơn mức đã cho các nước ngoài ASEAN hưởng Đối với Việt Nam, mức độ cam kết được xây dựng trên cơ sở cơ chế hiện hành, cụ thể lấy Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam làm cam kết chung và đưa ra một số cam kết cụ thể đối với từng ngành dịch vụ riêng biệt
• Các cam kết chung (Horizontal) được áp dụng cho tất cả các ngành
dịch vụ, kể cả dịch vụ tài chính, có các nội dung chủ yếu sau:
- Hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép dưới hình thức văn phòng đại diện, liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Văn phòng đại diện không được phép tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam Các liên doanh thành lập dưới dạng công ty TNHH và có tư cách pháp nhân theo Luật Công ty của Việt Nam, tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài không thấp hơn 30% vốn pháp định của công ty Thời gian hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài không được vượt quá 50 năm (trong một số trường hợp đặc biệt thì không được vượt quá 70 năm) Về mặt đãi ngộ quốc gia, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào Việt Nam có quyền sở hữu các tài sản cố định (trừ đất đai) theo thời hạn trong giấy phép kinh doanh, được phép thuê đất song không được quyền thế chấp đất
- Hiện diện thể nhân: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dựa trên yêu cầu phát triển kinh doanh được phép thuê người nước ngoài, tuy nhiên chỉ cho các vị trí đòi hỏi trình độ quản lý và kỹ thuật mà Việt Nam chưa đáp ứng được, đồng thời cũng phải đào tạo lao động Việt Nam thay thế
• Cam kết cụ thể cho lĩnh vực dịch vụ tài chính:
Dịch vụ bảo hiểm: Việt Nam tiến hành cam kết trên cả 4 phân ngành dịch vụ:
Trang 25(i) dịch vụ bảo hiểm nhân thọ (bao gồm cả bảo hiểm tai nạn và sức khoẻ);
(ii) dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ;
(iii) dịch vụ tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm (tuy nhiên với dịch vụ này Việt Nam hầu như "không cam kết" cho cả 4 phương thức cung cấp);
(iv) dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm
Đối với 3 phương thức cung cấp (1); (2); (4) hầu như "không cam kết", riêng phương thức cung cấp thông qua hiện diện thương mại (3) thì
có các hạn chế sau:
- Hạn chế về tiếp cận thị trường:
+ Hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài: cho đến năm
2000, Việt Nam cam kết cho phép thành lập tối đa 5 công ty liên doanh và/hoặc công ty 100% vốn nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ có liên quan đến bảo hiểm, trong đó tối đa 2 công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, 2 công ty trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và 1 công ty trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm
+ Hạn chế về vốn: sau 5 năm kể từ khi có lợi nhuận, các công ty 100% vốn nước ngoài phải bán lại ít nhất 30% vốn cổ phần của công ty mình cho các công ty trong nước để nhằm mục đích tạo điều kiện cho các công
ty bảo hiểm trong nước có cơ hội tiếp thu các kỹ thuật nghiệp vụ và công nghệ bảo hiểm mới; phần vốn góp của bên nước ngoài trong các liên doanh bảo hiểm không quá 50% vốn điều lệ
- Hạn chế về đãi ngộ quốc gia:
+ Hạn chế về vốn: vốn pháp định tối thiểu của một công ty liên doanh bảo hiểm và công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ tương ứng là 2 triệu USD và 5
Trang 26USD, trong khi mức vốn pháp định tối thiểu qui định cho các công ty trong nước tương ứng là 20 tỷ và 1 tỷ đồng
+ Hạn chế về lĩnh vực hoạt động: doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu
tư nước ngoài không được kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm rủi ro về xây dựng và lắp đặt; bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ
xe cơ giới)
+ Hạn chế về phạm vi hoạt động và đối tượng khách hàng: các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được phép thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam được cung cấp dịch vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm con người cho các khu vực đầu tư nước ngoài Trong dịch vụ tái bảo hiểm
và nhượng tái bảo hiểm, dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm, theo tập quán quốc tế, các công ty bảo hiểm nước ngoài không thường trú tại Việt Nam có thể trực tiếp cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và không cần thiết lập hiện diện thương mại trên lãnh thổ Việt Nam Tổ chức môi giới tái bảo hiểm phải thu xếp ký kết hợp đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam
và chỉ được chuyển dịch vụ ra nước ngoài sau khi chứng minh được rằng các doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam không chấp nhận dịch vụ đó Trong trường hợp tái bảo hiểm cho các tổ chức bảo hiểm ở nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm trong nước phải tái bảo hiểm một phần trách nhiệm (hiện nay là 20%) theo hợp đồng tái bảo hiểm đó cho công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam theo hướng dẫn cụ thể của
Bộ Tài chính
+ Hạn chế về giấy phép: về cơ bản là không có hạn chế, tuy nhiên công ty bảo hiểm nước ngoài muốn thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam thì phải thoả mãn điều kiện là tổ chức kinh tế đang hoạt động hợp pháp và đang ở trong tình trạng tài chính bình thường ở nước nguyên xứ, đồng thời ưu tiên cho các công ty bảo hiểm nước ngoài đã được phép mở văn phòng đại diện thường trú tại Việt Nam
Trang 27 Dịch vụ ngân hàng: các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác
mà Việt Nam tiến hành cam kết gồm có:
(i) chấp nhận tiền gửi;
(ii) cho vay dưới mọi hình thức;
(iii) dịch vụ cho thuê tài chính;
(iv) các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền
Đối với 3 phương thức cung cấp (1); (2); (4): Việt Nam "không cam kết" ngoại trừ những cam kết chung (horizontal), riêng phương thức cung cấp thông qua hiện diện thương mại (3) thì không cam kết đối với việc cấp giấy phép lần đầu, ngoài ra có các hạn chế sau:
- Hạn chế về tiếp cận thị trường:
+ Hạn chế về hình thức pháp nhân: tổ chức tín dụng nước ngoài được phép thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dưới các hình thức sau: văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; ngân hàng liên doanh; công ty cho thuê tài chính liên doanh; công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài (nếu ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính hoặc các công ty muốn tiến hành kinh doanh cho thuê tài chính thì phải thành lập một Công
ty cho thuê tài chính độc lập)
+ Hạn chế về số vốn: vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài không dưới 15 triệu USD; vốn điều lệ tối thiểu của ngân hàng liên doanh là 10 triệu USD; vốn pháp định tối thiểu của công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài là 5 triệu USD
+ Hạn chế về phần vốn góp: phần vốn góp của bên nước ngoài trong ngân hàng liên doanh không được vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh đó
Trang 28+ Hạn chế về phạm vi hoạt động: các ngân hàng nước ngoài được phép thành lập chi nhánh tại các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương
và có không quá 1 chi nhánh tại mỗi tỉnh hoặc thành phố này; không được
mở văn phòng đại diện tại những nơi đã mở chi nhánh và không được thành lập các chi nhánh phụ cho các chi nhánh đó; các chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được thiết lập điểm giao dịch nằm ngoài chi nhánh dưới bất kỳ hình thức nào
- Hạn chế về về đãi ngộ quốc gia
+ Hạn chế về tổng giá trị giao dịch: nhận tiền gửi không kỳ hạn bằng đồng Việt Nam của cá nhân Việt Nam và tổ chức là pháp nhân Việt Nam không có quan hệ tín dụng với ngân hàng tối đa bằng 25% vốn của ngân hàng nguyên xứ cấp cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc vốn điều
lệ của ngân hàng liên doanh
+ Hạn chế về đối tượng khách hàng: chi nhánh ngân hàng nước ngoài
và ngân hàng liên doanh không được nhận tiền gửi có kỳ hạn bằng đồng Việt Nam và tiền gửi bằng ngoại tệ của các thể nhân và pháp nhân Việt Nam không có quan hệ tín dụng với họ; không được cho vay bằng ngoại
tệ đối với thể nhân Việt Nam: không được thanh toán bằng ngoại tệ với các thể nhân Việt Nam không có quan hệ tín dụng với họ
Như vậy, các cam kết về tự do hoá dịch vụ tài chính mà Việt Nam đưa ra sau Vòng đàm phán thứ nhất về dịch vụ ASEAN được xây dựng trên cơ sở cam kết của các nước thành viên ASEAN hiện nay, mang tính bảo hộ cao và hạn chế số lượng các công ty/cá nhân nước ngoài cung cấp dịch vụ Những cam kết được xây dựng mang tính chủ động và dựa trên
cơ chế hiện hành của Việt Nam, do vậy, chưa thể hiện tính hội nhập cao
Số phân ngành bảo hiểm, tài chính ngân hàng đưa vào cam kết không đầy
đủ Các phương thức cung cấp (1), (2), (4) hầu như không cam kết Còn phương thức cung cấp dịch vụ thông qua hiện diện thương mại (3) thì đưa
ra rất nhiều loại hạn chế Như vậy, phạm vi cam kết của Việt Nam không
Trang 29rộng mà mức độ cam kết lại quá thấp Đương nhiên, những cam kết như vậy có lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ của Việt Nam nhưng sẽ khó khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài vì phạm vi kinh doanh bị hạn chế, và họ phải chịu nhiều phân biệt đối xử Do đó, những cam kết này sẽ khó được các nước Thành viên WTO chấp nhận khi đàm phán với Việt Nam sau này Và điều này đã được chứng minh qua thực tiễn cam kết của Việt Nam trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
1.2.2.2 Cam kết về dịch vụ tài chính trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ:
Nội dung các cam kết cụ thể có liên quan đến lĩnh vực dịch vụ tài chính của Hiệp định này bao gồm:
• Các cam kết chung (Horizontal):
- Hiện diện thương mại: Công ty Hoa Kỳ được tiến hành hoạt động thương mại tại Việt Nam theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam dưới các hình thức: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn Hoa Kỳ, BOT và BTO Các công ty Hoa Kỳ được phép đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam Các văn phòng này không được tiến hành hoạt động thu lợi nhuận tại Việt Nam
- Hiện diện thể nhân: Chưa cam kết trừ các biện pháp liên quan đến nhập cảnh và lưu trú tạm thời của các thể nhân của các nhóm sau: Các nhà quản lý, giám đốc điều hành và các chuyên gia mà người Việt Nam không thể thay thế, lưu chuyển tạm thời trong nội bộ công ty, được phép nhập cảnh cho thời gian lưu trú ban đầu là 3 năm và sau đó sẽ được gia hạn; Người chào bán dịch vụ - những người không sống tại Việt Nam và không nhận sự trả lương từ bất kỳ nguồn nào tại Việt Nam, và những người tham gia vào hoạt động liên quan đến việc đại diện cho một nhà cung cấp dịch vụ với mục đích đàm phán để bán dịch vụ của nhà cung cấp dịch vụ đó mà (i) việc bán đó không được chào trực tiếp cho công chúng
Trang 30và (ii) người chào bán không trực tiếp cung cấp dịch vụ Thời gian nhập cảnh của những người chào bán dịch vụ này không quá 90 ngày
• Các cam kết cụ thể trong lĩnh vực dịch vụ tài chính:
Dịch vụ bảo hiểm: Việt Nam cam kết trong tất cả các loại hình dịch
vụ bảo hiểm và phụ trợ bảo hiểm theo GATS ngoại trừ bảo hiểm sức khoẻ, cụ thể:
- Phương thức (1): Không hạn chế đối với: các dịch vụ bảo hiểm cho các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, các dịch vụ tái bảo hiểm, các dịch vụ bảo hiểm trong vận tải quốc tế, các dịch vụ môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm, các dịch
vụ tư vấn, giải quyết khiếu nại, đánh giá rủi ro
- Phương thức (2): Không hạn chế
- Phương thức (3): Có các hạn chế sau:
+ Hạn chế về hình thức pháp nhân: chỉ được phép thành lập liên doanh bảo hiểm sau 3 năm, công ty bảo hiểm 100% vốn của Hoa Kỳ sau 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực; việc thành lập chi nhánh phụ thuộc vào tiến trình xây dựng Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (trên thực tế hiện nay ta đã cho phép thành lập 4 công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài trong đó có công ty bảo hiểm AIA 100% vốn Hoa Kỳ)
+ Hạn chế về phần vốn góp: phần vốn góp của phía Hoa Kỳ không được vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh
+ Hạn chế về loại hình kinh doanh: Các công ty cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư Hoa Kỳ không được kinh doanh các dịch vụ đại lý bảo hiểm và các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc là: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
xe cơ giới, bảo hiểm trong xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm đối với các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng
và môi trường Hạn chế này sẽ được bãi bỏ đối với liên doanh là 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, và đối với công ty 100% vốn Hoa Kỳ là 6
Trang 31năm sau khi Hiệp định có hiệu lực Đối với việc tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, công ty 100% vốn Hoa Kỳ và chi nhánh các công bảo hiểm Hoa Kỳ phải tái bảo hiểm với Công ty Tái bảo hiểm Việt Nam một tỷ lệ tối thiểu là 20% và 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực hạn chế này sẽ được bãi bỏ Đồng thời, ta không dành đối xử quốc gia đối với các công ty bảo hiểm nước ngoài kinh doanh bảo hiểm bắt buộc
- Phương thức (4): Chưa cam kết ngoài các cam kết nền chung
Như vậy, về cơ bản, các cam kết trong thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 2001 phù hợp với Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành năm 2000 và chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2003 - 2010 Một bước đột phá rõ nhất trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là: trong khi Luật kinh doanh bảo hiểm cấm thực hiện phương thức 1 đối với nhà bảo hiểm nước ngoài muốn cung cấp dịch vụ vào thị trường Việt Nam, thì Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
đã cho phép nhà bảo hiểm Hoa Kỳ cung cấp dịch vụ theo phương thức này trong một số trường hợp; đồng thời đối với phương thức 3: cho phép
3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực phần vốn góp của đối tác Hoa kỳ tới 50% vốn liên doanh và 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực đối tác Hoa
kỳ có thể thành lập doanh nghiệp 100% vốn Hoa Kỳ
Trang 32+ Hạn chế về loại hình pháp nhân: Các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng Hoa Kỳ được phép cung cấp dịch vụ tại Việt Nam thông qua các hình thức pháp lý: chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ, ngân hàng liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ, công ty thuê mua tài chính 100% vốn Hoa Kỳ, và công ty thuê mua tài chính liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ Trong vòng 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, hình thức pháp lý duy nhất thông qua đó các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể cung cấp các dịch vụ ngân hàng tại Viêt Nam là liên doanh với đối tác Việt Nam Sau thời gian
đó hạn chế này sẽ được bãi bỏ Sau 9 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các ngân hàng Hoa Kỳ mới được phép thành lập ngân hàng con 100% vốn Hoa Kỳ tại Việt Nam
+ Hạn chế về vốn: Trong thời gian 9 năm nêu trên, các ngân hàng Hoa
Kỳ có thể thành lập ngân hàng liên doanh với đối tác Việt Nam trong đó phần góp vốn của đối tác Hoa Kỳ không thấp hơn 30% nhưng không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh
+ Hạn chế về giá trị giao dịch: trong vòng 10 năm kể từ khi Hiệp định
có hiệu lực, Việt Nam chỉ cho phép chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng theo mức vốn pháp định của chi nhánh phù hợp với biểu cụ thể trong Hiệp định với một lộ trình từng bước từ thấp đến cao (đối với pháp nhân lộ trình là 8 năm, đối với thể nhân lộ trình là
10 năm - Xem bảng) Trong thời hạn bảo lưu, không có năm nào tỷ lệ huy động tiền Đồng cả 2 kênh trên đây của chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ vượt mức đối xử quốc gia Sau thời gian đó, các hạn chế này sẽ được bãi bỏ
Trang 33Đối xử quốc gia đầy đủ
Nguồn: Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ số 11/2003
- Về đối xử quốc gia:
+ Hạn chế về loại hình kinh doanh: sau 8 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các định chế tài chính có vốn đầu tư Hoa Kỳ được phép phát hành thẻ tín dụng trên cơ sở đối xử quốc gia Chi nhánh ngân hàng Hoa
Kỳ không được đặt các máy rút tiền tự động tại các địa điểm ngoài văn phòng cho tới khi mà các ngân hàng Việt Nam được phép làm như vậy và không đuợc lập các điểm giao dịch phụ thuộc
+ Hạn chế về vốn: Vốn do Ngân hàng mẹ của Hoa Kỳ cấp để thành lập chi nhánh phải tối thiểu là 15 triệu USD; Vốn điều lệ tối thiểu của ngân hàng liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ hay ngân hàng con 100% vốn Hoa kỳ là 10 triệu USD, của công ty thuê mua tài chính 100% vốn Hoa
Kỳ và công ty thuê mua tài chính liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ là 5 triệu USD;
+ Hạn chế về quyền sử dụng đất: Các đơn vị tài chính ngân hàng 100% vốn Hoa Kỳ không được nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất Sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các đơn vị tài chính ngân hàng này chỉ được quyền nhận tài sản thế chấp bằng quyền sử dụng đất của các
xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và có được quyền sử
Trang 34dụng đất mà được thế chấp cho các khoản vay trong trường hợp mất khả năng thanh toán khoản vay, phá sản hay giải thể của xí nghiệp vay nợ đó + Sau 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực Việt Nam dành đối xử quốc gia đầy đủ đối với quyền tiếp cận Ngân hàng Trung ương trong các hoạt động tái chiết khấu, swap, forward
Phương thức (4): Chưa cam kết ngoài các cam kết nền chung
Như vậy, phải nói rằng so với các cam kết trong Hiệp định khung ASEAN thì các cam kết về dịch vụ tài chính mà Việt Nam đưa ra trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là một bước tiến lớn trong việc đáp ứng các yêu cầu chung về mức độ và phạm vi cam kết từ phía các nước Thành viên WTO Đây là những cam kết khá mở có nội dung phù hợp với thông lệ quốc tế dành cho các nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi trong giai đoạn hiện nay Do đó, nó sẽ là căn cứ cho Việt Nam khi đàm phán ra nhập WTO
Trong Hiệp định này, phạm vi cam kết được mở rộng ra tất cả các lĩnh vực dịch vụ tài chính qui định trong phụ lục của GATS (chỉ ngoại trừ dịch vụ bảo hiểm sức khoẻ) Bên cạnh đó, mức độ cam kết cũng cao hơn rất nhiều so với các cam kết trong ASEAN Phương thức (2) không có bất
kỳ hạn chế nào; phương thức (1) không hạn chế đối với một số loại hình dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ và dịch vụ phụ trợ bảo hiểm; còn phương thức (3) thì số loại hạn chế về tiếp cận thị trường ít hơn so với cam kết trong ASEAN (ví dụ: không có hạn chế về thời gian hoạt động của công
ty 100% vốn Hoa Kỳ, hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm, hạn chế về vốn pháp định của các loại hình công ty bảo hiểm, không yêu cầu buộc công ty bảo hiểm 100% vốn Hoa Kỳ bán lại ít nhất 30% vốn cổ phần cho công ty kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam sau 5 năm kinh doanh có lãi ) Đồng thời, với các hạn chế vẫn được duy trì thì phía Việt Nam đã đưa ra lộ trình cụ thể loại bỏ các hạn chế đó Nhìn chung, trong vòng 10 năm, các hạn chế trong phần tiếp cận thị trường sẽ
Trang 35được loại bỏ hết Tuy nhiên, có một vài hạn chế trong Hiệp định Việt -
Mỹ (BTA) chặt chẽ hơn so với cam kết trong ASEAN, chẳng hạn như: hạn chế về phần vốn góp tối đa của bên nước ngoài trong ngân hàng liên doanh (49% trong BTA so với 50% trong ASEAN)
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
kỷ 90 trở lại đây Ví dụ thị trường dịch vụ kế toán - kiểm toán chỉ mới hình thành và phát triển từ đầu thập kỷ 90; thị trường bảo hiểm mới chỉ thực sự là thị trường dịch vụ tài chính từ năm 1994 trở lại đây khi Nghị định 100/CP của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm được ban hành và có hiệu lực cho dù ngành bảo hiểm đã hình thành ở Việt nam từ thập kỷ 60
Do vậy, có thể nói rằng các thị trường này mới đang trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển Cũng chính vì lẽ đó mà các thị trường này còn rất nhỏ bé và mức độ hoàn thiện của chúng còn tương đối thấp thể hiện trên một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, quy mô hoạt động của thị trường còn khá nhỏ bé: doanh
thu phí bảo hiểm so GDP thấp, hoạt động đầu tư nguồn vốn bảo hiểm trở lại nền kinh tế rất thấp; hoạt động của các ngân hàng trong nền kinh tế còn rất hạn chế
Thứ hai, hệ thống pháp luật đang trong quá trình xây dựng và hoàn
thiện nên hiệu lực pháp lý và hiệu quả quản lý còn có những hạn chế, hệ thống các văn bản hưóng dẫn vẫn chưa được xây dựng và ban hành một cách đồng bộ;
Trang 37Thứ ba, cạnh tranh trên thị trường còn nhiều vấn đề, bất bình đẳng
trong cạnh tranh còn khá lớn, chủ yếu do hậu quả của cơ chế cũ để lại …
Thứ tư, các lực lượng tham gia thị trường còn mỏng, tiềm lực còn
hạn chế, nhất là các doanh nghiệp trong nước so với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, điều này đã dẫn đến sự hạn chế khả năng cung cấp các loại dịch vụ cho thị trường với chất lượng cao, chủng loại đa dạng…
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng thị trường dịch vụ tài chính Việt nam là thị trường rất tiềm năng, khả năng phát triển của thị trường này là rất lớn Điều này được thể hiện đậm nét ở tốc độ tăng trưởng cao trong những năm qua, nhất là thị trường dịch vụ bảo hiểm, cùng với những thành quả do việc áp dụng công nghệ khoa học kỹ thuật cao Đồng thời,
sự hình thành và phát triển của các thị trường dịch vụ tài chính đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong thời gian qua Đó là việc thị trường dịch vụ tài chính đã góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng mọi nguồn lực tài chính nói riêng, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nền kinh
tế nói chung, góp phần thúc đẩy phát triển toàn diện nền kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, sự phát triển của thị trường này còn có những đóng góp rất
to lớn vào việc lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, nâng cao tiềm lực
và an ninh tài chính quốc gia
Trong thời gian tới, sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính sẽ còn được thúc đẩy mạnh mẽ hơn rất nhiều do hệ thống cơ chế, chính sách quản lý thị trường dịch vụ tài chính ngày càng được hoàn thiện hơn, đặc biệt là quá trình hội nhập quốc tế của Việt nam được đẩy mạnh sẽ làm cho động lực cạnh tranh trên thị trường càng mạnh mẽ hơn
2.2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ BẢO HIỂM
Trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại và phát triển, con người luôn phải đương đầu với nhiều loại rủi ro thiên tai như : lũ lụt,
Trang 38rủi ro đó gây ra Vì vậy, hạn chế tác hại và nhanh chóng khắc phục hậu quả của rủi ro thiên tai luôn là nhiệm vụ cấp bách của mọi thời đại Do vậy, để đối phó với các rủi ro con người đã dùng các biện pháp: tránh rủi ro; ngăn ngừa, hạn chế rủi ro; khắc phục rủi ro và tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, người ta sớm nhận ra rằng việc dự phòng chung theo cộng đồng, tức là tham gia bảo hiểm, có hiệu quả hơn rất nhiều, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường Nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của bảo hiểm càng trở nên quan trọng, bảo hiểm càng phát huy mạnh mẽ tác dụng của
nó Và nó dần dần trở thành một công cụ không thể thiếu được của đời sống kinh tế, có chức năng hỗ trợ kinh tế - xã hội phát triển
2.2.1 Những thành tựu đạt đƣợc
Trước năm 1993, ở Việt Nam có duy nhất một doanh nghiệp bảo hiểm, đó là Tổng công ty Bảo hiểm Việt nam hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong điều kiện bao cấp nên vai trò của hoạt động bảo hiểm trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế Thực hiện chính sách phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, ngày 18 tháng 12 năm
1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/CP về kinh doanh bảo hiểm
Từ năm 1993 đến nay, thị trường bảo hiểm có bước phát triển mạnh, trở thành kênh quan trọng trong huy động và cung ứng vốn đầu tư Hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm đã cơ bản đồng bộ và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện (Luật kinh doanh Bảo hiểm đã được ban hành năm 2000.) Qua đó, đã thúc đẩy xây dựng được một thị trường bảo hiểm sôi động, cạnh tranh và có quản lý Hoạt động kinh doanh bảo hiểm
đã khẳng định được vai trò là công cụ tài chính quan trọng trong việc duy trì và thúc đẩy phát triển, ổn định nền kinh tế - xã hội, đáp ứng tốt hơn nhu cầu bảo hiểm Những kết quả chính đạt được như sau :
Trang 392.2.1.1 Phạm vi, quy mô thị trường bảo hiểm phát triển đáng
kể, từng bước đáp ứng được sự phát triển và ổn định nền kinh tế - xã hội
Qua bảng số liệu cho thấy hoạt động bảo hiểm mang tính kinh doanh đã có những bước phát triển cơ bản sau :
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Bảo hiểm phi nhân thọ
- Bảo hiểm nhân thọ
700
700
1.264 1.263 0,95
2.091 1.606
485
6.992 2.624 4.368
10.090 6.390 3.700
Nguồn : Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt nam năm 2003 - 2010
Báo Đầu tư số ra ngày 7/12/2003 và 31/05/04
• Thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP
Đơn vị: tỷ đồng
Trang 406992 10090
Biểu đồ 2.1 Doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 1993 - 2003
Nguồn : Hiệp hội bảo hiểm - 2004
Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng doanh thu PBH/GDP giai đoạn 1993 - 2003
Nguồn : Hiệp hội bảo hiểm - 2004
Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường tăng bình quân 29%/năm Trong những năm gần đây, doanh thu phí bảo hiểm tăng nhanh : năm 1993 là 700 tỷ đồng, năm 2003 là 10.090 tỷ đồng, tăng hơn 14 lần
Cơ cấu tỷ trọng doanh thu dịch vụ bảo hiểm trong GDP cũng tăng nhanh
từ 0,37%/GDP năm 1993 lên 1,8%/GDP năm 2003 5 , 18