Những giải pháp nhằm phát triển thương mại điện tử đối với các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị tại Hà Nội và Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-
NGUYỄN ANH QUÝ
NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH SIÊU THỊ TẠI HÀ NỘI VÀ VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 603107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS THỊNH VĂN VINH
HÀ NỘI – NĂM 2008
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 – NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Thương mại điện tử:
1.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò, tác dụng và lợi ích của thương mại
1.1.2.3 Mô hình giao dịch C2C (Người tiêu dùng - Người tiêu dùng) 17
1.1.3 Những tác động của thương mại điện tử trong nền kinh tế
1.2 Quy trình chung của thương mại điện tử 20
1.2.3 Quy trình xác nhận thông tin giao dịch mua hàng 25
1.3 Thanh toán thẻ trong thương mại điện tử 27
1.4 Thương mại điện tử với hội nhập kinh tế thế giới 30
1.4.1 Đặc điểm thương mại điện tử hiện nay ở Việt nam và Hà nội 30
1.4.2 Những tác động của thương mại điện tử hội nhập với
1.4.3 Những nội dung cơ bản của thương mại điện tử cần lưu ý
Trang 31.5 Những cơ hội và thách thức của thương mại điện tử trong
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CỦA CÁC SIÊU THỊ TẠI HÀ NỘI VÀ VIỆT NAM
2.1 Hoạt động kinh doanh của các siêu thị tại Hà nội và Việt nam 40
2.1.1.3 Giai đoạn 3: Cạnh tranh, đào thải và phát triển
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các siêu thị trên
2.1.3 Đặc điẻm tổ chức quản lý kinh doanh và bộ máy tổ chức
2.2 Thực trạng công tác triển khai mô hình thương mại điện tử tại
2.2.2 Thực trạng các mô hình thương mại điện tử
2.3 Đánh giá thực trạng công tác thương mại điện tử tại Hà nội
Trang 42.3.1 Đánh giá thực trạng 58
2.3.1.1 Đánh giá chung về thực trạng TMĐT tại Hà nội và Việt nam 58
2.3.2 Những ưu điểm và thành tựu đã đạt được của TMĐT
2.3.5 Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực trạng thương
CHƯƠNG 3 - GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ Ở HÀ NỘI VÀ VIỆT NAM
3.1 Sự cần thiết phải phát triển thương mại điện tử ở Hà nội và Việt
3.2 Yêu cầu và nguyên tắc phát triển thương mại điện tử ở Hà nội và Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế 78
3.3 Những giải pháp nhằm phát triển thương mại điện tử ở Hà nội
và Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế 80
3.4 Các điều kiện để thực hiện giải pháp 90
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thương mại điện tử (TMĐT) là một vấn đề mà hiện nay đang gây rất nhiều tranh cải về tính khả thi của nó khi áp dụng tại Việt Nam Không thể phủ nhận được rằng TMĐT đóng vai trò rất to lớn trong việc làm tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm chi phí và tăng lợi nhuận Trên thế giới hiện nay các công ty rất coi trọng hình thức giao dịch này và không ngừng phát triển nó Tuy vậy cũng không thể phủ nhận một điều là TMĐT hiện đang còn là một cái gì đó khá mới mẽ đối với doanh nghiệp và cả người dân Đa số chuyên gia kinh tế cho rằng, còn lâu chúng ta mới có thể "lên mạng mua hàng" và dẫn chứng ra một loạt các thất bại của các công ty dot.com trong thập niên 90 vừa qua Thêm vào đó là chúng ta chưa có luật TMĐT, chưa có cổng thanh toán, người dân chưa có thói quen mua hàng trên mạng, và chưa quen sử dụng thẻ tín dụng khi mua hàng Chúng ta đã gia nhập WTO, tham gia vào sân chơi mà ở đó sự cạnh tranh là rất khốc liệt và nghiệt ngã Đã qua rồi cái thời mà doanh nghiệp cứ mãi trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước Thay vào đó chính là sự đổi mới một cách toàn diện cả về tư duy và công nghệ và tăng cao năng lực cạnh tranh Có như thế chúng ta mới có thể phát triển bền vững Việc nắm bắt được và triển khai TMĐT sẽ giúp cho các doanh nghiệp và người dân Việt nam nói chung cũng như các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị nói riêng có được những bước tiến xa và vững chắc
2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm hệ thống hóa lý luận TMĐT trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị trong điều kiện hội nhập kinh tế đồng thời làm rõ thực trạng TMĐT trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị ở Viêt nam mà chủ yếu là ở Hà nội Từ đó luận văn sẽ kiến nghị và nêu ra giải pháp nhằm phát triển TMĐT trong lĩnh vực siêu thị ở Việt nam mà chủ yếu là ở Hà nội
Trang 63 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận chung về TMĐT trong các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu TMĐT cho các siêu thị ở Hà nội và có khái quát ở một mức độ nhất định đối với Việt nam
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiến
Về mặt khoa học, đề tài sẽ nghiên cứu, hệ thống hóa và làm rõ lý luận
về TMĐT trong lĩnh vực kinh doanh siêu thị Bên cạnh đó, về mặt thực tiễn
đề tài làm rõ thực trạng TMĐT tại Việt nam mà chủ yếu là ở Hà nội, đưa ra những đề xuất để phát triển TMĐT của các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị trên địa bàn Hà nội
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Dựa trên những quan điểm khoa học và phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng đi từ lý luận đến thực tiễn, lấy lý luận để chỉ đạo thực tiễn, lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận
- Phương pháp cụ thể: Sử dụng các phương pháp kinh tế tổng hợp, thống kê, phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp, suy luận…nhằm khái quát hóa và tổng hợp để nghiên cứu đề tài Dựa trên việc khảo sát thực tế về công tác TMĐT tại một số siêu thị trên địa bàn Hà nội, trên cơ sở đó đưa ra phương hướng hoàn thiện phù hợp và có khả năng hoàn thiện được
6 Nội dung kết cấu luận văn
Chương 1 – Những lý luận cơ bản về TMĐT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2 - Thực trạng TMĐT của các siêu thị tại Hà nội và Việt nam
Chương 3 - Giải pháp nhằm phát triển TMĐT ở Hà nội và Việt nam
Kết luận
Trang 7CHƯƠNG 1 – NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN
TỬ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Thương mại điện tử
1.1.1 Khái niệm, vị trí, vai trò, tác dụng và lợi ích của thương mại điện tử 1.1.1.1 Khái niệm:
Năm 1996 thuật ngữ thương mại điện tử (TMĐT) chính thức được Hội đồng liên hợp quốc sử dụng trong “Đạo luật về thương mại điện tử” do Ủy ban Liên hợp quốc tế về Thương mại quốc tế soạn thảo
Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp:
TMĐT là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là Internet và các mạng viễn thông khác Khái niệm này tương tự với một số quan điểm vào cuối thập kỷ 90:
+ TMĐT là các giao dịch thương mại về hàng hóa và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử (Diễn đàn đối thoại xuyên đại tây dương, 1977)
+ TMĐT là việc thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn tới việc chuyển giao giá trị thông qua các mạng viễn thông (EITO,1997)
+ TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian, bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ (Cục thống kê Hoa kỳ, 2000)
Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng:
TMĐT là việc sử dụng các phương pháp điện tử để làm thương mại Nói cách khác, TMĐT là thực hiện các quy trình cơ bản và các khung cảnh của các giao dịch thương mại bằng các phương tiện điện tử, cụ thể là trên mạng máy tính và viến thông một cách rộng rãi, ở mức độ cao nhất có thể Các quy trình cơ bản của một giao dịch thương mại gồm: tìm kiếm như mua
Trang 8gì, ở đâu…, đánh giá như có hợp với mình không, giá cả và điều kiện ra sao…, giao hàng, thanh toán và xác nhận Các quy trình khung cảnh của một giao dịch thương mại gồm: diễn tả như mô tả hàng hóa dịch vụ, các điều khoản của hợp đồng…, hợp thức hóa như là cho thỏa thuận là hợp pháp, uy tín và giải quyết tranh chấp Tất nhiên có những quy trình không thể tiến hành trên mạng như việc giao hàng hóa ở dạng vật thể như máy móc, thực phẩm…song tất cả các quá trình của giao dịch nếu có thể thực hiện trên mạng thì đều có thể thực hiện được bằng các phương tiện điện tử
Từ “thương mại” không chỉ bao hàm nghĩa buôn bán hàng hóa và dịch
vụ theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng hơn bao gồm các vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại Các mối quan hệ mang tính chất thương mại gồm các giao dịch sau đây: Giao dịch về cung cấp, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình, tư vấn, đầu tư cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm, thỏa thuận khai thác hoặc chuyển nhượng, liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp, kinh doanh chuyên chở hàng hóa hay hành khách đường biển, hàng không, đường sắt hay đường bộ
E-commerce (Electronic commerce - TMĐT) là hình thái hoạt động thương mại bằng phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải
in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn được gọi là “thương mại không giấy tờ”)
1.1.1.2 Vị trí, vai trò và tác dụng và lợi ích của TMĐT
TMĐT có vị trí và vai trò to lớn trong nền kinh tế thị trường Vai trò của nó được thể hiện qua lợi ích của nó như sau:
Thứ nhất, lợi ích đối với quốc gia:
+ Giải quyết vấn đề chung : TMĐT tạo ra môi trường để làm việc, mua
Trang 9sắm, giao dịch từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn Bên cạnh đó, TMĐT cũng góp phần vào chủ trương của chính phủ về giảm thiểu lưu thông tiền mặt
+ Nâng cao mức sống: Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực giảm giá do đó khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, nâng cao mức sống của mọi người
+ Lợi ích cho các nước nghèo: Những nước nghèo có thể tiếp cận với các sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua Internet và TMĐT Đồng thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng được đào tạo qua mạng TMĐT giúp các nước nghèo sớm tiếp cận với nền kinh tế số hóa
+ Dịch vụ công được cung cấp thuận tiện hơn: Các dịch vụ công cộng như y tế, giáo dục, các dịch vụ công của chính phủ được thực hiện qua mạng với chi phí thấp hơn, thuận tiện hơn Cấp các loại giấy phép qua mạng,
tư vấn y tế là các ví dụ thành công điển hình TMĐT tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình thương mại
Thứ hai, lợi ích đối với các doanh nghiệp:
+ Mở rộng thị trường, phát triển thương hiệu, tăng doanh số, tăng khả
năng cạnh tranh: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền
thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới Việc mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn
và bán được nhiều sản phẩm hơn
+ Nắm bắt được các thông tin về các đối tác tham gia vào quá trình TMĐT
Trang 10+ Tăng hiệu quả: như giảm chi phí bán hàng và tiếp thị, giảm chi phí
thông tin liên lạc Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia xẻ thông tin, chi phí
in ấn, gửi văn bản truyền thống, giảm chi phí thời gian và giao dịch
+ Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ
trong phân phối hàng Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, ví dụ ngành sản xuất ô tô (Ví dụ như Ford Motor) tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho
+ Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua
Web và Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện 24/7/365 mà không mất thêm nhiều chi phí biến đổi
+ Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến
lược kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Một ví dụ thành công điển hình là Dell Computer Corp
+ Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá trị mới cho khách hàng Mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của những thành công này
+ Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường
+ Giảm chi phí mua sắm: Thông qua giảm các chi phí quản lý hành chính (80%); giảm giá mua hàng (5-15%) [10, tr 23]
+ Giảm chi phí giao dịch: Giảm chi phí giấy tờ, chi phí thông tin, chi phí in ấn, gửi văn bản truyền thống Thời gian giao dịch giảm đáng kể và chi phí giao dịch cũng giảm theo Thời gian giao dịch internet chỉ bằng khoảng
Trang 1170% so với giao dịch qua fax và bằng 5% so với giao dịch qua bưu điện [10,
tr 27]
+ Củng cố quan hệ khách hàng, tăng sự hài lòng của khách hàng:
Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng, quan hệ với trung gian và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm
và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng cố lòng trung thành
+ Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá cả đều có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời
+ Chi phí đăng ký kinh doanh: Một số nước và khu vực khuyến khích bằng cách giảm hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng Thực tế, việc thu nếu triển khai cũng gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù của Internet
+ Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ; tăng khả năng tiếp cận thông tin và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt động kinh doanh
Thứ ba, lợi ích đối với người tiêu dùng:
+ Vượt giới hạn về không gian và thời gian: TMĐT cho phép khách hàng mua sắm mọi nơi, mọi lúc đối với các cửa hàng trên khắp thế giới
+ Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: TMĐT cho phép người mua
có nhiều lựa chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn
+ Giá thấp hơn: Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên khách hàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ
đó tìm được mức giá phù hợp nhất
Trang 12+ Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa được: Đối với các sản phẩm số hóa được như phim, nhạc, sách, phần mềm việc giao hàng được thực hiện dễ dàng thông qua Internet
+ Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn: Khách hàng
có thể dễ dàng tìm được thông tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìm kiếm (search engines); đồng thời các thông tin đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh)
+ Đấu giá: Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều
có thể tham gia mua và bán trên các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm những món hàng mình quan tâm tại mọi nơi trên thế giới
+ Cộng đồng TMĐT: Môi trường kinh doanh TMĐT cho phép mọi người tham gia có thể phối hợp, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm hiệu quả và nhanh chóng
+ Đáp ứng mọi nhu cầu: Khả năng tự động hóa cho phép chấp nhận các đơn hàng khác nhau từ mọi khách hàng
+ Thuế: Trong giai đoạn đầu của TMĐT, nhiều nước khuyến khích bằng cách miễn thuế đối với các giao dịch trên mạng
1.1.2 Các mô hình thương mại điện tử
1.1.2.1 Mô hình giao dịch B2C
B2C (Business To Consumer - Doanh nghiệp với Người tiêu dùng): Là các giao dịch kinh doanh trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng hay còn gọi là hình thức bán lẻ Hình thức này xét về qui mô chỉ mang tính chất nhỏ
lẻ, chưa xứng tầm với TMĐT hiện đại [5, tr 27]
Do đối tượng tham gia mô hình giao dịch này bao gồm doanh nghiệp
và người tiêu dùng nên TMĐT dạng B2C có sức lan tỏa mạnh và thường được xã hội chú ý Đây cũng là phương thức thường được doanh nghiệp lựa
Trang 13chọn trước khi bắt đầu triển khai ứng dụng TMĐT, đặc biệt đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ hướng tới phục vụ đối tượng người tiêu dùng
Điểm mấu chốt quyết định thành công của một website TMĐT B2C là khả năng thu hút và duy trì sự quan tâm của người tiêu dùng Để thu hút khách hàng mới, bên cạnh giao diện đẹp và thuận tiện cho việc sử dụng, thông tin trên website cũng cần phải hết sức phong phú Kinh nghiệm cho thấy khách hàng đặc biệt quan tâm tìm kiếm những thông tin mô tả và giá cả hàng hóa, dịch vụ trên mạng, qua đó so sánh, đối chiếu để dẫn đến quyết định mua hàng Việc đáp ứng một cách thuận tiện nhu cầu của người tiêu dùng về khảo sát giá cũng như sản phẩm là một lợi thế nổi bật của phương thức tiếp thị trực tuyến mà các nhà kinh doanh cần khai thác triệt để Một khi khách hàng đã quan tâm đến website, dùng thử các dịch vụ trên đó và thấy thực sự hiệu quả thì xác suất quay lại sẽ là rất lớn
Phương thức mua hàng trên mạng có sức thu hút mạnh với đối tượng là cán bộ công sở, sinh viên, những người có ít thời gian mua sắm và thường xuyên có nhu cầu sử dụng mạng Internet Do đó, khi triển khai các “cửa hàng trực tuyến”, doanh nghiệp cần lưu ý phân tích thói quen và tâm lý tiêu dùng của các nhóm đối tượng này để có chiến lược tiếp thị hoặc lựa chọn loại hàng hóa cho phù hợp
Mô hình kinh doanh TMĐT theo phương thức B2C phù hợp hơn với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ Khi có nhu cầu mua sắm, người tiêu dùng muốn tìm được thông tin đa dạng về các loại hàng hóa và sản phẩm khác nhau ngay tại một chỗ Các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra hàng hóa
sẽ khó lòng đáp ứng được nhu cầu này do mỗi doanh nghiệp chỉ tập trung sản xuất một vài sản phẩm nhất định Trong khi đó, doanh nghiệp thương mại dịch vụ, vốn chỉ đóng vai trò trung gian phân phối sản phẩm, sẽ có lợi thế hơn
Trang 14trong việc tập hợp các nguồn hàng khác nhau để có hàng hóa, sản phẩm trưng bày phong phú tạo thuận lợi, đáp ứng tối đa nhu cầu của người tiêu dùng
Rất nhiều website theo định hướng B2C Ngoài số lượng đơn hàng, giá trị trung bình của các đơn hàng cũng phản ánh mức độ thích ứng của người tiêu dùng đối với phương thức TMĐT Điều này cũng cho thấy sự tự tin của người tiêu dùng khi tiến hành giao dịch trên mạng, sự sẵn sàng tham gia các giao dịch có giá trị lớn dựa vào các thông tin cung cấp trên website TMĐT của doanh nghiệp
Thành công của các công ty theo mô hình B2C là nhờ vào những thuận lợi trong việc mua hàng mà doanh nghiệp có thể cung cấp cho khách hàng Quá trình này có phần tương tự với dịch vụ khách hàng kiểu cũ Sự thành công của các doanh nghiệp khi thu hút được đông đảo khách hàng trực tuyến chủ yếu là nhờ vào việc đáp ứng một cách hoàn hảo nhu cầu của họ
Giao diện là một trong những yếu tố thành công khi đáp ứng nhu cầu khách hàng Nó được hiểu là từ ngữ và hình ảnh mà người mua hàng sẽ tiếp xúc thay vì người bán hàng thực sự Công nghệ mới như VoIP có thể cho phép khách hàng đàm thoại trực tiếp với các nhân viên bán hàng khi họ thực hiện mua hàng Nếu người mua hàng đưa các hàng hóa vào giỏ mua hàng ảo
và trình ra thẻ tín dụng, các công ty có thể đáp ứng các đơn đặt hàng mà hầu như không cần có sự tham gia xử lý của con người
Theo mô hình B2C còn có những cách khác để thu lợi như bán chỗ quảng cáo trên trang web hoặc bán quyền truy cập tới một số nội dung đặc biệt tính trên cơ sở trả tiền theo mức độ sử dụng (pay-per-use) hay trả tiền theo lần xem (pay-per-view) Với cách bán quyền truy cập, các công ty sẽ chia nhỏ thông tin trên trang web của mình và bán cho khách hàng theo từng lần sử dụng hoặc theo một khoảng thời gian sử dụng nhất định
Trang 15Trên thế giới, xu hướng TMĐT B2B chiếm ưu thế vượt trội trong việc lựa chọn chiến lược phát triển của các công ty kinh doanh trực tuyến B2B được coi như là một kiểu “phòng giao dịch ảo”, nơi sẽ thực hiện việc mua bán trực tuyến giữa các công ty với nhau, hoặc cũng có thể gọi là sàn giao dịch
mà tại đó, các doanh nghiệp có thể mua bán hàng hoá trên cơ sở sử dụng một nền công nghệ chung Khi tham gia vào sàn giao dịch này, khách hàng có cơ hội nhận được những giá trị gia tăng như dịch vụ thanh toán hay dịch vụ hậu mãi, dịch vụ cung cấp thông tin về các lĩnh vực kinh doanh, các chương trình thảo luận trực tuyến và cung cấp kết quả nghiên cứu về nhu cầu của khách hàng cũng như các dự báo công nghiệp đối với từng mặt hàng cụ thể
Với ưu thế sẵn có của mình, TMĐT B2B có thể giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trong quá trình tham gia kinh doanh như chi phí quản
lý kho bãi, mặt bằng, chi phí giấy tờ, tài liệu, chi phí đầu vào của sản phẩm, chi phí tổ chức nhân sự…
B2B (Business to Business) - từ doanh nghiệp tới doanh nghiệp theo hình thức bán buôn mới thật sự là giao dịch TMĐT lớn mạnh Nhưng một điều cũng cần phải thừa nhận chính là TMĐT tại Việt Nam vẫn chưa phát triển mạnh như các nước trong khu vực Hiện nay Nhà nước và Chính phủ ta
Trang 16không ngừng tạo mọi điều hiện cho sự phát triển của loại hình kinh doanh không giấy tờ mà hiệu quả này
Giữa các doanh nghiệp, TMĐT được sử dụng để trao đổi dữ liệu, mua bán và thanh toán hàng hóa và dịch vụ Về mặt công nghệ trong khi B2C chủ yếu sử dụng cửa hàng ảo trên mạng, mô hình B2B (Business to business – Doanh nghiệp với doanh nghiệp) chủ yếu sử dụng trao đổi dữ liệu điện tử (EDI – Electronic Data Interexchange) Về thanh toán trong khi mô hình dạng B2B việc thanh toán được tiến hành trên cơ sở quyết toán bù trừ vào cuối kỳ
và có thể thực hiện theo phương thức truyền thống mà vẫn không làm giảm ý nghĩa của nó Trong khi đó, ở mô hình B2C, việc thanh toán được quan tâm đặc biệt vì mua hàng lần nào thanh toán lần đó Đây là điểm khác nhau căn bản giữa 2 mô hình
Mô hình B2B Direct
Đây là mô hình áp dụng trong trường hợp bán hàng trực tiếp cho nhà phân phối hay nhà bán lẻ Ví dụ như nhà nhập khẩu hàng hóa khi nhập khẩu hàng về trong nước có thể giao trực tiếp cho các siêu thị, công ty kinh doanh bán lẻ, nhà máy sản xuất văn phòng phẩm bán trực tiếp các sản phẩm do nhà máy sản xuất ra như, bút mực, vở, đồ dùng văn phòng phẩm khác cho các cửa hàng bán lẻ
Mô hình B2B direct (Bán hàng trực tiếp cho nhà phân phối) được xây dựng trên họat động kinh doanh thực tế đang diễn ra giữa nhà bán buôn và nhà bán lẻ So với mô hình TMĐT dạng B2C nó có đầy đủ các chức năng như tìm kiếm hàng hóa, đặt hàng, giao hàng, vận tải Trong thực tế công việc thanh toán giữa người bán và người mua được tiến hành vào cuối kỳ trên cơ
sở bù trừ nên mô hình hỗ trợ công cụ theo dõi công nợ với từng khách hàng
và tổng hợp công nợ của các khách hàng Mô hình cung cấp các modules để tích hợp các số liệu công nợ, thanh toán vào hệ thống sổ sách kế toán của
Trang 17doanh nghiệp Mô hình này hữu hiệu khi số lượng mặt hàng lớn, trong kỳ giao hàng nhiều lần, có việc đối lưu hàng hóa hay thanh toán, tạm ứng nhiều lần
Mô hình bán hàng thông qua hệ thống các đại lý
Mô hình kinh doanh này thường được sử dụng để quản lý hệ thống đại
lý Nó hỗ trợ cho doanh nghiệp quản lý được hệ thống đại lý của mình, nắm được lượng bán hàng của từng đại lý tại thời điểm mà mình quan tâm
Ví dụ như vào lúc 17h30 hàng ngày doanh nghiệp cần nắm được trong ngày hệ thống đại lý của mình bán được bao nhiêu hàng, những hàng nào đang bán chạy, đại lý nào ngày mai sẽ hết hàng và nếu phải điều hàng tới thì phải điều từ kho nào…Mô hình này cho phép các đại lý hỗ trợ lẫn nhau trong bán hàng Ví dụ khách hàng đại lý của LG tại Hà nội mua một cái tủ lạnh, nhưng lại muốn giao hàng tại Nam định, đại lý LG tại Hà nội sẽ bán hàng cho khách và chuyển việc giao hàng cho đại ý tại Nam định Đại lý LG tại Nam định sẽ thực hiện và cuối kỳ hai đại lý sẽ thanh toán bù trừ cho nhau Các dữ liệu kinh doanh của toàn bộ hệ thống đại lý này sẽ được cập nhật vào cơ sở dữ liệu chủ để LG có thể căn cứ vào đó điều chỉnh kế haọch giao hàng, bổ sung cho kế hoạch tiếp thị cũng như hoạch định các phương án kinh doanh
Về mặt công nghệ, thực chất của mô hình này là doanh nghiệp xây dựng một cataloge chung, các thành viên của doanh nghiệp theo chức năng của mình sẽ được chia sẽ một phần cataloge chung đó mà một thành viên được chia sẻ sẽ được doanh nghiệp áp dụng chính sách riêng, không phụ thuộc vào các chính sách áp dụng cho các thành viên khác Như vậy tuy cùng một loại hàng nhưng các thành viên khác nhau sẽ được doanh nghiệp dành riêng cho các giá bán buôn khác nhau, thời hạn thanh toán, số lượng, chủng loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau, lãi suất quá hạn khác nhau, hỗ trợ khác
Trang 18nhau…và các thông tin này là thông tin bí mật giữa doanh nghiệp và đại lý, các đại lý khác không biết được
Mô hình này, trong thực tế rất phong phú và không chỉ cho hệ thống đại lý, có thể vận dung cho cả kiểu mua đứt, bán đoạn nhưng nhiều lần Hai điều kiện để áp dụng cho mô hình này là các thành viên chia sẻ thông tin chung theo những quy định riêng của doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh có tính chất lâu dài
Mô hình mua hàng thông qua tập hợp nhà cung cấp
Về công nghệ, mô hình mua hàng qua các nhà cung cấp là mô hình ngược với mô hình bán hàng qua hệ thống đại lý Mô hình bán hàng qua hệ thống đại lý doanh nghiệp xây dựng catalogue và thông tin chung rồi sau đó cho phép các thành viên tham gia được chia sẻ Mô hình mua hàng qua các nhà cung cấp thì doanh nghiệp không thể xây dựng catalogue mà các thành viên xây dựng các catalogue riêng của mình sau đó đặt vào “chợ chung” để tạo nên catalogue chung
Mô hình này được sử dụng đẻ liên kết các nhà cung cấp riêng lẻ thành một nhà cung cấp lớn và tạo nên sức mạnh thâm nhập thị trường Ví dụ một làng nghề có nhiều cơ sở sản xuất với nhiều sản phẩm khác nhau Mỗi cơ sở sản xuất xây dựng một catalogue sản phẩm riêng của mình và đặt tại site chung (chợ chung) của cả làng Chợ chung sẽ có hàng nghìn sản phẩm và sẽ đáp ứng đầy đủ nhất nhu cầu của khách hàng khi họ ghé thăm Tuy nhiên mô hình vẫn đảm bảo là khách lựa chọn sản phẩm của cơ sở nào thì khách sẽ làm việc với cơ sở đó một cách riêng tư Ở đây các cơ sở đóng vai trò các nhà cung cấp
Mô hình hỗn hợp mở rộng extended site
Trong thực tế một doanh nghiệp thường có nhiều khách hàng với cá tính chất công việc khác nhau, do vậy cần phải quản lý các khách hàng này
Trang 19khác nhau Mô hình hỗn hợp thường được sử dụng trong trường hợp này Mô hình cho phép người bán hàng có thể tạo ra nhiều site nhằm vào các nhóm người sử dụng khác nhau Ví dụ, người bán hàng có thể tạo ra các site theo vùng địa lý, các site riêng cho khách hàng lớn Tất cả các site khác nhau được tạo ra này đều có thể chia sẻ các tài sản chung nhưng catalogue chẳng hạn, tại
đó mỗi site tạo ra có thể lựa chọn một nhóm con của catalogue và chỉ phần được chọn đó mới được hiển thị, nếu cần thiết có thể thêm các thông tin riêng như giá cả, điều kiện giao hàng, thanh toán, khuyến mãi…cho site con được tạo ra Điều đó có tác dụng:
+ Cho phép doanh nghiệp tạo ra nhiều chiến lược để sản phẩm dịch vụ luôn sẵn sàng đối với khách hàng
+ Doanh nghiệp có nhiều site trình diễn khác nhau mà khách hàng thấy như là một site riêng biệt
+ Doanh nghiệp có thể tạo ra các site theo vùng địa lý, mặt hàng, phân đoạn thị trường, khách hàng
Mỗi site thể thiện như là một site riêng duy nhất cho khách hàng truy cập, mỗi site có thể áp dụng quy định kinh doanh riêng Ví dụ, các vùng đại lý khác nhau có thể có quy định giá cả, điều kiện thương mại và mức thuế khác nhau
Mô hình này khởi tạo và quản lý một cấu hình dữ liệu chung, các site
sẽ chia sẻ và sử dụng chung Doanh nghiệp có thể tạo site mở rộng chứa tất cả các khai báo cần thiết khác đối với khách hàng của mình để xác lập site duy nhất cho một thị trường đặc biệt
Mô hình kinh doanh theo kiểu mở rộng cho phép doanh nghiệp sử dụng rối đa cơ sở vật chất của nhà cung cấp dịch vụ nhưng vẫn đảm bảo được bí mật kinh doanh của mình như trường hợp xây dựng mạng kết nối internet riêng Điều này cho phép tiết kiệm chi phí và tăng hiệu quả Ngoài ra nó có
Trang 20tác dụng thúc đẩy nhanh pháp triển của TMĐT do những đòi hỏi về xây dựng
cơ sở vật chất, kỹ thuật mạng có những đơn vị chuyên đảm nhiệm Doanh nghiệp có điều kiện tập trung cho công việc kinh doanh
Mô hình bán đấu giá
Bán đấu giá nhằm xác định tiềm năng của thị trường đối với một mặt hàng hoặc xác định mức giá đối với một sản phẩm Đôi khi nó còn dùng như một công cụ xúc tiến thương mại cho sản phẩm mới Có một số kiểu bán đấu giá như tất cả người tham giá đấu giá biết các thông tin của nhau, thông tin của người tham giá đấu giá chỉ người quản trị mạng được biết còn người tham gia đấu giá không biết thông tin về giá của nhau, người tham giá không đặt giá khởi điểm mà người quản trị đặt giá và thông báo cho các thành viên tham gia đấu giá để xem ai chấp thuận giá này (thông thường sẽ đặt một giá cao sau
đó giảm dần cho tới khi có người tham gia đấu giá đồng ý)
Mô hình gọi thầu
Việc tổ chức đấu thầu là một quá trình công phu đòi hỏi phải chuẩn bị
kỹ càng và có sự tham gia của Nhà nước Các văn bản pháp quy về đấu thầu còn phải được cụ thể hóa trong trường hợp đấu thầu qua mạng Đó là điều kiện và là cơ sở để đảm bảo tính hiệu quả của đấu thầu qua mạng
Khi gọi thầu, người gọi thầu công bố gói thầu đó giành cho doanh nghiệp hàng nào và chủ các doanh nghiệp có hạng đó muốn được tham gia Các nhà thầu download hồ sơ mời thầu để nghiên cứu Tại thời điểm mở thầu, các nhà thầu chỉ gửi qua mạng đến bản chào gửi và các điều kiện thương mại khác theo quy định của hồ sơ thầu Việc xét thầu diễn ra một cách nhanh chóng, chính xác và minh bạch
Điểm khác biệt giữa Thương mại điện tử B2B và B2C:
+ Khách hàng: Khách hàng của các giao dịch B2B (giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp) là các công ty còn khách hàng của B2C là
Trang 21các cá nhân Xét về tổng thể, các giao dịch B2B phức tạp hơn và đòi hỏi tính
an toàn cao hơn
+ Đàm phán, giao dịch: Việc bán hàng cho các doanh nghiệp (B2B) phải bao gồm cả các yếu tố như đàm phán về giá cả, việc giao nhận hàng và xác định quy cách, các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm Bán hàng cho người tiêu dùng (B2C) không nhất thiết phải bao gồm tất cả các yếu tố như vậy Điều này khiến cho các nhà bán lẻ dễ dàng hơn trong việc đưa lên mạng catalog sản phẩm dịch vụ của họ để mở một siêu thị trực tuyến Đó cũng chính là lý do tại sao những ứng dụng TMĐT B2B đầu tiên được phát triển chỉ cho những hàng hóa và sản phẩm hoàn chỉnh, đơn giản trong khâu mô tả đặc tính và định giá
+ Tích hợp hệ thống: Các công ty trong TMĐT B2C không phải tích hợp hệ thống của họ với hệ thống của khách hàng Trái lại các công ty khi bán hàng cho các doanh nghiệp (B2B) cần phải đảm bảo rằng các hệ thống của họ
có thể giao tiếp được với nhau mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người dẫn đến nhu cầu phải tích hợp hệ thống của doanh nghiệp bán hàng và doanh nghiệp mua hàng
1.1.2.3 Mô hình giao dịch C2C
C2C (Consumer To Consumer - Người tiêu dùng với người tiêu dùng):
Là hình thức kinh doanh giữa những người tiêu dùng với nhau [5, tr 44]
Phương thức giao dịch TMĐT diễn ra giữa các cá nhân người tiêu dùng với nhau Tuy nhiên, khác với TMĐT B2C hoặc B2B là những mô hình kinh doanh dựa trên doanh nghiệp và do doanh nghiệp là động lực, thương mại C2C phụ thuộc rất nhiều vào trình độ TMĐT của từng cá nhân tham gia giao dịch cũng như nhận thức và nhu cầu của người tiêu dùng nói chung trong xã hội
Trang 22Tại Việt Nam với sự phát triển của Internet, nhu cầu tìm kiếm cung cấp thông tin về hàng hóa và dịch vụ qua mạng ngày càng lớn Trong vài năm gần đây, một số website xây dựng theo mô hình TMĐT C2C cũng đã xuất hiện ở Việt Nam, chủ yếu dưới 2 hình thức website rao vặt và website đấu giá Do yêu cầu kỹ thuật không phức tạp và đòi hỏi về trình độ TMĐT đối với người tham gia cũng không lớn, các website rao vặt phát triển với tốc độ khá nhanh,
cả về số lượng trang web cũng như lượng thông tin đăng trên từng trang Đây
là những website thông tin về các loại hàng hóa và dịch vụ cần bán, cần mua,
đi cùng với một số tiện ích như tìm kiếm, tư vấn tiêu dùng…
1.1.3 Những tác động của TMĐT trong nền kinh tế thị trường hội nhập
+ Tác động đến mô hình kinh doanh: Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, mô hình kinh doanh của các doanh nghiệp chịu sự tác động của TMĐT Các mô hình kinh doanh truyền thống bị áp lực của TMĐT sẽ dần dần không phù hợp và buộc phải thay đổi Thay vào đó các mô hình kinh doanh TMĐT hoàn toàn mới được hình thành Thay đổi các mô hình kinh doanh truyền thống như: Ford Motor.com; Charles Schwab, IBM.com Mô hình kinh doanh mới: Dell.com, Amazon.com, Cisco.com,
+ Tác động đến hoạt động của các lĩnh vực
- Các hãng sản xuất lớn nhờ ứng dụng TMĐT có thể giảm chi phí sản xuất và chi phí bán hàng đáng kể Chi phí sản xuất được giảm thông qua việc chi phí lưu kho nguyên vật liệu, phụ tùng được giảm đáng kể, nhà cung cấp sẽ đưa hàng thẳng đến các công ty này Chi phí bán hàng cũng được giảm nhiều
do việc thuế các showroom trưng bày các sản phẩm giảm nhờ TMĐT, chi phí marketing, quảng bá thương hiệu hình ảnh cũng được giảm đáng kể Có thể thấy rõ hiệu quả của TMĐT trong của một số hãng sản xuất như Dell.com, Ford Motor.com, General Motor, General Electrics
Trang 23- Hàng loạt các dịch vụ ngân hàng điện tử được hình thành và phát triển
mở ra cơ hội mới cho cả các ngân hàng và khách hàng: Internet banking là việc ngân hàng tiến hành công tác thanh toán với khách hàng thông qua mạng trực tuyến, giúp nâng cao tính hiệu quả trong giao dịch với ngân hàng do các khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp hay tổ chức không phải đi đến ngân hàng như trước đây mà có thể thực hiện các lệnh thu hay chi thông qua mạng internet bằng việc sử dụng các tài khoản, mật khẩu đã được ngân hàng cung cấp trước đó Các loại thẻ tín dụng cũng có thể được thanh toán trực tuyến đây là điểm khác biệt so với trước đây vì các thẻ tín dụng chỉ chủ yếu được thanh toán tại các nhà hàng, khách sạn hay ngân hàng nơi có các máy quẹt thẻ
và chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng Các loại thẻ thông minh ra đời cũng dần nâng cao chất lượng thanh toán Song song với các hình thức thanh toán trên thì cũng xuất hiện hình thức thanh toán Mobile banking Hình thức này giúp những cá nhân hay tổ chức sử dụng điện thoại di động có thể tiến hành thanh toán từ máy di động của mình Ngoài ra các máy rút tiền tự động ATM của các ngân hàng, các điểm kinh doanh thu tiền POS nối mạng của các doanh nghiệp lớn cũng xuất hiện ngày càng nhiều, sử dụng mạng internet để kết nối
dữ liệu cũng ngày càng phát triển
- Mô hình kinh doanh bảo hiểm cũng bị thay đổi bởi tác động của TMĐT Trước đây việc bán bảo hiểm được thực hiện thủ công, các nghiệp vụ được diễn ra trực tiếp với người có nhu cầu mua bảo hiểm và các công ty bảo hiểm Trong giai đoạn này, uy tín, hình ảnh của các công ty bảo hiểm được xây dựng và hình thành đối với khách hàng Đây là nền tảng cơ bản và quan trọng để các doanh nghiệp triển khai TMĐT Khách hàng ngày nay có thể ngồi tại nhà dùng thẻ thanh toán để mua bảo hiểm Công ty bảo hiểm có thể xây dựng các chương trình bán bảo hiểm ngay trên mạng, chỉ cần chăm sóc khách hàng nhân dịp các ngày lễ sinh nhật Bảo hiểm ngoài phạm vi quốc gia
Trang 24cũng được thực hiện nhanh chóng nhờ các thiết bị viễn thông và internet ngày càng phổ biến Do quy mô của loại hình kinh doanh bảo hiểm lớn nên TMĐT đóng vai trò ngày càng quan trọng
- Đối với hoạt động ngoại thương, TMĐT có những tác động hết sức mạnh mẽ do đặc thù của Internet là toàn cầu rất phù hợp với các giao dịch thương mại quốc tế Trước khi TMĐT phát triển, hoạt động của nghiệp vụ ngoại thương quốc tế chịu ảnh hưởng ở mức độ cao bởi các vấn đề về công nghệ, thiết bị, luật pháp chính sách ở mức độ yêu cầu và đòi hỏi cao Sở dĩ như vậy là về mặt tự nhiên, hoạt động ngoại thương giữa các đơn vị doanh nghiệp tại các quốc gia là có những trở ngại về khoảng cách địa lý Hoạt động mua bán không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng ra ngoài biên giới Do đó khi TMĐT phát triển, mọi hoạt động trong quy trình kinh doanh quốc tế đều chịu tác động của TMĐT [10, tr 39] Các doanh nghiêp ở Việt nam cũng nằm trong sự ảnh hưởng này, đặc biệt là các doanh nghiệp nhập siêu và xuất siêu Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp kinh doanh siêu thị như Big C, Metro và gần đây nổi lên là đại siêu thị Melinh nhập khẩu nhiều mặt hàng từ Đức, Pháp, Ý, Nga, Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển của các nghiệp vụ ngoại thương trong quá trình nhập khẩu hàng vào Việt nam
1.2 Quy trình chung của thương mại điện tử
1.2.1 Quy trình mua bán qua thương mại điện tử
Để có cái nhìn chung nhất và dễ hiểu về loại hình mua bán qua mạng này, sơ đồ dưới đây sẽ nói lên quy trình chung Sau đây là tóm tắt bằng sơ đồ
mô hình quá trình mua và thanh toán qua trang web của khách hàng cũng như tóm tắt quá trình bán hàng trên trang web của doanh nghiệp bằng sơ đồ sau:
Trang 25Hình 1.1 Quy trình mua bán qua thương mại điện tử
+ Bước 3: Chuẩn bị hàng hóa và tổ chức vận chuyển giao hàng cho khách Trong trường hợp có những thay đổi thì xác nhận lại với khách hàng
Trang 26hoặc thay đổi lại giá…cho phù hợp Sau khi hàng giao xong thì thu nốt số tiền còn lại (nếu có)
Trong quy trình chung này thì yêu cầu quản lý để thực hiện bao gồm:
Trang 271.2.2 Quy trình thanh toán và xác nhận thông tin
Hình 1.2 Quy trình thanh toán và xác nhận thông tin Ghi chú giải thích các từ tiếng Anh trong hình trên:
+ Đơn vị tham gia: Merchant: Là đơn vị bán hàng trực tuyến (siêu thị); Payment gateway: Là dịch vụ cổng thanh toán điện tử; Card association: Là tổ chức thẻ quốc tế; Card holder: Là chủ thẻ (khách hàng); Issuer bank: Là ngân hàng phát hành; Acquier bank: Là ngân hàng thanh toán
+ Các thuật ngữ: Authorisation: Là sự ủy quyền; Verification: Là sự xác nhận thông tin; Not accept: Là không chấp nhận; Issuer pay: Là người có thẻ (khách hàng) thanh toán; Batching: Là tệp thông tin; Approved transactions stored in batch: Là giao dịch được chấp nhận và lưu giữ vào tệp
Trang 28thông tin; Batch submitted for funding: Là tệp thông tin được duyệt thanh toán; Clearing and settlement: Là xác nhận và thanh toán; Card holder billed:
Là chủ thẻ (khách hàng) nhận được phiếu thanh toán; Account payable: Là việc ghi nợ tài khoản; Account receivable: Là việc ghi có tài khoản; Funding:
Là việc thanh toán; Request for approval: Là yêu cầu thanh toán; Shipping:
Là việc chuyển hàng; Purchase approved: Là giao dịch mua được chấp nhận; Fund transferred: Là việc chuyển tiền
Trong quy trình này thì các bước được thực hiện như sau:
+ Bước 1: KH thực hiện lệnh giao dịch tại webside bán hàng trực tuyến của siêu thị
+ Bước 2: Hệ thống của siêu thị gửi các thông tin của chủ thẻ tới các
bên tham gia để xác thực Bên xác thực cuối cùng là ngân hàng phát hành thẻ, tại đây xác thực về số tiền trong tài khoản có đủ để thực hiện giao dịch hay không
+ Bước 3: Sau khi ngân hàng phát hành xác thực tài khoản của chủ thẻ
sẽ gửi thông tin và biên bản xác nhận tới các bên tham gia bao gồm chủ thẻ, siêu thị và ngân hàng thanh toán
+ Bước 4: Sau khi siêu thị nhận thông tin xác nhận từ ngân hàng phát
hành sẽ tiến hàng thông báo tới ngân hàng thanh toán để làm thanh toán với ngân hàng phát hành và làm thủ tục vận chuyển hàng cho khách (Đây là bước kết thúc giao dịch giữa khách hàng và các bên tham gia)
+ Bước 5: Là giao dịch thanh toán giữa: Ngân hàng phát hành - Chủ thẻ
- Ngân hàng thanh toán của siêu thị Sau khi nhận thông tin từ siêu thị, ngân hàng thanh toán thực hiện giao dịch thanh toán và bù trừ với ngân hàng phát hành
+ Bước 6: Ngân hàng phát hành ghi nhận khoản nợ trong tài khoản của
Chủ thẻ và gửi hoá đơn cho Chủ thẻ, đồng thời làm giao dịch thanh toán bù
Trang 29trừ với ngân hàng thanh toán của siêu thị Kết thúc giao dịch tài khoản của siêu thị được ghi nhận khoản có tương ứng với số tiền có số mã đơn hàng
1.2.3 Quy trình xác nhận thông tin giao dịch mua hàng
Khách hàng đặt lệnh mua hàng trên website của siêu thị Sau đó khai báo thông tin thẻ tín dụng của mình và nhận số mã đơn hàng do siêu thị cấp Quy trình xác nhận giao dịch mua hàng bắt đầu từ lúc này Kết quả xác nhận
sẽ gửi tới khách hàng, ngân hàng thanh toán và siêu thị
Hình 1.3 Quy trình xác nhận thông tin giao dịch mua hàng
+ Bước 1: Sau khi điền đầy đủ thông tin, siêu thị gửi thông tin tới cổng
thanh toán (gồm: số mã đơn hàng, tổng số tiền và thông tin chủ thẻ) Tại đây, cổng thanh toán ghi nhận và kiểm tra giao dịch, sau đó tiếp tục chuyển tới
Trang 30ngân hàng thanh toán của siêu thị
+ Bước 2: Ngân hàng thanh toán ghi nhận giao dịch và tiếp tục chuyển
thông tin tới Tổ chức thẻ quốc tế Tại bước này Tổ chức thẻ quốc tế giải mã
và xác thực thông tin của chủ thẻ sau đó gửi cho ngân hàng phát hành
+ Bước 3: Ngân hàng phát hành thẻ sau khi nhận thông tin từ Tổ chức
thẻ quốc tế sẽ kiểm tra và xác nhận số tiền trong tài khoản của chủ thẻ và gửi
thông tin tới các bên
+ Từ bước 4 đến bước 8: Các bên tham gia nhận và gửi thông tin tới
siêu thị và khách hàng Việc có bán hàng hay không là do siêu thị quyết định
+ Bước 9: Trong trường hợp siêu thị quyết định bán hàng thì tự động
ngân hàng thanh toán của siêu thị sẽ ghi khoản có trong tài khoản của siêu thị
mở tại ngân hàng
1.2.4 Quy trình chọn hàng của khách
Hình 1.4 Quy trình chọn hàng của khách
Trang 31+ Bước 1: Tạo tài khoản: Khách hàng chưa có tài khoản tại siêu thị thì phải tạo tài khoản mới Tại bước này hệ thống của siêu thị sẽ yêu cầu khách
hàng điền đầy đủ thông tin cá nhân vào các khung tương ứng Khi khách hàng
đã chắc chắn việc cung cấp thông tin cá nhân là hợp lệ, khách hàng chọn
“Đồng ý” để hoàn tất việc đăng ký tài khoản Mọi thông tin cá nhân của khách hàng sẽ được bảo mật tuyệt đối và là thông tin để thực hiện các giao dịch tại website của siêu thị Kết thúc bước này: Hệ thống tự động của siêu thị
sẽ gửi mail kích hoạt tài khoản cho khách hàng và khách hàng truy cập vào mail để kích hoạt tài khoản
+ Bước 2: Chọn hàng và mua hàng: Khi khách hàng đã chọn được mặt
hàng ưng ý Click trực tiếp vào mặt hàng để xem chi tiết thông tin của mặt hàng và nhà cung cấp
Bước 3: Khách hàng điền thông tin vào phần: Chuyển đến; quận huyện; phương thức; gửi sản phẩm tới bạn hữu; viết tin nhắn cho nhà cung cấp Sau
đó khách hàng click vào mua hàng (hàng được chuyển vào một giỏ hàng ảo)
Bước 4: Thông tin về giỏ hàng của khách hàng hiển thị để khách hàng biết thông tin về hàng của mình Nếu tiếp tục mua hàng nhấn “Tiếp tục mua hàng” Nếu thanh toán luôn nhấn “Đặt hàng”
1.3 Thanh toán thẻ trong thương mại điện tử
Thanh toán giản đơn sử dụng tiền mặt làm phương tiện thanh toán Sự vận động của tiền có thể tách rời hay độc lập tương đối đối với sự vận động của hàng hóa Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền còn được sử dụng để nộp thuế, trả lương, chi phí dịch vụ…
Thanh toán không dùng tiền mặt được phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa phát triển cao, khối lượng hàng hóa trao đổi trong nước và nước ngoài lớn thì cần có cách thức trả tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm
Trang 32Về lý luận thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức vận động của tiền tệ Khi thực hiện chức năng thanh toán có thể sử dụng tiền đủ giá (vàng) hoặc dấu hiện giá trị Do tiền giấy và vàng dễ bị đánh cắp nên ra đời một hình thức thanh toán là séc Tuy nhiên séc có nhược điểm là không ghi có ngay vào tài khoản người thụ hưởng và chi phí in ấn, quảng cáo còn cao
Một số hình thức thanh toán áp dụng trong quá trình thanh toán nói chung và hình thức thanh toán thẻ áp dụng trong TMĐT:
+ Ủy nhiệm chi: Do người phát hành lập yêu cầu ngân hàng thanh toán
số tiền được ghi Việc chuyển nợ có ủy quyền như nhờ ngân hàng trả lương nhân viên, nộp bảo hiểm tự động…là một hình thức mới như ủy nhiệm chi Người mua cũng có thể phát hành séc chuyển khoản, bảo chi, định mức, để trả tiền hàng hóa, dịch vụ
+ Ủy nhiệm thu: Do người thụ hưởng lập và gửi vào ngân hàng phục vụ mình để thu tiền hành đã giao hay dịch vụ đã cung ứng, thông thường là điện thoại, điện, nước…
+ Ngân phiếu thanh toán: Thực chất là một lệnh trả tiền đặc biệt của chủ sở hữu nào đó, việc trả tiền thực hiện theo đúng chứng từ thanh toán có tên Ngân phiếu thanh toán
+ Thư tín dụng chứng từ: Phương thức này chủ yếu sử dụng trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
+ Các loại thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán do ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng phát hành bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hóa dịch vụ, các khoản thanh toán khác, rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy rút tiền tự động
Giao dịch thương mại điện tử bằng thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán: Là phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hóa dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông
Trang 33qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động
Theo công nghệ sản xuất
+ Thẻ khắc chữ nổi: Dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, thẻ thanh toán đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này
+ Thẻ băng từ: Dựa trên kỹ thuật thư tín với 2 băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ Thẻ này được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin trên thẻ không tự mã hóa được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không đáp ứng được
kỹ thuật mã hóa, bảo mật thông tin…
+ Thẻ thông minh (smart card) đang được thịnh hành vì có cấu trúc như một máy tính
Theo tính chất thanh toán của thẻ
+ Thẻ tín dụng: Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất theo đó, người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay…chấp nhận loại thẻ này Thẻ tín dụng có đặc điểm là chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định Từ đặc điểm này mà người ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn hiệu hay chậm trả
+ Thẻ ghi nợ: Đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi Loại thẻ này chỉ được sử dụng để mua hàng hóa hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn…đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn…Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ Có 2 loại thẻ ghi nợ cơ bản là thẻ online (giá trị các giao dịch
Trang 34được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ) và thẻ offline (giá trị các giao dịch được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau vài ngày)
+ Thẻ rút tiền mặt: Là thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền mặt tự động hoặc ở ngân hàng Với chức năng chuyên biệt là dùng để rút tiền, yêu cầu đặt
ra đối với các loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi vào tài khoản hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới được sử dụng Thẻ rút tiền mặt có 2 loại: loại 1 chỉ rút tiền mặt tại những máy tự động của ngân hàng phát hành và loại 2 được sử dụng rút tiền không chỉ ở ngân hàng phát hành mà còn được sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ
1.4 Thương mại điện tử với hội nhập kinh tế thế giới
1.4.1 Đặc điểm thương mại điện tử hiện nay ở Việt nam và Hà nội
+ Cơ sở hạ tầng hạn chế: Việt nam là một nước đang phát triển Mặc dù
có tốc độ phát triển nhanh, tuy nhiên chênh lệch về cơ sở hạ tầng viễn thông cho TMĐT so với các nước công nghiệp còn khá xa Sự ảnh hưởng của nhà nước vẫn còn lớn nên chưa khuyến khích được môi trường cạnh tranh và dẫn
Trang 35đến những bất hợp lý trong quá trình triển khai thực hiện Các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) như FPT chưa mua được những đường truyền dung lượng đủ lớn để phục vụ cho các ứng dụng của TMĐT Do đó nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với tỷ lệ cước phí viễn thông trên thu nhập cao nhiều hơn
so với các nước Thêm vào đó là ở nước ta vấn đề an ninh mạng chưa an toàn, những bức tường lửa phải được dựng lên Điều này hạn chế những thông tin tốt đến với doanh nghiệp Ở Việt nam lĩnh vực viễn thông được chính phủ khuyến khích và duy trì tốc độ phát triển 15% mỗi năm Dự án phát triển thuộc khu vực sông Mê kông (MKDF) tiến hành tại 93 doanh nghiệp tư nhân cho kết quả là 33% trong số này đã kết nối Internet nhưng không cho rằng đó
là công cụ hữu ích, 48% chỉ sử dụng thư điện tử [7, tr 129] Kết quả này cho thấy doanh nghiệp Việt nam vẫn còn thờ ơ với Internet cũng như TMĐT và hầu như ưa thích với hình thức kinh doanh truyền thống Mục tiêu kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT ở Việt nam đến 2010 là đa số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Việt nam tham gia TMĐT và các cơ quan chính phủ sẽ
sử dụng TMĐT vào mục đích quản lý, cung cấp dịch vụ công và giám sát Điều này đòi hỏi những nỗ lực rất lớn không chỉ của chính phủ mà còn của tất
cả các đối tác liên quan đến doanh nghiệp [7 tr 130]
+ Chưa quen xây dựng lòng tin với đối tác: Các doanh nghiệp Việt nam còn hạn chế trong xây dựng lòng tin với đối tác là do luật pháp của Việt nam chưa chặt chẽ, doanh nghiệp Việt nam khi chưa có thương hiệu không được một tổ chức quốc tế uy tín nào đứng ra đảm bảo về sự tin cậy và sự khác biệt
về văn hóa Khi đối thoại trực tuyến, doanh nghiệp Việt nam không thể thuê một cơ quan để khảo sát một nhà cung cấp tiềm năng Vấn đề lòng tin được thực hiện thông qua việc tuân thủ hợp đồng về giao hàng và thanh toán, tôn trọng thông tin bí mật khách hàng, bảo vệ các giao dịch trước sự tấn công của tin tặc…
Trang 36+ Chưa đồng bộ về luật pháp và chính sách: Doanh nghiệp Việt nam đòi hỏi phải nâng cấp và xây dựng nhiều bộ luật như luật hợp đồng, luật bảo
vệ người tiêu dùng, luật bảo vệ quyền lợi riêng tư, luật sở hữu trí tuệ…và các chuẩn mực kỹ thuật như các chuẩn về cách thức thanh toán qua Internet, hàng hóa chuyển giao cho người sử dụng cuối cùng, an ninh, chứng thực, chữ ký
số, giao thức kết nối….Những đòi hỏi này tác động đến TMĐT cũng như mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng và chính phủ Những yêu cầu của luật quốc gia và quốc tế về sử dụng văn bản viết tay hoặc chữ ký tay trong các giao dịch thương mại quốc tế thường được coi là trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển TMĐT của Việt nam cũng như trên toàn thế giới Bên cạnh đó đặc điểm trong chính sách cần có sự không phân biệt trong chính sách thuế, quyền
sở hữu trí tuệ trong môi trường trực tuyến, các chính sách về quyền cá nhân
và bảo vệ người tiêu dùng… Các vấn đề khác như quyền lợi của các đối tác thương mại, chia sẻ rủi ro của nhà cung cấp dịch vụ và các mạng, kiểm toán trực tuyến…cũng cần được quan tâm Bên cạnh đó đặc điểm của TMĐT Việt nam là còn mới mẻ đối với nhiều doanh nghiệp
+ Hạn chế nguồn nhân lực và vấn đề đào tạo: Doanh nghiệp Việt nam thường thiếu khả năng trả lương thỏa đáng cho các nhân công cung ứng dịch
vụ chuyên môn Việc triển khai TMĐT cũng đòi hỏi một số lượng lao động lớn ở các khâu có trình độ chuyên môn cao để xây dựng các ứng dụng, cung cấp và phổ biến các kiến thức kỹ thuật về TMĐT Việc thiếu chuyển giao tri thức khiến nhân viên mới gặp khó khăn khi thao tác hệ thống tích hợp phức tạp, khó tìm nơi bảo trì chất lượng tốt, giá cả hợp lý khi xảy ra sự cố
Những đặc điểm trên cần phải được xem xét đồng bộ và giải quyết thấu đáo trước khi triển khai các ứng dụng của TMĐT
Trang 371.4.2 Những tác động của thương mại điện tử hội nhập với kinh doanh thương mại tại Viêt nam và Hà nội
Thương mại điện tử đã tác động đến nhiều khía cạnh của kinh doanh hiện đại: Ngân hàng, marketing, sản xuất, chiến lược kinh doanh, định vị và phân
khúc thị trường
+ Nghiên cứu thị trường: Một mặt TMĐT hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
các hoạt động nghiên cứu thị trường truyền thống, một mặt tạo ra các hoạt động mới giúp nghiên cứu thị trường hiệu quả hơn đối với nhiều doanh nghiệp của Việt nam Các hoạt động như phỏng vấn theo nhóm, phỏng vấn sâu được thực hiện trực tuyến thông qua Internet; hoạt động điều tra bằng bảng câu hỏi được thực hiện qua công cụ webbased tiện lợi, nhanh và chính xác hơn do đó giúp giảm bớt khoảng cách với những nước phát triển hơn trong việc khai thác các tiện ích của loại hình này
+ Hành vi khách hàng: Hành vi khách hàng trong TMĐT thay đổi nhiều
so với trong thương mại truyền thống do đặc thù của môi trường kinh doanh mới Các giai đoạn xác định nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá lựa chọn, hành động mua và phản ứng sau khi mua hàng đều bị tác động bởi Internet và Web Thực tế được đi sâu phân tích trong Chương 2 cho thấy, TMĐT giúp thay đổi cách thức mua sắm của người dân Việt nam nói chung cũng như ở
Hà nội nói riêng
+ Phân đoạn thị trường và thị trường mục tiêu: Do đặc điểm ở các vùng miền của Việt nam khác nhau, nên có nhiều tiêu chí để đánh giá thị trường Các tiêu chí để lựa chọn thị trường mục tiêu dựa vào tuổi tác, giới tính, giáo dục, thu nhập, vùng địa lý được bổ sung thêm bởi các tiêu chí liên đặc biệt khác của TMĐT như mức độ sử dụng Internet, thư điện tử, các dịch vụ trên web cũng đang dần được chú ý đến
+ Định vị sản phẩm: Hiện tại, các tiêu chí để định vị sản phẩm cũng thay
Trang 38đổi từ giá rẻ nhất, chất lượng cao nhất, dịch vụ tốt nhất, phân phối nhanh nhất được bổ sung thêm những tiêu chí của riêng TMĐT như nhiều sản phẩm nhất không những đáp ứng mọi nhu cầu của cá nhân và doanh nghiệp mà còn giá thấp nhất và dịch vụ tốt nhất
+ Các chiến lược marketing hỗn hợp: Bốn chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh cũng bị tác động của TMĐT Việc thiết kế sản phẩm mới hiệu quả hơn, nhanh hơn, nhiều ý tưởng mới hơn nhờ sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa Nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp và khách hàng Việc định giá cũng chịu tác động của TMĐT khi doanh nghiệp Việt nam tiếp cận được thị trường toàn cầu, đồng thời đối thủ cạnh tranh và khách hàng cũng tiếp cận được nguồn thông tin toàn cầu đòi hỏi chính sách giá toàn cầu và nội địa cần thay đổi để có sự thống nhất và phù hợp giữa các thị trường Việc phân phối đối với hàng hóa hữu hình và vô hình đều chịu sự tác động của TMĐT, đối với hàng hóa hữu hình quá trình này được hoàn thiện hơn, nâng cao hiệu quả hơn; đối với hàng hóa vô hình, quá trình này được thực hiện nhanh hơn hẳn so với thương mại truyền thống Đặc biệt hoạt động xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam nói chung
và các doanh nghiệp tại Hà nội nói riêng có sự tiến bộ vượt bậc nhờ tác động của TMĐT với các hoạt động mới như quảng cáo trên website, quảng cáo bằng e-mail, diễn đàn cho khách hàng trên mạng, dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/7
1.4.3 Những nội dung cơ bản của thương mại điện tử cần lưu ý khi tham gia thanh toán trực tuyến
+ Vấn đề bảo mật trong thanh toán điện tử: Phương pháp thanh toán internet cho TMĐT B2C phổ biến nhất là thẻ tín dụng Nguy cơ sử dụng giả mạo thẻ tín dụng của một người khác cũng thường xuyên trừ khi tồn tại một giao thức có thể xác nhận tính chân thật của một người chủ sở hữu thẻ ở phía
Trang 39bên kia của không gian ảo Người tiêu dùng cần phải trình một chứng thực xác nhận, chứng thực này có thể được lưu trữ ở một thẻ thông minh sao cho những kẻ giả mạo không thể lạm dụng thông tin của thẻ ngay cả khi thông tin
có thể bị lộ ra
+ Thẻ tín dụng hợp lệ: Khi giao dịch mua bán trên mạng, một thẻ tín
dụng được coi là hợp lệ khi có đủ 2 điều kiện là thẻ được cung cấp bởi ngân hàng hay tổ chức cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán trên mạng và thẻ có đủ khả năng chi trả cho hàng hóa hoặc dịch vụ mà người chủ thẻ định mua
+ Tính pháp lý trong thanh toán điện tử bao gồm:
- Giá trị pháp lý của các hình thức thông tin điện tử: Các giao dịch dân
sự, thương mại yêu cầu phải được thực hiện dưới hình thức văn bản Nếu các hình thức thông tin điện tử không được ghi nhận về mặt pháp lý là một hình thức của văn bản, các hợp đồng giao kết trên mạng sẽ bị coi là hợp đồng vô hiệu do không đáp ứng được yêu cầu về hình thức của hợp đồng
- Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử: Trong giao dịch TMĐT, các yêu cầu đặc trưng về chữ ký tay có thể đáp ứng được bằng chữ ký điện tử Về mặt công nghệ và pháp lý, chữ ký điện tử phải đáp ứng được sự an toàn và thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch về thông tin chứa đựng trong văn bản điện tử Luật pháp sẽ tập trung đặt ra yêu cầu về nhận dạng chữ ký điện tử cho phép các bên không liên quan hoặc có ít thông tin về nhau có thể xác định
độ tin cậy của chữ ký điện tử bằng một cơ quan trung gian
- Vấn đề bản gốc: Bản gốc thể hiện tính toàn vẹn của thông tin chứa đựng trong văn bản Trong giao dịch qua mạng điện tử, vấn đề bản gốc đặt ra gắn liền với việc sử dụng chữ ký điện tử không những chỉ xác định chữ ký người ký mà còn nhằm xác minh cho tính toàn vẹn của nội dung văn bản Sử dụng chữ ký điện tử đồng nghĩa với việc mã hóa các tài liệu được ký kết Việc giải quyết trọng vẹn về mặt pháp lý 3 vấn đề liên hệ mật thiết với nhau: văn
Trang 40bản, chữ ký và bản gốc trong TMĐT đem lại cho văn bản điện tử giá trị pháp
lý ngang với văn bản truyền thống
- Giá trị chứng cứ của văn bản điện tử: Khi giá trị của văn bản điện tử không được đứng ngang hàng với văn bản viết truyền thống trong quan hệ tố tụng thì các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ thường lựa chọn văn bản viết khi tiến hành giao kết hợp đồng dân sự, thương mại Tuy vậy khi xác định một văn bản điện tử có giá trị chứng cứ, các thẩm phán phải kiểm định độ tin cậy của hệ thống bảo mật, mã hóa văn bản điện tử, bảo đảm yêu cầu về tính nguyên vẹn của thông tin chứa đựng trong văn bản
- Hình thức pháp lý của các giao dịch điện tử: TMĐT dựa vào các giao dịch điện tử, khác với giao dịch truyền thống bằng văn bản Pháp luật về hợp đồng cũng như thực tiễn xét xử chưa từng xem giao dịch điện tử là hợp đồng Pháp luật của nước ta quy định hình thức hợp pháp của hợp đồng phải là văn bản Điều này đặt ra vấn đề về giá trị pháp lý và khả năng bảo đảm thực hiện hợp đồng của TMĐT cũng như các vấn đề cụ thể như thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng TMĐT, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, sửa đổi, bổ sung
và chấm dứt hợp đồng…vẫn chưa được đề cập
- Thuế trong hợp đồng TMĐT: Sự tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của TMĐT cũng tạo ra các mối quan hệ về thuế Các cơ quan thuế thường gặp nhiều khó khăn trong việc xác định căn cứ tính thuế, thuế suất Trong trường hợp một công ty TMĐT có số lượng lớn khách hàng ở các quốc gia khác nhau thường tạo ra sự bất đồng giữa 2 cơ quan thuế của 2 nước về thẩm quyền, ai được hưởng quyền thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng…Đặc biệt khó xác định được cơ sở thường trú, địa điểm giao dịch, nơi tiêu thụ trong những trường hợp như vậy
- Quyền sở hữu trí tuệ: Phần lớn đối tượng trong TMĐT là các ấn phẩm trí tuệ, đặc biệt là các sản phẩm có thể số hóa Các chức năng và kỹ thuật