Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng các cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-
BÙI THU NGÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM NHẰM ĐÁP ỨNG CÁC CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ
BẢO HIỂM TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM - HOA KỲ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
MÃ SỐ : 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS TRỊNH THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2005
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
LỜI NÓI ĐẦU _1
CHƯƠNG 1- NHỮNG CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ 6 1.1 Khái quát chung về dịch vụ bảo hiểm _6
1.1.1 Khái niệm về dịch vụbảo hiểm 6 1.1.2 Phân loại dịch vụ bảo hiểm 11 1.1.3 Vai trò của bảo hiểm đối với nền kinh tế quốc dân _12
1.2 Những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ _14
1.2.1 Những nét chính về Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ _14 1.2.2 Những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam -
Hoa Kỳ _18
CHƯƠNG 2 - TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM CỦA VIỆT NAM TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ _25 2.1 Thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam 25
2.1.1 Qui mô thị trường bảo hiểm 25 2.1.2 Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp _29
Trang 42.1.3 Hệ thống pháp luật của hoạt động kinh doanh bảo hiểm 31 2.1.4 Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm 33 2.1.5 Những đóng góp của thị trường bảo hiểm đối với nền kinh tế quốc dân 34
2.2 Đánh giá tình hình thực thi các qui định về dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 37
2.2.1 Thành lập cơ quan quản lý nhà nước độc lập _38 2.2.2 Xây dụng hệ thống các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng _39 2.2.3 Chính sách đảm bảo sự thống nhất và ổn định tài chính doanh nghiệp _40 2.2.4 Cam kết minh bạch hoá và công khai hoá các chính sách bảo hiểm _41 2.2.5 Chính sách nâng cao tính minh bạch - môi trường cạnh tranh bình đẳng trên thị trường bảo hiểm 42 2.2.6 Nhận xét chung về tình hình thực hiện các qui định 44
CHƯƠNG 3 - NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM NHẰM ĐÁP ỨNG CÁC QUI ĐỊNH VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ 45 3.1 Tác động của Hiệp định Thương mại Việt Nam -Hoa Kỳ tới phát triển thị
trường bảo hiểm Việt Nam 45
3.1.1 Tác động đối với hệ thống pháp lý và công tác quản lý nhà nước _45 3.1.2 Tác động đối với thị trường bảo hiểm _52
3.2 Tìm hiểu kinh nghiệm của Trung Quốc trong mở cửa thị trường bảo hiểm _62 3.3 Các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng những qui định về bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 68
3.3.1 Nhóm giải pháp về phía cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm 70 3.3.2 Nhóm giải pháp về hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm 75
Trang 53.3.3 Nhóm giải pháp về phía các doanh nghiệp bảo hiểm _80 3.3.4 Nhóm giải pháp khác _86
3.4 Kiến nghị 87
KẾT LUẬN _88
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO _
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6BTA - Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
G ATS - Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
MFN - Tối huệ quốc
NT - Đối xử quốc gia
WTO - Tổ chức thương mại Thế giới
BAOVIET - Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam
BAOMINH - Tổng công ty cổ phần bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh
PJICO - Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex
PTI - Công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện
PVI - Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam
VINARE - Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam
PHỤ LỤC 1 DANH SÁCH CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM TRÊN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM (TÍNH ĐẾN HẾT 4/2005)
Trang 7TT TÊN DOANH NGHIỆP NĂM
THÀNH LẬP
VỐN ĐIỀU LỆ
KHỐI DOANH NGHIỆP
LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG
1 Bảo hiểm Việt Nam 1965 900 tỷ
3 Công ty Tái bảo hiểm quốc
gia Việt Nam (Vinare)
5 Công ty Bảo hiểm TP Hồ chí
Minh ( Bảo Minh )
9 Công ty Liên doanh bảo hiểm
quốc tế Việt nam-VIA
Trang 813 Công ty TNHH bảo hiểm
Allianz (Việt Nam)
1999 6,295
triệu USD
100% vốn đầu
tư nước ngoài
Phi nhân thọ
14 Công ty TNHH Manulife (Việt
Liên doanh Nhân thọ
16 Công ty TNHH bảo hiểm nhân
thọ Prudential Việt Nam
100% vốn đầu
tư nước ngoài
Nhân thọ
18 Công ty TNHH bảo hiểm tổng
hợp Groupama Việt Nam
19 Công ty cổ phần môi giới bảo
hiểm Việt quốc
2001 6 tỷ
đồng
Cổ phần Môi giới
20 Công ty Liên doanh TNHH
bảo hiểm Samsung-Vina
2002 5 triệu
USD
Liên doanh Phi nhân
thọ
21 Công ty Liên doanh TNHH
bảo hiểm Châu á - Ngân hàng
22 Công ty TNHH môi giới bảo
hiểm Gras Savoye Việt Nam
24 Công ty cổ phần môi giới bảo
hiểm Đại Việt
Trang 9Viễn Đông đồng thọ
26 Công ty TNHH môi giới bảo
hiểm Marsh Việt Nam
Trang 10SO SÁNH MỨC ĐỘ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
NƯỚC HIỆN TRẠNG MỞ CỬA TẠI THỜI ĐIỂM
1997
CAM KẾT MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM TRONG WTO
Brazil Cho phép liên doanh bảo hiểm với
50%vốn nước ngoài, với điều kiện cổ đông nước ngoài có cổ phần lớn nhất không quá 30% Cấm hoàn toàn hình thức chi nhánh và 100% vốn nước ngoài ngoại trừ đối với kinh doanh bảo hiểm sức khoẻ Tái bảo hiểm do nhà nước độc quyền
- Cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài trên cơ sở phê duyệt theo từng trường hợp cụ thể của cơ quan quản lí chuyên ngành
- Bảo lưu quyền cấm chi nhánh
Trung quốc Quá trình xin cấp phép kéo dài 3 năm
Chỉ cho phép liên doanh với 49% vốn nước ngoài Tính đến 1997, chỉ có 3 giấy phép liên doanh được phê duyệt
Hạn chế đối với việc chuyển lợi nhuận
về nước của bên liên doanh nước ngoài Các doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh với nước ngoài chỉ đuợc kinh doanh các lĩnh vực không cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước
- Cho phép mở rộng hoạt động của các công ty bảo hiểm nước ngoài trong các lĩnh vực bảo hiểm
y tế và bảo hiểm hưu trí sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực Bảo hiểm tài sản và tai nạn được phép thực hiện ngay khi cấp phép
- Cho phép 50% vốn góp bên ngoài đối với bảo hiểm nhân thọ
và 51% đối với bảo hiểm phi nhân thọ Các công ty liên doanh được phép thành lập chi nhánh ngay sau khi cấp giấy phép Sau 2
Trang 11năm, cỏc doanh nghiệp này được phộp mở cụng ty con Thị trường tỏi bảo hiểm được mở cửa hoàn toàn kể từ khi cỏc cam kết trong Hiệp định cú hiệu lực
- Cam kết xúa bỏ cỏc hạn chế về phạm vi địa lớ cũng như phạm vi sản phẩm được phộp kinh doanh
- Nới lỏng dần yờu cầu về mức vốn phỏp định ban đầu
Indonesia Cho phép liên doanh với 80% vốn
n-ớc ngoài Chỉ có các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn n-ớc ngoài thành lập
ở Indonesia tr-ớc 1972 mới có thể chuyển sang hình thức 100% vốn n-ớc ngoài Các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t- n-ớc ngoài phải có vốn pháp định ban đầu cao hơn so với doanh nghiệp trong n-ớc Chỉ liên doanh mới đ-ợc cung cấp dịch vụ cho ng-ời Indonesia
- Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn n-ớc ngoài
- Bảo l-u quyền không cho phép
mở chi nhánh
- Xóa bỏ dần phân biệt đối xử về vốn pháp định
Malaysia Cho phép liên doanh với 49% vốn
n-ớc ngoài Không bảo l-u giấy phép cho các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn
đầu t- n-ớc ngoài lớn hơn 49% đ-ợc thành lập tr-ớc 1997 Không cho phép thành lập thêm chi nhánh mới (ngoại trừ tái bảo hiểm) Năm 1998 không
- Tăng tỷ lệ vốn n-ớc ngoài lên 51%
- Không áp dụng điều khoản bảo l-u điều kiện -u đãi hơn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu t- n-ớc ngoài đ-ợc thành lập tr-ớc ngày thực hiện cam kết
Trang 12chấp nhận hình thức chi nhánh mà yêu cầu chuyển đổi thành doanh nghiệp
Các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn
đầu t- n-ớc ngoài không đ-ợc cung cấp dịch vụ bảo hiểm tàu, hàng không
Philippin Cho phép liên doanh với 40% vốn
n-ớc ngoài
- Tăng tỷ lệ vốn n-ớc ngoài lên 51% trong liên doanh
- Cho phép 100% vốn n-ớc ngoài
- Bảo l-u quyền không cho phép
mở chi nhánh Thái lan Cho phép liên doanh với 25% vốn
n-ớc ngoài đối với dịch vụ bảo hiểm trực tiếp Cho phép liên doanh với 49%
vốn n-ớc ngoài đối với dịch vụ phụ trợ Cho phép mở chi nhánh
Cam kết giữ nguyên mức mở cửa tại thời điểm 1997
(Nguồn : Vụ tài chớnh ngõn hàng - đề ỏn nõng cao năng lực cạnh tranh của
ngành dịch vụ tài chớnh 2001, tr 30 )
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 133 Luật Kinh doanh bảo hiểm , NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2001
4 Lê thị Băng Tâm (2005), “Thị trường bảo hiểm Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO” tại Hội thảo quốc tế “Triển vọng bảo hiểm Việt Nam 2005”
5 Phùng Đắc Lộc, “5 năm trưởng thành của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam”, Tạp chí thị trường bảo hiểm - Tái bảo hiểm Việt Nam số 1/2004
6 Minh Đức, “Tập đoàn bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Singapore vào Việt Nam”,
www.vneconomy.com.vn, 4/3/2005
7 Bộ Tài chính (2004), “Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2004”
8 Chính phủ (2003), “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm
2003 – 2010”
9 Viện Khoa học Tài chính (2004), Báo cáo nghiên cứu “Đánh giá tác động của việc mở cửa thị trường đối với ngành bảo hiểm Việt Nam và giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế “, 8/2004
10 Vinare (4/2002), “Những cam kết của Trung quốc trong lĩnh vực bảo hiểm sau khi gia nhập WTO”, Thông tin thị trường bảo hiểm-Tái bảo hiểm số 2, tr 26-28
11 Vụ Tài chính Ngân hàng, Đề án “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch
vụ tài chính 2001”, tr 30
12 Tổng hợp số liệu của Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (12/2004)
13 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Công báo số 7 - 8, 2/2002
14 Trung tâm Thương mại Quốc tế (2003), “Hướng dẫn doanh nghiệp về hệ thống thương mại Thế giới”, NXB Chính trị quốc gia
Trang 1415 Bộ Tài chính(2004), “Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành”
16 PGS.TS Hoàng Văn Châu(2002), “Giáo trình Bảo hiểm trong Kinh doanh”, NXB Khoa học và Kỹ thuật
17 Mỹ Bình, “Bảo hiểm Việt Nam vươn lên tầm vóc mới”, Tạp chí Kinh tế Việt Nam và Thế giới số 1797, Thông tấn xã Việt Nam, 16/1/2005
18 Lan Hương, “Bảo hiểm Việt Nam tiến dần tới chuẩn quốc tế”,
1 US Vietnam Trade Council, “The US-Vietnam BTA : Survey of US Companies
on Implementation Issues”, www.usvtc.org 3/2/2004
Trang 152 US Vietnam Trade Council, “Benefits of the US-Vietnam BTA”, www.usvtc.org
3 Charlene Ong, “Vietnam : The Rules and Requirements in Insurance Operations”, Asia Insurance Review August 2003
4 Pete Peterson, “A Bilateral Trade Agreement : Who benefits ?”, United States Embassy Hanoi Vietnam, 29/9/2004
5 Tang Xue Bin, “Impact of the opening of market & Assession to WTO on the insurance industry in China”, Vietnam Insurance Outlook 2005, Hanoi 30-31/3/2005
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đã trở thành tất yếu khách quan của quá trình phát triển thế giới Ngày nay xu hướng tự do hoá thương mại đã và đang được tiếp tục mở rộng ở mọi tầng nấc : song phương, đa phương và khu vực Dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay đòi hỏi các nước phải nỗ lực tập trung vào cải cách kinh tế, đổi mới chính sách và luật pháp cho phù hợp với trình độ phát triển chung của thế giới, nắm bắt những cơ hội của quá trình hội nhập mang lại đồng thời đáp ứng được những khó khăn, thách thức tạo ra trong quá trình hội nhập
Ngày 13 tháng 7 năm 2000, Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ đã được kí kết, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình bình thường hoá quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước Đây là hiệp định toàn diện nhất mà Việt Nam từng kí kết và chứa đựng các lộ trình và kế hoạch chi tiết cần cải cách Hiệp định có tác động đến tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, trong đó có lĩnh vực bảo hiểm
Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biệt – kinh doanh rủi ro Bảo hiểm cũng là một ngành dịch vụ tài chính đặc biệt, mang tính toàn cầu, đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Với một lĩnh vực mang nặng dấu ấn của nền kinh tế bao cấp và còn non yếu trong kinh doanh quốc tế như dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam thì việc đối mặt với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và trước mắt là Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ quả là một thách thức to lớn
Theo lộ trình của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm được qui định trong Hiệp định, tính đến thời điểm này, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã có hiệu lực được hơn 3 năm và do đó sẽ chỉ còn 2 năm nữa cho
Trang 17các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chuẩn bị Theo hiệp định này, sau 5 năm kể từ ngày có hiệu lực, tức vào tháng 12/2007, thị trường bảo hiểm sẽ được “mở cửa hoàn toàn” cho các doanh nghiệp bảo hiểm Mỹ thâm nhập thị trường Điều này đặt ra cho ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam hàng loạt cơ hội đan xen thách thức Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt ngay chính trên thị trường nước mình để tồn tại và phát triển Vậy bảo hiểm Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng như thế nào trước trào lưu tự do hoá thương mại mà Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ mang lại; ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam phải làm gì để có thể tồn tại và phát triển trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh mẽ, kỹ thuật bảo hiểm tiên tiến và kinh nghiệm quản lí hiệu quả Đó là lí do tại sao tác giả lựa chọn vấn đề “ Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng các qui định
về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ “ làm
đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế
2 Tình hình nghiên cứu
Đã có một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu về bảo hiểm trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế , hoặc những nghiên cứu về những cam kết của chuyên ngành dịch vụ khác trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ như đề tài luận văn cao học năm 2003 của tác giả Trần thị Thu Thuỷ về Bảo hiểm Việt nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hoặc đề tài luận văn cao học năm 2004 của tác giả Đinh Diệu Linh đề cập đến Các cam kết của Việt Nam trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ về dịch vụ viễn thông … Tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài luận văn thạc sỹ nào đi sâu nghiên cứu những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, đánh giá tình hình thực hiện cũng như tác động của những cam kết
Trang 18này đối với Việt Nam và giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng những cam kết này
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích cụ thể những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, liên hệ thực trạng thực thi các qui định của Việt Nam cũng như thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay, đánh giá những tác động của Hiệp định đối với sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, để đưa ra một số giải pháp phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam nhằm đáp ứng những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn sẽ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây :
- Làm rõ những vấn đề liên quan đến khái niệm dịch vụ và dịch vụ bảo hiểm
- Phân tích làm rõ những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định BTA
- Nghiên cứu thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam kể từ khi kí kết Hiệp định và đánh giá tình hình thực thi các cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định BTA
- Đánh giá những tác động của việc thực thi những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định BTA đối với sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đáp ứng những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định BTA
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu các qui
định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ; việc thực hiện các qui định về phía Việt Nam ; thực trạng thị trường bảo hiểm
Trang 19Việt Nam, những tác động của việc thực hiện các qui định về bảo hiểm trong Hiệp định đối với sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, để đề xuất những giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: luận văn sẽ nghiên cứu thị trường dịch vụ bảo
hiểm từ khi Hiệp định có hiệu lực và những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong khuôn khổ Hiệp định BTA Luận văn sẽ đánh giá việc thực hiện các cam kết của hiệp định về phía Việt Nam Do bảo hiểm Việt Nam vẫn chưa vươn tầm hoạt động sang Hoa Kỳ nên trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả không tìm hiểu các chính sách cũng như điều kiện mở cửa thị trường bảo hiểm của Hoa Kỳ Đây cũng là điểm hạn chế của luận văn Hoạt động bảo hiểm được đề cập ở đây là bảo hiểm mang tính thương mại, không phải bảo hiểm mang tính xã hội, bắt buộc như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh
tế xã hội, về hội nhập kinh tế quốc tế và chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Viêt Nam trong giai đoạn 2003 – 2010 Ngoài ra khi nghiên cứu đề tài này, tác giả kết hợp sử dụng các phương pháp : phân tích tổng hợp, thống kê,
so sánh … Luận văn cũng tham khảo ý kiến rộng rãi của giới nghiên cứu và chuyên môn thông qua các hội thảo, hội nghị, tham luận về bảo hiểm
7 Dự kiến đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu và hệ thống các qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
- Đánh giá tình hình thực hiện cam kết về phía Việt Nam
- Đưa ra bức tranh toàn cảnh về thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp về phía Nhà nước và về phía các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm đáp ứng yêu cầu về dịch vụ bảo hiểm trong
Trang 20Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ nói riêng và hội nhập kinh
tế quốc tế nói chung
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục chữ viết tắt, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục thành 3 chương như sau :
Chương 1 - Những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp đinh thương mại
Việt Nam – Hoa Kỳ Chương 2 - Tình hình thực hiện các qui định về dịch vụ bảo hiểm của Việt
Nam trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ Chương 3 - Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhằm đáp ứng
các qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Đề tài được thực hiện trong điều kiện công tác thống kê số liệu toàn ngành chưa hoàn thiện, việc trao đổi cập nhật thông tin giữa các cơ quan quản
lí bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm còn nhiều hạn chế, vì vậy luận văn không tránh khỏi nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý chân thành của các Thày, Cô giáo, đồng nghiệp và bạn bè
Tác giả xin chân thành cảm ơn TS Trịnh Thị Thu Hương, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa sau đại học, các Thày, các Cô đã giảng dạy lớp Cao học
9, Trường đại học Ngoại thương Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền bá những kiến thức quí báu, sâu rộng, giúp tôi có nền tảng khoa học để thực hiện
đề tài nghiên cứu này Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp tại Phòng quản lý bảo hiểm – Bộ tài chính, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, Bảo hiểm Việt Nam, Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt
Trang 21Nam, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam trong việc cung cấp thông tin và số liệu thống kê, giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 22CHƯƠNG 1 NHỮNG CAM KẾT VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM TRONG
HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM
Nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm là phân bổ rủi ro Trong khi
đó, rủi ro lại luôn vận động, không chỉ giới hạn trong một quốc gia mà có thể
di chuyển đến một hoặc nhiều nước khác, có liên quan đến quyền lợi của các
tổ chức và cá nhân thuộc nhiều quốc tịch Vì vậy sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam không thể tách rời và đứng ngoài xu thế hội nhập quốc tế Hiệp định BTA có thể coi là bước đầu tiên thể hiện những cam kết cụ thể và rõ ràng nhất cả về lộ trình cũng như nội dung hội nhập của thị trường bảo hiểm Việt Nam Để tìm hiểu nội dung những qui định về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định BTA, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm dịch vụ bảo hiểm và những vấn đề liên quan
1.1.1 Khái niệm dịch vụ bảo hiểm
1.1.1.1 Dịch vụ
Mặc dù thuật ngữ “dịch vụ” được sử dụng thường xuyên và luôn xuất hiện như là tiêu điểm của các cuộc đàm luận hay trao đổi, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về dịch vụ Chính tính vô hình, khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng và phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc nêu lên được một định nghĩa rõ ràng về dịch vụ gặp nhiều khó khăn
Theo quan điểm của Các Mác – cha đẻ của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử – dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch
vụ phát triển [7, tr 216]
Trang 23Vào những năm cuối thế kỷ 20, khi dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà kinh tế, khoa học, người ta thường có hai cách hiểu về dịch vụ Dịch vụ, hiểu theo nghĩa rộng là lĩnh vực kinh tế thứ 3 trong nền kinh tế quốc dân, do
đó theo cách hiểu này thì những hoạt động nào nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ Theo nghĩa hẹp, dịch vụ này
là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh, thương mại, bao gồm các hoạt động hỗ trợ trước, trong và sau khi bán hàng Với nghĩa này, dịch vụ được coi là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng
Theo Tạp chí "Nhà kinh tế", dịch vụ (service) "là bất kỳ cái gì đem bán
mà không thể rơi vào bàn chân bạn" Như vậy có thể hiểu dịch vụ là một sản phẩm vô hình, không nhìn thấy được và không nắm bắt được Dịch vụ là một sản phẩm vì nó là kết quả sức lao động của con người, được tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá cũng như đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người
Tỷ trọng ngành dịch vụ đang ngày càng tăng lên trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong cơ cấu nền kinh tế của các nước, như ở Mỹ là 73% GDP, EU 63%, Nhật Bản 56%, Singapore 60% Cuối thế kỷ XX ở các nước công nghiệp phát triển, số người lao động trong lĩnh vực dịch vụ thường chiếm trên 70% [12, tr.108] Ở Việt Nam, theo Tổng cục thống kê, thu nhập
từ dịch vụ chiếm khoảng 40% tổng thu nhập quốc dân và tỷ lệ này tiếp tục tăng lên qua từng năm Ngành dịch vụ cũng là ngành ngày càng mở rộng về
số lượng, qui mô, tốc độ, trở thành ngành cho số người làm việc và giá trị sản xuất ngày càng lớn Vì vậy có thể thấy rõ rằng dịch vụ là loại sản phẩm tạo ra giá trị thặng dư cao do có sự khai thác sức lao động, trí thức và chất xám của con người
Trang 24Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã phân loại dịch vụ thành 155 phân ngành, thuộc 12 khu vực sau đây :
- Dịch vụ kinh doanh gồm : nghề nghiệp, máy tính và liên quan, nghiên cứu
và triển khai, bất động sản, cho thuê, dịch vụ kinh doanh khác ;
- Dịch vụ thông tin, liên lạc gồm : bưu điện, chuyển phát nhanh, viễn thông, nghe nhìn, dịch vụ khác ;
- Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật gồm : xây dựng nhà cửa, lắp đặt máy móc, hoàn thiện các công trình ;
- Dịch vụ phân phối gồm : đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ, đại lý độc quyền, dịch vụ khác ;
- Dịch vụ đào tạo gồm : tiểu học, trung học, đại học, dịch vụ giáo dục khác ;
- Dịch vụ môi trường gồm : thoát nước, xử lý chất thải, vệ sinh và tương tự, dịch vụ khác ;
- Dịch vụ tài chính bảo hiểm gồm : bảo hiểm và liên quan, ngân hàng và liên quan, dịch vụ tài chính khác ;
- Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và xã hội gồm : chữa bệnh, bệnh viện, dịch vụ khác ;
- Dịch vụ du lịch và liên quan gồm : khách sạn và nhà hàng, đại lý và điều hành du lịch, hướng dẫn du lịch, dịch vụ khác ;
- Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao gồm : giải trí, tin tức, thư viện, kiến trúc, bảo tàng thể thao và giải trí khác ;
- Dịch vụ vận tải gồm : vận tải đường biển, vận tải thuỷ nội địa, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải ôtô, vận tải đường ống, vận tải vũ trụ, vận tải đa phương thức, dịch vụ vận tải khác ;
- Dịch vụ khác
Cũng giống như trong Hiệp định GATS của WTO, dịch vụ theo BTA,
là bất kỳ dịch vụ nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, trừ các dịch vụ được cung cấp
Trang 25khi thi hành thẩm quyền của chính phủ Dịch vụ được cung cấp khi thi hành thẩm quyền của chính phủ là dịch vụ được cung cấp không dựa trên cơ sở thương mại cũng như không dựa trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ
Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ định nghĩa thương mại dịch
vụ theo bốn “hình thức cung cấp” mà dịch vụ được cung cấp như sau :
+ Từ lãnh thổ của một Bên vào lãnh thổ của Bên kia;
+ Tại lãnh thổ của một Bên cho người sử dụng dịch vụ của Bên kia;
+ Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một Bên thông qua sự hiện diện thương mại tại lãnh thổ của Bên kia;
+ Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một Bên thông qua sự hiện diện của thể nhân của một Bên tại lãnh thổ Bên kia
Như vậy theo BTA, các công ty của Mỹ và Việt Nam có thể cung cấp dịch vụ cho nhau theo 4 hình thức cung cấp dịch vụ nói trên "Cung cấp dịch
vụ, theo BTA, không chỉ là việc bán mà còn gồm việc sản xuất, phân phối, tiếp thị và cung ứng dịch vụ Bốn hình thức cung cấp dịch vụ qui định trong BTA cũng chính là 4 hình thức cung cấp dịch vụ trong WTO Tuỳ từng loại dịch vụ mà hai bên phải sử dụng các hình thức cung cấp thích hợp
1.1.1.2 Bảo hiểm
Có nhiều khái niệm về bảo hiểm hiện đang được sử dụng trên thị trường bảo hiểm thế giới Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ đưa ra một số khái niệm được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới
- Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Kỳ thì : "Bảo hiểm là việc chuyển giao những rủi ro do các tổn thất bất ngờ và ngẫu nhiên gây ra từ người được bảo hiểm sang cho người bảo hiểm khi
họ cam kết bồi thường cho những tổn thất này; cung cấp các quyền lợi
Trang 26bằng tiền khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro cho người được bảo hiểm."
- Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì : " Bảo hiểm là sự thoả thuận qua
đó một bên (Người bảo hiểm) hứa sẽ thanh toán cho bên kia (Người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm Trách nhiệm thanh toán những tổn thất này được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm sang người bảo hiểm Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi hỏi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm."
- Khái niệm được sử dụng tại thị trường bảo hiểm Châu á : "Bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một người hay một số ít người cho nhiều người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổ chức ra một quỹ tài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm, để bồi thường hoặc bù đắp những tổn thất
do những rủi ro đó gây ra."
- Còn ở Việt Nam, chưa có một khái niệm thống nhất về bảo hiểm Theo giáo trình Bảo hiểm trong kinh doanh của trường Đại học Ngoại thương
Hà Nội, khái niệm bảo hiểm được hiểu là "một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm"
1.1.1.3 Dịch vụ bảo hiểm
Cũng giống như cách phân chia của WTO/GATS, trong hiệp định BTA, dịch vụ bảo hiểm là một trong các phân ngành thuộc ngành dịch vụ tài chính – ngành dịch vụ xếp thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ
Trang 27Bảo hiểm là một ngành dịch vụ, nói một cách đơn giản, công ty bảo hiểm không bán một sản phẩm hữu hình như xà phòng, cái bánh … mà theo thuật ngữ thương mại quốc tế, sản phẩm của các công ty được phân loại là một hoạt động “vô hình” Người sở hữu đơn bảo hiểm được cấp một văn bản - đơn bảo hiểm là bằng chứng cho một hợp đồng giữa người tham gia bảo hiểm
và công ty bảo hiểm Cam kết trong hợp đồng bảo hiểm là cam kết thanh toán bằng tiền (hoặc hàng hoá trong một số trường hợp) theo giá trị tương đương với một tổn thất cụ thể nào đó Khái niệm dịch vụ mang ý nghĩa hết sức quan trọng đối với bảo hiểm Công ty bảo hiểm bán cam kết của mình cho người được bảo hiểm Hiệu lực của một hợp đồng bảo hiểm chỉ được chứng minh vào một thời điểm trong tương lai Vào thời điểm đó, công ty bảo hiểm phải thanh toán tiền bồi thường cho người được bảo hiểm Ở bất cứ giai đoạn nào sau khi mua bảo hiểm, người được bảo hiểm sẽ được bảo vệ, và đó chính là mục đích của việc mua bảo hiểm
Cho đến nay chưa có một khái niệm chính xác nào về dịch vụ bảo hiểm Ở Việt Nam, kinh doanh bảo hiểm được hiểu là "hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm" [15]
Từ cách phân tích và cách hiểu nói trên, có thể hiểu khái quát dịch vụ bảo hiểm là sản phẩm lao động có hàm lượng trí tuệ cao của con người, được cung ứng trong lĩnh vực bảo hiểm nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng của nền kinh tế cũng như nhu cầu tiêu dùng của người dân
Trang 281.1.2 Phân loại bảo hiểm
Theo các tiêu chí khác nhau mà người ta có thể phân bảo hiểm thành nhiều loại như theo tiêu chí qui định của nhà nước thì có bảo hiểm bắt buộc
và bảo hiểm tự nguyện; theo tiêu chí đối tượng được bảo hiểm thì có bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm; theo tiêu chí tính chất của bảo hiểm thì có bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ; theo cơ chế hoạt động của bảo hiểm thì có bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại
Hiệp định BTA phân loại các dịch vụ bảo hiểm thành 4 loại và chịu sự tác động của những cam kết trong Hiệp định, đó là Bảo hiểm nhân thọ và tai nạn trừ bảo hiểm sức khoẻ ; Bảo hiểm phi nhân thọ ; Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm ; Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động bảo hiểm (gồm các dịch vụ môi giới và đại lý)
Tại Việt Nam, các loại hình bảo hiểm nói trên đã và đang được áp dụng Trong mỗi loại bảo hiểm trên có nhiều sản phẩm bảo hiểm mà các công
ty bảo hiểm Việt Nam đang cung cấp trên thị trường Ví dụ : trong bảo hiểm phi nhân thọ có loại hình Bảo hiểm tai nạn con người, Bảo hiểm tài sản, Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển, Bảo hiểm hàng không, Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm thân tàu, Bảo hiểm trách nhiệm .; trong bảo hiểm nhân thọ có Bảo hiểm trọn đời, Bảo hiểm sinh kỳ, Bảo hiểm tử kỳ, Bảo hiểm hỗn hợp, Bảo hiểm trả tiền định kỳ .; trong tái bảo hiểm có Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường, Tái bảo hiểm chỉ định …
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm đối với nền kinh tế quốc dân
Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người tham gia bảo hiểm, để từ đó khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy bảo hiểm vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội Xã hội ngày càng văn minh
và phát triển thì hoạt động dịch vụ này ngày càng phát triển đa dạng Bảo
Trang 29hiểm là hoạt động tài chính chứ không phải dịch vụ sản xuất và càng không phải là một hoạt động sản xuất
Vai trò của bảo hiểm được thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:
Bồi thường tổn thất - Bồi thường thiệt hại là một lợi ích quan trọng đối
với xã hội Bồi thường cho phép cá nhân và hộ gia đình khôi phục tình trạng tài chính của mình sau khi tổn thất xảy ra Qua đó, họ có thể duy trì được sự
ổn định kinh tế do một phần hoặc toàn bộ tổn thất đã được phục hồi, như vậy
họ không cần đến sự trợ giúp của các quỹ phúc lợi xã hội, hay trợ cấp của Chính phủ, cũng như không cần đến hỗ trợ tài chính của họ hàng và bạn bè
Việc bồi thường được thực hiện đối với các công ty cũng đem lại lợi ích lớn cho xã hội Sau khi tổn thất xảy ra, bồi thường cho phép các công ty tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình, công nhân tiếp tục có việc làm, các nhà cung cấp tiếp tục có hợp đồng và người tiêu dùng vẫn nhận được các hàng hoá và dịch vụ Nhà nước cũng được lợi do các khoản thuế vẫn thu được Tóm lại, việc bồi thường thiệt hại đóng góp rất nhiều cho sự ổn định của các hộ gia đình và các hãng sản xuất kinh doanh và vì vậy nó là lợi ích kinh tế xã hội quan trọng nhất của bảo hiểm
Giảm bớt lo âu và sợ hãi- Điều này đúng cả trước và sau khi tổn thất
Ví dụ, khi những người trụ cột gia đình sở hữu các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đủ lớn, họ sẽ ít lo lắng về mặt tài chính của những người ăn theo họ trong trường hợp họ chết sớm, những người tham gia bảo hiểm tai nạn dài hạn sẽ không phải lo lắng nhiều đến thu nhập của mình nếu không may bị ốm nặng hay gặp tai nạn bất ngờ và những người chủ tài sản một khi đã tham gia bảo hiểm tài sản của mình thì cũng sẽ nhẹ đầu hơn vì yên tâm rằng họ sẽ được bồi thường nếu gặp tổn thất
Trang 30Tạo lập quỹ đầu tư - Các công ty bảo hiểm là những nhà đầu tư cung
cấp nguồn vốn dài hạn cho Chính phủ và các ngành công nghiệp thông qua huy động quỹ từ các cổ đông và người tham gia bảo hiểm
Đầu tư là một lĩnh vực mà các công ty bảo hiểm nhân thọ rất quan tâm, điều này có được nhờ tính chất hoạt động kinh doanh của họ Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực nhiều năm, trong thời gian này người tham gia bảo hiểm đóng những khoản phí đều đặn, sau khi trích lập quỹ dự trữ để trả cho các hợp đồng đáo hạn và những tổn thất, hàng năm các công ty bảo hiểm nhân thọ luôn có những khoản tiền nhàn rỗi rất lớn Với các khoản tiền nhàn rỗi và vốn tự có của mình, trước kia họ thường đầu từ vào trái phiếu Chính phủ và các chứng khoán có lãi suất cố định Ngày nay, để bắt kịp với tốc độ lạm phát và chi phí gia tăng, các công ty bảo hiểm đã mở rộng các hình thức đầu tư của mình : đầu tư vào cổ phiếu thường, đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bảo lãnh phát hành chứng khoán, bảo trợ cho các dự án phát triển sản phẩm và công nghệ mới
Nhờ những khoản đầu tư của các công ty bảo hiểm, nguồn vốn của xã hội được gia tăng đáng kể điều này giúp cho các doanh nghiệp có thể đa dạng khoản vay và giảm chi phí vốn, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Ngăn ngừa tổn thất - Ngăn ngừa tổn thất là một lợi ích quan trọng khác
của bảo hiểm Các công ty bảo hiểm rất tích cực tham gia vào các chương trình đề phòng và hạn chế tổn thất Họ cũng sử dụng một lượng lớn cán bộ làm công tác ngăn ngừa tổn thất bao gồm các kỹ sư an toàn, chuyên gia trong phòng cháy, tai nạn nghề nghiệp , chăm sóc y tế và trách nhiệm sản phẩm Một số hoạt động ngăn ngừa tổn thất quan trọng mà các công ty bảo hiểm thường tham gia như : An toàn cho đường cao tốc giảm tai nạn chết người, Ngăn ngừa hoả hoạn, Giảm các bệnh nghề nghiệp, Chống mất cắp ôtô, Ngăn ngừa và bảo vệ những tổn thất do phá hoại, Ngăn ngừa việc lưu hành những
Trang 31sản phẩm khuyết tật, Phòng chống nổ nồi hơi Các hoạt động đề phòng, ngăn ngừa tổn thất giảm thiểu cả tổn thất trực tiếp và gián tiếp hay hậu quả của chúng, qua đó mang lại lợi ích cho toàn xã hội
Đẩy mạnh tín dụng - Bảo hiểm là một công cụ hữu hiệu của các tổ chức
tín dụng trong vịêc hạn chế rủi ro thu hồi các khoản nợ thông qua việc yêu cầu người đi vay tham gia bảo hiểm tài sản thế chấp hoặc tham gia bảo hiểm nhân thọ bản thân họ với giá trị hợp đồng tương đương với khoản vay, với điều kiện người hưởng lợi là các tổ chức cho vay Trong trường hợp tài sản thế chấp bị phá huỷ hoặc người đi vay chết hoặc bị thương tật không có khả năng thanh toán nợ thì các tổ chức tín dụng vẫn có thể thu hồi nợ trên cơ sở bồi thường của các công ty bảo hiểm Trong thực tế, các ngân hàng cung cấp tín dụng để các công ty hay hộ gia đình thực hiện mua tài sản (dây truyền công nghệ, máy móc thiết bị, xe hơi ) trả góp thì họ thường bắt buộc tham gia bảo hiểm vật chất cho các tài sản này Như vậy bảo hiểm có tác dụng thúc đẩy tín dụng cá nhân và doanh nghiệp trong phạm vi toàn xã hội
Trang 32Hiệp định được hai bên đánh giá là đảm bảo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi cho cả hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ
1.2.1.1 Ý nghĩa của việc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Hiệp định BTA có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam Hiệp định không chỉ mở ra những cơ hội mới trong quan hệ thương mại song phương với Hoa Kỳ mà còn giúp Việt Nam có cơ hội hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nhằm thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam, góp phần phát triển nền kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Trước hết, đây là Hiệp định đầu tiên Việt Nam đàm phán ký kết theo tiêu chuẩn của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) với nhiều nội dung, kể cả trong lĩnh vực thương mại dịch vụ nói chung và dịch vụ bảo hiểm nói riêng, gần giống với nội dung hiệp định của WTO mà Việt Nam đang tiến hành đàm phán để xin gia nhập Chính vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ký được Hiệp định BTA là Việt Nam "đã đặt được nửa bàn chân" vào WTO, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập nhanh chóng và hiệu quả hơn với nền kinh tế thế giới
Thứ hai, Hiệp định BTA tuy chỉ là một hiệp định thương mại song phương nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có nền kinh tế mạnh nhất thế giới, chi phối hoạt động và quyết định của nhiều tổ chức quốc tế có uy tín như WTO, WB, IMF Ký được hiệp định thương mại với Hoa Kỳ thì không chỉ vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế nâng cao mà Việt Nam còn có thể có được nhiều hơn những ảnh hưởng tích cực của các tổ chức quốc tế nói trên trong quá trình phát triển nền kinh tế của mình
Thứ ba, thị trường Hoa Kỳ luôn là một thị trường hấp dẫn đối với các nước Châu Á (trong đó có Việt Nam) và cũng là mục tiêu của các nước ở
Trang 33nhiều châu lục khác Không chỉ bởi Hoa Kỳ là một nước có dân số đứng thứ 4 trên thế giới (với trên 270 triệu dân), mà còn là nước có nền kinh tế liên tục tăng trưởng Bên cạnh sức mua khổng lồ hàng nghìn tỷ USD hàng nhập khẩu mỗi năm, Hoa Kỳ là một thị trường đa dạng, phong phú về nhu cầu, thực sự là một thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng đối với Việt Nam Với nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia, Hiệp định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu sang Hoa Kỳ
Cuối cùng, Hiệp định BTA sẽ góp phần làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam thêm hấp dẫn vì thực hiện Hiệp định, Việt Nam sẽ phải hoàn thiện môi trường pháp lý, kinh tế cho hoạt động thương mại và đầu tư theo hướng hội nhập, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế kinh doanh một cách bình đẳng Hơn nữa, các nhà đầu tư hoạt động tại Việt Nam sẽ có một thị trường thuận lợi với mức thuế ưu đãi khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ Đồng thời, những gì Việt Nam thu được thông qua việc tăng cường và mở rộng đầu tư không chỉ dừng lại ở lợi ích trước mắt là tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân và xã hội mà còn thu lợi lâu dài và căn bản là có cơ hội tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm, phương thức quản lý cũng như nguồn vốn nước ngoài Đây là những hành trang cần thiết cho việc tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong thế kỷ mới
Bằng việc ký kết Hiệp định BTA với Hoa Kỳ, Việt Nam đã góp phần
"chủ động và tích cực thâm nhập thị trường quốc tế, chú trọng thị trường các trung tâm kinh tế thế giới, duy trì và mở rộng thị phần trên các thị trường quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở rộng thị trường mới” như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định
Trang 341.2.1.2 Một số nội dung cơ bản của Hiệp định BTA
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ được đàm phán và ký kết cơ bản dựa trên những nguyên tắc, qui định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trong đó có nhiều quy phạm pháp lý và kỹ thuật còn mới mẻ đối với Việt Nam Hiệp định được ký kết vào ngày 13 tháng
7 năm 2000, được phê chuẩn bởi Quốc hội Hoa Kỳ vào tháng 10 và Quốc hội Việt Nam vào tháng 11 năm 2001 BTA là một hiệp định rộng bao gồm các nguyên tắc, cam kết và nghĩa vụ trong thương mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ, đầu tư, tạo thuận lợi cho kinh doanh và tính minh bạch công khai Đó là hiệp định toàn diện nhất mà Việt Nam từng ký kết và chứa đựng các lộ trình và kế hoạch chi tiết cần cải cách có tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam
Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ gồm 7 chương với 72 điều
và 9 phụ lục, đề cập tới 4 nội dung chủ yếu : thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ và quan hệ đầu tư
Mở đầu Hiệp định là cam kết chung của chính phủ hai nước Việt Nam
và Hoa Kỳ mong muốn thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế và thương mại trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau
Với 7 chương (72 điều và 9 phụ lục), Hiệp định BTA được kết cấu như sau :
- Chương 1 về Thương mại hàng hoá, gồm 9 điều khoản và 5 phụ lục
A, B, C, D, E qui định về những vẫn đề chủ yếu sau : Qui chế tối huệ quốc và không phân biệt đối xử; đối xử quốc gia ; những nghĩa vụ chung về thương mại; mở rộng và thúc đẩy thương mại; văn phòng thương mại chính phủ; hành động khẩn cấp đối với hàng nhập khẩu; tranh chấp thương mại; thương
Trang 35mại nhà nước; các định nghĩa về "công ty", "doanh nghiệp", "công dân",
"tranh chấp", "thương mại", "quyền kinh doanh"
- Chương 2 về Quyền sở hữu trí tuệ, gồm có 18 điều, trong đó hai bên cam kết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của công dân nước kia không kém sự bảo
hộ mà công dân nước đó đang được hưởng mà không yêu cầu công dân nước
đó tuân thủ bất kỳ thủ tục nào
- Chương 3 về Thương mại dịch vụ, gồm 11 điều và các phụ lục F,G trong đó hai bên cam kết đưa vào Hiệp định các qui định của khuôn khổ Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) bao gồm qui chế tối huệ quốc, chế
độ đãi ngộ quốc gia và pháp luật quốc gia
Phụ lục G đi kèm với Hiệp định còn nêu cụ thể những cam kết của Việt Nam cho các công ty dịch vụ Hoa Kỳ vào hoạt động theo lộ trình và những giới hạn Việt Nam đặt ra đối với các loại hình đầu tư dịch vụ này
- Chương 4 về Phát triển quan hệ đầu tư gồm 15 điều và 2 phụ lục H,I chủ yếu nêu rõ việc hai bên cam kết đối xử với các dự án đầu tư của nước kia không kém phần thuận lợi hơn với chính dự án đầu tư trong nước hay dự án của nước thứ 3 trên lãnh thổ của mình, tuỳ thuộc vào cái nào thuận lợi hơn Cam kết như vậy nghĩa là các dự án đầu tư của Mỹ cũng chỉ cần đăng ký thành lập mà không cần xin giấy phép đầu tư chẳng hạn nên đi kèm với chương này có phụ lục nêu rõ những lĩnh vực hai bên không áp dụng cách đối
xử như trên, như phía Việt Nam là phát thanh, truyền hình, in ấn, ngân hàng, khai thác mỏ, địa ốc ., phía Hoa Kỳ là năng lượng nguyên tử, dịch vụ tài chính
- Các bức thư giữa Bộ trưởng Bộ thương mại Việt Nam - ông Vũ Khoan và Đại diện thương mại thuộc Phủ tổng thống Hoa Kỳ - bà Charlene Barshefky sau khi ký Hiệp định về chế độ cấp giấy phép đầu tư được xem là một phần không tách rời của Hiệp định BTA này
Trang 36- Chương 5 về Tạo thuận lợi cho kinh doanh bao gồm 3 điều khoản chủ yếu đề cập tới những cam kết của hai bên tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hai nước
- Chương 6 về Các qui định liên quan đến tính minh bạch, công khai và quyền khiếu kiện gồm 8 điều khoản chủ yếu đề cập đến nghĩa vụ của các bên phải công bố kịp thời những luật, qui định và thủ tục hành chính có tính chất
áp dụng chung, liên quan đến những vấn đề được qui định trong Hiệp định cũng như trách nhiệm công bố của các bên mỗi khi có sự thay đổi về luật pháp, qui định ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp Việc công bố phải được thực hiện trước khi thay đổi có hiệu lực Đồng thời, các bên phải cung cấp cho các doanh nghiệp thông tin, dữ liệu về kinh tế, cho phép các doanh nghiệp được tham gia góp ý kiến vào những dự thảo luật, qui định, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động của họ
- Chương 7 về Những điều khoản chung gồm 8 điều khoản qui định về giao dịch và chuyển tiền qua biên giới; an ninh quốc gia; các ngoại lệ chung; thuế; tham vấn; xử lý trong trường hợp xung đột; các phụ lục, bản cam kết và thư trao đổi; điều khoản cuối cùng, hiệu lực, thời hạn, đình chỉ và kết thúc
1.2.2 Những cam kết về dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định BTA
Thoả thuận về thương mại dịch vụ trong BTA nói chung và dịch vụ bảo hiểm nói riêng đều dựa trên tinh thần của GATS và được qui định tại Chương III và phụ lục G Những nguyên tắc chung đối với thương mại dịch vụ nêu trong Chương III như đối xử tối huệ quốc, pháp luật quốc gia, đối xử quốc gia, các hình thứ cung cấp dịch vụ, các ngành và lĩnh vực dịch vụ đề cập trong Hiệp định, tiếp cận thị trường … cũng được áp dụng đối với dịch vụ bảo hiểm Lộ trình cam kết cụ thể về dịch vụ bảo hiểm được nêu tại Phụ lục G của Hiệp định BTA - Bản lộ trình cam kết thương mại dịch vụ cụ thể
Trang 37Như vậy, vị trí dịch vụ bảo hiểm trong Hiệp định BTA được sắp xếp theo đúng thứ tự, lộ trình như trong Hiệp định Chung về Thương mại Dịch vụ của WTO (GATS) Điều này tạo thuận lợi cho Việt Nam trong tiến trình đàm phán để gia nhập WTO Giả sử cuối năm 2005 Việt Nam được gia nhập WTO như kế hoạch đề ra thì Việt Nam cũng đã trải qua gần 4 năm kinh nghiệm thực hiện các cam kết về mở cửa dịch vụ bảo hiểm với Hoa Kỳ
1.2.2.1 Những qui định chung đối với dịch vụ bảo hiểm
Việc đối xử với các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm Hoa Kỳ tuân theo qui chế Tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT)
Nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc (MFN) được qui định tại điều 2
chương III Việt Nam và Hoa Kỳ đồng ý dành đối xử Tối huệ quốc cho dịch
vụ và nhà cung cấp dịch vụ của nhau Hai bên cam kết : " mỗi bên dành ngay lập tức và vô điều kiện cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bên kia
sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà bên đó dành cho các dịch vụ
và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác" Nghĩa vụ này áp dụng cho tất cả các ngành dịch vụ bao gồm cả dịch vụ bảo hiểm và tất cả các hình thức cung cấp, trừ những trường hợp mà một Bên coi là ngoại lệ Những ngoại lệ này được liệt kê trong Bản cam kết riêng của hai Bên tại phụ lục G
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) được qui định tại điều 7 chương III
Hiệp định yêu cầu Việt Nam và Hoa Kỳ, phù hợp với các cam kết về lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm đã được xác định trong Lộ trình của mình, phải dành đối xử quốc gia cho các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm của Bên kia Điều này có nghĩa là các Bên đồng dành cho các dịch vụ bảo hiểm và nhà cung cấp dịch
vụ bảo hiểm của Bên kia, sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà bên đó dành cho các dịch vụ bảo hiểm và người cung cấp dịch vụ bảo hiểm tương tự của mình
Trang 38Nguyên tắc từng bước tự do hoá dịch vụ bảo hiểm Nguyên tắc này yêu
cầu các bên đưa ra các cam kết cụ thể về biện pháp mở cửa thị trường bảo hiểm, xoá bỏ dần rào cản thể chế, qui định của pháp luật cản trở sự thâm nhập của nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài Do đó, trong "lộ trình cam kết
cụ thể" của Việt Nam (Phụ lục G) ta đã nêu lên các điều kiện, hạn chế về
mở cửa thị trường bảo hiểm cho các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm Hoa Kỳ
Lộ trình cam kết cụ thể này là bộ phận không rời Hiệp định và các bên có nghĩa vụ thực hiện lộ trình đó
Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách về dịch vụ bảo hiểm
Theo nguyên tắc này, tính minh bạch hoá hệ thống chính sách về dịch vụ bảo hiểm phải đạt những yêu cầu sau :
a Ấn định công khai, rộng rãi cụ thể các văn bản pháp luật và kể cả các điều ước quốc tế mà hai bên đã tham gia
b Mỗi bên phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin theo đề nghị của phía bên kia nhưng những thông tin đó không được liên quan đến bí mật quốc gia
c Cả hai bên Chính phủ Việt Nam và Mỹ xúc tiến cho việc thành lập cơ quan chuyên trách về cung cấp thông tin
d Hai bên phải thành lập một uỷ ban để thường xuyên phối hợp, trao đổi với nhau về việc thực hiện minh bạch hoá
1.2.2.2 Lộ trình cam kết cụ thể đối với dịch vụ bảo hiểm
Theo Hiệp định BTA, Việt Nam cam kết mở cửa cho các dịch vụ bảo hiểm như sau : Bảo hiểm nhân thọ và tai nạn trừ bảo hiểm sức khoẻ ; Bảo hiểm phi nhân thọ ; Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm và Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động bảo hiểm (bao gồm các dịch vụ môi giới và đại lí)
Trên cơ sở các dịch vụ cụ thể trên, cam kết giữa Việt Nam và Hoà Kỳ đối với hoạt động bảo hiểm có thể được tóm tắt như sau :
Trang 39Đối với Chính phủ Mỹ
Mỹ cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm của Mỹ cho Việt Nam như đối với các thành viên của WTO 138 nước thành viên của WTO được phép hoạt động bảo hiểm như thế nào tại Mỹ thì Việt Nam cũng được hưởng như vậy
Đối với Chính phủ Việt Nam
Phụ lục G của Hiệp định BTA đưa ra bảng lộ trình cam kết thương mại dịch vụ cụ thể, trong đó các cam kết về dịch vụ bảo hiểm được qui định như sau :
- Cam kết mở cửa thị trường
* Đối với hình thức cung cấp qua biên giới và sử dụng dịch vụ ở nước
ngoài, Việt Nam cam kết cho phép các công ty bảo hiểm Hoa Kỳ cung cấp
không hạn chế dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; các dịch vụ tái bảo hiểm; các dịch vụ bảo hiểm trong vận tải quốc tế, các dịch vụ môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm; các dịch vụ tư vấn, giải quyết khiếu nại và đánh giá rủi
Trang 40+ 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực được lập công ty 100% vốn Hoa
Kỳ, sẽ xoá bỏ chế độ cấp phép dựa trên việc đánh giá các nhu cầu kinh tế, việc cấp phép chỉ dựa trên việc các doanh nghiệp xin cấp phép có đáp ứng đủ các điều kiện cấp phép mà pháp luật qui định hay không
+ Các công ty cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư Mỹ không được kinh doanh các dịch vụ đại lí bảo hiểm
+ Các công ty cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư Mỹ không được kinh doanh các dịch vụ bắt buộc là : bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm trong xây dựng lắp đặt, bảo hiểm các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường Hạn chế này sẽ được bãi bỏ đối với liên doanh là 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực; và đối với công ty 100% vốn Mỹ là 6 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực
+ Đối với việc tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, công ty 100% vốn Mỹ và chi nhánh các công ty bảo hiểm Mỹ phải tái bảo hiểm tại Công ty Tái bảo hiểm Việt nam một tỷ lệ tối thiểu là 20% và 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực hạn chế này sẽ được bãi bỏ, các công ty kinh doanh bảo hiểm sẽ không bị giới hạn ở tỷ lệ tái bảo hiểm và công ty tái bảo hiểm
* Với hình thức cung cấp là hiện diện thể nhân : do vấn đề này liên
quan trực tiếp đến công ăn việc làm của người dân Việt Nam nên trong hình thức này Việt Nam chưa cam kết ngoài cam kết nền chung về các biện pháp liên quan đến nhập cảnh và lưu trú tạm thời của các thể nhân của các nhóm sau :
+ Các nhà quản lí, giám đốc điều hành và các chuyên gia mà người Việt Nam không thể thay thế của các văn phòng đại diện, chi nhánh hay công
ty con của Hoa Kỳ đã thành lập trên lãnh thổ Việt Nam, được phép nhập cảnh cho thời gian lưu trú ban đầu là 3 năm và sau đó được gia hạn phụ thuộc vào thời gian hoạt động của đơn vị này tại Việt Nam