1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xuất nhập khẩu hàng may mặc tại công ty may 10

98 379 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xuất nhập khẩu hàng may mặc tại Công ty May 10
Tác giả Đỗ Thị Phương Mai
Người hướng dẫn PGS. TS. Bùi Xuân Lưu
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sỹ kinh tế
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xuất nhập khẩu hàng may mặc tại công ty may 10

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì hoạt động xuất khẩu đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia Chính vì vậy nên hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chủ trương đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế

so sánh để phát triển nền kinh tế của nước mình

Việc đẩy mạnh xuất khẩu phải gắn liền với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu bởi trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường như hiện nay, các doanh nghiệp phải thực hiện hạch toán độc lập, phải tự chịu trách nhiệm về các kết quả kinh doanh của mình chứ không còn được sự "tài trợ" của nhà nước như trước đây nữa Hoạt động xuất khẩu phát triển được hay không hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp đó Vì vậy, làm thế nào để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu luôn là bài toán cần lời giải sáng suốt và là vấn đề quan tâm hàng đầu của bộ máy lãnh đạo quản lý của doanh nghiệp xuất khẩu

Công nghiệp dệt may được coi là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phát triển công nghiệp dệt may là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong những năm gần đây, dệt may là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Đặc biệt năm 2003, lần đầu tiên dệt may vượt dầu khí trở thành ngành đem lại ngoại tệ nhiều nhất cho đất nước

Mặc dù kết quả kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may khả quan như vậy nhưng trên thực tế hiệu quả kinh tế thu được từ việc xuất khẩu hàng dệt may lại không cao, giá trị nội địa trên sản phẩm may còn thấp mới đạt khoảng 25-30% Kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam trong thời gian qua

Trang 3

gần như hoàn toàn là dựa trên phương thức gia công theo đơn đặt hàng Chính bởi vậy, làm cách nào để nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng may mặc đang là vấn đề quan tâm, bức xúc của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ nhận thức trên và trên cơ sở tìm hiểu, phân tích thực trạng kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty May 10 - một trong những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc lớn có tiếng tăm trong ngành dệt may Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty May 10”

2 Tình hình nghiên cứu:

Đến nay, trong các đề tài luận văn thạc sĩ tại trường Đại Học Ngoại Thương, chỉ có một đề tài nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kinh doanh là đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp tại

Hà Nội” của tác giả Nguyễn Tiến Vượng – lớp CH2 do PGS Vũ Hữu Tửu hướng dẫn [20] Đề tài này đã nêu lên được những lý luận cơ bản liên quan đến hiệu quả ngoại thương và đưa ra các giải pháp chung về nâng cao hiệu quả xuất nhập khẩu

Riêng đề tài về hiệu quả xuất khẩu hàng may mặc tại một doanh nghiệp

cụ thể thì chưa có luận văn thạc sĩ nào của Trường đề cập đến

Trang 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Thực trạng sản xuất kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc của Công ty May 10

Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính xuất khẩu như lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, hệ số sinh lời của vốn, tỷ suất ngoại tệ của Công ty May

10

Một số định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của việc xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty May 10

5 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; phân tích tài liệu; thống kê; so sánh và tổng hợp dùng các bảng biểu số liệu thực tế để chứng minh, phân tích những vấn đề do đề tài đặt ra

6 Kết cấu và Nội dung của luận văn:

Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP:

1.1.Hiệu quả xuất khẩu hàng hoá và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh xuất khẩu

1.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp

CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY 10 THỜI KỲ 1999-2003

2.1 Thực trạng sản xuất và xuất khẩu của Công ty May 10 thời kì

Trang 5

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng may mặc tại Công

ty May 10

Trang 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ

XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Hiệu quả xuất khẩu hàng hoá:

1.1.1.1 Khái niệm và bản chất:

Trong kinh tế, hiệu quả là mục tiêu thường xuyên, xuyên suốt và cuối cùng của mọi hoạt động kinh tế Trong khoa học và quản lý kinh tế nói chung, hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất

Xuất phát từ các điều kiện lịch sử và các góc độ nghiên cứu khác nhau nên hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh :

Quan điểm thứ nhất: Theo nhà kinh tế học người Anh Ađam Smith thì

: Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế là doanh thu tiêu thụ hàng hoá

Theo quan điểm này thì hiệu quả bị đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là doanh thu tiêu thụ hàng hoá Quan diểm này là hoàn toàn chưa hợp lý vì nó không thể hiện được bản chất của hiệu quả Cần phân định rõ sự khác nhau và mối quan hệ giữa kết quả và hiệu quả Kết quả là yếu tố cần thiết để tính toán và phân tích hiệu quả Tự bản thân mình, kết quả chưa thể hiện được nó tạo ra ở mức nào và với chi phí nào

Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh doanh là là quan hệ tỷ lệ giữa phần

trăm tăng thêm của kết quả và phần trăm tăng thêm của chi phí

Quan điểm này đã biểu hiện được quan hệ tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí đã tiêu hao Theo quan điểm này, tính hiệu quả kinh doanh chỉ

Trang 7

được xét tới phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung Nhưng theo quan điểm của triết học Mác-Lênin thì sự vật và hiện tượng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau, không tồn tại một cách riêng lẻ

Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh doanh là đại lượng so sánh giữa kết

quả đầu ra và chi phí đầu vào để đạt được kết quả đó

Ưu điểm của quan điểm này là đã phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế Nó đã gắn được kết quả với toàn bộ chi phí bỏ ra ,coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí

Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở đó thì còn rất trừu tượng và chưa chính xác, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này Điều cốt lõi là chi phí cái gì, bao nhiêu và kết quả được thể hiện như thế nào? Trên thực tế đang tồn tại nhiều loại chi phí: chi phí sản xuất cá biệt và chi phí lao động xã hội, chi phí trong nước và chi phí quốc tế và cũng tồn tại nhiều hình thức biểu hiện kết quả ( kim ngạch xuất khẩu, tăng thu nhập quốc dân, lợi nhuận )

Để làm sáng tỏ bản chất và đi đến một khái niệm hiệu quả kinh doanh hoàn chỉnh theo định hướng trên ta phải xuất phát từ những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và những luận điểm của lý thuyết hệ thống Hiệu quả kinh doanh có thể được hiểu như sau:

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất như lao động, vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu

để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế -xã hội với những chi phí thấp nhất Nói cách khác, hiệu qủa kinh doanh thể hiện mối quan hệ tương quan giữa sự vận động của kết quả với sự vận động chi phí tạo ra kết quả đó trong những điều kiện nhất định trên cơ sở tối ưu hoá việc khai thác các nguồn lực sản xuất.[10]

Về mặt hình thức, hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh Công

Trang 8

Trên cơ sở nhận thức về hiệu quả kinh doanh nhƣ trên, khái niệm về hiệu quả kinh doanh xuất khẩu có thể đƣợc phát biểu nhƣ sau:

Hiệu quả xuất khẩu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh xuất khẩu như lao động, vốn, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…để đạt được các mục tiêu kinh doanh xuất khẩu

Nhƣ vậy hiệu qủa xuất khẩu không tồn tại một cách biệt lập với sản xuất Chi phí lao động xã hội chính là nền tảng của hiệu quả xuất khẩu Nội dung cơ bản của hiệu quả xuất khẩu là nâng cao năng suất lao động xã hội hay

là tiết kiệm lao động xã hội [13] Chính sự khan hiếm của các nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đã đặt ra yêu cầu phải khai thác và sử dụng tối đa nhƣng tiết kiệm các nguồn lực Để đạt đƣợc các mục tiêu của mình các doanh nghiệp bắt buộc phải phát huy tối đa các yếu tố “nội lực”, phát huy năng lực và hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm tối đa các chi phí bỏ ra

Trang 9

1.1.1.2 Ý nghĩa của hiệu quả xuất khẩu:

Mỗi hành động của con người nói chung và trong sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ nói riêng là phải phấn đấu đạt được kết quả, nhưng không phải là kết quả bất kỳ, mà phải là kết quả có mục tiêu và có lợi ích cụ thể nào

đó Nhưng kết quả có được ở mức độ nào, với giá nào, đó chính là vấn đề cần xem xét, vì nó là chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả Vì vậy, đánh giá hoạt động ngoại thương không chỉ là đánh giá kết quả, mà còn là đánh giá chất lượng của hoạt động để tạo ra kết quả đó Vấn đề không phải chỉ là chúng ta

đã xuất khẩu được bao nhiêu tỷ đồng hàng hoá, mà còn là với chi phí bao nhiêu để có được kim ngạch xuất khẩu như vậy Mục đích hay bản chất của hoạt động kinh tế là với chi phí nhất định có thể tạo ra được nhiều sản phẩm nhất Chính mục đích đó nẩy sinh vấn đề phải xem xét lựa chọn cách nào để đạt được kết quả lớn nhất Cho nên, lầm lẫn giữa kết quả và hiệu quả là không thấy hết xuất xứ của phạm trù, của yêu cầu tiết kiệm.[13]

Từ cách nhìn nhận trên đây cho ta thấy các chỉ tiêu lượng hàng hoá nhập xuất khẩu, tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu thực hiện là những chỉ tiêu thể hiện kết quả của hoạt động xuất khẩu, chứ không thể coi là hiệu quả kinh

tế của hoạt động xuất khẩu được, nó chưa thể hiện kết quả được tạo ra với chi phí nào Để vạch ra được những quyết định có cơ sở khoa học về hoàn thiện hoạt động xuất khẩu, đưa ra được phương án kinh doanh tối ưu, cần hiểu rõ các kết quả bắt nguồn từ đâu và các yếu tố quyết định quy mô của kết quả, tức

là phải xác định rõ hiệu quả xuất khẩu là gì và cơ chế xuất hiện hiệu quả xuất khẩu

Đánh giá hiệu quả xuất khẩu nhằm mục đích nhận thức đúng đắn chất lượng trình độ, năng lực, của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu Với mỗi hoạt động, một ngành nghề, một mặt hàng xuất khẩu khác nhau đòi hỏi lượng vốn đầu tư, lượng chi phí khác nhau, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi

Trang 10

giúp các nhà kinh doanh và quản lý có thể so sánh và lựa chọn những phương

án, giải pháp có hiệu quả kinh doanh xuất khẩu tối ưu

Tóm lại, hiệu qủa kinh doanh xuất khẩu đạt được coi là một trong những công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng của mình, việc xem xét tính toán hiệu quả xuất khẩu không những cho biết việc xuất khẩu đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích và tìm ra các nhân tố để đưa ra các giải pháp và các phương án kinh doanh thích hợp trên cả hai phương diện, tăng kết quả sản xuất giảm chi phí nhằm nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh xuất khẩu

1.1.2 Hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp:

Do đó, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp là phải tối đa hoá các kết quả thu được với chi phí nhất định hoặc phải tối thiểu hoá chi phí với những kết quả nhất định Chi phí ở đây phải bao gồm các chi phí tạo ra nguồn lực, chi phí sử dụng nguồn lực và kể cả các chi phí cơ hội cho việc lựa chọn các cơ hội khác Việc tính toán chi phí như vậy mới có thể giúp doanh nghiệp tìm ra được phương án kinh doanh xuất khẩu tối ưu mang lại hiệu quả xuất khẩu cao nhất

Hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện cả về mặt không gian, thời gian trong mối quan hệ với hiệu quả kinh tế

xã hội bởi hiệu quả kinh tế cá biệt của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế xã hội

có quan hệ nhân quả và tác động tương hỗ nhau Hiệu quả kinh tế xã hội chỉ

Trang 11

có thể đạt được trên cơ sở hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp Hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp có thể coi là đạt được một cách toàn diện khi toàn

bộ hoạt động của các bộ phận mang lại hiệu quả và không làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của toàn xã hội

1.1.2.2 Sự giống và khác nhau giữa hiệu quả xuất khẩu và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp:

Xét về bản chất, hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp hoàn toàn giống như hiệu quả xuất khẩu nói chung, đó chính là hiệu quả của lao động xã hội, nó được xác định thông qua mối tương quan giữa kết quả hữu ích cuối cùng thu được và lượng hao phí lao động xã hội Bản chất chung của hiệu quả xuất khẩu hàng hoá nói chung và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp nói riêng đều là tiết kiệm chi phí lao động xã hội, tăng nguồn tích luỹ phát triển sản xuất, tăng thu ngoại tệ

Sự khác nhau căn bản giữa hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp và hiệu quả xuất khẩu hàng hoá là hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp là hiệu quả xuất khẩu cá biệt nên kết quả và chi phí ở đây chỉ được tính riêng đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP:

1.2.1 Các nhân tố khách quan :

1.2.1.1 Các công cụ quản lý xuất khẩu của nhà nước:

- Thuế quan; các biện pháp hạn chế số lượng (giấy phép xuất khẩu); giám sát ngoại hối; thủ tục hải quan Các công cụ này ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả xuất khẩu Chẳng hạn như: việc đánh thuế nhập khẩu cao các mặt hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất mặt hàng xuất khẩu hay thủ tục hải quan

Trang 12

- Hạn ngạch xuất khẩu: là những quy định của Chính phủ về số lượng cao nhất của một mặt hàng được phép xuất khẩu từ thị trường nội địa trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép Chính phủ đưa ra hạn ngạch nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực trong nước hoặc để điều tiết xuất khẩu một cách thích hợp trên cơ sở lượng hay kim ngach xuất khẩu đã cam kết giữ nước xuất khẩu và nước nhập khẩu Có thể nói rằng, nhìn

từ góc độ nào đó, hạn ngạch xuất khẩu có tác động tiêu cực đến việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp

1.2.1.2 Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu như trợ cấp xuất khẩu; cấp tín dụng ưu đãi

Các biện pháp này giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần mở rộng quy mô, chất lượng xuất khẩu Như vậy, trợ cấp xuất khẩu là một trong những nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp

1.2.1.3 Sự thay đổi của tỷ giá hối đoái :

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, tỷ giá hối đoái là nhân

tố ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi đồng nội tệ bị mất giá so với đồng ngoại tệ thì sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp và giá hàng hoá của Công ty sẽ trở nên rẻ hơn trên thị trường nước ngoài nên làm tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá của Công ty trên thị trường đó Ngược lại nếu đồng nội tệ tăng giá so với đồng ngoại tệ thì giá hàng hoá của doanh nghiệp sẽ trở nên cao hơn do đó cạnh tranh kém và sẽ làm cho khối lượng hàng hoá của Công ty bị giảm nên lợi nhuận sẽ bị giảm

Bên cạnh đó tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của lạm phát và lãi suất, do

đó sự thay đổi của tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến lượng hàng hoá xuất khẩu của doanh nghiệp và cũng ảnh hưởng đến nguồn đầu vào của doanh nghiệp,

Trang 13

ảnh hưởng đến vốn vay của và tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Công ty

1.2.1.4 Yếu tố chính trị, xã hội và quân sự

Các biến cố chính trị, bạo loạn, khủng bố, chính sách bảo hộ của các quốc gia ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến việc thị trường của doanh nghiệp được mở rộng hay thu hẹp, lợi nhuận của doanh nghiệp cao hay thấp

và ảnh hưởng đến doanh thu, tốc độ lưu chuyển hàng hoá nên ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh

1.2.1.5 Yếu tố khoa học và công nghệ

Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng kỹ thuật trước kia, cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay đang thúc đẩy mạnh mẽ tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế ở từng quốc gia, làm cho nhiều quốc gia có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá

Công nghệ, thiết bị sản xuất sản xuất lạc hậu là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng xấu đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm xuất khẩu Ngược lại, việc đầu tư công nghệ và máy móc thiết bị hiện đại góp phần đáng kể thúc đẩy sản xuất, tăng năng suất lao động, đảm bảo sản phẩm xuất khẩu đạt chất lượng cao, nhờ đó mà nâng cao được hiệu quả xuất khẩu

1.2.1.6 Môi trường luật pháp

Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp Luật pháp sẽ quy định và cho phép những lĩnh vực, những hoạt động và hình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp có thể thực hiện kinh doanh và những lĩnh vực, những hình thức, mặt hàng doanh nghiệp không được phép tiến hành hoặc được phép tiến hành hoạt động nhưng có hạn chế ở quốc gia đó cũng như ở khu vực đó

Trang 14

Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh quốc tế, nó gồm luật thương mại quốc tế, luật đầu tư nước ngoài, luật thuế, pháp luật ngân hàng Giữa các nước thường tiến hành kí kết các hiệp định, hiệp ước và dần dần hình thành nên luật khu vực và luật quốc tế Cùng với sự xuất hiện các liên minh kinh tế, liên minh chính trị, liên minh thuế quan, những thoả thuận song phương hoặc đa phương được kí kết, đang tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh buôn bán trong khu vực, quốc tế Vì vậy, có thể khẳng định rằng chỉ trên cơ sở nắm chắc hệ thống luật pháp của các quốc gia có liên quan và các hiệp định giữa các nước, mới cho phép doanh nghiệp đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn thị trường, khu vực kinh doanh, hình thức kinh doanh, mặt hàng kinh doanh nhằm tăng lợi nhuận và hạn chế rủi ro.[1]

Ngoài ra, tập quán thương mại quốc tế và các hiệp định thương mại song phương và đa phương không chỉ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh quốc tế tiến hành trôi chảy hơn, mà còn góp phần giúp giải quyết các vấn đề mới phát sinh trong kinh doanh

1.2.1.7 Môi trường văn hoá

Văn hoá được hiểu như một tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật, đạo đức, thị hiếu, phong tục tập quán và tất cả các khả năng khác mà con người có được Văn hoá quy định hành vi của mỗi con người, thông qua mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu Vì vậy, nếu nắm bắt được thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng, doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện mở rộng khối lượng cầu một cách nhanh chóng

Trang 15

Tôn giáo có thể ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của con người và

do đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Ví dụ, thời gian mở cửa hoặc đóng cửa; ngày nghỉ, kỳ nghỉ, lễ kỷ niệm

Kinh doanh ở nước ngoài, các doanh nghiệp thường phải cố gắng thích ghi với môi trường văn hoá của các nước sở tại nhằm nâng cao vị trí của mình trên thương trường quốc tế

1.2.1.8 Môi trường cạnh tranh

Kinh tế thị trường là nền kinh tế được điều tiết chủ yếu bởi cơ chế vận động thị trường -đó chính là quy luật cạnh tranh, nói khác đi thị trường là nơi gặp gỡ của các đối thủ cạnh tranh [1]

Chính sức ép cạnh tranh giữa các đối thủ này trên thương trường đã làm cho giá cả các “yếu tố đầu vào” và “yếu tố đầu ra” biến động theo những

xu hướng khác nhau Tình hình này đòi hỏi Công ty phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của mình nhằm giảm thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh Muốn vậy, Công ty cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, đưa nhanh ra thị trường những sản phẩm mới chất lượng cao, mẫu mã phù hợp, giá cả hợp lý

1.2.2 Các yếu tố chủ quan:

1.2.2.1 Yếu tố con người:

Con ngưòi có vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của tổ chức đó Yếu tố con người xét dưới góc độ là nguồn nhân lực, nó thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, đội ngũ nhân lực không chỉ đòi hỏi về chuyên môn giỏi giàu kinh nghiệm mà còn phải đòi hỏi về sự am hiểu thị trường nước sở tại giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu

Trang 16

1.2.2.2 Trình độ quản lý:

Một doanh nghiệp biết quản lý tốt sử dụng hợp lý nguồn lực nói chung

và nguồn nhân lực nói riêng, đồng thời biết phát huy tối đa năng lực kinh doanh hiện có thì mới duy trì được hiệu quả kinh doanh xuất khẩu Trình độ quản lý thể hiện ở việc biết sử dụng con người đúng việc, đúng chỗ, phù hợp với khả năng tình độ chuyên môn của từng người Bên cạnh đó người chủ doanh nghiệp còn quan tâm đến đời sống của người lao động, đến tâm tư, nguyện vọng của họ Đồng thời còn tạo ra mọi điều kiện để người lao động có điều kiện học hỏi nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp

1.2.2.3 Vốn và cơ sở vật chất:

Doanh nghiệp nói chung, đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nói riêng muốn mở rộng hoạt động kinh doanh phải cần vốn, vốn kinh doanh bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và vốn đi vay Khi có vốn doanh nghiệp sử dụng đầu tư các phương án kinh doanh hiệu qủa Việc sử dụng hợp lý nguồn vốn giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu Đây là một nhân tố có vai trò chiến lược trong kinh doanh xuất nhập khẩu

1.2.2.4 Chất lượng của hàng hoá:

Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng tới doanh thu và tốc độ lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu Chất lượng sản phẩm tốt mới giúp Công ty giành được chữ tín của khách hàng Hàng hoá chất lượng xấu, chẳng những khó bán và bán với giá thấp, mà còn ảnh hưởng đến uy tín kinh doanh của công ty Từ đó sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.2.5 Cơ cấu mặt hàng kinh doanh:

Cơ cấu mặt hàng kinh doanh có ảnh hưởng đến việc tiêu thụ hàng hoá

và tốc độ lưu chuyển hàng hoá, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh

Trang 17

Nhưng nếu doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng kinh doanh phù hợp với thị trường, đồng thời khai thác được thế mạnh của mình, được thị trường chấp nhận sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự thành công của doanh nghiệp Mỗi mặt hàng kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp mức lợi nhuận khác nhau Sự thay đổi tỷ trọng, số lượng hàng hoá sẽ làm cho lợi nhuận thay đổi Nếu giá không đổi, các yếu tố khác không đổi mà nhu cầu của người tiêu dùng tăng thì việc tăng sản lượng hàng hoá tiêu thụ sẽ làm tăng lợi nhuận

1.2.2.6 Mạng lưới kinh doanh và hệ thống phân phối:

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay thì mạng lưới kinh doanh và hệ thống kênh phân phối có ảnh hưởng rất lớn đến việc mở rộng quy mô kinh doanh tăng doanh số bán và lợi nhuận

Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoạt động kinh doanh của Công ty không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vài thị trường mà trải rộng trên rất nhiều thị trường thuộc các khu vực và châu lục khác nhau trên thế giới Do

đó để hoạt động king doanh thu được kết quả cao thì việc xây dựng một hệ thống kênh phân phối là rất cần thiết vì nó đảm bảo cho doanh nghiệp có thể duy trì ổn định và phát triển thị trường, tăng doanh số bán và gia tăng lợi nhuận để từ đó có thể nâng cao hiệu suất kinh doanh chung của toàn Công ty

1.2.2.7 Mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp:

Mục tiêu và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ từng, giai đoạn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong từng giai đoạn nhất định và tuỳ thuộc vào điều kiện của doanh nghiệp và các điều kiện của thị trường mà Công ty đề ra các mục tiêu

và chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình [10] Nếu mục đích, chiến lược đề ra đúng hướng và phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và thực tế của thị trường thì sẽ mang lại hiệu quả cao, ngược lại không những gây hiệu quả xấu với kết quả kinh doanh của doanh

Trang 18

nghiệp mà còn có thể mang lại hiệu quả không lường cho doanh nghiệp thậm chí có thể đẩy doanh nghiệp đến bờ phá sản

Ngoài các nhân tố kể trên thì các nhân tố khác như: phương thức thanh toán, phương thức bán hàng, phương thức phục vụ của doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp cần phải luôn luôn kiểm soát các yếu tố này, xem xét các mức độ ảnh hưởng của từng cá nhân, từng yếu tố đến kết quả kinh doanh từ đó phát huy những ảnh hưởng tích cực và loại trừ các ảnh hưởng xấu đến kết quả và hiệu quả kinh doanh

1.2.2.8 Uy tín doanh nghiệp:

Uy tín doanh nghiệp là một trong những tài sản vô hình của doanh nghiệp trong cơ chế thị trưòng Giá trị của nguồn tài sản này cao giúp doanh nghiệp tăng khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường, tăng sản lượng xuất khẩu, doanh thu tăng dẫn tới hiệu quả kinh doanh được nâng cao

1.3 HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VÀ CÁCH TÍNH HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU:

1.3.1 Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế ngoại thương:

Hiệu quả kinh tế của bất kỳ hoạt động kinh tế nào được biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả sản xuất và chi phí sản xuất mới chỉ đặc trưng mặt lượng của hiệu quả kinh tế Cùng với sự biểu hiện về mặt số lượng, hiệu quả kinh tế của bất kỳ một hoạt động kinh tế nào còn có tính chất lượng Tính chất lượng của hiệu quả chính là tiêu chuẩn của hiệu quả

Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế cần phải thể hiện một cách đúng đắn và đầy đủ nhất bản chất của hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế xuất khẩu là tiết kiệm lao động xã hội, hay nói khác đi là tăng năng suất lao động xã hội.[13]

Trang 19

Khái niệm tăng năng suất lao động xã hội cần được hiểu theo nghĩa tích cực của nó: không chỉ đơn thuần là việc tiết kiệm chi phí xã hội cần thiết về lao động sống và lao động vật hoá cho việc sản xuất đơn vị sản phẩm mà tăng năng suất lao động xã hội còn bao hàm ý nghĩa phát triển sản xuất

Trong nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, yêu cầu cơ bản được đặt ra khi xác định hiệu quả là phải tính tới kết quả của nền kinh tế quốc dân Quan điểm của việc xác định hiệu quả được xuất phát từ lợi ích của xã hội, của từng doanh nghiệp và người lao động Do vậy, khi xác định hiệu quả kinh tế xuất khẩu, cần phải tính toán hiệu quả của tất cả các chi phí lao động xã hội không phải chỉ ở từng khâu riêng biệt của sản xuất, mà trong tất cả các khâu của hoạt động sản xuất và xuất khẩu; không chỉ tính bởi những kết quả, những lợi ích

về mặt kinh tế, mà còn phải tính đến cả những kết quả về phương diện chính trị, xã hội

Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế của xuất khẩu được biểu hiện gián tiếp thông qua một hệ thống chỉ tiêu Nếu tiêu chuẩn biểu hiện mặt chất lượng của hiệu quả, thì hệ thống chỉ tiêu biểu hiện đặc trưng số lượng của hiệu quả kinh

tế ngoại thương

1.3.2 Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả cụ thể của hoạt động xuất khẩu

a - Chỉ tiêu lợi nhuận xuất khẩu: đây là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp xuất khẩu

b - Chỉ tiêu so sánh giá xuất khẩu so với giá quốc tế Trong trao đổi kinh doanh xuất khẩu, giá quốc tế là mức giá ngang giá chung Các doanh nghiệp phải lấy giá quốc tế làm tiêu chuẩn để so sánh với giá xuất khẩu đã được thực hiện Qua đó có thể đánh giá được hiệu quả kinh tế của các hoạt động xuất khẩu về mặt đối ngoại

c - Chỉ tiêu so sánh doanh thu xuất khẩu tính ra đồng Việt Nam theo tỷ

Trang 20

của từng mặt hàng, nhóm hàng, của từng chuyến hàng, hay của từng thời kỳ xuất khẩu khác nhau

Các chỉ tiêu trên thể hiện sự tiết kiệm lao động được thực hiện trực tiếp qua trao đổi kinh doanh xuất khẩu Phạm trù giá cả đo lường chi phí lao động mang tính quốc gia và quốc tế trong việc sản xuất ra hàng hoá xuất khẩu được thể hiện qua các chỉ tiêu đó Vì vậy, khi tính toán các chỉ tiêu trên hai yếu tố giá trị tiền tệ và phương thức thanh toán có ý nghĩa quan trọng

Về giá trị tiền tệ

Các loại giá bằng ngoại tệ thực thu trong xuất khẩu thường tính ra USD

để dễ so sánh với giá quốc tế Trong trường hợp có giá quốc tế tính bằng ngoại

tệ khác, người ta thường chuyển đổi ra USD theo tỷ giá hiện hành trên thị trường tiêu biểu được lựa chọn

Các loại giá ngoại tệ thực thu trong xuất khẩu sẽ được tính ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hiện hành của ngân hàng để có thể so sánh với chi phí xuất khẩu trong nước

Phương thức thanh toán :

-Xuất khẩu trả tiền ngay : Khi tính đến hiệu quả xuất khẩu, nhập khẩu không phải tính đến các yếu tố lãi suất của tín dụng

-Xuất khẩu thanh toán sau : Trong trường hợp này, yếu tố lãi xuất tín dụng có ý nghĩa quan trọng khi tính toán hiệu quả của xuất khẩu [13]

1.3.3 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu hiệu quả xuất khẩu

1.3.3.1 Lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận:

Lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế có tính tổng hợp, phản ánh hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 21

Nó là tiền đề để duy trì và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp, để cải thiện và nâng cao mức sống của người lao động Doanh nghiệp có lợi nhuận thì đất nước mới giầu có, phát triển

a/ Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí bỏ ra

Về nguyên tắc, lợi nhuận được tính theo công thức :

P = R –C trong đó: P: Tổng lợi nhuận thu được; R: doanh thu ;

C: chi phí lao động xã hội bỏ ra

Nếu P = 0 thì lợi nhuận bằng không chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh không có lãi, số tiền thu được bằng số tiền bỏ ra

Nếu P > 0 thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có lãi, song doanh nghiệp cần tính đến chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn

Nếu P < 0 thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có lãi, doanh nghiệp cần đánh giá và xem xét lại từng hoạt động kinh doanh của mình

để tìm ra nguyên nhân và đề ra các biện pháp để khắc phục

b/ Tý suất lợi nhuận: là loại chỉ tiêu hiệu quả ỏ dạng tương đối, đánh

giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh tế cũng như hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp nó phản ánh được sức sản xuất, suất hao

phí cũng như sức sinh lợi của từng yếu tố đầu vào Tỷ suất lợi nhuận có thể

được tính theo giá thành, vốn sản xuất kinh doanh hoặc doanh thu

*Tỷ suất lợi nhuận theo vốn hay còn gọi là hệ số sinh lời của vốn

P v = P

V cd + V ld

Trong đó :

Pv: Tỷ suất lợi nhuận theo vốn

V cd: Giá trị còn lại bình quân của tài sản cố định trong kỳ

Trang 22

Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nó cho biết khi doanh nghiệp bỏ ra một đồng vốn kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tổng số tiền lợi nhuận được phản ánh trên các báo cáo thu nhập cho ta biết kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, lợi nhuận này chưa thể đánh giá đúng đắn chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp bởi các đơn vị kinh doanh có số vốn đầu tư lớn thường có số lợi nhuận lớn hơn các đơn vị có vốn đầu tư nhỏ Bởi vậy, cần phải xem xét tổng số lợi nhuận với

số vốn được sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó

Chỉ tiêu này phản ánh chính xác hiệu quả và nó thường được sử dụng để

so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc giữa các phương án kinh doanh với nhau Chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn càng tốt và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao

Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp nào đó người ta thường so sánh chỉ tiêu này với lãi suất tiền gửi ngân hàng Chẳng hạn hiện nay lãi suất tiền gửi ngân hàng là i=7,8%/năm, nếu tỷ suất lợi nhuận Pv > i thì doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và tỷ số Pv /i càng lớn hơn 1 thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao

*Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu

Trang 23

Pc : tỷ suất lợi nhuận theo chi phí

C: chi phí

Chỉ tiêu này cho biết khi doanh nghiệp bỏ ra một đồng chi phí thì họ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận ( hiệu quả của một đơn vị chi phí) Chỉ tiêu này càng nhỏ thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng chi phí càng tốt

1.3.3.2 Tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu (tỷ lệ sinh lời của xuất khẩu)

Tỉ suất ngoại tệ xuất khẩu ( hiệu quả tương đối của việc xuất khẩu) là một đại lượng so sánh giữa khoản ngoại tệ thu được do xuất khẩu (giá trị quốc

tế của hàng hoá) với những chi phí bản tệ phải chi cho việc sản xuất xuất khẩu để có được số ngoại tệ đó (giá trị dân tộc của hàng hoá)

H xk =

D (bằng ngoại tệ)

C (bằng bản tệ)

Trong đó :

- Hxk là tỉ suất ngoại tệ ( hiệu quả tương đối của việc xuất khẩu)

- D là doanh thu (bằng ngoại tệ) từ việc xuất khẩu đơn vị hàng hoá, dịch

vụ (giá quốc tế)

- C là tổng chi phí (bằng bản tệ) bỏ ra để thu được số ngoại tệ nói trên Chỉ tiêu này cho ta biết số thu bằng ngoại tệ đối với một đơn vị chi phí trong nước Công thức này thường được vận dụng để tính hiệu quả xuất khẩu của từng mặt hàng, hoặc hiệu quả xuất khẩu sang từng nước, khu vực thị trường với những thương vụ đơn giản

1.3.3.3 Số vòng chu chuyển vốn lưu động

Vlđ TB

Trang 24

Vlđ TB = Vốn lưu động trung bình

R = Doanh thu

L = số vòng chu chuyển vốn lưu động

L cho biết một đồng vốn lưu động đem lại mấy đồng lợi nhuận

Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng, nếu số vòng quay tăng chứng tỏ hiệu qủa sử dụng vốn tăng và ngược lại

Ngoài ra, người ta còn tính:

Thời gian của một vòng luân chuyển = Thêi gian cña kú ph©n tÝch

Sè vßng quay cña vèn trong kú Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn [10]

1.3.3.4 Thời gian hoàn vốn :

Thời gian hoàn vốn là một chỉ số hiệu quả kinh tế đơn giản và được sử dụng tương đối phổ biến trong đánh giá các hoạt động dự án hay thương vụ kinh doanh xảy ra trong thời gian dài

Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian mà vốn đầu tư bỏ ra có thể thu hồi được, nhờ lợi nhuận và khấu hao cơ bản thu được hằng năm thời gian hoàn vốn được tính theo công thức:

Tv =

Vdt

P + Kc

Trong đó: Tv: Thời gian hoàn vốn (năm)

Vdt: Tổng lượng vốn đầu tư cho kinh doanh P: Lơi nhuận thu được trong năm

Kc: Mức khấu hao cơ bản hàng năm

Trang 25

Để đơn giản tớnh toỏn, trong cụng thức trờn đõy, người ta khụng tớnh đến tỷ lệ lói, nghĩa là lói suất khụng được coi là 0% Từ cụng thức trờn, ta thấy thời hạn hoàn vốn đầu tư cho kinh doanh phụ thuộc vào:

- Tổng vốn đầu tư phải bỏ ra để thực hiện nhiờm vụ kinh doanh xuất, nhập khẩu

- Lượng lợi nhuận cú thể thu được trong năm

- Tỷ lệ khấu hao cơ bản hàng năm

1.3.3.5 Năng suất lao động

W = năng suất lao động

W phản ỏnh lượng lợi nhuận do một lao động tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định (thường tớnh theo giờ, thỏng hoặc năm)

1.3.3.6 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định (vốn cố định):

Hệ số sinh lời của tài sản cố định = Nguyên giá bình quân TSCĐ Lợi nhuận thuần

Chỉ tiờu này phản ỏnh một đồng nguyờn giỏ bỡnh quõn TSCĐ đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần

1.3.3.7 Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động (vốn lưu động):

Hệ số sinh lời của vốn lưu động = Lợi nhuận thuần

Vốn l-u động bình quân Chỉ tiờu này phản ỏnh một đồng vốn lưu động thu được mấy đồng lơị nhuận thuần

Trang 26

1.3.4 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế xã hội:

Hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp thể hiện ở mức độ giải quyết công ăn việc làm, thu nhập của người lao động, và mức nộp ngân sách của doanh nghiệp dưới dạng các loại thuế phải nộp theo luật định Tất cả các khoản này dưới con mắt kế toán doanh nghiệp thực tế là khoản chi phí, làm giảm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp nhưng lại là một khoản thu nhập, là giá trị hàng hóa gia tăng đối với nền kinh tế quốc dân, đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân hữu dụng- đó chính là hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp thường được xác định như sau:

Hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp = lãi ròng+ lương+ thuế+các khoản nộp ngân sách khác- trợ giá, bù giá (nếu có)

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH XUẤT KHẨU CỦA MAY 10 THỜI KỲ 1999- 2003

2.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CỦA MAY 10 THỜI

KÌ 1999-2003 :

2.1.1 Thực trạng sản xuất của công ty:

Công ty May 10 là một trong những doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng may mặc lớn của Việt Nam Từ năm 1999 đến 2003, Công ty không ngừng tăng quy mô sản xuất Tính đến nay, Công ty đã có 10 đơn vị thành viên và 2 công ty liên doanh với các địa phương với khoảng 6000 lao động chính thức Công ty có hệ thống máy móc trang thiết bị hiện đại gồm gần

2900 chiếc được nhập từ những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Đức, Mỹ Năng lực sản xuất hiện tại của công ty lên tới 9-10 triệu sản phẩm một năm Với hệ thống nhà xuởng khang trang, máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến, May 10 đã cho ra đời những sản phẩm đáp ứng những yêu cầu khắt khe nhất về chất lượng sản phẩm Do triển khai xây dựng

và áp dụng đồng bộ và tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống quản lý chất lượng ISO

9001, hệ thống quản lý môi trường ISO 14001, hệ thống trách nhiệm xã hội SA8000, nên chất lượng sản phẩm của Công ty được khách hàng trongvà ngoài nước đánh giá cao Sản phẩm May 10 chiếm tới 85% sản lượng xuất khẩu sang nhiều thị trường nổi tiếng khó tính như Mỹ, Nhật Bản, EU, Đông

Âu, Canada, Mexico … và 15% sản lượng còn lại được cung cấp cho thị trường trong nước Nhiều sản phẩm với các thương hiệu nổi tiếng, có tên tuổi của ngành may mặc thời trang trên thị trường thế giới như Pierre Cardin, Guy Laroche, Maxim, Jacques Britt, Jensmart, Seidensticker, Dornbush, S.M.K, Camel, Arrow, Report, Philip Van Heusen, GAP, Liz Claiborn, JC Penney, Perry Ellis v.v đã được sản xuất tại Công ty May 10

Trang 28

Trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến nay, công ty đã gặp nhiều khó khăn, bất lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều diễn biến phức tạp Các thị trường lớn của công ty như Nhật Bản, EU, Mỹ đều gặp khó khăn, sức mua giảm nên các khách hàng truyền thống ký hợp đồng gia công dài hạn với công ty đã giảm dần số lượng hàng gia công và đều yêu cầu giảm giá gia công Còn thị trường trong nước, hàng của công ty phải cạnh tranh quyết liệt với hàng nhập lậu, hàng giả

và hàng trốn thuế cũng như với các doanh nghiệp khác trong ngành

Về chính sách sản phẩm, trước đây, May 10 chỉ chuyên sản xuất áo sơ

mi nam nhưng từ năm 1999, Công ty May 10 thực hiện chủ trương đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng mặt hàng sản xuất nhằm tăng thị phần của Công ty trên thị trường trong và ngoài nước và tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên Bên cạnh mặt hàng chủ lực – là áo sơ mi nam (luôn chiếm hơn 50% tổng giá trị sản lượng), Công ty tiến hành sản xuất kinh doanh áo sơ mi nữ, váy, áo jile, pijama, quần âu, quần soóc các loại, áo jacket và cả áo veston Tính đến nay, công ty đã có hơn 140 các mã hàng hiện diện trên thị trường Đặc biệt, công ty đã tiến hành đăng kí thương hiệu trên toàn quốc cho các sản phẩm cao cấp trong nước, nhờ đó các sản phẩm khẳng định được đẳng cấp chất lượng của mình trên thị trường Các sản phẩm có chất lượng cao với các thương hiệu cao cấp như: CHAMBRAY, PHARAON, BIGMAN với áo sơ mi nam; CLEOPATRE với áo sơ mi nữ; quần PRETTY WOMAN rất được ưa chuộng trên thị trường và được đánh giá cao Để kéo dài vòng đời sản phẩm, với các sản phẩm đã lỗi mốt Công ty đưa về các tỉnh khác để tiêu thụ hoặc kiên quyết giảm và ngừng sản xuất Ngoài ra, việc tổ chức tem chống hàng giả và đưa sợi chỉ bảo hiểm dệt vào nhãn mác cho các sản phẩm nội điạ, tạo uy tín cao cho các sản phẩm May 10

Về cơ sở hạ tầng, các nhà xưởng của công ty đều được xây dựng khang trang, thoáng mát, sạch sẽ, lắp đặt hệ thống máy điều hoà và thông gió công

Trang 29

suất lớn, đảm bảo cho công nhân làm việc trong một môi trường thuận lợi nhất

Nhờ những nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty và

sự năng động của bộ máy quản lý lãnh đạo, giá trị tổng sản lượng của Công ty không ngừng tăng qua các năm, đặc biệt tăng cao nhất vào năm 2003 Giá trị tổng sản lượng năm 2003 đã tăng gấp 2.65 lần năm 1999 [5]:

Bảng 2.1 Giá trị sản lượng Công ty May 10 từ 1999-2003

2.1.2 Thực trạng xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty May 10:

2.1.2.1 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu :

Với mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững, các doanh nghiệp cần phải lựa chọn cho mình một phương thức kinh doanh phù hợp, một cơ cấu mặt hàng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, cung cấp thứ mà người tiêu dùng đòi hỏi chứ không phải là cái mà các doanh nghiệp có Xã hội càng phát triển đi cùng nó là nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao nhất là các nước phát triển như các nước EU, Mỹ, Nhật, Để đáp ứng được nhu cầu đó cũng như để doanh nghiệp luôn có một chỗ đứng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế thì doanh nghiệp không chỉ

Trang 30

thay đổi cơ cấu mặt hàng sản xuất kinh doanh Công ty May 10 không nằm ngoài số đó

(Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Công ty May 10 từ 1999-2003–Bảng 2.2)

Trang 31

BẢNG 2.2: CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CÔNG TY MAY 10 TỪ 1999-2003

TỈ TRỌNG GTXK

SLXK (CHIẾC)

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU (VND)

TỈ TRỌNG GTXK

SLXK (CHIẾC)

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU (VND)

TỈ TRỌNG GTXK

SLXK (CHIẾC)

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU (VND)

TỈ TRỌNG GTXK

SLXK (CHIẾC)

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU (VND)

TỈ TRỌNG GTXK

Trang 32

Qua nghiên cứu cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, ta có thể khẳng định mặc

dù thực hiện đa dạng hoá mặt hàng nhưng sơ mi luôn là mặt hàng chủ lực của Công ty Mặt hàng sơ mi là mặt hàng truyền thống của May 10 nên dây chuyền sản xuất áo sơ mi được đầu tư và không ngừng được cải tiến hoàn thiện từ trước tới nay Do đó, lượng dây chuyên sản xuất áo sơ mi là nhiều nhất, năng lực sản xuất áo sơ mi luôn là lớn nhất so với việc may các sản phẩm khác Hơn nữa dây chuyền chuyên sản xuất các sản phẩm khác như Jacket, quần, veston .chỉ mới được đầu tư trong vài năm gần đây và với số lượng không nhiều nên khấu hao tài sản cố định đối với các sản phẩm này lớn hơn đối với áo sơ mi Doanh thu xuất khẩu của mặt hàng áo sơ mi luôn chiếm

tỉ trọng cao nhất trong tổng doanh thu xuất khẩu, là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của của Công ty chiếm trên 75% (1999 – 2002) và chiếm 60.01% tổng giá trị xuất khẩu năm 2003, nguồn thu ngoại tệ đứng thứ hai là Jacket chiếm trên 10% tổng giá trị xuất khẩu (1999 - 2001), sau cùng là quần và các sản phẩm khác (áo jilê, áo blouse, pizama, áo bông, bộ ngủ, bộ thể thao) [6]

Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu đang dần dần có sự thay đổi của Công ty sẽ không chỉ dừng lại ở việc tập trung xuất khẩu sản phẩm sơ mi nữa mà mở rộng chính sách đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu sang quần âu, quần soóc và áo jacket Năm 2002 và 2003, thị trường Mỹ mở ra cơ hội xuất khẩu lớn cho các doanh nghiệp may mặc của Việt Nam, trong đó, sản phẩm may mà thịtrường

Mỹ tiêu thụ chủ yếu là quần các loại, do đó đòi hỏi công ty phải thay đổi cơ cấu mặt hàng Tỉ trọng sản lượng và tỉ trọng giá trị xuất khẩu mặt hàng quần trong tổng sản lượng và tổng kim ngạch tăng liên tục qua các năm đặc biệt là tăng nhanh vào năm 2002 và năm 2003 Sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu này chứng tỏ sự thích ứng của Công ty với đòi hỏi của thị trường xuất khẩu và sự năng động của ban lãnh đạo Công ty

Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sơ mi trong tổng giá trị xuất khẩu giảm, song sản lượng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu áo sơ mi tăng đều trong các năm

Trang 33

Trong năm 2003 giá trị xuất khẩu hàng sơ mi từ 80.89% tổng giá trị xuất khẩu (năm2002) giảm xuống còn 60.01% tổng giá trị xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu tăng hơn năm trước là 8.501.052.498VNĐ Kim ngạch xuất khẩu áo jacket tăng không đáng kể năm 2003 là 19.146.228.462 VND, chiếm 15.60% tổng giá trị xuất khẩu, còn các sản phẩm khác như váy, áo bông, áo Pizama chưa thật sự có chỗ đứng trên thị trường quốc tế, doanh thụ tiêu thụ qua các năm còn rất thấp, doanh thu cao nhất mới chỉ đạt được 2.519.867.644 VND (chiếm 4.17% tổng doanh thu xuất khẩu) vào năm 2001 và thấp nhất vào năm

2002 đạt 50.230.769 VNĐ (chiếm 0.06% tổng giá trị xuất khẩu) [6]

Với khẩu hiệu “Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là tiền đề cho

sự phát triển bền vững của doanh nghiệp” vấn đề thị trường là yếu tố cơ bản quyết định đến sự thành bại, là vấn đề sống còn quyết định sự ổn định và phát

Trang 34

(Kim ngạch xuất khẩu của May 10 sang các thị trường từ năm

1999-2003 – Bảng 2.3)

Trang 35

BẢNG 2.3: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU CỦA MAY 10 SANG CÁC THỊ TRƯỜNG TỪ 1999-2003

TỈ TRỌNG GTXK

SLXK (CHIẾC)

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU (VND)

TỈ TRỌNG GTXK

SLXK (CHIẾC)

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU

TỈ TRỌNG GTXK

SLXK (CHIẾC)

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU (VND)

TỈ TRỌNG GTXK

SLXK (CHIẾC)

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU (VND)

TỈ TRỌNG GTXK

Trang 36

Về mặt thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu, Công ty đã tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại, tăng cường quảng cáo, khuyếch trương, các hoạt động thông qua các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước nhằm nâng cao uy tín nhãn hiệu sản phẩm dệt may trên trường Quốc tế Đối với thị trường nội địa, Công ty hoàn thiện chiến lược giành lại thị phần, kiên trì mở rộng mạng lưới tiêu thụ Đối với thị trường quốc tế, thay vì trao đổi chủ yếu ở thị trường Đông Âu trước đây, sản phẩm May 10 thâm nhập ngày càng nhiều vào thị trường Nhật Bản, Asean, Đông Bắc Á, EU và Mỹ Việc thâm nhập vào thị trường EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ đã đem lại hiệu quả cao cho hoạt động ngoại thương và khẳng định uy tín của Công ty trên thị trường và việc cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm Sự thay đổi cơ cấu thị trường đã góp phần đưa kinh

tế Việt Nam nói chung và cụ thể là Công ty May 10 vượt qua những giai đoạn khó khăn khi thế giới đang diễn ra những biến động lớn về chính trị đầu những năm 90, rồi cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực 1997- 1998, Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Công ty May 10 là: EU, Nhật Bản, Mỹ, và các thị trường khác

Thị trường thứ nhất, EU là thị trường xuất khẩu hàng dệt may truyền thống của Việt Nam Từ sau khi ký hiệp định hàng dệt may với EU đến nay, sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, được khách hàng và người tiêu dùng EU đánh giá cao [24].Thị trường EU đã từng là thị trường xuất khẩu hết sức quan trọng của May 10 Trong sáu tháng đầu những năm 1999-2001 tỉ trọng giá trị xuất khẩu vào thị trường này luôn ở mức cao ( chiếm khoảng 60% tổng giá trị xuất khẩu của Công ty) và tăng đều đến năm 2001 tăng ở mức cao nhất tới 64.71% tổng giá trị xuất khẩu Năm 2002, việc xuất khẩu sang EU bắt đầu bị giảm sút: thứ nhất là do sức mua của thị trường EU giảm; thứ hai do lượng hạn ngạch nhập khẩu mặt hàng áo sơ mi vào thị trường này năm 2002 không nhiều và đột ngột hết vào những tháng cuối năm ; thứ ba là công ty bắt đầu triển khai xuất khẩu

Trang 37

sang thị trường Mỹ Năm 2003, tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang thị trường EU giảm xuống còn 29.50% tổng kim ngạch xuất khẩu vì Công ty tập trung xuất sang thị trường Mỹ vì các đơn hàng xuất sang thị trường Mỹ thường có sản lượng rất lớn Nếu không từ chối một số đơn hàng xuất đi EU thì Công ty không đủ năng lực đảm bảo các đơn hàng xuất đi Mỹ

Thị trường thứ hai, thị trường Mỹ- vốn là thị trường tiêu thụ khổng lồ hàng may mặc : Ngày 11/12/2001 hiệp định thương mại Việt Mỹ bắt đầu có hiệu lưc thực thi, mối quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ được xây dựng trên nền tảng hợp tác hữu nghị hai bên cùng có lợi Lợi ích mà các doanh nghiệp Việt nam có được cùng với mối quan hệ tốt đẹp đó là doanh thu xuất khẩu sang thị trường Mỹ ngày càng gia tăng Trước năm 2002, xuất khẩu của May

10 sang thị trường Mỹ chỉ là xuất sang thị trường Trung Mỹ, Nam Mỹ với số lượng rất hạn chế và đơn hàng nhỏ, lẻ tẻ Hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực, thuế suất hàng dệt may vào Mỹ giảm từ trên 40% trước đây xuống còn bình quân 10% [21] Xác định thị trường Mỹ là một thị trường lớn đầy tiềm năng, Công ty đã tích cực xúc tiến tìm kiếm khách hàng vào thị trường này Năm 2002 và những tháng đầu năm 2003 khi Hoa Kỳ chưa áp đặt hạn ngạch cho hàng dệt may Việt Nam Bởi vậy, kim ngạch xuất khẩu của May

10 sang thị trường Mỹ tăng nhanh lên tới 70.534.306.901 VND trong sáu tháng đầu năm 2003, chiếm 57.47% tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty Các đơn hàng xuất sang thị trường Mỹ có đặc điểm là sản lượng lớn nhưng giá xuất khẩu sang thị trường này lại rất thấp do bị các đối tác Mỹ ép giá, bên cạnh đó, tiến độ giao hàng lại đòi hỏi nhanh nên khâu chuẩn bị nguyên phụ liệu đòi hỏi phải tốt và đồng bộ [14] Nếu công tác kế hoạch và điều tiết sản xuất tốt, khâu chuẩn bị tập kết nguyên phụ liệu kịp thời, hợp lý thì việc sản xuất những đơn hàng đi Mỹ có số lượng lớn sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuât kinh doanh xuất khẩu sẽ cao Nhưng ngược

Trang 38

công tác kế hoạch không phối hợp đồng bộ , chính xác làm ảnh hưởng đến tiến

độ sản xuất, việc giao hàng chậm trễ sẽ là một tổn thất cực kì to lớn với doanh nghiệp xuất khẩu vì khách hàng Mỹ phạt rất nặng

Thứ ba, thị trường Nhật Bản, là thị trường xuất khẩu khá quan trọng với May 10 vì đó là thị trường phi quota Nhiều hãng may mặc của Nhật đang xúc tiến đầu tư sản xuất ở Việt Nam để bán sang thị trường Nhật [24] Một số hãng lớn của Nhật là khách hàng lớn đặt hàng của May 10 như: NISSHO, KANETTA, TOMEN và nay là ITOCHU Kim ngạch xuất khẩu hàng May

10 sang thị trường Nhật Bản năm 1999 đến 2001 ở mức tương đối khá chỉ xếp sau thị trường EU Đến năm 2002-2003, kim ngạch có phần giảm xuống do Công ty tập trung vào hai thị trường lớn là Mỹ và EU

Và sau cùng là các thị trường khác như Canada, thị trường Đông Âu (Hungari, Balan, Nga ), Mexico

Trong những năm tới tỉ trọng xuất khẩu sang thị trường EU của Công ty

có xu hướng tăng nhẹ khôi phục trở lại ngang bằng với tỉ trọng xuất sang thị trường Mỹ cùng chiếm khoảng 40% tổng giá trị xuất khẩu hàng năm Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc sự cạnh tranh gay gắt về hàng dệt may của các nước sản xuất xuất khẩu hàng dệt may là thành viên của WTO, hơn nữa lại là những nước vốn có giá nhân công rất rẻ như Trung Quốc và ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, Srilanca một khi chế độ hạn ngạch dệt may bị dỡ bỏ theo hiệp định dệt may ATC

2.1.2.3 Các phương thức kinh doanh xuất khẩu của Công ty May 10:

Cũng giống như hầu hết các công ty may mặc của Việt Nam, May 10 tiến hành xuất khẩu theo hai phương thức là :gia công xuất khẩu và xuất khẩu trực tiếp

a Phương thức gia công xuất khẩu :

Trang 39

Gia công quốc tế là phương thức mà trong đó một bên, gọi là bên nhận gia công, nhập khẩu những nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác, gọi là bên đặt gia công, để chế biến ra sản phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao gọi là phí gia công

Có thể nói gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất chủ yếu trong ngành may mặc ở Việt Nam hiện nay Kim ngạch gia công xuất khẩu chiếm tỉ trọng từ 75%-80% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may [11]

Hiện nay, Công ty May 10 đã có các hợp đồng may gia công hàng xuất khẩu cho các hãng may mặc nổi tiến thế giới như GAP; BANANA, OLD

SEIDENSTICKER, DORNBUSCH… song hầu hết các hợp đồng này đều được ký qua các nhà thầu phụ như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, SINGAPORE và Nhật Bản Thực tế cho thấy trong thời gian qua, mặc dầu, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu rất cao, song lợi nhuận thu về không nhiều

vì chủ yếu đó là kim ngạch xuất khẩu theo hợp đồng gia công theo kiểu lấy công làm lãi, hiệu quả kinh tế không đáng kể Tuy nhiên, chính trong quá trình sản xuất hàng gia công qua các nhà thầu phụ, May 10 đã xây dựng được uy tín nhất định cho bản thân trên thị trường Quốc tế, tiếp cận được với các hãng may mặc nổi tiếng trên thế giới và tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho hàng nghìn cán bộ công nhân viên của công ty Thông qua các hợp đồng may gia công xuất khẩu, doanh nghiệp Việt Nam đã tạo ra những sản phẩm may mặc có mẫu mã và chất lượng phù hợp với nhu cầu nước ngoài

Việc may gia công xuất khẩu của May 10 cũng tiến hành theo hai hình thức phổ biến:

* Gia công may mặc đơn thuần: hay còn gọi là gia công bị động

Đối tác nước ngoài cung cấp cho công ty toàn bộ nguyên phụ liệu, mẫu

Trang 40

thiết bị cần thiết cho quá trình gia công và ký kết hợp đồng gia công với hình thức bao tiêu toàn bộ năng lực sản xuất của doanh nghiệp Về phần mình, công ty chỉ tự tổ chức sản xuất theo yêu cầu hoặc sự giám sát của khách hàng Tuy nhiên, giá gia công thường rất thấp, chỉ đủ trang trải phần chi phí thiết bị, trả lương công nhân và hầu như không có phần tích luỹ để tái đầu tư vào sản xuất Đây là hình thức gia công truyền thống, tồn tại phổ biến trong nhiều năm trước và hầu như ít được áp dụng tại May 10 bây giờ

* Gia công may mặc theo hình thức mua nguyên liệu theo sự chỉ định của bên đặt gia công và bán lại thành phẩm cho bên đặt gia công trên cơ sở giao hàng trực tiếp cho khách hàng của bên đặt gia công

Theo hình thức này, bên đặt gia công cung cấp mẫu mã, chỉ định người cung cấp nguyên phụ liệu cần thiết cho đơn hàng Phía Công ty sẽ giao dịch

và tự bỏ vốn ra để mua nguyên liệu từ nhà sản xuất đã được người mua chỉ định và sản xuất theo mẫu mã mà bên đặt gia công cung cấp Đây là hình thức gia công phổ biến đang áp dụng hiện nay ở May 10 và còn được gọi là hình thức xuất FOB (theo như cách gọi của giới may mặc) Trong trường hợp này, Công ty có thể chủ động hơn trong việc sản xuất kinh doanh của mình Tuy nhiên, khi áp dụng hình thức này cần chú ý vì giá thành nguyên phụ liệu chiếm khoảng 70%-75% giá thành sản phẩm [7] Như vậy, lợi nhuận của đơn hàng phụ thuộc nhiều vào cách tính toán thời gian trong việc mua nguyên phụ liệu, cách tính định mức nguyên phụ liệu cho sản phẩm và phương thức thanh toán Nếu có kinh nghiệm, lợi nhuận trong trường hợp này thu được sẽ cao hơn giá gia công thông thường Nếu không tính được chính xác, doanh nghiệp

sẽ phải chịu rủi ro do vốn mua nguyên phụ liệu quay vòng chậm hoặc gặp những rắc rối do nguyên phụ liệu đến quá trễ, thiếu thừa (định mức dự kiến không chính xác) hoặc không đạt yêu cầu của khách Hơn nữa, khi gia công xuất khẩu theo hình thức này, Công ty cần có vốn lưu động lớn và có mối quan hệ thường xuyên, lâu năm với nhà cung cấp vải, phụ liệu may mặc Hiện

Ngày đăng: 16/04/2014, 19:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Đức Bình; Bùi Anh Tuấn (2001), Giáo trình Kinh doanh Quốc tế, NXB Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh doanh Quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình; Bùi Anh Tuấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 2001
2. Bộ Công nghiệp (2001), Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Dệt – May đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Dệt – May đến năm 2010
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 2001
3. Bộ Kế Hoạch Đầu Tƣ phối hợp với UNDP, Việt Nam hướng tới 2010, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hướng tới 2010
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
4. Công Ty May 10, (1999, 2000, 2001,2002,2003), Báo cáo tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính
5. Công Ty May 10, (1999, 2000, 2001,2002,2003), Báo cáo tổng kết kiểm điểm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết kiểm điểm
6. Công Ty May 10, (1999, 2000, 2001,2002,2003) Báo cáo sản lượng tiêu thụ hàng xuất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sản lượng tiêu thụ hàng xuất
7. Công ty May 10 (2003), Bản hoạch định phương án giá một số mặt hàng chính xuất FOB, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản hoạch định phương án giá một số mặt hàng chính xuất FOB
Tác giả: Công ty May 10
Năm: 2003
9. Công ty May 10 (2003), Một số tiêu chuẩn nguyên phụ liệu, Hà Nội 10. Tô Xuân Dân (2000), Giáo trình Kinh tế học quốc tế, Nhà Xuất BảnGiáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học quốc tế
Tác giả: Công ty May 10 (2003), Một số tiêu chuẩn nguyên phụ liệu, Hà Nội 10. Tô Xuân Dân
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Năm: 2000
11. Trùng Dương (7/2002), Cần gấp rút tăng tốc ngành dệt, Báo Lao động số 173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần gấp rút tăng tốc ngành dệt
12. Huỳnh Ngọc Lâm (7/ 2003), Dệt may vẫn đối đầu nhiều khó khăn, Báo Quốc Tế số 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dệt may vẫn đối đầu nhiều khó khăn
14. Hiệp hội Dệt May Việt Nam (2003), Dự thảo chương trình hành động:Nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chương trình hành động:Nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Tác giả: Hiệp hội Dệt May Việt Nam
Năm: 2003
15. Hiệp hội Dệt May Việt Nam, Tổng Công ty Dệt may Việt Nam (2003), Tạp chí Dệt May Thời Trang, (các số từ số 5 đến số 24), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dệt May Thời Trang
Tác giả: Hiệp hội Dệt May Việt Nam, Tổng Công ty Dệt may Việt Nam
Năm: 2003
16. Phạm Thị Thu Phương (2000), Những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả ngành may Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả ngành may Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Thu Phương
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2000
17. Nguyễn Anh Thi (12/2002), Ngành dệt may chạy đua với thời gian, Thời báo kinh tế số 149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dệt may chạy đua với thời gian
18. Tổng Công ty dệt may Việt Nam ( 2000), Báo cáo chiến lược phát triển Tổng Công ty dệt may Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chiến lược phát triển Tổng Công ty dệt may Việt Nam đến năm 2010
19. Trường Đại học Ngoại thương (2000), Giáo trình Marketing lí thuyết, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing lí thuyết
Tác giả: Trường Đại học Ngoại thương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
20. Trường Đại học Ngoại thương (2002) Kỷ yếu khoa học , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu khoa học
21. Trung tâm thông tin thương Mại, Bộ Thương Mại (2000- 2003) Thông tin thương mại –chuyên ngành dệt may (các số ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Thông tin thương mại –chuyên ngành dệt may
22. Hoàng Anh Tuấn(2001) Ngành dệt may Việt Nam hiện tại và tương lai” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành dệt may Việt Nam hiện tại và tương lai
24. Vụ xuất nhập khẩu, Bộ thương mại (1999-2003) Báo cáo về thị trường xuất khẩu hàng dệt may, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về thị trường xuất khẩu hàng dệt may

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Giá trị sản lƣợng Công ty May 10 từ 1999-2003 - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xuất nhập khẩu hàng may mặc tại công ty may 10
Bảng 2.1. Giá trị sản lƣợng Công ty May 10 từ 1999-2003 (Trang 29)
BẢNG 2.2: CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CÔNG TY MAY 10 TỪ 1999-2003 - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xuất nhập khẩu hàng may mặc tại công ty may 10
BẢNG 2.2 CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CÔNG TY MAY 10 TỪ 1999-2003 (Trang 31)
Bảng  2.6 - Chỉ tiêu hiệu quả xã hội của Công ty May 10      các năm 1999-2003 - Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế xuất nhập khẩu hàng may mặc tại công ty may 10
ng 2.6 - Chỉ tiêu hiệu quả xã hội của Công ty May 10 các năm 1999-2003 (Trang 53)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w