Trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ và cán bộ nhưng hầu hết các Trung tâm Dự báo phục vụ KTTV tỉnh hoạt động khá tốt, tha
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN QUỐC GIA
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ CÔNG CỤ TRỢ GIÚP VÀ
MÔ HÌNH PHỤC VỤ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Ở ĐỊA PHƯƠNG
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS Nguyễn Kiên Dũng Trung tâm Ứng dụng công nghệ và Bồi dưỡng nghiệp vụ KTTV&MT
HÀ NỘI, 10 - 2010
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN QUỐC GIA
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ CÔNG CỤ TRỢ GIÚP VÀ
MÔ HÌNH PHỤC VỤ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Ở ĐỊA PHƯƠNG Những người tham gia thực hiện:
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ CHÍNH THỨC
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐỀ TÀI
VỤ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TL BỘ TRƯỞNG KT.VỤ TRƯỞNG
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Trang 3BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN QUỐC GIA
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ CÔNG CỤ TRỢ GIÚP VÀ
MÔ HÌNH PHỤC VỤ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Ở ĐỊA PHƯƠNG
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS Nguyễn Kiên Dũng Trung tâm Ứng dụng công nghệ và Bồi dưỡng nghiệp vụ KTTV&MT
HÀ NỘI, 10 - 2010
Trang 4PHẦN PHỤ LỤC
Trang 5BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM KHÍ TƯỢNG THUỶ VĂN QUỐC GIA
BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ CÔNG CỤ TRỢ GIÚP VÀ
MÔ HÌNH PHỤC VỤ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Ở ĐỊA PHƯƠNG
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS Nguyễn Kiên Dũng Trung tâm Ứng dụng công nghệ và Bồi dưỡng nghiệp vụ KTTV&MT
HÀ NỘI, 10 - 2010
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHỤC VỤ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 5
1.1 Khái quát về chức năng phục vụ của cơ quan khí tượng thủy văn 5
1.2 Hoạt động và hướng dẫn phục vụ của Tổ chức Khí tượng Thế giới 5
1.2.1 Phục vụ trong các chương trình của WMO 6
1.2.2 Các ấn phẩm hướng dẫn phục vụ của WMO 7
1.3 Hoạt động phục vụ khí tượng thủy văn ở các nước 8
1.3.1 Đối tượng phục vụ 8
1.3.2 Các dạng sản phẩm phục vụ 8
1.3.3 Cơ chế phục vụ 9
1.3.4 Hoạt động phục vụ KTTV cụ thể ở một số nước 9
1.4 Hiện trạng hoạt động phục vụ KTTV ở nước ta 14
1.5 Tổng quan tình hình và kinh nghiệm phục vụ ở ba tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá và Đồng Tháp 21
1.5.1 Một vài đặc điểm tự nhiên và tình hình phục vụ KTTV ở Yên Bái 21
1.5.2 Một vài đặc điểm tự nhiên và tình hình phục vụ KTTV ở Thanh Hóa 28 1.5.3 Một vài đặc điểm tự nhiên và tình hình phục vụ KTTV ở Đồng Tháp 34 1.5.4 Nhận xét chung về công tác phục vụ KTTV ở ba tỉnh 37
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG VÀ CHUYỂN GIAO MỘT SỐ CÔNG CỤ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC PHỤC VỤ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Ở ĐỊA PHƯƠNG 39
2.1 Tình hình nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng lực phục vụ khí tượng thủy văn ở địa phương 39
2.2 Nghiên cứu xây dựng một số công cụ nâng cao năng lực phục vụ khí tượng thủy văn ở địa phương 42
2.2.1 Nghiên cứu xây dựng một số công cụ nâng cao năng lực dự báo khí tượng thủy văn ở địa phương 42
2.2.2 Xây dựng các công cụ nâng cao năng lực phục vụ tư liệu KTTV ở địa phương 85
CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU, CẢI TIẾN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC SẢN PHẨM, XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHỤC VỤ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN Ở ĐỊA PHƯƠNG 107
Trang 73.1 Nghiên cứu, cải tiến các bản tin dự báo, thông báo KTTV 107
3.1.1 Cải tiến nội dung và hình thức các bản tin dự báo KTTV hạn ngắn 107 3.1.2 Cải tiến nội dung và hình thức các bản tin dự báo KTTV hạn vừa 111 3.1.3 Cải tiến nội dung và hình thức các thông báo KTTV hàng tháng 112
3.1.4 Cải tiến nội dung và hình thức các thông báo KTTV mùa 114
3.1.5 Cải tiến nội dung và hình thức các thông báo KTTV năm 115
3.2 Xây dựng mô hình phục vụ của Trung tâm KTTV tỉnh 116
3.2.1 Đối tượng phục vụ 117
3.2.2 Các sản phẩm phục vụ 117
3.2.3 Công cụ tạo ra sản phẩm phục vụ 118
3.2.4 Các sản phẩm khác 119
3.2.5 Mô hình phục vụ của Trung tâm KTTV tỉnh 120
3.3 Xây dựng qui trình phục vụ KTTV của Trung tâm KTTV tỉnh 122
3.3.1 Qui trình phục vụ 122
3.3.2 Trình tự thực hiện các nội dung phục vụ 126
3.4 Cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm KTTV tỉnh 126
3.4.1 Cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm KTTV tỉnh với Trung tâm KTTV tỉnh lân cận, Đài KTTV khu vực và các cơ quan KTTV ở trung ương 126
3.4.2 Cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm KTTV tỉnh với các ban ngành ở địa phương 128
3.5 Quảng bá hoạt động KTTV ở địa phương 129
3.6 Công tác chuyển giao công nghệ và kết quả ứng dụng 130
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống dự báo KTTV 16
Hình 1.2: Sơ đồ mạng lưới thông tin KTTV nội địa 18
Hình 1.3: Hệ thống rađa thời tiết 19
Hình 1.4: Bản đồ tỉnh Yên Bái 23
Hình 1.5: Bản đồ tỉnh Thanh Hoá 29
Hình 1.6: Bản đồ tỉnh Đồng Tháp 34
Hình 2.1: Dự báo 48 giờ của mô hình HRM cho các yếu tố: gió 10m, khí áp qui về mặt biển và lượng mưa tích luỹ trong 06 giờ 46
Hình 2.2: Meteogram cho Hà Nội từ dự báo tổ hợp hạn ngắn (72 giờ), đa mô hình, đa phân tích (20 thành phần) Dự báo bắt đầu 00Z 03/12/2008 cho thấy đợt gió mùa đông bắc tương đối mạnh sẽ ảnh hưởng đến Hà Nội sáng sớm ngày 05/12/2008 47
Hình 2.3: Lát cắt thẳng đứng - vĩ hướng qua vĩ độ 21N, cho trường gió (cờ gió màu nâu nhạt) và độ phân kỳ (bôi màu) và hội tụ (đường đứt nét) Trường phân tích của mô hình toàn cầu GSM (Nhật) tại thời điểm 18Z ngày 30/10/2008 (01 giờ sáng ngày 31/10/2008) bắt đầu đợt mưa to lịch sử tại Hà Nội 48
Hình 2.4: Profile nhiệt ẩm cho trạm Hà Nội 49
Hình 2.5: Mây tầng trên sản phẩm PPI và RHI của ra đa TRS-2730 53
Hình 2.6: Mây tích trên sản phẩm PPI và RHI của ra đa TRS-2730 53
Hình 2.7: Bản đồ mưa được chiết suất từ bản đồ PHVT 54
Hình 2.8: Bản đồ PHVT mây bên trái và bản đồ dông xác suất 70% được chiết xuất từ bản dông PHVT mây 54
Hình 2.9: Sự dịch chuyển của vùng mưa 54
Hình 2.10: Sản phẩm TRACK của cơn 55
Hình 2.11: Xác định tâm cơn bão DURIAN trên sản phẩm PPIV 55
Hình 2.12: Mô hình dự báo cho lưu vực sông Bưởi 57
Hình 2.13: Giao diện của mô hình dự báo lũ sông Bưởi 57
Hình 2.14: Giao diện Xử lý số liệu 58
Hình 2.15: Sơ đồ tham số tính toán cho các lưu vực con 59
Hình 2.16: Sơ đồ tính toán các tham số điều tiết 59
Hình 2.17: Đường quá trình lưu lượng thực đo và tính toán bằng mô hình LTANK tại trạm Thạch Quảng năm 2008 62
Hình 2.18: Đường quá trình mực nước thực đo và tính toán bằng mô hình LTANK tại trạm Kim Tân năm 2008 62
Hình 2.19: Đường quá trình lưu lượng thực đo và dự báo bằng mô hình LTANK tại trạm Thạch Quảng năm 2009 63
Trang 9Hình 2.20: Đường quá trình mực nước thực đo và dự báo bằng mô hình LTANK
tại trạm Kim Tân năm 2009 63
Hình 2.21: Phân chia lưu vực Ngòi Thia 66
Hình 2.22: Giao diện chính của chương trình dự báo lũ sông Ngòi Thia 66
Hình 2.23: Quá trình mực nước dự báo và thực đo trạm Ngòi Thia 2005 70
Hình 2.24: Quá trình lưu lượng dự báo và thực đo trạm Ngòi Thia 2006 70
Hình 2.25: Quá trình mực nước dự báo và thực đo trạm Ngòi Thia mùa lũ 2007 71 Hình 2.26: Quá trình lưu lượng dự báo và thực đo trạm Ngòi Thia mùa lũ 2008 71 Hình 2.27: Quá trình mực nước dự báo và thực đo trạm Ngòi Thia mùa lũ 2009 72 Hình 2.28: Quá trình lưu lượng dự báo và thực đo trạm Ngòi Thia mùa lũ 2009 73 Hình 2.29: Bản đồ sông ngòi và kênh rạch của khu vực tỉnh Đồng Tháp 73
Hình 2.30: Cấu trúc CSDL biên cứng xấp xỉ vùng nghiên cứu trong HYDROGIS 3.0 75
Hình 2.31: Cấu trúc dữ liệu biên khí tượng thủy văn - môi trường 76
Hình 2.32: Sự tương ứng giữa mạng lưới tính toán thủy lực trong HYDROGIS 3.0 và bức tranh thực tế 78
Hình 2.33: Mô phỏng ngập lụt ở Đồng Tháp ngày 24/8/2000 80
Hình 2.34: Mô phỏng ngập lụt ở Đồng Tháp ngày 19/9/2000 80
Hình 2.35: Mực nước dự báo và thực đo tháng VIII/2008 tại Tân Châu 81
Hình 2.36: Mực nước dự báo và thực đo tháng VIII/2008 tại Trường Xuân 81
Hình 2.37: Mực nước dự báo và thực đo tháng VIII/2008 tại Tràm Chim 82
Hình 2.38: Mực nước dự báo và thực đo tháng VIII/2008 tại Hồng Ngự 82
Hình 2.39: Mực nước dự báo và thực đo tháng VIII/2009 tại Tân Châu 83
Hình 2.40: Mực nước dự báo và thực đo tháng VIII/2009 tại Trường Xuân 83
Hình 2.41: Mực nước dự báo và thực đo tháng VIII-IX/2009 tại Tràm Chim 84
Hình 2.42: Mực nước dự báo và thực đo tháng VIII/2009 tại Hồng Ngự 84
Hình 2.43: Cửa sổ chính của chương trình 86
Hình 2.44: Cửa sổ chính của phần cập nhật dữ liệu khí tượng thủy văn 87
Hình 2.45: Các chức năng xem, nhập và xuất dữ liệu 87
Hình 2.46: Các chức năng nhập dữ liệu 88
Hình 2.47: Hộp thoại chọn file số liệu cần nhập 88
Hình 2.48: Hộp thoại chọn loại số liệu cần nhập 88
Hình 2.49: Cửa sổ nhập số liệu thủy văn 88
Hình 2.50: Cửa sổ nhập số liệu khí tượng 89
Hình 2.51: Hộp thoại xuất dữ liệu khí tượng 89
Hình 2.52: Hộp thoại xuất dữ liệu thủy văn 89
Hình 2.53: Cửa sổ tính toán thống kê 90
Trang 10Hình 2.54: Chọn các điều kiện thống kê yếu tố khí tượng 90
Hình 2.55: Kết quả thống kê yếu tố khí tượng 90
Hình 2.56: Chương trình vẽ hoa gió WRPLOT View 91
Hình 2.57: Giao diện chính của chương trình Wind Rose Plot View 91
Hình 2.58: Hoa gió trạm Hồi Xuân 92
Hình 2.59: Phân bố tần suất gió theo cấp tốc độ gió trạm Hồi Xuân 92
Hình 2.60: Nhiệt độ không khí trung bình năm tỉnh Thanh Hoá 94
Hình 2.61: Nhiệt độ không khí tối cao năm tỉnh Thanh Hoá 94
Hình 2.62: Nhiệt độ không khí tối thấp năm tỉnh Thanh Hoá 95
Hình 2.63: Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm tỉnh Thanh Hoá 95
Hình 2.64: Lượng mưa trung bình năm tỉnh Thanh Hoá 96
Hình 2.65: Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất tỉnh Thanh Hoá 96
Hình 2.66: Số ngày mưa trung bình năm tỉnh Thanh Hoá 97
Hình 2.67: Số giờ nắng trung bình năm tỉnh Thanh Hoá 97
Hình 2.68: Hướng và tốc độ gió trung bình năm tỉnh Thanh Hoá 98
Hình 2.69: Dòng chảy năm tỉnh Thanh Hoá 98
Hình 2.70: Dòng chảy mùa lũ tỉnh Thanh Hoá 99
Hình 2.71: Dòng chảy lũ 3 tháng lớn nhất tỉnh Thanh Hoá 99
Hình 2.72: Dòng chảy lũ tháng nhỏ nhất tỉnh Thanh Hoá 100
Hình 2.73: Dòng chảy mùa kiệt tỉnh Thanh Hoá 100
Hình 2.74: Nhiệt độ nước sông tỉnh Thanh Hoá 101
Hình 2.75: Giao diện chính của chương trình 105
Hình 2.76: Giao diện chính của phần tính toán các chỉ số khí tượng 105
Hình 2.77: Hộp thoại lựa chọn thời gian tính 106
Hình 2.78: Kết quả tính toán hiển thị 106
Hình 3.1: Các biểu tượng dùng trong dự báo thời tiết 108
Hình 3.2: Bản đồ dự báo mực nước nội đồng tỉnh Đồng Tháp ngày 19/IX/2009 110
Hình 3.3: Bản đồ dự báo độ sâu ngập nội đồng tỉnh Đồng Tháp ngày 19/IX/2009 110
Hình 3.4: Mô hình xử lý thông tin tại các Trung tâm KTTV tỉnh 120
Hình 3.5: Mô hình phục vụ KTTV của Trung tâm KTTV tỉnh 121 Hình 3.6: Sự phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm KTTV tỉnh với Trung tâm KTTV tỉnh lân cận, Đài KTTV khu vực và các cơ quan KTTV ở trung ương 127
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 2.1: Đề tài khoa học công nghệ dự kiến chuyển giao cho các Đài khí tượng
thủy văn khu vực và Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh 40
Bảng 2.2: Chuỗi tính toán trọng số mưa cho các lưu vực con 58
Bảng 2.3: Tổng hợp các tham số tính toán 59
Bảng 2.4: Kết quả tính các tham số 60
Bảng 2.5: Danh sách các trạm 60
Bảng 2.6: Quan hệ H-Q trạm Kim Tân 61
Bảng 2.7: Số liệu thực đo và tính toán cho các lưu vực con của sông Bưởi từ ngày 15 tháng VI đến 02 tháng VII năm 2008 61
Bảng 2.8: Tỷ trọng đóng góp mưa Thai Sơn 67
Bảng 2.9: Tham số mô hình 68
Bảng 2.10: Kết quả mô phỏng mùa lũ trạm Ngòi Thia 2003 - 2008 69
Bảng 2.11: Kết quả mô phỏng mùa lũ trạm Ngòi Thia 2007 - 2008 69
Bảng 2.12: Kết quả dự báo tác nghiệp mùa lũ trạm Ngòi Thia năm 2009 72
Bảng 2.13: Các thực đơn trong thư mục của cửa sổ chính 86
Bảng 2.14: Bảng phân loại hạn đánh giá theo chỉ số khô hạn 102
Bảng 3.1: Dự báo thuỷ văn hiện nay ở Đồng Tháp 109
Trang 12NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
CSDL Cơ sở dữ liệu
IRI Viện Nghiên cứu Quốc tế về khí hậu và xã hội
PDSI Chỉ số hạn Palmer
PE Bốc hơi tiềm năng
PHVT Phản hồi vô tuyến
PR Tiềm năng tái nạp ẩm trong đất
TT MLKTTV&MT Trung tâm Mạng lưới Khí tượng thủy văn và Môi trường
Trang 13MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, các thiên tai có nguồn gốc khí tượng thủy văn (KTTV) xảy ra bất thường, trái qui luật, khốc liệt với qui mô ngày càng lớn, tần suất ngày càng cao, thiệt hại ngày càng nghiêm trọng Vì vậy nhu cầu phục vụ phòng chống thiên tai ở các địa phương ngày càng cấp thiết, đòi hỏi các bản tin dự báo KTTV phải được cung cấp sớm và quảng bá kịp thời trên các phương tiện đại chúng
Công tác phục vụ KTTV ở địa phương trước kia do các Đài KTTV tỉnh/thành phố thực hiện Sau khi Tổng cục KTTV sắp xếp lại tổ chức, thiết lập các Đài KTTV khu vực vào năm 1996, các Trung tâm Dự báo KTTV tỉnh/thành phố bị giảm bớt phương tiện và nhân lực, không còn khả năng phục vụ KTTV rộng rãi như trước, phần lớn chức năng dự báo, phục vụ chuyển về Đài KTTV khu vực
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu phục vụ KTTV ở các địa phương ngày càng nhiều hơn, đối tượng phục vụ KTTV cũng đa dạng hơn Các Đài KTTV khu vực không thể đáp ứng được hết các yêu cầu phục vụ đa dạng trên địa bàn rộng lớn bao gồm nhiều tỉnh Hơn nữa, bộ máy tổ chức, quản lý hành chính của tỉnh đòi hỏi phải có cơ quan KTTV ngay bên cạnh để đáp ứng các yêu cầu cấp thiết trong quá trình chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế-xã hội, phòng tránh thiên tai Căn cứ Quyết định số 128/2008/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn quốc gia, các Trung tâm Dự báo phục vụ KTTV tỉnh đã được quan tâm, đổi tên thành Trung tâm KTTV tỉnh Tuy nhiên ngoài việc đầu tư cơ sở vật chất hoặc cung cấp một số thông tin dữ liệu phục vụ
dự báo, các Trung tâm KTTV tỉnh vẫn chưa có nhiều công cụ hoặc công nghệ cần thiết để có thể nâng cao hiệu quả phục vụ KTTV
Trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ và cán bộ nhưng hầu hết các Trung tâm Dự báo phục vụ KTTV tỉnh hoạt động khá tốt, tham mưu đắc lực cho cấp ủy đảng và chính quyền địa phương trên mặt trận phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại thiên tai
có nguồn gốc KTTV Tuy nhiên cho đến nay, nội dung phục vụ của Trung tâm KTTV tỉnh chưa được những qui định cụ thể, hoạt động phục vụ ở địa phương chủ yếu theo truyền thống; nguồn thông tin, tư liệu, số liệu có nhiều nhưng chưa được sắp xếp, lưu trữ gọn gàng, khoa học, khai thác, sử dụng hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Trong bối cảnh đó, đề tài Nghiên cứu xây dựng một số công cụ trợ giúp
và mô hình phục vụ khí tượng thuỷ văn ở địa phương đã được Bộ Tài
nguyên và Môi trường cho phép triển khai thực hiện với mục tiêu là: “Tăng cường công tác phục vụ KTTV và nâng cao vai trò của các Trung tâm Dự báo KTTV tỉnh trên cơ sở hoàn chỉnh, chuyển giao một số công cụ trợ giúp đã được nghiên cứu
và đề xuất mô hình phục vụ KTTV thích hợp” Các nội dung chủ yếu của Đề tài bao gồm:
Trang 141 Điều tra khảo sát công tác phục vụ KTTV ở địa phương
1.1 Tổng quan tình hình phục vụ KTTV ở quy mô địa phương trong và ngoài nước
1.2 Điều tra đánh giá các yêu cầu, nhu cầu về phục vụ, năng lực phục vụ KTTV hiện tại ở địa phương trong đó có ba tỉnh: Yên Bái, Thanh Hoá và Đồng Tháp
1.3 Tổng quan tình hình và kinh nghiệm phục vụ ở ba tỉnh: Yên Bái, Thanh Hoá
và Đồng Tháp
2 Nghiên cứu xây dựng mô hình điển hình phục vụ KTTV ở địa phương
2.1 Nghiên cứu xác định các nội dung, hình thức, đối tượng và cơ chế phục vụ tại địa phương trên cơ sở ứng dụng khuyến cáo của WMO và kinh nghiệm một số nước trong khu vực và trên thế giới
2.2 Nghiên cứu xây dựng mô hình điển hình phục vụ KTTV cấp tỉnh
3 Nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn một số công cụ có khả năng chuyển giao cho các Trung tâm KTTV ở địa phương
4 Nghiên cứu, hoàn chỉnh và chuyển giao công cụ nhằm nâng cao năng lực dự báo KTTV ở địa phương
4.1 Nghiên cứu biên soạn và tổ chức tập huấn chuyển giao tài liệu hướng dẫn
sử dụng khai thác số liệu và sản phẩm mô hình số trị
4.2 Nghiên cứu soạn thảo và tổ chức tập huấn chuyển giao tài liệu hướng dẫn khai thác sử dụng thông tin từ rađa thời tiết
4.3 Nghiên cứu xây dựng và chuyển giao chương trình tính toán chỉ tiêu hạn hán
4.4 Nghiên cứu, hoàn chỉnh các mô hình dự báo thủy văn cho các lưu vực nhỏ của Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương (mô hình thống kê, mô hình mưa-dòng chảy: TANK, NAM kết hợp diễn toán trong sông) và mô hình dự báo ngập lụt (mô hình HYDROGIS) của Đài KTTV khu vực Nam Bộ; tổ chức chuyển giao và làm thí điểm cho ba tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá, Đồng Tháp 4.5 Nghiên cứu cải tiến nội dung, thiết kế, xây dựng các bản tin dự báo KTTV hạn ngắn và vừa; tổ chức tập huấn chuyển giao cho 03 tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá, Đồng Tháp
5 Nghiên cứu, hoàn chỉnh và chuyển giao công cụ nhằm nâng cao năng lực phục vụ số liệu KTTV ở địa phương
5.1 Nghiên cứu, xây dựng phần mềm lưu trữ và khai thác số liệu KTTV ở địa phương; xây dựng thí điểm, tổ chức tập huấn chuyển giao cơ sở dữ liệu KTTV cho 03 tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá, Đồng Tháp
5.2 Nghiên cứu, hoàn chỉnh chương trình tính toán đặc trưng thống kê của các yếu tố KTTV; xây dựng thí điểm, tổ chức tập huấn chuyển giao cơ sở dữ liệu KTTV cho ba tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá, Đồng Tháp
Trang 156 Nghiên cứu, xây dựng và tổ chức chuyển giao công nghệ xây dựng bản đồ điện tử một số đặc trưng KTTV qui mô tỉnh
6.1 Nghiên cứu công nghệ xây dựng bản đồ điện tử trên nền Mapinfo/Arcview một số đặc trưng KTTV ở qui mô cấp tỉnh
6.2 Xây dựng thí điểm và chuyển giao bản đồ điện tử đặc trưng khí hậu tỉnh Thanh Hóa của 10 chỉ tiêu: nhiệt độ không khí trung bình, nhiệt độ không khí tối cao, nhiệt độ không khí tối thấp, số giờ nắng, độ ẩm không khí tương đối, mưa năm, mưa tháng, hướng và tốc độ gió
6.3 Xây dựng thí điểm và chuyển giao bản đồ điện tử đặc trưng thủy văn tỉnh Thanh Hóa của 07 chỉ tiêu: dòng chảy năm, dòng chảy mùa lũ, dòng chảy lũ, dòng chảy mùa kiệt, dòng chảy kiệt…
7 Nghiên cứu, đề xuất cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm KTTV tỉnh với Trung tâm KTTV tỉnh lân cận, Đài KTTV khu vực và các cơ quan KTTV ở trung ương
7.1 Nghiên cứu, đề xuất cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm
KTTV tỉnh với Trung tâm KTTV tỉnh lân cận
7.2 Nghiên cứu, đề xuất cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm KTTV tỉnh với Đài KTTV khu vực
7.3 Nghiên cứu, đề xuất cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm KTTV tỉnh với các cơ quan KTTV ở trung ương
8 Nghiên cứu, đề xuất cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm KTTV tỉnh với các ban ngành ở địa phương nhằm đa dạng hoá các bản tin phục vụ tốt hơn công tác phòng tránh thiên tai
8.1 Nghiên cứu, đề xuất cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm
KTTV tỉnh với các ban ngành ở địa phương trong điều kiện bình thường không có thiên tai
8.2 Nghiên cứu, đề xuất cách thức phối hợp hoạt động phục vụ giữa Trung tâm
KTTV tỉnh với các ban ngành ở địa phương trong điều kiện có thiên tai và các nhiệm vụ tăng cường thêm của địa phương
9 Xây dựng quy trình phục vụ KTTV cho một Trung tâm KTTV cấp tỉnh
9.1 Nghiên cứu xây dựng quy trình và hướng dẫn phục vụ cho Trung tâm Dự
báo KTTV địa phương: các nội dung phải làm, phương pháp và công nghệ áp
dụng, các sản phẩm (ngày, tháng, mùa, năm), đối tượng phục vụ
9.2 Nghiên cứu, thiết kế nội dung và hình thức của các thông báo KTTV định kỳ (tháng, mùa và năm)
9.3 Nghiên cứu, xây dựng các phần mềm xử lý và tạo các sản phẩm (báo cáo) phục vụ tại địa phương
9.4 Nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn phục vụ KTTV ở tỉnh (kể cả thiết kế mẫu biểu)
10 Marketing tuyên truyền và quảng bá công tác phục vụ
Trang 1610.1 Nghiên cứu đưa thông tin KTTV lên Website của UBND tỉnh hoặc của Sở Tài nguyên và Môi trường
10.2 Nghiên cứu xây dựng một số tài liệu quảng bá sản phẩm phục vụ KTTV 10.3 Tập huấn và thử nghiệm Marketing sản phẩm phục vụ tại ba tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá, Đồng Tháp
Đề tài đã nghiên cứu, hoàn chỉnh và đưa vào thử nghiệm một số phương pháp, công cụ, công nghệ trên cơ sở chọn lựa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước thích hợp với điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực của các địa phương nhằm đảm bảo tính khả thi, dễ sử dụng và hiệu quả
Đề tài đã thực hiện thí điểm ở ba tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá và Đồng Tháp Đó
là các địa phương hàng năm phải gánh chịu các loại thiên tai điển hình ở Việt Nam; Trung tâm KTTV có truyền thống và tiềm năng phục vụ, có tinh thần hợp tác nghiên cứu, có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với địa phương; chính quyền địa phương quan tâm đến công tác phục vụ KTTV
Trong quá trình thực hiện đề tài đã được sự quan tâm chỉ đạo của Vụ Khoa học và Công nghệ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và của Ban Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế thuộc Trung tâm KTTV quốc gia, sự giúp đỡ của các đơn
vị liên quan trong Trung tâm KTTV quốc gia
Mặc dù đã cố gắng bám sát mục tiêu, nội dung và sản phẩm đã được phê duyệt trong đề cương, song đề tài không tránh khỏi những khiếm khuyết, hạn chế Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, quản lý
và các bạn đồng nghiệp gần xa
Xin chân thành cám ơn
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHỤC VỤ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1 Khái quát về chức năng phục vụ của cơ quan khí tượng thủy văn
Nhiệm vụ cơ bản của cơ quan KTTV quốc gia là quan trắc, nghiên cứu và dự báo điều kiện thời tiết, khí hậu, thủy văn; sử dụng số liệu, sản phẩm, kiến thức
có liên quan đến KTTV nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc gia cũng như các nghĩa vụ quốc tế Bản chất của các hoạt động KTTV
là phục vụ Từ lâu công tác phục vụ KTTV đã được đa số các nước nhìn nhận như một quyền lợi và sự cần thiết mang tính công cộng nên hoạt động KTTV luôn được coi như một trong các nhiệm vụ của nhà nước Chức năng của cơ quan KTTV là cung cấp kịp thời và có hiệu quả những thông tin chính xác nhất về thời tiết, thủy văn và hiện tượng liên quan để giúp người dùng có quyết định đúng đắn Theo truyền thống, các bản tin dự báo KTTV thường được cung cấp qua các phương tiện truyền thông Toàn bộ công tác phục vụ ở các địa phương ở nước ta cũng thực hiện theo cách này Tuy nhiên, nhu cầu xã hội ngày nay không chỉ là các bản tin dự báo KTTV có chất lượng cao với thời gian dự kiến dài hơn và không gian dự báo cụ thể hơn mà còn cần nhận được các chuỗi số liệu lịch sử, kết quả tính toán các đặc trưng thống kê, đo đạc KTTV… phục vụ qui hoạch và thiết kế công trình Điều này tạo môi trường thuận lợi cho các dịch vụ KTTV phát triển Tuy nhiên, trước khi thực hiện dịch vụ, cơ quan KTTV các cấp phải có đủ cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực công nghệ
Một vai trò khác của cơ quan KTTV là nâng cao nhận thức và cung cấp cho công chúng những kiến thức cơ bản và cần thiết trong việc phòng chống, giảm nhẹ tác động của thiên tai Các cơ quan KTTV có xu hướng ứng dụng KHCN để nâng cao chất lượng sản phẩm và trình bày sản phẩm thích hợp hơn; phân phối sản phẩm đúng lúc và ở dạng dễ hiểu và dễ sử dụng với người dùng; tìm hiểu để nắm bắt nhu cầu và tìm cách đáp ứng yêu cầu của người dùng; tuyên truyền phổ biến cho công chúng về thiên tai và phòng ngừa hậu quả của thiên tai; phổ biến ứng dụng thông tin KTTV trong các hoạt động kinh tế - xã hội Những chức năng trên đây đã được WMO và các nước thực hiện trong các hoạt động của mình Trong phần này sẽ khái quát về các hoạt động phục vụ của WMO và các nước
1.2 Hoạt động và hướng dẫn phục vụ của Tổ chức Khí tượng Thế giới
Phục vụ là một nhiệm vụ trọng tâm của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) nên WMO đã có nhiều hoạt động và hướng dẫn về công tác phục vụ (WMO 962, WMO 965, WMO 134, WMO100, WMO 168, WMO 471, WMO 834) Quan điểm và mục tiêu phục vụ được WMO nêu ra rất rõ là: tăng cường độ chính xác và tin cậy của các thông tin KTTV và bảo đảm các thông tin đưa kịp thời đến các đối tượng
sử dụng để có thể mang lại lợi ích cho người sử dụng; tăng giá trị phục vụ của các thông tin KTTV nhằm mang lại lợi ích nhiều nhất; tăng cường vai trò và ảnh hưởng của cơ quan KTTV trong các vấn đề liên quan đến KTTV, đóng góp trong phát triển kinh tế - xã hội; thông tin, giáo dục cho công chúng và các cấp chính quyền về lợi ích kinh tế - xã hội của sự hiểu biết về thời tiết, khí hậu, thủy văn,
Trang 18nước và môi trường; quan trắc, thu thập số liệu đầy đủ về trạng thái khí quyển, đại dương và môi trường để dự báo, cảnh báo và tăng cường trao đổi số liệu và thông tin; tăng cường khả năng của cơ quan KTTV trong phục vụ; làm việc hiệu quả với các đối tác phục vụ
Hầu như các chương trình hoạt động của WMO đều có liên quan ít nhiều đến hoạt động phục vụ Đặc biệt, trong các chương trình hoạt động của WMO có riêng một Chương trình phục vụ công cộng
1.2.1 Phục vụ trong các chương trình của WMO
Hoạt động phục vụ của WMO tập trung trong ba chương trình lớn là:
Chương trình Khí hậu Thế giới (World Climate Program), Chương trình Thủy văn
và Tài nguyên nước, Chương trình Phòng ngừa và Giảm nhẹ Thiên tai
• Chương trình Khí hậu Thế giới:
Một trong những nội dung hoạt động quan trọng của Chương trình Khí hậu Thế giới là Chương trình Ứng dụng và Phục vụ Khí hậu (World Climate Application and Service Program) Mục tiêu Chương trình là giúp cơ quan KTTV các nước thành viên góp phần bảo đảm an toàn, sức khỏe và tài sản cho công chúng, giảm đói nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững thông qua ứng dụng phục vụ khí hậu giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai khí hậu gây ra Chương trình Ứng dụng và Phục
vụ Khí hậu có bốn nội dung chính là: Phục vụ Thời tiết Công cộng, Khí tượng Nông nghiệp, Khí tượng Hàng không, Hải dương và Khí tượng Biển
Chương trình Phục vụ Thời tiết Công cộng nhằm giúp đỡ phục vụ thời tiết có
hiệu quả bảo đảm an toàn tính mệnh và tài sản cho công chúng Đây là một chương trình có nhiều hoạt động hướng dẫn cụ thể về công tác phục vụ KTTV công cộng với mục tiêu chính là tăng cường năng lực cho cơ quan KTTV để đáp ứng các yêu cầu của cộng đồng thông qua phục vụ thời tiết hoàn hảo và làm cho công chúng hiểu rõ hơn khả năng của các cơ quan KTTV
Chương trình Khí tượng Nông nghiệp nhằm phục vụ cho cộng đồng nông
nghiệp phát triển hệ thống nông nghiệp bền vững, chú trọng nâng cao sản lượng
và chất lượng, giảm mất mát, giảm chi phí, tăng hiệu quả sử dụng nước, lao động và năng lượng, giảm ô nhiễm do sử dụng hóa học làm suy thoái môi trường, thông qua cung cấp số liệu khí hậu, thời tiết tức thời và dự báo
Chương trình Khí tượng Hàng không nhằm giúp tăng cường ứng dụng khí
tượng trong hàng không thông qua các chương trình hợp tác quốc tế bảo đảm phục vụ khí tượng trên toàn cầu có chất lượng tốt
Chương trình Hải dương và Khí tượng Biển nhằm cung cấp số liệu, thông tin
phục vụ hỗ trợ bảo đảm an toàn tính mệnh và tài sản trên biển, các hoạt động ven bờ và ngoài khơi, bảo vệ môi trường biển, quản lý hiệu quả tài nguyên biển
Để thực hiện chương trình Chương trình Khí hậu Thế giới, WMO đã có riêng một dự án Phục vụ Dự báo và Thông tin Khí hậu (Climate Information and Prediction Service) Đây là một dự án cốt lõi, triển khai trên nhiều nước, trong đó
có các nước kém phát triển hoặc đang phát triển Dự án Phục vụ Dự báo và Thông tin Khí hậu đã giới thiệu hàng loạt những sản phẩm dự báo hạn dài của nhiều Trung tâm khí tượng lớn trên thế giới để các nước khác tham khảo, trong
Trang 19đó có những trung tâm như Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Khí hậu và Xã hội Mỹ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) ở Hàn Quốc Để có được các thông tin chi tiết thường phải tham gia với tư cách thành viên quốc gia Nước ta cũng đã tham gia vào APEC và có thể thu nhận các thông tin này Các dự báo phổ biến trên mạng thường là trên phạm vi rộng
• Chương trình Thủy văn và Tài nguyên nước:
Chương trình này nhằm tăng cường ứng dụng thủy văn đáp ứng các nhu cầu phát triển bền vững và sử dụng tài nguyên nước, phòng ngừa giảm nhẹ thiệt hại
do nước, quản lý môi trường Cấu trúc của chương trình gồm năm chương trình con là: Chương trình Hệ thống cơ bản Thủy văn, Chương trình Dự báo và Ứng dụng Thủy văn, Chương trình Phát triển bền vững Tài nguyên nước, Chương trình Xây dựng Cơ sở hạ tầng Tài nguyên nước, Chương trình các vấn đề liên quan đến Tài nguyên nước
Chương trình Hệ thống cơ bản Thủy văn bao gồm các hoạt động thu thập,
truyền phát và lưu trữ số liệu, đánh giá tài nguyên nước, thực hiện hoạt động thủy văn nghiệp vụ
Chương trình Dự báo và Ứng dụng Thủy văn nhằm ứng dụng các phân tích
và phương pháp để giải quyết các vấn đề thủy văn và tài nguyên nước, tổ chức các hoạt động hỗ trợ quản lý và phát triển tài nguyên nước, thông tin và giáo dục cho cộng đồng, chính quyền và các đối tượng khác về lợi ích kinh tế xã hội của các vấn đề liên quan đến nước, các nhu cầu dự báo và cảnh báo với các công nghệ mới
Chương trình Phát triển bền vững Tài nguyên nước nhằm khuyến khích sử
dụng hiệu quả thủy văn trong hỗ trợ phát triển lâu bền, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước và các hệ sinh thái thông qua việc tham gia đầy đủ trong lập kế hoạch quốc gia phát triển đất nước
Chương trình Xây dựng Cơ sở hạ tầng Tài nguyên nước nhằm đưa ra các
hướng dẫn để thực hiện cải thiện hành chính thông qua giáo dục và đào tạo cán
bộ tăng cường nhận thức công chúng về tầm quan trọng của công tác thủy văn,
hỗ trợ hoạt động trợ giúp kỹ thuật
Chương trình các vấn đề liên quan đến Tài nguyên nước nhằm tăng cường
hiệu quả và tầm nhìn của các cơ quan thủy văn thông qua hợp tác liên ngành
• Chương trình Phòng ngừa và Giảm nhẹ Thiên tai:
Đây là một chương trình liên kết tích hợp các hoạt động khác nhau trong các chương trình có liên quan đến lĩnh vực phòng ngừa và giảm nhẹ thiên tai, tạo điều kiện phối hợp hiệu quả các hoạt động quốc tế, khu vực cũng như các tổ chức
và quốc gia
1.2.2 Các ấn phẩm hướng dẫn phục vụ của WMO
Các chương trình hoạt động của WMO đã đưa nhiều ấn phẩm hướng dẫn phục vụ trong các lĩnh vực khác nhau Đây là những tài liệu rất quí Có thể kể ra một số tài liệu hướng dẫn chủ yếu được tham khảo
Trang 20Hướng dẫn thực hành khí hậu hướng dẫn toàn bộ các vấn đề về khí hậu, từ
quan trắc, chỉnh lý lưu trữ số liệu đến tính toán các đặc trưng, đối tượng và sản phẩm phục vụ, kể cả marketing Phiên bản thứ hai vào năm 1983, hiện đã có bản thảo của phiên bản thứ ba Tài liệu này chỉ ra rất rõ các sản phẩm khí hậu và hướng dẫn cách làm các sản phẩm này Đặc biệt, tài liệu có hướng dẫn cụ thể làm một số sản phẩm phục vụ như cách tính các đặc trưng khí hậu, tổng kết khí hậu tháng và năm, atlas khí hậu…
Hướng dẫn thực hành thủy văn hướng dẫn toàn bộ các vấn đề về thủy văn,
từ qui hoạch mạng lưới trạm thủy văn, quan trắc đến tính toán, dự báo
Hướng dẫn hệ thống dự báo và xử lý số liệu toàn cầu nhằm tạo điều kiện
cho các thành viên WMO hợp tác xử lý số liệu bảo đảm qui trình thống nhất trong
xử lý số liệu Hướng dẫn cũng đưa ra danh mục các sản phẩm dự báo của các nước; những hướng dẫn để phân tích và làm dự báo, khai thác sử dụng các sản phẩm số trị, các phương pháp và qui định đánh giá dự báo
Hướng dẫn phục vụ khí tượng biển là tài liệu hướng dẫn về khí tượng biển
bao gồm quan trắc, dự báo, phục vụ khí tượng biển
Hướng dẫn thực hành khí tượng nông nghiệp đưa ra những hướng dẫn cụ
thể đối với phục vụ khí tượng nông nghiệp, từ quan trắc, chỉnh lý số liệu đến việc tạo ra các sản phẩm phục vụ đối với nông nghiệp
Ngoài các tài liệu kể trên, WMO còn rất nhiều tài liệu hướng dẫn khác liên quan đến phục vụ Trong phạm vi đề tài, tài liệu sử dụng chính để tham khảo là
hai hướng dẫn Hướng dẫn thực hành khí hậu, Hướng dẫn thực hành thủy văn và một số tài liệu của Chương trình phục vụ thời tiết công cộng
1.3 Hoạt động phục vụ khí tượng thủy văn ở các nước
1.3.1 Đối tượng phục vụ
Đối tượng phục vụ KTTV đầu tiên là cộng đồng, các cơ quan trực thuộc chính phủ và chính quyền các cấp nhằm đưa ra các quyết định ứng phó với thiên tai hay xây dựng các chiến lược, chính sách, chương trình, quy hoạch, kế hoạch… phát triển kinh tế-xã hội thích ứng với đặc điểm và sự biến đổi của các yếu tố khí tượng, khí hậu, thủy văn và môi trường Đối tượng phục vụ KTTV tiếp theo là các
cá nhân, công ty, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế có yêu cầu cung cấp thông tin KTTV phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh như: công nghiệp, năng lượng, nông-lâm nghiệp, thuỷ sản, xây dựng, giao thông (đường không, đường bộ và đường thuỷ), du lịch, bảo hiểm… Khách hàng lớn nhất của cơ quan khí tượng ở đa số các nước là ngành hàng không dân dụng Để đáp ứng các yêu cầu đa dạng này, cần phải có những nghiên cứu điều tra tỉ mỉ để đưa ra các sản phẩm thích hợp với các yêu cầu của người dùng
1.3.2 Các dạng sản phẩm phục vụ
Nội dung phục vụ KTTV thường bao gồm việc cung cấp số liệu (hiện tại và quá khứ); sản xuất và cung cấp các bản tin dự báo KTTV hạn ngắn, hạn vừa và hạn dài, cảnh báo các hiện tượng KTTV nguy hiểm; tư vấn KTTV (tư vấn sử dụng
có hiệu quả các thông tin KTTV; khảo sát, đo đạc, tính toán các đặc trưng KTTV
Trang 21phục vụ quy hoạch, thiết kế, thi công và vận hành các công trình…)
Cơ quan KTTV các nước đều có nhiều sản phẩm phục vụ khác nhau nằm
trong hai dạng chủ yếu là cung cấp số liệu và bản tin dự báo Một số sản phẩm
dự báo phổ biến là: Dự báo thời tiết (dự báo thời tiết chung và dự báo thời tiết các thành phố lớn/địa điểm du lịch), Dự báo lũ trên các sông (hạn ngắn, hạn vừa, hạn dài), Dự báo ngập lụt (cho các đô thị và nội đồng vùng đồng bằng châu thổ
và duyên hải đất thấp), Cảnh báo lũ quét, trượt lở đất (cho các vùng trung du, miền núi đất dốc, địa hình bị chia cắt mạnh), Triển vọng thời tiết hạn dài và mùa,
Cảnh báo thời tiết (các thiên tai nguy hiểm, cảnh báo thời tiết nguy hiểm), Dự báo khí tượng biển, Khí tượng hàng không, Khí tượng nông nghiệp (thông báo
KTNN 10 ngày, mưa, bốc hơi, bức xạ, nhiệt độ, phân bố độ ẩm đất, bốc thoát hơi
trung bình), Khí hậu (các thông báo KTTV hàng tháng và hàng năm)
Để thực hiện công tác phục vụ KTTV, ngành KTTV các nước đã đầu tư cả
về cơ sở vật chất và công nghệ Ngoài các phương tiện quan trắc, thông tin liên lạc, nhiều công nghệ xử lý đã được đầu tư để đưa ra các sản phẩm có giá trị phù
hợp với các đối tượng khác nhau Ví dụ trong xây dựng và thiết kế, để đáp ứng
các yêu cầu về thiết kế, thi công, các tham số cho qui hoạch được tính toán chuẩn hóa thành một loại sản phẩm Các tổng kết thời tiết hàng tháng và trung bình nhiều năm cũng được sử dụng cho các công ty có nhu cầu dự báo dài hạn Các dự báo hạn vừa chi tiết cho 5 ngày những yếu tố quan tâm cũng được tính
đến Trong nông nghiệp các phục vụ nhằm vào các hoạt động canh tác hàng
ngày của các trang trại Các thông báo thời tiết hàng tháng được dùng để đánh
giá tình hình nhằm sắp xếp và bố trí công việc Trong năng lượng, các thông tin
được dùng để tối ưu hoạt động của nhà máy điện, phục vụ an toàn cho các đường dây tải điện, dự báo nhu cầu sử dụng để phân phối điện
1.3.3 Cơ chế phục vụ
Tất cả các nước trên thế giới đều có hai loại hình phục vụ KTTV là phục vụ công cộng và phục vụ thu phí Phục vụ công cộng gắn liền với việc bảo vệ tính mạng và tài sản của đông đảo công chúng nên thường do các cơ quan KTTV quốc gia thực hiện Nguồn tài chính chủ yếu ở đây là từ ngân sách chính quyền các cấp Phục vụ thu phí là loại phục vụ theo yêu cầu do người dùng trả Người dùng chủ yếu của khí tượng thương mại là các doanh nghiệp và xí nghiệp Ở phần lớn các nước loại phục vụ thu phí này cũng do cơ quan KTTV của nhà nước đảm nhiệm để đỡ gánh nặng cho thuế hoặc để bù chi phí đội lên do phải phục vụ nhu cầu riêng
1.3.4 Hoạt động phục vụ KTTV cụ thể ở một số nước
• Anh
Cơ quan Khí tượng Anh (Met Office) là một thương hiệu khí tượng có tiếng trên thế giới với phạm vi phục vụ rộng rãi (bao gồm các vấn đề liên quan đến thời tiết và môi trường), hình thức phục vụ đa dạng (từ điện thoại, di động, fax
Trang 22đến internet) Đối tượng phục vụ phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực như: nông
nghiệp (phục vụ canh tác hàng ngày của các trang trại, tổng quan thời tiết hàng
tháng để đánh giá tình hình nhằm sắp xếp và bố trí công việc, tư vấn và cung
cấp số liệu phục vụ cho các công ty nông hóa ); hàng không (phục vụ đường bay và sân bay, đào tạo); xây dựng và thiết kế (tổng kết thời tiết hàng tháng và
trung bình nhiều năm, tình hình thời tiết từng ngày trong tháng, dự báo chi tiết
cho 5 ngày… đáp ứng các yêu cầu về thiết kế và thi công); năng lượng (tối ưu
hoạt động của nhà máy điện nhất là các nhà máy chạy bằng khí, phục vụ an toàn cho các đường dây tải điện, dự báo nhu cầu sử dụng để phân phối điện, tính khả
năng năng lượng tái tạo ); sức khỏe (thông báo tình hình bất lợi cho sức khỏe,
dự báo phục vụ điều hành bệnh viện); môi trường (thông báo chất lượng môi trường, tư vấn các mô hình môi trường, hệ thống đánh giá môi trường); giao
thông (dự báo thời tiết để quản lý đường, cầu ); bảo hiểm (đánh giá thời tiết đã
qua để quản lý chi trả, dự báo thời tiết để phòng ngừa rủi ro, phân tích quan hệ
với thời tiết, đánh giá nguy cơ, dự kiến khả năng xảy ra rủi ro); luật pháp (tư
vấn, đưa các báo cáo thời tiết và ảnh hưởng của thời tiết làm chứng cứ cho việc
xét xử); nghỉ ngơi và giải trí (các dự báo và thông báo phục vụ cho nghỉ ngơi, giải trí, các cuộc thi thể thao, giải trí ngoài trời ); phục vụ biển (dự báo phục vụ cho các tàu ra vào cảng và ngoài khơi); tài nguyên nước (dự báo lũ, tư vấn tài nguyên nước, hệ thống tưới tiêu); thời tiết không gian (phục vụ cho các hoạt động trong vũ trụ); viễn thông (cung cấp cho các hãng viễn thông để tránh sự cố
cho mạng cố định, tối ưu trong liên lạc vệ tinh, giảm thiểu các nguy cơ do thời tiết của mạng di động và các trung tâm điện thoại, dự báo thời tiết để bảo vệ hạ
tầng viễn thông); cung cấp thông tin thời tiết cập nhật cho các website
Toàn bộ hệ thống phục vụ của Met Office được thiết kế để tối đa các cơ hội thương mại của phục vụ thời tiết Các hoạt động được tập trung để đưa ra các sản phẩm tiêu chuẩn Một sản phẩm có thể phục vụ cho một vài lĩnh vực Để đáp ứng các yêu cầu, đội ngũ chuyên gia sử dụng những thành tựu tiên tiến trong các công việc xử lý và cung cấp sản phẩm và các công nghệ này được giới thiệu cho khách hàng Các sản phẩm KTTV thương mại của Cơ quan Khí tượng Anh bao
gồm nhiều dạng khác nhau như: tư liệu (số liệu KTTV quan trắc tức thời trên
toàn mạng lưới trạm, số liệu lịch sử, các bản đồ thời tiết ở quy mô khu vực và
toàn cầu, các ảnh vệ tinh và rađa thời tiết); các dịch vụ tư vấn, tính toán KTTV (phục vụ các ngành nông nghiệp, xây dựng, năng lượng ), các công cụ phần
mềm tính toán (thể hiện các sản phẩm KTTV đáp ứng yêu cầu của các ngành)
Met Office phục vụ dưới nhiều hình thức khác nhau: tư vấn trực tiếp, điện thoại, fax, điện thoại di động, internet, phát thanh… trong đó rất phổ biến là điện thoại và điện thoại di động
• Mỹ
Cơ quan Thời tiết Mỹ (NWS) hàng năm đưa ra các kế hoạch cải thiện hoạt
động phục vụ KTTV Kế hoạch này tập trung vào phục vụ các đối tác là các Văn phòng dự báo ở các địa phương, các ngành khác và các công ty khí tượng tư nhân trên cơ sở điều tra thường xuyên nhu cầu của các đối tác
Hệ thống phục vụ KTTV tại Mỹ có đặc điểm khác với phần lớn các nước khác Trung tâm dự báo cấp quốc gia cung cấp các sản phẩm dự báo từ các mô
Trang 23hình cho toàn nước Mỹ với cơ sở dữ liệu dự báo gồm các số liệu, bản đồ, đồ thị số hóa Cơ sở dữ liệu dự báo này được các Văn phòng dự báo khu vực và các công
ty khí tượng chế biến thành các bản tin dự báo cụ thể cho từng địa phương hoặc lĩnh vực Các văn phòng dự báo khu vực là nơi cung cấp chủ yếu các thông tin phục vụ công cộng Tuy nhiên việc cung cấp thông tin cho các phương tiện truyền thông chủ yếu là do các công ty khí tượng tư nhân đảm nhiệm Các công
ty này sản xuất ra các chương trình thời tiết và bán cho các Đài truyền hình Toàn bộ các phục vụ KTTV chuyên ngành ở Mỹ là do các công ty khí tượng tư nhân đảm nhiệm NWS không có các phục vụ riêng mà chỉ bán số liệu cho các công ty tư nhân
• Australia
Cơ quan Khí tượng Australia cung cấp rất nhiều sản phẩm KTTV phục vụ dân sinh, hàng hải nội địa và quốc tế, hàng không, an ninh quốc phòng và các tổ chức khác, phần lớn các sản phẩm là miễn phí, chỉ các sản phẩm phục vụ các yêu cầu đặc biệt sẽ phải trả phí theo hợp đồng ký kết với từng đơn vị
Thông tin KTTV được phát qua các phương tiện truyền thông như truyền thanh, truyền hình, điện thoại, fax, internet… Cơ quan Khí tượng Australia cũng thành lập một tổng đài để cung cấp thông tin kịp thời cho người sử dụng Bộ sản phẩm cơ bản phục vụ công chúng bao gồm: các báo cáo về tình hình thời tiết hiện tại và sắp tới; các thông tin quan trắc và dự báo KTTV hạn ngắn, hạn vừa (7 ngày) bao gồm: nhiệt độ, mưa, độ ẩm, gió, độ mây cho các thành phố chính, khí tượng - hải văn ven biển và ngoài khơi cho một số vịnh và cảng biển; cảnh báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như: tố, lốc, bão, lũ lụt, sóng thần thời gian
dự báo trong vòng 48 giờ và cập nhật liên tục; các thông tin liên quan đến khí hậu khác
• New Zealand
Cơ quan Khí tượng New Zealand (MetService) được thành lập tháng 6/1992
có trách nhiệm quan trắc và dự báo KTTV phục vụ 3 đối tượng chính là: Bộ Giao thông, Hàng không quân sự và dân dụng, Công nghiệp và truyền thông Chính phủ New Zealand chi trả cho toàn bộ các hoạt động KTTV phục vụ công cộng, trong đó có dự báo phòng chống thiên tai Việc chi trả được thực hiện thông qua hợp đồng giữa MetService và Bộ Giao thông MetService hợp đồng với Bộ Giao thông cung cấp các thông tin KTTV phục vụ công cộng theo từng thời hạn 05 năm Nội dung hợp đồng quy định rõ số lượng, nội dung các bản tin phải có Ngoài hợp đồng chính với Chính phủ, MetService còn triển khai rất nhiều hoạt động dịch vụ có giá trị khác như: (i) Sản xuất các chương trình thời tiết trong nước và trên thế giới cung cấp cho nhiều đài truyền hình và phát thanh có tiếng như: BBC quốc gia và khu vực, TV3 New Zealand, Foxtel’s Weather Channel Australia, Nine Network Australia Channel Seven Australia, SBS Australia, CNBC Europe; (ii) Cung cấp các dịch vụ KTTV từ dự báo thời tiết đến số liệu (quan trắc
và tính toán) cho các ngành hàng không, công nghiệp (dự báo nhu cầu sử dụng điện và điều hoà hệ thống phân phối điện), thể thao, du lịch MetService thành lập một tổng đài cung cấp thông tin KTTV qua điện thoại, fax, internet và tin nhắn; (iii) Cung cấp các thiết bị KTTV (trạm khí tượng tự động và các hệ thống xử
Trang 24lý); (iv) Kinh doanh, quảng cáo trên Web (trang Web của MetService có tới 30 vạn người truy cập mỗi ngày nên quảng cáo rất tốt)
• Trung Quốc
Tại Trung Quốc, các hoạt động khí tượng được quản lý thống nhất theo Luật Khí tượng Đối tượng phục vụ của ngành khí tượng Trung Quốc bao gồm rất nhiều lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, nghề cá, thương mại, năng lượng, giao thông, xây dựng, tài nguyên nước, tài nguyên thiên nhiên và đất, hải dương, nghề muối, bảo vệ môi trường, hàng không, viễn thông, phòng cháy, phân tích
và dự báo môi trường, thiết kế và thử nghiệm thiết bị chống sét, khí tượng sức khỏe, phản ứng trong trường hợp khẩn cấp Đến nay phục vụ khí tượng đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, cộng đồng xã hội và an ninh quốc gia
Hệ thống phục vụ của khí tượng Trung Quốc cung cấp các loại sản phẩm như: dự báo thời tiết, dự báo khí hậu, làm mưa nhân tạo, dự báo và giám sát lũ
và hạn, phòng ngừa dông sét, khí tượng nông nghiệp, khai thác tài nguyên khí hậu v.v
Cơ chế phục vụ khí tượng ở Trung Quốc bao gồm hai loại chính: phục vụ miễn phí và phục vụ thu phí Phục vụ miễn phí chủ yếu là các hoạt động phục vụ cho quản lý và thời tiết công cộng Phục vụ thu phí chủ yếu là các hoạt động phục vụ theo yêu cầu đặc biệt của người dùng và được chia làm hai loại: bù chi phí và thương mại Loại phục vụ bù chi phí đáp ứng yêu cầu riêng của các tổ chức và cá nhân trong các lĩnh vực khác nhau nhưng người sử dụng phải trả phụ phí cho việc chuẩn bị phục vụ Loại phục vụ thương mại đáp ứng các yêu cầu riêng để làm tăng giá trị trong kinh doanh của các doanh nghiệp và xí nghiệp mà người dùng phải trả toàn bộ chi phí phục vụ theo hợp đồng thương mại ký kết với
cơ quan khí tượng
Phục vụ quản lý và phục vụ thời tiết công cộng là nhiệm vụ quan trọng nhất, gắn liền với việc bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân nên nguồn tài chính cho loại hoạt động phục vụ này lấy từ ngân sách nhà nước Phục vụ bù chi phí do yêu cầu riêng của các cấp chính quyền và người dùng ở các lĩnh vực, chi phí sẽ do ngân sách thường xuyên và ngân sách bổ sung cấp hỗ trợ thêm
Các hoạt động dịch vụ KTTV do các cơ quan KTTV của nhà nước cũng như tư nhân cùng thực hiện Phục vụ quản lý và thời tiết công cộng do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm Phục vụ bù chi phí do các cơ quan trung gian đảm nhiệm và sẽ dần chuyển sang xí nghiệp Phục vụ khí tượng thương mại do các doanh nghiệp thực hiện Nhà cung cấp phục vụ khí tượng thương mại phải có giấy phép của cơ quan quản lý khí tượng cấp và phải đăng ký với các các cơ quan công thương nghiệp
Tổ chức phục vụ ở Trung Quốc phân cấp khá rõ Cơ quan khí tượng ở các cấp (tỉnh, địa khu, huyện) chịu trách nhiệm về công tác phục vụ ở địa phương mình
• Hồng Công
Cơ quan KTTV của Hồng Công là Đài quan sát Hồng Công Hồng Công tuy là một lãnh thổ tự trị nhưng số lượng trạm KTTV chỉ như một tỉnh của Việt Nam
Trang 25Các hoạt động phục vụ KTTV của Hồng Công có thể tham khảo cho phục vụ của một Trung tâm KTTV tỉnh mặc dù phạm vi, qui mô lớn hơn và trình độ cũng cao hơn
Đài quan sát Hồng Công có hai loại phục vụ chính là: (i) Dự báo và cảnh báo phục vụ công cộng, (ii) Dịch vụ tư vấn
Các dự báo bao gồm bản tin thời tiết, cảnh báo bão, cảnh báo các hiện tượng nguy hiểm khác, phục vụ người dùng riêng, trong đó có chính quyền Trong dự báo phục vụ công cộng có dự báo và phục vụ khí tượng biển là lĩnh vực
có truyền thống từ lâu phục vụ cho các tàu bè, khai thác dầu, thể thao nước với các bản tin dự báo và cảnh báo thời tiết trên biển
Dịch vụ tư vấn về khí tượng cho các công trình của các ngành khác và của
tư nhân Các dịch vụ này được thực hiện theo qui định của chính quyền Các đối tượng phục vụ có trách nhiệm giữ bản quyền với tư vấn do chính quyền chỉ định Đôi khi có công trình cần thu thập số liệu và tư vấn trong thời gian dài Khi đó lập một đội riêng và mời đối tác đến để thảo luận về phương pháp, trình tự và giá cả Ngoài ra còn có tư vấn đặc biệt cho các thuyền trưởng, các công ty để phục vụ các cuộc đua thuyền và các hoạt động cứu hộ, cứu nạn
Phục vụ thông tin khí hậu đáp ứng các yêu cầu hàng hải, hàng không, xây
dựng Các thông tin bao gồm số liệu bề mặt và trên cao Đài quan sát Hồng Công thường xuyên công bố các tổng quan số liệu khí tượng (ngày, tháng, năm)
và một số báo cáo khí hậu đặc biệt (có thu phí riêng), đồng thời giải đáp thời tiết khí hậu qua điện thoại
Có hơn 200 ấn phẩm cung cấp theo yêu cầu Một số ấn phẩm khí hậu xuất
bản thường xuyên như: Tổng quan thời tiết tháng cung cấp các thông tin khí hậu
hàng tháng và mô tả điều kiện thời tiết hàng ngày và trong tháng với các bảng,
đồ thị, bản đồ thể hiện sự biến đổi theo không gian và thời gian của các yếu tố khí tượng, các giá trị trung bình và cực trị, tổng kết các cơn bão trong tháng);
Niên giám thời tiết hàng năm mô tả thời tiết hàng tháng sau đó đưa ra các bảng
số liệu của các yếu tố khí tượng hàng tháng trong năm như khí áp, nhiệt độ không khí (trung bình và tối cao, tối thấp), điểm sương, độ ẩm tương đối, lượng mây, lượng mưa, tổng số giờ nắng, số giờ giảm tầm nhìn, bức xạ tổng cộng hàng ngày, bốc hơi tổng cộng, hướng gió thịnh hành, tốc độ gió trung bình Riêng
lượng mưa có đồ thị biểu diễn và so sánh với chuẩn cho từng tháng
Ngoài các ấn phẩm định kỳ còn phục vụ nhiều tư liệu khác như cung cấp các bản đồ thời tiết, trả lời điện thoại, thông tin khí hậu theo yêu cầu riêng
Các sản phẩm phục vụ khí tượng mang tính phổ biến như: Tổng kết thời tiết hàng tháng hoặc Niên giám thời tiết của Hồng Công không quá phức tạp và là những gợi ý tham khảo rất tốt Một Trung tâm KTTV tỉnh được trang bị đầy đủ có thể làm được
• Nhật Bản
Khi xem xét hoạt động phục vụ của Cơ quan khí tượng Nhật Bản có điểm đáng chú ý là tổ chức của hệ thống phục vụ cũng có ba cấp tương tự như Việt Nam là: trung ương, khu vực và tỉnh với 06 Đài khu vực và 47 Đài tỉnh Các Đài tỉnh cũng đồng thời quản lý một trạm quan trắc khí tượng có quan trắc viên,
Trang 26trong khi đó Nhật Bản có hơn 1000 trạm khí tượng tự động Các Đài tỉnh chịu trách nhiệm phát tin dự báo thời tiết cho địa phương của mình Tuỳ theo qui mô
và mức độ của thiên tai, Đài khu vực hoặc trung ương sẽ phát thêm các bản tin
ty, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế có yêu cầu cung cấp thông tin KTTV phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh như: công nghiệp, năng lượng, nông
- lâm nghiệp, thuỷ sản, xây dựng, giao thông (đường không, đường bộ và đường thuỷ), du lịch, bảo hiểm…
Thứ hai, nội dung phục vụ KTTV thường bao gồm: (i) Cung cấp số liệu (hiện tại và quá khứ); (ii) Sản xuất và cung cấp các bản tin dự báo KTTV hạn ngắn, hạn vừa và hạn dài, cảnh báo các hiện tượng KTTV nguy hiểm; (iii) Tư vấn KTTV (tư vấn về việc sử dụng có hiệu quả các thông tin KTTV; đo đạc, tính toán các đặc trưng KTTV phục vụ quy hoạch, thiết kế, thi công và vận hành các công trình…) Thứ ba, hoạt động phục vụ KTTV phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm văn hóa và trình độ dân trí của mỗi nước Đất nước càng phát triển, trình độ dân trí càng cao thì đòi hỏi thông tin KTTV càng đa dạng Tuy nhiên, việc ứng dụng thông tin KTTV lại phụ thuộc vào trình độ và khả năng quản
lý điều hành sản xuất và phát triển KHCN của mỗi nước nói chung, của ngành KTTV nói riêng Không có KHCN tiên tiến thì không thể sản xuất và cung cấp bản tin cảnh báo và dự báo KTTV chính xác, kịp thời
1.4 Hiện trạng hoạt động phục vụ KTTV ở nước ta
Tổ chức phục vụ KTTV trước năm 1994 bám sát theo các tỉnh Mỗi tỉnh có một Đài KTTV phục vụ trực tiếp cho công tác phòng, chống thiên tai bão, lũ và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Sau Nghị định 62/CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11 tháng 7 năm 1994, ngành KTTV được tổ chức lại Theo mô hình này không còn các Đài KTTV tỉnh Nhiệm vụ phục vụ địa phương trước kia do các Đài KTTV tỉnh thực hiện được chuyển về cho 9 Đài KTTV khu vực
Tuy nhiên, địa bàn công tác của Đài KTTV khu vực quá rộng trong khi các địa phương lại có yêu cầu cụ thể và cấp bách phục vụ phòng, chống thiên tai nên sau đó các Trung tâm Dự báo KTTV tỉnh được thành lập Trên cơ sở Quyết định
số 128/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 17 tháng 9 năm
2008, Tổng Giám đốc Trung tâm KTTV quốc gia đã ký 09 quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của 09 Đài KTTV khu vực trực thuộc Trung tâm KTTV quốc gia Theo đó, các Trung tâm Dự báo KTTV tỉnh được đổi tên thành Trung tâm KTTV tỉnh với chức năng nhiệm vụ mới rộng hơn Bộ
Trang 27máy các cơ quan ở trung ương cũng có những thay đổi đáng kể
Nội dung chủ yếu của đề tài là các vấn đề phục vụ KTTV ở địa phương Tuy nhiên, công tác phục vụ KTTV địa phương lại có quan hệ hết sức mật thiết với các đơn vị ở trung ương và các đơn vị khác Vì vậy, trước khi đi sâu vào các hoạt động phục vụ ở địa phương cần nghiên cứu vai trò, chức năng của các đơn vị liên quan
Về tổng thể, các hoạt động phục vụ KTTV dựa trên “Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thủy văn” ban hành theo Lệnh số 36/CTN ngày 10 tháng 12 năm 1994 của Chủ tịch nước và “Quy chế báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ” ban hành kèm theo Quyết định số 245/2006/QĐ-TTg ngày 27 tháng 10 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ, “Quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý
và sử dụng phí khai thác và sử dụng tài liệu khí tượng thuỷ văn, môi trường nước
và không khí” ban hành tại Thông tư số 23/2009/TT-BTC ngày 05 tháng 02 năm
2009 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, “Qui chế phối hợp giữa các hệ thống quan trắc
và dự báo khí tượng thủy văn trong trường hợp có áp thấp nhiệt đới, bão và lũ” ban hành kèm kèm theo Quyết định số 267 /QĐ-KTTVQG ngày 05 tháng 05 năm
2008 của của Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn quốc gia
Các hoạt động phục vụ KTTV ở nước ta hiện nay chủ yếu do Trung tâm KTTV quốc gia đảm nhiệm, bao gồm ba dạng chính: (i) hoạt động đáp ứng yêu cầu của công tác phòng chống thiên tai, bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện cuộc sống cộng đồng; (ii) hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân, (iii) hoạt động phục vụ chuyên dùng Trong đó, các hoạt động phục vụ phòng chống thiên tai và phục vụ sản xuất và đời sống nói chung chiếm phần lớn Hoạt động phục vụ chuyên dùng còn chưa nhiều so với yêu cầu thực tế và chỉ mới hạn chế trong một số đối tượng Hoạt động phục vụ đáp ứng yêu cầu của công tác phòng chống thiên tai bao gồm việc cung cấp các thông tin dự báo và cảnh báo KTTV hỗ trợ cho việc phòng chống thiên tai bão lụt tại các cấp từ trung ương tới địa phương Phục vụ phòng chống thiên tai là hoạt động trọng tâm hiện nay của ngành KTTV; được các cơ quan, tổ chức và đông đảo nhân dân quan tâm Hàng năm, Trung tâm KTTV quốc gia thường phải tập trung hầu hết các nguồn lực cho công tác này trong mùa bão lụt
Các hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân bao gồm việc sản xuất và cung cấp các bản tin dự báo, cảnh báo, thông báo thời tiết, thủy văn hạn ngắn, hạn vừa và hạn dài trên phạm vi toàn quốc cho Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan truyền thông theo quy định của pháp luật; thông báo diễn biến các yếu tố KTTV, tình hình mùa vụ, cung cấp số liệu phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp Các hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống nói chung hiện nay là loại phục vụ công cộng nhưng ở mỗi địa phương đều có đầu tư thêm để đáp ứng được các yêu cầu phát sinh do đặc thù riêng
Các hoạt động phục vụ chuyên dùng bao gồm tư vấn cung cấp số liệu và tính toán các đặc trưng thống kê, kiểm định và chuẩn hóa các máy móc thiết bị
đo đạc KTTV, thông báo và dự báo KTTV… cho việc quy hoạch, thiết kế, xây dựng
và vận hành các công trình, dự án của các ngành năng lượng, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi
Trang 28Nước ta có hai loại sản phẩm KTTV chính là các bản tin dự báo và số liệu
Hệ thống quan trắc KTTV hiện tại bao gồm 174 trạm khí tượng bề mặt,
248 trạm thuỷ văn, 17 trạm khí tượng hải văn, 03 trạm thám không vô tuyến, 06 trạm ra đa thời tiết và 393 trạm đo mưa nhân dân Trong đó, tham gia trực tiếp điện báo số liệu để phục vụ dự báo bão, lũ có 133 trạm trạm khí tượng bề mặt (76%), 204 trạm thủy văn (82%), 03 trạm thám không vô tuyến (100%), 78 trạm đo mưa (20%)
Mật độ mạng lưới quan trắc tạm đáp ứng được các yêu cầu cơ bản để dự báo bằng các phương pháp truyền thống nhưng để dự báo với các phương pháp
HỆ THỐNG XỬ LÝ SỐ LIỆU VÀ DỰ BÁO
• Hệ thống chỉnh lý và lưu trữ số liệu
• Phương pháp dự báo truyền thống
• Các mô hình dự báo hiện đại
HỆ THỐNG THÔNG TIN LIÊN LẠC
• Mạng viễn thông toàn cầu GTS
• Quan trắc khí tượng trên cao
• Quan trắc thủy văn
• Quan trắc hải văn
• Quan trắc từ xa: Trạm thu ảnh mây
vệ tinh phân giải cao, các ra đa thời tiết
Trang 29hiện đại, mạng lưới này chưa đủ dày So với một số nước trong khu vực, mật độ trạm quan trắc KTTV của nước ta quá thưa Chẳng hạn, lãnh thổ Hồng Kông có
tích chưa bằng một phần ba diện tích nước ta nhưng có gần 500 trạm khí tượng Riêng về mạng lưới quan trắc cao không nước ta có mật độ xấp xỉ một vài nước trong khu vực; nhưng do địa hình kéo dài, 03 trạm quan trắc cao không ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh cách nhau khá xa, toàn bộ dải miền Trung thường hay bị bão, lũ mà chỉ dựa vào một trạm cao không ở Đà Nẵng Do số liệu trên cao thưa nên việc dự báo gặp nhiều khó khăn
Chất lượng công trình trạm quan trắc hiện còn thấp, ảnh hưởng không tốt đến việc thu thập số liệu phục vụ công tác dự báo Kết quả kiểm tra mạng lưới quan trắc KTTV hàng năm cho thấy chỉ có trên dưới 70/170 công trình trạm quan trắc khí tượng bề mặt có chất lượng đạt yêu cầu, khoảng 50/170 trạm cần phải
tu sửa và 60/170 trạm cần phải xây lại
Phần lớn trang thiết bị quan trắc, thu thập số liệu của các trạm khí tượng, thủy văn và hải văn là những trang thiết bị dùng để quan trắc theo phương pháp thủ công, không phù hợp với công nghệ dự báo hiện đại Ngoài ra, một số máy móc thiết bị dễ bị hư hỏng trong môi trường khắc nghiệt, dải đo hạn chế nên không thể quan trắc giá trị của yếu tố KTTV khi xảy ra bão, lũ đặc biệt nguy hiểm
Hệ thống thông tin liên lạc gồm mạng lưới viễn thông thu thập số liệu từ
các trạm quan trắc trong nước và thế giới về các Trung tâm Dự báo ở trung ương hoặc địa phương, đồng thời truyền phát các sản phẩm dự báo đến các đối tượng
sử dụng
Mạng viễn thông toàn cầu GTS có chức năng thu thập số liệu quan trắc khí
tượng và các sản phẩm dự báo từ các nước, đồng thời phát báo các số liệu quan trắc của nước ta ra bên ngoài theo qui định của Tổ chức Khí tượng Thế giới GTS
là xương sống của hệ thống thông tin khí tượng toàn cầu nhưng có một số nhược điểm là băng thông hẹp, tốc độ thấp, kênh liên lạc đến nước ta tốc độ lại càng thấp, không đáp ứng các yêu cầu trao đổi nhiều loại thông tin có khối lượng lớn
Mạng Internet có chức năng thu nhận các sản phẩm dự báo từ các mô hình
dự báo và các tư liệu khác của các trung tâm khí tượng tiên tiến trên thế giới và khu vực phục vụ công tác dự báo
Mạng thông tin nội địa bao gồm mạng vô tuyến sóng ngắn và điện thoại,
mạng máy tính diện rộng WAN và hệ thống truyền số liệu Met-TV Mạng vô tuyến sóng ngắn và điện thoại có nhiệm vụ cung cấp số liệu từ các trạm quan trắc về các Đài KTTV khu vực bằng nhiều hình thức khác nhau, phụ thuộc vào từng nơi
và từng thời điểm: điện thoại hoặc vô tuyến Mạng máy tính diện rộng WAN là mạng trao đổi số liệu và cung cấp bản tin dự báo giữa Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương với các Đài KTTV khu vực và một số cơ quan bên ngoài như: Ban Chỉ đạo phòng chống lụt, bão Trung ương, Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Khí tượng Hàng không, Khí tượng Không quân Đây là mạng chủ yếu để truyền số liệu từ các Đài KTTV Khu vực về TTDBKTTVTƯ Việc truyền số liệu qua mạng WAN chậm khi khối lượng số liệu nhiều và dễ bị nghẽn mạch Mạng thu thập số liệu từ các địa phương là khâu quan trọng trong hệ thống thông tin phục vụ công tác dự báo, nhưng hiện nay vẫn là khâu yếu, khó bảo đảm thông suốt khi thiên tai xảy ra Hệ thống truyền
Trang 30ự báo tỉnh
Hình
ng xử lý
công cụ xmềm, mô
à các loại khác nha
pháp dự b
n phẩm từtrung ươ
m Khí tượthông qua
ận ảnh vệ
nh mây cótrung ươ
1.2: Sơ đ
số liệu,
xử lý, lưu t
ô hình dự máy tính
u từ truyề
báo thời ti
ừ mô hình
ng và cácợng Nhật
an Interne
ệ tinh mặt
ó độ phân
ng đã có qua hệ thố
c vệ tinh trong việc
et Trong đất đặt tạgiải cao tthể nhận ống Interncực Trun
dự báo mbáo lũ và
u từ TTDB
c Đài KTTVthống này
ưới thông t
các sản p
u KTTV thơng tiện ththiết bị khđến hiện đ
được sử dWP): HRM
âm dự báo
ăm 1997, thời gian
ại Trung t
ừ GMS-5
dữ liệu Gnet và ảnh
g tâm Dự mưa, sau đmực nước
BKTTVTƯ
V Khu vực) phục vụ
tin KTTV n
phẩm dự
u thập đưhiết bị củahác liên quđại được s
dụng kết h, MM5, ET
o khí tượnCục Khí
05 năm tâm Dự bá
Từ tháng GOES-9 IR mây từ N
nội địa
báo bao
ược và hệ
a hệ thốnguan Các c
sử dụng k
hợp ảnh vTA… của T
ng nước ntượng Mỹ (1997 -
áo KTTV trV/2003, T
RI từ TrungNOAA-15,
V trung ươ
ng cấp cho
hống phát chỉ có 19
dự báo ở
gồm cácthống các
g xử lý sốông cụ vàkết hợp để
vệ tinh, raTrung tâmgoài khác
và Úc từ2002) hệrung ươngTrung tâm
g tâm KhíNOAA-16,ơng đã sử
ử
n
Trang 31Hệ thống quan sát bằng rađa ở Việt Nam hiện thời bao gồm 06 rađa thời tiết nằm tại Phủ Liễn, Việt Trì, Vinh, Tam Kỳ, Nha Trang và thành phố Hồ Chí Minh
Dữ liệu thu được từ 03 trạm tại Phủ Liễn, Việt Trì, Vinh được truyền về Trung tâm
Dự Báo KTTV trung ương thường xuyên 03 giờ/ lần
Hình 1.3: Hệ thống rađa thời tiết
Dự báo thủy văn vẫn dựa vào các phương pháp truyền thống là chính với việc xử lý số liệu đơn giản, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của các dự báo viên Bên cạnh đó, một số mô hình số trị như MIKE-11, MARINE, IMECH-1D đã được nghiên cứu thử nghiệm thành công và bước đầu ứng dụng vào nghiệp vụ, góp phần làm tăng thời gian dự kiến và độ chính xác của các thông tin dự báo Tuy nhiên, những thành công bước đầu trong việc ứng dụng các mô hình dự báo tiên tiến còn rất nhiều hạn chế, đơn lẻ và chưa hệ thống Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, ngoài việc dự báo lũ rất cần dự báo ngập lụt do tác động tổ hợp của lũ thượng nguồn và nước dâng trong bão hoặc thủy triều cho các thành phố, đồng bằng duyên hải Cho đến nay, nội dung dự báo này vẫn chưa được triển khai
Trang 32Hệ thống xử lý số liệu là thành phần phức tạp, khó khăn nhất trong việc tăng cường năng lực dự báo KTTV vì đây là các hệ thống công nghệ cao, đòi hỏi
có sự đồng bộ nhiều mặt trong khi hạ tầng cơ sở còn nhiều yếu kém Các phương tiện hiện nay không thể đảm đương việc thu thập và xử lý số liệu cho các mô hình số trị tiên tiến Kho dữ liệu trên máy tính mới lưu trữ được vài năm nay, không đáp ứng được các yêu cầu phân tích dự báo Hệ thống máy tính không đủ mạnh để xử lý khối lượng lớn các số liệu của mô hình số trị
Trách nhiệm và quy trình dự báo bão, lũ
Các bản tin dự báo bao gồm dự báo KTTV thông thường và dự báo các hiện
tượng KTTV nguy hiểm (bão, lũ, mưa lớn…) trên đất liền và trên biển trong phạm
vi cả nước và chi tiết cho từng tỉnh Theo thời gian dự kiến, dự báo KTTV được phân thành dự báo hạn ngắn, dự báo hạn vừa và dự báo hạn dài
Trung tâm Dự báo KTTV trung ương chịu trách nhiệm sản xuất và cung cấp:
(i) Các bản tin dự báo thời tiết hạn ngắn hàng ngày có thời gian dự kiến là 24 -
48 giờ cho 06 khu vực đất liền, thủ đô Hà Nội và bản tin dự báo thời tiết biển 11 khu vực lãnh hải, một số cảng chính được phát gối tiếp nhau 12 giờ; các bản tin
dự báo về bão và áp thấp nhiệt đới được phát 04 lần/ngày, có thể lên đến 08 lần/ngày tùy theo tình hình; các bản tin cảnh báo về các hiện tượng thời tiết nguy hiểm khác như mưa lớn cũng được phát cùng các bản tin dự báo thời tiết; các bản tin dự báo gió mùa đông bắc được phát riêng cách nhau từ 02 - 06 giờ tùy mức độ nguy hiểm; dự báo thời tiết cho các thành phố lớn với thời hạn 03 ngày; các bản tin dự báo hạn vừa có thời hạn dự báo trước 03 - 05 ngày, hạn dài
và dự báo khí hậu (chỉ mang tính thử nghiệm, ở các địa phương phần lớn là
những nhận định về mùa vụ) (ii) Các bản tin dự báo thủy văn hạn ngắn, trung
bình và dài cho toàn bộ 20 sông chính trên toàn lãnh thổ Việt Nam bao gồm các bản tin dự báo mực nước và lưu lượng với thời gian dự kiến 5 ngày (vào mùa mưa) và 10 ngày (vào mùa khô) được xuất bản hàng ngày; các bản tin dự báo thủy văn tháng và mùa về mực nước cao nhất trong thời gian dự kiến; các bản tin dự báo lũ với thời gian dự kiến 12 - 48 giờ được phát 01 lần/ngày và trong trường hợp khẩn cấp là 02 lần/ngày, dự báo lũ trung bình với thời gian dự kiến từ
05 đến 10 ngày được phát hàng ngày cho các sông chính ở miền Bắc và vùng hạ lưu sông Mê Kông; cũng có các cảnh báo về hiểm họa thủy văn chủ yếu là cảnh báo hạn hán
Trên cơ sở bản tin dự báo KTTV của Trung tâm Dự báo KTTV trung ương, số liệu quan trắc trực tiếp và đặc điểm địa lý của từng địa phương; các Đài KTTV khu vực và các Trung tâm KTTV tỉnh có trách nhiệm dự báo KTTV chi tiết hơn cho các vùng trong phạm vi khu vực hoặc tỉnh/thành phố phụ trách trên cơ sở “Qui chế phối hợp giữa các hệ thống quan trắc và dự báo khí tượng thủy văn trong trường hợp có áp thấp nhiệt đới, bão và lũ” Quyết định số 267 /QĐ-KTTVQG của Giám đốc Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn quốc gia ban hành ngày 05 tháng 05 năm 2008
Đội ngũ cán bộ làm công tác dự báo KTTV
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ dự báo từ trung ương đến địa phương hiện tại còn thiếu về số lượng, hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ Đội ngũ dự báo viên giỏi, có kinh nghiệm, am hiểu tình hình bão, lũ đều lớn tuổi và ít dần; trong khi
đó đội ngũ dự báo viên trẻ còn thiếu kinh nghiệm, chưa đủ năng lực làm chủ và khai thác các thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến
Trang 33• Về cung cấp số liệu KTTV:
Theo thống kê, bình quân mỗi năm có tới 22.000 lượt người đến khai thác
số liệu KTTV tại Trung tâm Tư liệu KTTV Trong đó có khoảng 30% cung cấp cho ngành Điện lực (để xây dựng các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, xây dựng các đường dây cao thế ); 20% cho ngành Thủy lợi (để xây dựng và tu bổ hệ thống
đê, kè, cống, thiết kế và xây dựng các hệ thống tưới tiêu, hồ chứa ); 15% cho ngành Giao thông (để xây dựng đường, cầu, cảng ); còn lại là cho ngành Nông nghiệp (để qui hoạch các vùng, bố trí cơ cấu mùa vụ ), ngành Xây dựng (để thiết kế các nhà cao tầng, qui hoạch đô thị ) và các ngành khác
Trong số các loại số liệu KTTV cung cấp, số liệu khí tượng bề mặt (không kể
số liệu mưa đơn lẻ) chiếm tỷ lệ lớn nhất (35%), tiếp đó là số liệu thủy văn (30%), số liệu mưa (25%), số liệu KTTV biển (5,6%) Tuy nhiên, hiện nay chủ yếu là cung cấp số liệu thô, chỉ có một phần nhỏ là các số liệu tính toán
• Về các phục vụ KTTV khác:
Các loại phục vụ khác bao gồm: điều tra khảo sát KTTV và môi trường (khảo
sát thủy văn và đo đạc mặt cắt và địa hình lòng sông), xây dựng các hệ thống cảnh báo lũ do Liên đoàn Khảo sát KTTV và các Đài KTTV khu vực thực hiện; nghiên cứu khoa học, tính toán thủy văn, soạn thảo đặc điểm KTTV, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chủ yếu do Viện KTTV&MT và một số đơn vị của Trung tâm KTTV quốc gia thực hiện
Tóm lại, về cơ bản, hoạt động KTTV lâu nay coi việc phục vụ phòng chống thiên tai làm trọng tâm, chưa chú trọng nhiều đến các hoạt động dịch vụ Các sản phẩm phục vụ vì vậy thường nhằm mục đích cung cấp thông tin cho các cơ quan phòng chống bão, lụt là chính Các đơn vị của Trung tâm KTTV quốc gia từ trung ương đến địa phương gần như trở thành một bộ phận của các cơ quan chỉ huy phòng chống lụt bão trong mùa bão lụt Điều này rất quan trọng và cần thiết đối với một cơ quan KTTV Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng vào hoạt động phòng chống thiên tai nói chung, tiềm năng của thông tin KTTV sẽ không phát huy được hết hiệu quả khi mà tác động của khí hậu, thời tiết hết sức to lớn nhưng những hiểu biết để sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế
1.5 Tổng quan tình hình và kinh nghiệm phục vụ ở ba tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá và Đồng Tháp
Theo đề cương đã được duyệt, việc xây dựng các công cụ phục vụ KTTV được thực hiện thí điểm ở ba tỉnh là Yên Bái, Thanh Hoá và Đồng Tháp Phần này
sẽ đi sâu phân tích các đặc điểm tự nhiên và tình hình phục vụ cụ thể ở ba tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá và Đồng Tháp thông qua các kết quả điều tra cũng như các
tư liệu thu thập được
1.5.1 Một vài đặc điểm tự nhiên và tình hình phục vụ KTTV ở Yên Bái
1.5.1.1 Một vài đặc điểm tự nhiên
• Đặc điểm địa hình
Trang 34Yên Bái là tỉnh miền núi Tây Bắc nằm trong khoảng 21032’ - 22036’ độ vĩ
đông bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, phía đông nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Tây Bắc giáp tỉnh Sơn La, Lai Châu
Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.882,9 km², nằm trải dọc theo sông Hồng, bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 1 thị xã và 7 huyện với tổng số 180 xã, phường, thị trấn Dân số toàn tỉnh: 731.810 người
Yên Bái là tỉnh nối liền vùng đồng bằng đồi núi Phú Thọ ở phía nam với vùng cao nguyên Bắc Hà và Bắc Quang của Lào Cai, Hà Giang nên đồi núi Yên Bái cũng cao dần từ Nam lên Bắc
Các dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo thành những nan quạt cho hệ núi Bắc Bộ; ở phía tây có dãy Lùng Cúng Pudơlan, Pú Luông nằm trong hệ núi Hoàng Liên Sơn nối tiếp từ địa phận Lào Cai về tạo nên một ranh giới thiên nhiên giữa Yên Bái, Lào Cai và thị xã Nghĩa Lộ, trong đó có những đỉnh tiêu biểu như Lùng Cúng cao 2.913m, Khau Cọ cao 2.577m, Đán Mốc cao 1.932m, núi Bu cao 1.639m Đây cũng là một dãy núi cao nhất trong tỉnh với độ cao trung bình khoảng 2.000m, làm thành một tấm bình phong khổng lồ ngăn cản gió mùa đông bắc xâm nhập trực tiếp về phía tây
Nằm giữa sông Hồng và sông Chảy là dãy núi con Voi ngăn cách địa giới các huyện ở phía đông như Yên Bình, Lục Yên với các huyện phía tây như Trấn Yên, Thành phố Yên Bái và Văn Yên, nó cũng là đường phân thuỷ của sông Hồng và sông Chảy Dãy con Voi có nhiều lớp hiểm trở nên ít có đường qua lại giữa các huyện ở phía đông với các huyện phía tây Độ cao trung bình của các dãy núi này xấp xỉ 1.000m trong đó các đỉnh cao tiêu biểu như con Voi cao 1.450m đỉnh Mỏ
Vọ cao 1.250m, núi Bon cao 1.100m Ở phía đông của hai huyện Lục Yên, Yên Bình còn có những dãy núi đá vôi ngắn và thấp dưới 1.000m chia cắt ra thành nhiều núi nhỏ như dãy Lâm Thượng, dãy Liên Anh và Pù Tắc thuộc địa phận xã Lâm Thượng và Mai Sơn Dãy Cao Khánh nằm khoảng giữa sông Chảy và Ngòi Biệc Phần lớn các dãy núi này đều hiểm trở có nhiều hang động, có độ dốc lớn nên mỗi khi có mưa lớn thường gây nên lũ quét ở vùng Ngòi Biệc
Phía bắc tỉnh giáp với vùng cao nguyên Hà Bắc và dãy Tây Côn Lĩnh của Hà Giang là dãy núi Bắc Cuông, Nghĩa Đô với các đỉnh cao hơn 1.000m kéo dài đến huyện Hạ Hòa (Phú Thọ) như núi Na cao 977m, núi Đỗng cao 875m hay dãy núi
Là nằm gần khu vực Thác Bà cao 958m đã tạo điều kiện thuận lợi để gió đông nam xâm nhập sâu vào thung lũng sông Hồng, sông Chảy gây trở ngại cho gió mùa đông bắc mỗi khi có khối không khí cực đới tràn về Ngoài các dãy núi chính nói trên còn có nhiều đồi, núi nhỏ chạy từ các dãy núi chính ra đến bờ sông Hồng hoặc sông Chảy đã chia cắt tỉnh Yên Bái ra làm nhiều khu vực như dãy núi cánh cung chạy từ xã Xuân Tầm đến Trái Hút với các đỉnh thấp dần từ tây sang đông như các đỉnh cao 1.651m ở giáp Nghĩa Lộ đến các đỉnh cao gần 400m ở gần Trái Hút Có thể nói đây là một bức tường ngăn cản gió đông nam từ biển thổi vào mà Trái Hút chính là cửa ngõ độc nhất để gió đông nam có thể vượt qua xâm nhập vào sâu trong các cùng thuộc huyện Bảo Yên, Văn Bàn
Trang 35Hình 1.4: Bản đồ tỉnh Yên Bái
Núi đều dốc thoải về phía đông và độ cao giảm dần từ tây sang đông Dãy núi cánh cung chạy từ xã Phong Dụ dọc theo Ngòi Nhù đến xã Tân An, Cẩm Ân
đã bao quanh huyện Văn Bàn thành một vùng cao nguyên đóng kín
Đặc điểm đồi núi của Yên Bái là hiểm trở, dốc về phía tây và thoải về đông nên phần lớn các chi lưu của sông Hồng, sông Chảy ở phía đông đều ngắn và dốc, phía tây dài và thoải Chính vì vậy, mỗi khi mưa lớn nước ở các sông ngòi Yên Bái tập trung nhanh gây các đợt lũ ống lũ quét làm thiệt hại về con người và tài sản
Có một số đường như đường qua đèo Bông (Mã Yên Sơn) vượt dãy con Voi
đi từ Bảo Hà qua Phố Ràng, đường Văn Bàn đi Than Uyên qua đèo Khau Cọ, đường đi Mù Cang Chải qua đèo Phúng Luông, đường đi Hà Giang qua đèo Nghĩa
Đô Những đèo này đều cao và cũng là nơi hút gió đông bắc hay tây nam về mùa đông hoặc mùa hè
Địa hình của Yên Bái nằm trên gần một vĩ độ nên thời gian kéo dài ban ngày qua các tháng trong năm ở các vùng trong tỉnh không khác biệt nhau nhiều lắm, nếu so sánh với các nơi thì độ chênh lệch nhau khoảng vài phút
• Đặc điểm khí hậu
Có thể chia Yên Bái thành 03 vùng và 06 tiểu vùng khí hậu là: (i) Vùng núi cao Hoàng Liên Sơn - Pú Luông bao gồm tiểu vùng Mù Cang Chải và tiểu vùng núi cao tây và nam Văn Chấn; (ii) Vùng thung lũng sông Hồng, sông Chảy bao
Trang 36gồm tiểu vùng phía bắc thung lũng sông Hồng, sông Chảy, tiểu vùng nam Trấn Yên, thành phố Yên Bái, Ba Khe, tiểu vùng thung lũng Văn Chấn, tiểu vùng Lục Yên - Yên Bình; (iii) Vùng núi thượng nguồn sông Chảy
Về hoàn lưu: Hoàn lưu ở Yên Bái về cơ bản là hoàn lưu gió mùa của miền
Bắc nước ta Đặc điểm nổi bật nhất trong cơ chế hoàn lưu đó là sự tương phản giữa mùa đông và mùa hè về tính chất cường độ và phạm vi hoạt động của các trung tâm khí áp
Mùa đông (từ tháng XI đến tháng III): Quá trình xâm nhập của không khí
cực đới vào Yên Bái thường được mở đầu bằng những đợt sóng lạnh có tần số khá cao vào giữa mùa và thưa hơn vào đầu và cuối mùa Ngược lại ảnh hưởng của tín phong được lặp lại khi không khí cực đới đã biến tính sâu sắc Nằm sâu trong đất liền, Yên Bái không chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nhiều như khu Đông Bắc Bộ Nhìn chung trong suốt mùa đông, thời tiết ở Yên Bái phổ biến
là lạnh, tuy nhiên xen kẽ các đợt lạnh đó là thời tiết ấm với sự không chế của không khí nhiệt đới Thái Bình Dương Mùa đông xét về độ ẩm được chia thành hai thời kỳ khác nhau rõ rệt; Nửa đầu mùa là thời kỳ lạnh khô sau mùa mưa vừa kết thúc; Nửa sau là thời kỳ mưa phùn mang lại thời tiết lạnh ẩm Đây là thời kỳ ẩm ướt nhất trong năm ở Yên Bái Ở khu vực phía Tây đã bắt đầu mùa mưa sớm (giữa tháng III) hơn các khu vực phía Đông
Mùa xuân (tháng IV): Đây là thời kỳ quá độ từ mùa đông sang mùa hè
Front lạnh thưa và yếu dần Ở Yên Bái bắt đầu mùa mưa dông thay thế mưa phùn Ở khu vực phía Tây của tỉnh bắt đầu mùa thời tiết nóng khô mặc dù vẫn còn hoạt động dông xen kẽ
Mùa hè (tháng V đến tháng IX): Gió thịnh hành là gió mùa tây nam hoặc
đông nam Do hiệu ứng phơn nên đầu mùa hè là thời kỳ thịnh hành thời tiết nóng khô ở khu vực phía tây Tuy nhiên mùa mưa vẫn duy trì trong suốt mùa hè ở cả khu vực phía đông và phía tây Mùa hè cũng là mùa mưa bão Bão ảnh hưởng đến các khu vực trong tỉnh chủ yếu là về mưa Hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới
ở các vĩ độ Bắc Bộ hoặc Bắc Trung Bộ có thể đem lại kiểu thời tiết mưa dầm
Mùa thu (tháng X): Đây là thời kỳ quá độ từ mùa hè sang mùa đông Đôi
khi front lạnh tràn về kết hợp với bão hoặc dải hội tụ nhiệt đới ở các vĩ độ Bắc Trung Bộ hoặc Nam Trung Bộ vẫn gây ra mưa lớn ở Yên Bái nhất là khu vực phía đông
Về chế độ gió: Gió đông hoặc đông nam chiếm ưu thế ở các khu vực dọc
theo thung lũng sông Hồng, sông Chảy hoặc thung lũng có hướng mở về phía đông nam như Yên Bái, Thác Bà, Lục Yên Gió thiên hướng tây được tăng cường trong tháng IV và tháng VII ở huyện vùng cao Mù Cang Chải
Tốc độ gió trung bình hàng năm ở Yên Bái phổ biến 1 - 2m/s, nhỏ hơn vùng đồng bằng Bắc Bộ Nhìn chung tốc độ gió có xu hướng giảm dần từ đông nam lên tây bắc Sự chênh lệch tốc độ gió giữa các tháng trong năm không lớn Tuy nhiên, tốc độ gió lớn nhất đều quan sát được vào cuối mùa đông đầu mùa hè nhất là vào các tháng IV và V do các cơn dông xảy ra vào thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa đông sang mùa hè Tốc độ gió trung bình mùa đông (từ tháng XI - III năm sau) tại Yên Bái là 1,40 m/s, tại Lục Yên là 1,20m/s và tại Thác Bà là 1,70
Trang 37m/s Cuối mùa đông tốc độ gió tăng lên so với các tháng đầu mùa đông Tại Yên Bái tốc độ gió trung bình tháng XI là 1,40 m/s, tháng III năm sau là 1,60 m/s Các tháng đầu mùa hè (tháng IV - VII) gió mùa tây nam phát huy mạnh
mẽ, nhưng do ảnh hưởng của tâm thấp Bắc bộ nên gió tây nam bị lệch hướng chuyển thành nam hoặc đông nam, chính vì vậy nên các nơi trong tỉnh vào thời
kỳ này hướng gió chủ yếu là Nam hoặc Đông nam Tốc độ gió giảm dần vào các tháng giữa mùa Tốc độ gió trung bình tại Yên Bái tháng IV - V là 1,8 m/s, tháng
VI - VIII là 1,5 m/s Tốc độ gió trung bình tại Nghĩa Lộ tháng IV là 1,2 m/s, tháng V và VII là 1,1 m/s, tháng VI và VIII là 0,9 m/s
Về chế độ nhiệt: Do tác động của địa hình, độ cao, mặt đệm ở từng vùng
nên mùa đông Yên Bái có chế độ nhiệt khác biệt với đồng bằng và vùng núi Đông
hơn thời kỳ đầu và cuối mùa Nhiệt độ trung bình mùa hè tại Yên Bái và Lục Yên tương ứng là 26,2oC và 25,6oC
Về chế độ mưa ẩm: Yên Bái có khí hậu đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió
mùa, nắng lắm mưa nhiều nên độ ẩm cao Trên địa bàn tỉnh có 2 sông lớn chảy qua: sông Hồng và sông Chảy, khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ và hồ đầm; đáng
kể nhất là hồ Thác Bà có dung tích 2,821 tỷ m3
Mùa đông: Thời kỳ đầu mùa đông do độ ẩm nhỏ nên thời tiết ít mây và
nắng, ban ngày nhiệt độ khá cao, nhưng ban đêm nhiệt độ xuống thấp, sáng sớm thường có sương mù Độ ẩm trung bình mùa đông tại Yên Bái và Lục Yên là 88%, tại Nghĩa Lộ là 83% Lượng mưa mùa đông tăng dần từ đông sang tây ở khu vực phía nam tỉnh và ngược lại ở khu vực phía Bắc tỉnh Lượng mưa trung bình mùa đông tại Yên Bái là 250,3 mm, Lục Yên: 226 mm, Nghĩa Lộ: 126,8 mm, Thác Bà: 206 mm Lượng mưa ở phía tây của tỉnh (Nghĩa Lộ, Trạm Tấu, Mù Cang Chải) thấp hơn nhiều so với các huyện phía Đông Lượng mưa tháng XI, III trung bình đạt xấp xỉ 30,0 mm, các tháng còn lại hầu như chỉ đạt 8 - 15 mm Vì vậy các tháng mùa đông nguy cơ cháy rừng ở các huyện phía Tây là rất cao
Mùa hè (mùa mưa): So với các tỉnh lân cận, độ ẩm không khí ở các nơi
trong tỉnh đều lớn do mạng lưới sông ngòi, ao hồ phong phú Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè (từ 85 - 90%) Trung bình nhiều năm, lượng mưa toàn mùa hè tại Yên Bái là 1801 mm, Yên Bình (Thác Bà): 1697 mm, Lục Yên 1920 mm, Nghĩa Lộ: 1416 mm
Khí hậu Yên Bái có những đặc điểm chung phù hợp với đặc điểm khí hậu miền Bắc Việt Nam Song dưới tác động của địa hình chia cắt ở địa phương nên
sự diễn biến của các yếu tố khí tượng ở mỗi vùng trong tỉnh cũng có nét độc đáo thể hiện rõ rệt: vùng mưa ẩm ở Trấn Yên, Nam Văn Yên; vùng lạnh ẩm Lục Yên, Bắc Yên Bình; vùng lạnh khô ở các huyện phía Tây của tỉnh
• Đặc điểm thuỷ văn
Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc chảy qua tỉnh Lào Cai vào
núi cao: Hữu ngạn là dãy núi Hoàng Liên Sơn cao trung bình 1500 m, đặc biệt có đỉnh Fan- xi- Păng cao 3143 m; tả ngạn là dãy núi Con Voi cao trung bình 2430
Trang 38m, đây là lưu vực dạng hình lông chim, thượng nguồn là rừng núi rậm rạp và có
độ dốc tương đối lớn, có nhiều sông nhánh như Ngòi Nhù, Ngòi Hút, Ngòi Thia, ngòi Nga Quán và Ngòi Lâu Dòng sông uốn khúc quanh co do địa hình, lòng sông không ổn định bồi xói mãnh liệt, lượng phù sa lớn
Lưu vực sông Hồng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa, lũ bắt đầu từ tháng V đến tháng X; mùa cạn từ tháng XI đến tháng IV năm sau Mùa mưa, lượng mưa chiếm từ khoảng 85 - 90% lượng mưa năm; Những tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VI, VII và VIII chiếm khoảng 55 - 65% lượng mưa năm Tháng có lượng mưa nhỏ nhất là các tháng XII, I và tháng II
Lũ tiểu mãn hàng năm thường xuất hiện từ giữa đến cuối tháng V, biên độ
lũ thường đạt từ 1,50m trở lên Lũ chính vụ tập trung từ cuối tháng VI - IX
1.5.1.2 Các loại thiên tai chủ yếu
Các loại hình thiên tai chính là: Mưa lớn diện rộng do ảnh hưởng của áp thấp nóng phía tây (gây mưa vừa, mưa to nhất là các huyện phía tây của tỉnh),
do ảnh hưởng của rãnh áp thấp có trục qua Bắc bộ, dải hội tụ nhiệt đới có trục qua Bắc bộ, áp thấp nhiệt đới, hoàn lưu của bão; dông, tố, lốc, mưa đá, mưa lớn cục bộ; mưa lớn diện rộng gây lũ, lũ quét, lũ ống, sạt lở đất; sương muối, băng giá, rét đậm, rét hại… Hàng năm, địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề về người
và của do thiên tai gây ra Ví dụ, lũ quét xảy ra ở Văn Chấn (9/2005) làm 50 người chết và mất tích; do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 (đầu tháng 8/ 2008) đã gây lũ lớn, sạt lở đất làm 42 người chết, 27 người bị thương, thiệt hại trên 438 tỷ đồng
1.5.1.3 Tình hình phục vụ KTTV
Yên Bái là một tỉnh miền núi địa hình chia cắt mạnh mẽ, nên hình thành các tiểu vùng khí hậu khác biệt nhau Công tác dự báo phục vụ đối với tỉnh nhà gặp rất nhiều khó khăn
Trong những năm qua Trung tâm đã cố gắng, nỗ lực để đáp ứng yêu cầu dự báo phục vụ địa phương bằng các công cụ dự báo được trang bị, từ những sản phẩm khai thác trên mạng và nhất là chuỗi số liệu KTTV thu thập, quan trắc được cộng với kinh nghiệm dự báo lâu năm của các dự báo viên ở địa phương, nên công tác dự báo phục vụ địa phương phần nào đã tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo địa phương phòng tránh giảm nhẹ được thiệt hại do thiên tai gây ra Đối với sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của tỉnh, Trung tâm đã cố gắng nhận định về tình hình thời tiết và thuỷ văn 10 ngày, tháng, 3 tháng để các sở, ban, ngành chỉ đạo sản xuất phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cho địa phương Công tác dự báo phục vụ được tỉnh đánh giá cao, nhất là công tác cảnh báo các hiện tượng thời tiết thuỷ văn đặc biệt (như mưa lớn, lũ ống, lũ quét, rét đậm rét hại…) Tuy nhiên cũng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc ứng dụng công cụ, công nghệ tiên tiến cho dự báo, cảnh báo Bên cạnh đó, mạng lưới trạm KTTV trong tỉnh quá thưa, không đại diện được cho vùng, tiểu vùng Mạng lưới đo mưa nhân dân không điện báo số liệu nên không giúp gì cho công tác dự báo, mặt khác sau sáp nhập Đài liên tỉnh thành Đài khu vực thì nhiều trạm KTTV trong tỉnh đã bị giải
Trang 39thể Các trạm dùng riêng của tỉnh không có nên rất khó khăn cho Trung tâm KTTV trong việc thu thập, khai thác số liệu phục vụ dự báo ở địa phương
Dự báo khí tượng thuỷ văn chủ yếu vẫn dựa trên các phương pháp truyền thống như: Phương pháp hình thế Synốp để dự báo thời tiết, phương pháp xu thế đường thẳng, phương pháp lượng trữ, phương pháp mực nước tương ứng để dự báo thuỷ văn
Một số mô hình, phương pháp hiện đang được sử dụng trong dự báo tác nghiệp tại Trung tâm KTTV tỉnh Yên Bái là:
- Mô hình SSARR (Được Trung tâm Dự báo KTTV trung ương chuyển giao năm 2000 kèm theo máy tính) để dự báo thủy văn hạn ngắn trong mùa lũ trên sông Hồng tại Yên Bái với thời gian dự kiến 06, 12 và 18 tiếng Để giải quyết bài toán dự báo với thời gian dự kiến 24 giờ, trung tâm vẫn phải dựa vào phương pháp mực nước tương ứng và thời gian chảy truyền trạm trên - trạm dưới
- Mô hình dự báo mưa lớn cho lưu vực sông Hồng ở phía Tây Bắc bộ Phần mềm thường hay bị lỗi nên việc sử dụng bị hạn chế
- Phương pháp xác suất chuyển dịch lượng mưa tháng tại Yên Bái đang được
áp dụng trong tác nghiệp dự báo
Ngoài ra trung tâm còn khai thác, tham khảo các sản phẩm dự báo từ Trung tâm dự báo KTTV trung ương (như mô hình dự báo thuỷ văn trượt 5 ngày), song chỉ để tham khảo vì dự báo trượt từ ngày thứ 2 trở đi sai số rất lớn
Qua điều tra, khảo sát thấy các yêu cầu của địa phương đối với công tác phục vụ khí tượng thuỷ văn rất lớn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các vấn đề sau:
- Nâng cao chất lượng các bản tin dự báo
- Dự báo mưa lớn bởi vì đây là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lũ quét, lũ ống trên địa bàn tỉnh
- Bố trí thêm các điểm đo mưa nhân dân và điện báo số liệu các tháng mùa mưa, bão, lũ hàng năm
- Dự báo lũ cho sông Ngòi Thia
- Dự báo khí tượng nông nghiệp phục vụ sản xuất đòi hỏi phải xây dựng cơ
sở dữ liệu Hiện nay hàng ngày Trung tâm KTTV tỉnh thu, lưu sản phẩm để khai thác dự báo qua mạng nội bộ của Đài KTTV khu vực Việt Bắc
- Xây dựng bản đồ ngập lụt trên địa bàn tỉnh, hiện nay với thành phố Yên Bái, một số xã phía nam huyện Trấn Yên đã có bản đồ phân vùng ngập lụt
- Cảnh báo nguy cơ cháy rừng chủ yếu dựa vào số liệu nhiệt, ẩm, gió của các trạm khí tượng Mù Cang Chải, Nghĩa Lộ, Lục Yên trạm khí tượng Yên Bái
- Cảnh báo nguy cơ giông, sét, tố lốc
Trang 401.5.2 Một vài đặc điểm tự nhiên và tình hình phục vụ KTTV ở Thanh Hóa
1.5.2.1 Một vài đặc điểm tự nhiên
Thanh Hóa là một tỉnh đất rộng, người đông, có nguồn tài nguyên khí hậu phong phú và đa dạng, nhiều thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên Thanh Hoá cũng luôn phải đối mặt với không ít những thiên tai phức tạp có nguồn gốc khí tượng thuỷ văn, để lại nhiều tổn thất kể cả người và của Do vậy công tác phục vụ KTTV có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Thanh Hoá nằm ở phía nam của Bắc Bộ, phía bắc của Bắc Trung Bộ, giữa 19°18' đến 20°40' vĩ độ bắc, 104°22' đến 106°05' kinh độ đông Phía bắc giáp
ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình dài 175 km; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An dài 160 km; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km; phía đông Thanh Hóa là vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18.000 km² Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², đứng thứ tư trong cả nước
• Đặc điểm địa hình
Địa hình Thanh Hóa rất đa dạng, thấp dần từ tây sang đông với 3/4 diện tích là đồi núi và chia làm 3 vùng rõ rệt:
Vùng trung du miền núi gồm 11 huyện thị với diện tích 839.037ha, chiếm
gần 72 % diện tích toàn tỉnh, độ cao trung bình 600 - 700 m, độ dốc trung bình
công nghiệp ngắn và dài ngày, cây ăn quả, lâm nghiệp và chăn nuôi
Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm 14,61%
diện tích toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, Sông Bạng, Sông Yên
và Sông Hoạt Độ cao trung bình từ 5- 15m, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độc lập Đồng bằng Sông Mã có diện tích lớn thứ ba sau đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng
Vùng ven biển bao gồm 6 huyện thị chạy dọc bờ biển dài 102 km có diện
tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh,với bờ biển dài 102 km, địa hình tương đối bằng phẳng Chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông Vùng đất cát ven biển có độ cao trung bình 3-6 m, có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến (Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) ; Đây là vùng đất rộng cho nuôi trồng hải sản, công nghiệp và dịch vụ kinh tế biển Với địa hình
đa dạng độ dốc lớn, nên tình trạng bào mòn, rửa trôi khá nghiêm trọng Điều này
có tác động lớn đến khí hậu thủy văn, vừa thuận lợi cho việc phát triển kinh tế toàn diện, nhưng cũng cần phải đặt ra các phương án phòng chống thiên tai xảy
ra khá phức tạp ở từng vùng tiểu khí hậu khác nhau