1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bàn về việc tự học thông qua việc ôn tập chương

40 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Tác giả Nguyễn Văn Phùng
Trường học Trường đại học
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 247 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận Văn: Bàn về việc tự học thông qua việc ôn tập chương

Trang 1

Mở Đầu

Lý do chọn đề tài:

Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin mà ở đó khối lượng trithức của loài người tăng lên với tốc độ cực kỳ nhanh chóng Người ta tính đượcsau 10 năm thì lượng tri thức tăng lên gấp đôi Đứng trước thực tế này, GD nhàtrường đã có những thay đổi căn bản: từ quan niệm học tập chỉ trong một thời giannhất định bằng quan niệm: “học thường xuyên, học liên tục, học suốt đời” Để cóthể học tập suốt đời đạt hiệu quả, đương nhiên mỗi người phải lựa chọn cho mìnhmột cách phù hợp nhất, lấy tự học làm nền tảng

Việt nam đang bước vào giai đoạn CNH – HĐH với mục tiêu đến năm 2020

sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộcCNH – HĐH là con người là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về sốlượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Để làm được điềunày GD Việt Nam đang phải đứng trước một bài toán: phải đổi mới một cách toàndiện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và phương tiện dạy học Về PPDH,nghị quyết TW2 khóa WIII (12/1996) đã chỉ rõ: “phải đổi mới mạnh mẽ phươngpháp GD – ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duysáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phươngtiện hiện đại vào quá trình dạy học (QTDH), đảm bảo điều kiện và thời gian tựhọc, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạocho người học, …”

Nghị quyết TW2 (khoá VIII) của Đảng đã khẳng định: “Cuộc cáchmạng về phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, rèn luyện và phát triểnkhả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập, sángtạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông” Trong luật giáo dụcnăm 2005 tại điều 27 quy định về mục tiêu giáo dục phổ thông phải giúp học sinh

“phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo ”; tại Điều 28 quy định

Trang 2

về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông: “Nội dung giáo dục phổ thôngphải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống;gắn với thực tiễn cuộc sống”, về phương pháp phải “phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,

môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện

kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềmvui, hứng thú học tập cho học sinh’’[15, tr 20- 22]

Một số kết quả điều tra xã hội học và nghiên cứu tâm sinh lý của học sinhgần đây trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy đã có sự thay đổi mạnh mẽtrong quá trình phát triển tâm sinh lý của thanh thiếu niên hiện nay: các em giờđây được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng phong phú từ nhiều mặt củacuộc sống, vì thế có hiểu biết linh hoạt và thực tế hơn so với thế hệ cùng lứa tuổicách đây vài chục năm Trong học tập, các em không thỏa mãn với vai trò củangười tiếp thụ thông tin thụ động, không dừng lại ở việc tiếp nhận các giải phápđược đưa ra Các em mong muốn được thể hiện trong quá trình phù hợp Đó làquá trình lĩnh hội một cách độc lập các tri thức và phát triển kỹ năng Tuy cácphương thức học tập tự lực ở các em nếu muốn được hình thành một cách có chủđịnh thì cần phải có sự hướng dẫn, đặc biệt là ở lứa tuổi nhỏ các em chưa biết tổchức các hoạt động trí tuệ cho mình, chưa nắm được một số thủ pháp tư duy, ghinhớ, tập trung chú ý, … đối với tài liệu học tập

Vì vậy nhiệm vụ của nhà trường phổ thông trong khi tiến hành đổi mớiPPDH là phải theo hướng phát huy tích cực, độc lập sáng tạo của người học; giúpngười học tự tìm tòi, tự khám phá và suy nghĩ trong quá trình học tập Trên cơ sở

đó mà học tập suốt đời

Chương trình SGK hiện nay đã góp phần thực hiện giáo dục toàn diện đức,trí, thể, mĩ bảo đảm tính hệ thống sự liên tục giữa các cấp học, liên thông giữagiáo dục phổ thông với giáo dục chuyên nghiệp… Những hạn chế là: “chưa trựctiếp giúp đỡ giáo viên và học sinh chuyển từ cách dạy học thụ động áp đặt, chủ

Trang 3

yếu là đối phó với thi cử sang cách dạy học tích cực, chủ động để phát triển nănglực sáng tạo và phương pháp tự học của học sinh.

Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài: “Bàn về việc tự học thông qua việc ôn tập

chương” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn được góp phần nhỏ bé vào quá

trình đổi mới PPDH ở trường THPT hiện nay, bằng cách tìm hiểu xây dựng cách

ôn tập chương và một số tiết ôn tập

Trang 4

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

a Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học:

a.1 Vấn đề tự học ở nước ngoài:

Tự học đã được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi GD chưa trởthành một nghành khoa học thực sự Ở thời kỳ đó, người ta đã biết quan tâm đếnviệc làm sao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những giáo huấn củathầy và hành động theo những điều ghi nhớ đó

Montaigne từng khuyên rằng: “tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học,

tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò”.

Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như: J.A Comensky (1592-1670);G.Brousseau (1712-1778); J.H Pestalozzi (1746-1872); A.Disterweg (1790-1866) trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự pháttriển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phảikhuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi

và suy nghĩ trong quá trình học tập

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ củatâm lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều PPDH mới ra đời: “PP lạcquan”,” PP trọng tâm tri thức”, “PP montessori”…Các PPDH này đã khẳng địnhvai trò quyết định của học sinh trong học tập nhưng quá coi trọng “con người cáthể” (individu) nên đã hạ thấp vai trò của người giáo viên đồng thời phức tạp hóaquá trình dạy học Mặt khác, những PP này đòi hỏi các điều kiện rất cao kể cả từphía người học lẫn các điều kiện giảng dạy nên khó có thể triển khai rộng rãiđược

Sau chiến tranh thế giới thứ II, bên cạnh sự tiến bộ rất nhanh của cácnghành khoa học cơ bản, khoa học GD cũng có nhiều tiến bộ đáng kể Một trong

Trang 5

những tiến bộ đó là: sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống (Giáoviên là nơi phát động thông tin, học sinh là nơi tiếp nhận thông qua diễn giảngtrên lớp) và các quan điểm dạy học hiện đại (học sinh là chủ thể tích cực, giáoviên là người tổ chức hướng dẫn).

Các nhà giáo dục học ở Mỹ và Tây Âu ở thời kỳ này đã đều thống nhấtkhẳng định vai trò của người học trong quá trình dạy học, song bên cạnh đó cũngkhẳng định vai trò rất quan trọng của người thầy và các PP, phương tiện dạy học

Khái niệm người học trong giai đoạn này cũng không còn được quanniệm cá thể hóa cực đoan như trước đây, tuy nó vẫn được chú ý Theo J.Dewey: “

học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Tư tưởng

“lấy học sinh làm trung tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ

thể như: “PP hợp tác” (cooperative methods), “PP tích cực” (active methods),

“PP cá thể hóa”, “ PP nêu vấn đề”, … trong đó “PP tích cực” được nghiên cứutriển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi sự chú

ý kích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động Vì thế, người học đóng vai trò trungtâm của quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc học Nhìn chung

tư tưởng “lấy học sinh là trung tâm trong quá trình dạy học nói riêng và GD nóichung đòi hỏi có sự phối hợp của nhiều phương pháp, trong đó “PP tích cực” làchủ đạo mang tính nguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồidưỡng NLTH cho học sinh

Đồng tình với quan điểm trên, các nhà GD Xô Viết đã khẳng định vai tròtiềm năng to lớn của HĐTH trong GD nhà trường Đặc biệt, nhiều tác giả cònnghiên cứu sâu sắc cách thức nhằm nâng cao hiệu quả HĐTH của người học ,trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của họcsinh trong quá trình dạy học

a.2 Vấn đề tự học ở Việt Nam:

Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phongkiến, GD chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những

Trang 6

nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyếtđịnh đều là tự học của bản thân Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tựhọc, nêu cao những tấm gương tự học thành tài Nhưng nhìn chung, lối GD cònrất hạn chế “người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, ngườihọc học thuộc lòng …”[9].

Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền GD Âu Mỹ rất phát triểnnhưng nền GD nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề tự học không được nghiên cứu

và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầnglớp xã hội

Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từkhi nền GD cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người

khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và PPDH Người từng nói: “còn

sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” [14].

Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, về phương pháp học tập.Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh ngiệm sâu sắc rút ra từ chínhtấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyêngiá trị

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tácgiả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, GD học,PPDH bộ môn Một số công trình tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn (Nguyễn Cảnh

Toàn (1995), luận bàn và kinh nghiệm về tự học), Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim,

Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị,…

GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước

ta Từ một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứuông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản,ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ôngcho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện để biến đổi nhân cách

Trang 7

của mình Người dạy giỏi là người dạy cho học sinh biết cách tự học, tự nghiêncứu, tự GD”.

Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã

khẳng định: NLTH của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự

phát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học.

a.3 Nhận xét từ những nghiên cứu về vấn đề tự học:

Tự học có vai trò ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong GD nhà trường mà cảtrong cuộc sống Trong nhà trường bản chất của sự học là tự học, cốt lõi của dạyhọc là dạy việc học, kết quả của người học tỉ lệ thuận với NLTH của người học

Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo điều kiện hình thành

và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đótạo điều kiện và cơ hội học tập suốt đời

Tự học là nhu cầu, một năng lực cần có của mọi người trong thời đạingày nay, do đó mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường không phải trang bị chongười học tri thức mà là PPTH

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tự học Tuy nhiên cáccông trình này hoặc mang tính chất tổng hợp các kết quả nghiên cứu về tự họchoặc nêu định hướng chung Chưa có công trình nào nghiên cứu tỉ mỉ về vấn đềphát triển NLTH thông qua việc tự tổng kết chương học Nhất là đưa ra quy trình

ôn tập cụ thể cho mỗi chương học

b Những cơ sở khoa học của dạy học tự học:

Trang 8

b.2 Cơ sở tâm lý:

Theo các nhà tâm lý học, chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu hoạt động, chỉ

có kết quả cao khi chủ thể ham thích tự giác và tích cực Thực tế cho thấy nếuhọc sinh chỉ học một cách thụ động được nhồi nhét kiến thức, không có thói quensuy nghĩ một cách sâu sắc thì kiến thức nhanh chóng bị lãng quên

“Nhu cầu giáo dục nảy sinh theo từng giai đoạn phát triển của cá nhân Trẻ

em thường bắt chước những gì ở người lớn mà chúng yêu thích, hấp dẫn bởinhững biểu hiện bề ngoài Học sinh trung học có nhu cầu tự giáo dục mạnh mẽ,

đã tự ý thức, khao khát những giá trị mà các em cho là hữu ích với cuộcsống”[13]

b.3 Cơ sở giáo dục học:

Dạy học tự học nằm trong hệ thống giáo dục nó phù hợp với nguyên tắc vềtính tích cực và tự giác Nó khêu gợi hoạt động học tập của học sinh, hướng đíchgây hứng thú cho người học

Những kết quả nghiên cứu của GD cho thấy: sẽ đem lại kết quả GD tốt hơnnếu quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo, quá trình GD đượcbiến thành quá trình tự GD

Tạp chí Mỹ Mathematical reviews năm 1977 đã thống kê rằng hiện nay cóhơn 10 vạn bài nghiên cứu toán học được công bố Nhịp điệu tăng trưởng theohàm số mũ, cứ 10 năm tăng lên gấp đôi Rõ ràng là cần phải học tất cả nhưngkhông thể dạy tất cả Chỉ có biết cách học mới đáp ứng được sự phát triển như vũbão của khoa học kỹ thuật

Nghị quyết TW khóa VIII đã nhấn mạnh: Cần phải phát triển mạnh phongtrào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanhniên Luật GD nước CHXHCN Việt Nam năm 2007 trong chương 1 điều 5 cũng

ghi rõ: “Phương pháp GD phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy

sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [11].

Trang 9

c Quan niệm về tự học:

Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tự học Quan niệm về tự học,

Người cho rằng: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học

tập”[10] Theo Người: “tự động học tập” tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác,

tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ độngvạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó mộtcách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việchọc của mình”

Nguyễn Cảnh Toàn [1] cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”.

Theo Nguyễn Kỳ [2] cho rằng: “Tự học là đặt mình vào tình huống học,

vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra: nhận biết vấn đề xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lý tình huống…”.

Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra

khái niệm về tự học như sau: “Tự học là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các

khả năng trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các công cụ thực hành), cùng các phẩm chất của cá nhân như: động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, không ngại khó, có ý trí, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào

đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình”.

d Một số hình thức tự học:

Trong quá trình tự học ở THPT, học sinh có thể hình thành hoạt động tựhọc dưới nhiều hình thức khác nhau, trong những điều kiện khác nhau

Một là, hoạt động tự học (HĐTH) của học sinh diễn ra nhằm đáp ứng nhu

cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo ở

Trang 10

trường không có sự điều khiển của người giáo viên Người học tự đọc tài liệu, tự

suy nghĩ rút ra kinh nghiệm Đó là tự học ở mức độ cao.

Hai là, HĐTH cũng có thể diễn ra do nhu cầu của giáo viên, nhưng không

có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên Ở đây, học sinh phải tự sắp xếp quỹ thờigian và điều kiện vật chất để có thể tự ôn tập, củng cố tự đào sâu những tri thứchoặc tự hình thành những kỹ năng kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu củagiáo viên hoặc quy định trong chương trình đào tạo của nhà trường VD: Giáoviên giao bài tập lớn về nhà cho học sinh Nhưng đã có hướng dẫn cụ thể Họcsinh làm theo dàn ý giáo viên đã cung cấp

Hình thức này nhấn mạnh và đề cao vai trò quyết định của nội lực – nănglực tự học của người học Theo đó:

LỚP

Trang 11

Trò: Chủ thể, trung tâm, tự tìm ra tri thức bằng hành động của chínhmình, tự tìm ra sản phẩm ban đầu mang tính cá nhân.

Lớp: Cộng đồng lớp học, môi trường xã hội, nơi diễn ra sự hợp tác traođổi, giữa trò – trò, thầy – trò, sản phẩm ban đầu mang tính chất xã hội

Thầy: tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn, trọng tài, cố vấn cho trò tựchiếm lĩnh lấy tri thức với sự hợp tác với bạn

Như vậy, mô hình này hoàn toàn phù hợp với quy luật về sự phát triểncủa sự vật mà cụ thể trong trường hợp này là sự phát triển của bản thân ngườihọc Người học được chủ động chiếm lĩnh kiến thức bằng chính hoạt động củachính mình trong sự hợp tác với bạn, với thầy, đảm bảo cả hai phương diện độclập và giao lưu trong quá trình học tập của trò

Ba là, HĐTH của học sinh diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo

viên Thầy (cô) là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức đạo diễn để trò phát huy nhữngphẩm chất và năng lực của mình như: khả năng chú ý, óc phân tích, năng lực kháiquát hóa,…tự tìm ra tri thức kỹ năng kỹ xảo mà thầy đã định hướng cho hoạtđộng này

e Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển NLTH toán của học sinh

Ò

TRI THỨC

Trang 12

Qua tổng hợp các nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng tôi cho rằng sựhình thành và phát triển NLTH của học sinh THPT chịu ảnh hưởng của các yếu tốsau đây:

e.1 Ảnh hưởng của ý thức học tập và động cơ nhận thức của bản thân học

sinh:

Ý thức học tập và động cơ nhận thức có ý nghĩa quyết định trong quá trìnhhình thành và phát triển NLTH của học sinh Vì xét cho cùng chất lượng học tậpphải là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực của chính bản thân người học Nếu ngườihọc không xác định được vai trò quyết định của mình trong sự thành bại của sựhọc, thì không bao giờ tự học thành công.Chỉ khi đã xác định được mục đích vàđộng cơ học tập đúng đắn Học sinh mới có thể phát huy được “nội lực” trong họctập, từ đó kết hợp các yếu tố “ngoại lực” khác để tổ chức các hoạt động học tậpdiễn ra một cách hợp lý và thu được kết quả cao

e.2 Ảnh hưởng của vốn tri thức hiện có của bản thân học sinh:

Toán học là một khoa học chứng minh, những tri thức sau được xây dựngtrên những cơ sở của kiến thức kết quả có trước Không thể học tập toán có kếtquả nếu không có các tri thức toán học đã có

Để chiếm lĩnh các tri thức khoa học toán học, người học cũng như ngườitrèo thang không qua nấc thang thấp thì không thể tiến lên nấc cao hơn Để tự học

có hiệu quả thì người học phải tự trang bị cho mình vốn kiến thức tối thiểu để tựnghiên cứu vấn đề mình quan tâm

e.3 Ảnh hưởng của năng lực trí tuệ và tư duy:

Năng lực trí tuệ: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt tri

thức khoa học nhanh hay chậm của mỗi học sinh Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn,đôi khi là quyết định đến khả năng học tập nói chung và NLTH nói riêng Nhữngngười có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi có đủ vốn trithức tối thiểu nhiều khi họ có thể độc lập làm việc một mình mà không cần tới sựhướng dẫn của thầy

Trang 13

Phương pháp tư duy: Khả năng vận dụng các thao tác tư duy cũng là một

yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng tự học của học sinh

Ngoài ra, trong quá trình học tập để tiếp thu tri thức, kết quả học tập củahọc sinh tùy thuộc phần lớn vào tính chất và cơ cấu của tư duy tích cực của các

em Tri thức là kết quả của tư duy đồng thời lại là những điều kiện, phương tiệncủa tư duy Vì vậy, tăng cường khả năng tư duy là một yêu cầu để nâng cao chấtlượng học tập và tự học

e.4 Ảnh hưởng của phương pháp dạy học của thầy:

Theo Nguyễn Bá Kim [7], “PPDH là cách thức hoạt động và giao lưu củathầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mụctiêu dạy học” Như vậy, có thể thấy rằng: PPDH của thầy cũng có ảnh hưởng cực

kỳ quan trọng đến sự hình thành và phát triển NLTH của học sinh Cụ thể:

Trong dạy học người giáo viên không chỉ là người nêu rõ mục đích màquan trọng hơn là gợi động cơ học tập cho học sinh Điều này làm cho học sinh ýthức được những mục đích đặt ra và tạo được động lực bên trong giúp học sinhhọc tập tự giác, tích cực chủ động sáng tạo

Thông qua việc dạy học của thầy, học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹxảo, hình thành năng lực và thế giới quan Từ đó mà phương pháp tự học của họcsinh được hình thành kéo theo đó là sự hình thành và phát triển NLTH của họcsinh

Hoạt động kiểm tra đánh giá của thầy ảnh hưởng đến hoạt động tự kiểm trađánh giá của trò Thật vậy, trong quá trình tự tìm ra kiến thức, người học tự tạo ramột sản phẩm ban đầu, có thể chưa chính xác, chưa khoa học Nhưng thông quatrao đổi với bạn bè và kiểm tra kết luận của thầy , người học tự kiểm tra để sửa saihoặc hoàn thiện sản phẩm của mình Nếu quá trình này diễn ra thường xuyên sẽhình thành năng lực tự kiểm tra đánh giá của học sinh, làm cho NLTH ngày càngphát triển

Trang 14

Qua hoạt động dạy học, người thầy còn hướng dẫn học sinh đọc SGK và tàiliệu tham khảo làm cho năng lực tự đọc, tự nghiên cứu của học sinh ngày càngđược hình thành và phát triển Đây cũng là con đường quan trọng để người họctiếp thu tri thức, để người học có thể tự học suốt đời.

e.5 Ảnh hưởng của phương pháp học tập của trò:

Nhà sinh lý học người Pháp Penna từng nói: “phương pháp học tốt giúp ta

phát huy được tài năng vốn có; phương pháp học dở sẽ cản trở tài năng phát triển” Như vậy phương pháp học tập có vai trò rất quan trọng để người đó có thể

thành công trong học tập

Mỗi người có một phương pháp làm việc riêng, thói quen hoạt động trí ócriêng không ai giống ai Theo A.D.LaGarandrie thì mỗi người có thể có nhữngthói quen sau:

 Thói quen gợi lại những cái cụ thể đã gặp trong cuộc sống hàngngày

 Thói quen ghi nhớ máy móc

 Thói quen suy luận logic

 Thói quen tưởng tượng sáng tạo

Trong quá trình dạy học người giáo viên không nên ép buộc học sinh phảisuy nghĩ theo thói quen suy nghĩ của mình Mặt khác cần chú ý bồi dưỡng pháttriển các thói quen chưa có cũng như còn yếu của các em, từ đó cũng ghóp phầnhình thành phương pháp học tập, phương pháp tự học cho các em

e.6 Ảnh hưởng của SGK, tài liệu học tập và các điều kiện khác về cơ sở vật

chất, gia đình và xã hội.

Khi đánh giá vai trò của SGK đối với quá trình tự học của học sinh,

PGS.TS Bùi Văn Nghị nhận xét: “nếu người viết sách đặt mình vào vị trí người

đọc, trình bày một vấn đề có nguồn gốc (từ thực tiễn hoặc từ nội bộ toán học) có hướng đích gợi động cơ, gợi vấn đề, có các hoạt động tương thích với nội dung và

Trang 15

mục đích thì sách viết ra sẽ hấp dẫn người học Giúp người học ngoài việc học các tri thức khoa học, còn học được cách suy nghĩ, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề vừa thu được những tri thức sự việc, vừa thu được những tri thức phương pháp”.

Trong quá trình dạy học, học sinh còn chịu ảnh hưởng của môi trường xungquanh Đó là các yếu tố về điều kiện dạy học, điều kiện văn hóa xã hội… các yếu

tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn, vì nó tác động không những đến người học, mà

cả người dạy học

e.7 Ảnh hưởng của yếu tố tâm sinh lý:

Ở lứa tuổi THPT (từ 14 – 15 đến 17 – 18 tuổi), “các em không chỉ nhậnthức về cái tôi của mình trong hiện tại như thiếu niên, mà còn nhận thức về vị trícủa mình trong xã hội, trong tương lai (tôi cần trở thành người như thế nào, cầnlàm gì để tốt hơn,…)” [12 tr.67] Các em luôn muốn thể hiện mình với các bạnvới thầy Luôn muốn biểu hiện mình là người lớn Từ đó, các em có hứng thútrong học tập nhất là trong việc tự học

Tóm lại, sự hình thành và phát triển NLTH của học sinh phổ thông là một

vấn đề chịu sự chi phối và ảnh hưởng của nhiều yếu tố, có tác động qua lại lẫn nhau Quá trình này trước hết quyết định bởi chính bản thân học sinh với tư cách

là chủ thể của hoạt động học tập và tự học.

toán.

f.1 Kỹ năng nghe giảng và ghi chép bài giảng hợp lý:

Nghe giảng và ghi chép là ngững kỹ năng quan trọng của học sinh trongquá trình học tập nói chung và nhất là trong học toán nói riêng Kết quả của việcnghe giảng và ghi chép ngoài việc thể hiện năng lực nhận thức, tư duy của ngườihọc còn thể hiện ở kỹ năng tự học của người đó Để rèn luyện kỹ năng nghe giảng

và ghi chép hợp lí cho học sinh Người giáo viên cần hướng dẫn học sinh:

 Cách kết hợp giữa việc vừa nghe giảng vừa nghi chép

Trang 16

 Nghe giảng với thái độ độc lập và có phê phán; ghi chép hoặc thắcmắc những chỗ còn hoài nghi hoặc chưa hiểu để hỏi bạn và thầy.

 Nghe giảng đồng thời phải tư duy tích cực, khẩn trương: Liên hệnhững kiến thức đang nghe với kiến thức đã học để tìm ra mối liênhệ

 Ghi chép bài giảng theo ý hiểu của mình, có thể dùng các ký hiệutoán học hoặc chữ viết tắt để tiết kiệm thời gian ghi chép dành thờigian cho việc nghe giảng

f.2 Kỹ năng đặt câu hỏi trong tự học toán:

Trong học tập thì hỏi là thao tác thường xuyên diễn ra Khi dạy học, giáoviên phải giúp học sinh biết cách tự hình thành câu hỏi trong óc, yêu cầu học sinhphải tự mình suy nghĩ, động não để tự tìm câu trả lời cho câu hỏi đó Trong quátrình suy nghĩ để tìm câu trả lời, có thể vấn đề cần hỏi đó được giải quyết ngay,nhưng cũng có thể chưa giải quyết ngay được, lúc này học sinh cần tiếp tục suynghĩ, đến khi bản thân cảm thấy không trả lời được thì hỏi bạn hỏi thầy Trong lúcnghe thầy hoặc bạn trình bày, người học vẫn phải giữ vai trò chủ thể tích cực, chủđộng để có thể tìm ra cho mình câu trả lời thỏa đáng nhất

f.3 Kỹ năng ghi nhớ các tri thức toán học:

Ghi nhớ là thành phần cơ bản và quan trọng trong quá trình học tập nóichung và học toán nói riêng Vì nếu không có ghi nhớ thì người học cũng chẳngthể tư duy Để hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ các tri thức toán học giáo viêncần:

 Làm cho học sinh biết toán học là khoa học đặc trưng bởi tính logicchặt chẽ và tính trừu tượng cao độ Vì vậy, để có thể ghi nhớ tốt thì điều trước hếtphải hiểu Nếu ghi nhớ mà không hiểu thì ghi nhớ đó sẽ không bền vững Thậmchí có bền vững thì cũng chỉ là những tri thức “khô cứng” khó vận dụng được

 Hướng dẫn học sinh biết cách ghi nhớ bằng cách hệ thống hóa, kháiquát hóa những tri thức cũ Tìm cách so sánh, xem xét tương tự kiến thức mới với

Trang 17

kiến thức đã học Thường xuyên ôn tập củng cố cũng như lập các sơ đồ khái niệm,định lý, dạng toán… theo cách hiểu của riêng mình.

f.4 Kỹ năng làm việc với sách:

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh một số quy trình đơn giản về kỹ năngđọc sách: bắt đầu từ việc làm quen với tên tác giả cuốn sách, tên sách, sau đó đọcmục lục, đọc lời nói đầu, đọc lướt qua cuốn sách, rồi đọc kỹ, tóm tắt nội dung, ghilại những điều lý thú, nêu câu hỏi và đề xuất những ý mới trong quá trình đọc,…

Cần giáo dục lòng tôn trọng của học sinh đối với sách, nhất là SGK vì đây

là nguồn thông tin tập trung và có chọn lọc các giá trị cơ bản và quan trọng củakinh nghiệm lịch sử loài người

Khi đọc sách cần rút ra được những tư tưởng chính của mỗi đoạn, so sánh,phân loại, hệ thống hóa,… đề xuất cái mới và nêu câu hỏi Điều này rất quan trọng

vì sự sáng tạo thường nảy sinh trong quá trình đọc sách Cần GD học sinh tái hiện

và cảm thụ

f.5 Kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá:

Để rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra đánh giá cho học sinh, giáo viên cần bồidưỡng cho các em:

 Khả năng đối chiếu kết luận của thầy và các ý kiến của các bạn vớikết quả của bản thân để tự điều chỉnh sửa chữa hoặc hoàn thiện kếtquả của mình đã tìm được

 Khả năng đánh giá cách giải quyết vấn đề của thầy, cuả bạn và củamình từ đó chọn được cách giải quyết tốt nhất

 Khả năng tự rút kinh nghiệm về phương pháp học tập của mình, từ đóluôn luôn tự điều chỉnh, hoàn thiện để ngày càng tiến bộ

 Khả năng phát hiện ra những chỗ thiếu hụt về kiến thức, những sailầm trong nhận thức,… để từ đó tìm cách bổ sung, khắc phục

f.6 Kỹ năng tổ chức các hoạt động tự học:

Trang 18

Kỹ năng này bao gồm: lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, theo dõi, giám sát,đánh giá và điều chỉnh việc tự học.

Đánh giá thường xuyên của giáo viên và bản thân học sinh về quá trình tựhọc và hoàn thành kế hoạch tự học là phương tiện mạnh mẽ, để kích thích, nângcao quá trình tự học của người học Từ sự đánh giá này, học sinh rút ra đượcnhững bài học kinh nghiệm cho mình, dẫn tới sự điều chỉnh để lần sau thực hiện

kế hoạch tự học tốt hơn

f.7 Kỹ năng giao tiếp với thầy với bạn trong quá trình tự học:

Trong nhà trường làm việc theo nhóm là cách tiếp cận được sử dụng rộngrãi, trong đó các thành viên kết hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ của mình vớinhững phương pháp ý tưởng khác nhau Qua hoạt động nhóm, học sinh rèn luyệnđược sự tập trung chú ý Học được cách đặt câu hỏi, học được kỹ năng giao tiếpvới thầy với bạn,…Để có thể giao tiếp với bạn với thấy được hiệu quả giáo viêncần hướng dẫn học sinh:

Trang 19

 Tham gia tích cực các hoạt động nhóm do thầy tổ chức Cần tham giacác hoạt động một cách bình đẳng, tự chủ và sáng tạo Tuyệt đối không

lệ thuộc, ỷ lại vào suy nghĩ và kế t quả làm việc của bạn

 Tự giải quyết các vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy và tham gia củabạn Biết đưa các câu hỏi, thắc mắc của mình với thầy và bạn một cáchhợp lý để được giải đáp một cách thỏa đáng

g Các hoạt động tự học

Hoạt động làm mẫu:

Người thầy hướng dẫn tại lớp cách học, cách ghi chép một bài, một vấn đềtrong sách giáo khoa có thể làm mẫu về cách tìm phương pháp giải bài toán, khaithác bài toán… Hoạt động rèn luyện kỹ năng dạy học cho học sinh như đào sâusuy nghĩ bài toán, khai thác bài toán, tự tổng kết, biến ghi chép, kỹ năng tư duyphê phán

Hoạt động giao lưu giữa thầy và trò, giữa trò và trò để hiểu rõ ý từ trong

từng câu chữ, từng đoạn trong sách giáo khoa, trong tài liệu tham khảo

Giáo viên cần đặt ra các câu hỏi (sau khi cho học sinh tự đọc một vấn đề) đểđánh giá được nhận thức của học sinh

h Phương pháp dạy học hợp tác

h.1 Cơ sở lý luận

Phương pháp dạy học này xuất phát từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

“Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong những mối liên hệ, tác động qua lại lẫnnhau” Từ mối liên hệ đó, trong xã hội thể hiện là mối liên hệ giữa cá nhân và tậpthể: Cá nhân tồn tại trong tập thể với tư cách là một tế bào, cá nhân biểu hiện bảnsức của mình qua hoạt động tập thể, nhưng không hoà tan vào tập thể; cá nhânkhông tồn tại một cách đích thực nếu không gắn với một tập thể nhất định

Phương pháp dạy học hợp tác là một phương pháp dạy học tích cực,hỗ trợcho các phương pháp dạy học tích cực khác.một cách tích cực, sự tương tác trực

Trang 20

tiếp tác động đến sự thành công của nhau, thể hiện rõ được trách nhiệm của cánhân trong nhóm, phát triển kỹ năng giao iếp, phải được rút kinh nghiệm qua hợptác nhóm

h.2 Khái niệm

Phương pháp dạy học hợp tác là phương pháp dạy học ở đó học sinh đượchọc tập trong một nhóm, có sự cộng tác của các thành viên trong nhóm một cáchtrực tiếp và tích cực nhằm lĩnh hội kiến thức, đạt mục đích chung của nhóm

Dạy học hợp tác bao gồm 5 thành tố cơ bản: Sự phụ thuộc lẫn nhau mộtcách tích cực, sự tương tác trực tiếp tác động đến sự thành công của nhau, thểhiện rõ được trách nhiệm của cá nhân trong nhóm, phát triển kỹ năng giao tiếp,phải được rút kinh nghiệm qua hợp tác nhóm

Quá trình dạy học hợp tác sẽ đạt được hiệu quả khi đáp ứng được các điềukiện:

 Mục đích học tập phải được xác định rõ ràng

 Các thành viên trong nhóm phải trực tiếp và tích cực có trách nhiệm cao

 Có sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực giữa các thành viên

 Hình thành được động cơ hợp tác

 Sự phân nhóm hợp lý, sự phân trách nhiệm hợp lý

h.3 Những hình thức tổ chức dạy học hợp tác

 Thi kiến thức theo đội

 Thi trò chơi theo các đội

 Học ghép trong nhóm: Mỗi cá nhân trong nhóm nghiên cứu một phầnnhiệm vụ, sau đó hợp tác lại để đưa ra kiến thức chung

 Kiến thức theo nhóm: Các cá nhân trong nhóm tự kiểm tra kiến thức củanhau

Ngày đăng: 25/12/2012, 11:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức này nhấn mạnh và đề cao vai trò quyết định của nội lực – năng  lực tự học của người học - Bàn về việc tự học thông qua việc ôn tập chương
Hình th ức này nhấn mạnh và đề cao vai trò quyết định của nội lực – năng lực tự học của người học (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w