1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam

84 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận Thị trường Ngoại hối Việt Nam
Tác giả Nguyễn Song An, Dương Thanh Hoài, Vũ Thị Lan Hương, Nguyễn Anh Khoa, Huỳnh Thị Trúc Ly, Huỳnh Thị Ngân, Nguyễn Thị Như Ngọc, Phan Hữu Hoàng Sơn, Võ Hoang Tiến, Mai Văn Trúc
Người hướng dẫn Th.s Lê Thị Khánh Phương
Trường học Đại học Công nghiệp TP.HCM
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2012-2013
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam

Trang 1

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM LÀM TIỂU LUẬN:

1 Nguyễn Song An 11182701

2 Dương Thanh Hoài 11037801

3 Vũ Thị Lan Hương 11245531

4 Nguyễn Anh Khoa 11068241

5 Huỳnh Thị Trúc Ly 11242851

6 Huỳnh Thị Ngân 11232761

7 Nguyễn Thị Như Ngọc 11243101

8 Phan Hữu Hoàng Sơn 11054431

9 Võ Hoang Tiến 11215251

10 Mai Văn Trúc (Nhóm trưởng) 11244991

LỜI CAM ĐOAN Nhóm chúng em xin cam đoan Tiểu luận này là công trình nghiên cứu của riêng chúng em, không sao chép của bất cứ ai

Nhóm trưởng: Mai Văn Trúc LỜI CẢM ƠN

Nhóm thực hiện đề tài xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Th.s Lê Thị Khánh Phương Tuy nhóm đã hết sức cố gắng nhưng vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong cô bỏ qua cho chúng em

Trang 2

MỤC LỤC:

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VIỆT NAM VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 5

1.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối Việt Nam: 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thị trường ngoại hối: 5

1.1.2 Các đối tượng tham gia vào thị trường hối đoái: 7

1.1.3 Phân loại thị trường hối đoái: 8

1.2 Tổng quan về tỷ giá hối đoái: 10

1.2.1 Khái niệm và vai trò của tỷ giá hối đoái: 10

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hoái đoái: 14

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VN GIAI ĐOẠN 2008-2012 18

2.1 Tình hình hoạt động của thị trường hối đoái VN từ năm 2008 đến năm 2012: 18

2.1.1 Sự biến động của tỷ giá hối đoái từ năm 2008 đến 2012: 18

2.1.2 Hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam GĐ 2008 -2012: 29

2.2 Tác động của biến động tỷ giá: 45

2.2.1 Tác động tích cực: 45

2.2.2 Tác động tiêu cực: 47

2.2.3 Hoạt động xuất nhập khẩu năm 2010-2012: 49

2.3 Những hạn chế của thị trường hối đoái VN giai đoạn 2008-2012: 54

Trang 3

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ

TRƯỜNG NGOẠI HỐI NHỮNG NĂM TIẾP THEO 58

3.1 Xu hướng phát triển của thị trường hối đoái Việt Nam: 58

3.2 Định hướng giải pháp để thị trường hối đoái Việt Nam phát triển: 60

3.2.1 Định hướng cho cơ chế quản lý ngoại hối: 60

3.2.2 Nâng cao năng lực của các thành viên tham gia thị trường ngoại hối : 60

3.2.3 Phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng: 62

3.2.4 Phát triển thị trường giao dịch bán lẻ thông qua quản lý thích hợp tài khoản tiền gửi ngoại tệ: 63

3.2.5 Hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái: 65

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường ngoại hối: 69

3.3.1 Cải cách thị trường ngoại hối chính thức để xoá bỏ chợ đen: 69

3.3.2 Mở rộng đối tượng tham gia đầu tư và môi giới: 71

3.3.3 Tách hoạt động sử dụng ngoại tệ khỏi đầu tư: 72

3.3.4 Một vài đề xuất của nhóm: 76

KẾT LUẬN 78

PHỤ LỤC: 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, từ nǎm 1990, công cuộc Đổi Mới ở Việt Nam được đẩy mạnh hơn với chủ trương là phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; công cuộc đổi mới cũng được tiến hành đồng thời với việc phát triển kinh tế đối ngoại, mở cửa, hợp tác và hội nhập, phù hợp với xu hướng quốc

tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng mạnh mẽ

Là một phần của thị trường tiền tệ, với vai trò như là chiếc cầu nối giữa nền kinh tế nội địa và nền kinh tế thế giới bên ngoài, trong những năm qua, thị trường ngoại hối Việt Nam đã có những đóng góp không nhỏ đối với sự ổn định

và phát triển của thị trường tiền tệ nói riêng cũng như đối với sự tăng tưởng của nền kinh tế nói chung

Tuy nhiên, gần đây, bên cạnh những những chuyển biến tích cực như luân chuyển ngoại tệ của nền kinh tế được cải thiện, số lượng kiều hối tăng ấn tượng trong những tháng cuối năm, thị trường ngoại hối Việt Nam cũng đã xảy ra nhiều biến động đáng kể như tình trạng đô la hóa, sự hoạt động tràn lan của thị trường chợ đen đã gây ảnh hưởng không nhỏ lên nhiều khía cạnh của nền kinh

tế Vì vậy, tìm hiểu và nghiên cứu về thực trạng của thị trường ngoại hối Việt Nam hiện nay đã và đang là vấn đề cấp thiết không chỉ đối với các nhà kinh tế, các nhà đầu tư ngoại hối mà còn đối với cả Chính phủ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế một cách tốt hơn

Bài tiểu luận với đề tài “giải pháp phát triển thị trường ngoại hối Việt

Nam” sẽ nêu ra một số thông tin về thực trạng hoạt động của thị trường ngoại

hối Việt Nam hiện nay cũng như đề xuất một số giải pháp để giải quyết những khó khăn còn tồn tại

Thông tin sử dụng trong bài tiểu luận được giới hạn ở phạm vi trong nước, khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2012

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

VIỆT NAM VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1.1 Tổng quan về thị trường ngoại hối Việt Nam:

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thị trường ngoại hối:

1.1.1.1 Khái niệm:

- Hối đoái (exchange) là sự chuyển đổi từ một đồng tiền này sang đồng

tiền khác

- Thị trường ngoại hối là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại tiền

tệ của nhiều quốc gia và các phương tiện thanh toán có giá trị như ngoại tệ trên thế giới

- Thị trường ngoại hối có tên tiếng Anh là The Foreign Exchange Market,

và được viết tắt là FOREX hay FX

1.1.1.2 Đặc điểm:

- Thị trường ngoại hối không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lý hữu hình nhất định mà là bất cứ nơi đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau Do đó nó còn được gọi là thị trường không gian

- Là thị trường toàn cầu, hoạt động 24/24h Do có sự chênh lệch múi giờ giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm, còn được gọi là thị trường không ngủ

- Trung tâm là thị trường liên ngân hàng - Interbank với các thành viên chủ yếu là các ngân hàng thương mại, các nhà môi giới ngoại hối và các ngân hàng trung ương Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm tới 85% tổng doanh

số giao dịch toàn cầu

- Giao dịch thông qua các phương tiện hiện đại như điện thoại, mạng vi tính, telex, fax…

Trang 6

- Chi phí giao dịch thấp, hoạt động rất hiệu quả Do thị trường có tính toàn cầu, thông tin cân xứng, khối lượng giao dịch cực lớn, công nghệ hoàn hảo, hàng hóa đồng chất….dẫn đến chi phí thấp và hoạt động của thị trường trở nên hiệu quả

- Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất là đồng USD, chiếm tới 41,5% trong tổng số đồng tiền tham gia, kế đến là EURO và Yên Nhật đứng vị trí thứ 3

- Nhạy cảm đối với các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội…nhất là chính sách tiền tệ của các nước đang phát triển

1.1.1.3 Vai trò:

Việc phát triển thị trường hối đoái là cần thiết bởi vì thị trường hối đoái giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:

Thư nhất, xác lập giá cả: thông qua thị trường hối đoái giá cả hình thành

một cách hợp lý do có sự cọ xát của cung cầu ngoại tệ trên thị trường nhằm đạt được giao dịch lớn nhất

Thứ hai, nhận biết các đối tượng tham gia: thị trường hối đoái sẽ cho

biết ai là người mua, người nào đang có nhu cầu và mục đích sử dụng ngoại tệ

đó để làm gì? Bên cạnh đó cũng cho biết ai là người bán, ai là người có ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi

Thứ ba, nhận biết mức độ giao dịch đối với từng loại ngoại tệ: thị trường

cũng cho biết số lượng ngoại tệ mua bán là bao nhiêu, kể cả tỷ trọng của từng loại ngoại tệ được giao dịch trên thị trường

Thư tư, giảm thiểu chi phí giao dịch: thị trường hối đoái giúp người

mua, người bán gặp nhau khi cần thiết, nên rút ngắn được thời gian thanh toán

và tiết kiệm chi phí cho xã hội

Thứ năm, gia tăng hiệu quả cho các công cụ kiểm soát của Chính phủ:

thông qua thị trường hối đoái, Chính phủ có thể kiểm soát và can thiệp vào thị trường bằng việc tác động vào cung hay cầu ngoại tệ để điều chrnh tỷ giá nhằm thực hiện chính sách kinh tế quốc dân

Trang 7

 Tuy nhiên, thị trường hối đoái vẫn gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế như: khủng hoảng tài chính tiền tệ, khủng hoảng kinh tế

1.1.2 Các đối tượng tham gia vào thị trường hối đoái:

Các thành phần tham gia thị trường hối đoái tùy theo pháp luật của mỗi nước quy định Thông thường thị trường hối đoái bao gồm các thành phần sau:

- Ngân hàng Trung ương - Ngân hàng trung ương tham gia vào thị

trường hối đoái với tư cách là cơ quan Nhà nước giám sát thị trường nhằm điều khiển thị trường trong khuôn khổ pháp luật quy định, tức là kiểm soát thị trường, theo dõi sự biến động tỷ giá, khi cần thiết ngân hàng trung ương sẽ can thiệp vào thị trường bằng các nghiệp vụ của mình để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo hướng

có lợi cho nền kinh tế

- Các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đầu tư - Tạo khả năng

thanh toán cho thị trường Ngoại hối nhờ khối lượng giao dịch mà họ xử lý mỗi ngày Một số các giao dịch này đại diện cho sự hoán đổi ngoại tệ theo nhu cầu của khách hàng trong khi một số khác được thực hiện bởi bộ phận giao dịch kinh doanh của ngân hàng vì mục đích đầu cơ

- Các tổ chức tài chính phi ngân hàng:

+ Các Tổ chức Tài chính - Các tổ chức tài chính như các nhà quản lý

tiền tệ, các quỹ đầu tư, quỹ lương hưu và các công ty môi giới kinh doanh ngoại

tệ như một phần nghĩa vụ của họ để tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho khách hàng của mình Ví dụ, một nhà quản lý của ngành kinh doanh vốn quốc tế sẽ phải tham gia kinh doanh tiền tệ để mua và bán cổ phiếu nước ngoài

+ Quỹ Tín thác - Quỹ tín thác là các quỹ đầu tư tư nhân đầu cơ nhiều

loại tài sản khác nhau và sử dụng đòn bẩy tài chính Các Quỹ Tín thác vĩ mô theo đuổi những cơ hội kinh doanh trong Thị trường Ngoại hối Họ tạo và thực hiện các giao dịch sau khi đã có phân tích về mặt kinh tế vĩ mô và xem xét những trở ngại ảnh hưởng lên một quốc gia và đơn vị tiền tệ của quốc gia đó Do khối lượng thanh khoản lớn và các chiến lược táo bạo của mình, họ là một bên đóng góp chủ yếu vào sự năng động của Thị trường Ngoại hối

Trang 8

- Các tập đoàn, doanh nghiệp - Họ đại diện cho các công ty liên quan

đến các hoạt động nhập/xuất khẩu với đối tác nước ngoài Ngành kinh doanh chính của họ đòi hỏi họ phải mua và bán ngoại tệ để đổi lấy hàng hóa, điều này khiến họ phải chịu rủi ro tiền tệ Thông qua thị trường Ngoại hối, họ chuyển đổi tiền tệ và bảo vệ chính họ khỏi những biến động trong tương lai

- Các nhà môi giới: Người môi giới là người được pháp luật quy định

kinh doanh hợp pháp thực hiện vai trò trung gian trong giao dịch hối đoái giữa các đối tượg tham gia trên thị trường với nhau, bản thân ngân hàng cũng là nhà môi giới Các nhà môi giới tạo điều kiện cho cung cầu tiếp cận nhau, đóng góp tích cực cho hoạt động thị trường như cung cấp thông tin thị trường, khả năng tìm bạn hàng nhanh chóng, đảm bảo sự vận hành tốt của cơ chế thị trường thông qua liên lạc màn hình giữa người mua, người bán cho đến khi thỏa thuận được giao dịch

- Các cá nhân - Nhà đầu tư kinh doanh Ngoại hối bằng vốn của riêng họ

để có được lợi nhuận từ việc đầu cơ vào tỉ giá hối đoái trong tương lai hoặc những các nhân có nhu cầu sử dụng ngoại hội như nhu cầu du lịch, du học…

Họ chủ yếu hoạt động thông qua các platform Ngoại hối nào cho tỉ lệ chênh lệch

ít, thực hiện nhanh chóng và các tài khoản ký quỹ có đòn bẩy tài chính cao

1.1.3 Phân loại thị trường hối đoái:

 Phân loại theo thành phần tham gia:

- Thị trường liên ngân hàng - dành cho các giao dịch Ngoại hối xảy ra giữa các ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính

- Thị trường bán lẻ - dành cho các giao dịch được thực hiện bởi những

nhà đầu cơ và nhà đầu tư nhỏ hơn Các giao dịch này được thực hiện thông qua những nhà môi giới ngoại hối hoạt động như một bên trung gian giữa thị trường

bán lẻ và thị trường liên ngân hàng Thành phần tham gia thị trường bán lẻ là

các quỹ tín thác, các tập đoàn và các cá nhân

 Phân loại theo nghiệp vụ :

Trang 9

- Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay (Spot Operations): Là nghiệp

vụ mua hay bán ngoại tệ mà việc chuyển giao được thực hiện ngay lập tức hay là chậm nhất là sau 2 ngày kể từ khi thỏa thuận hợp đồng mua bán

- Nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch tỷ giá (Arbitrage Operations): Là

nghiệp vụ dựa vào mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối để thu lợi nhuận thông qua hoạt động mua bán

- Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối có kỳ hạn (Forward Operations): Là

nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận sẽ được thực hiện sau một thời gian nhất định theo tỷ giá thỏa thuận lúc ký kết hợp đồng

- Nghiệp vụ hoán đổi (Swap Operations): Là nghiệp vụ ngoại hối phối

hợp giữa hai nghiệp vụ giao dịch ngoại hối giao ngay và giao dịch ngoại hối có

kỳ hạn để kiếm lợi nhuận

- Nghiệp vụ ngoại hối giao sau (Futures Operations): Là nghiệp vụ tiến

hành một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực,việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai

- Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối quyền chọn (Option Operation):

+ Là nghiệp vụ thực hiện trên cơ sở hợp đồng quyền chọn mua hay quyền chọn bán

+ Quyền chọn mua : cho phép người mua có quyền nhưng không bắt buộc mua một số lượng ngoại tệ nhất định

+ Quyền chọn bán : cho phép người bán có quyền nhưng không bắt buộc bán một số lượng ngoại tệ nhất định

+ Người mua quyền chọn có thể bán hoặc hủy hợp đồng nếu thấy không

có lợi Nhưng người bán quyền chọn phải thực hiện hợp đồng nếu như người mua yêu cầu

 Theo tính chất giao dịch:

- Thị trường giao ngay

- Thị trường kỳ hạn

Trang 10

 Theo tính chất pháp lý:

- Thị trường chính thức

- Thị trường phi chính thức

 Theo phạm vi thị trường:

- Thị trường ngoại hối quốc tế

- Thị trường ngoại hối nội địa

 Theo phương thức giao dịch:

- Thị trường giao dịch trực tiếp

- Thị trường giao dịch qua môi giới

1.2 Tổng quan về tỷ giá hối đoái:

1.2.1 Khái niệm và vai trò của tỷ giá hối đoái:

1.2.1.1 Khái niệm:

1.2.1.1.1 Sự hình thành tỷ giá hối đoái:

Trong quan hệ kinh tế quốc tế, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà còn được mở rộng ra với phần còn lại của thế giới Các quan hệ này thể hiện là quá trình luân chuyển hàng hóa, vốn trên phạm vi toàn thế giới Quá trình này làm xuất hiện các nhu cầu về ngoại tệ

để thanh toán các hợp đồng ngoại thương và đầu tư quốc tế Vì vậy, mỗi quốc gia phải xác định tỷ lệ trao đổi giữa đơn vị tiền tệ của nước mình (đồng nội tệ) với đơn vị tiền tệ của nước khác (đồng ngoại tệ) thường là các loại ngoại tệ mạnh như EUR, USD, GBP, JPY… từ đó xuất hiện phạm trù “Tỷ giá hối đoái”

1.2.1.1.2 Phân biệt ngoại tệ và ngoại hối:

Khái niệm ngoại tệ và ngoại hối thường được sử dụng để chỉ nhũng đồng tiền của quốc gia được lưu thông trên thị trường quốc tế Tuy nhiên ngoại tệ và ngoại hối là hai phạm trù khác nhau

- Ngoại tệ: Là đồng tiền của các quốc gia được lưu thông trên thị trường

quốc tế Ngoại tệ được thể hiện dưới hình thức tiền mặt hay các số dư trên tài khoàn tiền gửi ngoại tệ tại ngân hàng Hiện nay hầu hết các nước đều có xu hướng sủ dụng ngoại tệ mạnh trong thanh toán và đầu tư quốc tế

Trang 11

- Ngoại hối: là phạm trù rộng hơn so với ngoại tệ Ngoại hối bao gồm

ngoại tệ, kim khí quý, đá quý và các phương tiện có giá trị như ngoại tệ được sử dụng trong thanh toán giữa các nước với nhau

1.2.1.1.3 Khái niệm tỷ giá hối đoái:

Tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền với nhau Hoặc ta có thể nói tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác

1.2.1.1.4 Phân loại tỷ giá hối đoái:

Có nhiều loại tỷ giá khác nhau được sử dụng trên thị trường hối đoái, tùy thuộc vào tiêu thức phân loại khác nhau

- Căn cứ vào đối tượng xác định:

+ Tỷ giá chính thức: là một loại tỷ giá do Ngân hàng Trung ương nước

đó xác định và công bố

+ Tỷ giá thị trường: là tỷ giá hình thành do quan hệ cung cầu trên thị trường hối đoái

- Căn cứ vào thời hạn giao dịch:

+ Tỷ giá giao ngay (Spot): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ngoại hối sẽ được thực hiện chậm nhất sau hai ngày làm việc

+ Tỷ giá giao dịch kỳ hạn (Forward): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao nhận ssẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp đồng

- Căn cứ vào cơ chế quản lý ngoại hối:

+ Tỷ giá thả nổi: là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường và nhà nước không can thiệp vào sự hình thành và quản lý tỷ giá này

+ Tỷ giá cố định: là tỷ giá không biến động trong phạm vi thời gian nào

đó

+ Tỷ giá thả nổi có quản lý: là tỷ giá hình thành qua nhu cầu của thị trường, tuy nhiên nhà nước vẫn có những can thiệp kịp thời để ổn định tỷ giá

- Căn cứ vào thời điểm giao dịch:

+ Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá được công bố vào đầu giờ của ngày giao dịch

Trang 12

+ Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá được công bố vào cuối giờ của ngày giao dịch

- Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ:

+ Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào

+ Tỷ giá bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra

1.2.1.1.5 Cách xác định tỷ giá hối đoái:

- Tỷ giá hối đoái được xác định dự trên quan hệ cung cầu của một đồng tiền Để xác định được tỷ giá hối đoái, trước hết phải xác định đường cung và đường cầu của đồng tiền đó, với môci mức tỷ giá hối đoái ta sẽ xác định được lượng cung cầu tương ứng Tại mức tỷ giá làm cho cung khớp cầu thì được gọi

là tỷ giá cân bằng Tuy nhiên tỷ giá cân bằng không phải là một đại lượng bất biến theo thời gian mà nó có thể biến động thường xuyên khi cung cầu thay đổi

- Ngoài ra trong nhiều trường hợp ta có thể gián tiếp xác định tỷ giá hối đoái dự trên 2 tỷ giá đã biết của 2 cặp tiền tệ để xá định tỷ giá của một cặp tiền

tệ thứ ba Xác định tỷ giá theo cách này được gọp là phương pháp tính giá chéo

- Quy tắc xác định tỷ giá theo phương pháp tính giá chéo được phát biểu như sau: “Muốn xác dịnh tỷ giá hối đoái của đồng tiền A so với đồng tiền B theo phương pháp tính giá chéo ta lấy tỷ giá của đồng tiền A so với đồng tiền C nhân với tỷ giá của đồng tiền C so với đồng tiền B.”

 Ví dụ: Cho tỷ giá: USD/CHF = 1,32 và USD/JPY = 110 Ta có thể xác

định được tỷ giá CHF/JPY

Thứ nhất, đối với cán cân thương mại, tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại

tệ là quan trọng đối với mỗi quốc gia vì trước tiên nó tác động trực tiếp tới giá

Trang 13

cả hàng hoá xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó Khi đồng tiền của một quốc gia tăng giá (Tăng trị giá so với đồng tiền khác) thì hàng hoá nước đó ở nước ngoài trở thành đắt hơn và hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên rẻ hơn Ngược lại khi đồng tiền một nước sụt giá, hàng hoá của nước đó tại nước ngoài trở nên rẻ hởn trong khi hàng hoá nước ngoài tại nước đó trở nên đắt hơn (các yếu tố khác không đổi) Tỷ giá tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế, gây ra thâm hụt hoặc thặng dư cán cân

Thứ hai, đối với sản lượng, thất nghiệp, lạm phát, tỷ giá hối đoái không

chỉ quan trọng là vì tác động đến cán cân thương mại, mà thông qua đó tỷ giá sẽ

có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát, khả năng sản xuất, công ăn việc làm hay thất nghiệp…

Với mức tỷ giá hối đoái 1USD =10500VND của năm 1994 thấp hơn rất nhiều mức 1USD = 20828VND của năm 2012, tức tiền Việt Nam sụt giá và nếu giả định mặt bằng giá thế giới không đổi, thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu tính thành tiền Việt Nam tăng giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự và trong đó có cả nguyên vật liệu ,máy móc cho sản xuất Nếu các yếu tố khác trong nền kinh tế là không đổi, thì điều này tất yếu sẽ làm mặt bằng giá cả trong nước tăng lên Nếu tỷ giá hối đoái tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm (đồng nội tệ Việt Nam liên tục mất giá) có nghĩa lạm phát đã tăng Nhưng bên cạnh đó, đối với lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước, thì sự tăng giá của hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này, giúp phát triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên Ngược lại, nếu các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ giảm, khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực trong nước cũng có xu hướng giảm, sản lượng quốc gia

có thể giảm, thất nghiệp của nền kinh tế có thể tăng lên … nếu tỷ giá hối đoái giảm xuống (USD giảm giá hay VND tăng giá)

Ngoài ra, đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong

chính sách tiền tệ, nó là mục tiêu của chính sách tiền tệ mà mọi quốc gia đều

Trang 14

hướng tới Đồng tiền ổn định và tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc duy trì, mở rộng và phát triển các mối quan hệ kinh tế trong nước và quốc tế, giúp cho nền kinh tế trong nước có điều kiện hội nhập khu vực và thế giới ngày càng mạnh mẽ hơn.

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hoái đoái:

1.2.2.1 Quan hệ cung cầu:

Cung ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn bán ra để thu về nội

tệ Cầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn mua vào bằng các đồng

Ở vị trí cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ xác định trạng thái cân bằng, khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần bán ra nhiều hơn lượng ngoại tệ cần mua vào, khi đó có một số người không bán được

sẽ sẵn sàng bán với mức giá thấp hơn và làm cho giá ngoại tệ trên thị trường giảm Tư duy tương tự, khi cầu lớn hơn cung, một số người không mua được ngoại tệ sẵn sàng trả giá cao hơn và gây sức ép làm giá ngoại tệ trên thị trường tăng Khi cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần mua đúng bằng lượng ngoại tệ cần bán làm cho giá ngoại tệ không đổi, thị trường cân bằng Chúng ta có thể thấy, tỷ giá hối đoái trên thị trường luôn thay đổi

1.2.2.2 Cán cân thanh toán quốc tế:

Cán cân thương mại của một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch

vụ sẽ thu được ngoại tệ Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong nước xuất khẩu ra nước ngoài Trên thị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái giảm Ngược

Trang 15

lại, khi nhập khẩu hàng hoá dịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngoại tệ trên thị trường Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng Tác động của hai hiện tượng trên là ngược chiều trong việc hình thành tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái cuối cùng sẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân tố, đó chính là cán cân thương mại Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá Khi thâm hụt thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ bị suy yếu và giảm giá

1.2.2.3 Lạm phát giữa các quốc gia:

Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc Theo quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn

vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng Tương tự

vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn Hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn Trên thị trưòng tiền

tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng Trong trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát tương đối giữa 2 quốc gia Quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó sẽ mất giá một cách tương đối với đồng tiền nước kia

1.2.2.4 Lãi suất tín dụng giữa các quốc gia:

Khi mức lãi suất ngắn hạn của một nước tăng lên một cách tương đối so với các nước khác, trong những điều kiện các nhân tố khác không đổi, thì vốn ngắn hạn từ nước ngoài sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra

Trang 16

đó Điều này làm cho cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi, dẫn đến sự thay đổi tỷ giá

Chính sách lãi suất cao  nội tệ lên giá, vì nó hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước, nếu lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất nước ngoài (lãi suất ngoại tệ) thu hút dòng vốn chảy vào (làm chuyển lượng hóa ngoại tệ trong nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn) Điều này làm cho tăng cung ngoại tệ trên thị trường (cũng có nghĩa làm tăng cầu đối với đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xu hướng giảm giá trên thị trường, hay đồng nội tệ sẽ tăng giá  Tỷ giá có xu hướng giảm

Ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn so với lãi suất nước ngoài hay lãi suất nội tệ thấp hơn lãi xuất ngoại tệ, đồng ngoại tệ có xu hướng tăng giá trên thị trường hay đồng nội tệ sẽ giảm giá Tỷ giá có xu hướng tăng

1.2.2.5 Những kì vọng về tỷ giá hối đoái (yếu tố tâm lý dẫn đến đầu cơ):

Kỳ vọng của những người tham gia vào thị trường ngoại hối về triển vọng lên giá hay xuống giá của một đồng tiền nào đó có thể là một nhân tố rất quan trọng quyết định đến tỷ giá Những kỳ vọng về giá cả của các đồng tiền có liên quan chặt chẽ đến những kỳ vọng về biến động tỷ lệ lạm phát, lãi suất và thu nhập giữa các quốc gia… Hay với tâm lý cho rằng đồng VNĐ đang mất giá, việc người ta đầu tư vào USD, và vàng tăng lên  Cầu ngoại tệ tăng  Tỉ giá hối đoái tăng

Trang 17

Chính sách tài chính - tiền tệ là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối nước ta Chúng ta đều biết chính sách tài chính – tiền tệ luôn có tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới quan hệ cung cầu trên thị trường, cán cân thương mại, lạm phát, lãi suất tín dụng, tăng trưởng kinh tế của 1 quốc gia Qua đó ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối trong nước

Trang 18

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG

NGOẠI HỐI VN GIAI ĐOẠN 2008-2012

2.1 Tình hình hoạt động của thị trường hối đoái VN từ năm 2008 đến năm 2012:

2.1.1 Sự biến động của tỷ giá hối đoái từ năm 2008 đến 2012:

Năm 2008:

Giai đoạn 1: Từ ngày 01/01/2008 đến 25/03/2008, tỷ giá liên tục giảm,

dưới mức sàn, cụ thể: Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm (từ mức 16.112 đồng xuống 15.960 đồng mức thấp nhất là 15.560 đồng/USD) Trên thị trường tự do, USD dao động từ mức 15.700 – 16.000

đồng/USD Nguyên nhân do:

- Thời điểm này đang ở giai đoạn gần tết Dương lịch, do đó lượng kiều hối chuyển về nước khá lớn

- Các nhà đầu tư dự kiến VND sẽ tăng giá so với USD, cộng thêm chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nên các nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyển qua VND Tập trung vào các đối tượng là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Trái phiếu Chính phủ Việt Nam (1,4 tỷ USD), các doanh nghiệp xuất khẩu vay USD để phục vụ sản xuất kinh doanh…Các NHTM lúc này cũng đẩy mạnh bán USD

- Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và NHNN đang đẩy mạnh việc kiềm chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008) NHNN không thực hiện mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, tăng biên độ

tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008

Giai đoạn 2: Từ ngày 26/03/2008 đến 16/07/2008, tỷ giá tăng với tốc độ

chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự

do, cụ thể : tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng 6, đỉnh điểm lên đến 19.400 đồng/USD vào ngày 18/06, cách hơn 2.600 đồng so với mức

Trang 19

trần, còn trên TTTD cao hơn khoảng 100-150 đồng, sau đó dịu lại khi NHNN

nới biên độ từ 1% lên +/-2%(27/6) và kiểm soát chặt các bàn thu đổi Nguyên nhân:

- Chủ yếu do tâm lý bất ổn của doanh nghiệp và người dân khi thấy USD tăng nhanh dẫn đến trạng thái găm ngoại tệ của giữ đầu cơ Nhu cầu mua ngoại

tệ trả các khoản nợ của cả DN xuất và nhập khẩu đến hạn cao; Tăng nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và quốc tế

- Nhà ĐTNN bắt đầu rút vốn khỏi Việt nam bằng việc bán trái phiếu, CP khi lo ngại về tình hình kinh tế và do tình hình thanh khoản thấp trên thị trường thế giới đẩy nhu cầu mua USD chuyển vốn về nước lên cao (bán ròng 0,86 tỷ USD)

- Cung ngoại tệ thấp do NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất khẩu (theo quyết định số 09/2008/QĐ, NHNN không cho phép vay để chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, vay thực hiện dự án sản xuất xuất khẩu) giảm hiện tượng doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tế bán lại trên thị trường

Giai đoạn 3: Từ ngày 17/07/2008 đến 15/10/2008, tỷ giá giảm mạnh và

dần đi vào bình ổn, cụ thể: Tỷ giá giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400 đồng/USD và giao dịch bình ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn

Trang 20

phép xuất khẩu vàng; bán ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua các NHTM lớn

Giai đoạn 4: Từ ngày 16/10/2008 đến hết năm 2008: tỷ giá USD tăng trở

lại, cụ thể: Tỷ giá USDVND tăng đột ngột trở lại từ mức 16.600 lên mức cao nhất là 16.998 sau đó giảm nhẹ Giao dịch nằm trong biên độ tỷ giá Tuy nhiên cung hạn chế, cầu ngoại tệ vẫn lớn Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên

3% trong ngày 7/11/2008, tăng tới mức 17.440 đồng/USD Nguyên nhân:

- Trong khoảng thời gian từ tháng 10 - tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh việc bán ra chứng khoán trong đó bán trái phiếu (700 triệu USD), cổ phiếu (100 triệu USD) Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhà đầu tư nước ngoài tăng cao khi muốn đảm bảo thanh khoản của tổ chức tại chính quốc Nhu cầu mua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh (khoảng 40 triệu USD/ngày)

- Cầu USD trên thị trường tự do tăng cao bởi khi NHNN không cho phép nhập vàng thì hiện tượng nhập lậu vàng gia tăng, làm tăng cầu USD để nhập khẩu (do USD là đồng tiền thanh toán chính)

Năm 2009:

Giai đoạn 1: Từ ngày 01/01/2009 đến ngày 24/11/2009, tỷ giá liên tục

tăng, cụ thể: Tỷ giá biến động mạnh trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do Cụ thể: Từ tháng 1 đến tháng 3, tỷ giá LNH dao động trong khoảng 17.450-17.700 đồng/USD, cách giá trần khoảng từ 0 – 200 đồng, còn TTTD cao hơn tỷ giá LNH khoảng 100 đồng Từ tháng 4 đến tháng 9, tỷ giá trên

2 thị trường dao động trong khoảng 18.180 - 18.500 đồng/USD Từ tháng 10 đến 25/11/2009, biến động tỷ giá rất dữ dội từ 18.545 – 19.300 đồng/USD, có lúc đạt đỉnh 20.000 đồng/USD trên TTTD và 19.750 đồng/USD trên thị trường

liên ngân hàng Nguyên nhân:

- Hiện tượng găm giữ ngoại tệ chờ giá lên và tâm lý bất ổn, lo ngại về tỷ giá tương lai của người dân

Trang 21

- Có hiện tượng DN vay USD tuy chưa đến kỳ trả nợ nhưng đã mua sẵn USD để giữ vì sợ tỷ giá sẽ tăng Chính lượng đặt mua nhiều của DN khiến cầu ngoại tệ tăng Ngoài ra, do tâm lý bất ổn của cả DN và người dân khi tỷ giá tăng nhanh dẫn tới hiện tượng găm giữ ngoại tệ

- Do tác động của chính sách hỗ trợ lãi suất cho các DN bằng tiền đồng,

do lãi suất vay tiền đồng thấp, phạm vi và thời gian vay được mở rộng theo chủ trương của chính phủ nên một số DN có ngoại tệ có xu hướng không muốn bán ngoại tệ và chỉ muốn vay tiền đồng Đây là 1 tác động thiếu tích cực không mong muốn khi triển khai gói kích cầu

- Ngoài ra, còn 1 số nguyên nhân khác như: thâm hụt cán cân thương mại lớn các tháng cuối năm 2008, yếu tố tin đồn ,…

Giai đoạn 2: Từ ngày 25/11/2009 đến hết năm 2009, tỷ giá bắt đầu giảm

về quanh mức 18.500 đồng /USD Nguyên nhân:

- Nguyên nhân là do NHNN thực hiện các biện pháp bình ổn tỷ giá, đặc biệt có sự chung góp sức của các NHTM đã làm giảm tỷ giá sau 1 giai đoạn đầy biến động

Năm 2010:

Giai đoạn 1: Từ ngày 01/01/2010 đến 10/02/2010, giá USD đã tăng khá

mạnh trong 2 năm 2008 và 2009, sang đến tháng 01/2010 lại giảm nhẹ và tiếp

tục dao động quanh mức 18.479 đồng/USD cho đến giữa tháng 2/2010.Nguyên nhân là do:

- Nguồn cung USD có thể sẽ tăng khá từ các nguồn: Từ nước ngoài, lượng USD vào nước ta sẽ tăng khá so với năm trước, kể cả nguồn vốn đầu tư trực tiếp (thực hiện tháng 1 tăng 33,3%); Vốn hỗ trợ phát triển chính thức do năm trước cam kết, ký kết đạt mức kỷ lục; Vốn đầu tư gián tiếp khi các nhà đầu tư nước ngoài liên tục mua ròng trên thị trường chứng khoán; Nguồn kiều hối từ Việt kiều và từ lao động làm việc ở nước ngoài gia tăng; Nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở lại (tháng 1 tăng 20,4%); Kim ngạch xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng âm sang tăng trưởng dương…Bên cạnh đó, các tập đoàn,

Trang 22

tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép tâm lý găm giữ USD do lo sợ rủi ro tỷ giá giảm, chênh lệch giữa giá thị trường tự do với giá niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể

- Ngoài ra, từ cuối năm 2009 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã có những giải pháp “vượt trước ngăn chặn” với nhiều động thái để giảm sức ép tăng tỷ giá, như: Tăng tỷ giá liên ngân hàng đồng thời với việc giảm biên độ giao dịch

từ ±5% xuống còn ±3%; Yêu cầu các tập đoàn và tổng công ty lớn của nhà nước bán lại ngoại tệ cho ngân hàng; Bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại có trạng thái dưới 5%; Hạ 3% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi USD…

Giai đoạn 2: Từ ngày 11/02/2010 đến ngày 17/08/2010, tỷ giá tăng và

dao động quanh mức 19.000 đồng/USD (18.900-19.100 đồng /USD) và đang có

xu hướng giảm do những chính sách tích cực từ phía NHNN Ngày 11/02 Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ mức 17.941

VNĐ/USD lên mức 18.544 VNĐ/USD Nguyên nhân:

- Ngày 30/12/2009, với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước chính thức ban hành thông tư hướng dẫn việc các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán lại ngoại tệ cho các ngân hàng Việc bán lại được thực hiện khá nhanh sau đó và tạo một nguồn cung đáng kể, hỗ trợ các ngân hàng cải thiện trạng thái ngoại tệ vốn căng thẳng trước đó

- Chỉ hơn nửa tháng sau đó, ngày 18/1/2010, Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 74/QĐ-NHNN giảm mạnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng Việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3% xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng đã làm tăng nguồn vốn khoảng 500 triệu USD (9.000 tỷ đồng) cho các ngân hàng thương mại để cho vay trên thị trường

- Ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm Đây được xem là một “cú hích” mạnh khi ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức kinh tế có tiền gửi bằng

Trang 23

USD, khi lãi suất trước đó được hưởng có từ 4% - 4,5%/năm Quy định này được bình luận là đặt các tổ chức đó vào thế “tự xử”, phải tính toán lợi ích và xem xét bán lại ngoại tệ, chuyển sang VND để có lãi suất tiền gửi cao hơn Khớp với chính sách này, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng giá USD mua vào để thu hút nguồn ngoại tệ tiềm năng này

- Chênh lệch lãi suất vay vốn bằng VND và USD lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD Lãi suất vay VND tăng cao đầu năm 2010, lên từ 15% - 17%, thậm chí 18%/năm…, trong khi lãi suất vay USD chỉ khoảng 6% - 9%/năm Chênh lệch này khiến một bộ phận doanh nghiệp chọn “đường vòng” vay USD rồi bán lại lấy vốn VND, tăng cung ngoại tệ cho thị trường Ngoài chênh lệch lãi suất lớn, lựa chọn này được hỗ trợ bởi kỳ vọng

tỷ giá USD/VND sẽ ổn định, hoặc rủi ro biến động không quá lớn trong kỳ vay vốn Thực tế, tỷ giá USD/VND gần như cố định kể từ tháng 2 đến nay

- Thêm vào đó, ngày 15/12/2009, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông

tư số 25/2009/TT-NHNN mở rộng đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt là các đối tượng xuất khẩu

Chiều ngày 17/8 đến 11/02/2011, Ngân hàng Nhà nước công bố nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD từ mức 18.544 đồng “ăn” 1 USD lên mức 18.932 đồng, tương đương mức tăng hơn 2% Biên độ tỷ giá vẫn giữ nguyên ở mức +/-3% Nguyên nhân của việc điều chỉnh tỷ giá lần này nhằm góp phần kiềm chế nhập siêu

Năm 2011:

Ngày 11-2-2011: lần đầu tiên trong lịch sử Ngân hàng Nhà nước có quyết

định tăng tỷ giá mạnh nhất từ trước đến nay, tỷ giá tăng 9,3% từ 18.932 lên 20.693 VND/USD, đi cùng với việc siết biên độ từ +/-3% xuống còn +/-1% Tuy nhiên phải đến đầu tháng 4-2011 tỷ giá mới bắt đầu có dấu hiệu bình ổn Cùng với sự điều chỉnh trên, dấu hiệu đó là kết quả của loạt giải pháp Ngân hàng Nhà nước triển khai mà giới quan sát vẫn dùng từ “ép” hay “vắt cung ngoại tệ”

Nguyên nhân:

Trang 24

Trước hết, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát hai con

số và có xu hướng tăng cao trở lại, lạm phát tháng 01/2011 đã ở mức 17,4% Trong thời gian đầu năm 2011, nền kinh tế liên tục đón nhận các “cú sốc” về giá xăng dầu (Xăng A92 tăng 2.900 đồng/lít, lên 19.300 đồng/lít; dầu diesel tăng 3.550 đồng/lít, lên 18.300 đồng/lít), giá bán điện bình quân tăng thêm 15,28% so với giá năm 2010, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp và lan rộng, thiên tai khắp nơi trên thế giới đẩy nhu cầu lương thực lên cao, gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng giá gây áp lực lên giá lương thực, thực phẩm trong nước tăng, (nhóm hàng lương thực thực phẩm chiếm tỷ trọng 42,85% trong “rổ” hàng hóa tính CPI của Việt Nam) Cộng thêm sự kỳ vọng về việc giảm giá tiền đồng trong thời gian tới, giá vàng tăng liên tục thiết lập các mức kỷ lục mới, sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu khiến cho tâm lý găm giữ vàng và USD của người dân và doanh nghiệp tăng cao

Thứ hai: Thâm hụt thương mại hàng hóa, nhập siêu tuy đạt mức dưới

20% kim ngạch xuất khẩu nhưng số tuyệt đối dự kiến vẫn là 13,5 tỷ USD, tăng 5% so với năm 2009 (năm 2009 là 12,85 tỷ USD) Riêng quý I/2011 ước tổng kim ngạch xuất đạt 18,8 tỷ USD, tăng khoảng 29,7%, trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 21,8 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm 2010, nhập siêu ở mức 3 tỷ USD, chiếm 16% kim ngạch xuất khẩu ba tháng đầu năm 2011 Đây là yếu tố chính làm cán cân vãng lai thâm hụt khoảng 10% so với GDP Theo tiêu chí của IMF, tỷ lệ thâm hụt cán cân vãng lai trên 8% GDP sẽ ảnh hưởng đến cân đối vĩ mô của quốc gia Mặt khác nhập siêu kéo dài trong nhiều năm đã làm sụt giảm nguồn dự trữ ngoại hối, tăng nợ quốc gia và gây sức ép giảm giá đồng nội tệ Thâm hụt cán cân vãng lai lớn cùng với thâm hụt ngân sách cao, nợ công có xu hướng tăng nhanh (từ 45% GDP năm 2008 lên gần 60% GDP dự kiến vào năm 2011) sẽ là những trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế trong những năm tới đây

Thứ ba: Dự trữ ngoại tệ của nước ta giảm xuống mức thấp đáng báo

động do tình trạng nhập siêu cao và kéo dài, có thể làm mất khả năng nhập khẩu

Trang 25

và trả nợ, đồng thời khó có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối khi cần thiết Theo Citigroup, dự trữ ngoại hối của Việt Nam, yếu tố cho đến nay khiến nhiều người lo lắng, giảm xuống 13,6 tỷ USD tính đến cuối năm 2010 so với mức 20,3

tỷ USD của năm 2009 (theo tính toán của IMF) và cũng chỉ tăng lên mức 13,8 tỷ USD trong năm 2011

Biểu đồ 1: Tỷ lệ nợ công và cán cân ngân sách năm 2001 -2009

Nguồn: tổng cục thống kê

Thứ tư: Lãi suất huy động vốn của các NHTM có xu hướng tăng, các

NHTM đua nhau “xé rào” lãi suất bằng nhiều hình thức làm cho VND tăng giá

so với USD, dẫn tới tình trạng nhập siêu ngày càng nghiêm trọng hơn Trong khi USD có xu hướng yếu đi so với các đồng tiền khác để nền kinh tế xuất khẩu hàng đầu thế giới cân bằng cán cân thương mại với các nước trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc Đồng USD yếu đi làm cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ (thị trường xuất khẩu chủ lực) bị suy giảm khả năng cạnh tranh

Thứ 5: Từ lâu ở Việt Nam tồn tại cơ chế hai tỷ giá, chính thức và thị

trường tự do (“chợ đen”) khiến cho các doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn, việc quản lý thị trường ngoại hối của Nhà nước gặp nhiều trở ngại Các nhà đầu tư nước ngoài e ngại đầu tư vào Việt Nam vì lo ngại rủi ro tỷ giá, ngoại

tệ “chạy ngầm từ thị trường chính thức sang thị trường chợ đen vì giá cao hơn),

Trang 26

ngoại tệ trở nên khan hiếm Trong khi dự trữ ngoại hối của nước ta mỏng, Chính phủ nhiều khi bất lực trước việc đầu cơ, thao túng giá USD trên thị trường tự do Các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hạch toán chi phí vì phải mua ngoại

tệ ở thị trường tự do với giá cao nhưng lại phải “phù phép” làm hợp lý hóa chi phí thực phải bỏ ra (vì tỷ giá giao dịch chính thức do NHNN quy định thấp hơn làm cho thị trường tài chính và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam thiếu minh bạch và tin cậy

Trong tháng 8 và tháng 9/2011, tỷ giá vẫn có những biến động nhất định

Tỷ giá USD tại các NHTM đã được đẩy lên mức kịch trần mua vào và bán ra, phổ biến ở mức 20.820 – 20.834 VND/ 1 USD Nguyên nhân để lý giải cho hiện tượng này vẫn bắt nguồn từ những yếu tố cố hữu như hoạt động xuất nhập khẩu, tình trạng cán cân thanh toán, tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế và diễn biến lạm phát…

Ngày 24/12/2011, Ngân hàng Nhà nước đã tăng tỷ giá liên ngân hàng lên 20.828 đồng/USD, cao nhất trong lịch sử

Năm 2012:

Giai đoạn 1: Từ tháng 1 đến tháng 7/2012, tỷ giá tuy tăng khá nhẹ

nhưng vẫn được xem là duy trì ổn định Trong 6 tháng đầu năm diễn biến tỷ giá VND/USD diễn ra ổn định với chiều hướng tăng nhẹ khoảng 0,55% Riêng những ngày đầu tháng 6/2012, các ngân hàng thương mại đồng loạt nâng giá bán

ra kịch trần và duy trì trạng thái này gần một tuần Tỷ giá bình quân liên ngân hàng (BQLNH) tiếp tục được duy trì ở mức 20.828 VND/1 USD Tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại (NHTM) sau một thời gian duy trì ở mức kịch trần biên độ đã được các ngân hàng điều chỉnh giảm dừng ở mức 20.860 - 20.920 VND/USD vào thời điểm cuối tháng 6/2012

Riêng những ngày đầu tháng 6/2012, các NHTM đồng loạt nâng giá bán

ra USD kịch trần và duy trì trạng thái này gần một tuần, sau đó đã được các ngân hàng điều chỉnh giảm trở lại Nguyên nhân là do việc nhập siêu đột ngột tăng mạnh ở tháng 5 Diễn biến tỷ giá trên thị trường “chợ đen” bám sát diễn

Trang 27

biến tỷ giá giao dịch của NHTM, chênh lệch giữa hai thị trường này chỉ còn ở mức từ 20 - 70 VND/1USD – một sự chênh lệch không đáng kể nếu so với năm

2011 trung bình mức chênh lệch là 1.000 - 2.000 VND/1 USD

Một điểm khác biệt so với các năm trước là trong quý I/2012, từ ngày 13/2/2012 tỷ giá mua vào của Sở Giao dịch NHNN được điều chỉnh cao hơn tỷ giá mua vào của các NHTM Điều này nhằm khuyến khích các NHTM bán lại cho NHNN ngoại tệ mua được từ các doanh nghiệp và dân cư, tạo điều kiện cho NHNN thực hiện mục tiêu tăng dự trữ ngoại hối quốc gia

Sự ổn định của tỷ giá do nhiều nguyên nhân, trong đó, quan trọng nhất là

do nhập siêu giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2011 cả về kim ngạch tuyệt đối, cả

về tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất khẩu (theo Tổng cục Hải quan, từ đầu năm đến ngày 15/7 chỉ ở mức 423 triệu USD) Lượng vốn FDI thực hiện chỉ giảm rất nhẹ (0,8%); lượng vốn ODA giải ngân lại tăng khá; lượng ngoại hối vào cùng với khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao Tình trạng mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do để nhập lậu vàng gần như không còn, nên sức ép tỷ giá từ tình trạng trên bị triệt tiêu… Cán cân tổng thể tiếp tục đạt trạng thái thặng dư

Bên cạnh đó, chính sách lãi suất đã hỗ trợ cho giá trị của đồng nội tệ, góp phần làm ổn định tỷ giá Trong khi lãi suất gửi đồng nội tệ trong nhiều tháng liền ở mức 2 chữ số (gần đây mới khống chế ở mức 9%/năm đối với kỳ hạn dưới

1 năm, còn kỳ hạn từ 1 năm trở lên vẫn ở mức 11- 12%/năm), thì lãi suất gửi USD đối với dân cư được áp trần ở mức 2%/năm, thấp chỉ bằng 1/5- 1/6 lãi suất gửi bằng đồng nội tệ Tăng trưởng số dư tiền gửi dân cư 31/7/2012 so với cuối năm trước bằng nội tệ lên đến 12%, trong khi bằng ngoại tệ bị giảm hơn 10% Điều đó lý giải có một lượng ngoại tệ đáng kể đã được bán ra cho ngân hàng chuyển sang đồng nội tệ và gửi tại đây

Một nguyên nhân nữa rất quan trọng là yếu tố tâm lý xét dưới hai góc độ Góc độ thứ nhất là lạm phát thời gian qua đã chậm lại nhanh và giảm liền trong

2 tháng qua, góp phần ổn định lòng tin vào đồng nội tệ, hạn chế việc trú ẩn vào ngoại tệ để bảo tồn giá trị khi lạm phát cao Góc độ thứ hai là tâm lý đầu cơ

Trang 28

ngoại tệ cũng giảm mạnh Bởi muốn đầu cơ thì phải có “sóng” lớn, trong khi thị trường ngoại tệ thời gian qua gần như không có tình trạng này

Biểu đồ 2: Tốc độ tăng-giảm tỷ giá VND/USD trong năm 2012 ( đơn vị %)

Giai đoạn 2: Từ tháng 7 - 12/2012, tỷ giá giảm dần Xu hướng biến

động tỷ giá VND/USD duy trì ở mức độ ổn định và giảm dần Những quyết sách

rõ ràng và minh bạch của NHNN trong công tác điều hành chính sách tỷ giá, cùng với diễn biến khả quan của cung - cầu ngoại tệ trong nền kinh tế, góp phần quan trọng tạo nên thặng dư của cán cân tổng thể trong nửa đầu năm 2012 tiếp tục duy trì xu thế ổn định vào cuối năm

Tháng 8/2012, tỷ giá giao dịch trên thị trường tự do có tăng nhẹ và kéo dài khoảng cách chênh lệch với tỷ giá giao dịch của các NHTM ở mức gần 70 VND/1USD, nhưng sang tháng 9 bắt đầu xu hướng giảm dần đều cho tới cuối năm 2012 khi xoay quanh mức 20.850 – 20.870/VND/1USD Tỷ giá BQLNH vẫn được duy trì một đường kẻ thẳng kể từ ngày 24/11/2011 cho đến nay

Điều đáng nói, diễn biến tỷ giá VND/USD diễn ra dường như theo quy luật trong các năm gần đây là vào những tháng cuối năm tỷ giá thường có xu hướng biến động rất mạnh, kèm với sự chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do thường ở mức khá cao Tuy nhiên, trong năm 2012 hiện

Trang 29

tượng này lại được loại trừ hoàn toàn Có được kết quả trên là do sự kết hợp linh hoạt các biện pháp điều hành chính sách tỷ giá của NHNN trong suốt năm 2012, nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ Theo đó, tỷ giá VND/USD sẽ được điều chỉnh biên độ dao động không quá 2 - 3% trong cả năm 2012 Ngoài ra, diễn biến thuận lợi của cán cân thương mại, cán cân tổng thể trong năm 2012, đã hỗ trợ khá đắc lực cho những cam kết của NHNN Đồng thời, những quy định và biện pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường vàng đã khiến cho biến động của thị trường này không còn gây nhiều tác động tiêu cực đến thị trường ngoại hối tự do như trước đây

2.1.2 Hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam GĐ 2008 -2012:

Năm 2008:

Năm 2007, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tiếp tục phát triển mạnh về quy mô thị trường và doanh số giao dịch thị trường tăng cao Doanh số giao dịch giữa các ngân hàng tăng khoảng 113% so với năm 2006, trong đó doanh số giao dịch giao ngay tăng 125%, doanh số giao dịch kỳ hạn và giao dịch hoán đổi tăng 30%, các NHTM đã sử dụng nhiều các nghiệp vụ giao dịch để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng có 65 ngân hàng thành viên tham gia Nhiều ngân hàng tích cực tham gia đã tạo thêm sự sôi động của thị trường Trong năm 2007, với vai trò can thiệp cuối cùng để ổn định thị trường, NHNN đã thực hiện mua, bán ngoại tệ với các NHTM để hỗ trợ nhu cầu

về VND cũng như nhu cầu về ngoại tệ một cách kịp thời để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu và nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ của các nhà đầu tư nước ngoài Khi cung cầu trên thị trường biến động ảnh hưởng đến trạng thái ngoại tệ của các NHTM, NHNN can thiệp bán ngoại tệ để cân bằng trạng thái, hạn chế rủi ro hoạt động kinh doanh của các NHTM Nhờ nguồn cung ngoại tệ trên thị trường trong năm 2007 tăng mạnh, NHNN đã mua được một khối lượng lớn ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối, tạo tiềm lực và thế chủ động cho NHNN trong việc can thiệp thị trường và thực hiện mục tiêu điều hành CSTT

Trang 30

Trong bối cảnh cung cầu ngoại tệ trên thị trường diễn biến phức tạp, hoạt động thị trường ngoại tệ liên ngân hàng năm 2008 tiếp tục sôi động với quy mô

và doanh số giao dịch tăng cao Doanh số giao dịch giữa các ngân hàng tăng khoảng 25% so với năm 2007 Trong đó, doanh số giao dịch giao ngay tăng 26%, các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi tăng 13% Các ngân hàng đã tiếp cận và sử dụng nhiều hơn các nghiệp vụ giao dịch để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối Cả năm 2008, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng có 79 ngân hàng thành viên tham gia, tăng 14 thành viên so với năm 2007 NHNN đã thực hiện mua, bán ngoại tệ một cách kịp thời như một người mua, bán cuối cùng trên thị trường để ổn định tỷ giá, đáp ứng nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu và nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ của các nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh giao dịch mua, bán ngoại tệ giao ngay, NHNN cũng đã thực hiện các giao dịch mua và bán lại ngoại tệ với một số ngân hàng để hỗ trợ cân đối nguồn tiền đồng Việt Nam cho các NHTM

Kể từ 25/12/2008, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được điều chỉnh tăng thêm 3%, từ mức 16.494 đồng ăn một đôla lên 16.989 đồng, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại có thể kinh doanh với giá trần 17.500 đồng

Thông tin tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 3% được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VN Nguyễn Văn Giàu công bố tại buổi họp báo thường kỳ tháng

12 của Chính phủ diễn ra ở TP HCM chiều 24/12 Riêng biên độ tỷ giá (mức dao động giữa giá kinh doanh của các ngân hàng với tỷ giá liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố) vẫn giữ ở +/- 3%

Theo người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước, lần điều chỉnh tỷ giá này là

vì mục tiêu linh hoạt, theo tín hiệu cung cầu thị trường, hỗ trợ xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, vì mục tiêu quản lý dài hạn, tạo lòng tin cho nhà đầu tư và người dân vào chính sách của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nứơc đã nhiều lần lần điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ này, diễn biến thị trường sẽ rất thuận lợi, tốt hẳn lên so với trước Tỷ giá USD trên thị trường tự do chiều 24/12 là 17.270 đồng, chỉ hơn 1%

Trang 31

so với tỷ giá khi điều chỉnh "Ngân hàng Nhà nước đủ sức để kiểm soát thị trường"

Tuy nhiên, lần điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ này không phải VN phá giá tiền đồng

Trong năm 2008, chính sách tiền tệ của VN được thực hiện linh hoạt, thận trọng và theo diễn biến của nền kinh tế Trong tháng 12, Ngân hàng nhà nước tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản xuống còn 8,5% một năm, lãi suất tái cấp vốn xuống 9,5% một năm, lãi suất tái chiết khấu còn 7,5% mỗi năm Biên độ tỷ giá USD/VND cũng được nới rộng +,-3% so tỷ giá ngân hàng Nhờ

đó, các tổ chức tín dụng đã hạ được lãi suất đầu ra, giúp doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn để phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi xuất khẩu

Trang 32

quân liên ngân hàng đã lên tới mức 17.004 VND/USD, mức cao nhất từ trước tới đó

Tỉ giá gần hơn với thị trường tự do:

Tháng 9/2009, xu thế tăng tỷ giá liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố bắt đầu từ mức 16.976 đồng/USD, tới ngày 10/10, tỷ giá này đã vượt mốc 17.000 VND/USD Đến 15/10, tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố đã lên 17.004 VND/USD

Tỷ giá liên ngân hàng tăng lên đã tạo cơ hội cho giá mua - bán USD tại ngân hàng thương mại tiến gần hơn với giá USD ngoài thị trường tự do Mặc dù

tỷ giá liên ngân hàng tăng liên tiếp trong thời gian qua, nhưng tại nhiều ngân hàng thương mại, tỷ giá mua - bán vẫn niêm yết ở mức kịch trần

Với biên độ +/- 5% so với tỷ giá liên ngân hàng, tại Vietcombank, Eximbank, ACB, tỷ giá mua vào - bán ra USD vẫn niêm yết ở mức trần 17.954 VND/USD

Trái ngược với thị trường ngân hàng, giá mua - bán USD trên thị trường

tự do lại có xu hướng giảm trong thời gian này, chỉ dao động quanh mức mua vào 18.290 - bán ra 18.300 VND/USD

Trong khi vài tháng trước, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu không chịu bán lại USD cho ngân hàng, trong khi các doanh nghiệp nhập khẩu lại có nhu cầu mua rất mạnh, cung cầu mất cân đối đã khiến thị trường ngoại hối nhiều lúc rơi vào cảnh “đóng băng”

Các ngân hàng thương mại không có nguồn USD nên không thể bán cho doanh nghiệp Để có USD thanh toán, doanh nghiệp phải mua ngoài thị trường

tự do với tỷ giá cao hơn nhiều so với giá các ngân hàng công bố

Hơn nữa, trong thời điểm đó, tâm lý găm giữ USD tăng mạnh khiến nhiều người dân đổ xô đi mua dự trữ chờ giá lên Các yếu tố này đã khiến thị trường ngoại hối căng thẳng

Tình hình hiện nay đã khác Một doanh nghiệp nhập khẩu máy tính cho biết, việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỉ giá liên ngân hàng không ảnh

Trang 33

hưởng nhiều tới tỷ giá mua bán USD trên thị trường tự do Thậm chí, tỷ giá ngoài thị trường tự do còn giảm so với cách đây hơn một tháng Hiện tỷ giá bên ngoài chỉ còn 18.300 đồng/USD, mua số lượng nhiều cũng có

Giảm tình trạng gom giữ:

Theo một số ngân hàng thương mại, việc tỷ giá chính thức tăng lên là một biện pháp tích cực, giúp thị trường ngoại tệ bớt căng thẳng nguồn cung “Tỷ giá tại các ngân hàng đã tiến sát hơn với tỷ giá ngoài thị trường tự do làm giảm sức ép cho các ngân hàng thương mại

Nhiều doanh nghiệp đã cảm thấy hài lòng hơn với tỷ giá hiện tại và chấp nhận bán USD cho ngân hàng”, ông Nguyễn Thanh Toại - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Á Châu (ACB) cho biết và việc tỷ giá liên ngân hàng tăng trong thời gian gần đây giúp thị trường ngoại hối bớt căng thẳng hơn, trạng thái ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại đỡ bị “âm”

Tuy nhiên, nhu cầu mua vẫn nhiều hơn bán, thể hiện qua việc nhiều ngân hàng vẫn để mức giá mua - bán ngoại tệ bằng nhau ở mức kịch trần Trong ngày 10/9 tại TT liên ngân hang tỉ giá là 17833 ở mức cao nhất, tỉ giá yết tại các NH lên mức kịch trần giá mua bằng giá bán để cạnh tranh với TT chợ đen “Nguồn ngoại tệ của Vietcombank chủ yếu phục vụ cho những trường hợp cấp bách Khi nào có sự chênh lệch giữa giá mua và bán ở các ngân hàng thì lúc đó tỷ giá sẽ hết căng thẳng”

Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã kiên trì với chính sách điều hành tỷ giá, không tăng thêm biên độ khiến cho kỳ vọng tăng giá của USD giảm xuống, tình trạng găm giữ ngoại tệ giảm hẳn, nhiều doanh nghiệp và người dân

đã quyết định bán USD cho ngân hàng

Theo các chuyên gia kinh tế, chính sách điều hành linh hoạt theo sát thị trường, tăng tỷ giá có kiểm soát sẽ làm cho tình trạng găm giữ ngoại tệ giảm xuống, đồng thời kích thích xuất khẩu Theo Ngân hàng Nhà nước, việc điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu thị trường nằm trong chủ trương chung của Chính phủ Do đó, tính thanh khoản của thị trường ngoại hối đã được cải thiện

Trang 34

Nhiều ngân hàng thương mại đã mua được ngoại tệ từ khách hàng, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu, giúp cho trạng thái ngoại tệ của hệ thống ngân hàng thương mại được cải thiện

Theo đó, Một loạt quyết định mới được Thống đốc Nguyễn Văn Giàu công bố tháng 12/2009 tại trụ sở Ngân hàng Nhà nước Theo đó, tỷ giá bình quân liên ngân hàng sẽ được điều chỉnh lên mốc kỷ lục mới 17.961 đồng ăn một đôla, tăng thêm 5,44% so với trước đó Đồng thời, biên độ tỷ giá giảm từ 5% hiện nay xuống còn 3% (khống chế tỷ giá kinh doanh tại các ngân hàng không được cao quá hoặc thấp hơn 3% so với tỷ giá liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngay) Tính chung cả việc tăng tỷ giá liên ngân hàng và giảm biên độ, tỷ giá chính thức sẽ tăng thêm 3,44%, qua đó cho đưa trần tỷ giá kinh doanh tại các ngân hàng thương mại lên 18.500 đồng vào ngày mai, thay vì mức 17.885 đồng ăn một đôla ngày hôm nay

Thống đốc Nguyễn Văn Giàu coi đây là biện pháp can thiệp nhanh và mạnh nhằm bình ổn thị trường ngoại hối đang hết sức căng thẳng

Từ 27/11 đến 2/12, doanh số giao dịch ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng đã tăng khá mạnh Cụ thể, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng bình quân đạt khoảng 557 triệu USD/ngày

Năm 2010:

Ngày 10/2/2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 03/2010/TT-NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng và Quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng

Theo đó, kể từ ngày 11/2/2010, mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la

Mỹ của tổ chức kinh tế (trừ tổ chức tín dụng) tại tổ chức tín dụng tối đa là 1%/năm Đối với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bằng đô la Mỹ phát sinh trước thời điểm thông tư có hiệu lực thi hành, thì được tiếp tục thực hiện cho đến hết thời hạn đã thoả thuận

Trang 35

Về tỷ giá, NHNN quy định, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD

và VND áp dụng cho ngày 11/2/2010 là 18.544 VND/USD Như vậy, so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng ngày 10/2 tăng thêm 603 đồng/USD (tương ứng tăng 3,36%)

NHNN cho biết, mục đích của các quyết định trên là nhằm cân đối hài hoà cung - cầu ngoại tệ, tăng cường sự lưu thông trên thị trường ngoại tệ, góp phần kiểm soát nhập siêu và ổn định kinh tế vĩ mô

Tỷ giá liên ngân hàng là mức tham chiếu để các ngân hàng thương mại

ấn định giá kinh doanh của mình bằng cách cộng hoặc trừ thêm biên độ Như vậy với biên độ biến động tỷ giá là +/-3%, ngân hàng có thể mua/bán USD với giá trần là 19.100 đồng/USD

Trước đó, thời gian qua do chênh lệch giá USD niêm yết và giá USD giao dịch ngoài thị trường tự do quá cao, thường trên 1.000 đồng/USD nên các doanh nghiệp xuất khẩu không muốn bán USD cho ngân hàng dẫn đến tình trạng khan hiếm USD

Vì thế, theo các chuyên gia tài chính- ngân hàng, việc ban hành các quyết định này của NHNN ở thời điểm này là cần thiết và phù hợp, giải tỏa được tình trạng khan nguồn cung ngoại tệ, tăng sự lưu thông, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp…

Vào lúc 8h30 sáng (11/2), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam vẫn niêm yết giá mua vào - bán ra lần lượt ở mức 18.495 - 18.880 đồng/USD

Các đại lý thu đổi ngoại tệ trên địa bàn Hà Nội cho biết không còn USD

để bán vì sức mua bất ngờ tăng mạnh cuối chiều qua

Như vậy, đây là lần thứ hai trong vòng gần 3 tháng qua, NHNN tăng tỷ giá liên ngân hàng, tổng cộng hai lần tăng gần 9%

Trang 36

Biểu đồ 4: Tỷ giá ngoại tệ trên TT liên NH từ 20/12/2008 đến 11/02/2010

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

So với tuần trước, doanh số giao dịch tuần này có sự tăng lên với khối lượng khá nhiều đối với cả VND và USD trong đó doanh số giao dịch bằng VND tăng 14.105 tỷ đồng, bằng USD tăng 756 triệu USD

Đây được cho là kết quả tích cực sau các biện pháp can thiệp, thị trường ngoại hối khiến cho tính thanh khoản của thị trường ngoại tệ được cải thiện đáng

kể

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, tuần từ 22/2 đến 1/3/2010, tổng doanh số giao dịch ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng đạt xấp xỉ 2.261 triệu USD, bình quân đạt khoảng 452 triệu USD/ngày So với tuần liền trước, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tuần này giảm tới 496 triệu USD

Theo thống kê của Ngân hàng nhà nước (NHNN), 5 tháng đầu năm 2010

dư nợ cho vay VND chỉ tăng 3,51% so đầu năm, trong khi đó dư nợ cho vay ngoại tệ lại tăng tới 20,23%! Trong tuần cuối tháng 6, giao dịch USD càng mạnh

Trang 37

hơn Doanh số giao trên thị trường liên ngân hàng tăng hơn 500 triệu USD so tuần trước đó, lãi suất cũng tăng nhẹ ở các kỳ hạn qua đêm và 1 tuần

Chiều ngày 17/8, Ngân hàng Nhà nước công bố nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD từ mức 18.544 đồng “ăn” 1 USD lên mức 18.932 đồng, tương đương mức tăng hơn 2% Biên độ tỷ giá vẫn giữ nguyên ở mức +/-3%

Theo Ngân hàng Nhà nước, mục đích của việc điều chỉnh tỷ giá nhằm góp phần kiềm chế nhập siêu Đây là lần thứ hai kể từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước trực tiếp tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng

Sau khi có biểu hiện căng thẳng trong tháng 11-2010, từ tháng 12 trở đi, thị trường ngoại hối đã có những chuyển biến tích cực hơn Theo Vụ Quản lý ngoại hối, tỷ giá trên thị trường "chợ đen" sụt giảm mạnh và hầu như không có giao dịch tại mức tỷ giá cao bất thường hay có yếu tố đầu cơ như thời điểm giữa tháng 11 Bên cạnh đó, trạng thái ngoại hối đã tăng đáng kể từ đầu tháng 12 tới nay Cụ thể trạng thái ngoại tệ của toàn hệ thống đã được cải thiện đáng kể từ mức âm trên 300 triệu USD vào cuối tháng 11 nay chỉ còn âm khoảng dưới 100 triệu USD Doanh số mua ngoại tệ của các ngân hàng thương mại với khách hàng đang có xu hướng tăng khi các doanh nghiệp xuất khẩu đã bán mạnh ngoại

tệ cho hệ thống ngân hàng thương mại…

Trong tháng 12-2010, ước tính lượng kiều hối sẽ đạt khoảng 770 triệu USD, nâng tổng nguồn thu từ kiều hối của cả năm 2010 lên mức 8 tỷ USD, tăng khoảng 25,6% so với tổng lượng kiều hối của cả năm 2009 Tính tới tháng 1-

2011, do có Tết Nguyên đán nên nguồn kiều hối sẽ còn tiếp tục gia tăng Bên cạnh nguồn thu từ kiều hối, luồng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam từ đầu năm thặng dư khoảng 800 triệu USD, giải ngân vốn đầu tư nước ngoài trong 11 tháng của năm 2010 đã tăng 9,9% so với cùng kỳ năm ngoái Ngoài ra, các ngân hàng nước ngoài đang tích cực chuyển vốn ngoại tệ vào Việt Nam và giải ngân để thực hiện quy định của NHNN về việc tăng vốn điều lệ lên mức 3.000 tỷ đồng Cùng với sự gia tăng của các luồng vốn vào, những biện pháp chính sách để ổn

Trang 38

định thị trường ngoại hối đã được thực hiện trong thời gian qua cũng là yếu tố củng cố tâm lý trên thị trường Khi thị trường ngoại hối có biểu hiện căng thẳng, NHNN đã bán ngoại tệ hỗ trợ nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu nhằm bình ổn giá Biện pháp này vẫn được NHNN tiếp tục thực hiện để tăng cường và củng cố

sự ổn định của thị trường

Năm 2011:

Ngay từ đầu năm 2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều chỉnh mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng với quyết định số 230/2011/QĐ-NHNN ngày 11/2/2011: tỷ giá USD/VND tăng (giảm giá VND) 9,3% từ 18.932 lên 20.693 VND/USD; biên độ giao dịch giảm từ +/- 3% xuống +/- 1% Việc tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã giúp thu hẹp tỷ giá chính thức so với tỷ giá trên thị trường chợ đen vốn đã duy trì khoảng cách từ 7%-8% trong vòng hai tháng trước đó Tỷ giá trên thị trường tự do giảm nhiệt, chênh lệch thu hẹp dần từ 1.500VND/ 1USD thời điểm đầu năm xuống còn 500 VND/1USD vào tuần đầu tháng 3/2011 Mức tỷ giá mới phản ánh sát hơn cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối

Biểu đồ 5: Tỷ giá bán NHTM áp dụng và tỷ giá chợ đen áp dụng T1-T3/2011

Nguồn : Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 39

Ngoài ra, để giảm dần hiện tượng đô-la hóa trong nền kinh tế, NHNN đã

áp dụng cơ chế quản lý chặt chẽ hơn lãi suất huy động USD; phối hợp với các

cơ quan chức năng có liên quan thực hiện các biện pháp tăng cường giám sát, kiểm tra và xử lý các điểm kinh doanh ngoại tệ trái phép, làm hoạt động mua-bán ngoại tệ trên thị trường tự do giảm mạnh và nhiều điểm mua-bán đô la đã phải ngưng giao dịch… Nhờ vậy, từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 8, với sự linh hoạt trong công tác điều hành tỷ giá của NHNN, về cơ bản, tỷ giá giao dịch của Ngân hàng thương mại (NHTM) tăng lên hay giảm xuống xung quanh tỷ giá bình quân liên ngân hàng được công bố hàng ngày Hoạt động mua bán trên thị trường chợ đen mặc dù vẫn chưa bị xóa bỏ hoàn toàn nhưng nhìn chung chênh lệch tỷ giá giữa hai thị trường đã được thu hẹp, chỉ còn là khoảng 30-50VND/ 1 USD; nhiều người dân thay vì bán ngoại tệ trên thị trường chợ đen đã bán lại cho NHTM

Tháng 10 ghi nhận tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng mạnh nhất kể từ khi NHNN điều chỉnh tỷ giá hôm 11/2 Trong tháng có tới 14 lần NHNN nâng tỷ giá với mức tăng tổng cộng 175 đồng Nguyên nhân là do nhu cầu mua ngoại tệ của DN để trả các khoản vay từ 2 qúy đầu năm 2011, nhu cầu nhập khẩu tăng cao vào cuối năm cộng thêm nhu cầu nhập khẩu vàng nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế Thêm vào đó cung ngoại tệ cũng giảm sút do nhiều DN không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng khi niềm tin về đồng nội tệ chưa cao Sau loạt tăng 14 lần liên tiếp đầu tháng 10, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD với VND đã kéo dài 5 tuần cố định

Những quyết sách điều hành tỷ giá của NHNN đã hỗ trợ tích cực cho sự

ổn định của tỷ giá trong năm 2011, tình trạng tỷ giá diễn biến “nóng” vào cuối năm đã không còn lặp lại và quan trọng là niềm tin của người dân vào chính sách tỷ giá được cải thiện Kết thúc năm 2011, tỷ giá bình quân Thị trường liên ngân hàng (BQLNH) dừng ở mức 20.828 VND/ 1 USD; tỷ giá thị trường tự do ở quanh mức 21.200 – 21.300 VND/ 1 USD, cao hơn tỷ giá NHTM khoảng 150-

250 VND/ 1 USD

Trang 40

Tuy nhiên, tại một số thời điểm trong năm, đặc biệt trong tháng 8 và tháng 9/2011, tỷ giá vẫn có những biến động nhất định Tỷ giá USD tại các NHTM đã được đẩy lên mức kịch trần mua vào và bán ra, phổ biến ở mức 20.820 – 20.834 VND/ 1 USD Nguyên nhân để lý giải cho hiện tượng này vẫn bắt nguồn từ những yếu tố cố hữu như hoạt động xuất nhập khẩu, tình trạng cán cân thanh toán, tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế và diễn biến lạm phát… Cùng thời điểm đó, diễn biến tỷ giá thực hiệu quả cũng có xu hướng dần rời xa trục gốc 100 theo hướng giảm dần từ giữa năm 2011

Biểu đồ 6:Tỷ giá BQLNH và NHTM từ 11/2/2011 đến 2/12/2012

Nguồn : Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Tuần từ 26/12 - 31/12, tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữ nguyên ở 20.828 đồng/USD Đây là mức cao nhất của tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ đầu năm tới nay

So với ngày 11/2, ngày Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá thêm 0,65% từ 20.693 đồng/USD lên 20.828 đồng/USD, tỷ giá bình quân liên ngân hàng đã tăng 135 đồng

Ngày đăng: 16/04/2014, 17:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: tỷ lệ lạm phát giai đoạn 2008 – 2012: - tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam
Bảng 3 tỷ lệ lạm phát giai đoạn 2008 – 2012: (Trang 47)
Bảng 4: Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại 2006-2010. - tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam
Bảng 4 Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại 2006-2010 (Trang 49)
Bảng 5: Tình hình nhập siêu 1995-2010 (triệu USD). - tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam
Bảng 5 Tình hình nhập siêu 1995-2010 (triệu USD) (Trang 50)
Bảng 6:  Chỉ  số tăng  trưởng  xuất  khẩu  một  số  mặt hàng, 2006-2010  (% so  với năm trước) - tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam
Bảng 6 Chỉ số tăng trưởng xuất khẩu một số mặt hàng, 2006-2010 (% so với năm trước) (Trang 51)
Bảng 7: Chỉ số tăng trưởng nhập khẩu một số mặt hàng, 2006-2010 (% so với  năm trước) - tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam
Bảng 7 Chỉ số tăng trưởng nhập khẩu một số mặt hàng, 2006-2010 (% so với năm trước) (Trang 52)
Bảng 8: Cơ chế tỷ giá của Việt Nam theo thời gian, 1989-2011 - tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam
Bảng 8 Cơ chế tỷ giá của Việt Nam theo thời gian, 1989-2011 (Trang 79)
Bảng 9: Cơ chế tỷ giá của các nước (2010). - tiểu luận thị trường ngoại hối việt nam
Bảng 9 Cơ chế tỷ giá của các nước (2010) (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w